Trong bối cảnh thực tế về ô nhiễm môi trường do hóa chất BVTV POP tồn lưu đã có những thay đổi đáng kể so với đánh giá năm 2007, Dự án vẫn hoàn thành việc thực hiện các mục tiêu đặt ra b
Trang 3BÁO CÁO
Kết thúc dự án
Xây dựng năng lực nhằm loại bỏ hóa chất bảo vệ thực vật
POP tồn lưu tại Việt Nam
Cơ quan chủ quản
Bộ Tài nguyên và Môi trường
Chủ dự ánTổng cục Môi trường(Cục Quản lý chất thải và Cải thiện môi trường)
Đơn vị tài trợQuỹ Môi trường toàn cầuChương trình Phát triển Liên Hợp quốc (UNDP)
Tổ chức Lương thực, Nông nghiệp Liên Hợp quốc (FAO)
Hà Nội, tháng 12 năm 2015
Trang 5MỤC LỤC
Danh mục Hình 7
Danh mục Bảng 9
Danh mục viết tắt 10
I THÔNG TIN CHUNG 11
1.1 Thông tin cơ bản về dự án 11
1.2 Mô tả dự án 11
1.2.1 Mục tiêu và phạm vi dự án 11
1.2.2 Tổ chức thực hiện 12
II KẾT QUẢ THỰC HIỆN 14
2.1 Thực hiện mục tiêu 14
a Kết quả 1 14
b Kết quả 2 15
c Kết quả 3 15
2.2 Các hợp phần và đầu ra 16
2.2.1 Hợp phần 1: Nâng cao năng lực tạo điều kiện loại bỏ các nguồn tồn lưu hoá chất BVTV POP 18
2.2.2 Hợp phần 2: Ít nhất 7 khu vực ô nhiễm với 1000 tấn chất thải POP/nguồn tồn lưu POP được xử lý, tác động đến sức khỏe được giảm thiểu và loại bỏ 28
2.2.3 Hợp phần 3: Cải thiện quản lý hóa chất để ngăn chặn nhập khẩu và sử dụng hóa chất BVTV POP 37
2.3 Kết quả thực hiện về tài chính 41
2.4 Những yếu tố tác động đến kết quả thực hiện Dự án 43
a) Chính sách và môi trường pháp lý 43
b) Công tác tổ chức quản lý thực hiện chương trình, dự án 45
III PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH TẾ - XÃ HỘI 52
3.1 Phân tích so với mục tiêu và thiết kế dự án 52
Trang 63.2 Tác động đối với ngành và vùng 55
3.3 Tính bền vững 55
IV BÀI HỌC KINH NGHIỆM 56
4.1 Về quản lý ô nhiễm môi trường do hóa chất BVTV POP tồn lưu 56
4.2 Về công tác quản lý dự án 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO 60
PHỤ LỤC 62
Phụ lục 1 Khung logic của Dự án 63
Phụ lục 2 Các khu vực/điểm ô nhiễm thuốc BVTV được xử lý bằng nguồn vốn trong nước 79
Phụ lục 3 Ảnh hoạt động của Dự án 84
Trang 7Danh mục Hình
Hình 1 Sơ đồ tổ chức của Dự án 13
Hình 2 Lấy mẫu ống khói tại Nhà máy xi măng Thành Công trong thời gian thử nghiệm tiêu huỷ POP, tháng 11 năm 2012 18
Hình 3 Hệ thống quản lý các kho thuốc BVTV 18
Hình 4 Cơ sở dữ liệu về ô nhiễm tồn lưu 19
Hình 5 Phương pháp luận để lựa chọn các điểm ưu tiên xử lý 20
Hình 6 Năm giai đoạn của Hướng dẫn kỹ thuật cho quản lý bền vững môi trường các khu vực ô nhiễm hoá chất BVTV POP 21
Hình 7 Bộ hướng dẫn kỹ thuật 21
Hình 8 Tập huấn về khảo sát, đánh giá ô nhiễm môi trường do hoá chất BVTV tại Hà Tĩnh, 2011 23
Hình 9 Hội thảo xây dựng Quy chuẩn tại Hà Nội, 2012 24
Hình 10 Hội thảo sơ kết 3 năm thực hiện Quyết định số 1946/QĐ-TTg tại Ninh Bình, tháng 11 năm 2013 25
Hình 11 Nâng cao nhận thức cho người dân 26
Hình 12 Bốc xúc và đóng gói tại Hòn Trơ, Nghệ An 28
Hình 13 Bốc xúc, đóng gói tại Núi Căng, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên 29
Hình 14 Tư vấn quốc tế giám sát quá trình bốc xúc, đóng gói 29
Hình 15 Chất thải được vận chuyển và tập kết tại Nhà máy xi măng Holcim chờ xử lý 31
Hình 16 Hố chôn lấp chất thải trong khuôn viên Công ty Nicotex Thanh Thái 32
Hình 17 Công trình cô lập, cách ly khu vực ô nhiễm nhẹ tại thôn Mậu 2,
xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An 32
Hình 18 Bàn giao công trình tại Nam Đàn 34
Hình 19 Gian hàng trưng bày của Đoàn công tác Việt Nam tại Hội nghị
Trang 8Hình 20 Hội thảo xây dựng Kế hoạch quản lý bền vững các khu vực ô nhiễm hoá chất BVTV trên địa bàn tỉnh Nghệ An - tháng 6/2015 36Hình 21 Luật Bảo vệ môi trường 2014 37Hình 22 Thí điểm áp dụng quản lý bao bì rỗng tại Hậu Giang 38Hình 23 Tập huấn về quản lý ô nhiễm môi trường do hoá chất
BVTV tồn lưu tại Quảng Bình tháng 10/2014 39Hình 24 Tập huấn về lấy mẫu tại hiện trường 40Hình 25 Lễ bàn giao kho thuốc sau khi được cải tạo nâng cấp
tại Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh Lào Cai 41Hình 26 Huy động nguồn lực từ GEF cho các Dự án quản lý
các chất POP tại Việt Nam so sánh với một số nước 44Hình 27 Họp Ban chỉ đạo Dự án năm 2013 46
Trang 9Bảng 4 Các khóa tập huấn về quản lý thuốc BVTV và bao bì 39
Bảng 7 Các rủi ro nhận diện trong văn kiện dự án và thực tế
Trang 10Danh mục viết tắt
HPPMG Quy chế chung Quản lý chương trình, dự án hợp tác
Việt Nam – Liên Hợp Quốc
Trang 11I THÔNG TIN CHUNG
1.1 Thông tin cơ bản về dự án
- Tên dự án (tiếng Việt): Xây dựng năng lực nhằm loại bỏ hoá chất bảo vệ
thực vật POP tồn lưu tại Việt Nam
- Tên dự án (tiếng Anh): Building capacity to eliminate POPs Pesticides
stockpiles in Vietnam
- Mã số dự án: 00060927
- Địa điểm thực hiện dự án: Dự án được thực hiện trên toàn quốc
- Tên nhà tài trợ, đồng tài trợ: Quỹ môi trường toàn cầu thông qua Chương
trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP), và Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (FAO)
- Cơ quan chủ quản: Bộ Tài nguyên và Môi trường
- Chủ dự án: Tổng cục Môi trường
- Thời gian thực hiện: 2010 - 2015
- Ngày phê duyệt văn kiện dự án: Ngày 01 tháng 10 năm 2009 bởi Bộ
trưởng Bộ Tài Nguyên và Môi trường
- Nguồn vốn: Tổng nguồn vốn viện trợ không hoàn lại $4.660.800 bao gồm
$4.450.800 từ Quỹ Môi trường toàn cầu (GEF), $110.000 từ UNDP và $100.000
từ FAO Vốn đối ứng: $6.390.109 (hiện vật và tiền mặt)
1.2 Mô tả dự án
1.2.1 Mục tiêu và phạm vi dự án
- Mục tiêu Dự án: Loại bỏ các rào cản năng lực trong việc loại trừ các hóa
chất BVTV thuộc nhóm POP một cách bền vững ở Việt Nam Mục tiêu này đóng góp cho mục tiêu lớn hơn là hỗ trợ sự phát triển bền vững ở Việt Nam thông qua việc loại bỏ POP ra khỏi môi trường
Trang 12(iii) Cải thiện công tác quản lý hóa chất để ngăn chặn việc nhập khẩu, sử dụng và phát sinh mới các loại hóa chất BVTV POP
+ Về không gian địa lý: Dự án được thiết kế để triển khai trên phạm vi toàn quốc Tuy nhiên, với các kết quả điều tra từ giai đoạn PDF-B năm 2007, điều tra thống kê của Chính phủ năm 2009 thì Dự án phần lớn triển khai trên các tỉnh phía Bắc và đặc biệt là khu vực Bắc Trung Bộ (khu IV cũ) - nơi có hiện trạng tồn lưu hóa chất BVTV dạng POP nặng nề nhất trên cả nước Tại các tỉnh phía Nam, có tồn lưu các loại hóa chất BVTV, tuy nhiên đa phần là các loại hóa chất BVTV mới, không chứa các chất POP
Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) tại Việt Nam là đơn vị điều phối, chịu trách nhiệm trước GEF về các hoạt động của Dự án UNDP là
cơ quan quản lý phần kinh phí hỗ trợ bởi GEF Căn cứ theo các Kế hoạch năm,
Kế hoạch Quý được phê duyệt, UNDP chuyển kinh phí cho Ban Quản lý dự án, trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường để triển khai các hoạt động Một số hoạt động khác như đấu thầu quốc tế, UNDP có thể tiến hành trực tiếp tại Văn phòng UNDP Việt Nam Ngoài ra, Dự án có sự tham gia của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp quốc (FAO) và FAO chịu trách nhiệm đối với phần kinh phí mà GEF cấp cho Tổ chức này Để đảm bảo sự hài hòa trong tổ chức thực hiện dự án, Tổ chức Nông lương Thế giới (FAO) có trách nhiệm duy trì sự phối hợp toàn diện với Bộ Tài nguyên và Môi trường và Tổng cục Môi trường trong quá trình lập kế hoạch, thực hiện, giám sát, đánh giá hiệu quả và báo cáo về các hoạt động dự án Đặc biệt, FAO với vai trò là tổ chức thực hiện của GEF có trách nhiệm quản lý tài chính đối với phần kinh phí do GEF cấp,
