ii LỜI CẢM ƠN Luận văn thạc sĩ Khoa học Môi trường với đề tài “Xây dựng tiêu chí phù hợp điều kiện môi trường cho dự án thủy điện và áp dụng với các thủy điện trên dòng chính sông Mã, t
Trang 1i
LỜI CAM ĐOAN
Học viên xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân học viên Các kết quả nghiên cứu và các kết luận trong luận văn là trung thực, không sao chép từ bất kỳ một nguồn nào và dưới bất kỳ hình thức nào Việc tham khảo các nguồn tài liệu (nếu có) đã được thực hiện trích dẫn và ghi nguồn tài liệu tham khảo đúng quy định
Tác giả luận văn
Lưu Văn Huyên
Trang 2ii
LỜI CẢM ƠN
Luận văn thạc sĩ Khoa học Môi trường với đề tài “Xây dựng tiêu chí phù hợp điều kiện môi trường cho dự án thủy điện và áp dụng với các thủy điện trên dòng chính sông Mã, tỉnh Thanh Hóa” được hoàn thành dựa trên những kiến thức cơ bản mà học
viên đã tiếp thu được từ các Thầy cô qua khóa học đào tạo trình độ Thạc sỹ, sự hướng dẫn nhiệt tâm của Thầy giáo PGS.TS Nguyễn Văn Thắng và những kinh nghiệm thực tiễn, sự hiểu biết của học viên trong 15 năm công tác tại Công ty Cổ phần Tư vấn Xây dựng điện 1 (PECC1) - đơn vị Tư vấn hàng đầu Đông Nam Á về lĩnh vực thủy điện Học viên xin được chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu nhà trường, Ban lãnh đạo khoa Môi trường - ĐHTL đã tạo mọi điều kiện về cơ sở vật chất, thời gian và đội ngũ giảng viên chất lượng cao, giàu kinh nghiệm để học viên có được môi trường học tập tốt nhất
Học viên xin được cảm ơn các Thầy cô đã trực tiếp giảng dạy, truyền đạt cho học viên những kiến thức, kinh nghiệm quý báu để học viên không chỉ hoàn thành khóa học, hoàn thành luận văn mà còn là nền tảng, là hành trang quý báu theo suốt học viên trong công việc chuyên môn
Đặc biệt, học viên xin được tỏ lòng kính trọng, biết ơn sâu sắc đến Thầy giáo PGS.TS Nguyễn Văn Thắng, người đã trực tiếp giảng dạy và giới thiệu học viên vào Đảng thời còn là sinh viên, nay lại tiếp tục giảng dạy và hướng dẫn học viên hoàn thành luận văn này
Qua đây, học viên cũng xin được chân thành cảm ơn Lãnh đạo đơn vị công tác và đồng nghiệp đã giúp đỡ học viên trong quá trình công tác, học tập và thực hiện Luận văn
Tác giả luận văn
Lưu Văn Huyên
Trang 3iii
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NHỮNG NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ PHÁT TRIỂN THỦY ĐIỆN Ở VIỆT NAM VÀ GIỚI THIỆU HỆ THỐNG THỦY ĐIỆN TRÊN DÒNG CHÍNH SÔNG MÃ 5
1.1 Tình hình phát triển thủy điện ở Việt Nam và trên dòng chính sông Mã 5
1.1.1 Tình hình phát triển thủy điện ở Việt Nam 5
1.1.2 Tình hình phát triển thủy điện trên dòng chính sông Mã 7
1.2 Nhận biết các tác động tiêu cực của công trình thủy điện đến môi trường của lưu vực sông [6] 10
1.2.1 Khu vực thượng lưu và lòng hồ 10
1.2.2 Khu vực hạ lưu đập 12
1.3 Tổng quan về những nghiên cứu, đánh giá tác động đến môi trường của dự án thủy điện trên thế giới, tại Việt Nam và trên lưu vực sông Mã 13
1.3.1 Trên thế giới 13
1.3.2 Tại Việt Nam 15
1.3.3 Trên lưu vực sông Mã 17
1.4 Giới thiệu khu vực nghiên cứu lưu vực sông Mã 17
1.4.1 Lưu vực và mạng lưới sông suối 17
1.4.2 Đặc điểm khí tượng thủy văn 18
1.5 Nội dung nghiên cứu của luận văn 20
1.6 Kết luận chương 1 21
CHƯƠNG 2 NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT BỘ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ THỦY ĐIỆN PHÙ HỢP VỚI MÔI TRƯỜNG 22
2.1 Giới thiệu chung 22
2.2 Cơ sở để xây dựng và lựa chọn các tiêu chí 23
2.3 Nguyên tắc để lựa chọn tiêu chí/bộ tiêu chí 23
2.3.1 Với tiêu chí riêng biệt 23
2.3.2 Với bộ tiêu chí 23
2.4 Phân tích lựa chọn các tiêu chí đánh giá dự án thủy điện 24
2.4.1 Nhóm 1 - Các tiêu chí đánh giá sự phù hợp 25
2.4.2 Nhóm 2 - Các tiêu chí đánh giá hiệu quả 29
2.4.3 Nhóm 3 - Các tiêu chí đánh giá tác động đến môi trường tự nhiên và hệ sinh thái 31 2.4.4 Nhóm 4 - Tác động tới môi trường xã hội 36
2.5 Kết luận chương 2 38
Trang 4iv
CHƯƠNG 3 SỬ DỤNG BỘ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ SỰ PHÙ HỢP VỚI MÔI TRƯỜNG CÁC DỰ ÁN THỦY ĐIỆN TRÊN DÒNG CHÍNH SÔNG MÃ VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHÁT TRIỂN THỦY ĐIỆN TRÊN
LƯU VỰC SÔNG 39
3.1 Giới thiệu quá trình phát triển các dự án thủy điện trên dòng chính sông Mã 39
3.1.1 Quy hoạch thủy điện trên dòng chính sông Mã 39
3.1.2 Hiện trạng các công trình thủy điện trên dòng chính sông Mã 41
3.2 Sử dụng bộ tiêu chí đánh giá sự phù hợp với môi trường các DA thủy điện trên dòng chính sông Mã 54
3.2.1 Đánh giá các tiêu chí theo các cấp độ phù hợp 54
3.2.2 Đánh giá các tiêu chí theo các cấp độ hiệu qủa 57
3.2.3 Đánh giá các tiêu chí theo các cấp độ giá tác động đến môi trường tự nhiên và hệ sinh thái 58
3.2.4 Đánh giá theo nhóm tiêu chí 4 - Tác động tới môi trường xã hội 63
3.2.5 Tổng hợp phân tích đánh giá cho các DA thủy điện trên dòng chính 64
3.2.6 So sánh các dự án TĐ trên toàn hệ thống 69
3.3 Đề xuất ý kiến kiến nâng cao hiệu quả phát triển thủy điện lưu vực sông 70
3.3.1 Với lưu vực sông nói chung 70
3.3.2 Đối với các công trình trên dòng chính sông Mã: 71
3.4 Kết luận chương 3 73
KẾT LUẬN 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
Trang 5v
DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH
Hình 1-1 Cơ cấu loại hình nguồn điện Việt Nam tính đến 31/12/2015 1
Hình 1-1 Số lượng dự án thủy điện xây dựng của một số lưu vực sông lớn 6
Hình 1-2 Sơ đồ hệ thống công trình khai thác, sử dụng nước trên dòng chính sông Mã 7 Hình 1-3 Sơ đồ bậc thang thủy điện trên dòng chính sông Mã 9
Hình 1-4 Sơ đồ mạng lưới lưu vực sông Mã 18
Hình 3-1 Sơ đồ hệ thống công trình khai thác, sử dụng nước trên dòng chính sông Mã 41
Hình 3-2 Sơ đồ hệ thống thủy điện trên dòng chính sông Mã (sơ đồ thẳng) 42
Hình 3-3 Sơ đồ bậc thang thủy điện trên dòng chính sông Mã đoạn qua tỉnh Thanh Hóa 43
Hình 3-4 Hình ảnh thủy điện Trung Sơn 45
Hình 3-5 Hình ảnh thủy điện Thành Sơn 46
Hình 3-6 Hình ảnh thủy điện Hồi Xuân 48
Hình 3-7 Hình ảnh thủy điện Bá Thước 1 49
Hình 3-8 Hình ảnh thủy điện Bá Thước 2 51
Hình 3-9 Hình ảnh thủy điện Cẩm Thủy 1 52
Hình 3-10 Biểu đồ điểm đánh giá các thủy điện theo Nhóm 1 - Đánh giá sự phù hợp 65 Hình 3-11 Biểu đồ điểm đánh giá các thủy điện theo Nhóm 2 - Đánh giá hiệu quả 66
Hình 3-12 Biểu đồ điểm đánh giá các thủy điện theo Nhóm 3 - Tác động đến môi trường tự nhiên và hệ sinh thái 67
Hình 3-13 Biểu đồ điểm đánh giá các thủy điện theo Nhóm 4 - Tác động đến môi trường xã hội 68
Hình 3-14 Biểu đồ điểm đánh theo từng nhóm và điểm tổng hợp 69
Trang 6vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1-1Tiềm năng phát triển thủy điện ở Việt Nam 5
Bảng 2-1 Thang điểm đánh giá theo tiêu chí 1 26
Bảng 2-2 Thang điểm đánh giá theo tiêu chí 2 27
Bảng 2-3 Thang điểm đánh giá theo tiêu chí 3 29
Bảng 2-4 Thang điểm đánh giá theo tiêu chí 4 30
Bảng 2-5 Thang điểm đánh giá theo tiêu chí 5 31
Bảng 2-6 Thang điểm đánh giá theo tiêu chí 6 33
Bảng 2-7 Thang điểm đánh giá theo tiêu chí 7 34
Bảng 2-8 Thang điểm đánh giá theo tiêu chí 8 35
Bảng 2-9 Thang điểm đánh giá theo tiêu chí 9 36
Bảng 2-10 Thang điểm đánh giá theo tiêu chí 10 37
Bảng 3-1Thông số chính của các thủy điện trên dòng chính sông Mã 40
Bảng 3-2 Các thông số chính của dự án thủy điện Trung Sơn 44
Bảng 3-3 Các thông số chính của dự án thủy điện Thành Sơn 46
Bảng 3-4 Các thông số chính của dự án thủy điện Hồi Xuân 47
Bảng 3-5 Các thông số chính của dự án thủy điện Bá Thước 1 48
Bảng 3-6 Các thông số chính của dự án thủy điện Bá Thước 2 50
Bảng 3-7 Các thông số chính của dự án thủy điện Cẩm Thủy 1 51
