Giáo trình “Sửa chữa máy nông nghiệp” nhằm đáp ứng nhu cầu dạy và học của giáo viên và học sinh, nhu cầu phát triển cơ giới hoá trong sản xuất nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước và tại địa phương trong những năm tới. Giáo trình giới thiệu về cấu tạo và nguyên lý làm việc của động cơ và máy làm đất nông nghiệp. Thử nghiệm vận hành động cơ sau khi sửa chữa. Trong quá trình biên soạn, đã cố gắng đề cập đến những vấn đề cơ bản có tính chất chung nhất của quá trình công nghệ kỹ thuật sửa chữa hiện đại trên thế giới và điều kiện thực tế tại địa phương
Trang 1BÀI 1 NHẬP MÔN NGHỀ SỬA CHỮA MÁY NÔNG NGHIỆP
1 Giới thiệu tổng quan về nghề sửa chữa máy nông nghiệp.
Giáo trình “Sửa chữa máy nông nghiệp” nhằm đáp ứng nhu cầu dạy và họccủa giáo viên và học sinh, nhu cầu phát triển cơ giới hoá trong sản xuất nôngnghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước và tại địaphương trong những năm tới
Giáo trình giới thiệu về cấu tạo và nguyên lý làm việc của động cơ và máylàm đất nông nghiệp Thử nghiệm vận hành động cơ sau khi sửa chữa
Trong quá trình biên soạn, đã cố gắng đề cập đến những vấn đề cơ bản cótính chất chung nhất của quá trình công nghệ kỹ thuật sửa chữa hiện đại trên thếgiới và điều kiện thực tế tại địa phương
Sau khoá học, học viên sẽ nắm được công dụng, cấu tạo, nguyên lý hoạtđộng, các hư hỏng thường gặp và biện pháp khắc phục các hư hỏng đó của cácchi tiết của máy nông nghiệp Thực hiện được kỹ năng tháo ráp, kiểm tra, Sửachữa, bảo dưỡng, thay thế và vận hành máy nông nghiệp Học viên sẽ đạt đượctrình độ công nhân bán lành nghề, có kiến thức và kỹ năng phục vụ tại hộ giađình
Việc xây dựng một giáo trình dạy nghề ngắn hạn dùng cho đào tạo lưuđộng ở nước ta nói chung còn mới mẻ Vì vậy, giáo trình còn nhiều hạn chế vàthiếu sót nên tập thể biên soạn mong muốn sự đóng góp ý kiến của các chuyêngia, các bạn đồng nghiệp để giáo trình ngày càng hoàn thiện hơn
Tài liệu này được thiết kế theo từng mô đun thuộc hệ thống mô đun của
một chương trình, để đào tạo hoàn chỉnh Nghề : Sửa chữa máy nông nghiệp ở cấp trình độ Sơ cấp được dùng làm Giáo trình cho học viên trong các khoá đào
tạo, cũng có thể được sử dụng cho đào tạo ngắn hạn hoặc cho các công nhân kỹthuật, các nhà quản lý và người sử dụng nhân lực tham khảo
2 Giới thiệu tổng quan về máy nông nghiệp.
Máy nông nghiệp được dùng trong cơ giới hoá canh tác hiện nay rất phổbiến cụ thể như là các máy kéo xích DT-75, máy kéo bốn bánh cỡ lớn nhưMTZ-50, MTZ-80, MTZ-82, MTZ-510, STEYR 768…, cỡ trung như
Trang 2KUBOTA, YANMAR và một số máy kéo mới nhập gần đây được dùng để thửnghiệm trong canh tác.
2.1 Các bộ phận, cụm lắp ráp và hệ thống của máy nông nghiệp(máy kéo) 2.1.1 Các bộ phận chính của máy nông nghiệp (máy kéo)
Máy nông nghiệp là loại máy phức tạp gồm nhiều cơ cấu, hệ thống khácnhau, có tác động lẫn nhau Cấu trúc và phân bố những cơ cấu và hệ thống này cóthể khác nhau, nhưng về nguyên tắc cấu tạo và nguyên lý làm việc của chúnggiống nhau Cấu tạo chung của máy nông nghiệp có thể chia làm các phần chínhsau đây: động cơ, hệ thống truyền lực, hệ thống chuyển động, cơ cấu điều khiển,các trang bị làm việc và trang bị phụ
Các bộ phận chính của máy nông nghiệp (máy kéo) gồm có: động cơ , lyhợp chính , truyền lực trung gian , hộp số , truyền lực chính , bộ vi sai và bộphận truyền lực cuối cùng với các bán trục Bộ phận truyền lực chính, bộ vi sai
và bộ phận truyền lực cuối cùng của máy kéo bánh thường đặt trong một thânchung Nhóm cơ cấu này gọi là cầu sau chủ động của máy kéo
2.1.2 Động cơ
Động cơ dùng để biến nhiệt năng của nhiên liệu cháy trong xi lanh thànhcông cơ học (cơ năng) tác động lên trục khuỷu và truyền đến phần truyền lực củamáy kéo
Động cơ sử dụng trên máy kéo chủ yếu là loại động cơ Điezen 4 kỳ với cácdải công suất khác nhau Động cơ Điezen có loại bố trí hệ thống tăng áp hoặckhông, hiện nay trên máy kéo sử dụng 2 dạng động cơ Điezen khác nhau của cácnước tư bản như Mỹ, Pháp, Nhật… và của các nước thuộc hệ thống XHCNtrước đây như Nga, Balan, Hungari, Trung Quốc… Các dạng động cơ này khácnhau chủ yếu ở hệ thống cung cấp nhiên liệu (bơm cao áp có cấu tạo và hoạtđộng khác nhau)
Động cơ gồm có những cơ cấu và hệ thống chính sau đây:
* Cơ cấu biên tay quay: dùng để thực hiện chu trình làm việc của động cơ và
biến chuyển động tịnh tiến của piston trong xilanh thành chuyển động quay tròncủa trục khuỷu
* Cơ cấu phân phối khí: dùng để nạp không khí sạch vào xi lanh, đồng thời đẩy
khí cháy ra khỏi động cơ vào những thời điểm xác định, theo đúng trật tự làmviệc của động cơ
* Hệ thống cung cấp nhiên liệu: có nhiệm vụ cung cấp hỗn hợp đốt hoặc không
khí và nhiên liệu vào xilanh động cơ
* Hệ thống bôi trơn: có nhiệm vụ cung cấp liên tục dầu nhờn sạch đến bề mặt
làm việc các chi tiết máy của động cơ với một lượng cần thiết, với một áp suất
và nhiệt độ nhất định
Trang 3*Hệ thống làm mát: dùng để thu nhiệt lượng từ các chi tiết của động cơ bị nóng
lên trong quá trình làm việc và truyền ra ngoài, nhằm giữ cho động cơ làm việc
ở chế độ nhiệt tốt nhất
*Hệ thống khởi động: dùng để thực hiện việc khởi động động cơ chính được dễ
dàng
Ôtô - máy kéo và xe chuyên dụng đều là các xe tự hành, vì vậy chúng đều có các
bộ phận chính có chức năng giống nhau Các bộ phận và hệ thống chính của ôtô máy kéo gồm: Động cơ, hệ thống truyền lực, truyền lực cacđăng, cầu chủ động,
-hệ thống di động, -hệ thống treo (hay còn gọi là -hệ thống giảm xóc), -hệ thống điềukhiển gồm hệ thống lái và hệ thống phanh, trang bị điện và các trang bị làm việckhác
2.1.3 Hệ thống truyền lực (HTTL) là tổ hợp của một loạt các cơ cấu và hệ thống
nhằm truyền mô men quay từ trục khuỷu động cơ đến bánh chủ động của máykéo HTTL còn có tác dụng nhằm biến đổi về trị số và chiều của mô men quaytruyền, cho phép máy kéo dừng tại chỗ lâu dài mà động cơ vẫn làm việc, hệ thốngtruyền lực còn có thể trích một phần công suất của động cơ để truyền đến bộ phậnlàm việc của máy công tác Phụ thuộc vào đặc điểm cấu tạo của xe máy cụ thể màtrong hệ thống truyền lực của máy kéo có thể có một hai hay nhiều cầu chủ động
- Cầu chủ động là tổ hợp của các cụm máy và cơ cấu cho phép các bánh chủ
động quay với tốc độ khác nhau để bảo đảm các bánh lăn êm dịu trên mặt đườngkhông bằng phẳng hay khi đi vào đường vòng, nó còn làm tăng tỷ số truyềnchung cho hệ thống truyền lực và liên kết bánh xe với khung máy
- Truyền lực cacđăng dùng để truyền mô men từ hộp số hay hộp phân phối đến
các cầu chủ động của ôtô máy kéo, hoặc từ truyền lực chính đến các bánh xe chủđộng trên cùng một cầu khi các bánh xe treo độc lập với nhau Truyền lựccacđăng cho phép các trục của các bộ phận máy được truyền động không nằmtrong cùng một mặt phẳng và có thể dịch chuyển tương đối với nhau trong mộtgiới hạn nhất định
2.1.4 Hệ thống di động: gồm các bánh xe với lốp đàn hồi hay các chi tiết trong
cụm dải xích của máy kéo xích, hệ thống di động là bộ phận trực tiếp tiếp xúc vớimặt đường hoặc mặt đất, nó nhận mô men chủ động từ động cơ qua hệ thốngtruyền lực và biến mô men chủ động thành lực kéo tiếp tuyến hay còn gọi là lựcchủ động để làm máy kéo chuyển động
+ Hệ thống treo (hay còn gọi là hệ thống giảm xóc) là tổ hợp của một số các chi
tiết và phần tử đàn hồi, liên kết giữa bộ phận di động với khung xe, nhằm giúpcho khung xe được êm dịu trong khi bộ phận di động luôn chịu tác động của cáclực va đập do mấp mô mặt đường khi chuyển động
2.1.5 Hệ thống điều khiển: gồm một loạt các cơ cấu và hệ thống nhằm điều
khiển máy kéo theo các hướng và chiều cần thiết, đồng thời giúp máy kéo
Trang 4chuyển động ổn định không trượt lê sang trái hay phải Ngoài ra hệ thống điềukhiển còn cho phép máy kéo giảm tốc độ chuyển động hoặc dừng lại nhanh
chóng khi gặp sự cố khẩn cấp
+ Trang bị điện là tổ hợp của hàng loạt bộ phận, thiết bị điện nhằm đảm bảo giúp
cho máy kéo làm việc ổn định, tin cậy, tăng tính tiện nghi, thuận lợi cho người lái,hành khách và an toàn lao động Trang bị điện là một hệ thống rất phức tạp nó cóthể được phân ra hai hệ thống là hệ thống nguồn điện và hệ thống các thiết bị tiêuthụ điện Hệ thống nguồn điện dùng tạo ra nguồn năng lượng điện để cung cấpcho các phụ tải các thiết bị dùng điện) Hệ thống các thiết bị phụ tải là tổ hợp củatất cả các thiết bị có trên máy kéo dùng năng lượng điện như hệ thống đốt cháy,
hệ thống khởi động, hệ thống chiếu sáng, tín hiệu, hệ thống điều khiển bao gồm
cả máy tính điện tử điều khiển động cơ và điều khiển thân xe cùng các rơle haycác bộ phận chấp hành đi theo máy tính, do tính phức tạp của trang bị điện, nênphần này được trình bày trong một tài liệu riêng
+ Trang bị làm việc là tổ hợp của nhiều thiết bị, bộ phận giúp cho máy kéo và xe
chuyên dụng thực hiện các công việc một cách thuận tiện và đạt hiệu quả cao Sauđây chúng ta tìm hiểu đại cương về sự bố trí các bộ phận chính trên máy kéo
2.2.Vai trò của máy nông nghiệp.