để thực hiện các hoạt động dự án do FAO chủ trì trong dự án này FAO sẽ chịu trách nhiệm làm việc và báo cáo trực tiếp đối với GEF về phần kinh phí này Đồng thời, FAO cũng có trách nhiệm làm việc và báo cáo với các bên liên quan tại Việt Nam về quản lý tài chính đối với phần kinh phí này theo quy định của pháp luật Việt Nam
Trang 13Cơ quan điều hành về phía Việt Nam là Bộ Tài nguyên và Môi trường (Cơ quan chủ quản), cơ quan chịu trách nhiệm thực hiện là Tổng cục Môi trường (Chủ dự án) Theo Quyết định 1176/QĐ-TCMT ngày 20 tháng 10 năm 2009, Tổng cục Môi trường giao Cục Quản lý chất thải và Cải thiện môi trường là cơ quan đầu mối chịu trách nhiệm thường xuyên quản lý Dự án
Để giúp Bộ Tài nguyên và Môi trường công tác chỉ đạo, điều hành cũng như tăng cường phối hợp với các Bộ, ngành liên quan, Ban chỉ đạo Dự án được thành lập theo Quyết định số 47/QĐ-BTNMT ngày 14 tháng 01 năm 2010 với Trưởng ban là Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, các ủy viên là đại diện của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các đơn vị trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường Ban chỉ đạo tổ chức họp thường niên vào đầu năm để nghe báo cáo kết quả triển khai dự án trong năm vừa qua, đồng thời thông qua phương hướng triển khai trong năm tiếp theo Ban Quản lý Dự án được Bộ Tài nguyên và Môi trường thành lập theo Quyết định số 2123/QĐ-BTNMT ngày 02 tháng 11 năm 2009 và Quyết định
số 1671/QĐ-BTNMT ngày 11 tháng 8 năm 2014 về việc thay đổi nhân sự Ban Quản lý Dự án Ban Quản lý Dự án có nhiệm vụ quản lý dự án theo đúng mục tiêu, tiến độ, chất lượng và nguồn lực tại Văn kiện dự án được ký kết và ban hành kèm theo Quyết định số 1904/QĐ-BTNMT ngày 01 tháng 10 năm 2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường Ban Quản lý dự án cùng với UNDP tuyển chọn các cán bộ dự án bao gồm quản đốc, kế toán, trợ lý, chuyên gia kỹ thuật
và cán bộ kỹ thuật hiện trường
Hình 1 Sơ đồ tổ chức của Dự án
Trang 14II KẾT QUẢ THỰC HIỆN
2.1 Thực hiện mục tiêu
Mục tiêu tổng quát của dự án đặt ra trong văn kiện đã ký kết năm 2009 là
“Hỗ trợ sự phát triển bền vững ở Việt Nam thông qua việc loại bỏ POP ra khỏi môi trường” Mục tiêu này không hoàn toàn nằm trong khả năng của dự án mà thể hiện tầm nhìn chung của UNDP tại Việt Nam trong lĩnh vực môi trường
Dự án loại bỏ một lượng cụ thể các chất POP ra khỏi môi trường giúp Chương trình Liên Hợp Quốc đạt được sự hỗ trợ cho phát triển bền vững ở Việt Nam Mục tiêu cụ thể của Dự án là “Loại bỏ các rào cản năng lực đối với quá trình loại trừ các hóa chất BVTV thuộc nhóm POP một cách bền vững ở Việt Nam” Mục tiêu này đã đạt được thông qua việc hoàn thành 03 kết quả cụ thể (tương ứng với 03 hợp phần của Dự án) Trong bối cảnh thực tế về ô nhiễm môi trường
do hóa chất BVTV POP tồn lưu đã có những thay đổi đáng kể so với đánh giá năm 2007, Dự án vẫn hoàn thành việc thực hiện các mục tiêu đặt ra ban đầu đồng thời thực hiện các hoạt động bổ sung, các hoạt động mới tăng cường cho thành quả dự án nói chung
a Kết quả 1
Các rào cản về năng lực đối với việc xử lý các khu vực ô nhiễm do thuốc BVTV POP và tiêu hủy hóa chất BVTV POP được loại bỏ thông qua một số các kết quả chính sau đây:
- Số lượng nhà thầu được cấp phép để tiêu hủy hóa chất BVTV thuộc nhóm POP đã được bổ sung Ngoài Công ty xi măng Holcim được cấp phép xử lý trước đây, đơn vị mới được cấp phép trong thời gian Dự án thực hiện là Công
ty xi măng Thành Công 3, theo đó tính đến nay đã có tổng cộng 02 đơn vị đủ điều kiện để xử lý hóa chất BVTV thuộc nhóm POP
- Quy trình quản lý môi trường bền vững khu vực bị ô nhiễm do hóa chất BVTV tồn lưu được xây dựng và áp dụng trên thực tế Dự án đã xây dựng Bộ Hướng dẫn kỹ thuật về quản lý môi trường tại các khu vực bị ô nhiễm do hóa chất BVTV tồn lưu theo 5 giai đoạn quản lý: (i) Điều tra đánh giá sơ bộ; (ii) Điều tra, đánh giá chi tiết; (iii) Đánh giá phương án và lập kế hoạch xử lý, cải tạo và phục hồi môi trường; (iv) Xử lý khu vực ô nhiễm và (v) Quan trắc và chăm sóc sau xử lý
Đặc biệt, quy trình này ngoài việc được giới thiệu trong Bộ Hướng dẫn kỹ thuật, đã được đưa vào Dự thảo Thông tư về khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường do Bộ Tài nguyên và Môi trường dự kiến ban hành trong năm 2015
- Quy chuẩn Kỹ thuật quốc gia về ngưỡng xử lý hóa chất BVTV hữu cơ khó
Trang 15phân hủy tồn lưu theo mục đích sử dụng đất được xây dựng và ban hành (Quy chuẩn 54:2013/BTNMT) Quy chuẩn về xử lý hóa chất BVTV thuộc nhóm hữu
cơ khó phân hủy đưa ra giá trị hàm lượng của hóa chất BVTV cần được xử lý trong đất theo các mục đích sử dụng khác nhau Đây là nội dung quan trọng hỗ trợ cho hoạt động xử lý được hiệu quả, và khả thi
- Hoạt động giám sát tiêu hủy hóa chất BVTV được tăng cường Ngoài các yêu cầu và hướng dẫn chi tiết về giám sát được nêu trong Bộ Hướng dẫn kỹ thuật, các cán bộ của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh, thành phố và Ban Quản lý Dự án được đào tạo, tập huấn và nâng cao năng lực trong quá trình thực hiện giám sát các hoạt động tiêu hủy hóa chất cùng với Tư vấn giám sát quốc tế
- Hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu gắn liền với Bộ chỉ số giám sát và đánh giá (M&E) cho hoạt động quản lý ô nhiễm môi trường các khu vực tồn lưu hóa chất BVTV được xây dựng và ban hành Đây là nội dung quan trọng để có thể đánh giá nhanh và lượng hóa được công tác quản lý, xử lý và cải tạo phục hồi môi trường các khu vực ô nhiễm do hóa chất BVTV tồn lưu theo các con số và báo cáo một cách thống nhất
b Kết quả 2
Các nguồn tồn lưu hóa chất BVTV được điều tra, đánh giá, kiểm kê và tiêu hủy; rủi ro đến sức khỏe con người được giảm thiểu Tổng số lượng hóa chất BVTV POP, chất thải POP và các loại đất nhiễm nặng do Dự án tiêu hủy là 907.4 tấn, diện tích đất nhiễm đã cô lập đạt 3480m2 (5220m3) Với khối lượng chất thải POP và đất nhiễm mà Chính phủ đã xử lý trong thời gian 2007-2009,
có thể nói chỉ tiêu xử lý hết 1140 tấn hóa chất BVTV thuộc Kết quả 2 của Dự án
đã đạt được, chưa kể nội dung bổ sung được coi như giá trị gia tăng là việc cô lập hàng ngàn mét khối đất ô nhiễm nhẹ nhằm loại bỏ các rủi ro đến môi trường
và sức khỏe cộng đồng
c Kết quả 3
Công tác quản lý hóa chất BVTV được tăng cường nhằm giảm thiểu các nguy cơ hình thành các nguồn tồn lưu hóa chất BVTV POP mới do nhập lậu hoặc sử dụng bất hợp pháp Hệ thống văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường
do hóa chất BVTV tồn lưu được xây dựng và ban hành như Luật Hóa chất
2007, Luật Bảo vệ và kiểm dịch thực vật 2013, Luật Bảo vệ môi trường 2014, các văn bản hướng dẫn, Thông tư liên tịch về quản lý bao gói thuốc BVTV sau
sử dụng được xây dựng và ban hành Hướng dẫn về nâng cấp, cải tạo các kho chứa hóa chất BVTV tồn lưu và quy chế phối hợp của các ngành môi trường, nông nghiệp và hải quan được xây dựng Các nội dung trên góp phần hoàn
Trang 16thành Kết quả 3 của Dự án, nâng cao công tác quản lý nhằm giảm thiểu việc hình thành mới các nguồn tồn lưu POP trong tương lai
2.2 Các hợp phần và đầu ra
