1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tổng quan nghiên cứu về vai trò của cha mẹ trong việc giáo dục con từ 0 đến 6 tuổi

12 195 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 577,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài báo với mục đích tổng quan nghiên cứu về “Vai trò của cha mẹ trong việc giáo dục con giai đoạn 0-6 tuổi”. Tác giả tổng quan trên 6 nhóm vấn đề: (1) Về môi trường giáo dục gia đình và giáo dục tuổi ấu thơ, (2) Sự khác biệt về vai trò cha mẹ trong giáo dục con cái ở các nước, (3) Sự khác biệt vai trò giữa cha và mẹ trong việc giáo dục con, (4) Sự thay đổi trong công việc giáo dục/xã hội hóa trẻ em trong gia đình hiện nay, (5) Vai trò cha mẹ với nội dung giáo dục con trong gia đình và (6) Vai trò của cha mẹ với phương pháp giáo dục con trong gia đình.

Trang 1

TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ VAI TRÕ CỦA CHA MẸ TRONG VIỆC GIÁO

DỤC CON TỪ 0 ĐẾN 6 TUỔI

TS Phạm Thị Thúy

Bộ môn Quản lý Nhà nước về xã hội Phân viện Học viện Hành chính Quốc gia TP HCM

Email: thuyanh77vn@gmail.com

Tóm tắt: Bài báo với mục đích tổng quan nghiên cứu về “Vai trò của cha mẹ trong việc

giáo dục con giai đoạn 0-6 tuổi” Tác giả tổng quan trên 6 nhóm vấn đề: (1) Về môi trường giáo dục gia đình và giáo dục tuổi ấu thơ, (2) Sự khác biệt về vai trò cha mẹ trong giáo dục con cái ở các nước, (3) Sự khác biệt vai trò giữa cha và mẹ trong việc giáo dục con, (4) Sự thay đổi trong công việc giáo dục/xã hội hóa trẻ em trong gia đình hiện nay, (5) Vai trò cha

mẹ với nội dung giáo dục con trong gia đình và (6) Vai trò của cha mẹ với phương pháp giáo dục con trong gia đình

Từ khóa: tổng quan, vai trò của cha mẹ, giáo dục, 0 - 6 tuổi

Lời giới thiệu

Đối với trẻ em, gia đình là môi trường xã hội hóa đầu tiên đặt nền móng cho sự hình thành nhân cách trẻ và có ảnh hưởng lâu dài trong suốt cuộc đời trẻ Với trẻ em giai đoạn 0 -

6 tuổi, việc giáo dục, xã hội hóa càng có một tầm quan trọng đặc biệt Trong giai đoạn này, cha mẹ chứ không phải ai khác là người dẫn dắt trẻ, từ lúc còn là bào thai, từng bước đi vào cuộc sống

Ở Việt Nam, kinh nghiệm “dạy con từ thuở còn thơ” cũng được ông cha ta đề cao Tuy nhiên không phải cha mẹ nào cũng nhận thức đầy đủ về vai trò giáo dục con trong giai đoạn trẻ 0 – 6 tuổi Hơn nữa, sự tham gia ngày càng nhiều của phụ nữ và nam giới vào thị trường lao động bên ngoài gia đình cùng với sự chuyển đổi các giá trị, chuẩn mực gia đình trong điều kiện công nghiệp hóa, toàn cầu hóa đang tước đi thời gian và làm giảm sút vai trò của cha mẹ dành cho việc chăm sóc, giáo dục con cái Do bận làm ăn, không ít cha mẹ đã phó mặc việc chăm sóc giáo dục con cho các tổ chức bên ngoài gia đình Thực tế, không ít nhà giữ trẻ chỉ là nơi trông giữ đơn thuần trong thời gian cha mẹ đi làm Tình trạng thờ ơ, thiếu trách nhiệm, thậm chí bạo lực của người trông trẻ đối với trẻ em đã gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng như báo chí gần đây đã lên tiếng

Vậy trong bối cảnh xã hội hiện nay, làm thế nào để thực hiện tốt vai trò của cha mẹ trong việc giáo dục con giai đoạn 0 - 6 tuổi? Đây là một vấn đề xã hội có ý nghĩa lý luận và thực tiễn hết sức cấp bách

Thời gian gần đây có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề giáo dục gia đình của Viện

Xã hội học, Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới, Viện Khoa học giáo dục, các Trung tâm Nghiên cứu về gia đình Vấn đề chức năng xã hội hóa, giáo dục trẻ em đã được đề cập đến

Trang 2

Nhưng cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu Xã hội học nào tập trung nghiên cứu chức năng xã hội hóa ban đầu, vai trò của cha mẹ trong việc giáo dục con giai đoạn 0 - 6 tuổi

Đây là mảng đề tài mới cần xã hội học quan tâm nghiên cứu, từ đó tìm ra những giải pháp giúp cha mẹ thực hiện vai trò giáo dục con hiệu quả, phù hợp với nhu cầu phát triển của xã hội trong thời đại toàn cầu hóa đang diễn ra ngày càng khốc liệt, thách thức mỗi cá nhân, mỗi gia đình, mỗi quốc gia