Máy nông nghiệp là động lực đi động, có thể chạy trên địa hình phức tạp
và có lực kéo ở móc lớn Máy nông nghiệp có công dụng rất lớn trong sản xuấtnông nghiệp dùng để kéo các máy nông nghiệp loại treo và móc, có trục tríchcông suất của máy kéo để truyền chuyển động quay cho các bộ phận làm việccủa máy nông nghiệp, dùng để làm đất, gieo trồng, chăm sóc, bảo vệ cây trồng,
thu hoạch, chuyên chở nông sản, phân bón, san ủi cải tạo đồng ruộng… Máy
kéo còn dùng để truyền động cho những máy tĩnh tại như bơm nước, xay xát,đập lúa
2.3 Phân loại máy nông nghiệp.
2.3.1 Máy làm đất
2.3.1.1 Mục đích và nhiệm vụ của máy làm đất
* Mục đích: làm đất là một khâu quan trọng không thể thiếu được trong quá
trình canh tác, nhằm mục đích nâng cao độ phì của đất, tạo điều kiện cho sự sinhtrưởng và phát triển của hạt giống và cây trồng
* Nhiệm vụ: máy làm đất là làm nhỏ (nhuyễn) lớp đất trồng cỏ, diệt cỏ dại và sâu
bệnh, chuẩn bị đất tốt để gieo, trồng, cấy
2.3.1.2 Các phương pháp làm đất
* Yêu cầu kỹ thuật
Trang 5- Sau khi làm đất xong mặt đồng phẳng, đáy luống phẳng, cỏ rác, sâu bệnh phảigom lại hoặc vùi xuống dưới hoặc dồn lên bờ Yêu cầu trong khi làm việc máyphải cân bằng đi thẳng, không được lỏi không được lặp.
- Có khả năng làm đất tới độ sâu 25 – 35 cm Độ sâu phải đồng đều, độ sai lệchcho phép về độ sâu không quá 10% so với yêu cầu
- Khi cày đất có nhiều cỏ dại hoặc cày sâu lớn hơn 18 cm, trước các thân càychính nhất thiết phải lắp thêm thân cày phụ để chúng hớt lớp đất mặt tới độ sâu
8 – 12 cm và hất lớp đất đó cùng cỏ dại xuống đáy luống Vì vậy, khi cày đất cónhiều cỏ dại, rễ cây hệ thống máy và thiết bị làm đất phải tiêu diệt cỏ dại và lấp
cỏ dại cùng phân bón một cách triệt để
- Sau khi làm đất xong bề mặt ruộng phải bằng phẳng hoặc gợn sóng (độ cao củasóng đất không quá 5 cm) Đáy luống phải phẳng để tạo điều kiện cho hệ thốngmáy làm việc tốt ở lượt sau
- Hệ thống máy và thiết bị làm đất phải có hệ thống điều chỉnh cơ học để điềuchỉnh và sử dụng dễ dàng theo yêu cầu, làm việc chắc chắn, tuổi thọ cao, năngsuất và hiệu quả cao
2.3.1.3 Máy cày
* Nhiệm vụ và yêu cầu kỹ thuật đối với máy cày
Nhiệm vụ của cày là cày một lớp đất ởmặt đồng có độ sâu từ 10 đến 35 cm.Thỏi đất được cày có thể bị lật úp hoặc không lật, có thể được làm vỡ sơ bộ haykhông Hiện nay trong nông nghiệp nước ta, phổ biến vẫn là cày lật đất
Đối với cày lật đất cần đáp ứng những yêu cầu kỹ thuật sau: bảo đảm càysâu đều và đúng yêu cầu đặt ra, độ cày sâu trung bình thực tế sai lệch so với yêucầu đặt ra không được vượt quá 1 cm Cày phải lật đất, lấp kín cỏ rác, phânbón Đường cày thẳng, không cày lỏi và cày trùng lặp Máy cày phải bền vững,chăm sóc và sử dụng thuận tiện, lực cản riêng của cày nhỏ mà năng suất làmviệc cao
Ở những vùng có xói mòn hoặc độ ẩm thấp, ta sử dụng cày không lật Càyloại này chỉ làm tơi sơ bộ lớp đất canh tác mà không lật thỏi đất
2.3.2 Máy trồng cây
2.3.2.1 Nhiệm vụ phân loại, yêu cầu kỹ thuật nông học
2.3.2.2 Nhiệm vụ: máy có nhiệm vụ rạch đất thành rãnh, tiếp theo guồng đưa cây
nhả cây xuống rãnh đất sau đó bộ phận lấp sẽ nén đất từ hai phía lại và tưới nướccho cây
2.3.2.3 Phân loại: hiện nay có các loại máy trồng cây non có bầu hoặc không có
bầu đất, máy trồng cây theo hàng, theo hình chữ nhật, theo ô vuông
2.3.2.4 Yêu cầu kỹ thuật nông học: máy phải đảm bảo các yêu cầu sau:
Trang 6- Trồng đúng mật độ, khoảng cách hàng, khoảng cách giữa các cây trong hàngđúng theo quy định.
2.3.2.5.Cấu tạo và hoạt động của máy
Máy gồm có các hệ thống làm việc như sau: bộ phận chứa cây, bộ phậnđưa cây, bộ phận tạo rãnh, bộ phận lấp đất vào gốc cây, hệ thống tưới nước, hệthống truyền lực và di động, hệ thống các bộ phận kiểm tra và điều chỉnh, hệthống cần chỉ tiêu, khung và bộ phận nối với máy kéo
2.3.2.5.1 Cơ cấu trồng cây
Nhiệm vụ của máy trồng cây con là đưa cây con hoặc bầu đất có cây conxuống rãnh đúng chiều (rễ xuống dưới, ngọn lên trên) mà rãnh đã được rạch sẵnbởi lưỡi rạch Nguyên tắc làm việc của cơ cấu trồng cây trong các máy nàythường dùng loại đĩa – tay kẹp, hay cơ cấu sai tâm (cơ cấu hình thang lệch tâm)(H.4.24) Ở đây, Vp là tốc độ của bộ phận kẹp cây và Vs là tốc độ liên hợp máy.Cây con được đưa vào cơ cấu kẹp cây từ vị trí P tới vị trí 0 và chuyển động vớivận tốc Vp Ở điểm 0 tay kẹp nhả cây và được bộ phận lập nén đẩy đất vào rãnh
đã rạch để giữ cây thẳng đứng Tốc độ Vs và Vp nói chung tương đương Người
ta có thể điều chỉnh được vị trí của điểm 0 tùy theo độ trượt của máy khi dichuyển vì độ cứng của đất thay đổi thì độ ổn định của máy cấy trồng có bị ảnhhưởng
2.3.2.5.2.Lưỡi rạch hàng và bộ phận lấp
Giống như nhiệm vụ của lưỡi rạch hàng ởmáy gieo hạt, lưỡi rạch ởmáy trồngcây cũng tạo ra những rãnh sâu tùy theo yêu cầu của cây trồng được đem đặt vàorãnh Đối với cây con không có bầu đất, lưỡi rạch đào sâu 5-8 cm, còn khi có bầuđất thì phải cần rạch sâu 8-12 cm Việc điều chỉnh độ sâu có thể áp dụng giống nhưởmáy gieo
Bộphận lấp cây khác với ở bộ phận lấp hạt trên máy máy gieo là được bốtrí sát ngay với điểm 0 Vì nếu không có sự tác động ngay có thể làm cho câyngả về phía trước hoặc về phía sau Các loại bánh xe nén đất này có đường kính400- 450 mm Áp lực đè xuống của các bánh xe này phụ thuộc vào khối lượngcủa nó Đôi khi người ta dùng thêm cả các lò xo để tăng thêm áp lực của bánh xelên đất Tùy thuộc vào bộ rễ của cây con mà người ta lựa chọn prôphin của bánh
xe nén đất Người ta hay sử dụng loại bánh xe hình trụ Độsâu mà vành ngoài
Trang 7của bánh xe ấn xuốngđược gọi là h và vành trong là h1 Từ đó cho thấy lực nén
ép đất cạnh gốc câylà nhỏ Để sự phân bố lực nén đều hơn, người ta bố trí loạibánh xe kiểu nón cụt Với kết cấu kiểu này độ nén đất phân bố đều xung quanh
rễ cây con Prôphin của bánh xe lấp đất phù hợp nhất có dạng như ở hình Nếuđiều chỉnh thích hợp độ sâu h2 thì phần đường cong 1-2 sẽ tạo ra lực nén đất đềuđặt quanh bộ rễ của cây con được trồng
Các hệ thống truyền lực, hệ thống phụ trợ như nâng hạ có kết cấu giốngnhư máy gieo hạt
Máy di chuyển tựa trên hai bánh xe có mấu bám, đây là nơi truyền mômenquay cho các hệ thống làm việc của máy Mômen quay của bánh xe được truyền đếncác guồng đưa cây và xích kiểm tra qua bộ truyền bánh răng côn và hộp vi sai, cặpbánh ma sát và các bộ truyền xích Vận tốc quay của guồng đưa cây được điều chỉnhbằng cách thay đổi tỷ số truyền của cặp bánh ma sát, để điều chỉnh ta quay vô lăng
để bánh ma sát bị động dịch vào gần hoặc xa tâm bánh ma sát chủ động
Cần rạch tiêu có tác dụng giúp cho người điều khiển máy lái đúng khoảngcách với hàng cây trồng trước để đảm bảo khoảng cách cây trên các hàng đúng quyđịnh
Trang 8Bài 2: BẢO HỘ LAO ĐỘNG
1 Mục đích và ý nghĩa của bảo hộ lao động
1.1 Mục đích
Mục đích của công tác bảo hộ lao động là thông qua các biện pháp vềkhoa học kỹ thuật, tổ chức, kinh tế, xã hội để loại trừ các yếu tố nguy hiểm cóhại phát sinh trong sản xuất, tạo nên điều kiện lao động thuận lợi và ngày càngđược cải thiện tốt hơn, ngăn ngừa tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, hạn chếđau ốm và giảm sức khoẻ cũng như những thiệt hại khác đối với người laođộng, nhằm đảm bảo an toàn, bảo vệ sức khoẻ và tính mạng người lao động,trực tiếp góp phần bảo vệ và phát triển lực lượng sản xuất, tăng năng xuất laođộng
1.2 Ý nghĩa
Bảo hộ lao động trước hết là một phạm trù sản xuất, nhằm bảo vệ yếu tốnăng động nhất của lực lượng sản xuất đó là người lao động Mặt khác việcchăm lo sức khoẻ cho người lao động, mang lại hạnh phúc cho bản thân và giađình họ còn có ý nghĩa nhân đạo
Bảo hộ lao động là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước, là nhiệm
vụ quan trọng không thể thiếu được trong các dự án, thiết kế, điều hành và triểnkhai sản xuất Bảo hộ lao động mang lại những lợi ích về kinh tế, chính trị, xãhội Lao động tạo ra của cải vật chất, làm cho xã hội tồn tại và phát triển Bất cứdưới chế độ xã hội nào, lao động của con người cũng là yếu tố quyết định nhất.Xây dựng quốc gia giàu có, tự do, dân chủ cũng nhờ người lao động Trí thức
mở mang cũng nhờ người lao động vì vậy lao động là động lực chính của sự tiến
Trang 9và mọi người tham gia lao động phải có trách nhiệm tham gia nghiên cứu vàthực hiện Đó là tính pháp lý của công tác bảo hộ lao động.