Trong quá trình khởi động dự án (vào tháng 4 năm 2010 đến cuối năm 2010), Dự án đã thu thập các số liệu về hiện trạng ô nhiễm môi trường và bối cảnh pháp lý tại thời điểm đó và kết quả thu được cho thấy bối cảnh đã thay đổi đáng kể so với đánh giá tại thời điểm Dự án được xây dựng vào năm 2007, cụ thể như sau:
Thứ nhất, một trong những thay đổi lớn nhất là số liệu kiểm kê, rà soát về
các địa điểm nghi ngờ còn lưu chứa và/hoặc ô nhiễm hóa chất BVTV tồn lưu Kết quả thống kê ban đầu tại pha chuẩn bị của dự án cho rằng trên toàn quốc
có khoảng 50 địa điểm tồn lưu hóa chất BVTV (PDF-B, 2007) Tuy nhiên đến năm 2010, theo báo cáo của các tỉnh gửi về, cơ bản trên cả nước đã xác định được khoảng 1.153 địa điểm, trong đó có khoảng 913 địa điểm là ở tỉnh Nghệ
An (Tổng cục Môi trường, 2010) Đến 2013, kết quả cập nhật, báo cáo bổ sung của các địa phương bổ sung thêm 401 địa điểm (Tổng cục Môi trường, 2013)
Thứ hai, Chính phủ đã có những hoạt động thu gom, cô lập và tiêu hủy
khoảng 200 tấn hóa chất BVTV POP kể từ năm 2007 Một số điểm ô nhiễm nêu trong giai đoạn PDF-B đã thay đổi hiện trạng hoặc đã được xử lý như khu vực Làng Ải, Tuyên Quang, kho Mai Hắc Đế ở Nam Đàn
Thứ ba, từ năm 2007, nhiều văn bản quy phạm pháp luật được ban hành,
như Luật Hóa chất 2007, một số tiêu chuẩn, quy chuẩn được ban hành… Kết quả là khung thể chế và chính sách về quản lý hóa chất, bao gồm cả hóa chất BVTV tồn lưu và hoạt động quản lý, xử lý các nguồn tồn lưu trở nên rõ ràng hơn, hỗ trợ tốt hơn cho hoạt động của Dự án tại thời điểm khởi động
Trước bối cảnh thực tế có nhiều thay đổi so với Văn kiện dự án như vậy, Dự
án và UNDP đã phối hợp với Chuyên gia tư vấn quốc tế xây dựng Báo cáo khởi động một cách kỹ càng Báo cáo khởi động được hoàn thiện cuối năm 2010 bao gồm khung logic (logframe) được cập nhật, dựa trên các kết quả đầu ra đã
có của khung logic của văn kiện dự án, căn cứ vào mục tiêu của dự án để điều chỉnh các hoạt động cho phù hợp với tình hình mới, trong đó có sắp xếp lại và
bổ sung thêm các hoạt động mới Thêm vào đó, để phù hợp hơn với nhu cầu và hiện trạng thực tế của quốc gia đồng thời vẫn đảm bảo mục tiêu dự án phù hợp với các mục tiêu liên quan của GEF và UNDP, khung logic này một lần nữa được điều chỉnh tại giai đoạn đánh giá giữa kỳ 2012-2013 (chủ yếu là cho các đầu ra thuộc kết quả/hợp phần 1 và 2) Chi tiết của các lần điều chỉnh này đều
đã được nêu trong các báo cáo liên quan
Trang 17Sự điều chỉnh kịp thời trong hai giai đoạn then chốt này đã không chỉ giúp định hướng các kết quả và đầu ra của dự án theo hướng phù hợp hơn với bối cảnh
và nhu cầu quốc gia, mà còn giúp tạo ra những giá trị/kết quả gia tăng của dự án nằm ngoài thiết kế ban đầu (theo Văn kiện dự án) Một số kết quả được coi là giá trị gia tăng và không nằm trong thiết kế ban đầu, có thể kể đến như sau:
- Cách tiếp cận của Dự án đã mở rộng đáng kể so với thiết kế ban đầu Ban đầu dự án tập trung vào các kho thuốc, được hiểu là nguồn tồn lưu (stockpiles)
và quan điểm xử lý các nguồn tồn lưu là “đóng gói và tiêu huỷ” (pack and go) Tuy nhiên, trước tình hình thực tế là các nguồn tồn lưu bị chôn lấp khá nhiều, nên ngoài vấn đề “đóng gói và tiêu huỷ” còn phải áp dụng các giải pháp quản
lý cho các khu vực bị ô nhiễm
- Cơ sở dữ liệu về các khu vực ô nhiễm do hóa chất BVTV tồn lưu được nâng cấp theo phương pháp luận dựa vào rủi ro và cách tiếp cận quản lý bền vững các khu vực ô nhiễm theo năm giai đoạn đã được ban hành trong Bộ Hướng dẫn kỹ thuật
- Bộ chỉ tiêu giám sát và đánh giá, phục vụ việc quản lý các khu vực ô nhiễm
và xử lý hoá chất bảo vệ thực vật POP được xây dựng
- Xử lý thí điểm đất ô nhiễm và chất thải POP bằng một số công nghệ không đốt, thông qua đó đánh giá khả năng áp dụng các công nghệ này tại Việt Nam
và chia sẻ các kết quả thí điểm với các cơ quan liên quan
- Kế hoạch quản lý bền vững các khu vực ô nhiễm tồn lưu do hóa chất BVTV POP cấp tỉnh được nghiên cứu, xây dựng và thí điểm xây dựng cho một tỉnh cụ thể
- Tăng cường năng lực, kỹ năng thực địa cần thiết theo quy trình quản lý mới cho các cán bộ quản lý và kỹ thuật cấp tỉnh thông qua các đợt tập huấn và hoạt động điều tra, khảo sát các khu vực nghi ngờ ô nhiễm BVTV POP mới được báo cáo bổ sung
Để tiện theo dõi, phần báo cáo chi tiết về các đầu ra của từng kết quả/hợp phần dưới đây được trình bày theo khung logic cập nhật lần cuối cùng vào năm
2013 đã được thông qua bởi GEF, UNDP và Ban chỉ đạo Dự án
Trang 182.2.1 Hợp phần 1: Nâng cao năng lực tạo điều kiện loại bỏ các nguồn tồn lưu hoá chất BVTV POP
Đầu ra 1.1 Danh sách
các công ty đủ năng lực tiêu
hủy hóa chất BVTV POP
Tại thời điểm 2010, chỉ có
một công ty có đủ năng lực và
được cấp giấy phép tiêu hủy
hóa chất BVTV thuộc nhóm
POP, điều này gây khó khăn
cho công tác xử lý trên toàn
quốc, cụ thể: thủ tục đấu thầu
phức tạp, khoảng cách vận
chuyển tiềm ẩn nhiều rủi ro
Năm 2011, trên cơ sở
nguyện vọng xử lý chất thải
thuốc BVTV POP của một số
công ty xi măng và công ty
xử lý chất thải nguy hại trong cả nước, Dự án tiến hành thử nghiệm đốt hóa chất BVTV POP tại hai cơ sở với sự giám sát quy trình từ lúc chất thải chứa DDT đưa về, xử lý sơ bộ, đưa vào lò nung kèm theo đo đạc phát thải từ ống khói cũng như dư lượng trong tro/clinker Kết quả là một công ty (Thành Công 3) đã
đủ tiêu chuẩn và được cấp phép đồng xử lý hóa chất BVTV nhóm POP trong
lò nung xi măng và có thể tham gia đấu thầu tiêu hủy chất thải POP của Dự án trong năm 2013
Đầu ra 1.2 Một bộ dữ
liệu với tất cả thông tin
kiểm kê hiện có
Đầu năm 2011, Dự án
đã thu thập và xử lý số liệu
của hơn 557 điểm ô nhiễm
môi trường do hóa chất bảo
vệ thực vật tồn lưu dưới
dạng file excel Đây là cơ
sở đầu tiên để tiến hành
rà soát, phân loại tại thời
Hình 2 Lấy mẫu ống khói tại Nhà máy xi măng Thành Công trong thời gian thử nghiệm tiêu huỷ POP, tháng 11 năm 2012
Hình 3 Hệ thống quản lý các kho thuốc BVTV
Trang 19điểm ban đầu, khi phương pháp luận và cơ sở dữ liệu vẫn đang trong quá trình khởi thảo, xây dựng
Ngoài ra, FAO đã phối hợp với Cục Bảo vệ thực vật cài đặt hệ thống quản
lý các kho thuốc BVTV (PSMS) để hỗ trợ các hoạt động Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn vào tháng 10 năm 2012 (xem hình 3)
Sau khi phương pháp
luận về quản lý và đánh giá
các khu vực ô nhiễm (Bộ
Hướng dẫn Kỹ thuật quản
lý các khu vực ô nhiễm do
hóa chất BVTV tồn lưu)
được xây dựng và ban
hành vào năm 2014, hoạt
Hệ thống cơ sở dữ liệu trên
mạng internet dựa vào trang web của Cục Quản lý chất thải và Cải thiện môi trường, đã hoàn thành vào tháng 9 năm 2015
Đầu ra 1.3 Danh sách các điểm ưu tiên đã phân loại
Kết quả kiểm kê sơ bộ, như đã trình bày ở trên, cho thấy trên cả nước, tính đến thời điểm 2010, có khoảng 1153 địa điểm nghi ngờ có lưu chứa và/hoặc bị
ô nhiễm do hóa chất BVTV tồn lưu được báo cáo Tuy nhiên, trong danh sách các điểm này có rất nhiều điểm chỉ có tên, địa điểm mà không có bất cứ thông tin nào khác Do vậy, nhằm xây dựng được bộ dữ liệu về các điểm tồn lưu hóa chất BVTV POP để có thể phân tích, đánh giá và lựa chọn các điểm ưu tiên để
xử lý, Dự án đã sàng lọc danh sách 1153 địa điểm nói trên và các dữ liệu khác
