Trong quá trình giảng dạy, người thầy luôn phải đặt ra cái đích đó là giúphọc sinh nắm được kiến thức cơ bản, hình thành phương pháp, kĩ năng, kĩ xảo, tạothái độ và động cơ học tập đúng
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HÒA BÌNH
TRƯỜNG THPT KIM BÔI
Nguyễn Thị Mai
ĐỀ TÀI
“DẠY HỌC PHÂN HÓA TRONG MÔN VẬT LÍ”
KIM BÔI 2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Trong
đề tài này không có sự sao chép một cách bất hợp pháp từ các đề tài, luận văn hoặccông trình nghiên cứu khoa học của người khác Mọi trích dẫn trực tiếp hoặc giántiếp từ các nguồn tư liệu đều được ghi nhận trong các chú thích tham khảo và phầntài liệu tham khảo
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước hết cho tôi gửi lời cảm ơn chân thành tới ban giám hiệu trường trunghọc phổ thông Kim Bôi, sở giáo dục đào tạo Hòa Bình đã tạo cơ hội cho tôi thamgia nghiên cứu đề tài
Tôi xin cảm ơn tất cả đồng nghiệp trường trung học phổ thông Kim Bôi, bạn
bè, người thân đã động viên và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài
Tôi xin trân trọng cảm ơn hội đồng khoa học đã quan tâm đến đề tài Tôi xintiếp thu tất cả các ý kiến nhận xét, góp ý của các đồng chí, bạn bè để đề tài nàyđược hoàn thiện hơn và tôi cũng có thêm kiến thức, kinh nghiệm
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 4MỤC LỤC
Trang 5PHẦN THỨ NHẤT ĐẶT VẤN ĐỀ
Mỗi môn học trong chương trình trung học phổ thông đều có vai trò rất quantrọng trong việc hình thành và phát triển tư duy của học sinh
Trong quá trình giảng dạy, người thầy luôn phải đặt ra cái đích đó là giúphọc sinh nắm được kiến thức cơ bản, hình thành phương pháp, kĩ năng, kĩ xảo, tạothái độ và động cơ học tập đúng đắn để học sinh có khả năng tiếp cận và chiếmlĩnh những nội dung kiến thức mới theo xu thế phát triển của thời đại
Môn Vật lý là môn khoa học nghiên cứu những sự vật, hiện tượng xảy ra
hàng ngày, có tính ứng dụng thực tiễn cao, cần vận dụng những kiến thức toán học.Học sinh phải có một thái độ học tập nghiêm túc, có tư duy sáng tạo về những vấn
đề mới nảy sinh để tìm ra hướng giải quyết phù hợp
Một trong những giải pháp sư phạm nhằm giúp học sinh hình thành những
cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn, lâu dài về mọi mặt và tạo mọi cơ hội để
phát triển năng lực tiềm tàng bản thân là dạy học phân hóa
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trang 6Dạy học phân hoá là một quan điểm dạy học tập trung vào việc thiết kế giảng dạy xuất phát từ tình hình thực tế của học sinh, dựa vào đặc điểm cá nhân, tâm lí, sinh lí, nhu cầu, động cơ, hứng thú, nguyện vọng, điều kiện hoàn cảnh củacác em mà tìm cách dạy cho phù hợp, giúp cho mọi học sinh đều có cơ hội phát triển toàn diện năng lực tiềm tàng của bản thân.