Và công việc tổng quan tình hình nghiên cứu về đề tài “Vai trò của cha mẹ trong việc

giáo dục con giai đoạn 0 - 6 tuổi” rất quan trọng để định hướng nghiên cứu

Đôi nét về nguồn tài liệu

Tài liệu liên quan đến vấn đề vai trò của cha mẹ trong việc giáo dục con khá phong phú,

bao gồm các báo cáo khoa học, sách, bài viết, luận văn của các tác giả trong và ngoài nước Vấn đề tác giả đề tài quan tâm được các tác giả nhìn nhận dưới nhiều góc độ: Xã hội học, Tâm lý học, Giáo dục học

Trong số 155 tài liệu mà tác giả tiếp cận được gồm có: 22 bài báo khoa học, 121 công trình nghiên cứu là báo cáo, sách, luận văn (trong đó Xã hội học có 50, Tâm lý học - Giáo dục học có 48 và các tài liệu khác), 04 tài liệu từ Internet, 10 tài liệu bằng tiếng Anh, (trong

đó tài liệu Tâm lý là 3, Xã hội học 7)

Phần lớn các tài liệu này viết về chức năng giáo dục, xã hội hóa của gia đình, cách giáo dục cụ thể, các tình huống giáo dục trong gia đình Các tài liệu xã hội học đề cập đến lý thuyết xã hội hóa, chức năng xã hội hóa của gia đình Các tài liệu tâm lý học nghiên cứu tâm

lý trẻ em, mối quan hệ cha mẹ con và cách giáo dục cụ thể trong gia đình

Tác giả nhận thấy ở Việt Nam chưa có tài liệu Xã hội học nghiên cứu về vai trò của cha

mẹ trong việc giáo dục con ở giai đoạn 0 đến 6 tuổi, liên quan đến giai đoạn trẻ 0 - 6 tuổi chỉ

có vài công trình nghiên cứu của các nhà Tâm lý học, Giáo dục học Ngoài một số ít những nghiên cứu mang tính lý luận, đa số tài liệu còn lại là các công trình thực nghiệm, các loại sách phổ biến kiến thức nuôi dạy con

Nguồn tài liệu trên đây đã giúp cho người viết tổng quan hiểu được những gì các tác giả

đi trước đã làm được, những gì chưa làm được, những gì cần bổ sung thêm Nói cách khác, đây chính là những tiền đề không thể thiếu để tác giả triển khai đề tài nghiên cứu của mình

là “Vai trò của cha mẹ trong việc giáo dục con giai đoạn từ 0 – 6 tuổi” Dưới đây là những

nội dung chính được các tác giả đi trước nghiên cứu có liên quan đến công trình nghiên cứu

1 Về môi trường giáo dục gia đình và giáo dục tuổi ấu thơ

Theo nhà Xã hội học John J Macionis (1987), xã hội hóa là tiến trình kéo dài suốt đời dựa trên sự tương tác xã hội qua đó cá nhân phát triển khả năng con người của mình và học các mẫu văn hóa của xã hội Gia đình là môi trường xã hội hóa đầu tiên của con người (8;183)

Tony Bilton và các cộng sự (1993) cũng đồng quan điểm trên Họ coi quá trình xã hội hóa của một người từ những năm tháng đầu tiên của cuộc đời là có ảnh hưởng quyết định tới thái

Trang 3

độ và hành vi khi đã lớn, cho nên gia đình, như là nhóm người đầu tiên mà mỗi cá nhân trong mọi xã hội thường phải phụ thuộc vào, rõ ràng là một môi trường xã hội hóa có tầm quan trọng chính yếu Phần lớn ảnh hưởng của gia đình trong giai đoạn sơ khai của quá trình

xã hội hóa được thực hiện một cách không chính thức và không có chủ định, là sản phẩm của tương tác xã hội giữa những người gần gũi nhất về tinh thần và thể chất (11; 27)

Trong khi đó, Talcott Pasons cũng cho rằng gia đình là tác nhân xã hội hóa đầu tiên đối với trẻ em qua các giai đoạn phát triển Trong mỗi trường hợp, vai trò của bố mẹ, con trai, con gái được phân biệt rõ ràng (6;296-298)

Chức năng xã hội hóa ban đầu của gia đình, vai trò của cha mẹ trong việc giáo dục con cũng luôn được các nhà nghiên cứu ở Việt Nam quan tâm GS Lê Thi (1997), trong công

trình Vai trò gia đình trong việc xây dựng nhân cách con người Việt Nam đã tập trung vào

vai trò của gia đình đối với việc xây dựng nhân cách con người Tác giả nhấn mạnh chức năng xã hội hóa của gia đình, coi gia đình là thiết chế giáo dục cơ sở, là trung tâm đào tạo

đầu tiên giúp đứa trẻ tập sự đi vào cuộc sống Giai đoạn từ lúc sinh ra đến 6 tuổi là giai đoạn

mấu chốt để hình thành sự thông minh, nhân cách và cách cư xử xã hội của trẻ Bà cho rằng quá trình xã hội hóa diễn ra đầu tiên ở môi trường xã hội nhỏ trong gia đình (là nơi hình thành gốc nhân cách của trẻ) dần dần mở ra cả môi trường xã hội rộng lớn: nhà trường, bạn

bè, đoàn thể, cộng đồng xã hội

Bàn về vấn đề này, tác giả Lê Ngọc Văn (2011) cũng khẳng định gia đình là môi trường

vi mô có vai trò quan trọng nhất trong giai đoạn xã hội hóa ban đầu Nhưng chức năng xã hội hóa gia đình không chỉ dừng lại ở giai đoạn xã hội hóa ban đầu (cung cấp các kinh nghiệm xã hội, nuôi nấng, chăm sóc, rèn luyện các thói quen, các kỹ năng từ khi còn nhỏ)