do địa phương báo cáo nhưng chưa được cập nhật trong danh sách 1153 điểm, trên cơ sở đó lựa chọn 557 điểm có thông tin về ô nhiễm môi trường do hóa chất bảo vệ thực vật tồn lưu dưới dạng file excel Đây là tất cả các dữ liệu có thể thu thập được tại thời điểm bắt đầu triển khai dự án năm 2010
Hình 4 Cơ sở dữ liệu về ô nhiễm tồn lưu
Trang 20Hình 5 Phương pháp luận để lựa chọn các điểm ưu tiên xử lý
557 điểm này sau đó được phân loại và tiến hành đánh giá nhanh theo các tiêu chí (chủng loại thuốc POP, mức độ ô nhiễm, cấu trúc nền kho, mùi, khoảng cách đến nhà dân, nguồn nước mặt, khu trồng trọt, chăn nuôi ) theo đó lựa chọn ra được 115 điểm có tiềm ẩn rủi ro
Tiếp theo, Dự án tiếp tục sử dụng Bộ công cụ phân loại của Hatfield để tiến hành phân loại chi tiết cho 115 điểm nêu trên, từ đó lựa chọn được 05 điểm
ưu tiên nhất tiến hành các hoạt động điều tra, lập kế hoạch và xử lý trong giai đoạn này, bao gồm: khu vực Núi Căng, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên; khu vực Thạch Lưu, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh; khu vực Hòn Trơ, huyện Diễn Châu; khu vực Mậu 2 huyện Nam Đàn; khu vực Vực Rồng, huyện Tân
Kỳ, thuộc tỉnh Nghệ An Ngoài ra, một số điểm nhỏ và lân cận khác còn tồn lưu nguyên chất thải POP cũng được đưa vào kế hoạch xử lý
Đầu ra 1.4 Hướng dẫn kỹ thuật và hướng dẫn quản lý đối với chất thải
POP được xây dựng
Dự án đã tổ chức rà soát các hướng dẫn kỹ thuật hiện hành về xử lý các kho thuốc, đặc biệt nghiên cứu hướng dẫn kỹ thuật của FAO về “Quản lý môi trường đối với các kho thuốc BVTV tồn lưu”, để xem xét khả năng áp dụng phù hợp với điều kiện Việt Nam Nghiên cứu cho thấy, các hướng dẫn kỹ thuật của FAO áp dụng tương đối phù hợp với việc quản lý hóa chất BVTV tồn lưu trong các kho chứa, tuy nhiên không phù hợp với các đối tượng là khu vực chôn lấp, hoặc khu vực đất bị ô nhiễm bởi hóa chất BVTV tồn lưu Theo đó, Dự án đã cân nhắc tình hình thực tiễn ở Việt Nam và đưa ra phương án điều chỉnh, xây dựng
Trang 21hướng dẫn một cách phù hợp
Hoạt động xây dựng
hướng dẫn kỹ thuật về quản
lý ô nhiễm môi trường tại các
khu vực ô nhiễm do hóa chất
BVTV tồn lưu được khởi
động từ tháng 9 năm 2011,
phối hợp chính với tư vấn
quốc tế của Công ty TAUW,
Hà Lan Hướng dẫn được
xây dựng sử dụng cách tiếp
cận dựa vào rủi ro và quản lý
khu vực ô nhiễm nhằm giảm
thiểu rủi ro do khu vực gây ra
cho sức khỏe cộng đồng, cho
hệ sinh thái và rủi ro chất ô
nhiễm lan truyền ra khỏi khu
vực Đây là hướng tiếp cận mới ở Việt Nam, do vậy việc thuyết phục các bên liên quan chuyển từ quan điểm “Xử lý triệt để” sang “Quản lý bền vững dựa vào rủi ro” cũng là một trong những công việc đòi hỏi dự án phải có những nỗ lực không nhỏ Bộ hướng dẫn kỹ thuật đưa ra những công cụ và phương pháp quản lý khu vực ô nhiễm theo 5 giai đoạn: (i) điều tra, khảo sát sơ bộ; (ii) điều tra, khảo sát chi tiết; (iii) lập kế hoạch xử lý; (iv) xử lý, cải tạo và phục hồi môi trường khu vực và (v) quan trắc và chăm sóc sau xử lý
Nội dung của bộ hướng
dẫn đã được dự thảo, thử
nghiệm và tích hợp vào các
khóa tập huấn từ tháng 11
năm 2011 Bộ hướng dẫn
được hoàn thành và in ấn vào
tháng 9 năm 2014 với tên gọi
“Hướng dẫn kỹ thuật quản lý
môi trường tại các khu vực bị
ô nhiễm do hóa chất BVTV
tồn lưu” Sách hướng dẫn
được chia thành 3 quyển với
5 giai đoạn trong quy trình
quản lý bền vững các khu vực
HƯỚNG DẪN KỸ THUẬT QUẢN LÝ BỀN VỮNG MÔI TRƯỜNG KHU VỰC Ô NHIỄM
CÁC TÀI LIỆU BỔ TRỢ
Hướng dẫn thực hiện Giai đoạn 1 - Điều tra sơ bộ
Quyển 1
Hướng dẫn thực hiện Giai đoạn 2 - Điều tra chi tiết
Quyển 2
Hướng dẫn thực hiện Giai đoạn 3 - Đánh giá phương
án xử lý cải tạo và phục hồi môi trường
Giai đoạn 4 - Quản lý thực hiện
xử lý, cải tạo và phục hồi môi trường Hướng dẫn thực hiện Giai đoạn 5 - Quan trắc và chăm sóc khu vực sau xử lý
Báo cáo giai đoạn 4 Quản lý thực hiện xử lý Cải tạo và phục hồi môi trường
Báo cáo giai đoạn 5 Quan trắc và chăm sóc khu vực sau xử lý
Hình 6 Năm giai đoạn của Hướng dẫn kỹ thuật cho quản lý bền vững môi trường các khu vực ô nhiễm hoá chất BVTV POP
Hình 7 Bộ hướng dẫn kỹ thuật
Trang 22bị ô nhiễm Bộ sách đã được in thành 1500 bản và gửi về các địa phương để nghiên cứu, áp dụng
Một trong những kết quả của đầu ra 1.4 là trong khuôn khổ hoạt động do Cục Bảo vệ thực vật, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, thực hiện FAO đã cử tư vấn quốc tế cùng với tư vấn trong nước thực hiện nghiên cứu
“Hướng dẫn quản lý bao bì thuốc BVTV cho Việt Nam” với các sản phẩm sau:
- Đã tiến hành rà soát các hướng dẫn liên quan và xây dựng Dự thảo chương trình quản lý bao bì rỗng vào Quý 1 năm 2013
- Đã áp dụng triển khai thí điểm chương trình quản lý bao bì rỗng tại các tỉnh, thành phố bao gồm: Hải Phòng, Lâm Đồng và Hậu Giang kèm theo Bản quy chế địa phương
- Hướng dẫn thực hành Quản lý an toàn bao gói thuốc BVTV đã qua sử dụng ở Việt Nam, in 2000 bản và phát hành cho các Chi cục BVTV
Đầu ra 1.5 Các số liệu của tài liệu đấu thầu bao gồm Mô hình giả thiết chi
tiết của khu vực, kế hoạch phục hồi cải tạo và dự toán ngân sách cho một số lượng hạn chế các khu vực ô nhiễm được soạn thảo
Dự án với sự hỗ trợ của tư vấn quốc tế đã hoàn thành việc điều tra chi tiết đối với 5 điểm ưu tiên và 6 điểm nhỏ khác vào cuối năm 2011 Việc điều tra, khảo sát được thực hiện nhiều lần với mục tiêu chuẩn bị cho kế hoạch xử lý, cải tạo và phục hồi môi trường tại các điểm này, đồng thời chuẩn hóa lại phương pháp luận để có thể hoàn thiện hướng dẫn kỹ thuật
Kế hoạch xử lý, cải tạo và phục hồi môi trường các khu vực đã được lựa chọn trong đó nêu cụ thể các phương án thực hiện, khối lượng và các hạng mục công việc cần thực hiện đã được tư vấn quốc tế hoàn thành vào giữa năm 2012 sau khi đã có trao đổi, thảo luận với các địa phương Đây chính là căn cứ để dự
án xây dựng các hồ sơ mời thầu và chuẩn bị thực hiện các hoạt động đấu thầu, tuyển dụng các nhà thầu thực hiện các hạng mục công việc liên quan
Đầu ra 1.6 Nhân viên các cơ quan Chính phủ được đào tạo
Dự án đã tổ chức 2 khóa tập huấn đầu tiên về điều tra, khảo sát khu vực
ô nhiễm hóa chất BVTV tồn lưu với sự hỗ trợ của công ty tư vấn quốc tế Tauw, cho cán bộ địa phương tại 2 tỉnh Hà Tĩnh (gồm đại biểu từ 5 tỉnh lân cận) và Thái Nguyên (gồm các đại biểu từ 10 tỉnh lân cận) Các buổi tập huấn nhằm nâng cao kỹ năng đánh giá các điểm ô nhiễm POP cho các cán bộ tại địa phương Các học viên cũng đã được đi thực địa tại Cẩm Thăng (Hà Tĩnh) và Hóa Trung (Thái Nguyên)
Trang 23Sau hai khóa ban đầu,
tư vấn quốc tế và Dự án đã
thống nhất hoàn thiện Hướng
dẫn kỹ thuật rồi tiếp tục tiến
hành các khóa đào tạo Các
khóa đào tạo đều có phần lý
thuyết và phần thực hành với
an toàn lao động là nội dung
xuyên suốt Những khóa tập
huấn tiếp theo tiến hành vào
năm 2014 và 2015 Bảng 1
dưới đây tổng hợp các khóa
đào tạo về quy trình quản lý
các khu vực ô nhiễm do hóa
chất BVTV POP mà dự án đã
thực hiện
Bảng 1 Các khoá đào tạo quản lý khu vực ô nhiễm hoá chất BVTV POP
Khóa đào tạo về quản lý khu vực
Tổng số người tham gia
Cán
bộ địa phương
Đánh giá khu vực ô nhiễm hoá chất
Đánh giá khu vực ô nhiễm hoá chất
Quản lý môi trường các khu vực ô
nhiễm hoá chất BVTV POP (EMP),
Ninh Bình
Quản lý môi trường các khu vực ô
nhiễm hoá chất BVTV POP (EMP),
Quảng Bình
Quản lý môi trường các khu vực ô