2.2 BHLĐ mang tính khoa học kỹ thuật
Mọi hoạt động của bảo hộ lao động nhằm loại trừ các yếu tố nguy hiểm,
có hại, phòng và chống tai nạn các bệnh nghề nghiệp…đều xuất phát từ những
cơ sở của khoa học kỹ thuật Các hoạt động điều tra khảo sát phân tích điều kiệnlao động, đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố độc hại đến con người đề đề ra cácgiải pháp chống ô nhiễm, giải pháp đảm bảo an toàn đều là hoạt động của khoahọc kỹ thuật
Hiện nay, việc vận dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật vào công tác bảo
hộ lao động ngày càng phổ biến Trong quá trình kiểm tra mối hàn tia gammanếu không hiểu biết về tính chất, tác dụng của các tia phóng xạ thì không thể cóbiện pháp phòng tránh có hiệu quả Nghiên cứu các biện pháp an toàn khi sửdụng cần trục, không thể chỉ có hiểu biết về cơ học, sức bền vật liệu mà cònnhiều vấn đề khác như sư cân bằng của cần cẩu, tầm với, điều khiển điện, tốc độnâng chuyên…
Muốn biết điều kiện lao động cực nhọc thành điều kiện làm việc thoảimái, muốn loại trừ vĩnh viễn tai nạn lao động trong sàn xuất, phải giải quyếtnhiều vấn đề tổng hợp phức tạp không những phải có hiểu biết về kỹ thuật chiếusáng, kỹ thuật thông gió, cơ khí hóa, tự động hóa…mà còn cần có kiến thức vềtâm lý lao động, thẩm mỹ công nghiệp, xã hội học lao động…Vì vậy công tácbảo hộ lao động mang tính chất khoa học kỹ thuật tổng hợp
2.3 BHLĐ mang tính quần chúng
Tất cả mọi người từ người lao động đến người sử dụng lao động đều làđối tượng cần được bảo vệ Đồng thời họ cũng là chủ thể phải tham gia vào côngtác bảo hộ lao động để bảo vệ mình và bảo vệ người khác
Bảo hộ lao động có liên quan đến tất cả mọi người, tham gia sản xuất,công nhân là những người thường xuyên tiếp xúc với mái móc, trực tiếp thựchiện các qui trình công nghệ…Do đó họ có nhiều khả năng phát hiện những sơ
hở trong công tác bảo hộ lao động, đóng góp xây dựng, các biện pháp về kỹthuật an toàn, tham gia ý kiến về mẫu mực, quy cách dụng cụ phòng hộ, quần áo
Trang 10làm việc mà còn cần có kiến thức về tâm lý lao động, thẩm mỹ công nghiệp, xãhội học lao động…
Mặc khác dù các quy trình, quy phạm an toàn được đề ra tỉ mỉ đến đâu,nhưng công nhân chưa được học tập, chưa được thấm nhuần, chưa thấy rõ ýnghĩa và tầm quan trọng của nó thì rất dễ vi phạm
Muốn làm tốt công tác bảo hộ lao động, phải vận động được đông đảomọi người tham gia Cho nên bao hộ lao động chỉ có kết quả khi được mọi cấp,mọi ngành quan tâm và được mọi người lao động tích cực tham gia và tự giácthực hiện các luật lệ, chế độ tiêu chuẩn, biện pháp để cải thiện điều kiện làmviệc, phòng chống tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
Bảo hộ lao động là hoạt động hướng về cơ sở sản xuất và con người vàtrước hết là người trực tiếp lao động Nó liên quan đến quần chúng lao động,bảo vệ quyền lợi và hạnh phúc cho mọi người, mọi nhà, cho toàn xã hội Vì thếbảo hộ lao động luôn mang tính quần chúng sâu rộng
3 Trách nhiệm đối với bảo hộ lao động
3.1 Mối quan hệ giữa BHLĐ và môi trường
Vấn đề môi trường nói chung hay môi trường lao động nói riêng là mộtvấn đề thời sự cấp bách đề cập đến quy mô toàn cầu Các nhà khoa học từ lâu đãbiết được sự thải các khí “gây hiệu ứng nhà kính” có thể làm trái đất nóng dầnlên Hiệu ứng nhà kính là kết quả hoạt động của con người trong quá trình sửdụng các loại nhiên liệu hóa thạch như dầu mỏ, than đá, khí đốt…đã thải ra bầukhí quyển một khối lượng rất lớn các chất độc hại
Mỗi năm con người đổ ít nhất 7 tỷ tấn cacbon vào bầu khí quyển, vùng bị
ô nhiễm nhiều nhất là khu vực biển Ban Tích Nếu con người hôm nay khôngthực hiện các biện pháp hữu hiệu để giảm bớt sự nóng lên của trái đất, thì khôngchỉ hôm nay mà cả thế hệ mai sau sẽ phải hứng chịu hậu quả to lớn của thiênnhiên Để có được một giải pháp tốt tạo nên môi trường lao động phù hợp chongười lao động đòi hỏi sự tham gia cũng nhiều nghành khoa học dựa trên cácyếu tố cơ bản sau: Ngăn chặn và hạn chế sự lan tỏa của các yếu tố nguy hiểm, cóhại từ nguồn phát sinh; thu hồi và xử lý các yếu tố gây ô nhiễm; xử lý các chấtthải trước khi xả thải để không làm ô nhiễm môi trường; trang bị các phươngtiện bảo vệ cá nhân…
Trang 113.2 Mối quan hệ giữa BHLĐ và sự phát triển bền vững
Đi đầu và hỗ trợ phát triển bền vững cho các nước khác
Sử dụng tài nguyên, nhân văn, kỹ thuật và tài chính để phát triển côngnghệ sạch và công nghệ dùng ít tài nguyên
Làm cho mọi người tiếp cận tài nguyên một cách bình đẳng
Giảm chêch lệch về thu nhập và tiếp cận y tế
Chuyển tiền từ chi phí quân sự an ninh cho những yêu cầu phát triển
Dùng tài nguyên cho việc cải thiện mức sống thường xuyên
Cải thiện việc tiếp cận ruộng đất, giáo dục và các dịch vụ xã hội
Loại bỏ nghèo nàn tuyệt đối
Thiết lập ngành công nghiệp có hiệu suất để tạo công ăn việc làm và sảnxuất hàng hóa cho thương mại và tiêu thụ
3.2.2 Lĩnh vực nhân văn
Ổn định dân số, nâng cao tỷ lệ người biết chữ
Giảm tình trạng di cư đến các thành phố qua chương trình phát triển nông thônCải thiện phúc lợi xã hội, bảo vệ tính đa dạng văn hóa và đầu tư vào vốn conngười
Đầu tư vào sức khỏe, giáo dục phụ nữ, khuyến khích sự tham gia vào quátrình phúc lợi xã hội
Xây dựng những biện pháp mang tính chất chính sách và kỹ thuật để giảmnhẹ hậu quả môi trường của quá trình đô thị hóa
3.2.3 Lĩnh vực môi trường
Sử dụng có hiệu quả hơn đất canh tác và cung cấp nước bằng cách cảithiện canh tác nông nghiệp và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật để nâng caosản lượng
Trang 12Bảo vệ nước bằng cách chấm dứt lãng phí nước, nâng cao hiệu suất của hệ thốngnước, cải thiện chất lượng nước và rút nước bề mặt, sử dụng nước tưới một cáchthận trọng.
Tránh dùng quá mức phân hóa học và thuốc trừ sâu
Bảo vệ đa dạng sinh học bằng cách làm chậm lại đáng kể và nếu có thể thìchặn đứng sự tuyệt duyệt của các loài, sự hủy hoại nơi ở cũng như các hệ sinhthái
Tránh tình trạng không ổn định của khí hậu hủy hoại tầng ozon do hoạtđộng của con người
Bảo vệ tài nguyên thiên nhiên cần thiết cho sản xuất lương thực và chấtđốt trong khi phải mở rộng sản xuất để đáp ứng nhu cầu gia tăng dân số Tránh
mở rộng đất nông nghiệp trên đất dốc và đất bạc màu
Làm chậm hoặc chặn đứng sự hủy hoại rừng nhiệt đới, hệ sinh thái san
hô, rừng ngập mặn ven biển, những vùng đất ngập nước hoặc những nơi độc đáokhác để bảo vệ tính đa dạng sinh học
3.2.4 Lĩnh vực kỹ thuật
Chuyển giao sang nền kỹ thuật sạch có hiệu suất hơn để giảm tiêu thụnăng lượng và các tài nguyện thiên nhiên khác mà không làm ô nhiễm đất, nước,không khí
Giảm thải nồng độ CO2 trong khí quyển để giảm tỉ lệ tăng toàn cầu củakhí nhà kính
Giảm sử dụng nhiên liệu hóa thạch, nghiên cứu tìm ra nguồn năng lượngmới
Loại bỏ việc sử dụng CFC để tránh làm ảnh hưởng tần ozon bảo vệ tráiđất
Bảo tồn những kỹ thuật truyền thống với ít chất thải và chất ô nhiễm,những kỹ thuật tái chế chất thải phù hợp với hệ tự nhiên
Nhanh chóng ứng dụng những khoa học kỹ thuật đã được cải tiến cũng nhưquy chế chính phủ về việc thực hiện những quy chế đó
4 Nội dung của công tác bảo hộ lao động
4.1 Điều kiện lao động
Trang 13Điều kiện lao động là tập hợp tổng thể các yếu tố tự nhiên, kỹ thuật, kinh
tế xã hội được biểu hiện thông qua các công cụ và phương tiện lao động, đốitượng lao động, quá trình công nghệ, môi trường lao động và sự sắp xếp bố trí,tác động qua lại của chúng trong mối quan hệ với con người tạo nên một điềukiện nhất định cho con người trong quá trình lao động Điều kiện lao động cóảnh hưởng đến sức khỏe và tính mạng con người
Điều kiện lao động nên xét cả về 2 mặt: công cụ lao động và phương tiệnlao động Những công cụ và phương tiện đó có tiện nghi, thuận lợi hay khó khănnguy hiểm cho người lao động, đối tượng lao động cũng ảnh hưởng đến ngườilao động rất đa dạng như dòng điện, chất nổ, phóng xạ
Những ảnh hưởng đó còn phụ thuộc quy trình công nghệ, trình độ sảnxuất, môi trường lao động rất đa dạng, có nhiều yếu tố tiện nghi, thuận lợi hayngược lại rất khắc nghiệt độc hại đều tác động lớn đến sức khỏa của người laođộng
4.2 Các yếu tố nguy hại và có hại
Trong một điều kiện lao động cụ thể, bao giờ cũng xuất hiện các yếu tốvật chất có ảnh hưởng xấu, nguy hiểm, có nguy cơ gây tai nạn hoặc bệnh nghềnghiệp cho người lao động, ta gọi đó là các yếu tố nguy hiểm và có hại Cụ thểlà:
Các yếu tố vật lý: nhiệt độ, đổ ẩm, tiếng ồn, các bức xạ có hạt, bụi…Các yếu tố hóa học: chất độc, các loại hơi, khí, bụi độc, chất phóng xạ…Các yếu tố sinh vật, vi sinh: vi khuẩn, ký sinh trùng, côn trùng, rắn…Các yếu tố bất lợi về tư thế lao động, không tiện nghi do không gia, chổlàm việc, mất vệ sinh…
Các yếu tố tâm lý không thuận lợi…