mà còn diễn ra suốt cả cuộc đời con người với tư cách là quá trình liên tục Trẻ em được tiếp

thu giá trị văn hóa để hòa nhập vào xã hội Vai trò cha mẹ là truyền thụ những kiến thức đó

cho trẻ em

Như vậy, các tác giả đề cập ở trên khi nghiên cứu về chức năng xã hội hóa đều có sự

thống nhất ở quan điểm coi gia đình là môi trường xã hội hóa đầu tiên và quan trọng nhất, bên cạnh đó trẻ em còn chịu ảnh hưởng của các môi trường khác như nhà trường, bạn bè, đoàn thể, nhà nước và cộng đồng xã hội

Các nghiên cứu nước ngoài cũng như trong nước tập trung nghiên cứu vai trò của cha mẹ trong việc thực hiện chức năng xã hội hóa, giáo dục con khá đầy đủ và sâu sắc Nhưng các nghiên cứu mới đề cập đến vai trò của cha mẹ trong việc giáo dục con cái nói chung, chứ chưa có công trình nào đề cập đến vai trò của cha mẹ trong việc giáo dục con giai đoạn 0 đến 6 tuổi

Các tác giả đề cập tới chức năng xã hội hóa của gia đình diễn ra sau khi đứa trẻ được sinh

ra Chưa có công trình nghiên cứu nào nói về quá trình xã hội hóa bắt đầu từ khi trẻ còn ở trong bào thai

Trang 4

2 Sự khác biệt về vai trò cha mẹ trong giáo dục con cái ở các nước

Theo Tony Bilton và các cộng sự (1993), nghĩa vụ trong vai trò làm cha mẹ ngày càng tăng Các tác giả cho rằng các gia đình hiện đại thường được mô tả như những gia đình

“trung tâm là trẻ con” Các cha mẹ có xu hướng tiêu phí nhiều thời gian và nghị lực cho con

cái và thường nghĩ là việc nuôi nấng cẩn thận lớp trẻ, sự bảo vệ và giáo dục sao cho chúng

có hạnh phúc, có tình cảm là lý do tồn tại của gia đình với tư cách là một thiết chế Điều này làm sự gia tăng có hệ thống trong nghĩa vụ làm cha mẹ đối với con cái Một kết quả là, mặc

dù tỷ lệ sinh đẻ rất thấp so với thế kỷ XIX, chắc chắn rằng cha mẹ phải mất nhiều thời gian săn sóc con cái hơn Sự chú ý của cha mẹ lại càng khẩn thiết hơn vì có những thay đổi đặc biệt trong môi trường đô thị

Phần lớn sự ủng hộ về mặt lý thuyết cho ý kiến này xuất phát từ công trình nghiên cứu

của John Bowlby, bác sỹ nhi khoa, nhà phân tâm học người Anh Ông gợi ý rằng con người

ngay từ thời thơ ấu có thiên hướng gắn bó với một người - và người đó chắc chắn là người

mẹ Sự thiếu thốn tình mẹ thời thơ ấu được coi là có những ảnh hưởng nghiêm trọng và lâu dài Bowlby còn cho rằng thậm chí những sự xa cách tạm thời với các bà mẹ (nghĩa là để con ở nhà nhờ người trông hộ lúc đi làm) có thể để lại vết sẹo trên cuộc đời đứa bé, dưới hình thức này, quan niệm về sự thiếu thốn người mẹ đã được sử dụng để trừng phạt các bà

mẹ thậm chí khi bà đi làm việc có trả công hoặc thỉnh thoảng buổi tối đi ra ngoài Nói cách khác, chức năng làm mẹ được hiểu là một trách nhiệm 24 giờ/ngày, 365 ngày/năm

Leach (1968) mô tả cuộc xung đột vai trò làm mẹ một cách rõ ràng: Vì các gia đình hạt nhân trở nên cô lập hơn, mạng lưới anh em họ hàng trở nên phân tán, người mẹ trẻ có thể nói chuyện với MẸ qua điện thoại, nhưng không thể yêu cầu mẹ trông hộ con cho mình Những

ý niệm về địa vị người phụ nữ đang thay đổi Ngày nay phụ nữ được coi là bạn chứ không

phải đầy tớ của chồng, nhưng có lẽ họ bị biến thành nô lệ vì con cái hơn trước đây Không

có giải pháp dễ dàng Có một sự va chạm thực sự giữa quyền một người phụ nữ phải được đối xử như con người tự do và biết tự trọng với quyền đứa bé đòi hỏi được nuôi nấng chăm sóc (11; 267-269)

Theo Bert N.Adams và Jan Trost (2005), trong cuốn “Cẩm nang về nghiên cứu gia đình

trên thế giới” cha mẹ đóng vai trò quan trọng, song nhiều người khác và các định chế khác

cũng tham gia vào quá trình nuôi dưỡng đứa trẻ Ở Phần Lan, việc nuôi dưỡng và xã hội hóa trẻ em không chỉ diễn ra trong gia đình và trong các mối quan hệ thân thiết mà còn có sự tham gia của nhiều tổ chức như trường mẫu giáo, trường học, trung tâm y tế, các phương tiện truyền thông, nơi làm việc của cha mẹ, … Ở các nước Trung Đông, con trai được nuôi dạy để chịu trách nhiệm về dòng họ và tài sản khi chúng trưởng thành Ở Iran, giữa cha mẹ

và con cái luôn có mối quan hệ và gắn kết về tình cảm chặt chẽ trong suốt cuộc đời Sự kính trọng và vâng lời của con cái đối với cha mẹ là mong ước của cha mẹ ở các quốc gia vùng Trung Đông, châu Phi, Đông Nam Á, Châu Mỹ La tinh và nhiều nơi khác