nhiễm hoá chất BVTV POP (EMP),
Nghệ An
Quản lý môi trường các khu vực ô
nhiễm hoá chất BVTV POP (EMP),
Trang 24Bảng 1 Các khoá đào tạo quản lý khu vực ô nhiễm
hoá chất BVTV POP (tiếp)
Khóa đào tạo về quản lý khu vực
Tổng số người tham gia
Cán
bộ địa phương
Quản lý môi trường các khu vực ô
nhiễm hoá chất BVTV POP (EMP),
Nghệ An (cho các tỉnh Thanh Hóa
và Hà Tĩnh)
Quản lý môi trường các khu vực ô
nhiễm hoá chất BVTV POP (EMP),
Quản lý môi trường các khu vực ô
nhiễm hoá chất BVTV POP (EMP),
Thông qua việc triển khai
các hoạt động Dự án tại địa
Trang 25quy chuẩn hiện hành về hoá chất BVTV POP và tham khảo kinh nghiệm các nước trên thế giới để đưa ra đề xuất các giá trị ngưỡng của hóa chất BVTV POP trong đất trong năm 2012 Hội thảo thảo luận sơ bộ về vấn đề này đã được
tổ chức vào tháng 9/2012 Hầu hết các đại biểu tham dự đều đồng tình rằng những tiêu chuẩn/quy chuẩn hiện hành (QCVN 15:2008 và TCVN 5300:2009)
là quá ngặt nghèo và không phù hợp cho hoạt động xử lý, cần có quy chuẩn/tiêu chuẩn mới thay thế phù hợp hơn với tình hình thực tiễn Kết quả là thông qua Dự án, Quy chuẩn Kỹ thuật quốc gia QCVN 54:2013/BTNMT về ngưỡng
xử lý hoá chất bảo vệ thực vật hữu cơ khó phân huỷ tồn lưu theo mục đích sử dụng đất được ban hành ngày 25 tháng 12 năm 2013 tại Thông tư số 43/2013/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường Quy chuẩn này, cùng với các quy chuẩn hiện hành như QCVN 15:2008/BTNMT, cho phép phân biệt đất bị ô nhiễm nhưng chưa cần ưu tiên xử lý và đất bị ô nhiễm cần phải xử lý cho từng mục tiêu sử dụng đất và theo rủi ro phơi nhiễm Các ngưỡng xử lý cho phép tập trung vào những khu vực ô nhiễm gây rủi ro sức khỏe cho người dân thay vì dàn trải ra quá nhiều khu vực ô nhiễm
Tháng 11 năm 2013, Tổng cục Môi trường thông qua Dự án đã tổ chức hội thảo Sơ kết 3 năm thực hiện Quyết định số 1946/QĐ-TTg về khắc phục ô nhiễm
và cải thiện môi trường Hội thảo được tổ chức tại Ninh Bình với sự tham gia của 89 đại biểu từ 26 địa phương, các Bộ liên quan, Văn phòng Chính phủ và các chuyên gia Hội thảo đã sơ kết hoạt động 3 năm thực hiện Quyết định, chia
sẻ kinh nghiệm và thảo luận về những vướng mắc trong thời gian thực hiện Hội thảo cũng kiến nghị cần chỉnh sửa và cập nhật Quyết định số 1946/QĐ-TTg Trên cơ sở các kiến nghị
tại Hội thảo, Tổng cục Môi
trường đã rà soát, đánh giá sơ
bộ kết quả 3 năm thực hiện
Những công việc tiếp
theo trong lĩnh vực hỗ trợ sửa
đổi và xây dựng văn bản pháp
quy còn được thực hiện trong
Hợp phần 3 của Dự án
Hình 10 Hội thảo sơ kết 3 năm thực hiện Quyết định số 1946/QĐ-TTg tại Ninh Bình,
tháng 11 năm 2013
Trang 26Đầu ra 1.8 Kế hoạch giám sát cho công việc loại bỏ và tiêu hủy chất thải
POP/kho tồn lưu được soạn thảo, phê duyệt và phổ biến
Kế hoạch giám sát là một nội dung trong Giai đoạn 3 và Giai đoạn 4 của Hướng dẫn kỹ thuật về quản lý ô nhiễm môi trường do hóa chất BVTV tồn lưu
Áp dụng thực tế đối với các hoạt động xử lý, cải tạo và phục hồi môi trường trong khuôn khổ Dự án, Kế hoạch giám sát được xây dựng để giám sát các hoạt động xử lý trong Hợp phần 2
Việc xây dựng kế hoạch giám sát do tư vấn quốc tế chủ trì, phối hợp với
tư vấn trong nước, các cán bộ liên quan của Tổng cục Môi trường và các địa phương liên quan, nhằm hỗ trợ tăng cường năng lực giám sát
Nội dung quan trọng nhất của việc giám sát là giám sát hoạt động đào xúc, đóng gói, thu gom, vận chuyển và tiêu hủy chất thải thuốc BVTV POP, vì đây
là các hoạt động có liên quan trực tiếp đến các nguồn tồn lưu, ô nhiễm nặng Biểu mẫu nằm ở phần phụ lục của EMP bao gồm cả kiểm tra tình trạng của xe
cộ phục vụ thi công, kiểm tra trang bị bảo hộ lao động, theo dõi khối lượng đã bốc xúc, vận chuyển
Đầu ra 1.9 Kế hoạch truyền thông bao gồm nâng cao nhận thức đi vào
hoạt động
Trong hoạt động của dự án, tháng 4 năm 2012 FAO đã có tư vấn quốc tế soạn ra tài liệu “Chiến lược truyền thông thúc đẩy sử dụng an toàn và hiệu quả thuốc BVTV ở Việt Nam” và bàn giao cho Cục Bảo vệ thực vật, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn sử dụng Ngoài ra, Dự án cũng triển khai các hoạt động truyền thông và nâng cao nhận thức cụ thể
Các phần việc đã hoàn thành bao gồm:
sự trên ti vi, 6 bài
phát thanh, 12 bài Hình 11 Nâng cao nhận thức cho người dân
Trang 27báo giấy, 12 báo mạng;
• In ấn toàn bộ tài liệu truyền thông;
• Tiến hành tham vấn cộng đồng tại 2 điểm sẽ xử lý tại Nghệ An và Hà Tĩnh Dự án cũng in ấn tài liệu tuyên truyền và tiếp tục sử dụng cho đến cuối giai đoạn của dự án
Đầu ra 1.10 Thư bày tỏ quan tâm và hồ sơ thầu, Điều khoản tham chiếu,
danh sách ngắn các công ty có năng lực, Hồ sơ mời nộp đề xuất và Nhà thầu được ký hợp đồng
Căn cứ vào kế hoạch xử lý cải tạo và phục hồi môi trường, Dự án và tư vấn quốc tế thống nhất tổ chức công tác xử lý thành ba gói thầu, phù hợp cho từng hạng mục công việc liên quan:
(i) Đào xúc và đóng gói;
(ii) Vận chuyển và tiêu hủy;
(iii) Xây dựng các công trình ngăn ngừa, giảm thiểu rủi ro và xử lý trong trung và dài hạn
Trong năm 2012, Dự án đã ký kết hợp đồng với nhà thầu tiến hành công việc bốc xếp, vận chuyển và lưu trữ tạm thời chất thải POP tại 06 điểm ô nhiễm
ưu tiên (Vực Rồng, Hòn Trơ, Thạch Lưu và 3 điểm nhỏ gần Thạch Lưu) Khi đi vào thực hiện đã gặp một số vấn đề nan giải liên quan đến địa điểm kho chứa trung chuyển, Ban Quản lý Dự án và các cơ quan cấp tỉnh đã phối hợp xử lý Các cuộc tham vấn cộng đồng giải thích rõ quy trình xử lý và các biện pháp bảo
vệ môi trường và nhận được sự ủng hộ, đồng thuận của cộng đồng dân cư địa phương cho việc triển khai các hoạt động
Việc dự thảo điều khoản tham chiếu (TOR) và tiêu chí đánh giá nhà thầu cho gói thầu xử lý/tiêu hủy chính (đấu thầu quốc tế) đã được chuẩn bị và hoàn thành từ cuối năm 2012 Tháng 3 năm 2013, Dự án đã phối hợp với UNDP tiến hành sơ tuyển lựa chọn danh sách ngắn và đã lựa chọn được 13 trong số 15 nhà thầu tham dự vào cuối tháng 5/2013 Quá trình đấu thầu quốc tế được thực hiện
từ 22/7/2013 đến tháng 10/2013, Dự án và UNDP căn cứ vào kết quả đánh giá
hồ sơ thầu đã lựa chọn được Công ty xi măng Holcim làm nhà thầu thực hiện gói thầu “Xử lý 880 tấn chất thải POP” Hợp đồng với công ty xi măng Holcim được ký kết vào cuối tháng 12/2013, các hoạt động trong khuôn khổ gói thầu này được bắt đầu triển khai từ đầu năm 2014
Trang 28Trước khi có gói thầu
tiêu hủy, công nghệ xử lý
hóa cơ đã được áp dụng thử
nghiệm tại sân bay Biên Hòa
giành nhiều thời gian nghiên
cứu, theo dõi với hy vọng
đó có thể là công nghệ thích
hợp Tuy nhiên, kết quả thử
nghiệm không được như ý, cũng như do một số vướng mắc về mặt kỹ thuật nên đơn vị sở hữu công nghệ này (Công ty EDL – New Zealand), mặc dù đã ở trong danh sách ngắn, quyết định không tham gia đấu thầu trong gói thầu xử lý/tiêu hủy chính
Dự án đã đấu thầu và ký hợp đồng gói “Thi công công trình giảm thiểu rủi
ro và phục hồi môi trường” với nhà thầu thi công vào tháng 12/2013 Nhà thầu thi công khởi công trong năm 2014 Nhà thầu giám sát xây dựng cũng đã được lựa chọn xong vào tháng 12/2013
Tóm lại, mặc dù những hoạt động thuộc Đầu ra 1.10 chỉ là các hoạt động quản lý dự án thuần túy như xây dựng Điều khoản tham chiếu, lựa chọn danh sách ngắn, đấu thầu…nhưng đây là những gói thầu liên quan đến xử lý, tiêu hủy