Bảng 3-8 Các thông số chính của dự án thủy điện Cẩm Thủy 2 53
Bảng 3-9 Điểm đánh giá theo tiêu chí 1 55
Bảng 3-10 Điểm đánh giá theo tiêu chí 2 55
Bảng 3-11 Điểm đánh giá theo tiêu chí 3 56
Bảng 3-12 Điểm đánh giá theo tiêu chí 4 57
Bảng 3-13 Điểm đánh giá theo tiêu chí 5 58
Bảng 3-14 Điểm đánh giá theo tiêu chí 6 58
Bảng 3-15 Điểm đánh giá theo tiêu chí 7 59
Bảng 3-16 Điểm đánh giá theo tiêu chí 8 61
Bảng 3-17 Điểm đánh giá theo tiêu chí 9 62
Bảng 3-18 Điểm đánh giá theo tiêu chí 10 63
Bảng 3-19 Đánh giá các thủy điện theo cấp độ phù hợp 64
Bảng 3-20 Đánh giá các thủy điện theo cấp độ hiệu quả 65
Bảng 3-21 Đánh giá các thủy điện theo cấp độ tác động đến môi trường tự nhiên và HST 67
Bảng 3-22 Điểm đánh giá trung bình theo nhóm của các công trình thủy điện 69
Trang 71
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của Đề tài
Việt Nam là một trong số 14 quốc gia trên thế giới có tiềm năng lớn về thủy điện Với hơn 2.300 sông, suối lớn nhỏ có dòng chảy liên tục và dài hơn 10km, tiềm năng thủy điện lý thuyết khoảng 35.000 MW Tuy nhiên, tiềm năng kinh tế có thể khai thác được khoảng 26.000 MW (tương đương khoảng 100 tỷ KWh/năm) [1] Theo báo cáo thường niên năm 2016 của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) [2], tính đến 31/12/2015, tổng công suất lắp máy của tất cả các nhà máy thủy điện đã vận hành khai thác đạt 14.636MW chiếm đến 56,30% tổng công suất lắp máy tiềm năng Cũng theo báo cáo này trong tổng số nguồn điện cung cấp cho hệ thống điện quốc gia (38.553MW), nguồn đến từ thủy điện chiếm 38%
Hình 1-1 Cơ cấu loại hình nguồn điện Việt Nam tính đến 31/12/2015
Trong Quyết định số 428/QĐ - TTg, ngày 18/3/2016 của Thủ tướng chính phủ phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011 - 2020 có xét đến năm 2030 có nêu: Ưu tiên phát triển các nguồn thủy điện, nhất là các dự án lợi ích tổng hợp (chống lũ, cấp nước, sản xuất điện); nghiên cứu đưa nhà máy thuỷ điện tích năng vào vận hành phù hợp với phát triển của hệ thống điện quốc gia nhằm nâng cao hiệu quả vận hành của hệ thống điện Nâng tổng công suất các nguồn thủy điện (bao gồm cả thủy điện vừa và nhỏ, thủy điện tích năng) từ gần 17.000 MW hiện nay lên khoảng 21.600 MW vào năm 2020, khoảng 24.600 MW vào năm 2025 (thủy điện tích năng 1.200 MW) và khoảng 27.800 MW vào năm 2030 (thủy điện tích năng 2.400
Trang 82
MW) Điện năng sản xuất từ nguồn thủy điện chiếm tỷ trọng khoảng 29,5% vào năm
2020, khoảng 20,5% vào năm 2025 và khoảng 15,5% vào năm 2030
Do chiếm tỷ trọng lớn, thủy điện đang có một vai trò rất quan trọng trong mạng lưới điện của Việt Nam An ninh năng lượng quốc gia hiện tại và trong tương lai gần rõ ràng đang phụ thuộc rất lớn vào nguồn năng lượng được sản sinh từ nguồn tài nguyên nước này Sự hiện diện ngày càng dày của các công trình thủy điện lớn nhỏ ở khắp các
hệ thống sông suối của Việt Nam là một thực tế Các công trình thủy điện là những công trình hạ tầng lớn của xã hội, nhưng là công trình đặc biệt có tác động to lớn đến
cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội, môi trường sống, sự an toàn của con người trước và sau công trình thủy điện
Thủy điện là một trong những nguồn cung cấp điện chính tại Việt Nam Ngoài ưu điểm là chi phí thấp, thủy điện cũng mang lại nhiều lợi ích khác như: Thúc đẩy các khả năng kinh tế, cung cấp nguồn năng lượng sạch, góp phần vào phát triển bền vững, sử dụng nước đa mục tiêu, phát triển cơ sở hạ tầng và cải thiện công bằng xã hội…
Bên cạnh những lợi ích không thể phủ nhận, thủy điện cũng có nhiều bất lợi, ảnh hưởng xấu đến môi trường, như: Làm giảm diện tích rừng đầu nguồn; mất đất sản xuất; thay đổi dòng chảy tự nhiên, làm cạn kiệt nguồn nước hạ du Những vấn đề này
đã được xem xét, đánh giá trong các báo cáo đánh giá tác động môi trường của dự án, nhưng việc đánh giá thường định tính và thiếu sự đồng nhất giữa các dự án Cho đến nay, đã có rất nhiều kết quả nghiên cứu cũng như các văn bản hướng dẫn việc đánh giá, sàng lọc trước khi triển khai xây dựng một dự án nói chung Tuy nhiên, chưa có một tài liệu nào đưa ra các tiêu chí cụ thể áp dụng riêng cho các dự án thủy điện
Để có cơ sở sàng lọc các dự án thủy điện một cách đồng nhất nhằm phát huy tối đa lợi ích từ thủy năng và giảm thiểu những tác động tiêu cực đến môi trường, đòi hỏi phải xây dựng những tiêu chí cụ thể về môi trường mà mỗi dự án thủy điện cần phải đạt được
2 Mục tiêu nghiên cứu
Đưa ra được bộ tiêu chí đánh giá sự phù hợp với môi trường của các dự án thủy điện giúp cho việc xem xét lựa chọn các dự án khi quyết định đầu tư
Trang 93
Áp dụng bộ tiêu chí đánh giá cho dự án thủy điện trên dòng chính sông Mã, từ đó đưa
ra các ý kiến nhằm giảm thiểu những hạn chế về mặt môi trường của các dự án này
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Các tiêu chí về môi trường của các dự án phát triển thủy điện Phạm vi nghiên cứu: Tập trung vào các dự án thủy điện trên dòng chính sông Mã thuộc tỉnh Thanh Hóa
4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp hồi cứu tài liệu: tham khảo các tài liệu trong và ngoài nước có liên quan
về đánh giá hiệu quả hoạt động khoa học và công nghệ
Phương pháp đánh giá tác động môi trường: Phương pháp này được sử dụng để đánh giá các tác động tích cực cũng như tiêu cực của các dự án thủy điện nói chung, từ đó phân tích và lựa chọn những vấn đề tiêu biểu cần quan tâm để xây dựng thành bộ tiêu chí về môi trường dùng đánh giá cho các dự án thủy điện
Phương pháp thống kê và xử lý số liệu: Thu thập các số liệu, tài liệu của các dự án có liên quan Sau khi thu thập, các số liệu được thống kê, phân tích và được xử lý nhằm tạo ra bộ số liệu phục vụ cho việc đưa ra thang điểm đánh giá các tiêu chí về môi trường và áp dụng đánh giá theo các tiêu chí này
Phương pháp chuyên gia: Phương pháp này được dùng để tập hợp ý kiến của của các
Trang 104
chuyên gia đầu ngành về các lĩnh vực liên quan đến nội dung cần nghiên cứu Từ đó tiến hành phân tích, tổng hợp lựa chọn ra những vấn đề chung nhất để đưa vào luận văn nhằm nâng cao tính chính xác, tính thực tiễn của các vấn đề cần nghiên cứu
- Phương pháp so sánh: Phương pháp so sánh được áp dụng trong luận văn để đánh giá sự phù hợp của các dự án theo các tiêu chí về môi trường đã được đề xuất Ngoài ra, phương pháp này cũng được dùng để so sánh giữa các dự án thủy điện khác nhau trên dòng chính sông Mã về mức độ phù hợp với các tiêu chí môi trường
Trang 115
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NHỮNG NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ PHÁT TRIỂN THỦY ĐIỆN Ở VIỆT NAM VÀ GIỚI THIỆU HỆ THỐNG THỦY ĐIỆN TRÊN DÒNG CHÍNH SÔNG MÃ
1.1 Tình hình phát triển thủy điện ở Việt Nam và trên dòng chính sông Mã
1.1.1 Tình hình phát triển thủy điện ở Việt Nam
Ngoài những hệ thống sông chính như sông Hồng, sông Đà, sông Mã, sông Cả, sông Thu Bồn, sông Đồng Nai, sông Cửu Long, Việt Nam còn có hệ thống sông, suối dày đặc Nếu chỉ tính các sông có chiều dài dòng chính hơn 10 km thì đã có tới hơn 2.300 con sông trên khắp cả nước và 90% trong số đó thuộc loại sông, suối nhỏ (MPI và SIDA, 2009) Các sông, suối ở Việt Nam được hình thành từ những dãy núi cao và dài như Trường Sơn, Hoàng Liên Sơn, Tây Côn Lĩnh nên có độ dốc khá lớn, đặc biệt ở những đoạn đầu nguồn Với đặc điểm độ dốc và lưu lượng nước lớn của các sông là điều kiện thuận lợi cho xây dựng và phát triển các công trình thủy điện Theo nghiên cứu về quy hoạch thủy điện ở Việt Nam (Bảng 1-1), về mặt lý thuyết, tổng trữ năng của các con sông ở Việt Nam vào khoảng 300 tỷ kWh, công suất lắp máy đạt khoảng 34.647 kWh/năm; trữ năng kỹ thuật xác định khoảng 123 tỷ kWh, tương đương công suất lắp máy khoảng 31.000 MW [3]