4.3 Tai nạn lao động
Tai nạn lao động là tai nạn xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền vớiviệc thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ lao động làm tổn thương làm ảnh hưởngsức khỏe làm giảm khả năng lao động hay chết người Tai nạn lao động cònđược phân ra: chấn thương, nhiễm độc nghề nghiệp, bệnh nghề nghiệp
Trang 14Chấn thương là tai nạn mà kết quả gây nên những vết thương hay hủyhoại một phần cơ thể người lao động, làm tổn thương tạm thời hay mất khả nănglao động vĩnh viễn hay thẩm chí tử vong Chấn thương có tác dụng đột ngột
Nhiễm độc nghề nghiệp là sự hủy hoại sức khỏe do tác dụng của chất độcxâm nhập vào cơ thể người lao động trong điều kiện sản xuất
Bệnh nghề nghiệp là sự suy yếu dần dần sức khỏe hay làm ảnh hưởng đếnkhả năng làm việc và sinh hoạt của người lao động do kết quả tác dụng củanhững điều kiện làm việc bất lợi hoặc do thường xuyên tiếp xúc với các chất độchại như sơn, bụi…Bệnh nghề nghiệp có ảnh hưởng làm suy yếu sức khỏe mộtcách dần dần và lâu dài
Trang 15Bài 3: KỸ THUẬT AN TOÀN 1.An toàn điện
1.1 Một số khái niệm cơ bản về an toàn điện
Thực tế cho thấy khi chạm vật có điện áp, người bị tai nạn hay không là do
có hoặc không dòng điện đi qua thân người
Dòng điện đi qua cơ thể con người gay nên phản ứng sinh lý phức tạp nhưlàm huỷ hoại bộ phận thần kinh điều khiển các giác quan bên trong của conngười, làm tê liệt cơ thịt, sưng màng phổi, huỷ hoại cơ quan hô hấp và tuần hoànmáu Tác động của dòng điện còn tăng lên đối với những người uống rượu.Nghiên cứu tác hại của dòng điện đối với cơ thể cho đén nay vẫn chưa có mộtthuyết nào có thể giải thích một cách hoàn chỉnh về tác đọng của dòng điện đốivơi cơ thể con người
Một trong những yếu tố chính gây ra tai nạn cho người là dòng điện( Dòngđiện này phụ thuộcđiện áp mà người chạm phải) và đường đi của dòng điện qua
cơ thể người vào đất
Sự tổn thương do dòng điện gây ra có thể chia làm ba loại sau:
- Tổn thương do chạm phải vật dẫn điện có mang điện áp
- Tổn thương do chạm phải những bộ phận bằng kim loại hay vỏ thiết
bị có mang điện áp vì bị hỏng cách điện
- Tổn thương do điện áp bước xuất hiện ở chỗ bị hư hỏng cách điện haychỗ dòng điện đi vào đất
Dòng điện có thể tác động vào cơ thể người qua một mạch điện kín haybằng tác động bên ngoài như phóng điện hồ quang Tác hại của dòng điện gâynên và hậu quả của nó phụ thuộc vào độ lớn và loại dòng điện qua cơ thể conngười, thời gian tác dụng và tình trạng sức khoẻ của con người
Đến nay vẫn có nhiều ý kiến khác nhau về trị số dòng điện có thể gâynguy hiểm chết người Trường hợp chung thì dòng điện có trị số 100mA có thểlàm chất người Tuy vậy có trường hợp trị số dòng điện chỉ khoảng 5- 10mA đãlàm chất người vì còn tuỳ thuộc điều kiện nơi xảy ra tai nạn và tình trạng sứckhoẻ của nạn nhân
Tác động của dòng điện với cơ thể con người:
Điện trở của cơ thể con người:
Trang 16Thân thể người gồm có da, thịt,xương, máu , thần kinh,…tạo thành Lớp da
có điện trở lớn nhất mà điện trở của da lại do điện trở sừng trên da quyết định Điện trở người là một đại lương rất không ổn định và không chỉ phụ thuộc vàotrạng thái sức khoẻ của cơ thể tứng lúc mà còn phụ thuộc vào môi trường xungquanh, điều kiện tổn thương v.v.Thực tế điện trở này rất hay hạ thấp, nhất làlúc da bị ẩm, khi thời gian tác dụng của dòng điện tăng lên, hoặc khi tăng điệnáp…Điện trở của người có thể thay đổi từ vài chục k đến 600
Thí nghiệm cho thấy giữa dòng điện đi qua người và điện áp dặt vào người
có sự lệch pha.Như vậy điện trở người là một đại lượng không thuần nhất
Điện trở da người luôn luôn thay đổi trong một giới hạn rất lớn khi da ẩmhoặc do tiếp xúc trực tiếp với nước bên ngoài do mồ hôi thoát ra đều làm chođiện trở giảm xuống
Mặt khác nếu da người bị dí mạnh trên các cực điện, điện trở da cũng bịgiảm đi.Với điện áp bé 50 -60Vcó thể xem điện trở tỉ lệ nghịch với diện tích tiếpxúc Mức độ tiếp xúc hay áp lực các đầu tiếp xúc của các cực điện vào da ngườilàm điện trở da thay đổi theo S ự thay đổi này rất dễ nhìn trong vùng áp lực béhơn 1kg/1cm
Khi có dòng điện đi qua người, điện trở thân người giảm đi.Điều này có thểgiải thích là lúc có dòng điện đi vào thân người, da bị đót nóng, mồ hôi thoát ra
và làm điện trở giảm xuống Thí nghiệm cho thấy :
Với dòng điện 0,1 mA điện trở người R = 500.000
Với dòng điện 10 mA điện trở người R = 8.000
Điện trở người giảm tỉ lệ với thời gian tác dụng của dòng điện, điều nàycũng có thể giải thích vì da bị đốt nóng và có sự thay đổi về điện phân
Điện áp đặt vào rất ảnh hưởng đến điện trở của người vì ngoài hiện tượngđiện phân nói trên còn có hiện tượng chọc thủng.Với lớp da mỏng, hiện tượngchọc thủng đã có thể xuất hiện ở điện áp 10 – 30V
Nhưng nói chung ảnh hưởng của điện áp, thể hiện rõ nhất là ứng với trị số
áp từ 250V trở lên, lúc này điện trở người có thể xem như tương đương bị bóchết lớp da ngoài
Điện trở của toàn thân người có thể biễu diễn bằng sơ đồ thay thế ở hình 4.2.Trong tính toán có thể bỏ qua điện dung của người vì các điện dung này rất bé
Ảnh hưởng của trị số dòng điện giật:
Trang 17Dòng là nhân tố trực tiếp gây ra tổn thương khi bị điện giật Điện trở củathân người, điện áp đặt vào người chỉ là những đại lượng làm biến đổi trị số củadòng điện mà thôi.
Với một trị số dòng điện nhất định, sự tác dụng của nó vào cơ thể con ngườihầu như không thay đổi Tác động của dòng điện lên cơ thể người phụ thuộc vàotrị số của nó
BẢNG TÁC ĐỘNG CỦA DÒNG ĐIỆN LÊN CƠ THỂ NGƯỜI
Dòng điện
( mA)
Tác dụng của dòng điện xoaychiều 50-60 Hz Dòng điện một chiều0,6-1.5
Tay không rời được vật có điện,đau khó thở
Thở bị tê liệt Tim bắt đầu đậpmạnh
Thở bị tê liệt Kéo dài 3 giây hoặcdài hơn , tim bị tê liệt đi đến ngừngđập
Không có cảm giác gìKhông có cảm giác gìĐau như kim đâm, cảmthấy nóng
Nóng tăng lên
Nóng càng tăng lên,thịt co quắp lại nhưngchưa mạnh
Cảm giác nóng mạnh.Bắp thịt ở tay co rút.Khó thở
Thở bị tê liệt
Những trị số về điện áp dòng điện có thể gây nguy hiểm cho người nhưchúng ta phân tích ở trên đều rút ra từ các trường hợp bị tai nạn ở thựctế vớiphương pháp đo lường tinh vi và chính xác Như chúng ta đã nói ở trên, khi xétphân tích về tai nạn do điện giật không nên nhìn đơn thuần theo trị số dòng điện
mà phải xét đến môi trường, hoàn cảnh xảy ra tai nạn và phản xạ của nạn nhân
Ảnh hưởng của thời gian dòng điện giật:
Trang 18Thời gian tác động cảu dòng điện vào cơ thể người rất quan trọng và biểuhiện nhiều hình thài khác nhau Đầu tiên chúng ta thấy thời gian tác dụng cảudòng điện ảnh hưởng đến điện trở người Thời gian tác dụng càng lâu điện trởngười càng bị giảm xuống vì lớp da bị nóng dần lên và lớp sừmg trên da bị chọcthủng ngày càng tăng lên Và như vậy tác hại của của dòng điện với thể ngườingày càng tăng lên.
Khi dòng điện tác động trong thời gian ngắn thì tính chất nguy hiểm phụthuộc vào nhịp đập của tim Mỗi chu kỳ giãn của tim kéo dài một giây Trongchu kỳ có khoảng 0,4 giây tim nghỉ làm việc ( giữa trạng thái co và giãn) và ởthơì điểm tim rất nhạy cảm với dòng điện đi qua nó Nếu trong thời gian dòngđiện đi qua người lớn hơn một giây thề nào cũng trùng với thời điểm trên củatim Thí nghiệm cho thấy rằng dù dòng điện lớn ( gần bằng 10mA) đi qua người
mà không gặp thời điểm nghỉ của tim cũng không nguy hiểm gì
Đường đi của dòng điện:
Phần lớn các nhà nghiện cứu đều cho rằng đường đi của dòng điện giật qua
cơ thể người có tầm quan trọng rất lớn Điều này chủ yếu là có bao nhiêu phầntrăm của dòng điện tổng qua cơ quan hô hấp và tim
Các lý thuyết để giải thích quá trình bệnh lý xảy ra trong cơ thể lúc dòngđiện đi qua rất nhiều nhưng cho đến nay chưa có thuyết nào giải thích được hiệntượng trên một cách hoàn chỉnh
Qua thí nghiệm nhiều lần có các kết quả sau:
Dòng điện đi từ tay sang tay sẽ có 3,3% của dòng điện tổng đi qua tim
Dòng điện đi từ tay phải sang chân sẽ có 6,7% của dòng điện tổng đi qua tim Dòng điện đi từ chân sang chân sẽ có 0,4% của dòng điện tổng đi qua tim
Chúng ta có kết luận sau:
- Đường đi cảu dòng điện có ý nghĩa quan trọng vì lượng dòng điện đi quatim hay cơ quan hô hấp phụ thuộc cách tiếp xúc của người với mạch điện
- Dòng điện phân bố tương đối đều trên các cơ của lồng ngực
- Dòng điện đi tay phải đến chân có phân lượng qua tim nhiều nhất vì phầnlớn dòng điện qua tim theo dọc trục này nằm trên đường từ tây phải đến chân
Ảnh hưởng của tần số dòng điện
Trang 19Tổng trở cơ thể người giảm xuống lúc tần số tăng lên Điều này dễ hiểu vìđiện kháng của da người do xung điện tạo nên( x= 1/2¶fC) sẽ giảm xuống lúctàn số tăng Nhưng thực tế kết quả không như vậy, nghĩa là khi tần số tăng lêncàng cao mức độ nguy hiểm càng giảm đi.
Điện áp cho phép :
Dự đoán trị số dòng điện qua người trong nhiều trường hợp không làmđược Phần trên đã xét điện trở người là một hàm số cảu nhiều biến số mà mỗibiến số này lại phụ thuộc vào hoàn cảnh khác nhau Vì vậy xá định giới hạn antoàn cho người không dựa vào ‘’dòng điện an toàn’’ mà phait theo ‘’điện áp chophép’’ Dùng điện áp cho phép rất thuận lợi vì mỗi mạng điện có một điện áptương đối ổn định
Tiêu chuẩn điện áp cho mỗi nước là khác nhau :
Ở Ba Lan, Thuỵ Sỹ, điện áp cho phép là 50 V
Ở Hà Lan Thụy Điển, Điện áp cho phép là 24V
Ở Pháp, điện áp xoay chiều cho phép là 24V
Ở Nga tuỳ theo môi trường làm việc, trị số điện áp cho phép có thể có cáctrị số khác nhau : 65V, 12V
Người lao động chưa tuân thủ các quy trình kỹ thuật an toàn
Thiếu hoặc không sử dụng đúng các dụng cụ bảo hộ lao động
Do thiếu sự hiểu biết của người lao động
Chưa được huấn luyện đầy đủ về an toàn điện
Sử dụng không đúng các dụng cụ nối điện thế trong các phòng ẩm ướt
Do sử dụng thiết bị điện không an toàn
Sự hư hỏng của thiết bị, dây dẫn điện và các thiết bị mở máy
Trang 20Thiếu các thiết bị và cầu chì bảo vệ hoặc có nhưng không đáp ứng yêu cầuThiết bị điện sử dụng không phù hợp với điều kiện sản xuất
Do hệ thống điện và các hệ thống đảm bảo an toàn hoạt động thiếu đồng bộ
Do quá trình tổ chức thi công và thiết kế
Không ngắt điện trong dây cáp ngầm nên khi thi công máy đào chạm vàodây cáp
Trong quá trình thi công hàn, dây điện được trãi trên mặt sàn do vị trí củamáy hàn và thiết bị hàn không cố định
Bố trí không đầy đủ vật che chắn, rào lưới ngăn ngừa việc tiếp xúc bất ngờvới bộ phận dẫn điện, dây dẫn điện của trang thiết bị
Nhiều tòa nhà thiết kế không tính hết nhu cầu sử dụng thiết bị điện củangười dân dẫn đến quá tải, chập cháy
Người thiết kế chỉ lưu ý đến phần tiếp đất, chống sét bằng thu lôi chứ khônglưu ý đến hệ thống nối đất an toàn cho các thiết bị điện sử dụng trong nhà
Do môi trường làm việc không an toàn
Do nơi làm việc bị ẩm ước hoặc thấm nước
Làm việc trên cao
- Bỏng điện : Bỏng gây nên do dòng điện qua cơ thể người hoặc do tácđộng của hồ quang điện Bỏng do hồ quang một phần do tác động đốt nóng củatia lửa hồ quang có nhiệt độ rất cao( từ 35000C-15.0000C), một phần do bột kimloại nóng bắn vào gây bỏng
- Dấu vết điện : Khi dòng điện chạy qua sẽ tạo nên các dấu vết điện trên
bề mặt da tại điểm tiếp xúc với cực điện
- Kim loai hoá mặt da do các kim loại nhỏ bắn với tốc độ lớn thấm sâuvào trong da, gây bỏng
Trang 21- Co giật cơ : Khi có dòng điện qua người, các cơ bị co giật
- Viêm mắt do tác dụng của tia cực tím hoặc tia hồng ngoại hồ quang điện
Điện giật :
Điện giật là dòng điện qua cơ thể sẽ gây kích thích các mô kèn theo cogiật cơ ỏ cácmức độ khác nhau :
- Cơ bọ co giật nhưng người không bị ngạt
- Cơ bị co giật, người bị ngất nhưng vẫn duy trì được hô hấp và tuầnhoàn
- Người bị ngất, hoạt động tim và hệ hô hấp bị rối lạon
- Chết lâm sàng( không thở, hệ tuần hoàn không hoạt động)
Điện giật chiếm một tỷ lệ rất lớn, khoảng 80% tổng số tai nạn điện và 87% vụ tai nạn chết người là do điện giật
85- Phân loại nơi đặt thiết bị điện theo mức độ nguy hiểm
Mức nguy hiểm đối với người làm việc thiết bị điện do dòng điện gây nênphụ thuộc vào điều kiện môi trường Do đó, để đánh giá, xác định điều kiện môitrường khi lắp đặt thiết bị điện, lựac chọn thiết bị, đường dây, đường cáp vv phải theo qui định về phân loại nơi đặt thiết bị điện theo mức nguy hiểm :
Theo qui định hiện hành thì nơi đặt thiết bị điện được phân loại như sau :
- Nơi nguy hiểm là nơi có một trong các yếu tố sau :
+ Ẩm( với độ ẩm của không khí vượt quá 75%) trong thời gian dài hoặc
có bụi dẫn điện ( bám vào dây dẫn, thanh dẫn, hay lọt vào trong thiết bị)
+ Nền nhà dẫn điện ( bằng kim loại, bê tông, cốt thép, gạch)
+ Nhiệt độ cao( có nhiệt độ vượt qua 350C trong thời gian dài)
+ Những nơi người có thể đồng thời tiếp xúc một bên với các kết cấu kimloại của nhà, các thiết bị công nghệ, máy móc đã nối đât và một bên với vỏ kimloạ của thiết bị điện)
- Nơi đặc biệt nguy hiểm là nơi có một trong các yếu tố sau :
+ Rất ẩm( độ ẩm tương đối của không khí xấp xỉ 100%)
+ Môi trường hoạt tính hoá học( có chứa hơi, khí, chất lỏng trong thờigian dài, có thể phá huỷ chất cách điện và các bộ phận mang điện)
Trang 22+ Đồng thời có hai yếu tố trở nên của nơi nguy hiểm nêu ở mục’ Nơinguy hiểm’
- Nơi ít nguy hiểm( bình thường) là nơi không thuộc hai loại nêu trên
1.3 Bảo vệ nối đất bảo vệ dây trung tính và bảo vệ chống sét
Lắp đặt nối đất bảo vệ
Khi cách điện của những bộ phận mang điện bị chọc thủng, bị hư hỏngnhững thành phần kim loại của thiết bị điện hay các máy móc khác thườngkhông có điện nhưng giờ mang hoàn toàn điện áp làm việc Khi chạm vàochúng, người có thể bị tổn thương do dòng điện gây nên
Mục đích nối đất là để đảm bảo an toàn cho người lúc chạm vào các bộphận có mang điện tích Vì nối đất là để giảm điện áp đối với đất của những bộphận kim loại của thiết bị điện đến một trị số an toàn đối với người Như vậy nốiđất là sự chủ định nối điện các bộ phận của thiết bị điện với hệ thống nối đất
Hệ thống nối đất bao gồm các thanh nối đất và dây dẫn để nối đất
Tác dụng của nối đất là để tản dòng điện sự cố vào đất và để giữ mức điệnthế thấp trên các phần tử thiết bị điện được nối đất
Ngoài những nối đất để đảm bảo an toàn cho người còn có loại nối đất vớimục đích xác định chế độ làm việc của thiết bị điện Loại nối đất này gọi là nốiđất làm việc Ví dụ như nối đất trung tính máy biến áp, máy phát điện…
Nối đất riêng lẽ cho từng thiết bị là không hợp lý và rất nguy hiểm vì khi
có chạm đất ở 2 điểm tạo nên nguy hiểm trên phần nối đất của thiết bị.Vì vậycần thiết phải nối chung lại thành một hệ thống nối đất( trừ những thu lôi đứngriêng lẻ)
Lắp đặt nối trung tính bảo vệ
Bảo vệ nối dây trung tính tức là nối các bộ phận không mang điện (vỏthiết bị) với dây trung tính, dây trung tính này được nối đất ở nhiều chổ Bảo vệdây trung tính dùng thay cho bảo vệ nối đất trong các mạng điện 4 dây 3 phađiện áp thấp (loại 380/220V và 220/110V) nếu trung tính của mạng này trực tiếpnối đất Ý nghĩa của việc thay thế này xuất phát từ chổ bảo vệ nối đất dùng chomạng lưới 1000V khi trung tính nối đất không đảm bảo điều kiện an toàn
Mục đích nối dây trung tính là biến sự chạm vỏ thiết bị thành ngắn mạch
1 pha để bảo vệ làm việc cắt nhanh chỗ bị hư hỏng
Lắp đặt chống sét bảo vệ
Trang 23Sét là sự phóng điện giữa các đám mây với nhau hay giữa đám mây vớimặt đất Năng lượng của sét khi phóng điện rất lớn có thể đạt tới hàng vạn hàngtriệu vôn, dòng điện sét hàng chục ngàn ampe đến hàng trăm ngàn ampe nên cóthể phá hoại công trình, thiết bị, nhà cửa, gây chết người…
Để bảo vệ các tòa nhà, các công trình xây dựng khỏi bị sét đánh, người tathường lắp cột thu lôi hoặc lưới chống sét Cột thu lôi gồm ba bộ phận: kim thusét trực tiếp, dây dẫn sét và các thiết bị tiếp đất chống sét
Nội dung bảo vệ chống sét gồm: bảo vệ chống sét đánh trực tiếp, bảo vệchống sét cảm ứng, bảo vệ chống sét lan truyền
1.4 Các biện pháp cần thiết để bảo vệ an toàn điện
Các quy tắc chung để đảm bảo an toàn điện
Để đảm bảo an toàn điện cần thực hiện các quy định :
- Phải che chắn các thiết bị và các bộ phận của mạng điện tránh nguy hiểmkhi tiếp xúc bất ngờ voà vật dẫn điện
- Phải chọn đúng điện áp sử dụng và thực hiện nối đất hoặc nối dây trungtính các thiết bị điện cũng như thắp sáng theo đúng quy chuẩn
- Nghiêm chỉnh sử dụng các thiết bị, dụng cụ an toàn và bảo vệ khi làmviệc
- Tổ chức kiểm tra, vận hành theo đúng quy tắc an toàn
- Phải thường xuyên kiểm tra dự phòng cách điện cũng như của hệ thốngđiện
Qua kinh nghiệm cho thấy, tất cả trường hợp để xảy ra tai nạn điện thìnguyên nhân chính không phải là dothiết bị không hoàn chỉnh, cũng không phải
là do thiết bị an toàn không đảm bảo mà chính do vận hành sai quy cách, trình
độ vận hành kém, sức khoẻ không đảm bảo Để vận hành an toàn cần thườngxuyên kiểm tra sửa chữa thiết bị, chọn cán bộ kỹ thuật, mở các lớp huấn luyện
về chuyên môn, phân công trực đầy đủ vv
Muốn thiết bị được an toàn đối với người làm việc và những người xungquanh, cần tu sữa chúng theo kế hoạch đã định, khi sửa chữa phải theođúng quytrình vận hành.Ngoài các công việc làm theo chu kỳ cần có các bộ phận trực tiếpvới nhiệm vụ thường xuyên xem xét, theo dõi Các kết quả kiểm tra cần ghi vào
sổ trực trên cơ sở đấy mà đặt ra kế hoạch tu sửa
Trang 24Thứ tự thao tác không đúng trong khi đóng cắt mạch điện là nguyên nhâncủa sự cố nghiêm trọng và tai nạn nguy hiểm cho người vận hành Để tránh tìnhtrạng trên cần vận hành thiết bị điện theo đúng quy trình với sơ đối dây điện củacác đường dây bao gồm tình trạng thực tế của các thiết bị điện và những điểm cónối đất Các thao tác phải được tiến hành theo mệnh lệnh, trừ các trường hợpxảy ra tai nạn mới có quyền tự động thao tác rồi báo cáo sau.
Các biện pháp kỹ thuật an toàn điện
Để phòng ngừa, hạn chế tác hại do tai nạn điện, cần áp dụng các biện pháp
kỹ thuật an toàn điện sau đây :
Cácbiện pháp chủ động đề phòng xuất hệin tình trạng nguy hiểm có thểgây tai nạn :
- Đảm bảo tốt cách điện của thiết bị điện
- Đảm bảo khoảng cách an toàn, bao che, rào chắn các bộ phận mang điện
- Sử dụng điện áp thấp, máy biến áp cách li
- Sử dụng tín hiệu, biển báo.khoá liên động
Các biện pháp để ngăn ngừa, hạn chế tai nạn điện khi xuất hiện tình trạngnguy hiểm :
- Thực hiện nối không bảo vệ
- Thực hiện nối đất bảo vệ, cân bằng thế
- Sử dụng máy cắt điện an toàn
-Sử dụng các phương tiện bảo vệ, dụng cụ phòng hộ
Cấp cứu người bị điện giật
Nguyên nhân chính làm chết người bị điện giật là do hiện tượng kích thíchchư không phải là do chấn thương
Khi có người bị tai nạn điện, việc tiến hành sơ cứu nhanh chóng, kịp thời
và đúng phương pháp là các yếu tố quyết định để cứu sống nạn nhân Các thínghiệm và thực tế cho thấy rằng từ lúc bị điện giật đến một phút sau được cứuchữa ngay thì 90% trường hợp sống được, để 6 phút sau mới cứu có thể cứusống được 10%, nếu để quá 10 phút mới cấp cứu thì rất ít trường hợp cứu sốngđược Việc sơ cứu phải thực hiện đúng phương pháp thì mới có hiệu quả và tácdụng cao
Trang 25Khi sơ cứu người bị nạn cần thực hiện các bước cơ bản sau :
- Tách nạn nhân ra khỏi nguồn điện
- Làm hô hấp nhân tạo và xoa bóp tim ngoài lồng ngực
Tách nạn nhân ra khỏi nguồn điện
Nếu nạn nhân chạm vào điện hạ áp cần : nhanh chóng cắt nguồn điện( cầu dao, aptomat, cầu chì ) nếu không thể cắt điện nhanh thì ohải dùng cácvật cách điện khô như sào, gậy tre, gỗ khô để gạt dây điện ra khoải nạn nhân,nếu nạn nhân nắm chặt vào dây cần phải đứng trên các vật cách điện khô( bệgỗ) để kéo nạn nhân ra, cũng có thể dùng dao, rìu, với cán gỗ khô kìm cách điện
để chặt hoặc cắt đứt dây điện
Nếu nạn nhân bị chạm hoặc bị phóng điện từ các thiết bị điện cao áp thìkhông thể đến cứu ngay trực tiếp mà phải đi ủng, dùng gậy, sào cách điện đểtách nạn nhân ra khỏi phạm vi có điện Đồng thời báo cho người quản lý cắtđiện cho đường dây Nếu nạn nhân đang làm việc trên đường dây trên cao, dùngdây dẫn nối đất, làm ngắn mạch đường dây Khi làm ngắn mạch và nối đất cầntiến hành nối đất trước, sau đó ném dây lên làm ngứn mạch đường dây Dùngcác biện pháp đỡ để chống rơi, ngã nếu người bị nạn ở trên cao
Làm hô hấp nhân tạo
Trang 26Thực hiện ngay sau khi tách nạn nhân ra khỏi bộ phận mang điện Đặt nạnnhân ở chỗ thoáng khí, cởi các phần quần áo bó thân( cúc, thắt lưng ) lau sạchmáu, nước bọt và các chất bẩn Thao tác theo trình tự :
- Đặt nạn nhân nằm ngửa, kê gáy nạn nhân bằng vật mềm để đầu ngửa vềphía sau Kiểm tra khí quản có thông suốt và lấy các dị vật ra Nếu hàm bị cocứng phải mở miệng bằng cách để tay áp vào phía dướicủa góc hàm dưới, tỳngón tay cái vào mép để đẩy hàm dưới ra
- Kéo ngửa mặt nạn nhân về phía sau sao cho cằm và cổ trên một đườngthẳng đảm bảo cho không khí vào được dễ dàng Đẩy hàm dưới về phía trước đềphòng lưỡi rơi xuống đóng thanh quản
- Mở miệng và bịt mũi nạn nhân Người cấp cứu hít một hơi và thổi mạnhvào miệng nạn nhân( đặt khẩu trang hoặc khăn sạch lên miệng nạn nhân) Nếukhông thể thổi vào miệng nạn nhân thì có thể bịt kín miệng nạn nhân và thổi vàomũi
- Lặp lại các thao tác trên nhiều lần Việc thổi khí cần làm nhịp nhàng vàliên tục 10-12 lần trong một phút với người lớn, 20 lần trong một phút với trẻem
Xoa bóp tim ngoài lồng ngực
Trang 27Nếu có hai người cấp cứu thì một người thổi ngạt còn một người xoa bóptim Người xoa bóp tim đặt hai tay chồng lên nhau và đặt ở 1/3 phần dưới xương
ức của nạn nhân, ấn khỏng 4-6 lần thì dừng lại 2 giây để gnười thứ nhất thổingạt không khí vào phổi nạn nhân Khi ấn ép mạnh lồng ngực xuống khoảng 4-6cân sau đó giữ tay khoảng 1/3 giây rồi mới rời khỏi lồng ngực cho trở về vị trí
co giãn, tim phổi bắt đầu hoạt động nhẹ cần tiếp tục cấp cứu khoảng 5- 10phút nữa để tiếp sức thêm cho nạn nhân Sau đó cần kịp thời chuyển ngay nạnnhân tới bệnh viện Trong qua trình vận chuyển vẫn phải tiếp tục tiến hành côngviệc cấp cứu liên tục
2 An toàn lao động
2.1 Khái niệm chung về yếu tố nguy hiểm và biện pháp phòng ngừa
Các yếu tố nguy hiểm:
Các bộ phận cơ cấu sản xuất: trục, xích, khớp nối…
Các mảnh dụng cụ vật liệu gia công: đá mài, phôi, chi tiết gia công
Các yếu tố liên quan về điện: thuất bị điên, dụng cụ…
Các yếu tố về nhiệt: kim loại nóng chảy, thiết bị nung…
Chất độc công nghiệp, chất lỏng hoạt tính, bụi công nghiệp và các yếu tốnguy hiểm khác
Biện pháp phòng ngừa:
Trang 28– Không để người không có nghiệp vụ chuyên môn sử dụng các máy móc – thiết
bị có yêu cầu nghiêm ngặt về ATLĐ
– Trước và sau khi vận hành, sử dụng thiết bị nâng thang máy phải được kiểmtra tình trạng kỹ thuật của nó
Biện pháp quản lý:
– Khi sử dụng máy móc thiết bị thì người chủ sử dụng phải có đầy đủ hồ sơ lýlịch (gốc hoặc làm lại)
– Phải có các phương án xử lý sự cố (gẫy cần, gẫy móc, đứt cáp… đối với thiết
bị nâng; hoả hoạn, mất điện… đối với thang máy)
– Có các nội qui, qui trình vận hành an toàn đối với thiết bị nâng và thang máy
– Giao cho những người có đủ trình độ nghiệp vụ chuyên môn (có bằng cấp) vậnhành thiết bị nâng và thang máy
– Hàng năm tổ chức kiểm tra sát hạch tay nghề của người vận hành thiết bị nâng
và thang máy
Biện pháp tuyên truyền, huấn luyện:
– Thường xuyên làm tốt công tác tuyên truyền, huấn luyện luật pháp ATLĐ chongười chủ sử dụng và người vận hành thiết bị nâng- thang máy
– Người vận hành thiết bị nâng và thang máy phải được sát hạch sau khi huấnluyện, đạt yêu cầu thì cấp thẻ ATLĐ cho họ
– Khám sức khoẻ định kỳ (6 tháng, 1 năm) để có cơ sở bố trí xắp xếp người vậnhành cho họp lý
Trang 292.2.1 Một số vấn đề kỹ thuật an toàn trong cơ khí và luyện kim
Nguyên nhân gây ra tai nạn lao động khi sử dụng máy móc thiết bị
Định nghĩa về những mối nguy hiểm trong cơ khí
Mối nguy hiểm trong cơ khí là nơi và nguồn phát sinh nguy hiểm do hìnhdạng, kích thước, chuyển động của các phương tiện làm việc, phương tiện trợgiúp, phương tiện vận chuyển cũng như các chi tiết bị tổn thương trong quá trìnhlao động, như kẹp chặt, cắt xuyên thủng, va đập … gây ra tổn thương ở các mức
độ khác nhau
Phân lọai nguyên nhân gây ra chấn thương trong sản xuất
- Nhóm nguyên nhân kỹ thuật
+ Máy, trang bị sản xuất, quá trình công nghệ chứa đựng các yếu tố nguyhiểm, có hại, tồn tại khu vực nguy hiểm, khí bụi độc, hỗn hợp, rung, bức xạ cóhại, điện áp nguy hiểm…
+ Máy trang bị sản xuất thiết kế không thích ứng với các đặc điểm sinh
lý, tâm lý của người sử dụng
+ Độ bền của chi tiết máy không đảm bảo gây sự cố trong quá trình sửdụng
+ Thiếu thiết bị che chắn an toàn: các bộ phận chuyển động, vùng cóđiện áp nguy hiểm, bức xạ mạnh…
+ Thiếu hệ thống phát tín hiệu an toàn, cơ cấu phòng ngừa quá tải nhưvan an toàn, phanh hãm Cơ cấu khống chế hành trình…
+ Không thực hiện đúng các quy tắc kỹ thuật an toàn
+ Thiếu điều kiện cơ khí hoá, tự động hoá những khâu lao động nặngnhọc, nguy hiểm, độc hại, vận chuyển vật nặng lên cao, cấp dỡ ở lò luyện, khuấyrộng các chất độc
+Thiếu hoặc không sử dụng các phương tiện bảo vệ cá nhân không thíchhợp Chẳng hạn dùng thảm cách điện không đúngtiêu chuẩn, dùng nhầm mặt nạphòng chống độc
- Nhóm nguyên nhân về tổ chức- kỹ thuật
+ Tổ chức chỗ làm việc không hợp lý: chật hẹp, tư thế thao tác khókhăn…
Trang 30+ Bố trí máy, trang bị sai nguyên tắc, sự cố trên máy này có thể gâynguy hiểm cho máy khác…
+ Bảo quản thành phẩm và bán thành phẩm không đúng nguyên tắc antoàn: để lẫn hoá chất có thể phản ứng với nhau, xếp các chi tiết quá cao, không
ổn định…
+ Thiếu phương tiện đặc chủng cho người lao động làm việc phù hợp… + Tổ chức huấn luyện, giáo dục bảo hộ lao động chưa đạt yêu cầu
- Nhóm nguyên nhânvệ sinh công nghiệp