và có liên quan đến việc triển khai thành công của Dự án Ngoài ra, việc đấu thầu quốc tế mặc dù được UNDP và các bên tham gia triển khai rất quyết liệt, nhưng đây là quá trình kéo dài từ cuối năm 2012 đến cuối năm 2013 mới hoàn thành và ký hợp đồng
2.2.2 Hợp phần 2: Ít nhất 7 khu vực ô nhiễm với 1000 tấn chất thải POP/nguồn tồn lưu POP được xử lý, tác động đến sức khỏe được giảm thiểu và loại bỏ
Đầu ra 2.1 Công ty trúng thầu được cấp phép để vận chuyển và tiêu hủy
thuốc BVTV POP
Công việc này đã thực hiện lồng ghép trong Đầu ra 1.1 “Danh sách các đơn
vị tiêu hủy hóa chất BVTV POP và phục hồi cải tạo môi trường” Theo một phương án đặt ra trong văn kiện dự án là Dự án sẽ tổ chức đấu thầu lựa chọn
Hình 12 Bốc xúc và đóng gói tại Hòn Trơ,
Nghệ An
Trang 29đơn vị trước rồi sẽ hỗ trợ
thử nghiệm để các đơn vị này
xin cấp phép tiêu hủy trước
khi tham gia đấu thầu
Đầu ra 2.2 Các rủi ro
trực tiếp được loại bỏ ở những
khu vực ô nhiễm, thông qua
việc loại bỏ các nguồn tồn
lưu tại các khu vực ô nhiễm
Nội dung của hoạt động này là đào xúc, đóng gói và tiêu hủy các loại hóa chất BVTV tồn lưu, chất thải POP và đất nhiễm nặng tại các khu vực ô nhiễm Việc này sẽ cơ bản loại bỏ các rủi ro trực tiếp do hóa chất BVTV tồn lưu gây ra với môi trường và sức khỏe con người
Năm 2011, Dự án thử nghiệm triển khai quy trình đào xúc, đóng gói, vận chuyển và tiêu hủy phần hóa chất và đất ô nhiễm nặng tại khu vực ô nhiễm Núi Căng, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên Chất thải POP được bốc dỡ và đóng gói an toàn và vận chuyển vào Nhà máy xi măng Holcim tại Hòn Chông, Kiên Giang để tiêu hủy với tổng khối lượng là 25,5 tấn gồm DDT và Lindane Quá trình bốc dỡ tại Thái Nguyên diễn ra trong 4 ngày không bao gồm thời gian chuẩn bị và giai đoạn hoàn thổ Đơn vị chịu trách nhiệm đào xúc, đóng gói là Trung tâm Công nghệ xử lý
môi trường, Bộ Tư lệnh hóa
học
Sau đợt thử nghiệm năm
2011, Dự án bước vào pha
tổng thể tiến hành tiêu hủy
các nguồn tồn lưu hóa chất
BVTV và chất thải POP Hoạt
động này được triển khai gồm
Trang 30hóa chất BVTV và chất thải POP tại các khu vực ô nhiễm mà Dự án đã khảo sát chi tiết trước đây Dự án bắt đầu triển khai công việc vào tháng 6, tháng 7 năm
2013 để tránh mùa mưa và đảm bảo độ khô cho chất thải Đơn vị triển khai hoạt động đào xúc, đóng gói và tập kết an toàn chờ tiêu hủy là Công ty CP Đầu tư Công nghệ Tài nguyên và Môi trường Việt nam
Kèm theo việc đào xúc, việc lấy mẫu và phân tích hoá chất bảo vệ thực vật POP trong quá trình thi công thường xuyên được thực hiện với hai mục tiêu (i) Quan trắc môi trường trong thời gian bốc xúc; (ii) Lấy mẫu phân tích hàm lượng đại diện cho chất thải POP ở từng khu vực trong quá trình đóng gói với tần suất 1 mẫu đất cho 20 tấn Các mẫu được phân tích tại phòng thí nghiệm của Viện Công nghệ môi trường, thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Bảng 2 Tổng khối lượng chất thải POP được đào xúc đóng gói
đóng gói
Số tấn đã tiêu hủy
1 Núi Căng, Điềm Thụy, Phú
Trang 31Bảng 2 Tổng khối lượng chất thải POP được đào xúc đóng gói (tiếp)
đóng gói
Số tấn đã tiêu hủy
10 Nghĩa Trung (tổ Tân Lâm), TT
Kg nên đã được tỉnh Nghệ An xử lý xử lý tại chỗ.
- Công đoạn 2: Tiêu hủy
chất thải POP Kết quả đấu
thầu quốc tế do UNDP thực
hiện đã kết luận Công ty
Holcim trúng thầu gói thầu
tiêu hủy 880 tấn chất thải
POP Phía Công ty xi măng
Holcim đã tiến hành thu gom
chất thải POP tại các điểm
tập kết Việc tiêu hủy trong lò
nung xi măng được tiến hành
ngay sau khi chất thải về đến
Hình 15 Chất thải được vận chuyển và tập kết tại Nhà máy xi măng Holcim chờ xử lý
Trang 32với POP, nhưng đây là hoạt
động hết sức có ý nghĩa để
thử nghiệm quy trình điều
tra, khảo sát theo Hướng dẫn
kỹ thuật mới xây dựng, đồng
thời hỗ trợ Chính phủ và địa
phương giải quyết nhanh
chóng các điểm nóng về môi
trường
Việc điều tra, khảo sát hiện
trạng ô nhiễm môi trường tại
Công ty CP Nicotex Thanh
Thái cũng là cơ hội để Dự án
hỗ trợ, phối hợp với Sở Tài
nguyên và Môi trường, các cơ quan liên quan trong công tác lập kế hoạch, điều tra, khảo sát, và đánh giá rủi ro ô nhiễm môi trường do hóa chất BVTV gây ra Hoạt động này giúp tăng cường năng lực cho địa phương, đặc biệt là tỉnh Thanh Hóa, nơi có khá nhiều các điểm tồn lưu hóa chất BVTV POP đang phải quản
lý, xử lý trên địa bàn
Đầu ra 2.3 Các rủi ro tiềm năng và tiềm tàng được loại bỏ và kiểm soát,
chương trình chăm sóc và quan trắc sau xử lý được thực hiện
Sau khi các rủi ro trực tiếp được loại bỏ bằng cách tiêu hủy các nguồn tồn lưu trong khu vực ô nhiễm, Dự án
sẽ tiến hành loại bỏ hoặc kiểm
soát các rủi ro tiềm năng và
tiềm tàng thông qua việc giảm
thiểu tác động của các khu vực
ô nhiễm trung bình và nhẹ đến
môi trường và sức khỏe Đầu
ra này được thực hiện với 02
hoạt động chính là thi công các
công trình giảm thiểu rủi ro và
xử lý các khu vực đất nhiễm
bằng công nghệ không đốt
Thi công các công trình
giảm thiểu rủi ro được triển
khai tại 3 điểm Mậu 2, Thạch
Lưu và Hòn Trơ (xem hình 14)
Hình 16 Hố chôn lấp chất thải trong khuôn viên Công ty Nicotex Thanh Thái
Hình 17 Công trình cô lập, cách ly khu vực
ô nhiễm nhẹ tại thôn Mậu 2, xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An
Trang 33Bảng 3 Các công trình ngăn ngừa rủi ro
1 Hòn Trơ 11/2014 51m mương than bùn,
200m mương thu nước, 110m hàng rào, 61m đường, nạo vét 200m3 bùn, cung cấp máy lọc nước
1.700
3, 230m mương nước, 124m hàng rào, máy lọc nước
860
3 Mậu 2 5/2014 Bể than hoạt tính 20m3,
300m mương thu nước, 150m hàng rào, máy lọc nước
920
Xử lý thí điểm đất ô nhiễm hóa chất BVTV POP bằng công nghệ không đốt: Nhu cầu thực tế hiện nay cần tìm kiếm công nghệ xử lý đất nhiễm ở mức
độ nhẹ, tại chỗ và có chi phí hợp lý đã thúc đẩy dự án và UNDP thống nhất đưa
hoạt động “Xử lý thí điểm chất thải POP bằng một số công nghệ không đốt”
vào kế hoạch dự án 2014 Ba công nghệ đã được thử nghiệm là công nghệ dùng Sắt Nano, công nghệ rửa POP – hoàn nguyên đất và công nghệ Daramend Mỗi công nghệ xử lý 20m3 đất nhiễm nặng ở Hòn Trơ với mục tiêu là quan trắc hiệu quả xử lý của công nghệ, không đặt mục tiêu phải xử lý đất về mức sạch Dự
án gặp khó khăn lớn khi đất nhiễm có hàm lượng DDT khác nhau giữa các mẻ đất và khác nhau khi phân tích ở các phòng thí nghiệm khác nhau, kể cả phòng thí nghiệm ở Châu Âu
Công nghệ rửa POP – hoàn nguyên đất, mặc dù thành công trong phòng thí nghiệm, nhưng sau một thời gian triển khai tỏ ra chưa sẵn sàng cho quy mô ngoài thực địa Hai công nghệ còn lại đã thành công trong việc giảm được hàm lượng DDT trong đất và xác định được tỉ lệ giảm sau mỗi chu kỳ xử lý
Đóng góp cho đầu ra này còn có sự tham gia của chuyên gia kỹ thuật cao cấp quốc tế (VSTE) từ năm 2013 Chuyên gia VSTE với 3 chuyến đi Việt Nam mỗi năm có nhiệm vụ hỗ trợ dự án trong việc đảm bảo về mặt kỹ thuật cho
Trang 34các hoạt động của dự án Không những thế, các hoạt động đào tạo, tăng cường năng lực về điều tra, khảo sát và quản lý bền vững khu vực ô nhiễm do hóa chất BVTV tồn lưu theo 05 giai đoạn đều có VSTE tham gia, cho đến năm 2015 các chuyên gia trong nước mới từng bước thay thế vị trí của tư vấn quốc tế trong các khoá tập huấn EMP (xem Đầu ra 1.4).