Bảng 1-1Tiềm năng phát triển thủy điện ở Việt Nam
Hệ thống sông Diện tích
(km2)
Số công trình
Tổng công suất (MW)
Lượng điện (GWh)
Trang 126
Hệ thống sông Diện tích
(km2)
Số công trình
Tổng công suất (MW)
Lượng điện (GWh)
Xét theo lưu vực sông, quy mô và số lượng các thủy điện, hiện tại phân bố nhiều nhất
ở lưu vực sông có tiềm năng thủy điện lớn như lưu vực sông Mã (14 dự án), lưu vực sông Đà (13 dự án), lưu vực sông Vu Gia Thu Bồn (11 dự án), lưu vực sông Đồng Nai
- La Ngà (10 dự án) và lưu vực sông Lô Gâm và sông Chảy (10 dự án) (PanNature, 2010) Nhờ những dự án thủy điện lớn mới hoàn thành (đặc biệt có thủy điện Sơn La công suất 2.400 MW) nên tổng công suất đóng góp từ thủy điện cũng tăng khá nhanh
Cụ thể, năm 2010 tổng công suất lắp đặt của các dự án thủy điện (dự án thủy điện có công suất lớn hơn 30 MW) mới là 6.500 MW thì đến năm 2014 tổng công suất lắp đặt
đã tăng lên 14.925 MW (Nguyễn Khắc Nhẫn, 2014)
Ngoài số lượng các dự án thủy điện lớn trên các dòng sông chính, số lượng các dự án thủy điện nhỏ được phê duyệt cũng khá lớn Theo quy hoạch thủy điện nhỏ với quy
mô công suất từ 1 - 30 MW của 24 tỉnh thành trên toàn quốc được Bộ Công nghiệp phê duyệt theo QĐ số 3454/QĐ-BCN ngày 18 tháng 10 năm 2005 đã có tới 239 dự án thủy điện và chưa tính tới số lượng các dự án trong quy hoạch thủy điện nhỏ của các tỉnh Lào Cai, Hà Giang, Quảng Nam, Gia Lai, Đăk Lăk, Đăk Nông, Kon Tum cũng đã được thông qua Nếu tính cả 7 tỉnh này con số các dự án thủy điện được quy hoạch trên toàn quốc là khoảng hơn 800 thủy điện [4]
Hình 1-1 Số lượng dự án thủy điện xây dựng của một số lưu vực sông lớn
Với số lượng dự án và công suất hiện có, Việt Nam được đánh giá là nước đứng đầu
Trang 131.1.2 Tình hình phát triển thủy điện trên dòng chính sông Mã
Do địa hình chia cắt phức tạp, độ dốc sông lớn nên lưu vực sông Mã có tiền năng thủy điện phong phú Trong các giai đoạn vừa qua nguồn thủy năng của lưu vực sông Mã
đã được chú ý khai thác, hầu hết các vị trí có thể khai thác thủy năng đã được quy hoạch các công trình thủy điện Cho đến nay phần lớn các công trình thủy điện trong quy hoạch đã và đang được xây dựng, nhiều công trình đang trong giai đoạn khai thác, vận hành
Sơ đồ lưu vực sông Mã và các công trình khai thác sử dụng nước như trong Hình 1-2 dưới đây [5]:
Hình 1-2 Sơ đồ hệ thống công trình khai thác, sử dụng nước trên dòng chính sông Mã Trên lưu vực sông Mã, tiềm năng thủy điện tập trung phần lớn trên dòng chính, theo
Trang 14- Dự án thủy điện Hồi Xuân (102MW) do Công ty cổ phần Đầu tư và Xây dựng điện Hồi Xuân làm chủ đầu tư hiện đang được triển khai thi công, dự kiến sẽ tích nước trong quý 2/2018
- Dự án thủy điện Bá Thước 1 (64MW) do Tập đoàn Hoàng Anh Thanh Hóa làm chủ đầu tư hiện đã phát điện cả 4 tổ máy
- Dự án thủy điện Bá Thước 2 (80MW) do Tập đoàn Hoàng Anh Thanh Hóa làm chủ đầu tư, hiện đã hòa lưới điện quốc gia
- Dự án thủy điện Cẩm Thủy 1 (38MW) và Cẩm Thủy 2 (36MW) có Chủ đầu tư là Công ty Cổ phần Đầu tư xây dựng hạ tầng và giao thông (Intracom) hiện đang ở giai đoạn chuẩn bị đầu tư xây dựng
- Hiện còn 3 dự án trong quy hoạch nhưng chưa có kế hoạch triển khai xây dựng là thủy điện Pá Hua và thủy điện Huổi Tạo và thủy điện Bó Sinh
Sơ đồ các bậc thang thủy điện đã và đang được xây dựng trên dòng chính sông Mã như trong Hình 1-3 dưới đây:
Trang 159 Hình 1-3 Sơ đồ bậc thang thủy điện trên dòng chính sông Mã
Trang 1610
1.2 Nhận biết các tác động tiêu cực của công trình thủy điện đến môi trường
của lưu vực sông [6]
Ngoài tác động tích cực là sản xuất ra điện năng phục vụ cho phát triển kinh tế xã hội, các dự án thủy điện khi xây dựng và khai thác vận hành sẽ gây ra nhiều tác đông tiêu cực tới môi trường tự nhiên và xã hội của của lưu vực sông Nhận biết các tác động tiêu cực này sẽ tạo cơ sở kiến thức cần thiết cho phân tích, đề xuất các tiêu chí chủ yếu cho đánh giá các dự án thủy điện phù hợp với môi trường của lưu vực sông
Các tác động tiêu cực của việc xây dựng công trình thuỷ điện đến môi trường tự nhiên,
hệ sinh thái và môi trường xã hội có thể tóm lược như sau:
1.2.1 Khu vực thượng lưu và lòng hồ
1.2.1.1 Tác động tới môi trường tự nhiên, hệ sinh thái
Tác động tới tài nguyên và môi trường nước:
- Làm biến đổi chế độ thủy văn khu vực thượng lưu đập từ chế độ thủy văn sông thành chế độ thủy văn hồ chứa
- Làm tổn thất một lượng nước mặt từ hồ chứa (do bốc hơi mặt nước, do thẩm thấu xuống tầng sâu)
- Làm ô nhiễm nước hồ trong thời gian đầu hồ tích nước do việc phân hủy sinh khối thực vật và các chất hữu cơ bị chìm ngập trong lòng hồ
- Làm giảm độ đục của nước trong hồ do bùn cát bị lắng đọng trong lòng hồ
- Việc hình thành hồ chứa sẽ gia tăng khả năng nước trong hồ sẽ bị phú dưỡng do các chất dinh dưỡng, nước thải sinh hoạt các khu dân cư ở thượng lưu chảy về và tích tụ vào hồ, từ đó làm cho các loài tảo và thực vật thuỷ sinh phát triển qúa mức, làm ảnh hưởng xấu tới chất lượng nước, đặc biệt là nước dùng cho sinh hoạt
Tác động tới tài nguyên và môi trường đất:
- Mất một diện tích đất do ngập (đất tự nhiên, đất rừng, đất nông nghiệp, đất ở )
- Một số vùng đất canh tác trũng thấp xung quanh hồ chứa bị lầy hóa do tăng mực
Trang 17 Tác động tới hệ sinh thái:
- Làm mất đi hệ sinh thái cạn và thay bằng hệ sinh thái nước trong khu vực lòng hồ
- Làm mất tài nguyên thực vật khu vực lòng hồ do bị ngập, nhất là nếu có nhiều loài
gỗ quý và các loài thực vật có giá trị
- Làm mất đi nơi cư trú của các loài động vật hoang dã, nhất là khi có các loài động vật quý hiếm nằm trong sách đỏ do lòng hồ bị ngập
- Làm chết các loài động vật sống trong khu vực lòng hồ nếu chúng không có khả năng tự di chuyển trước khi hồ tích nước
- Việc hình thành đập ngăn nước trên sông chính sẽ ngăn cản sự di chuyển của cá và sinh vật thuỷ sinh từ thượng lưu xuống hạ lưu và ngược lại
1.2.1.2 Tác động tới môi trường xã hội
- Làm tổn hại nhà cửa và tài sản của dân cư sống trong lòng hồ, mặt băng công trình… do phải tháo dỡ và di chuyển đi nơi khác (nếu có dân sống tại các khu vực này)
- Làm giảm thu nhập và ảnh hưởng đến đời sống vật chất của một bộ phận dân cư sống trong vùng ảnh hưởng do bị mất việc làm và các nguồn sinh kế (phải di chuyển và thay đổi địa bàn sinh sống)
- Làm tổn hại tới các công trình cơ sở hạ tầng của dân cư trong khu vực (đường xá, công trình công cộng, hệ thống điện, nước…)
- Làm mất các giá trị truyền thống cộng đồng, văn hoá bản địa (đền đài, miếu
Trang 1812
mạo ) của dân cư trong khu vực lòng hồ do vùng lòng hồ bị ngập
- Làm tổn hại các giá trị lịch sử, di sản văn hoá, di tích khảo cổ học (nếu có) do lòng
hồ bị ngập
1.2.2 Khu vực hạ lưu đập
1.2.2.1 Tác động tới tài nguyên và môi trường tự nhiên
Tài nguyên và môi trường vật lý:
- Hồ thủy điện khi vận hành sẽ làm cho chế độ thủy văn đoạn sông hạ lưu bị biến đổi khác nhiều với chế độ dòng chảy tự nhiên, dòng chảy điều hòa hơn, giảm dòng chảy trung bình mùa lũ và tăng dòng chảy trung bình mùa kiệt
- Hồ chứa thủy điện nếu vận hành điều tiết ngày đêm theo chế độ phủ đỉnh sẽ làm cạn kiệt nước đoạn sông hạ lưu từ sau nhà máy thủy điện trong thời gian công trình ngừng phát điện để tích nước