+ Vi phạm các yêu cầu về vệ sinh công nghiệp khi thiết kế nhà máy hayphân xưởng sản xuất: bố trí các nguồn phát sinh hơi, khí, bụi độc ở đầu hướnggió hoặc không khử độc, lọc bụi trước khi thải ra ngoài…
+ Phát sinh bụi khí độc trong gian sản xuất do sự rò rỉ từ các thiết bịbình chứa, thiếu hệ thống thu, khử độc ở những nơi phát sinh
+ Điều kiện vi khí hậu xấu, vi phạm tiêu chuẩn cho phép
+ Chiếu sáng chỗ làm việc không hợp lý
+ On rung vượt quá tiêu chuẩn cho phép
+ Trang bị phòng hộ cá nhân không dảm bảo đúng yêu cầu sử dụngchongười lao động
+ Không thực hiện nghiêm chỉnh các yêu cầu vệ sinh cá nhân
Các biện pháp và phương tiện kỹ thuật an toàn cơ khí
Biện pháp an toàn dự phòng tính đến yếu tố con người
- Thao tác lao động, nâng và mang các vật nặng đúng nguyên tắc an toàn,tránh tư thế cúi gập người, lom khom, vặn mình… giữ cột sống thẳng
- Đảm bảo không gian thao tác vận động trong tầm với tối ưu, thích ứng90% người sử dụng: tư thế làm việc, điều kiện thuận lợi với cơ cấu điều khiển,ghế ngồi phù hợp…
- Đảm bảo điều kiện lao động về thị giác, thính giác, xúc giác…
- Đảm bảo thể trọng phù hợp
- Đảm bảo tâm lý phù hợp, tránh quá tải đơn điệu
- Kiểm tra thanh tra thường xuyên
Trang 31 Thiết bị che hắn an toàn
*Mục đích của thiết bị che chắn an toàn
- Cách ly vùng nguy hiểm với người lao động
- Ngăn ngừa tai nạn lao động như rơi, ngã, vật rắn bắn vào người…
Tuỳ theo yêu cầu che chắn mà cấu tạo thiết bị che chắn đơn giản hay phứctạp mà sử dụng các loại vật liệu khác nhau
* Một số yêu cầu đối với thiết bị che chắn an toàn
- Ngăn ngừa tác động xấu do bộ phận cuả thiết bị sản xuất gây ra
- Không gây trở ngại cho thao tác của người lao động
- Không ảnh hưởng tới năng xuất lao động và công suất của thiết bị
* Phân loại một số thiết bị che chắn
Có thể phân loại các thiết bị che chắn:
- Che chắn các bộ phận, cơ cấu chuyển động
- Che chắn các vùng văng bắn và các mảnh dụng cụ, vật liệu gia công
- Che chắn bộ phận dẫn điện
- Che chắn nguồn bức xạ có hại
- Rào chắn các vùng làm việc trên cao, hố sâu
- Che chắn tạm thời có thể di chuyển được hay che cắn cố định không dichuyển được
Tín hiệu an toàn, màu sắc tín hiệu và dấu hiệu an toàn
* Mục đích của tín hiệu an toàn
- Báo trước cho người lao động những mối nguy hiểm có thể xảy ra
- Hướng dẫn thao tác cho người lao động
- Nhận biết các qui định về kỹ thuật và kỹ thuật an toàn qua dấu hiệu quiước về màu sắc, hình vẽ
* Tín hiệu an toàn có thể dùng
- Anh sáng, màu sắc
- Am thanh: còi, chuông, kẻng
- Màu sơn, hình vẽ bằng chữ
Trang 32- Đồng hồ, dụng cụ đo lường để đo cường độ, điện áp, cường độ dòng điện,
áp suất, khí độc, ánh sáng, nhiệt độ bức xạ…
* Một số yêu cầu đối với tín hiệu an toàn
- Dễ nhận biết
- Khả năng nhầm lẫn thấp, độ tin cậy cao
- Dễ thực hiện, phù hợp với phong tục tập quán, cơ sở khoa học kỹ thuật vàyêu cầu của tiêu chuẩn hoá
Nguyên tắc an toàn khi sử dụng một số loại máy
An toàn khi sử dụng máy mài hai đá
Các tai nạn thường gặp và nguyên nhân xảy ra
Đá mài quay với tốc độ cao từ 30- 300m/s, và thường xảy ra một số tai nạnnhư:
- Hạt mài bẳn vào mắt hoặc vào người
- Tay cọ vào đá mài trong khi đá đang quay
- Do mảnh vụn vật gia công bẳn vài người
- Do vỡ đá văng vào người
Nguyên tắc an toàn:
- Trước khi sử dụng máy:
+ Không để đá chồng lên nhau nhiều viên
+ Không để đá nơi ẩm ướt
+Dùng tay xoay viên đá vài vòng xem đá có nứt, mẻ không
+ Kiểm tra khe hở giữa đá và bệ tỳ khoảng 2-3mm là được
+ Kiểm tra điện, dầu mỡ…
+ Đóng điện cho máy chạy không tải 2,3 phút nếu không có việc gì thìmới mài
Trang 33+ Không cần thiết thì không đứng đối diện với đá
+ Không mài nhiều ở hai bên thành đá làm cho đá quá mỏng
+ Khi mặt đá bị mòn không đều, phải dùng dụng cụ sửa lại đá rồi mới mài
+ Đang mài nghe tiếng kêu không bình thường phải tắt máy và báo cho thợ sửachữa
+ Tay cầm vật mài phải chắc, nếu vật mài nóng quá phải làm nguội vật vài bằngnước
- Sau khi sử dụng:
Mài xong tắt máy, dọn dẹp, vệ sinh, bảo dưỡng máyvv…
An toàn khi sử dụng máy khoan
Máy khoan có cấu tạo rất đơn giản Khi sử dụng phải chú ý:
- Trước khi khoan phải lấy dấu chính xác, rõ ràng
- Điều chỉnh độ sâu mũi khoan
- Tóc dài phải đội mũ
- Mang kính bảo vệ mắt
- Khi đã cho máy chạy tuyệt đối không sử dụng găng tay
- Không đè mũi khoan quá mạnh
- Làm nguội mũi khoan bằng nước
- Khi khoan kim loại dẻo sẽ có dạng phoi lò xo, dễ gây tai nạn Do đóthỉnh thoảng phải nhấc mũi khoan để bê phoi
- Mũi khoan càng nhỏ tốc đô khoan càng lớn
2.3 Kỹ thuật an toàn với các thiết bị nâng chuyển
2.3.1 Những khái niệm cơ bản
Phân loại thiết bị nâng
Thiết bị nâng là những thiết bị dùng để nâng, hạ tải Theo TCVN 4244-86
“Quy phạm an toàn thiết bị nâng” thì các thiết bị nâng hạ bao gồm:
+ Máy trục
+ Xe tời chạy trên đường ray ở trên cao
+ Palăng điện, thủ công
Trang 34+ Tời điện, thủ công
+Máy nâng
- Máy trục: là những thiết bị nâng hoạt động theo chu kỳ dùng để nâng,chuyển tải (được giữ bằng máy móc hoặc các bộ phận mang tải khác) trongkhông gian
+ Máy trục kiểu cần: là máy trục có bộ phận mang tải treo ở cần hoặc ở xe con
di chuyển theo cần Máy trục kiểu cần tuỳ thuộc vào cấu tạo và hệ di chuyển,được phân thành cần trục ôtô: cần trục bánh lốp, cần trục bánh xích, cần trụctháp , cần trục chân đế, cần trục cột buồm, cần trục công xôn
+ Máy trục kiểu cầu: là máy trục có bộ phận mang tải trên cầu của xe con hoặcpalăng di chuyển theo yêu cầu chuyển động
Máy trục kiểu cầu gồm: cầu trục, nửa cổng trục
+ Máy trục kiểu đường cáp: là máy trục có bộ phận mang tải treo trên xe con dichuyển theo cáp cố định trên các trụ đỡ
Máy trục kiểu đường cáp gồm: máy trục cáp và cầu trục cáp
- Xe tời chạy trên đường ray ở trên cao
- Palăng là thiết bị nâng được treo vào kết cấu cố định hoặc treo vào xe con,palăng có dẫn động bằng điện gọi là palăng điện, palăng dẫn động bằng tay gọi
là palăng thủ công
- Tời là thiết bị nâng dùng để nâng, hạ và kéo tải Tời có thể hoạt động nhưmột thiết bị hoàn chỉnh riêng và có thể đống vai trò một bộ phận của thiết bịnâng phức tạp khác
- Máy nâng là máy có bộ phận mang tải được nâng, hạ theo khung hướngdẫn Máy nâng dùng nâng những vật có khối lượng lớn, cồng kềnh nên dễ gâynguy hiểm
Những sự cố, tai nạn thường xảy ra của thiết bị nâng
- Rơi tải trọng: chủ yếu do nâng quá tải, nang cần, móc buộc tải, do côngnhân lái khi nâng hoặc lúc quay tải bị vướng vào các vật xung quanh, phanh của
cơ cấu bị hỏng, má phanh mòn quá mức quy định, mô men phanh quá bé, dâycáp bị mòn hoặc bị đứt, mối nối cáp không đảm bảo…
Trang 35- Sập cần: là sự cố thường xảy ra và gây chết người, do nối cáp khôngđúng kỹ thuật, khoá cáp mất, hỏng phanh, do cầu quá tải ở tầm với xa nhầt làmđứt cáp
- Đổ cầu: do vùng đất làm việc không ổ định, đất bị lún hoặc mặt bằng cógóc nghiêng quá quy định Cầu quá tải hoặc bị vướng vào các vật xung quanh.Trường hợp dùng cầu để nhổ cây hay các kết cấu chôn dưới đất cũng dễ gâynguy hiểm đổ cầu
- Tai nạn về điện: tai nạn về điện có thể xảy ra trong các trường hợp sau: + Thiết bị điện chạm vỏ
+ Cần cẩu chạm vào đường dây mang điện hay bị phóng điện hồ quang do viphạm khoảng cách an toàn đối với điện cao áp
+ Thiế bị nâng đề lên dây cap mang điện
2.3.2 Các biện pháp kỹ thuật an toàn :
Yêu cầu an toàn với một số chi tiết, cơ cấu quan trọng của thiết bị nâng
* Cáp: cpá là chi tiết quan trọng trong bất kỳ loại máy trục nào Thiết bịnâng thường được sử dụng các loại cáp có khả năng chịu uốn tốt
- Chọn cáp:
+ Cáp sử dụng phải có khả năng chịu lực phù hợp tác dụng lên cáp
+ Có cấu tạo phù hợp với tính năng sử dụng
+ Cáp có đủ chiều dài cần thiết ĐỐi với cáp dùng để buộc thì phải đảm bảo bảogóc tạo thành giữa các nhánh cáp không lớn hơn 900
- Loại bỏ cáp: sau một thời gian sử dụng, cáp sẽ bị mòn do ma sát, gỉ và
bị gãy, đứt các sợi do bị cuốn vào tang và ròng rọc, hiện tượng đó phát triển dần
và đến một lúc nào đó thì cáp bị đứt hoàn toàn Ngoài ra cáp còn bị hỏng do thắtnút, bị kẹp… Do đó phải thường xuyên kiểm tra tình trạng dây cáp, căn cứ vàoquy định hiện hành để loại bỏ cáp không còn đủ tiêu chuẩn
Trang 36- Chọn xích: chọn xích phải có khả năng chịu lực phù hợp với lựctácdụng lên xích
- Loại bỏ xích: khi mắt xích đã mòn quá 10% kích thước ban đầu thìkhông được sử dụng nữa
* Tang và ròng rọc
- Tang: tang dùng cuộn xích hay cuộn cáp Yêu cầu của tang:
+Đảm bảo đường kính theo yêu cầu
+ Cấu tao tang phải đảm bảo yêu cầu làm việc
+ Tang phải loại bỏ khi rạn nứt
- Ròng rọc: dùng để thay đổi hướng chuyển động của cáp hay xích để làmlợi về lực hay tốc độ Yêu cầu cảu ròng rọc:
+ Đảm bảo đường kính buli theo yêu cầu
+ Cấu tạo phù hợp với chế độ làm việc
+ Ròng rọc phải loại bỏ khi rạn, nứt hay mòn quá 0,5 mm đường kính cáp
* Phanh:
Phanh được sử dụng ở tất cả các loại máy trục và hầu hết các cơ cấu củachúng Tác dụng của phanh là dùng để ngừng chuyển động của một cơ cấu nào
đó hoặc thay đổi tốc độ của nó
- Các loại phanh: theo nguyên tắc hoạt động , phanh chia làm hai loại:phanh thường đóng và phanh thường mở Phanh thường đóng là phanh luôn làmviệc trừ khi cơ cấu Phanh thường mở là loại phanh chỉ làm việc khi có tác độngcủa ngoại lực Theo cấu tạo, phanh được chia làm các loại: phanh má, phanh đai,phanh đĩa, phanh côn
- Chọn phanh: khi tính toán chọn phanh theo yêu cầu
- Loại bỏ phanh: phanh được loại bỏ trong các trường hợp sau:
+ Đối với má phanh phải loại bỏ khi mòn không đều, khi má phanhkhông mở đều, má mòn tới đinh vít giữa má phanh, bánh phanh bị mòn sâu qua1mm, phanh có vết rạn nứt, khi phanh làm việc má phanh chỉ tiếp xúc với bánhmột góc nhỏ hơn 80% góc quy định, độ hở của má phanh và bánh phanh lứonhơn 0,5mm khi đường kính bánh phanh 150-200 mm và lớn hơn 1-2mm khi
Trang 37đường kính bánh phanh là 300mm, bánh phanh bị mòn từ 30% độ dày ban đầutrở lên, độ dày má phanh mòn quá 50%
+ Đối với phanh đai, phải loại bỏ phanh khi có vết nứt ở đai phanh,khi độ hở giữa đai phanh và bánh nhỏ hơn 2mm và lớn hơn 4mm, khi bánhphanh bị mòn hơn 30% chiều dày ban đầu của thành bánh phanh, khi đai phanh
bị mòn quá 50% chiều dày ban đầu, khi phanh làm việc đai phanh chỉ tiếp xúcvới bánh phanh một góc nhỏ hơn 80% góc tính toán, khi phanh và bánh phanhmòn không đều
Yêu cầu đối với thiết bị an toàn trên máy
Để ngăn ngừa sự cố và tai nạn lao động trong quá trình sử dụng thiết bịnâng, thì mỗi thiết bị phải được trang bị một hệ thống an toàn phù hợp
- Danh mục các thiết bị an toàn cho thiết bị nâng gồm:
+ Thiết bị khống chế quá tải
+ Thiết bị hạn chế góc nâng cần
+ Thiết bị hạn chế hành trình xe con, máy trục
+ Thiết bị hạn chế góc quay
+ Thiết bị hạn chế máy trục di chuyển tự do
+ Thiết bị hạn chế độ cao nâng tải
+ Thiết bị đo góc nghiêng của mặt đáy trục đứng và báo hiệu khi góc nghiênglớn hơn góc nghiêng cho phép
+ Thiết bị báo hiệu máy trục đi vào vùng nguy hiểm của đường dây tải điện+ Thiết bị đo độ gió và tín hiệu thông báo bằng âm thanh và ánh sáng khi gió đạttới một tốc độ giới hạn quy định
+ Thiết bị chỉ tầm với và tải trọng cho phép tương ứng
2.3.3 Quản lý và thanh tra việc quản lý, sử dụng thiết bị nâng:
Quản lý thiết bị nâng
Thiết bị nâng là thiết bị có mức nguy hiểm cao, do đó việc quản lí phảichặt chẽ ngay từ khi chế tạo cho đến quá trình sử dụng và sữa chữa
Các thiết bị nâng như: các loại máy trục có trọng tải từ một tấn trở lên, xetời chạy ray ở trên cao, có buồng điều khiển có buồng điều khiển và có tải trọng
Trang 38từ một tấn trở lên, trước khi đưa vào sử dụng hoặc sau khi sửa chữa lớn phảiđược ban thanh tra an toàn lao động cấp tỉnh cấp đăng ký giấy phép sử dụng
Những thiết bị nâng không thuộc diện ban thanh tra an toàn lao động cấptỉnh đăng ký, do thủ trưởng đơn vị cấp giấy phép sử dụng
Nội dung công tác quản lí thiết bị nâng ở cơ sở gồm:
- Lập hồ sơ kỹ thuật từng thiết bị nhau:
+ Lí lich thiết bị nâng
+ Thuyết minh, hướng dẫn kỹ thuật lắp đặt, bảo quản và sử dụng an toàn
- Tổ chức bảo dưỡng và sữa chữa định kỳ
- Tổ chức khám nghiệm thiết bị nâng
Thanh tra việc quản lí, sử dụng thiết bị nâng
Bao gồm:
- Nghe báo cáo về:
+ Nắm được số looking, chủng loại, thiết bị nâng
+ Tình hình đăng ký, khàm nghiệm thiết bị nâng
+ Tình trạng kỹ thuật cảu thiết bị nâng
+ Tình hình bảo dưỡng và sữa chữa định kỳ
+ tình hình sự cố và tai nạn thiết bị nâng
- Kiểm tra hồ sơ tài liệu:
+ Các văn bản về phân công trách nhiệm
+ Các hồ sơ lí lịch
+ Sổ giao ca
+ Tài liệu về huán luyên công nhân
+ Sổ liệt kê các bộ phận mang tải
+ Các biên bản nghiệm thu
- Kiểm tra thực tế hiện trường
+ Vị trí lắp đặt thiết bị nâng
+ Tình trạng kỹ thuật
+ Trình độ thợ
Trang 39+ Các biện pháp an toàn
2.4 Kỹ thuật an toàn với các thiết bị chịu áp lực
2.4.1 Một số khái niệm cơ bản
Thiết bị chịu áp lực
Thiết bị chịu áp lực là các thiết bị dùng để tiến hành các quá trình nhiệt học,hoá học, sinh học, cũng như để bảo quản và vận chuyển các môi chất ở trạngthái có áp suất như khí nén, khí hoá lỏng và các chất lỏng khác Thiết bị chịu áplựcgồm nhiều loại khác nhau và có tên gọi riêng( ví dụ: nồi hơi, máy nén khí,máy lạnh, chai, bình sinh khí axêtylen, thùng chứa, bình hấp…) Chúng có thể lànhững thiết bị đơn chiếc và trọn bộ, cũng có thể là những tổ hợp thiết bị( nồ hơinhà máy nhiệt điện, nồi hơi công nghiệp, thiết bị sản xuất và nạp ôxy, hệ thốnglạnh…)
Nồi hơi
Nồi hơi là một thiết bị chịu áp lực Nó là một thiết bị( hoặc tổ hợp thiết bị)dùng để thu nhận hơi có áp suất lớn hơn áp suất khí quyển để phục vị các mụcđích khác nhau nhờ năng lượng được tạo ra do đốt nhiên trong các buồng đốt
Cháy,nổ
-Định nghĩa :cháy là phản ứng ô xi hoá khử toả nhiệt và kèm theo hiệntượng phát sáng ( theoTCVN3255-89)
Nổ hoá học là phản ứng ô xi hoá khử toả nhiệt rất nhanh ,kèm theo khí nén
có khả năng sinh công (theo TCVN3255-86)
-Điều kiện cần và đủ để cháy và nổ có thể xảy ra :
Cháy và nổ muốn xảy ra đều phải có điều kiện cần và đủ là :phải có môitrường nguy hiểm cháy (nổ) và nguồn cháy(kích nổ).Để cháy (nổ)có thể xảy rađều phảicó đủ cả hai yếu tố (Nếu thiếu một trong hai yếu tố đó thi không thểxảy ra cháy, nổ)
Môi trường nguy hiểm cháy chính là hỗn hợp giữa chất cháy và chất ô xihoá (chất cháy có thể là hơi ,bụi ,khí ), ở phạm vi nồng độ giói hạn nhất định,với mỗi loại chất khác nhau thì giải nồng độ nguy hiểm là khác nhau
Nguồn gây cháy (kích nổ )là các dạng năng lượng khác nhau với một giá trịnhất định đủ khả năng gây cháy (kích nổ) như năng lượng nhiệt (của ngọn lửa
Trang 40trần, tia lửa do ma sát va đập, bức xạ Mặt Tròi …), năng lượng điện từ, sinhhọc …
Cách phân loại các thiết bị chịu áp lực
Trên quan điểm an toàn ,người ta phân các thiết bị áp lực ra thành các loại :
-Đối với thiết bị ô xi :
Loại hạ áp có áp suất làm việc của môi chất lên tới 16 at Loại trung áp có áp suất làm việc của môi chất từ 16:-64 at Loại cao áp có áp suất làm việc của môi chất lớn hơn 64 at
2.4.2.Những yếu tố nguy hiểm đặc trưng của thiết bị áp lực
Nguy cơ nổ
Thiết bị chịu áp lực làm việc trong điều kiện môi chất chứa trong đó có ápsuất khác với áp suất khí quyển (lớn hơn-áp suất dương,nhỏ hơn –áp suấtâm(chân không ),do đó giữa chúng (môi chất công tác và không khí bên ngoài )luôn luôn có xu hướng cân bằng áp suất , kèm theo sự giải phóng năng lượngkhi điều kiện cho phép (độ bền của thiết bị không đảm bảo do những nguyênnhân khác nhau).Chẳng hạn như :phạm vi điều kiện vận hành ,bảo quản, do sựcố…thì sự giải phóng năng lượng để cân bằng áp suất diễn ra dưới dạng các vụnổ.Hiện tượng nổ thiết bị áp lực có thể đơn thuần là nổ vật lí , nhưng cũng cókhi là sự kết hợp giữa hai hiện tượng nổ xảy ra liên tiếp đó là nổ hoá học và vậtlí