Đầu ra 2.4 Các hoạt động trung và dài hạn được triển khai thực hiện
Các công trình sau khi
hoàn thành đều có bàn giao
lại cho địa phương Tư vấn
trong nước và tư vấn VSTE
đã hoàn thành báo cáo Giai
đoạn 5 – “Quan trắc và chăm
sóc sau xử lý” cho các điểm
đã xử lý (Hòn Trơ, Thạch
Lưu, Mậu 2) Tài liệu đã được
dịch ra tiếng Việt và gửi cho
các địa phương liên quan
Ngoài việc bàn giao các
- Hỗ trợ xây dựng mẫu hồ sơ dự án xử lý, cải tạo phục hồi khu vực ô nhiễm Năm 2014, mẫu hồ sơ đã được gửi về cho các địa phương để hướng dẫn các địa phương thực hiện Hiện nay, các biểu mẫu này đã được đưa vào Dự thảo Thông
tư về khắc phục ô nhiễm, cải thiện môi trường các khu vực bị ô nhiễm
- Xây dựng Bộ chỉ số giám sát và đánh giá cho việc đánh giá và báo cáo phục vụ quản lý điểm ô nhiễm và xử lý hoá chất bảo vệ thực vật POP còn gọi là chỉ số M&E Bộ chỉ số đã được Cục Quản lý chất thải và Cải thiện môi trường, Tổng cục Môi trường tích hợp vào cơ sở dữ liệu và hiện đang được Cục hướng dẫn các địa phương thực hiện
Hình 18 Bàn giao công trình tại Nam Đàn
Trang 35- Cũng để hỗ trợ hoạt động quản lý, xử lý lâu dài theo Kế hoạch quốc gia tại Quyết định số 1946/QĐ-TTg, Dự án đã hỗ trợ mở rộng và nâng cấp Cơ sở
dữ liệu về các điểm ô nhiễm tồn lưu được truy cập tại trang web ienmoitruong.vea.gov.vn Cơ sở dữ liệu được hoàn thành vào tháng 9/2015 và
http://caith-hội thảo hướng dẫn các địa phương sử dụng và thực hiện cũng đã được tổ chức
- Nhằm thúc đẩy hoạt động hợp tác quốc tế về POP và trình diễn các kết quả của Dự án với các đối tác quốc tế, các cán bộ của Tổng cục Môi trường và GEF Việt Nam đã tham gia hội nghị các bên tham gia Công ước Stockholm, Basel và Rotterdam tại Geneva, Thụy Sĩ vào tháng 5 năm 2015 Tại Hội nghị phái đoàn Việt Nam đã có một gian trưng bày riêng để giới thiệu về các dự án POP tại Việt Nam, trong đó có bài trình bày về Dự án POP Pesticides kèm theo đoạn phóng
sự về dự án được trình chiếu tại Hội nghị
- Ngoài ra, Dự án cũng hỗ trợ 01 cán bộ của Tổng cục Môi trường tham dự Hội nghị về Hexacloroxyclohexan và hóa chất bảo vệ thực vật tại Tây Ban Nha
từ ngày 03 đến ngày 06 tháng 11 năm 2015 Tại hội nghị, phía Việt Nam đã trình bày, giới thiệu và chia sẻ các kinh nghiệm của Việt Nam trong việc tiếp cận, giải quyết các vấn đề ô nhiễm môi trường do hóa chất BVTV tồn lưu
- Nhằm tăng cường năng
lực điều tra, khảo sát cho cán
bộ địa phương và hỗ trợ xây
dựng cơ sở dữ liệu, Dự án
triển khai hoạt động “Đánh
giá sơ bộ 100-150 điểm tồn
lưu mới và đánh giá chi tiết
15-20 điểm có rủi ro cao nhất
phục vụ cho cơ sở dữ liệu
và hoạt động tập huấn, tăng
cường năng lực” Việc khảo
sát sơ bộ và chi tiết nhiều khu
vực ô nhiễm tại một số tỉnh
giúp cho cán bộ tại các cơ
quan của địa phương có thể
theo dõi và thực hành các kỹ năng đã được đào tạo qua các lớp tập huấn về quản
lý khu vực ô nhiễm do Dự án tổ chức
Hình 19 Gian hàng trưng bày của Đoàn công tác Việt Nam tại Hội nghị
COP 15 - Thuỵ Sỹ
Trang 36tiêu hủy và xử lý hóa chất
BVTV POP tồn lưu Sổ tay
liệt kê các công nghệ xử lý
hóa chất BVTV và đất nhiễm
hiện hành trên thế giới, trong
đó tập trung giới thiệu chi tiết
các công nghệ đã và có tiềm
năng ứng dụng tại Việt Nam
Sổ tay có sự hỗ trợ xây dựng
của tư vấn quốc tế VSTE
- Trong nỗ lực hỗ trợ các địa phương có hiện trạng tồn lưu hóa chất BVTV nặng nề, Dự án hỗ trợ xây dựng một kế hoạch/chiến lược tổng thể đối với một tỉnh bằng hoạt động “Xây dựng chiến lược quản lý các khu vực ô nhiễm hoá chất bảo vệ thực vật lồng ghép với quy hoạch sử dụng đất, thí điểm áp dụng ở một tỉnh” Sau vòng thảo luận đầu tiên, từ “Chiến lược” được thay thế bởi từ
“Kế hoạch” cho phù hợp hơn và được lựa chọn triển khai trên địa bàn tỉnh Nghệ
An - nơi có số lượng các điểm tồn lưu hóa chất BVTV lớn nhất cả nước
- Nhằm thúc đẩy việc triển khai điều tra, khảo sát khu vực ô nhiễm một cách đúng quy trình, Dự án đã xây dựng Sổ tay về Lấy mẫu và khoanh vùng các khu vực ô nhiễm môi trường do hoá chất BVTV tồn lưu Sổ tay tổng hợp các quy trình vận hành chuẩn và các hướng dẫn về lấy mẫu đất, nước, không khí tại khu vực ô nhiễm Sổ tay cũng hướng dẫn cách lắp đặt các giếng khoan quan trắc nước ngầm ngay tại khu vực ô nhiễm
- Trong thời gian vừa qua, đã có khá nhiều nỗ lực của Trung ương và địa phương trong việc kiểm kê, điều tra, khảo sát hiện trạng ô nhiễm môi trường do hóa chất BVTV POP tồn lưu Báo cáo hiện trạng ô nhiễm hóa chất BVTV do
Dự án hỗ trợ xây dựng nhằm đưa ra bức tranh chung về hiện trạng ô nhiễm do các hóa chất BVTV tồn lưu dạng POP tại Việt Nam
Hình 20 Hội thảo xây dựng Kế hoạch quản lý bền vững các khu vực ô nhiễm hoá
chất BVTV trên địa bàn tỉnh Nghệ An - tháng 6/2015
Trang 372.2.3 Hợp phần 3: Cải thiện quản lý hóa chất để ngăn chặn nhập khẩu
và sử dụng hóa chất BVTV POP
Đầu ra 3.1 Tiêu chuẩn an toàn hóa chất quốc gia
Trong lĩnh vực này, Chính phủ Việt Nam
đã hoàn thành một số kết quả trước khi Dự án
chi tiết và hướng dẫn thi hành một
số điều của luật hoá chất được ban
hành từ năm 2008;
• Thông tư 28/2010/TT-BCT quy
định cụ thể một số điều của Luật
Hoá chất và Nghị định số 108/2008/
NĐ-CP ban hành năm 2010
Vào giai đoạn 2013 – 2014 khi Luật Bảo vệ môi trường được cân nhắc để sửa đổi, Dự án thông qua UNDP đã hỗ trợ soạn thảo Luật Bảo vệ môi trường đối với các nội dung có liên quan đến các khu vực ô nhiễm Luật Bảo vệ môi trường 2014 được Quốc hội thông qua ngày 23 tháng 6 năm 2014
Sau khi Luật Bảo vệ môi trường được ban hành, Dự án tiếp tục hoạt động
“Hỗ trợ xây dựng hướng dẫn thực hiện Luật Bảo vệ môi trường về phân loại khu vực ô nhiễm” Hoạt động của chuyên gia tư vấn giúp Cục Quản lý chất thải và Cải thiện môi trường đưa được phương pháp luận phân loại các điểm ô nhiễm Phương pháp luận này đã được thể chế hóa trong Thông tư về khắc phục
ô nhiễm và cải thiện môi trường các khu vực môi trường bị ô nhiễm Ngoài ra,
Dự án cũng hỗ trợ tổ chức 02 hội thảo góp ý cho Thông tư nêu trên
Đầu ra 3.2 Cán bộ của các cơ quan liên quan được đào tạo về quản lý hóa
chất BVTV POP
Tổ chức FAO phối hợp với Cục Bảo vệ thực vật tiến hành hàng loạt các hoạt động trong đầu ra này Đó là các hoạt động rà soát lại chương trình quản lý tổng hợp thuốc trừ sâu (IPM) ở Việt Nam, tiến hành đánh giá cơ sở cho quản lý thuốc BVTV theo vòng đời (từ khi đăng ký thuốc mới đến sản xuất sản phẩm thương mại, sử dụng thuốc và loại bỏ các bao bì, chất thải phát sinh sau sử dụng) FAO
đã hỗ trợ Cục Bảo vệ thực vật soạn các tài liệu giảng dạy và đào tạo các giảng viên nguồn trong lĩnh vực giảm rủi ro từ thuốc BVTV và hoàn thiện khuôn khổ
Hình 21 Luật Bảo vệ môi trường 2014
Trang 38pháp lý liên quan đến quản lý
thuốc BVTV theo vòng đời
Trong khuôn khổ của hợp
phần này, FAO đã phối hợp
với Cục Bảo vệ thực vật triển
khai các hoạt động liên quan
đến thiệt hại sau thu hoạch
(post havest loss) và quản lý
vòng đời thuốc bảo vệ thực
vật (pesticides life cycle)
FAO Việt Nam đặt số dự án
này là GCP/VIE/040/GFF
và có những hoạt động trong
lĩnh vực của mình
Sử dụng thuốc BVTV hợp
lý và tiết kiệm sẽ giảm được
lượng thuốc BVTV tiêu thụ trong cả nước Nâng cao nhận thức của người phân phối và sử dụng thuốc sẽ ngăn ngừa việc sử dụng các thuốc cấm, trong đó có nhóm thuốc BVTV POP Về mặt này, Dự án đã có hoạt động về tăng cường năng lực cho các đại lý bán thuốc trừ sâu, người dân được triển khai phối hợp với Cục Bảo vệ thực vật Đợt tập huấn này dựa trên các tài liệu của tư vấn FAO
đã soạn thảo, Dự án đã xây dựng chương trình tập huấn cho 3 đối tượng đó là cán bộ nông nghiệp, người buôn bán hoá chất BVTV và nông dân Với 6 bài giảng, nhà thầu đã tập huấn tại 5 tỉnh gồm Thái Nguyên, Hải Dương, Bắc Ninh, Hậu Giang và Lâm Đồng và đã tập huấn được cho 150 cán bộ ngành nông nghiệp, 150 người buôn bán hoá chất và 251 nông dân Công việc hoàn thành trong năm 2013
Dù Việt Nam đã nhập khẩu một khối lượng lớn thuốc BVTV, tuy nhiên một lượng thuốc nhập lậu hoặc không có nhãn mác nguồn gốc vẫn còn bị phân phối trong nước, nhất là khu vực biên giới và dọc theo trục quốc lộ 1A Hoạt động 3.2.5 được dự án triển khai năm 2012 với sự hợp tác của cơ quan Tổng cục Hải Quan Đó là các khóa tập huấn về quản lý, vận chuyển và bảo quản an toàn hóa chất BVTV bị tịch thu Kỷ yếu về các quy định danh mục thuốc BVTV cấm cũng được phát cho cán bộ Hải quan và Quản lý thị trường trong các đợt tập huấn này
Hình 22 Thí điểm áp dụng quản lý bao bì rỗng tại Hậu Giang
Trang 39Bảng 4 Các khóa tập huấn về quản lý thuốc BVTV và bao bì
1 Kiểm soát thuốc BVTV
POP cho Hải Quan, Quản
lý thị trường
2012 130 Lào Cai, Đồng Nai
2 Đào tạo quản lý thuốc
BVTV cho cán bộ quản
lý và kỹ thuật
2013 150 Hải Dương, Bắc Ninh,
Thái Nguyên, Hậu Giang, Lâm Đồng
3 Đào tạo quản lý thuốc
BVTV cho đại lý thuốc 2013 150 Hải Dương, Bắc Ninh, Thái Nguyên, Hậu
Giang, Lâm Đồng
4 Đào tạo quản lý thuốc
BVTV cho đại diện nông
dân
2013 251 Hải Dương, Bắc Ninh,
Thái Nguyên, Hậu Giang, Lâm Đồng
5 Đào tạo xử lý bao bì sau
sử dụng 2013 240 Hải Phòng, Lâm Đồng, Hậu Giang
Các khóa tập huấn cốt lõi của Dự án là các khóa tập huấn quản lý bền vững khu vực bị ô nhiễm do hóa chất BVTV POP Các khóa tập huấn này nối tiếp các khóa tập huấn đã thực hiện và đã được trình bày ở Đầu ra 1.6
Ngoài ra, đáp ứng yêu cầu
của học viên cần đi sâu vào lấy
mẫu phân tích và khoanh vùng
ô nhiễm, dự án tiến hành hoạt
động tổ chức ba lớp tập huấn
về lấy mẫu và khoanh vùng
khu vực ô nhiễm Ba khóa tập
huấn được tổ chức ở ba miền
Bắc, Trung, Nam có sự hướng
dẫn trực tiếp của tư vấn quốc
tế Khóa tập huấn tổ chức hẳn
một ngày thực tập ngoài trời
với yêu cầu học viên phải thực
hiện lấy mẫu đất, lắp giếng
quan trắc, lấy mẫu nước và các
Hình 23 Tập huấn về quản lý ô nhiễm môi trường do hoá chất BVTV tồn lưu tại Quảng Bình tháng 10/2014
Trang 40kỹ năng liên quan đến lập bản
đồ khoanh vùng ô nhiễm đất
Nhiều kinh nghiệm đã được
chia sẻ trong khóa tập huấn này
Đầu ra 3.3 Bản kỷ yếu tổng
hợp các tài liệu pháp lý về quản
lý hóa chất BVTV POP
Trong năm 2012, Dự án đã
hoàn thành bản kỷ yếu văn bản
pháp lý trong quản lý hoá chất
BVTV POP và hướng dẫn kỹ
thuật bốc xếp an toàn hoá chất
BVTV bị tịch thu Những tài
liệu này đã được sử dụng làm
tài liệu giảng dạy và phát cho
các cán bộ hải quan, bộ đội biên
phòng, quản lý thị trường và các cán bộ chuyên môn khác trong 02 đợt hội thảo tại Lào Cai và Đồng Nai năm 2012
Đầu ra 3.4 Các lực lượng song phương giữa các tỉnh biên giới Việt Nam và
đồng nhiệm ở các tỉnh biên giới Trung Quốc được tổ chức để nhằm ngăn chặn buôn bán trái phép hóa chất BVTV
Ban Quản lý dự án đã trao đổi, thống nhất với Tổng cục Hải quan về hoạt động này: Hoạt động được triển khai lồng ghép với hoạt động thường niên song phương giữa hải quan Việt Nam và Trung Quốc và chủ đề về phối hợp ngăn ngừa việc buôn bán trái phép, nhập lậu được đưa vào chủ đề thảo luận cùng với các chủ đề khác, thay vì đề cập trong một hội nghị riêng
Đầu ra 3.5 Cơ sở vật chất để bốc xếp và lưu trữ hóa chất BVTV bất hợp
pháp được xây dựng ở các điểm biên giới quan trọng
Dự án đã hoàn thành đánh giá hiện trạng các kho chứa và nhu cầu cần nâng cấp các kho Nói chung, các kho chứa đều đang trong tình trạng xập xệ và cần nâng cấp Các tỉnh miền trung dọc QL1, Lạng Sơn và Lào Cai có nhu cầu cải tạo kho chứa Tuy nhiên, một trong những vấn đề khó khăn cần giải quyết đó
là các kho đang sử dụng hiện nay chủ yếu mượn mặt bằng và/hoặc thuê, nên việc lên kế hoạch cải tạo gặp phải nhiều khó khăn Lạng Sơn đã yêu cầu phải tìm mặt bằng ở nơi khác để xây kho mới – một việc vượt ra ngoài khả năng của
Dự án
Hình 24 Tập huấn về lấy mẫu
tại hiện trường