Đặc thù của dạy học phân hóa là dạy sao cho vừa sức với đối tượng: Học sinh ở mức độ khá, giỏi thì dạy sao cho các em hứng thú, đam mê với việc học; Đối với học sinh trung bình thì tạo động lực để các em vươn lên; Với học sinh yếu,kém thì phải bù đắp được chỗ hổng về kiến thức để lĩnh hội được kiến thức cơ bản.Như vậy, dạy học phân hóa xuyên suốt và chi phối mọi phương pháp dạy học Dạy học phân hóa là dạy theo từng loại đối tượng, phù hợp với tâm sinh lý, khả năng, nhu cầu và hứng thú của người học nhằm phát triển tối đa tiềm năng riêng vốn có
2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
Đưa ra kiến thức về dạy học phân hóa và áp dụng vào một số đơn vị kiến thức cụ thể của môn vật lí từ đó nâng cao hiệu quả học tập cho học sinh
Áp dụng đề tài giúp người giáo viên gần gũi, thân thiện hơn với học sinh, rútgọn khoảng cách giữa thầy – trò
Hưởng ứng phong trào của bộ giáo dục và đào tạo xây dựng “ Nhà trường thân thiện, học sinh tích cực”
Trang 7
PHẦN THỨ HAI NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
Trong những năm gần đây, ngành GD- ĐT đã có nhiều chủ trương đẩy mạnhhoạt động giáo dục bằng nhiều hình thức với nhiều biện pháp, giải pháp nhằm nângcao hiệu quả trong đó tổ chức dạy học phân hóa theo năng lực học tập của học sinh
là một vấn đề đang được dư luận xã hội đặc biệt quan tâm
Tuy nhiên ngoài việc thực hiện nhuần nhiễn các phương pháp thì người dạycần phải căn cứ theo trình độ mà nêu những yêu cầu sát hợp trong việc thực hiệnchương trình, soạn giáo án và hệ thống bài tập Mỗi bài giảng cần có những phầnthích ứng với từng đối tượng học sinh: giỏi, khá, trung bình, yếu Có thang bậcđánh giá, cho điểm cụ thể cho từng loại đối tượng, căn cứ vào mức khởi điểm Vìnếu áp dụng theo một công thức chung cho cả lớp sẽ không thấy được nỗ lực củanhững em yếu kém và không tạo động lực cho những em khá, giỏi Vô hình chung
sự đánh giá đồng loạt là không công bằng
Quán triệt đường lối trên, hiện nay, ở các trường phổ thông đã có những thayđổi cơ bản về phương pháp giảng dạy, tùy theo đặc thù của môn học, điều kiện cụthể của từng trường và kinh nghiệm của từng cá nhân “Dạy học chú ý sự khác biệt
cá nhân” một phương pháp giáo dục tiến bộ, tôn trọng độc lập tư duy, khơi gợisáng tạo, ươm mầm cho từng cá nhân phát triển Không máy móc nào có thể thaythế được người thầy với tình cảm cao đẹp tâm hồn phong phú, nhân cách hướngthiện và sự nhạy cảm với từng cá nhân học sinh
Trang 8CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ 2.1 Thuận lợi
- Đội ngũ giáo viên trẻ, năng động, nhiệt tình, luôn chủ động, tích cực trongbồi dưỡng kĩ năng và phương pháp dạy học
- Ban giám hiệu có tầm nhìn, định hướng trong vấn đề giáo dục, tạo điềukiện thuận lợi cho các giáo viên học tập, rèn luyện chuyên môn
- Cơ sở vật chất đáp ứng được cho việc áp dụng công nghệ thông tin tronggiảng dạy
- Bộ giáo dục đào tạo phát động phong trào ‘Trường học thân thiện, học sinhtích cực”
2.2 Khó khăn
- Giáo viên chưa thống nhất được cách tổ chức tiết học theo hình thức dạyphân hoá đối tượng học sinh Hệ thống bài tập, câu hỏi đưa ra cho học sinh chưa cótác dụng phát huy khả năng của học sinh (có khi quá khó, hoặc quá dễ)
- Trong cùng một thời gian ngắn (45 phút trên lớp) phải dạy 3 trình độ họcsinh : khá giỏi, trung bình , yếu kém nên chất lượng chưa cao
- Ý thức của một bộ phận học sinh còn yếu, chưa chú ý đến việc học, các emcòn hay nói chuyện riêng Một số em cảm thấy mỏi mệt khi tham gia học tập, đặcbiệt là học sinh yếu - kém
- Một số phụ huynh chưa thực sự quan tâm đến việc học của con em mình
- Khả năng tư duy sáng tạo của các em còn nhiều hạn chế
Trang 9CHƯƠNG 3 CÁC BIỆN PHÁP CỤ THỂ 3.1 Các hình thức của dạy học phân hóa
3.1.1 Phân hoá theo hứng thú
Căn cứ vào đặc điểm hứng thú học tập của học sinh để tổ chức cho học sinhtìm hiểu khám phá nhận thức
Biện pháp: Phân nhóm theo cường độ hứng thú mạnh, trung bình, thấp vàdựa vào cường độ này mà giáo viên có thể giao các nhiệm vụ cho nhóm Nhóm cócường độ mạnh thì có nhiệm vụ tìm tòi và độc lập sáng tạo, nhóm có cường độthấp thì có nhiệm vụ làm theo mẫu
VD: Tiết 55 - Lăng kính
Giáo viên giao nhiệm vụ về nhà cho 4 nhóm chuẩn bị báo
Giáo viên chia lớp thành 4 nhóm theo cường độ hứng thú của học sinh (saumột thời gian dạy và tiếp xúc học sinh)
- Nhóm 1 (cường độ hứng thú yếu): Nêu cấu tạo của lăng kính, chỉ rõ cácphần tử của lăng kính? Vẽ đường truyền tia sáng qua lăng kính (giống sgk), mô tảtrên hình vẽ?
- Nhóm 2 (cường độ hứng thú trung bình): Viết 4 công thức lăng kính vàchứng minh?
- Nhóm 3 (cường độ hứng thú mạnh): Tìm hiểu công dụng của lăng kínhtrong cuộc sống?
→ Sản phẩm trình bày của 3 nhóm - Lớp 11A1 – Trường THPT Kim Bôi
(Báo cáo bằng giấy bản to hoặc trình chiếu powerpoint)
Trang 10Các phần tử của lăng kính: cạnh, đáy, hai mặt bên.
Về phương diện quang học, một lăng kính được đặc trưng bởi:
+ Góc chiết quang A
+ Chiết suất n
ĐƯỜNG TRUYỀN CỦA TIA SÁNG QUA LĂNG KÍNH
Trang 11
NHÓM 2
CÁC CÔNG THỨC LĂNG KÍNH
Áp dụng định luật khúc xạ ánh sáng và một số định lí hình học về góc, tathiết lập được các công thức lăng kính sau đây:
Trang 12NHÓM 3
CÔNG DỤNG CỦA LĂNG KÍNH
Hiện tượng tán sắc ánh sáng
Máy quang phổ lăng kính
→ Là dụng cụ quang học có tác dụng phân tách chùm sáng phức tạp thành cácthành phần đơn sắc dựa trên hiện tượng tán sắc ánh sáng
Trang 13Mặt cắt của kính thiên văn có sử dụng lăng kínhphản xạ toàn phần
Máy ảnh sử dụng lăng kính phản xạ toàn phần để tạo ảnh thuận chiều
Trang 143.1.2 Phân hoá theo sự nhận thức
Lấy sự phân biệt nhịp độ lĩnh hội làm căn cứ phân hoá Nhịp độ đượctính bằng lượng thời gian chuyển từ hoạt động này sang hoạt động khác, từ nhiệm
vụ này sang nhiệm vụ khác
Lớp học có rất nhiều nhịp độ, nhưng chỉ có thể phân hoá theo một số nhómđiển hình Chẳng hạn, nhóm có nhịp độ nhận thức nhanh, nhóm có nhịp độ nhậnthức trung bình, nhóm có nhịp độ nhận thức chậm Tương ứng với từng nhóm lại
có các nhiệm vụ nhận thức các phương pháp biện pháp khác nhau
Khi giáo viên đã có cơ hội làm việc với lớp nhiều lần, phải ghi chú nhịp độnày ở từng học sinh, phân thành từng nhóm nhanh chậm khác nhau để có thực hiệnquá trình dạy học cho vừa sức từng nhóm, tránh tình trạng những học sinh nhịp độtiếp nhận nhanh phải chờ đợi, học sinh chậm cảm thấy giáo viên lướt nhanh vấnđề
VD Giáo viên hướng dẫn học sinh giải bài tập áp dụng kiến thức về từ trường của nhiều dòng điện.
Đề bài: Hai dòng điện I1 = 3A, I2 = 2A chạy trong hai dây dẫn thẳng dài,song song cách nhau 50cm theo cùng một chiều Xác định véc tơ cảm ứng từ tạiđiểm M nằm trong mặt chứa hai dây dẫn và cách dòng I1 30cm, cách dòng I2 20cm
Hướng dẫn:
Bước 1 Tính cảm ứng từ tại M do từng dòng điện gây ra B1, B2?
Bước 2 Vẽ hình biểu diễn ⃗B1, ⃗B2,⃗ B M
Bước 3 Căn cứ vào hình vẽ tính được BM, kết luận
→ Nhận xét
+ Các nhóm có nhịp độ nhận thức khác nhau đều dễ tiếp cận bước 1 khi
giáo viên hướng dẫn
Nhóm có nhịp độ nhận thức chậm: biết cách sử dụng công thức thay số ra
kết quả với những sai sót thường thấy như đơn vị quên đổi, đổi sai, kĩ năng bấm
Trang 15máy tính còn hạn chế Do đó giáo viên nên chú ý những lỗi sai mà học sinh có thểxảy ra hoặc sự chú ý này có thể nhấn mạnh qua việc đặt câu hỏi đối với học sinh cónhận thức trung bình hoặc nhận thức nhanh, để tránh sự nhàm chán do chờ đợi đốivới hai nhóm này.
Nhóm có nhịp độ nhận thức trung bình: hoàn thành tốt bước 1 Bước 2 và
3 nắm được cơ bản vấn đề tuy nhiên việc xác định chiều của ba véc tơ ⃗B1, ⃗B2,⃗ B M
chưa nhuần nhuyễn?
Nhóm có nhịp độ nhận thức nhanh: hiểu và hoàn thành tốt 3 bước giáo
viên hướng dẫn Tuy nhiên để tránh tình trạng nhóm này không tập trung khi đãlàm xong bài tập, giáo viên nên giao thêm nhiệm vụ cho nhóm: làm lại bài toánnếu hai dòng điện ngược chiều để khắc sâu kiến thức, đồng thời dãn thời gian chohai nhóm còn lại kịp tư duy và hiểu vấn đề
3.1.3 Phân hoá giờ học theo sức học
Căn cứ vào trình độ học lực có thực của học sinh để tổ chức những hoạtđộng, những tác động sư phạm phù hợp với học sinh
Dựa trên các trình độ giỏi, khá, trung bình, yếu mà giáo viên giao cho họcsinh những nhiệm vụ tương ứng
VD: Xây dựng phiếu học tiết 3 - Bài tập – Chương I: Dao động cơ
PHIẾU HỌC TẬP SỐ 01
Câu 1: Đối với dao động tuần hoàn, khoảng thời gian ngắn nhất mà sau đó trạng thái
dao động của vật được lặp lại như cũ được gọi là:
A tần số dao động B chu kì dao động.
C chu kì riêng của dao động D tần số riêng của dao động.
Câu 2: Chọn kết luận đúng khi nói về dao động điều hoà cuả con lắc lò
xo:
A Vận tốc tỉ lệ thuận với thời gian B Gia tốc tỉ lệ thuận với thời gian.
Trang 16Câu 3: Chọn phát biểu sai khi nói về dao động điều hoà:
A Vận tốc luôn trễ pha π /2 so với gia tốc.
B Gia tốc sớm pha π so với li độ.
C Vận tốc và gia tốc luôn ngược pha nhau.
D Vận tốc luôn sớm pha π /2 so với li độ.
Câu 4: Phương trình dao động của vật có dạng x = -Asin( ω t) Pha ban đầu của dao động là:
Câu 5: Một vật dao động điều hoà có quỹ đạo là một đoạn thẳng dài 10cm Biên độ dao
động của vật là
Câu 6: Một vật dao động điều hoà đi được quãng đường 16cm trong một chu kì dao
động Biên độ dao động của vật là:
Trang 17PHIẾU HỌC TẬP SỐ 02
Câu 1: Đồ thị biểu diễn sự biến thiên của vận tốc theo li độ trong dao động điều hoà có
dạng là
A đường parabol B đường tròn C đường elip D đường hypebol.
Câu 2: Một vật dao động điều hoà với tần số góc ω = 5rad/s Lúc t = 0, vật đi qua vị trí có li độ là x = -2cm và có vận tốc 10(cm/s) hướng về phía vị trí biên gần nhất Phương trình dao động của vật là
)(cm) D x = 2 √2 cos(5t +
Câu 4: Vận tốc của một vật dao động điều hoà khi đi quan vị trí cân bằng là 1cm/s và
gia tốc của vật khi ở vị trí biên là 1,57cm/s 2 Chu kì dao động của vật là
Câu 5: Vật dao động điều hoà theo phương trình x = 5cos(10 π t+ π )(cm) Thời gian vật đi được quãng đường S = 12,5cm kể từ thời điểm ban đầu t = 0 là:
A 1/15s B 2/15s C 1/30s D 1/12s.
Câu 6: Một vật dao động điều hoà theo phương trình x = 10cos( 10πt )(cm) Thời
điểm vật đi qua vị trí N có li độ x N = 5cm lần thứ 1000 theo chiều âm là:
→Nhận xét
- Các lớp từ A3 đến A9 (chủ yếu lực học bộ môn là trung bình, yếu) + Sử dụng phiếu học tập số 01
+ Học lực yếu, chú trọng 6 câu đầu với mục tiêu: nắm vững những lí thuyết
cơ bản và vận dụng theo lối mòn, không cần tính toán (vì kĩ năng này rất hạn chế)
- Các lớp A1, A2 (lực học bộ môn là trung bình, khá, giỏi)
+ Sử dụng hai phiếu học tập số 01 và 02
+ Học lực trung bình: ưu tiên tập trung phiếu học tập số 01
Trang 18+ Học lực khá, giỏi: nắm chắc kiến thức triển khai ở phiếu học tập số 01, ưutiên tập trung phiếu học tập số 02.
Ở hoạt động này, giáo viên giao cho học sinh những nhiệm vụ đã được phânhóa (thường thể hiện qua các phiếu học tập tại lớp) như:
Phân hoá về số lượng bài tập cùng loại phù hợp với từng loại đối tượng để
cùng đạt một yêu cầu (đáp ứng chuẩn kiến thức kĩ năng)
Phân hoá về nội dung bài tập… để tránh đòi hỏi quá cao đối với học sinh
yếu kém và quá thấp đối với học sinh giỏi
Phân hoá yêu cầu về tính độc lập, bài tập cho đối tượng yếu kém chứa nhiềuyếu tố dẫn dắt hơn đối tượng khá giỏi
Phân hoá bài tập về nhà: Ra riêng những bài tập nhằm tạo tiền đề xuất
phát cho đối tượng yếu kém để chuẩn bị cho bài học sau Đồng thời ra riêng nhữngbài tập nâng cao cho đối tượng học sinh giỏi để xây dựng mũi nhọn học tập tronglớp học
Qua đó người học rèn luyện ý thức tự lực, ý thức trách nhiệm với kết quảhọc tập của mình
3.1.4 Phân hoá giờ học theo động cơ, lợi ích học tập của học sinh
- Chọn các tác động dạy học giúp học sinh thấy lợi ích của việc học mà chủđộng tích cực học tập
- Với học sinh có nhu cầu tìm tòi, hiểu biết cao cần xác định nhiệm vụ họctập cao hơn và đưa thêm nhiều nội dung, tài liệu học tập cho học sinh tự học Vớinhóm học sinh có nhu cầu học tập không cao thì việc phân hoá dạy học phải chú ýđến nhiệm vụ, nội dung cơ bản và bổ sung những vấn đề thực tế giúp học sinh hàohứng học tập
VD 1 Bài “Thấu kính mỏng” – vật lí 11
- Các lớp từ A3 đến A9
+ Chú trọng:
Trang 19Phân loại thấu kính
Tính chất tạo ảnh qua thấu kính
Bài toán xác định vị trí ảnh d '
= d f d−f , tính chất, chiều, độ lớn, vẽ hình quaTKHT
+ Phát triển: Vẽ hình qua TKPK
- Các lớp A1, A2:
+ Chú trọng:
Phân loại thấu kính
Tính chất tạo ảnh qua thấu kính
Bài toán xác định vị trí ảnh d '
= d f d−f , tính chất, chiều, độ lớn, vẽ hình củamột vật thật qua TKHT, TKPK
+ Phát triển: Bài toán về sự dịch chuyển vật, ảnh, xác định tiêu cự
thấu kính
→ Động cơ
+ Các lớp từ A3 đến A9: sử dụng cho các bài kiểm tra 15 phút, 1 tiết,
kiểm tra học kì 2, thi THPT QG
+ Các lớp A1, A2: sử dụng cho các bài kiểm tra 15 phút, 1 tiết, kiểm
tra học kì 2, thi THPT QG, hsg tỉnh
VD2 Mục IV “ Các tật của mắt và cách khắc phục ” - Bài “ Mắt ” – Vật lí 11
- Nhóm học sinh có nhu cầu học tập cao:
+ Tập trung đặc điểm, cách khắc phục của mắt cận, mắt viễn, mắt lão
+ Làm một số bài tập về mắt có tật đeo kính
- Nhóm học sinh có nhu cầu học tập không cao:
+ Tập trung đặc điểm, cách khắc phục của mắt cận, mắt viễn, mắt lão