- Công trình thủy điện có nhà máy cách xa đập khi hoạt động sẽ làm cạn kiệt nguồn nước đoạn sông sau đập, đoạn sông này có thể biến thành đoạn sông chết
- Nếu việc thu dọn, vệ sinh lòng hồ trước khi tích nước không tốt sẽ dẫn đến chất lượng nước của hồ chứa bị ô nhiễm trong những năm đầu tích nước hoặc bị phú dưỡng, dẫn đến ảnh hưởng xấu đến chất lượng nước sử dụng ở hạ du, nhất là dùng cho mục đích sinh hoạt của người dân sống ven sông và lấy vào các nhà máy cấp nước sinh hoạt
- Nước sông ở hạ du tuyến đập sẽ trong hơn và ít chất dinh dưỡng hơn hơn do một lượng bùn cát và chất dinh dưỡng bị giữ lại trong hồ
- Vận hành xả lũ của hồ chứa sẽ gây ra xói lở bờ đoạn sông ngay sau đập
- Bồi xói cũng xảy ra cho đoạn sông hạ lưu đập do cân bằng bùn cát bị thay đô i (độ đục bị giảm so với trước khi có hồ)
- Một số vùng đất ven sông trước kia không bị ngập vào mùa kiệt nay sẽ bị ngập do điều tiết của hồ chứa
Trang 1913
Tác động tới thủy sinh vật và Hệ sinh thái nước:
Hồ thủy điện có ảnh hưởng xấu đến thủy sinh vật và hệ sinh thái thủy sinh, làm suy giảm cá và thủy sinh vật ở đoạn sông hạ lưu đập do ảnh hưởng tổng hợp từ các nguyên nhân sau:
- Do chế độ thủy văn ở hạ lưu bị biến đổi khác với chu trình sống trước đó của cá và thủy sinh vật (diện tích đất ngập nước ven sông, thời gian ngập… bị biến đổi do chế độ vận hành của hồ chứa)
- Việc xuất hiện tuyến đập chắn ngang sông sẽ ngăn cản đường đi và di chuyển của các loài cá di cư theo mùa, có thể làm mất đi các loài cá này nếu có (chẳng hạn như cá chình, cá hồi )
- Do suy giảm nguồn dinh dưỡng ở hạ lưu
- Do suy giảm chất lượng nước / ô nhiễm nước
1.2.2.2 Tác động tới môi trường xã hội
Xây dựng hô thủy điện làm suy giảm nguồn cá ở hạ du sẽ ảnh hưởng xấu đến đời sống của những người dân làm nghề chài lưới do cá còn ít, đánh bắt khó khăn
Nếu hồ chứa làm giảm dòng chảy mùa cạn ở hạ du sẽ gây khó khăn cho việc lấy nước của người dân ven hai bên sông Đặc biệt lưu lượng giảm, mực nước sông thấp, mực nước ngầm cũng bị hạ thấp dễ dẫn đến việc nhiễm mặn tại vùng cửa sông
1.3 Tổng quan về những nghiên cứu, đánh giá tác động đến môi trường của dự
án thủy điện trên thế giới, tại Việt Nam và trên lưu vực sông Mã
1.3.1 Trên thế giới
Những nghiên cứu, đánh giá tác động đến môi trường của dự án thủy điện đã được rất nhiều học giả tại nhiều nước trên thế giới nghiên cứu từ lâu với rất nhiều đề tài, bài báo có giá trị khoa học được phát hành Trong đó đáng chú ý có hai bài báo liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu của luận văn, bao gồm:
- Bài báo "Good Dams and Bad Dams: Environmental Criteria for Site Selection of Hydroelectric Projects" của nhóm tác giả George Ledec và Juan David Quintero
Trang 20dù không phải tất cả) các tác động tiêu cực của dự án thủy điện Bài báo đã đưa ra các chỉ số định lượng (sử dụng dữ liệu tương đối dễ dàng có được) để đánh giá và xếp hạng đề xuất các dự án thủy điện mới về tác động xấu đến môi trường
- Bài báo "Small Hydropower Plant - Environmental Impact Assessment - Case Study" của nhóm tác giả Martina Zelenakova, Lenka Zvijakova, Pavol Purcz [8] Bài báo này đề cập đến việc thiết kế của một nhà máy thủy điện nhỏ trên dòng suối trong làng Spišské Bystre, nằm gần Poprad ở Slovakia và đánh giá tác động môi trường của nó Bài viết đã nghiên cứu lựa chọn các chỉ số tác động và những kiểm chứng cho quá trình đánh giá tác động môi trường của nhà máy thủy điện nhỏ này Mục đích của bài báo này là đề xuất và đánh giá các chỉ số rủi ro đối với các chỉ số được lựa chọn trong quá trình đánh giá tác động môi trường
Hai bài báo đã đưa ra 16 tiêu chí dùng cho việc đánh giá, lựa chọn tuyến đập thủy điện, bao gồm: 1 - Diện tích mặt hồ (ha/MW); 2 - Thời gian lưu nước trong hồ (ngày);
3 - Sinh khối chìm ngập trong hồ (kg/ha); 4 - Chiều dài hồ chứa (km/MW); 5 - Số nhánh sông phía hạ lưu; 6 - Khả năng phân tầng hồ chứa; 7 - Tuổi thọ hồ chứa (năm);
8 - Chiều dài tuyến đường được làm mới hoặc cải tạo chạy qua rừng (km); 9 - Người dân phải tái định cư (người/MW); 10 - Mức độ quan trọng của môi trường sống tự nhiên bị ảnh hưởng; 11 - Số lượng loài cá đặc hữu; 12 - Tài sản văn hóa bị ảnh hưởng;
13 - Khoảng cách từ công trường thi công đến khu dân cư gần nhất; 14 - Ảnh hưởng của tiếng ồn đến sức khỏe; 15 - Thời gian thi công xây dựng; 16 - Tỷ lệ công việc có
sử dụng máy móc thi công
Trong số 16 tiêu chí kể trên có 3 tiêu chí được sử dụng trong luận văn gồm (1 - Sinh khối chìm ngập trong hồ (kg/ha); 2 - Số người phải tái định cư; 3 - Sự xuất hiện của các loài cá đặc hữu) Tuy nhiên việc định lượng đối với tiêu chí (số người phải tái
Trang 2115
định cư và số loài cá đặc hữu) được điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện thực tiễn tại Việt Nam
1.3.2 Tại Việt Nam
Trong hơn nửa thế kỷ vừa qua, việc xây dựng các công trình hồ/đập thủy điện trên các sông suối ở nước ta đã phát triển rất nhanh chóng, cung cấp nguồn điện năng vô cùng
to lớn cho phát triển kinh tế xã hội của đất nước Song song với công tác quy hoạch, thiết kế và xây dựng các công trình thủy điện, việc nghiên cứu đánh giá tác động đến môi trường của các dự án thủy điện luôn được chú trọng để phục vụ cho quá trình lựa chọn, đề xuất dự án công trình thủy điện khi quy hoạch hay quyết định đầu tư Theo quy định của các luật có liên quan (luật Bảo vệ môi trường, luật Xây dựng…) các dự
án Quy hoạch thủy điện, lập báo cáo NCKT các dự án thủy điện đều có nội dung liên quan đến việc đánh giá tác động môi trường thông qua các báo cáo (Đánh giá tác động môi trường chiến lược, Đánh giá tác động môi trường/Cam kết bảo vệ môi trường/Kế hoạch bảo vệ môi trường ) Do vậy, các tác động tiêu cực đến môi trường của dự án thủy điện cùng với các biện pháp để giảm thiểu các tác động môi trường đều được nghiên cứu làm rõ qua bước thực hiện dự án, mức độ nghiên cứu phụ thuộc vào từng giai đoạn và theo quy mô của mỗi dự án
Trong thời gian vừa qua nghiên cứu đánh giá tác động môi trường của hoạt động phát triển thủy điện còn được nghiên cứu trong nhiều đề tài, dự án nghiên cứu của các nhà khoa học, những người nghiên cứu trong nước, như:
- PGS.TS Nguyễn Văn Thắng trong một dự án nghiên cứu “Nghiên cứu đánh giá tác động của phát triển thủy điện ở Việt Nam” của Bộ TN&MT (2002) đã đánh giá một cách tổng hợp, toàn diện về phát triển thủy điện trên các hệ thống sông lớn ở nước ta cả về thành tựu đạt được và các tồn tại, chỉ ra các tác động tích cực cũng như tiêu cực đến môi trường và các giải pháp để khắc phục các tồn tại nhằm nâng cao hiệu quả trong phát triển thủy điện [9]
- TS Lê Bắc Huỳnh cùng các nhà khoa học thuộc Liên hiệp khoa học kỹ thuật Việt Nam thông qua đề tài nghiên cứu “Điều tra khảo sát, nghiên cứu, đánh giá tác động và đề xuất cơ chế chính sách, giải pháp tăng cường quản lý khai thác hiệu
Trang 2216
quả các công trình hồ chứa thủy điện, thủy lợi ở Bắc trung Bộ” của Bộ Tài nguyên
và Môi trường (2005) đã đưa ra các ý kiến đánh giá một cách toàn diện tất cả các mặt của hoạt động phát triển các hồ chứa nước, đặc biệt là các hồ chứa thủy điện khu vực Bắc trung bộ bao gồm những tồn tại trong quy hoạch, xây dựng và vận hành các công trình hồ chứa cũng như tác hại, hậu quả của chúng đang gây nên hiện nay đô i với tài nguyên thiên nhiên và môi trường sống, đồng thời đánh giá một cách chi tiết, điển hình cho các hồ chứa tỉnh Thừa Thiên Huế, đặc biệt là khu vực hạ lưu sông Hương [10]
Hai đề tài, dự án nghiên cứu trên đã xây dựng được cơ sở khoa học cần thiết cho Bộ Tài nguyên và Môi trường trong việc cải tiến thể chế chính sách, cải tiến quản lý hoạt động phát triển thủy điện ở nước ta
- Mới đây nhất là hai tác giả Lê Anh Tuấn và Đào Thị Việt Nga trong tài liệu “Phát triển thủy điện ở Việt nam, thách thức và giải pháp” do Trung tâm bảo tồn và phát triển Tài nguyên nước phát hành năm 2016 cũng đã đánh giá tổng hợp tình hình phát triển thủy điện ở Việt Nam, đánh giá các tác động của dự án thủy điện đến rừng, dòng chảy, thủy sinh vật và phù sa vùng hạ lưu, đưa ra ý kiến về giải pháp liên quan đến đề xuất chính sách quản lý thủy điện, chi trả dịch vụ môi trường từ dịch vụ thủy điện, nghiên cứu thí điểm tại một số địa phương như tỉnh Lâm Đồng, Sơn La Đây là một tài liệu rất tổng hợp cho các nhà quản lý, các cán bộ nghiên cứu khoa học, các Nghiên cứu sinh tham khảo khi muốn tiếp cận đến vấn đề phát triển thủy điện ở nước ta [11]
- Tác động của công trình thủy điện đến môi trường còn được nghiên cứu và công
bố trong nhiều bài báo khoa học của các nhà khoa học, giảng viên của trường Đại học Thủy Lợi như PGS.TS Nguyễn Văn Thắng, GS.TS Ngô Đình Tuấn, GS.TS Lê Đình Thành, PGS.TS Vũ Hoàng Hoa đã đăng trong tạp chí Khoa học Thủy lợi và môi trường trong khoảng một thập kỷ gần đây [12]
Tiêu chí cho đánh giá tác động môi trường của dự án thủy điện cũng đã được đề cập đến trong các nghiên cứu, tuy nhiên chưa có nhiều kết quả được công bố Nguyễn Văn
Sỹ trong đề tài luận án Tiến sỹ “Nghiên cứu đánh giá tác động môi trường tích lũy của
Trang 2317
hệ thống hồ chứa lưu vực sông Ba” (2016) [13] ngoài đánh giá tác đông tích lũy của
hệ thống liên hồ chứa trên lưu vực sông Ba, luận án đã xây dựng được các chỉ số đánh giá tác động môi trường tích lũy (ĐTL) gồm 12 chỉ số và xác lập được khung hướng dẫn thực hiện đánh giá tác động môi trường tích lũy hệ thống liên hồ chứa trên lưu vực sông và ứng dụng đánh giá cho hệ thống các hồ chứa lớn trên dòng chính của lưu vực sông Cách tiếp cận trong luận án khá gần với cách tiếp cận trong luận văn này Các chỉ số ĐTL được đề xuất trong luận án bao gồm: 1- Cắt đỉnh lũ; 2 - Biến đổi lưu lượng trung bình mùa lũ; 3 - Biến đổi lưu lượng trung bình mùa cạn; 4 - Tổn thất nước mặt; 5
- Biến đổi chất lượng nước; 6 - Giảm độ đục trung bình năm; 7 - Mất đất khu bảo tồn;
8 - Mất đất tự nhiên do thủy điện; 9 - Mất rừng do thủy điện; 10 - Khoảng cách đến khu bảo tồn; 11 - Biến đổi HST và 12 - Mất kết nối lưu vực sông Trong số các chỉ số này có 4 chỉ số được dùng trong luận văn (1 - Biến đổi chất lượng nước; 2 - Mất đất tự nhiên do thủy điện; 3 - Mất rừng do thủy điện và 4 - Mất kết nối lưu vực sông), nhưng việc định lượng mức độ tác động để đánh giá có thay đổi dựa trên điều kiện thực tiễn hiện nay
1.3.3 Trên lưu vực sông Mã
Nếu xét trên toàn lưu vực sông Mã thì hiện có 9 công trình thủy điện đã và đang được xây dựng, trong đó có 7 công trình trên dòng chính Tác động đến môi trường của các
hồ chứa này đều đã được nghiên cứu đánh giá trong các báo cáo đánh giá tác động môi trường của dự án khi đầu tư xây dưng công trình và trong báo cáo Khai thác sử dụng nước mặt của công trình đối với các công trình đã xây dựng xong và đã xin cấp giấy phép khai thác sử dụng nước mặt Cho đến nay, chưa có báo cáo nào được công bố về tiêu chí đánh giá sự phù hợp với môi trường của dự án thủy điện
1.4 Giới thiệu khu vực nghiên cứu lưu vực sông Mã
1.4.1 Lưu vực và mạng lưới sông suối
Sông Mã bắt nguồn từ vùng núi cao khoảng 1.500m ở Việt Nam (xã Mường Lói, huyện Điện Biên, tỉnh Lai Châu, nay là tỉnh Điện Biên), chảy qua CHDCND Lào (2 huyện Hủa Phăn và Sầm Nưa) rồi chảy trở lại Việt Nam qua các huyện (Sông Mã - tỉnh Sơn La, Quan Hóa, Bá Thước, Thạch Thành, Thiệu Yên, Đông Sơn, Vĩnh Lộc, Hoàng Hóa, thành phố Thanh Hóa - tỉnh Thanh Hóa) sau đó đổ ra Biển Đông tại
Trang 2418
Cửa Hới
Tổng diện tích lưu vực của toàn hệ thống sông Mã là khoảng 28.400 km2, trong đó có 17.600 km2 nằm trong lãnh thổ Việt Nam, phần còn lại 10.800 km2 nằm trên lãnh thổ nước CHDCND Lào (chiếm khoảng 38% diện tích lưu vực) Tính từ nguồn tới cửa sông, dòng chính sông Mã dài 512 km, phần lãnh thổ Việt Nam sông dài 410 km Sông
Mã có 39 sông nhánh các cấp, các sông nhánh lớn cấp I như: sông Chu, sông Bưởi, sông Cầu Chày và 2 phân lưu là sông Lèn và sông Lạch Trường Sơ đồ mạng lưới sông suối lưu vực sông Mã như Hình 1-4
Hình 1-4 Sơ đồ mạng lưới lưu vực sông Mã
1.4.2 Đặc điểm khí tượng thủy văn
1.4.2.1 Mưa và sự biến đổi của lượng mưa
Theo thời gian: Mưa trên lưu vực sông Mã trong một năm phân làm 2 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô
- Mùa mưa có gió mùa Tây Nam từ vịnh Bengan thổi tới mang theo nhiều hơi nước, nóng ẩm, mưa nhiều Mùa mưa từ tháng V đến tháng IX (vùng thượng lưu), từ tháng VI đến tháng X (vùng hạ lưu) Lượng mưa mùa mưa chiếm 70 ÷ 90% lượng mưa cả năm, ba tháng có lượng mưa lớn nhất là tháng VI ÷ VIII hoặc tháng VII ÷ IX
Trang 2519
- Mùa khô: Bắt đầu từ tháng X hoặc tháng XI và kết thúc vào tháng IV năm sau, tháng có lượng mưa ít nhất là tháng I ÷ III, lượng mưa trong mùa này chỉ chiếm 10÷30% lượng mưa năm
Theo không gian: Phân bố mưa không đều theo không gian, cụ thể: Lưu vực sông Mã
có tâm mưa xuất hiện tại hạ du lưu vực thuộc nhánh sông Bưởi, ở đây có trạm Lạc Sơn
đo được XnămTB = 1.984 mm Vùng thung lũng thượng nguồn sông Mã thuộc tỉnh Sơn
La có lượng mưa nhỏ nhất lưu vực, tại trạm khí tượng sông Mã, XnămTB = 1.165 mm
Sự phân bố dòng chảy năm trên lưu vực phụ thuộc vào phân bố mưa trong không gian, vùng thượng và trung lưu sông Mã nằm ở nơi khuất gió Tây Nam, chỉ có gió Tây khô nóng, mưa ít nên lượng dòng chảy tương đối nhỏ, mô đun dòng chảy năm chỉ đạt Mo =
13 ÷ 18 l/s/km2 Vùng thượng nguồn các sông Luông, sông Lò và sông Bưởi là nơi có nguồn nước dồi dào nhất Mo = 25 ÷ 35 l/s/km2
Vùng thượng nguồn sông Chu mưa ít nên lượng dòng chảy rất nhỏ, tại Văng Sek (Lào)
Mo = 13,31 l/s/km2 Sông Chu sau khi chảy qua biên giới Lào - Việt, lượng dòng chảy tăng rõ rệt, tới Mường Hinh Mo = 18,1 l/s/km2 Từ Mường Hinh xuôi xuống Bái Thượng do địa hình thuận lợi, tạo điều kiện cho gió mùa Đông Nam dễ dàng xâm nhập, lượng mưa tăng lên đáng kể, tại Cửa Đạt Xnăm ≈ 2.300 mm tương ứng với lượng dòng chảy Mo = 20,1 l/s/km2, đặc biệt nhánh sông Âm có lượng dòng chảy lớn nhất lưu vực, tại trạm Lang Chánh Mo = 42,1 l/s/km2
Vùng thượng nguồn sông Mã có lớp phủ thực vật nghèo nàn, rừng thưa, nhiều cỏ tranh, lòng sông dốc, sâu, hẹp nên lũ ở đây ác liệt hơn vùng trung lưu, mô đun đỉnh lũ đạt Mmax ≈ 0,75 m3/s/km2, trong khi vùng trung lưu Mmax ≈ 0,45 m3/s/km2 Vùng
Trang 2620
thượng nguồn sông Chu còn nhiều rừng, thảm phủ thực vật phong phú, sau khi sông chảy vào Việt Nam lượng mưa tăng đáng kể nên mô đun đỉnh lũ ở đây lớn nhất lưu vực sông Mã, tại Mường Hinh Mmax = 0,80 m3/s/km2, tại Cửa Đạt Mmax = 1,20
m3/s/km2, trên nhánh sông Âm tại Lang Chánh Mmax = 4,3 m3/s/km2
Lũ lớn nhất hàng năm thường xảy ra vào tháng VIII (trên sông Mã) và tháng IX (trên sông Chu) là những tháng chính mùa mưa Vào thời kỳ này trong sông cũng như trên mặt đệm đã có một lượng trữ đáng kể, dòng chảy sinh ra trong điều kiện bão hòa nên
hệ số dòng chảy trận lũ khá lớn từ 0,75÷0,85 Do đỉnh mưa khá tập trung nên các trận
lũ xảy ra thường có dạng đơn Sự dao động dòng chảy lũ trong nhiều năm của sông Chu lớn hơn sông Mã thể hiện ở hệ số biến đổi Cv lớn hơn, chứng tỏ sông Chu có tâm mưa lớn là vùng Lang Chánh - Thường Xuân - Bất Mọt Thời gian kéo dài trận lũ trên sông Mã trung bình khoảng 7÷10 ngày (dài nhất có thể tới 20 ngày), sông Chu trung bình 7 ngày (dài nhất có thể tới 15 ngày)
1.5 Nội dung nghiên cứu của luận văn
Để xem xét đánh giá các hồ/đập thủy điện phù hợp với môi trường như thế nào, phục
vụ cho quy hoạch cũng như thiết kế xây dựng công trình, luận văn sẽ đi sâu nghiên cứu để đề xuất bộ tiêu chí đánh giá sự phù hợp với môi trường của dự án thủy điện và
sử dụng bộ tiêu chí đánh giá cho các công trình thủy điện trên dòng chính sông Mã Nội dung nghiên cứu của luận văn tập trung vào các nội dung chính như sau:
- Đánh giá tổng quan về các nghiên cứu đánh giá tác động đến môi trường của các
dự án thủy điện trên thế giới, ở Việt Nam và trên lưu vực sông Mã
- Nghiên cứu đề xuất bộ tiêu chí đánh giá sự phù hợp với môi trường của dự án thủy điện
- Sử dụng bộ tiêu chí đánh giá sự phù hợp với môi trường cho các dự án thủy điện trên dòng chính sông Mã và đề xuất một số ý kiến nâng cao hiệu quả quản lý khai thác hệ thống thủy điện lưu vực sông Mã
Luận văn được bố cục gồm phần mở đầu, phần nội dung có 3 chương và phần kết luận
Trang 2721
1.6 Kết luận chương 1
Trong chương 1, luận văn đã tổng hợp đánh giá được tình hình phát triển thủy điện ở Việt Nam và trên lưu vực sông Mã, đánh giá tổng quan về các nghiên cứu đánh giá tác động của các dự án thủy điện đến tài nguyên môi trường lưu vực sông, đưa ra yêu cầu cần thiết của việc nghiên cứu đề xuất bộ tiêu chí cho đánh giá sự phù hợp với môi trường của dự án phát triển thủy điện cũng như nội dung nghiên cứu của luận văn Kết quả của chương 1 đã đặt được cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu đề xuất bộ tiêu chí trong các chương tiếp theo
Trang 2822
CHƯƠNG 2 NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT BỘ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ THỦY ĐIỆN PHÙ HỢP VỚI MÔI TRƯỜNG
2.1 Giới thiệu chung
Như đã trình bày ở chương 1, hiện nay trên các lưu vực sông, nhất là các lưu vực sông vừa và lớn, tại các vị trí thuận lợi để khai thác năng lượng thủy điện đều đã quy hoạch và xây dựng rất nhiều các công trình thủy điện thành hệ thống thủy điện bậc thang, có công công trình thủy điện phù hợp, phát huy rất tốt năng lực phát điện đóng góp cho phát triển kinh tế xã hội của đất nước Tuy nhiên, cũng còn có những công trình lựa chọn vị trí cũng như xác định các thông số chưa tốt đã có những ảnh hưởng tiêu cực đáng kể đối với môi trường Việc đánh giá những mặt tốt, xấu hay những ưu điểm, nhược điểm của những công trình này hiện nay trong thực tế chưa có nhiều các nghiên cứu
Để góp phần làm rõ vấn đề trên và đóng góp cho thực tế, luận văn trong chương này
sẽ đi sâu nghiên cứu để đề xuất một bộ tiêu chí đánh giá các dự án thủy điện phù hợp với môi trường Bộ tiêu chí được đề xuất sẽ được dùng để đánh giá cho các công trình thủy điện trên dòng chính sông Mã, từ đó đề xuất một số ý kiến nâng cao hiệu quả quản lý khai thác hệ thống các công trình thủy điện này trong chương sau của luận văn
Mục đích xây dựng bộ tiêu chí này là tạo ra công cụ để xem xét, sàng lọc các công trình thủy điện đề xuất trong quy hoạch tại các vị trí khác nhau giúp cho người làm công tác quy hoạch lựa chọn được các công trình xây dựng tại vị trí có thể mang lại hiệu quả phát điện cao và phù hợp với môi trường nhất Đối với những công trình đã xây dựng và vận hành thì bộ tiêu chí cũng có thể giúp cho cơ quan quản lý đánh giá được thực trạng của công trình đã phù hợp với môi trường ở mức nào, những công trình nào còn có nhiều khiếm khuyết, làm cơ sở cho việc xem xét điều chỉnh khi cần thiết Đối với các công trình trên hệ thống thủy điện bậc thang, kết quả đánh giá có thể dùng để so sánh giữa các công trình với nhau và là cơ sở để xem xét đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động trên toàn hệ thống
Các nội dung nghiên cứu để đề xuất bộ tiêu chí sẽ được trình bày trong những mục
Trang 2923
tiếp theo của chương này
2.2 Cơ sở để xây dựng và lựa chọn các tiêu chí
Việc xây dựng, lựa chọn các tiêu chí được dựa trên quan điểm phát triển bền vững, nghĩa là mỗi dự án thủy điện phải được xem xét kỹ lưỡng ở 3 lĩnh vực /khía cạnh (Kinh
tế - Xã hội và Môi trường) và chỉ đề xuất dự án nào hài hòa được cả 3 khía cạnh này
Cơ sở quan trọng để xây dựng và lựa chọn các tiêu chí đáp ứng mục tiêu kể trên bao gồm:
- Những nhận biết về các tác động tiêu cực của công trình thủy điện đến môi trường như đã trình bày trong mục 1.2 - Chương 1
- Phân tích, tổng hợp những nghiên cứu, đánh giá tác động đến môi trường của dự
án thủy điện trên thế giới, tại Việt Nam và trên lưu vực sông Mã như đã trình bày trong mục 1.3 - Chương 1
2.3 Nguyên tắc để lựa chọn tiêu chí/bộ tiêu chí
2.3.1 Với tiêu chí riêng biệt
Trong thực tế có rất nhiều yếu tố có thể để lựa chọn làm tiêu chí để đánh giá sự phù hợp về môi trường cho các dự án thủy điện, tuy nhiên không thể đưa tất cả vào vì như vậy sẽ rất phức tạp cho quá trình sử dụng, hơn nữa, cũng khó có thể định lượng được hết các tiêu chí này, vì vậy luận văn chỉ lựa chọn một số tiêu chí tiêu biểu (nổi trội) để đưa vào bộ tiêu chí Việc lựa chọn tiêu chí phải tuân theo các nguyên tắc sau:
- Tiêu chí được lựa chọn phải đại diện cho khía cạnh cần đánh giá của dự án thủy điện và có ý nghĩa rõ ràng
- Tiêu chí được lựa chọn có thể xác định/ước tính theo cấp độ (thang) đánh giá dựa vào những thông tin, dữ liệu rõ ràng
2.3.2 Với bộ tiêu chí
Lựa chọn các tiêu chí trong bộ tiêu chí cần phải theo các nguyên tắc sau:
- Bộ tiêu chí phải phản ảnh tổng hợp các khía cạnh cần xem xét đánh giá trong
cả quá trình phát triển dự án thủy điện ở các giai đoạn quy hoạch, thiết kế và
Trang 3024
vận hành
- Bộ tiêu chí phải phản ánh đầy đủ các tác động đến môi trường chủ yếu của dự án thủy điện
- Có số lượng tiêu chí vừa phải (không nhiều, không ít): Nếu số tiêu chí quá nhiều
sẽ gây khó khăn cho việc đánh giá và chi phí cho việc đánh giá sẽ tăng cao Ngược lại nếu số tiêu chí quá ít sẽ rất khó để phản ánh đầy đủ các khía cạnh cần đánh giá của dự án thủy điện
- Có thể sử dụng để đánh giá cho một công trình nhưng cũng có thể so sánh được các công trình trong cả hệ thống
2.4 Phân tích lựa chọn các tiêu chí đánh giá dự án thủy điện
Dựa theo các nguyên tắc lựa chọn tiêu chí và bộ tiêu chí đã nêu ở trên, luận văn chia các tiêu chí thành 4 nhóm để đánh giá, bao gồm: (i) nhóm 1: các tiêu chí đánh giá sự phù hợp; (ii) nhóm 2: các tiêu chí đánh giá hiệu quả; (iii) nhóm 3: các tiêu chí đánh giá tác động đến môi trường tự nhiên và hệ sinh thái, và (iv) nhóm 4: tiêu chí đánh giá tác động đến môi trường xã hội
Luận văn đã đưa ra các tiêu chí đồng thời cũng đưa ra thang điểm đánh giá cho mỗi tiêu chí Theo đó mỗi tiêu chí sẽ được đánh giá theo 4 cấp độ với thang điểm từ 1 đến
4 theo hướng tăng dần về mức độ phù hợp của dự án/công trình xét trên từng tiêu chí Việc định lượng mỗi tiêu chí để đưa vào từng thang điểm được nghiên cứu, đề xuất dựa trên các cơ sở:
- Tổng hợp, phân tích đánh giá về những kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả George Ledec và Juan David Quintero trong bài "Good Dams and Bad Dams và bài báo "Small Hydropower Plant - Environmental Impact Assessment - Case Study" của nhóm tác giả Martina Zelenakova, Lenka Zvijakova, Pavol Purcz như
đã giới thiệu trong mục 1.3.1 - Chương 1
- Tổng hợp, phân tích đánh giá về những kết quả nghiên cứu trong các đề tài nghiên cứu, bài báo khoa học của các tác giả Việt Nam như đã giới thiệu trong mục 1.3.2
- Chương 1
Trang 3125
- Tổng hợp, phân tích các thông số công trình và các số liệu, tài liệu về ảnh hưởng của công trình đối với môi trường tự nhiên, kinh tế xã hội của trên 50 dự án thủy điện lớn nhỏ khác nhau
- Tham khảo ý kiến các chuyên gia thủy điện thuộc EVN, PECC1 và ý kiến của Thầy hướng dẫn
- Sự hiểu biết, kinh nghiệm của học viên trong 15 năm công tác tại Công ty Cổ phần
Tư vấn Xây dựng Điện 1 (PECC1), đơn vị Tư vấn hàng đầu ở Đông Nam Á trong lĩnh vực thủy điện
Tổng cộng có 10 tiêu chí được lựa chọn, cụ thể như sau:
2.4.1 Nhóm 1 - Các tiêu chí đánh giá sự phù hợp
Có 3 tiêu chí được đề xuất trong nhóm này, bao gồm:
- Tiêu chí 1: Đánh giá sự phù hợp về vị trí xây dựng công trình
- Tiêu chí 2: Đánh giá sự phù hợp về quy hoạch của dự án
- Tiêu chí 3: Đánh giá sự phù hợp về thiết kế công trình
Thang điểm đánh giá cho nhóm 1 được chia làm 4 cấp độ tùy theo mức độ phù hợp của dự án về vị trí xây dựng, quy hoạch và thiết kế, cụ thể:
- Các dự án được đánh giá là rất phù hợp tương ứng với điểm đánh giá là 4
- Các dự án được đánh giá là phù hợp tương ứng với điểm đánh giá là 3
- Các dự án được đánh giá là phù hợp thấp tương ứng với điểm đánh giá là 2
- Các dự án được đánh giá là không phù hợp tương ứng với điểm đánh giá là 1
Cụ thể về thang điểm đánh giá được phân tích, lựa chọn cho từng tiêu chí như sau:
(1) Tiêu chí 1: Đánh giá sự phù hợp về vị trí xây dựng công trình:
- Vị trí đập cắt ngang dòng chính làm chia cắt/gián đoạn dòng chảy của sông, sẽ có tác động rất tiêu cực đến biến đổi/cạn kiệt dòng chảy, ảnh hưởng nhiều đến hệ sinh
Trang 3226
thái và môi trường dòng sông ở khu vực hạ lưu Để bền vững thì không nên xây hồ đập cắt ngang sông chính do các tác động tiêu cực rất lớn đến môi trường và hệ sinh thái ở khu vực hạ lưu Đây cũng là điểm trừ về đánh giá sự phù hợp về vị trí của tuyến đập
- Đập cao, tạo ra hồ chứa có dung tích chứa nước lớn sẽ có hiệu quả phát điện cao Đây có thể coi là điểm cộng khi đánh giá sự phù hợp về vị trí của tuyến đập
- Đập thấp, có dung tích chứa nước nhỏ, thí dụ như đập dâng, phát điện chủ yếu bằng nước từ đập ở thượng lưu và sử dụng dòng chảy tự nhiên trong mùa kiệt sẽ
có sự phù hợp về vị trí ở mức từ thấp tới không phù hợp Trong thực tế không nên khuyến khích xây dựng các đập thấp, có dung tích quá nhỏ này vì ảnh hưởng của chúng đến cạn kiệt dòng chảy ở hạ lưu lớn, nhất là vị trí đập lại trên dòng chính của sông
- Nếu vị trí nhà máy thủy điện cách xa tuyến đập (nhà máy thủy điện kiểu đường dẫn) sẽ tạo ra một đoạn sông phía sau đập bị cạn kiệt dòng chảy (đoạn sông chết) Đây cũng là một điểm trừ khi đánh giá sự phù hợp về vị trí của nhà máy thủy điện Trên cơ sở các phân tích ở trên, luận văn đã lựa chọn các thông số công trình như (dung tích hữu ích, cột nước tính toán và vị trí tuyến đập có cắt ngang sông chính hay không) để làm tiêu chí đánh giá sự phù hợp về vị trí công trình Thang điểm để đánh giá theo tiêu chí này được tổng hợp theo bảng sau:
Bảng 2-1 Thang điểm đánh giá theo tiêu chí 1
Cột nước tính toán (m)
Tuyến đập có cắt ngang dòng sông chính?
Thang điểm đánh giá
Trang 33(2) Tiêu chí 2: Đánh giá sự phù hợp về quy hoạch của dự án:
- Công trình thủy điện được xây dựng có phù hợp với quy hoạch phát triển thủy điện đã được phê duyệt hay không? điều này được đánh giá dựa theo tiêu chí này
- Một trong những cơ sở để đánh giá sự phù hợp so với quy hoạch là dựa trên so sánh giữa dung tích hồ chứa khi xây dựng so với dung tích hồ khi quy hoạch, nếu sai khác càng lớn thì mức độ phù hợp so với quy hoạch càng thấp
- Trong thực tế thường xảy ra trường hợp tuyến đập nằm ở vị trí khống chế tốt, có thể xây dựng đập lớn đáp ứng yêu cầu sử dụng tổng hợp nguồn nước cho tất cả các ngành (phòng lũ, cấp nước tưới, sinh hoạt, công nghiệp và phát điện) Tuy nhiên khi thiết kế và xây dựng, chủ đầu tư tự giảm dung tích hồ chứa xuống so với quy hoạch (dung tích giảm quá 30%) và dung tích chủ yếu chỉ dùng cho phát điện thì
sẽ bị điểm trừ khi đánh giá sự phù hợp với quy hoạch
- Tiêu chí sự phù hợp với quy hoạch được đánh giá dựa theo sự sai khác về dung tích toàn bộ hồ chứa trong thiết kế/xây dựng (WtbTK) với dung tích toàn bộ hồ chứa trong quy hoạch ban đầu (WtbQH) như bảng sau:
Bảng 2-2 Thang điểm đánh giá theo tiêu chí 2
STT Mức phù hợp so
với quy hoạch [(WtbTK - WtbQH)/ WtbQH * 100]% Thang điểm
đánh giá
1 Rất phù hợp Thay đổi ít so với quy hoạch ban đầu (nhỏ hơn 10%) 4
2 Phù hợp Thay đổi vừa, trong khoảng (10 ÷ 30%) 3
Trang 3428
STT Mức phù hợp so
với quy hoạch [(WtbTK - WtbQH)/ WtbQH * 100]% Thang điểm
đánh giá
3 Phù hợp thấp Thay đổi lớn, trong khoảng (30 ÷ 40%) 2
(3) Tiêu chí 3: Đánh giá sự phù hợp về thiết kế công trình:
Để đánh giá sự phù hợp về thiết kế công trình là công việc phức tạp đòi hỏi chuyên môn sâu và cần có thời gian để nghiên cứu với hàng loạt vấn đề cần được xem xét Tuy nhiên, một trong những nội dung quan trọng để đánh giá sự phù hợp về thiết kế với một công trình thủy điện đó là xem xét việc lựa chọn dung tích chết (Wc) của hồ chứa, bởi những lý do dưới đây:
- Thông số Wc đối với hồ thủy điện khi thiết kế thường bị thay đổi quá lớn so với nhiệm vụ cơ bản của Wc Dung tích chết là dung tích để chứa đựng bùn cát đến bồi lắng trong hồ trong suốt cả thời gian hoạt động của hồ Tuy nhiên, trong thiết
kế các hồ chứa thủy điện thường có xu hướng nâng cao dung tích chết lên quá mức, lớn hơn dung tích lắng đọng bùn cát nhiều lần với mục đích để tạo chênh lệch cột nước cao nhằm nâng cao hiệu quả phát điện [14] Điều này sẽ làm cho một lượng nước rất lớn bị chôn trong hồ chứa không được sử dụng cho các nhu cầu khác và rất lãng phí Đây cũng là một điểm trừ khi đánh giá sự phù hợp trong thiết kế của hồ thủy điện Nếu dung tích chết nâng lên khi thiết kế càng cao, thí
dụ tới trên 80% dung tích toàn bộ (Wtb) thì sự phù hợp trong thiết xét theo dung tích chết là thấp
- Dung tích chết lớn đồng nghĩa với dung tích hữu ích nhỏ dẫn đến khả năng điều tiết của hồ chứa nhỏ và ngược lại
- Dung tích chết càng lớn, ngoài việc “chôn” đi một lượng nước lớn trong hồ nó còn dẫn đến vùng nước tĩnh lớn làm cho lượng phù sa bồi lắng trong hồ nhanh hơn và nhiều hơn Đây là nguyên nhân làm suy giảm nguồn dinh dưỡng cho hạ du dẫn đến suy giảm nguồn lợi thủy sản và xói lở bờ sông do mất cân bằng bùn cát
Trên cơ sở đó, tỷ trọng giữa dung tích chết và dung tích toàn bộ (Wc/Wtb) được sử dụng để đánh giá theo tiêu chí này Điểm đánh giá theo tiêu chí này được tổng hợp
Trang 3529
theo bảng sau:
Bảng 2-3 Thang điểm đánh giá theo tiêu chí 3
STT Mức phù hợp Tỷ số giữa dung tích chết/dung tích toàn bộ Thang điểm đánh giá
2.4.2 Nhóm 2 - Các tiêu chí đánh giá hiệu quả
Có 2 tiêu chí được đề xuất trong nhóm này, bao gồm:
- Tiêu chí 4: Hiệu quả đối với hệ thống điện quốc gia
- Tiêu chí 5: Hiệu quả khai thác, sử dụng nước của công trình
Thang điểm đánh giá cho nhóm 2 được chia làm 4 cấp độ tùy hiệu quả của dự án trong sản xuất điện và trong sử dụng nước:
- Các dự án được đánh giá là có hiệu quả rất rất lớn tương ứng với điểm đánh giá là 4
- Các dự án được đánh giá là có hiệu quả lớn tương ứng với điểm đánh giá là 3
- Các dự án được đánh giá là có hiệu quả ở mức trung bình tương ứng với điểm đánh giá là 2
- Các dự án được đánh giá là có hiệu quả thấp tương ứng với điểm đánh giá là 1
Cụ thể về thang điểm đánh giá được phân tích, lựa chọn cho từng tiêu chí như sau:
(4) Tiêu chí 4: Hiệu quả đối với hệ thống điện quốc gia:
Đối với mỗi dự án thủy điện trước khi quyết định đầu tư Chủ dự án đều nghiên cứu rất
kỹ các chỉ tiêu về kinh tế tài chính, chỉ những dự án có các chỉ số tốt về kinh tế, tài chính mới được xem xét đầu tư xây dựng, nên có thể nói tất cả các dự án đều mang lại hiệu quả kinh tế cho Chủ dự án Tuy nhiên hiệu quả trong việc đóng góp vào hệ thống điện quốc gia đôi khi không tỷ lệ thuận với hiệu quả về mặt kinh tế cho Chủ dự án Do
Trang 36Theo phân loại của Việt Nam, các nguồn thủy điện có công suất đến 30MW thì được phân loại là thuỷ điện nhỏ, các nguồn thủy điện có công suất lớn hơn gọi là thủy điện lớn Tuy nhiên, theo Tổ chức thủy điện của Liên hiệp quốc, thì các nguồn thủy điện
có công suất từ 200 kW - 10 MW gọi là thuỷ điện nhỏ, còn các nhà máy có công suất
từ 10 MW - 100 MW là thuỷ điện vừa Sự phân cấp cũng cho thấy phần nào ảnh hưởng của các nguồn thủy điện đến môi trường và xã hội Các cách phân loại này phần nào đánh giá tầm quan trọng, mức độ đóng góp của từng mức công suất đối với
hệ thống điện
Trên cơ sở các dự án đã thực hiện tại Việt Nam và việc phân loại nhà máy thủy điện theo công suất của Việt Nam và thế giới, thang điểm dùng để đánh giá theo tiêu chí này được đề xuất và lựa chọn như bảng sau:
Bảng 2-4 Thang điểm đánh giá theo tiêu chí 4
STT Mức độ đóng góp về
kinh tế Công suất lắp máy (MW)
Thang điểm đánh giá
(5) Tiêu chí 5: Hiệu quả khai thác, sử dụng nước của công trình:
Xuất phát từ nhận thức, nước là nguồn tài nguyên vô cùng quan trọng của mỗi quốc gia, việc sử dụng tài nguyên nước phải mang lại hiệu quả, lợi ích cho cả nền kinh tế
Trang 3731
chứ không chỉ riêng cho Chủ các dự án, công trình cụ thể Do vậy, tiêu chí này dựa vào lượng nước sử dụng (106m3) để sản xuất 1 kWh điện để đánh giá hiệu quả sử dụng nước của mỗi công trình Với cùng một lượng nước như nhau nhưng dự án nào có sản lượng điện càng lớn thì càng được đánh giá là có hiệu quả trong việc sử dụng nước Trên cơ sở phân tích, tổng hợp số liệu, tài liệu của các dự án tiêu biểu đã và đang hoạt động, luận văn đề xuất thang điểm để đánh giá theo tiêu chí này như su:
Bảng 2-5 Thang điểm đánh giá theo tiêu chí 5
- Tiêu chí 7: Tác động tới cạn kiệt dòng chảy ở hạ lưu đập
- Tiêu chí 8: Tác động tới suy giảm chất lượng nước sông
- Tiêu chí 9: Tác động tới suy giảm cá và nguồn lợi thủy sản
Để thuận lợi cho việc tổng hợp, đánh giá chung cho tất cả các nhóm tiêu chí, thang điểm đánh giá cho nhóm 3 cũng được chia làm 4 cấp độ tùy theo mức độ tác động đến môi trường tự nhiên và hệ sinh thái, cụ thể như sau:
- Các dự án được đánh giá là có tác động nhỏ tương ứng với điểm đánh giá là 4
- Các dự án được đánh giá là có tác động trung bình tương ứng với điểm đánh giá là 3
- Các dự án được đánh giá là có tác động lớn tương ứng với điểm đánh giá là 2
Trang 3832
- Các dự án được đánh giá là có tác động rất lớn tương ứng với điểm đánh giá là 1
Cụ thể về thang điểm đánh giá được phân tích, lựa chọn cho từng tiêu chí như sau:
(6) Tiêu chí 6: Tác động tới rừng và thảm thực vật:
Rừng có vai trò hết sức quan trọng về nhiều mặt: Cung cấp lâm sản, đặc sản phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng xã hội, cung cấp động vật, thực vật là đặc sản phục vụ nhu cầu tiêu dùng của các tầng lớp dân cư, nguyên liệu cho công nghiệp, cho xây dựng cơ bản, dược liệu quý phục vụ nhu cá nhân chữa bệnh và nâng cao sức khỏe cho con người, lương thực, nguyên liệu chế biến thực phẩm phục vụ nhu cầu đời sống xã hội Bên cạnh vai trò hết sức quan trọng của rừng là phòng hộ, bảo vệ môi trường sinh thái, giữ đất, giữ nước, điều hòa dòng chảy, chống xói mòn rửa trôi thoái hóa đất, chống bồi đắp sông ngòi, hồ đập, giảm thiểu lũ lụt, hạn chế hạn hán, giữ gìn được nguồn thủy năng lớn cho các nhà máy thủy điện… Công tác bảo vệ và phát triển rừng ở nước ta ngày càng được coi trọng, thể hiện qua các văn kiện của Đảng, các văn bản pháp luật của Nhà nước, như: Luật và các văn bản hướng dẫn Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004; Chỉ thị 13-CT/TW ngày 12 tháng 01 năm 2017 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của đảng đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng; Nghị quyết số 71/NQ-CP ngày 08 tháng 8 năm 2017 của Chính phủ về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Chỉ thị 13-CT/TW
Tuy nhiên, việc xây dựng hồ thủy điện sẽ làm ngập khu vực lòng hồ, từ đó làm tổn hại đến thảm phủ thực vật và tài nguyên rừng trên lưu vực Do vậy, trong Luật bảo vệ Môi trường năm 2014 và Luật Đất đai năm 2013, một trong những cơ sở để xác định cơ quan thẩm định, phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường của dự án là diện tích rừng mà dự án chiếm dụng
Trên cơ sở các phân tích ở trên, việc tổng hợp, phân tích số liệu thiệt hại về rừng của các dự án thủy điện, luận văn đưa ra thang điểm để đánh giá dựa trên diện tích và chất lượng rừng bị mất khi sản xuất ra 1 MW điện năng như trong bảng sau:
Trang 39Đặc điểm rừng bị ngập
Thang điểm đánh giá
trong khu bảo tồn quốc gia 4
2 Trung bình Từ 1 ÷ 3 Rừng nghèo, không nằm trong khu bảo tồn quốc gia 3
3 Lớn Từ 3 ÷ 5 Có rừng trong khu bảo tồn
4 Rất lớn > 5 Có rừng nguyên sinh trong
Ghi chú: Điểm đánh giá được tính toán tương tự như đánh giá cho tiêu chí 5
(7) Tiêu chí 7: Tác động tới cạn kiệt dòng chảy ở hạ lưu đập:
Hồ thủy điện làm cạn kiệt dòng chảy trong các trường hợp sau:
- Hồ, đập thủy điện không có khả năng điều tiết do dung tích hồ chứa rất nhỏ, nên chủ yếu sử dụng lượng dòng chảy tự nhiên của sông trong mùa kiệt sẽ làm cạn kiệt nguồn nước ở hạ lưu, nhất là trong thời gian hồ ngừng phát điện để tích nước
- Nhà máy thủy điện nằm cách xa đập (thủy điện đường dẫn) khi vận hành sẽ làm cạn kiệt đoạn sông ngay sau đập (có thể thành đoạn sông chết)
- Trong mùa cạn, với những thủy điện có hồ chứa nhỏ thường vận hành theo chế độ điều tiết ngày đêm, phát điện theo chế độ phủ đỉnh tức là trong ngày (24h) có thời gian ngừng phát điện hoàn toàn (thường vào ban đêm) để hồ tích nước, những giờ này đoạn sông hạ lưu nhà máy sẽ bị cạn kiệt nguồn nước
Do vậy, có thể dùng những điều kiện trên để đánh giá tác động tới cạn kiệt dòng chảy của hồ/đập thủy điện như bảng sau:
Trang 401 Nhỏ Hồ điều tiết năm hoặc không điều tiết Không 4
2 Trung bình Điều tiết ngày, có thời gian
ngừng phát điện < 5 giờ Chiều dài đoạn sông chết < 1km 3
3 Lớn Điều tiết ngày, có thời gian
Ghi chú: Điểm đánh giá được tính toán tương tự như đánh giá cho tiêu chí 5
(8) Tiêu chí 8: Tác động tới suy giảm chất lượng nước sông:
Với những hồ chưa tích nước, việc dự báo chất lượng nước được dựa trên tài liệu hiện trạng chất lượng nước sông và lượng sinh khối thực vật còn lại sau khi đã thu dọn, lượng nước thải, chất thải sinh hoạt từ các khu dân cư nằm trong lưu vực hồ chứa Với những hồ đã tích nước và đi vào vận hành, suy giảm chất lượng nước/ô nhiễm nước trong hồ chứa cũng như ở khu vực hạ lưu được đánh giá dựa theo số liệu quan trắc, giám sát chất lượng nước trong khu vực lòng hồ và hạ lưu hồ chứa
Chất lượng nước hồ thường bị suy giảm mạnh nhất trong những năm đầu tích nước
do sự phân hủy của các chất ô nhiêm hữu cơ, thực vật bị ngập nước trong lòng hồ, ngoài ra còn do sự tích tụ các chất ô nhiễm từ thượng lưu và khu vực xung quanh
hồ chuyển về Mức độ ô nhiễm sẽ phụ thuộc rất lớn vào việc thu dọn, vệ sinh lòng
hồ trước khi tích nước hồ chứa
Tùy theo mức độ suy giảm chất lượng nước hay ô nhiễm nước theo số liệu điều tra, quan trắc hoặc quan sát mà đánh giá tác động này, thang điểm đánh giá được đề xuất như trong bảng sau: