1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đặc điểm dị dạng nang phổi bẩm sinh ở trẻ em tại Bệnh viện Nhi Trung ương từ 1/2011-7/2015

5 70 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 421,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dị dạng nang phổi bẩm sinh (Congenital pulmonary airway malformation-CPAM) trước đây gọi là dị dạng nang tuyến bẩm sinh (Congenital cystic adenomatoid malformation-CCAM), là dị dạng hay gặp nhất trong các dị tật bẩm sinh của phổi. Nguyên nhân cơ bản của CPAM không rõ, tỷ lệ khoảng 1/30.000 thai.

Trang 1

I đẶT VẤN đỀ

Dị dạng nang phổi bẩm sinh (CPAM) là một

nguyên nhân phổ biến gây suy hô hấp ở trẻ sơ

sinh và trẻ em Nó được đặc trưng bởi một khối

các nang ở nhu mô phổi với một sự gia tăng bất

thường của cấu trúc phế quản [4] CPAM là sự

phát triển bất thường cấu trúc đường thở đoạn

cuối trong thời kì bào thai, là một trong 4 dị tật

bẩm sinh dạng nang cùng với khí phế thũng thùy

phổi khổng lồ, phổi biệt lập và nang phế quản Nó

thường xảy ra khoảng cuối tuần thứ 5 và đầu tuần

thứ 6 của thời kỳ bào thai do sự phát triển quá

mức của các tiểu phế quản tận, kèm theo sự ngăn

chặn phát triển phế nang Bệnh xảy ra ở một hoặc

cả hai bên phổi và có thể có các dị dạng phối hợp

khác, nam gặp nhiều hơn nữ [3]

CPAM được mô tả lần đầu tiên bằng CCAM (Congenitalngenital cystic adenomatoid malformation), được Stocker và cộng sự dựa vào

mô bệnh học phân thành 3 phân nhóm vào năm

1977 ( CCAM typ I, II, III) và mở rộng thành 5 loại với tên mới là dị tật nang phổi bẩm sinh (CPAM) bởi Stocker vào năm 2002 [9] gồm: CPAM typ0 thường loạn sản hoặc bất sản phế nang hoặc những nang rất nhỏ và không thích hợp với cuộc sống Type I thường 1 nang lớn 2 - 10cm Type II gồm nhiều các nang nhỏ <2cm Type III thường

là 1 khối nang rắn xung quanh có nhiều nang nhỏ hiếm gặp Type IV thường u nang lớn lên tới 10cm Chẩn đoán CPAM thường được thực hiện ở thời kỳ bào thai hoặc trong giai đoạn sơ sinh khi đứa trẻ có biểu hiện suy hô hấp tiến triển hoặc đến tuổi trưởng thành với những biểu hiện viêm phổi

đẶC đIỂM DỊ DẠNG NANG PHỔI BẨM sINH Ở TRẺ eM

TẠI BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG TỪ 1/2011-7/2015

nguyễn thị mai Hoàn * , Đào minh tuấn * , mai Xuân Khẩn ** , Phó Hồng Điệp ***

* Khoa Hô hấp Bệnh viện Nhi TW, ** Bộ môn Nội- Hô hấp Học viện Quân Y 103

*** Khoa Giải phẫu bệnh Bệnh viện Nhi TW

TÓM TẮT

Dị dạng nang phổi bẩm sinh (Congenital pulmonary airway malformation-CPAM) trước đây gọi

là dị dạng nang tuyến bẩm sinh (Congenital cystic adenomatoid malformation-CCAM), là dị dạng hay

gặp nhất trong các dị tật bẩm sinh của phổi Nguyên nhân cơ bản của CPAM không rõ, tỷ lệ khoảng 1/ 30.000 thai

Mục tiêu: (1) Tỷ lệ của CPAM, (2) Các hình thái của CPAM và (3) Đặc điểm lâm sàng, cận lâm

sàng của CPAM

đối tượng: Những bệnh nhân được chẩn đoán CPAM vào Khoa Hô hấp Bệnh viện Nhi Trung

ương từ 1/2011 – 7/2015

Phương pháp: Mô tả hồi cứu và tiến cứu

Kết quả: Trong 5 năm có 73 bệnh nhân CPAM chiếm tỷ lệ 0,19% số bệnh nhân vào viện vì lý do

hô hấp, tuổi được phát hiện sớm nhất là 1 ngày, muộn nhất là 15 tuổi, giới nam chiếm 54,79% Có

52 ca CPAM type I chiếm 71,23%, 15 ca CPAM type II chiếm 19,18% (trong đó có 4 CPAM typII kết hợp với phổi biệt lập), 7 ca CPAM type IV chiếm (9,59%) Biểu hiện lâm sàng trẻ nhỏ tím khi khóc, khò khè, suy hô hấp sơ sinh, trẻ lớn ho dai dẳng, viêm phổi tái nhiễm

Từ khóa: Dị dạng nang phổi bẩm sinh.

Chữ viết tắt: RLLN: Rút lõm lồng ngực, SHH: Suy hô hấp, GPB: giải phẫu bệnh

Trang 2

tái phát chúng có thể gây thiểu sản phổi và có tiên

lượng xấu [3]

Mục tiêu của nghiên cứu:

1 Tỷ lệ của CPAM.

2 Các hình thái của CPAM ở trẻ em tại Bệnh

viện Nhi Trung ương.

3 Biểu hiện lâm sàng của CPAM.

II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Thiết kế nghiên cứu: Mô tả hàng loạt ca bệnh

bằng hồi cứu và tiến cứu

2 Tiêu chuẩn chọn mẫu: bệnh nhân CPAM có

kết quả sinh thiết GPB

3 Tiêu chuẩn chẩn đoán

Lâm sàng: khò khè, suy hô hấp sau đẻ, ho

kéo dài dai dẳng, viêm phổi tái nhiễm

Cận lâm sàng: chụp CT scan cho kết quả

nang phổi kết hợp với kết quả sinh thiết GPB

III KẾT QUẢ Và BàN LUẬN

1 Tuổi và giới và tiền sử sản khoa của đối

tượng nghiên cứu

Trong 5 năm có 73 bệnh nhân CPAM được

phát hiện, chiếm 0,19% bệnh nhân vào viện vì lý

do hô hấp

Hình 1 Biểu đồ phân bố giới tính

Giới: tỷ lệ nam/nữ: 40/33 = 1,21%, tỷ lệ nam

nhiều hơn nữ

Tuổi: Lứa tuổi chẩn đoán thường <1 tuổi

chiếm (53,42%) cũng tương đương với các nghiên cứu trước Tuổi phát hiện sớm nhất là 1 ngày có

3 trường hợp, lớn nhất 15 tuổi, trong đó sơ sinh

6 trường hợp chiếm 8,22% đều là CPAM type II

Tiền sử: Trong số các bệnh nhân CPAM

không ghi nhận được các tiền sử sản khoa rõ ràng: có 2 ca mẹ có biêủ hiện dư ối, 1 trường hợp phát hiện CPAM khi thai ở tháng thứ 6

2 Phân loại các hình thái dị dạng nang phổi bẩm sinh

Bảng 1 Phân loại các hình thái của CPAM

Trong nghiên cứu của chúng tôi có 73 bệnh nhân được chẩn đoán CPAM, trong đó 52 ca CPAM type

I chiếm (71,23%), 14 ca CPAM type II chiếm (19,18%), 7 ca CPAM type IV chiếm (9,59%), cũng phù hợp với các nghiên cứu khác Theo J Thomas Stocker và Priiest JT et al [8, 9] thì CPAM type I chiếm 60% -70%, type II (10-30%), type IV(5-15%) Có 4 trường hợp CPAM type II kết hợp với phổi biệt lập chiếm 28,57% trong khi đó theo Priest JR[8] thì CPAM typ II có tỷ lệ mắc các bất thường liên quan cao, lên đến 60%[5]

Trang 3

Hình 2 Biểu đồ tỷ lệ các Typ CPAM theo từng năm

Tỷ lệ CPAM type I gặp tỷ lệ cao trong tất cả các năm, năm 2012 không phát hiện trường hợp nào type

II, 2014 không phát hiện được type IV

Nghiên cứu này của chúng tôi phân loại các type có tỷ lệ tương đương với các nghiên cứu trước

Bảng 2 Phân loại các type nang phổi của các tác giả

Trong nghiên cứu này không phát hiện được trường hợp nào là CPAM typ 0 và typ III Trong các nghiên cứu của các tác giả trước thì CPAM typ III phát hiện được từ 5-10% và typ 0 <3%

3 Lâm sàng, cận lâm sàng

Bảng 3 Các triệu chứng lâm sàng

Rút lõm lồng ngực 31 42,46 8 10,96 5 6,85 44 60,27

RRFN giảm khư trú 23 31,51 7 9,59 5 6,85 35 47,95

Lâm sàng

Triệu chứng cơ năng lúc nhập viện: ho cơn (90,41%), sốt (84,93%), khò khè (78,08%) Tím tái từng cơn (43,84%) chỉ gặp ở trẻ dưới 6 tháng, có 1 trẻ 9 tuổi ho ộc mủ với CPAM type II abces hóa Thở nhanh thường gặp (71,22%) nhưng không đặc hiệu, rút lõm lồng ngực (6027%) chủ yếu ở trẻ <1 tuổi SHH 42 ca chiếm (57,53%) trong đó CPAM túpe II có 14 chiếm (19,18%), viêm phổi: 46 ca (63,01%)

Biểu hiện đầu tiên để trẻ nhập viện thường là suy hô hấp ở trẻ < 1 tuổi và các dấu hiệu của viêm phổi (ho cơn, sốt, thở nhanh, phổi ran ẩm) Khác với các dị dạng đường thở, dấu hiệu đầu tiên được phát hiện là khò khè

Trang 4

Bệnh cảnh trước phát hiện dị tật rất thay đổi,

tuy nhiên hầu hết đều có biểu suy hô hấp ở trẻ nhỏ

và viêm phổi tái nhiễm nhiều lần ở những trẻ lớn

có 2 trường hợp phải xử trí cấp cứu ngay sau đẻ

Hội chứng nhiễm trùng khi nhập viện chiếm

(73,81%), một số không có dấu hiệu nhiễm trùng

do đã được điều trị trước khi nhập viện

Hình ảnh X- Quang:

Hình ảnh bóng khí to hay gặp nhất (82,19%),

có thể có các hình ảnh abces (7,14%), một hoặc

nhiều bóng khí thay đổi theo thời gian, trung thất

bị đẩy lệch trong hầu hết các trường hợp, mức độ

lệch theo kích thước của nang, một số các hình

ảnh không đặc hiệu như đông đặc nhu mô phổi,

xẹp rốn phổi, viêm phổi thường đi kèm

CT scan: phát hiện được nhiều nang khí 1

bên thường liên quan với 1 thùy phổi Phát hiện

được 4 trường hợp CPAM kết hợp phổi biệt lập

do CT scan dựng hình phát hiện mạch máu bất

thường cung cấp cho thùy phổi (thùy dưới phổi

trái) siêu âm Doppler cũng thấy mạch máu này

Bảng 4: Kích thước của các nang phổi trên

CTCT

Kích

thước

nang

CPAM

type I CPAM type II type IV Tổng CPAM

Hình ảnh bóng khí lớn 2-10cm gặp 60 ca

chiếm (82,19%) gồm tất cả các CPAM type I và

IV phù hợp với các nghiên cứu khác Bóng khí <

2cm là 13 ca chiếm (17,81%) trong đó hoàn toàn

là CPAM type II cũng phù hợp với các nghiên cứu

trước [2]

GPB: 52 CPAM type I, 14CPAM type II (có

2 phổi biệt lập kết hợp với CPACPAM type II), 7

CPAM type IV, không phát hiện được trường hợp

nào CPAM type III và type 0 (do type III tiên lượng

rất nặng và type 0 thì rất hiếm

IV BàN LUẬN

CPAM là một dị tật bẩm sinh không có yếu tố

di truyền, hiếm gặp, do bất thường u mô thừa của

phổi không rõ nguyên nhân Nam gặp nhiều hơn

nữ, thường giới hạn ở một thùy, nhưng có thể liên quan đến toàn bộ một bên phổi, hoặc cả hai phổi Theo nghiên cứu của chúng tôi lứa tuổi dưới

1 tuổi được phát hiện là 53,42%, sơ sinh khoảng 10% chủ yếu là CPAM type II cũng phù hợp với các nghiên cứu khác trên thế giới[6, 9]

CPAM typ I bao gồm 1 nang lớn từ 2-10cm, hay gặp nhất chiếm tỷ lệ (71,23%), tỷ lệ CPAM typ II (19,18%) tương đương với các nghiên cứu khác [7, 9] CPAM type II biểu hiện SHH nặng nề hơn nên trẻ được phát hiện sớm hơn, có 4 trường hợp CPAM type II kết hợp với dị dạng phổi biệt lập cũng phù hợp với các nghiên cứu, không phát hiện được CPAM type III có thể do tiên lượng thể này thường nặng, bệnh nhân tử vong trước khi được phát hiện CPAM type IV gồm các nang có kích thước lớn, hiếm gặp chiếm 9,59% cũng tương đương với các nhiên cứu khác ≈ 10% Trong nghiên cứu này không phát hiện được trường hợp nào type 0, điều này cũng phù hợp chúng là rất hiếm ở các nghiên cứu trước

Các biểu hiện lâm sàng phổ biến nhất của CPAM trong cuộc sống sau khi sinh là suy hô hấp tiến triển bao gồm thở nhanh, thở rên, co rút lồng ngực và tím tái Ở trẻ lớn thường biểu hiện viêm phổi lặp đi lặp lại

Chụp X-quang, chụp cắt lớp vi tính có giá trị cao trong chẩn đoán

Kết quả GPB là tiêu chuẩn vàng giúp chẩn đoán phân loại các type CPAM giúp cho tiên lượng bệnh [1]

V KẾT LUẬN

CPAM là một dị tật nang phổi bẩm sinh Nó

có thể được chẩn đoán ở thời kỳ bào thai, trẻ sơ sinh cũng có khi đến tuổi trưởng thành mới phát hiện được Biểu hiện lâm sàng sớm đa dạng: ho, khò khè, suy hô hấp ở trẻ nhỏ, trẻ lớn thường gặp với biểu hiện viêm phổi tái diễn X-quang cho chẩn đoán định hướng, CT scan đánh giá tốt thương tổn, vị trí, các dị dạng kèm theo Chẩn đoán xác định loại dị dạng nang phổi, phân loại type dựa vào kết quả GPB CPAM type I hay gặp nhất và có tiên lượng tốt, type III có tiên lượng xấu, type IV hiếm gặp, type 0 rất hiếm gặp và không thích nghi với cuộc sống

Trang 5

1 Azizkhan RG Crombleholme TM

Congenital cystic lung disease: contemporary

antenatal and postnatal management Pediatr

Surg Int Jun 2008;24(6):643-657, pp

2 Biyyam DR, Chapman T, et al (2010),

“Congenital lung abnormalities: embryologic

features, prenatal diagnosis, and postnatal

radiologic-pathologic correlation”, Radiographics,

30 (6, pp 1721-38

3 Collins J, Stern EJ (2007), “Chest

radiology, the essentials”, Lippincott Williams &

Wilkins, pp ISBN:0781763142.

4 Gluecker T, Lang F, et al (2001), “2D and

3D CT imaging correlated to rigid endoscopy in

complex laryngo-tracheal stenoses”, Eur Radiol,

11(1), pp 50-54

5 Kao SW, Zuppan CW, et al (2011),

“AIRP best cases in radiologic-pathologic

correlation: type 2 congenital cystic adenomatoid

malformation (type 2 congenital pulmonary airway

malformation).”, Radiographics., 31 (3), pp 743-8.

6 Laberge JM, Flageole H, et al (2001), “ Outcome of the prenatally diagnosed congenital cystic adenomatoid lung malformation: a Canadian

experience”, Fetal Diagn Ther, 16(3), pp 178-86.

7 Luján M, Bosque M, et al (2012), “Late-onset congenital cystic adenomatoid malformation

of the lung Embryology, clinical symptomatology, diagnostic procedures, therapeutic approach and

clinical follow-up”, Respiration, 69(2), pp 148-54.

8 Priest JR, Williams GM, et al (2009),

“Pulmonary cysts in early childhood and the risk of

malignancy”, Pediatr Pulmonol, 44, pp 14-30.

9 Stocker JT (2002), “Congenital pulmonary airway malformation: a new name and an expanded classification of congenital cystic adenomatoid malformation of the lung.”,

Histopathology, 41(suppl 2), pp 424–431.

TàI LIỆU THAM KHẢO

ABsTRACT

CONGeNITAL PULMONARY AIRWAY MALFORMATION IN CHILDReN AT THe NATIONAL

HOsPITAL OF PAeDIATRICs

Congenital pulmonary airway malformation (CPAM), formerly known as congenital cystic adenomatoid malformation (CCAM) The underlying cause for CPAM is unknown, is the most common deformity of the lung congenital malformations It occurs in approximately 1 in every 30,000 pregnancies

Objective: Frequency, types of congenital pulmonary airway malformation.

Aim: Prevalence of CPAM Charater of CPAM and clinical charater of CPAM

Object: Patients with CPAM who were hospitalised in Respiratory department of the National

Hospital of Pediatrics from 1/2011 to 7/2015

Method: prospective descriptive study

Results: 42 patients CPAM from 1 days to 15 years old 0.19% of respiratory patients <12

months old (50%) Male 54.79% CPAMI 71.23%, CPAM II 19.18% (include 4 patients with pulmonary sequestration), CPAM IV 9.59% Symptoms: new-born cyanosisosis when cry, wheezing, respiratory distress, persistent cough, recurrent pneumonia

Keywords: Congenital pulmonary airway malformation.

Ngày đăng: 03/07/2020, 05:10

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

2. Các hình thái của CPA Mở trẻ em tại Bệnh viện Nhi Trung ương. - Đặc điểm dị dạng nang phổi bẩm sinh ở trẻ em tại Bệnh viện Nhi Trung ương từ 1/2011-7/2015
2. Các hình thái của CPA Mở trẻ em tại Bệnh viện Nhi Trung ương (Trang 2)
Hình 1. Biểu đồ phân bố giới tính - Đặc điểm dị dạng nang phổi bẩm sinh ở trẻ em tại Bệnh viện Nhi Trung ương từ 1/2011-7/2015
Hình 1. Biểu đồ phân bố giới tính (Trang 2)
Bảng 2. Phân loại các type nang phổi của các tác giả - Đặc điểm dị dạng nang phổi bẩm sinh ở trẻ em tại Bệnh viện Nhi Trung ương từ 1/2011-7/2015
Bảng 2. Phân loại các type nang phổi của các tác giả (Trang 3)
Hình 2. Biểu đồ tỷ lệ các Typ CPAM theo từng năm - Đặc điểm dị dạng nang phổi bẩm sinh ở trẻ em tại Bệnh viện Nhi Trung ương từ 1/2011-7/2015
Hình 2. Biểu đồ tỷ lệ các Typ CPAM theo từng năm (Trang 3)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w