Theo nghiên cứu của tác giả J.P.Singh, sự khác biệt trong quá trình xã hội hóa theo giới ở

Ấn Độ là do “nhu cầu sinh con trai ở các gia đình Ấn Độ là một nhu cầu quan trọng nên trẻ

Trang 5

em gái thường không nhận được sự quan tâm nhiều của gia đình Không chỉ là sự phân biệt đối xử giữa con trai và con gái, ở nhiều nước, người cha rất ít tham gia vào công việc chăm sóc và nuôi dưỡng con cái và dồn trách nhiệm này cho người mẹ Ở Cuba, nhiều nam giới hầu như không cùng vợ chăm sóc và nuôi dưỡng con cái hoặc thậm chí rất ít khi gần gũi con Người vợ đóng vai trò quan trọng trong việc nuôi dạy con cái”

Ở Việt Nam, năm 2002, dự án “Điều tra cơ bản về gia đình Việt Nam và vai trò của

người phụ nữ trong gia đình thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” đã có những

phân tích liên quan đến thực trạng dạy con của các cha mẹ Tác giả Lê Ngọc Văn (2011) đánh giá vai trò của gia đình trong chức năng giáo dục – xã hội hóa trẻ em đã rất được đề cao Tuy nhiên có một mâu thuẫn nảy sinh là các bậc cha mẹ thường không đủ thời gian dành cho việc chăm sóc, giáo dục con (13,6 % người cha và 8,8% người mẹ cho biết họ không có thời gian dạy con) Mặt khác, gia đình cũng không có đủ những điều kiện và tri thức cần thiết đáp ứng được nhu cầu phát triển nhân cách toàn diện của trẻ em trong xã hội hiện đại (31,2%)

Những năm gần đây, công trình “Kết quả điều tra gia đình Việt Nam năm 2006” cũng

quan tâm đến chức năng xã hội hóa của gia đình Quan điểm lý thuyết mà các nhà nghiên cứu của công trình này áp dụng là chức năng xã hội hóa của gia đình, vai trò giáo dục con của cha mẹ biểu hiện ở nội dung, phương pháp giáo dục con Cụ thể, nghiên cứu này tìm hiểu thực tế sự quan tâm của cha mẹ đến việc học tập, quan hệ bạn bè và các hoạt động khác; thời gian chăm sóc con; cách giáo dục khi con mắc lỗi, sự động viên của cha mẹ khi con làm việc tốt; cách đối xử, quan niệm đối với con trai, con gái cũng như mong muốn và

lo lắng đối với con trai/ con gái

Kết quả này được Lê Thi (2011) khẳng định một lần nữa khi bà phân tích số liệu từ cuộc Tổng điều tra Dân số và nhà ở 2009 và kết luận cha mẹ hiện nay đã có những cách ứng xử phù hợp như giảng giải khi con mắc lỗi (97,7% với con trai, 98% với con gái) Tuy nhiên khó khăn chính của cha mẹ vẫn tiếp tục là thiếu thời gian chăm sóc con do áp lực kiếm sống Tác giả cho rằng mối quan hệ tôn trọng lẫn nhau giữa cha mẹ và con cái đang là xu hướng của nhiều gia đình hiện nay (10)

Kết quả phân tích ở trên cho thấy, dù có sự tương đồng trong quan niệm về tầm quan

trọng của cha và mẹ trong việc giáo dục con cái, nhất là khi con cái ở lứa tuổi 0 - 6 tuổi, song các vai trò này vẫn có sự khác biệt rất nhiều giữa các nền văn hóa khác nhau

3 Sự khác biệt vai trò giữa cha và mẹ trong việc giáo dục con

Tác giả Mai Huy Bích (2009) trong bài Vài nhận xét về vai trò chăm sóc và dạy dỗ của

người cha, đã phân tích vai trò người cha trong sự so sánh với vai trò người mẹ Ông cho

rằng so với người mẹ, nhìn chung vai trò của cha ít được chú ý và nhấn mạnh hơn, nếu không nói là mờ nhạt hơn Việc thực thi vai trò cha mẹ mang đậm màu sắc giới, tức là có sự khác biệt rõ rệt giữa làm cha với làm mẹ Do thiên hướng tự nhiên, người cha thường hướng vào vợ nhiều hơn là con cái, và so với người mẹ, họ cần học hỏi nhiều hơn để thực thi vai trò

Trang 6

của mình (làm cha) Về mặt sinh học, nam giới chỉ có một định hướng bẩm sinh đó là định hướng giới tính, nó hướng họ về phía nữ giới

Trong khi đó, nữ giới có hai định hướng: một là định hướng giới tính, đưa họ về phía nam giới, và một nữa là định hướng sinh sản, nhằm vào con cái Sự tác động qua lại giữa mẹ và con có nhiều phản ứng mang tính tự nhiên Sự gắn bó của nam giới là do học hỏi về mặt xã hội mà có Các động vật linh trưởng khác thường không làm cha, còn ở con người, việc thực thi vai trò này phần nhiều là do học hỏi từ phụ nữ cũng như do đòi hỏi của các chuẩn mực về quan hệ thân tộc, chứ ít có tính bẩm sinh ở nam giới (Rossi, 1978: 5-6) Theo nhà nghiên cứu người Mỹ N.Townsend, vai trò của người cha đối với con cái không mang tính trực tiếp,

mà cần thông qua vai trò trung gian của người mẹ Qua các dẫn liệu vừa nêu, Mai Huy Bích kết luận, có thể nói nếu một xã hội muốn chia sẻ việc làm cha làm mẹ thì chỉ khuyến khích

nam giới làm cha không thôi chưa đủ Cần thể chế hóa việc đào tạo kỹ năng chăm sóc trẻ sơ

sinh và con cái cho nam giới nhằm bù lại cho định hướng tự nhiên của họ và tăng cường sự học hỏi về mặt xã hội và rèn luyện vai trò làm cha (Mai Huy Bích, 2009)

4 Sự thay đổi trong công việc giáo dục/xã hội hóa trẻ em trong gia đình hiện nay

Theo Lê Thi (1997), gia đình Việt Nam đang biến đổi nên việc xã hội hóa trẻ em ngày nay không đơn giản chỉ là truyền đạt những giá trị văn hóa và những cách cư xử vốn tồn tại vững bền từ lâu mà gia đình còn phải giáo dục cho các thành viên biết tôn trọng quyền cơ bản của con người, quyền tự do cá nhân trong cộng đồng xã hội hiện đại Tác giả so sánh trong xã hội truyền thống, gia đình có vai trò gần như tuyệt đối trong việc giáo dục trẻ, đặc biệt từ 2 đến 6 tuổi, còn gia đình ngày nay giữ vị trí quan trọng trong việc giáo dục trẻ em bên cạnh sự ảnh hưởng từ các thiết chế xã hội khác như trường học, đoàn thể… Điều này phụ thuộc vào khả năng kinh tế của cha mẹ, trình độ văn hóa của họ, việc tiếp thu nền văn minh hiện đại cũng như quan niệm chung của họ về thang giá trị đạo đức, tinh thần hiện nay

Bà cũng nhấn mạnh, văn hóa gia đình là cơ sở gốc cho việc hình thành nhân cách trẻ em, giữ một vị trí trọng yếu

Có cùng quan điểm này là nhà nghiên cứu Lê Ngọc Văn Ông cho rằng sự biến đổi của xã hội Việt Nam trong nhiều năm qua đã làm biến đổi sâu sắc chức năng xã hội hóa của gia đình truyền thống Trong xã hội mới, có sự phủ định giản đơn nội dung và phương pháp xã hội hóa của gia đình truyền thống, có xu hướng quá đề cao vai trò của giáo dục xã hội thay

vì giáo dục gia đình, đang xảy ra tình trạng không chuẩn mực trong chức năng xã hội hóa của gia đình Một bộ phận gia đình muốn tiếp tục giáo dục con cái theo mô hình của gia đình truyền thống; một bộ phận gia đình khác có xu hướng quay lưng lại với nền giáo dục đó Cả hai xu hướng này đều cho thấy sự lúng túng của gia đình Việt Nam hiện đại trong chức năng

xã hội hóa của gia đình và mỗi xu hướng đều có cái giá phải trả do nó không tìm thấy một chuẩn mực thực sự cho giáo dục trẻ em trong một xã hội đang biến đổi (Lê Ngọc Văn, 2011)

Trang 7

5 Vai trò cha mẹ với nội dung giáo dục con trong gia đình

Mỗi tác giả có quan niệm khác nhau về nội dung giáo dục của gia đình Hầu hết các tác giả đề cập tới việc giáo dục con sau sinh Nội dung giáo dục tập trung vào giáo dục trí tuệ, giáo dục đạo đức ứng xử là chủ yếu

Nhà giáo dục người Ý, Maria Montessori, chia sự phát triển của con người ra làm bốn giai đoạn, từ lúc mới sinh đến 6 tuổi, từ 6 - 12 tuổi, từ 12 - 18 tuổi và từ 18 - 24 tuổi Gsiai đoạn sau sinh đến khi trẻ được khoảng 6 tuổi là giai đoạn đầu tiên Theo quan sát của Montessori, trong suốt giai đoạn này trẻ trải qua quá trình phát triển tâm sinh lý không ngừng và mạnh

mẽ nhất Trẻ là những cá nhân học tập và khám phá thế giới xung quanh rất tinh tế bằng các giác quan nhạy bén của mình, từ đó hình thành nên tính độc lập và tự xây dựng mang nét riêng của từng cá nhân Montessori đã nêu ra một số khái niệm để giải thích quá trình “làm

việc” này của trẻ, bao gồm khái niệm về “trí tuệ thấm hút, các thời kỳ nhạy cảm và sự bình

thường hoá” Giai đoạn phát triển quan trọng nhất của trẻ nằm ở 6 năm đầu đời – thời kỳ trẻ

sở hữu trong mình “trí tuệ thấm hút”- trẻ tiếp thu thế giới xung quanh giống như miếng bọt

biển hút nước Do đó, mục tiêu giáo dục trong thời kỳ này là trau dồi, tu dưỡng khát khao học hỏi và tiếp thu một cách tự nhiên của trẻ Bà cũng cho rằng đây là khả năng duy nhất, đặc biệt trong giai đoạn đầu đời của trẻ và nó phai nhạt dần sau khi trẻ được 6 tuổi

Ở Việt Nam, Lê Ngọc Văn (2011) cho rằng, nội dung giáo dục của gia đình Việt Nam truyền thống gồm có: giáo dục đạo đức, giáo dục lao động - nghề nghiệp, giáo dục giới tính

Giáo dục đạo đức là cốt lõi của giáo dục gia đình

Trong khi đó, hai tác giả Đặng Cảnh Khanh và Lê Thị Quý (2007), trong cuốn Gia đình

học lại tìm hiểu nội dung giáo dục gia đình từ góc nhìn giá trị Các tác giả này cho rằng

trong những nội dung mà các bậc cha mẹ truyền dạy cho con cháu thì đứng đầu là sự lễ

phép, hiếu thảo 90,9%, tính trung thực đứng thứ hai 84,2%, tính tự lập vươn lên đứng thứ ba

83,2%, cần cù, chịu khó đứng thứ tư 83,8%, niềm tin vào cuộc sống đứng thứ năm 81,1% Vẫn bàn về nội dung giáo dục, một số tác giả khác còn đi xa hơn nữa và cho rằng cần giáo dục từ khi còn trong bào thai, giáo dục sớm trong giai đoạn 0 đến 6 tuổi Các tác giả

nhấn mạnh đến vai trò của người mẹ trong việc giáo dục sớm, nhất là giai đoạn trong thai –

0 tuổi Theo Phạm Thị Thúy (2011) tổng hợp tình hình nghiên cứu về việc giáo dục con từ 0 tuổi ở một số nước trên thế giới như sau:

Ở Trung Quốc, những vấn đề liên quan đến việc giáo dục thai nhi có lịch sử rất lâu đời, từ hơn một ngàn năm trước Nhiều sách cổ ở Trung Quốc có ghi lại học thuyết giáo dục thai

nhi như cuốn “Trục nguyệt dưỡng thai pháp”, Từ Chí Tài đời Bắc Tề; cuốn “Chư bệnh

nguyên hậu luận”, đời Tùy; cuốn “Thiên kiêm yếu phương, Danh y nổi tiếng đời Đường

Tôn Tư Mạc Trong “Cổ kim đồ thư tập thành - Nhất bộ toàn lục” đời Thanh có học thuyết

dạy thai nhi khá đầy đủ, hệ thống, tập hợp các nội dung có liên quan đến giáo dục thai nhi

thời cổ đại, đặt tên là “Tiệu nhi vị sinh thai dưỡng môn” Trọng tâm của những học thuyết

này là cho rằng thai nhi không ngủ li bì trong cơ thể mẹ, mà ngay từ khi mới hình thành đã chịu ảnh hưởng bởi sự thay đổi tâm sinh lý của người mẹ; yêu cầu trong thời kỳ mang thai,

Trang 8

thai phụ phải tu tâm dưỡng tính, không được để thất tình (mừng, giận, thương, sợ, yêu, ghét, muốn) làm ảnh hưởng

Ở Hoa Kỳ, Tiến sĩ Thomas R Verny đề cập đến sự phát triển tri thức và tâm lý của bào

thai, vạch ra tầm quan trọng của việc giao lưu tình cảm giữa người mẹ và thai nhi trong cuốn

The Secret Life of the Unborn Child Ông cho rằng thai nhi có cảm giác và tư duy, và do đó,

hoạt động tâm lý của thai phụ, nhất là tình thương của người mẹ, có ảnh hưởng rất tích cực đối với thai nhi Và trong suốt thai kỳ, sự phát triển cả về thể chất lẫn trí não của thai phụ thuộc hoàn toàn vào chế độ dinh dưỡng và trạng thái tâm lý của người mẹ Năm 1977, một

chuyên gia khoa sản của Mỹ đã thành lập một trường đại học đặc biệt - trường đại học dành

riêng cho thai nhi, chuyên hướng dẫn thai phụ cách giáo dục thai nhi Phương thức dạy học

của trường là trò chuyện với thai nhi một cách có hệ thống, cho nghe nhạc, vỗ và xoa ở các

vị trí nhất định trên bụng thai phụ Trò chuyện nhiều với thai nhi, dạy thai nhi nhận ra giọng nói của bố mẹ Phương pháp này giúp trẻ sau khi chào đời phát triển và học tập tốt hơn

(Phạm Thị Thúy, 2011)

Ở Việt Nam, ngay từ năm 1989, bác sỹ Nguyễn Khắc Viện, trong cuốn giáo trình Tâm lý lâm sàng trẻ em Việt Nam, đã trình bày một ca đặc biệt với phương pháp phân tích ca của tâm lý học, nói về mối quan hệ mẹ con từ trong bụng mẹ đến thời kỳ sơ sinh Người mẹ là bác sỹ Nhi khoa, sinh một đứa con gái, suốt một năm đầu không chịu bú, không chịu ăn Nguyên nhân căn bệnh của bé là do sự khủng hoảng quan hệ mẹ con từ khi còn trong thai nên bé từ chối bú mẹ, từ chối ăn… “Suốt thời gian thai nghén và trong cả năm đầu sau sinh, người mẹ sống trong tình cảm trầm nhược nặng, tâm tư rối như tơ vò (do phát hiện chồng ngoại tình, ly hôn, từng muốn bỏ thai, thất vọng vì con giống bố), bồng bế đứa con không thoải mái, vì vừa muốn có một đứa con vừa muốn ruồng bỏ con Đứa con cảm nhận ngay từ đầu là không được người mẹ chấp nhận và biếng ăn là cách phản ứng trước ứng xử của mẹ” (Nguyễn Khắc Viện, 2008)

Đây là một ca điển hình được Bác sỹ Nguyễn Khắc Viện phát hiện ở Việt Nam năm 1989

có liên quan đến mối quan hệ mẹ con mà học thuyết găn bó của John Bowlby (1982) nói đến, cũng liên quan đến vấn đề thai giáo, tình cảm người mẹ tác động đến đứa con ngay từ những năm tháng 0 tuổi

Liên quan đến đề tài giáo dục sớm, dạy con từ 0 tuổi, hiện nay, Trung Quốc có Hiệp hội

ưu sinh và giáo dục chất lượng cao, có nhiệm vụ nghiên cứu và phổ biến giáo dục từ sớm, từ

0 tuổi Tiêu biểu cho những nghiên cứu này là “Phương án 0 tuổi” của tác giả Phùng Đức

Toàn Trong đó, công trình chỉ rõ con người phải nhận thức lại về thai nhi, trẻ sơ sinh, và trẻ nhỏ Thai nhi, trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ có một tiềm năng phát triển rất lớn Phùng Đức Toàn nhấn mạnh gia đình là trường học đầu tiên và cha mẹ là người thầy đầu tiên của trẻ (Phùng Đức Toàn, 2009)

Những nghiên cứu về dạy con từ 0 tuổi (thai giáo) đến 6 tuổi điểm qua ở trên chứng tỏ giai đoạn 0 - 6 tuổi là giai đoạn quan trọng nhất để hình thành nhân cách tốt đẹp cho trẻ

Trang 9

Trong đó vai trò của cha mẹ là quan trọng nhất Cha mẹ chính là người thầy giáo đầu tiên, có

tác động quyết định lên trí tuệ, nhân cách trẻ khi trẻ lớn lên

6 Vai trò của cha mẹ với phương pháp giáo dục con trong gia đình

Các nghiên cứu trước đây cho thấy phương pháp giáo dục của cha mẹ rất phong phú, đa dạng Tùy vào cách phân chia khác nhau mà các nhà nghiên cứu đề cập đến các phương pháp giáo dục khác nhau:

Theo học giả Trung Quốc - Phùng Đức Toàn, phương pháp giáo dục của phương án 0 tuổi là: Dạy trong cuộc sống, học trong trò chơi; dạy có mục đích, học vô thức; học mà chơi, chơi

mà học; tiếp xúc qua môi trường, lấy hình mẫu để dẫn dắt; đàn gảy tai trâu, chỉ cần vun trồng; gợi ý tích cực, chú trọng khích lệ; yêu con thì phải dạy, không được cưng chiều quá mức; coi trọng tình cảm, kiềm chế cảm xúc; bồi dưỡng thói quen tốt đẹp, hình thành xu hướng phát triển… Phải để trẻ nói, cười, bàn bạc, lúc động, lúc tĩnh, học qua hỏi và đáp, nâng cao phẩm chất tâm lý trí lực và phi trí lực Phương án 0 tuổi là một thể thống nhất của chơi và học, học một cách hứng thú chính là chơi, chơi một cách có ích chính là học (Phùng Đức Toàn, 2009)

Tác giả D.Baumrind (1991) và E.Maccoby (1983) dựa trên phương pháp giáo dục của cha

mẹ, cụ thể là mức độ quan tâm, khích lệ và yêu cầu, đòi hỏi của cha mẹ đối với con, để phân loại cha mẹ Có bốn loại cha mẹ: cha mẹ uy tín, cha mẹ độc đoán, cha mẹ nuông chiều, cha

mẹ phó mặc Cách phân loại này phản ánh một cách đa dạng các giá trị chuẩn mực của cha

mẹ, cũng như tỉ lệ giữa trách nhiệm và yêu cầu của cha mẹ đối với con cái Các bậc cha mẹ yêu cầu, đòi hỏi cao ở con thường kiểm soát con chặt chẽ Những cha mẹ yêu cầu thấp thường ít kiểm soát và kiểm tra công việc của con Các bậc cha mẹ quan tâm, khích lệ con ở mức cao thường có tình cảm nồng ấm với con, hay mỉm cười, hay khen ngợi và tỏ ra ủng hộ con Những cha mẹ không có xu hướng này, ngược lại, thường mắng mỏ, phê phán, đánh giá thấp đứa trẻ và ít biểu lộ sự khích lệ, tán đồng Theo các tác giả này, mức độ “yêu cầu, kiểm soát” và “quan tâm, tình cảm” của cha mẹ có ảnh hưởng tới tự đánh giá, tự ý thức, năng lực,

sự phát triển tâm lý và hành vi xã hội của trẻ (Trương Thị Khánh Hà, 2011)

Theo Psychology Today (2012), những nghiên cứu mới nhất trên thế giới (năm 2012) cũng đề cập đến những phương pháp giáo dục khác nhau đang được các cha mẹ sử dụng và hậu quả của nó Sau đây xin giới thiệu một số nghiên cứu cơ bản nhất:

+ Nhà nghiên cứu Carol Dweck đã chỉ rõ rằng cố gắng gieo hạt mầm của tự tin và tự trọng trong lòng trẻ em mà thiếu vắng sự thách thức thì có thể tạo ra một “mẫu hình” tư duy,

ít có khả năng tự phát triển và quan trọng nhất là, ít sẵn sàng tự thay đổi hoặc thích ứng với

sự kiện không hài lòng xảy đến Nghiên cứu đã chỉ rõ sự quan trọng của đối thoại, khích lệ,

và âu yếm đối với trẻ em nếu bạn muốn nuôi dạy trẻ em với chuẩn mực cao về đạo đức và tình thương yêu

+ Theo một nghiên cứu mới nhất của Rick Trinkner, luận án tiến sỹ, Trường Đại học University of New Hampshire, có ba cách dạy con thông thường của cha mẹ: người quyền

hành, tỏ vẻ quyền lực, và nuông chiều – mỗi cách có đặc tính riêng Cha mẹ tỏ ra quyền

Trang 10

lực đòi hỏi và kiểm soát con rất chặt chẽ, nhưng họ cũng rất ấm áp và thông cảm Họ muốn

con họ làm việc chủ động và độc lập, nhưng đặt tiêu chuẩn và đòi hỏi ở trẻ rất cao Cha mẹ

nuông chiều rất là ấm áp và thông cảm với những nhu cầu của trẻ, và hầu như không đòi hỏi

gì từ trẻ cả Cha mẹ quyền hành cư xử rất nghiêm khắc trong mọi hoạt động – nói một cách

khác họ muốn con làm theo “cách của bố mẹ hoặc ra khỏi đây” Cách cư xử này mong muốn

có trẻ tuân thủ tuyệt đối và có kỷ luật Trên bề mặt, nó có vẻ rất ổn, nhưng cách dạy con này tăng khả năng biến con thành những đứa trẻ không tôn trọng, có hành vi xấu và không thấy cha mẹ có quyền hành chính đáng đối với chúng

+ Nghiên cứu về cha mẹ đến từ nghiên cứu của Tiến sỹ Elena Hoicka, người tin rằng cha

mẹ hay đùa giỡn và làm bộ với con trẻ ở tuổi dưới 5 giúp bé phát triển kỹ năng sống “Cha

mẹ, người trông trẻ và cô giáo giữ trẻ không nên coi thường sự quan trọng của tương tác với trẻ em qua đùa giỡn, chọc ghẹo và giả bộ” Hoicka nói Khi giả bộ, cha mẹ nói chậm, lớn, lập lại hành động Khi đùa giỡn, cha mẹ thường dùng phong cách thậm xưng, giọng cao Không những cách này dạy cho trẻ phân biệt được giữa thật và giả, mà còn giành nhiều thời gian với trẻ hơn, thì mức độ tự tin của cả cha mẹ lẫn trẻ đều tăng lên Psychology Today (2012) Phương pháp giáo dục của cha mẹ Việt Nam cũng được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu Các nghiên cứu tập trung so sánh phương pháp giáo dục truyền thống và hiện đại, sự khủng hoảng trong việc lựa chọn phương pháp giáo dục phù hợp trong bối cảnh xã hội hiện nay

Theo tác giả Lê Ngọc Văn (2011), phương pháp giáo dục của gia đình Việt Nam truyền thống đặc biệt sử dụng quyền uy của chủ thể giáo dục, tức là người đứng đầu gia đình Ngoài ra, gia đình Việt Nam truyền thống còn chú trọng đến phương pháp “nêu gương” khi dạy đạo làm con Giáo dục thông qua lao động, bằng lao động là phương pháp phổ biến, được coi trọng trong gia đình Việt Nam truyền thống Phương pháp giáo dục trong xã hội

hiện nay đang có sự biến đổi Nhiều bậc cha mẹ tỏ ra bối rối, họ không biết phải giáo dục

con họ như thế nào Họ thấy quyền uy của cha mẹ đối với con cái ngày càng giảm sút, khoảng cách giữa cha mẹ và con cái ngày càng dãn ra, mâu thuẫn cha mẹ con cái ngày càng tăng và giáo dục gia đình trở thành một vấn đề hết sức phức tạp (Lê Ngọc Văn, 2011)

Có cùng quan điểm trên, nhóm tác giả Đặng Cảnh Khanh, Lê Thị Quý (2007) cũng cho rằng việc giáo dục trong gia đình hiện nay đang gặp nhiều lúng túng, vướng mắc, những phương pháp giáo dục gia đình truyền thống không còn được coi trọng nhiều mà những phương pháp mới lại chưa thật định hình Hiện nay, việc giáo dục thông qua phương pháp truyền miệng, giải thích, nói đi nói lại nhiều lần được các gia đình coi trọng Giáo dục bằng phương pháp truyền miệng, nói nhiều lần chiếm 73,2%, vừa nói vừa làm gương chiếm 55,6%, kể và phân tích các câu chuyện lịch sử, chuyện dân gian chiếm 36,2%, luôn uốn nắn, đánh đòn khi trẻ có hành vi sai trái là 26,4%

Nghiên cứu về phương pháp giáo dục khá đa dạng, từ các phương pháp cụ thể tới việc so sánh phương pháp truyền thống và hiện đại, sự biến đổi về phương pháp giáo dục con Các tác giả đều thống nhất ở quan điểm cho rằng cha mẹ hiện nay đang lúng túng trong việc tìm

Ngày đăng: 03/07/2020, 00:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm