Tính cấp thiết của đề tài Trong bối cảnh hội nhập quốc tế cùng với sự chuyển mạnh sang kinh tế thị trường, các dự án đầu tư xây dựng công trình chịu ảnh hưởng nhiều hơn tác động không ổ
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Đề tài luận văn thạc sĩ kỹ thuật “Quản lý rủi ro trong xây dựng dự án thủy điện Huội Quảng” của học viên đã được Nhà trường giao nghiên cứu theo quyết định số 13/QĐ-ĐHTL ngày 04 tháng 01 năm 2016 của Hiệu trưởng trường Đại học Thủy Lợi
Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tác giả Các kết quả nghiên cứu và các kết luận trong luận văn là trung thực, không sao chép từ bất kỳ một nguồn nào và dưới bất kỳ hình thức nào Việc tham khảo các nguồn tài liệu (nếu có) đã được thực hiện trích dẫn và ghi nguồn tài liệu tham khảo đúng quy định
Tác giả luận văn
Trương Ngọc Hiển
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian thu thập tài liệu, nghiên cứu và thực hiện, đến nay luận văn thạc sĩ
kỹ thuật với đề tài “Quản lý rủi ro trong xây dựng dự án thủy điện Huội Quảng” đã
hoàn thành và đảm bảo đầy đủ các yêu cầu đặt ra trong bản đề cương đã được phê duyệt
Với tất cả sự kính trọng và biết ơn sâu sắc nhất, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành của mình tới thầy giáo PGS.TS Dương Đức Tiến đã dành nhiều thời gian, tâm huyết để hướng dẫn và giúp đỡ tận tình tôi để tôi hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp này
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong Ban giám hiệu trường Đại học Thủy Lợi; các thầy cô giáo trong Khoa Công Trình, Bộ môn Công nghệ và Quản lý xây dựng đã tận tình chỉ bảo, dạy dỗ tôi trong suốt quá trình học tập tại nhà trường và đã tạo điều kiện để tôi hoàn thành tốt luận văn này
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn những người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo điều kiện, giúp đỡ, động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập, thực hiện và hoàn thành luận văn này
Trong quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn này, chắc chắn khó tránh khỏi những sai xót do kinh nghiệm thực tiễn và cơ sở lý luận chưa hoàn thiện Tôi rất mong muốn nhận được sự góp ý, chỉ bảo chân thành của quý thầy cô, bạn bè, đồng nghiệp để
đề tài nghiên cứu được hoàn thiện hơn nữa
Xin chân thành cảm ơn.!
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC HÌNH v
DANH MỤC BẢNG BIỂU vii
DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT viii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ RỦI RO TRONG XÂY DỰNG 4
1.1 Quản lý dự án xây dựng 4
1.1.1 Khái niệm quản lý dự án 4
1.1.2 Nội dung quản lý dự án 6
1.2 Quản lý rủi ro trong xây dựng 9
1.2.1 Khái niệm rủi ro trong xây dựng 9
1.2.2 Phân loại rủi ro trong xây dựng 10
1.2.3 Quản lý rủi ro trong xây dựng 15
1.2.4 Quản lý rủi ro trong đầu tư dự án thủy điện trên thế giới 22
1.2.5 Quá trình quản lý rủi ro 29
Kết luận chương 1 26
CHƯƠNG 2: XÁC ĐỊNH VÀ ĐÁNH GIÁ CÁC RỦI RO TRONG XÂY DỰNG DỰ ÁN THỦY ĐIỆN 27
2.1 Nhận diện các yếu tố rủi ro 27
2.1.1 Rủi ro xảy ra do vị trí địa lý và điều kiện làm việc của dự án 28
2.1.2 Rủi ro trong thiết kế và đấu thầu 29
2.1.3 Rủi ro trong thi công 31
2.1.4 Rủi ro tài chính 35
2.1.5 Các rủi ro khác 36
2.2 Đánh giá rủi ro trong xây dựng dự án 38
2.2.1 Phương pháp đánh giá 39
2.2.2 Phân tích định lượng 42
Kết luận chương 2 56
Trang 4CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT QUY TRÌNH TRÌNH QUẢN LÝ RỦI RO TRONG
XÂY DỰNG DỰ ÁN THỦY ĐIỆN HUỘI QUẢNG 57
3.1 Dự án thủy điện Huội Quảng 57
3.1.1 Giới thiệu về dự án thủy điện Huội Quảng 57
3.1.2 Quy mô thiết kế 58
3.1.3 Quá trình thi công dự án 63
3.2 Thực hiện đánh giá 66
3.2.1 Phân tích kinh tế - tài chính (Mô phỏng Monte –Carlo) 66
3.2.2 Phân tích các cơ hội giảm thiểu rủi ro 72
3.3 Phân tích các yếu tố gây rủi ro 75
3.3.1 Trong giai đoạn chuẩn bị dự án 76
3.3.2 Trong giai đoạn thực dự án 77
3.4 Đề xuất giải pháp giảm thiểu rủi ro trong chuẩn bị và thực hiện dự án 80
3.5 Đề xuất quy trình quản lý rủi trong quá trình thi công 82
3.5.1 Khung kế hoạch quản lý rủi ro trong giảm thiểu và ngăn ngừa 83
3.5.2 Khung kế hoạch quản lý rủi ro trong dự báo và phòng bị 88
3.5.3 Khung kế hoạch quản lý rủi ro trong đánh giá sự cố 89
3.5.4 Khung kế hoạch quản lý rủi ro trong cứu hộ cứu nạn 92
3.5.5 Khung kế hoạch quản lý rủi ro trong khắc phục hậu quả 93
Kết luận chương 3 96
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 97
PHỤ LỤC 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
Trang 5DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1.Chu trình quản lý dự án 6
Hình 1.2.Quá trình quản lý rủi ro trong xây dựng 29
Hình 1.3.Vòng tròn xác định, đánh giá và phản ứng với rủi ro 30
Hình 1.4.Các yếu tố liên quan đến trượt giá 35
Hình 2.1.Các rủi ro điển hình của dự án ở giai đoạn thực hiện đầu tư 37
Hình 2.2.Biểu đồ đường bao xác suất theo phân tích độ nhạy dạng Spider 45
Hình 2.3.Biểu đồ phân tích độ nhạy dạng Tornado 46
Hình 2.4.Sơ đồ cây quyết định 49
Hình 1.1.Chu trình quản lý dự án 6
Hình 1.4.Các yếu tố liên quan đến trượt giá 35
Hình 2.1.Các rủi ro điển hình của dự án ở giai đoạn thực hiện đầu tư 37
Hình 3.1 Xác suất phân phối của NPV 71
Hình 3.2 Xác suất phân phối của IRR 71
Hình 3 4 Sơ đồ tổ chức Ban quản lý rủi ro nhà máy thủy điện Huội Quảng 83
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1 1 Danh sách các rủi ro 14
Bảng 1 2 Danh sách các tác động của rủi ro 14
Bảng 1 3 Các nguồn nguyên nhân tạo nên rủi ro 15
Bảng 1 4 Kết quả chỉ tiêu tài chính cho các dự án thủy điện Pathri & Mohammadpur Không và có xem xét rủi ro tại Ấn Độ 24
Bảng 1 5 Sự phát triển của tiêu thụ điện ở Bồ Đào Nha (trừ quần đảo), 1995–2012 26 Bảng 1 6 Tổng hợp biến thay đổi được xét đến mô phỏng rủi ro tác động đến đầu tư phát triển thủy điện nhỏ tại Bồ Đào Nha 28
Bảng 2 1 Bảng đánh giá rủi ro 40
Bảng 2 2 Ma trận khả năng tác động ( bao gồm: chi phí, thời gian, quy mô, chất lượng) 41
Bảng 2 3 Tính toán giá trị tiền kỳ vọng của một dự án 47
Bảng 3 1 Các thông số và chỉ tiêu chính của công trình Huội Quảng- giai đoạn thiết kế kỹ thuật 60
Bảng 3 2 Các thông số chính thiết kế 69
Bảng 3 3 Bảng tổng mức đầu tư 70
Bảng 3 4 Chỉ tiêu tài chính của dự án thủy điện Huội Quảng 71
Bảng 3 5 Các rủi ro của dự án ở các giai đoạn thực hiện 75
Bảng 3 6 Đề xuất giải pháp giảm thiểu rủi ro trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư và
thực hiện dự án thủy điện Huội Quảng 81
Bảng 3 7 Quản lý rủi ro trong giảm thiểu và ngăn ngừa 84
Bảng 3 8 Quá trình quản lý rủi ro trong dự báo và phòng bị 88
Bảng 3 9 Kế hoạch ứng phó trường hợp sự cố xảy ra 91
Bảng 3 10 Kế hoạch ứng phó trong khắc phục hậu quả 93
Trang 7DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
IRR Internal rate of return- suất thu lợi nội tại
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế cùng với sự chuyển mạnh sang kinh tế thị trường, các
dự án đầu tư xây dựng công trình chịu ảnh hưởng nhiều hơn tác động không ổn định từ môi trường xung quanh và ngay trong quá trình thực hiện dự án Nhìn nhận, đánh giá
và chủ động quản lý ảnh hưởng của các tác động này đảm bảo sự thành công của dự
án Vấn đề này đã được nhiều quốc gia nghiên cứu và giải quyết thành công trong thực tiễn
Dự án đầu tư xây dựng công trình được triển khai nhằm mục đích thực hiện mục tiêu đầu tư, phát triển, tạo cơ sở vật chất cho xã hội, do vậy thường có thời gian hoạt động dài, chịu tác động trực tiếp từ nhiều môi trường xung quanh như chính trị, kinh tế, xã hội, tự nhiên, luật pháp, công nghệ… Vì vậy, các dự án cần có điều chỉnh trong quá trình thực hiện Những năm qua, đầu tư phát triển ở nước ta không ngừng tăng nhanh
cả về quy mô, lĩnh vực với sự tham gia rộng rãi của toàn xã hội Tuy nhiên, việc nhận dạng, đánh giá, kiểm soát nhằm hạn chế tác động xấu từ các ảnh hưởng nêu trên tới dự
án chưa được chúng ta chú trọng, còn đối phó bị động Thực tế đã phản ánh qua một
số dự án thủy điện, dự án giao thông, dự án thủy lợi…Chính các tác động không ổn từ môi trường xung quanh và điều chỉnh từ nội tại dự án dẫn tới phải thay đổi nhiều tiêu chí cơ bản được dự tính ban đầu và làm thay đổi hiệu quả đầu tư của dự án Đó chính
là sự tồn tại của rủi ro đối với dự án Rủi ro xuất hiện khi tồn tại đồng thời hai yếu tố
cơ bản: yếu tố gây ra rủi ro và đối tượng chịu tác động, ảnh hưởng
Chất lượng và an toàn trong xây dựng không những liên quan trực tiếp đến an toàn sinh mạng, an ninh công cộng, hiệu quả của dự án đầu tư xây dựng công trình mà còn
là yếu tố quan trọng bảo đảm sự phát triển của mỗi quốc gia Công nghệ xây dựng ngày càng phát triển, tuy nhiên việc xảy ra sự cố là vấn đề không tránh khỏi và ảnh hưởng đến tiến độ xây dựng công trình Sớm chủ động nhận dạng, phân tích, đánh giá,
có biện pháp kiểm soát và giảm thiểu các tác động xấu của rủi ro là hết sức cần thiết nhằm đảm bảo khả thi, hiệu quả của dự án
Xuất phát từ các vấn đề cấp thiết trên, tác giả luận văn đã chọn đề tài: “Quản lý rủi ro trong xây dựng dự án thủy điện Huội Quảng”
2 Mục đích nghiên cứu
- Đánh giá rủi ro trong xây dựng nhà máy thủy điện Huội Quảng
- Đề xuất các giải pháp quản lý rủi ro
Trang 93 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
Những kết quả nghiên cứu của đề tài đã hệ thống một cách đầy đủ những vấn đề lý luận có cơ sở khoa học và biện chứng về công tác quản lý rủi ro trong xây dựng Những nghiên cứu này ở một mức độ nhất định sẽ góp phần nâng cao việc quản lý xây dựng công trình
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Phân tích, đánh giá, tính toán thống kê và đề ra các biện pháp quản lý rủi ro trong xây dựng dự án là những tài liệu tham khảo hữu ích đối với công tác quản lý rủi ro dự án thủy điện Huội Quảng nói riêng, công tác quản lý dự án đầu tư khác
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là rủi ro trong xây dựng nhà máy thủy điện Huội Quảng
- Các nhân tố ảnh hưởng và liên quan đến quá trình quản lý rủi ro
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu cả luận văn tập trung vào xác định, phân tích, đánh giá các nhân
tố rủi ro dựa trên hoạt động của dự án Từ đó, kiến nghị giải pháp ngăn ngừa và giảm nhẹ tác động của rủi ro đến việc xây dựng dự án
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn áp dụng phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp kế thừa những kết quả nghiên cứu đã công bố;
- Phương pháp thống kê;
- Phương pháp phân tích tổng hợp, so sánh;
- Phương pháp toán học (Mô phỏng Monte – Carlo)
- Phương pháp chuyên gia: Qua tham khảo xin ý kiến của các thầy cô trong Trường và một số chuyên gia có kinh nghiệm có chuyên môn trong lĩnh vực nghiên cứu của luận văn
Trang 106 Kết quả dự kiến đạt được
Sau đây là các mục tiêu mà luận văn dự kiến đạt được sau đây khi thực hiện luận văn quản lý rủi ro trong xây dựng dự án thủy điện Huội Quảng:
- Xác định và đánh giá các rủi ro ảnh hưởng đến xây dựng dự án thủy điện Huội Quảng
- Đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường năng lực trong quản lý rủi ro của Ban quản
lý dự án thủy điện Huội Quảng
Trang 11CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ RỦI RO TRONG XÂY DỰNG
1.1 Quản lý dự án xây dựng
1.1.1 Khái niệm quản lý dự án
Từ những năm 50 trở lại đây, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật
và kinh tế xã hội, các nước đều cố gắng nâng cao sức mạnh tổng hợp của bản thân nhằm theo kịp cuộc cạnh tranh toàn cầu hóa Chính trong tiến trình này, các tập đoàn doanh nghiệp lớn hiện đại hóa không ngừng xây dựng những dự án công trình quy mô lớn, kỹ thuật cao, chất lượng tốt Dự án đã trở thành phần cơ bản của cuộc sống xã hội Cùng với xu thế mở rộng quy mô dự án và sự không ngừng nâng cao về trình độ khoa học và công nghệ, các nhà đầu tư dự án cũng yêu cầu ngày càng cao với chất lượng dự
án
Vì vậy, quản lý dự án trở thành yếu tố quan trọng quyết định sự tồn tại của dự án Quản lý dự án là sự vận dụng lý luận, phương pháp, quan điểm có tính hệ thống để tiến hành quản lý có hiệu quả toàn bộ công việc liên quan tới dự án dưới sự ràng buộc
về nguồn lực có hạn Để thực hiện mục tiêu dự án, các nhà đầu tư dự án phải lên kế hoạch tổ chức, chỉ đạo, phối hợp, điều hành, khống chế và đánh giá toàn bộ quá trình
từ lúc bắt đầu đến lúc kết thúc dự án
Bất kỳ một dự án nào cũng phải trải quan một số giai đoạn phát triển nhất định Để đưa dự án qua các giai đoạn đó, đương nhiên ta phải bằng cách này hoặc cách khác, quản lý được dự án đó Quản lý dự án thực chất là quá trình lập kế hoạch, điều phối thời gian, nguồn lực và giám sát quá trình phát triển của dự án nhằm đảm bảo cho dự
án hoàn thành đúng thời hạn, trong phạm vi ngân sách được phê duyệt và đạt được các yêu cầu đã định về mặt kỹ thuật và chất lượng sản phẩm, dịch vụ bằng phương pháp và điều kiện tốt nhất cho phép
Quản lý dự án là một quá trình hoạch định (Planning), tổ chức (Organizing), lãnh đạo (Leading/Directing) và kiểm soát ( Controlling) các công việc và nguồn lực để hoành thành các mục tiêu đã định
Trang 12Quản lý dự án là việc áp dụng những kiến thức, kỹ năng, phương tiện và kỹ thuật trong quá trình hoạt động của dự án để áp ứng được (hoặc vượt mức quá thì càng tốt) những nhu cầu và mong đợi của nhà đầu tư cho dự án Trong thực tế, quản lý dự án luôn gặp vấn đề về những lý do như về quy mô dự án, thời gian hoàn thành, chi phí và chất lượng, những điều này làm cho nhà đầu tư khi thì vui mừng, khi thì thấp thỏm lo âu và thậm chí thất vọng
Mục tiêu cơ bản của quản lý dự án thể hiện ở chỗ các công việc phải được hoàn thành theo yêu cầu, đảm bảo chất lượng, trong phạm vi chi phí được duyệt, đúng thời gian
Ba yếu tố: thời gian, chi phí và chất lượng (kết quả hoàn thành) là những mục tiêu cơ bản và giữa chúng lại có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Tuy mối quan hệ giữa 3 mục tiêu có thể khác nhau giữa các dự án, giữa các thời kỳ của một dự án, nhưng nói chung
để đạt được kết quả tốt đối với mục tiêu này thường phải “hy sinh” một hoặc hai mục tiêu kia Do đó, trong quá trình quản lý dự án các quản lý hy vọng đạt được sự kết hợp tốt nhất giữa các mục tiêu của quản lý dự án
Trong lịch sử phát triển của mình, loài người đã quản lý và đã thành công với những
“dự án” như Kim tự tháp Ai Cập, Vạn lý trường thành Trung Quốc,…
Sự cần thiết của một hệ thống phương pháp luận độc lập về quản lý dự án đã được nhận thức ở các nước phát triển phương Tây từ những năm 50 của thế kỷ XX Bắt đầu
từ lĩnh vực quân sự, dần dần quản lý dự án được ứng dụng trong rộng rãi trong các lĩnh vực kinh tế xã hội khác Ngày nay, ở tất cả các nước phát triển, quản lý dự án được công nhận như một hệ thống phương pháp luận của hoạt động đầu tư
Công cuộc xây dựng đất nước của chúng ta hiện nay được đánh dấu bằng các dự án lớn nhỏ, ở khắp vùng miền, khắp các lĩnh vực, khắp các cấp quản lý Chính vì lý do
đó, nghiên cứu phương pháp luận quản lý dự án mang ý nghĩa cực kỳ quan trọng: nâng cao hiệu quả của công cuộc xây dựng đất nước, nhanh chóng đưa nước ta đến đích trên con đường xây dựng Chủ nghĩa xã hội
Trang 131.1.2 Nội dung quản lý dự án
Chu trình quản lý dự án xoay quanh ba nội dung chủ yếu là (1) Lập kế hoạch, (2) phối hợp quản lý chủ yếu là quản lý tiến độ thời gian, chi phí thực hiện và (3) giám sát các công việc dự án nhằm đạt được các mục tiêu đã định
Lập kế hoạch: Là việc xây dựng mục tiêu, xác định các công việc đã được hoàn thành,
nguồn lực cần thiết để thực hiện dự án và phát triển kế hoạch hành động theo một trình
tự lôgic mà có thể biểu diễn dưới dạng sơ đồ hệ thống
Điều phối thực hiện dự án: Đây là quá trình phân phối nguồn lực bao gồm tiền vốn,
lao động, máy móc thiết bị và đặc biệt là điều phối và quản lý tiến độ thời gian Nội dung này chi tiết hóa thời hạn thực hiện cho từng công việc và toàn bộ dự án
Hình 1.1.Chu trình quản lý dự án
Giám sát: Là quá trình theo dõi kiểm tra tiến trình dự án, phân tích tình hình hoàn
thành, giải quyết những vấn đề liên quan và thực hiện báo cáo hiện trạng
Các nội dung của quản lý dự án hình thành một chu trình từ việc lập kế hoạch đến điều phối thực hiện và giám sát, sau đó cung cấp các thông tin phản hồi cho việc tái lập kế hoạch dự án Chu trình quản lý dự án được thể hiện ở Hình 1.1
Chi tiết hơn, nội dung quản lý dự án có nhiều, nhưng cơ bản là nội dung chính sau :
-Đo lường kết quả
-So sánh với mục tiêu
-Báo cáo
-Giải quyết các vấn đề
ĐIỀU PHỐI THỰC HIÊN
-Điều phối tiến độ thời gian -Phân phối các nguồn lực -Phân phối các nỗ lực -Khuyến khích và động viên
Trang 14(1) Phạm vi quản lý dự án
Tiến hành khống chế quá trình quản lý đối với nội dung công việc dự án nhằm thực hiện mục tiêu dự án Nó bao gồm công việc phân chia phạm vi, quy hoạch phạm vi, điều chỉnh phạm vi dự án…
(2) Quản lý thời gian dự án
Quản lý thời gian dự án là quá trình quản lý mang tính hệ thống nhằm đảm bảo chắc chắn hoàn thành dự án theo đúng thời gian đề ra Nó bao gồm các công việc như xác định hoạt động cụ thể, sắp xếp trình tự hoạt động, bố trí thời gian, khống chế thời gian
và tiến độ dự án
(3) Quản lý chi phí dự án
Quản lý chi phí dự án là quản lý chi phí, giá thành dự án nhằm đảm bảo hoàn thành dự
án chi phí khong vượt quá mức trù bị ban đầu Nó bao gồm việc bố trí nguồn lực, dự kiến giá thành và khống chế chi phí
(4) Quản lý chất lượng dự án
Quản lý chất lượng dự án là quá trình quản lý có hệ thống việc thực hiện dự án nhằm đảm bảo đáp ứng được yêu cầu về chất lượng mà khách hàng đặt ra Nó bao gồm việc qui hoạch và đảm bảo chất lượng…
(5) Quản lý nguồn nhân lực
Quản lý nguồn nhân lực là phương pháp mang tính hệ thống nhằm đảm bảo phát huy hết năng lực, tính tích cực, sáng tạo của mỗi người trong dự án và tận dụng nó một cách hiệu quả nhất Nó bao gồm các việc như quy hoạch tổ chức, xây dựng đội ngũ, tuyển chọn nhân viên và xây dựng các ban dự án
(6) Quản lý việc trao đổi thông tin dự án
Quản lý việc trao đổi thông tin dự án là biện pháp quản lý mang tính hệ thống nhằm đảm bảo việc truyền đạt, thu thập, trao đổi một cách hợp lý các tin tức cần thiết cho việc thực hiện dự án cũng như truyền đạt thông tin, báo cáo tiến độ dự án
Trang 15(7) Quản lý rủi ro trong dự án
Khi thực hiện dự án sẽ gặp phải những nhân tố rủi ro mà chúng ta không lường trước được Quản lý rủi ro là biện pháp mang tính hệ thống nhằm tận dụng tối đa những nhân tố có lợi không xác định và giảm thiểu tối đa những nhân tố bất lợi không xác định cho dự án Nó bao gồm việc nhận biết, phân biệt rủi ro, cân nhắc, tính toán rủi ro, xây dựng chính sách và khống chế rủi ro
(8) Quản lý việc mua bán dự án
Quản lý việc thu mua dự án là biện pháp quản lý mang tính hệ thống nhằm sử dụng những hàng hóa, vật liệu từ bên ngoài tổ chức thực hiện dự án Nó bao gồm việc lên kế hoạch thu mua, lựa chọn việc thu mua và trung thu các nguồn vật liệu
(9) Quản lý việc giao nhận dự án
Đây là một nội dung quản lý dự án mới mà Hiệp hội các nhà quản lý dự án trên thế giới đưa ra dựa vào tình hình phát triển của quản lý dự án Một số dự án tương đối độc lập nên sau khi thực hiện hoàn thành dự án, hợp đồng cũng kết thúc cùng với sự chuyển giao kết quả Nhưng một số dự án khác, sau khi dự án hoàn thành thì khách hàng lập tức sử dụng kết quả dự án này vào việc vận hành sản xuất Dự án vừa bước vào giai đoạn đầu vận hành sản xuất lên khách hàng (người tiếp nhận dự án) có thể thiếu nhân tài quản lý kinh doanh hoặc chưa nắm vững được tính năng, kỹ thuật của
dự án Vì thế cần có sự giúp đỡ của đơn vị thi công dự án giúp đỡ đơn vị tiếp nhận dự
án giải quyết vấn đề này, từ đó mà xuất hiện khâu quản lý việc giao-nhận dự án Quản
lý việc giao-nhận dự án cần có sự tham gia của đơn vị thi công dự án và đơn vị tiếp nhận dự án, tức là cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa bên giao và nhận, như vậy mới tránh được tình trạng dự án tốt nhưng kém hiệu quả, đầu tư cao nhưng lợi nhuận thấp Trong nhiều dự án đầu tư quốc tế đã gặp trường hợp này, do việc quản lý - giao nhận
dự án vô cùng quan trọng và phải coi đó là một nội dung chính trong việc quản lý dự
án
Trang 16Các nội dung của quản lý dự án có tác động qua lại lẫn nhau và không có nội dung nào tồn tại độc lập Nguồn lực phân bổ cho các khâu quản lý phụ thuộc vào các ưu tiên cơ bản, ưu tiên các hình thức lựa chọn để quản lý.[1]
1.2 Quản lý rủi ro trong xây dựng
1.2.1 Khái niệm rủi ro trong xây dựng
Trong những năm gần đây, trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu và ứng dụng được thực hiện trong lĩnh vực quản lý rủi ro ngành xây dựng Đây có thể là một trong những vấn đề quan trọng và phức tạp nhất của chủ đề quản lý dự án, do những thay đổi nhanh chóng và khó lường của ngành xây dựng công trình Trong bất kỳ công trình xây dựng nào thì luôn tồn tại một số rủi ro nào đó và chúng làm phức tạp thêm quá trình thi công cũng như gây khó khăn trong việc quản lý tiến độ thời gian, chất lượng và chi phí Thêm vào đó với đặc điểm cơ bản của ngành xây dựng là có sự tham gia của nhiều thành phần, nhiều đơn vị với các chuyên môn khác nhau làm phức tạp thêm mỗi công trường với các mối quan hệ chính thức và không chính thức của các cá nhân và các bên tham gia Đồng thời có nhiều yếu tố mới phát sinh và không thể dự đoán trước được, đặc biệt đối với những dự án xây dựng phức tạp và kéo dài thời gian thi công Tất cả những điều này đều gây ảnh hưởng tiêu cực tới quá trình xây dựng và kết quả cuối cùng của dự án Bằng việc quan tâm tới rủi ro thì một số hạn chế hiện tại sẽ được phát hiện ra, giúp tạo ra cơ hội củng cố và nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc cũng như rút ngắn thời gian thi công xây dựng
Hai từ “nguy hiểm” và “rủi ro” thường được sử dụng hoán đổi, thay thế nhau Nếu xem xét một cách nghiêm túc thì một nguy hiểm thường được coi là một điều gì đấy
có thể đang lệch hướng so với dự định và gây ra tác động tiêu cực, có hại Các nguy hiểm có thể xuất hiện tại bất kỳ công trình xây dựng nào và gây tác động tiêu cực tới nhóm quản lý dự án cũng như đơn vị chủ quản liên quan Nguy hiểm có thể ở dạng vật chất, như tai nạn lao động làm chết người, mất mát vật tư do trộm cắp hay mưa to gây lún sụt nền đất; hoặc có thể ở dạng khác như chậm tiến độ, phạt tiền hay suy giảm uy tín công ty Trong khi đó thì một rủi ro là bội số của chi phí phải bỏ ra do tác động tiếp theo của mối nguy hiểm và khả năng xuất hiện của chúng Nói cách khác khi một nguy hiểm trong công trường xây dựng nhiều khả năng sẽ gây ra mức thiệt hại tối đa là 100
Trang 17triệu đồng, nhưng với 10% xuất hiện thì có một mức rủi ro là 10 triệu đồng Ngoài ra thì còn có một sự so sánh khác nữa giữa “bất định” (không chắc chắn) và “rủi ro” Khi đưa ra quyết định trong điều kiện rủi ro, chúng ta đã biết khả năng xuất hiện của sự kiện rủi ro đang xem xét tới Trong khi đó thì nếu đưa quyết định trong điều kiện không chắc chắn, chúng ta không tính đến mức độ không chắc chắn này Ví dụ thực tế
về công tác đổ bê tông toàn khối ngoài trời Chúng ta thấy rằng trời có vẻ sẽ mưa với các đám mây đen, khi đó chúng ta đưa ra quyết định trong điều kiện không chắc chắn khi thực thi các biện pháp phòng ngừa trời mưa khi đổ bê tông Ngược lại nếu chúng ta dựa vào dự báo thời tiết và biết rằng có 80% khả năng trời sẽ mưa khi đổ bê tông Khi
đó chúng ta thực thi các biện pháp phòng ngừa trời mưa khi đổ bê tông trong điều kiện rủi ro
Vậy cần định nghĩa rủi ro như thế nào để có thể phân biệt rõ ràng với các khái niệm khác như nguy hiểm hay bất định Một cách định nghĩa được xem là hợp lý khi chúng
ta kết hợp hai khía cạnh của “nguy hiểm” và “không chắc chắn” lại với nhau Rủi ro
được coi là “Mối nguy hiểm, có khả năng (nhưng không chắc chắn) gây ra tác động
tiêu cực tới kết quả dự định ban đầu như mất mát, thương tật, suy giảm chất lượng hay tăng thêm chi phí không cần thiết” Từ định nghĩa này có thể thấy rằng rủi ro đã
được phân ra thành hai thành phần có liên hệ với nhau, đó là: khả năng xuất hiện và tác động của rủi ro Ví dụ như xem xét khả năng động đất xuất hiện tại Việt Nam, mọi người đều cho rằng tần xuất xảy ra động đất là vài trăm năm mới có một lần, chính vì vậy rủi ro xuất hiện sự kiện động đất sẽ có tác động thấp đối với công trình xây dựng Một ví dụ khác là khả năng xuất hiện nhiệt độ lạnh vào mùa đông là cao, tuy nhiên nhiệt độ lạnh có ít tác động tiêu cực tới công tác thi công trên công trường Chính vì vậy sự xuất hiện của nhiệt độ lạnh vào mùa đông khó có thể coi là những rủi ro lớn trong xây dựng
1.2.2 Phân loại rủi ro trong xây dựng
Như định nghĩa trên thì rủi ro là sự kết hợp của hai khía cạnh “nguy hiểm” và “không chắc chắn” lại với nhau Chính vì vậy với các mức độ kết hợp khác nhau thì có các loại rủi ro khác nhau Các nhóm rủi ro có thể xen kẽ qua lại lẫn nhau Do vậy một rủi
ro kỹ thuật cũng có thể là một rủi ro đơn thuần Tương tự thì một rủi ro vận hành có
Trang 18thể làm tăng thêm nhiều cho các rủi ro dự án Về tổng thể, có thể phân rủi ro thành các loại sau:
Rủi ro đơn thuần: Rủi ro đơn thuần được xem như là các khả năng xuất hiện hư hỏng,
thương tật hoặc thiệt hại cho công trình xây dựng Loại rủi ro này tập trung hoàn toàn vào sự xuất hiện của những điều tiêu cực, không tốt Đây là loại rủi ro có thể được bảo hiểm do khi mua bảo hiểm cho loại rủi ro này thì công ty bảo hiểm sẽ chi trả cho toàn
bộ các thiệt hại nếu rủi ro loại này xuất hiện Một điều cần lưu ý là người ta không mua bảo hiểm để chi trả cho các tác động tích cực, có lợi do rủi ro tạo ra
Rủi ro kinh doanh: Với rủi ro kinh doanh, sẽ có các cơ hội cho cả thiệt hại và lợi ích
đối với công trường xây dựng Với những rủi ro tạo cơ hội có lợi, đối lập với những rủi ro gây thiệt hại, sẽ là động lực trong việc thúc đẩy và khuyến khích các cá nhân và nhiều tổ chức Có thể coi đặc tính của tổ chức công ty là nơi chấp nhận rủi ro, có nghĩa
là nếu họ chấp nhận các rủi ro bất lợi cao thì bù lại họ cũng sẽ có cơ hội nhận được các
cơ hội có lợi nhiều tương ứng
Rủi ro dự án: Quy luật Murphy nổi tiếng đã phát biểu rằng “nếu điều gì có thể đi lệch
hướng, nó sẽ đi lệch hướng dẫu rằng người ta đã biết trước điều đó” Dự án xây dựng chứa đựng đầy rẫy những rủi ro do chúng là những công trình đơn chiếc và những kinh nghiệm trong quá khứ không giúp được nhiều cho các dự định tương lai Có nhiều thay đổi lớn ở mức độ rủi ro mà dự án phải đối mặt, trong đó một phần lớn đáng kể trong quản lý rủi ro của dự án là do các rủi ro xuất phát từ việc dự toán và lập kế hoạch ban đầu Nếu thời gian cho từng công việc không được dự toán phù hợp, hoặc chi phí
dự toán sai, hoặc các tài nguyên yêu cầu không được chỉ ra rõ ràng, lúc đó mục tiêu ban đầu của dự án sẽ không đạt được và dự án gặp trục trặc
Rủi ro khi thực hiện: Rủi ro khi thực hiện được xác định là những rủi ro gắn liền với
quá trình triển khai và thi công xây dựng dự án, bao gồm cả giai đoạn chạy thử và vận hành công trình sau khi xây dựng xong Các rủi ro này phát triển lên khi mà có những
sự kiện xuất hiện đe dọa tới quá trình thực hiện dự án xây dựng Ví dụ như việc mất điện đột ngột làm cho một so máy móc thi công không thể vận hành được, gây khó khăn cho cả nhà thầu lẫn chủ đầu tư Hoặc như các lỗi sai xuất hiện trong đơn đặt hàng nhập vật tư từ nước ngoài, làm cho chậm quá trình chuyển hàng từ nhà sản xuất nước ngoài tới công trình xây dựng, sẽ làm chậm tiến độ và giảm uy tín của nhà thầu
Trang 19Rủi ro kỹ thuật: Khi những công trình thuộc loại mới và thi công khó khăn thì rủi ro
xuất hiện đầu tiên và nhiều khả năng xảy ra sẽ là chậm tiến độ, tăng chi phí và chất lượng kém Tình trạng này thường xuyên xảy ra với các công ty xây dựng và các kỹ sư công trường khi họ phải thi công các công trình đòi hỏi công nghệ thi công cao, tiên tiến Nguyên nhân là do với những công nghệ thi công xây dựng hiện đại và mới áp dụng lần đầu bao giời cũng chứa đựng mức độ không chắc chắn cao hơn thong thường
Ví dụ như khi mới áp dụng công nghệ thi công đường ngầm trong lòng núi thì có một
số trục trặc không lường trước đã xảy ra và do vậy tiến độ thi công bị chậm lại một cách đáng kể để tìm ra các biện pháp hữu hiệu nhằm khắc phục các vấn đề kỹ thuật này
Rủi ro chính trị: Rủi ro chính trị thường được xem như những trường hợp khi các
quyết định được đưa ra có liên quan hay phụ thuộc chủ yếu vào yếu tố chính trị, cá nhân Ví dụ như khi nhà đầu tư muốn xây dựng một nhà máy sản xuất hàng tiêu dùng nào đó thì họ có thể phải quan tâm tới rủi ro là chính phủ sẽ không khuyến khích hay hạn chế sử dụng loại hàng tiêu dùng đó tại thị trường nội địa Trong phạm vi nhỏ ở mức công ty hay công trường thì rủi ro chính trị có thể hiểu như những ảnh hưởng và tác động của cá nhân hay gia đình vào các hoạt động chung Ví dụ như một đề xuất sử dụng công nghệ thi công mới cho công trường đang thi công có thể không được trưởng phòng kỹ thuật của công ty ủng hộ, dẫn đến việc có rủi ro khó áp dụng tại công trường đang thi công do ban giám đốc của công ty có thể đề cao ý kiến phản đối của trưởng phòng kỹ thuật
Môt cách khác trong phân loại rủi ro có thể áp dụng vào ngành xây dựng là phân theo cách sau:
(1) Các vấn đề kinh tế xã hội:
- Bảo vệ môi trường: các quy định bảo vệ môi trường có tác động vào mức độ không chắc chắn của ngành xây dựng bởi vì chúng ta không biết được sự thay đổi của các yêu cầu về môi trường và bao giờ thì đạt được chấp thuận của các cơ quan có thẩm quyền Các yêu cầu về môi trường thì liên tục bị xem xét lại và thay đổi nếu cần thiết, dẫn đến các phát sinh về chi phí và thời gian trong xây dựng
- Quy định an toàn đối với công chúng: vấn đề này đặc biệt quan trọng đối với các ngành sản xuất nguy hiểm như xây dựng nhà máy điện, xây dựng hầm ngầm hay xây
Trang 20dựng trong khu vực đông dân cư Thực tế này làm thay đổi các hướng dẫn và quy định trong xây dựng cho chủ đầu tư, nhà thầu và các kỹ sư tham gia qua các giai đoạn nghiên cứu khả thi, lập kế hoạch, thiết kế, đấu thầu, xây dựng và vận hành sử dụng Mức độ không chắc chắn sữ tăng lên và do vậy khó có thể hoàn thành dự án trong dự định ngân sách và thời gian như ban đầu
- Bất ổn về kinh tế: tình hình kinh tế trong các năm đã qua chứng minh rằng khó có thể dự đoán chính xác về phát triển, lạm phát và tỷ giá trong tương lai Việc chỉnh sửa
và thay đổi chính sách kinh tế cũng như những quy định liên quan cũng tạo nên mức
độ không chắc chắn cao về tài chính và chi phí xây dựng
- Lạm phát và thay đổi tỷ giá: vấn đề này xảy ra thường xuyên do phạm trù tài chính
và tiền đệ biến động không ngừng và không bao giờ chấm dứt
(2) Mối liên hệ giữa các tổ chức:
- Mối quan hệ hợp đồng: mối quan hệ căng thẳng giữa các bên tham gia dự án xây dựng có thể xuất hiện trong giai đoạn thiết kế và xây dựng Nếu có rủi ro đó xuất hiện thì việc ngồi lại với nhau để tìm kiếm giải pháp phù hợp là cách làm tốt nhất cần được thực hiện
- Đặc điểm các bên tham gia: có nhiều bên tham gia vào công quá trình xây dựng ở các
vị trí khác nhau, có đặc điểm khác nhau và hướng đến các mục tiêu khác nhau Do vậy, rủi ro xuất hiện xung đột giữa các bên là rất lớn trong mọi giai đoạn của dự án xây dựng
- Thông tin liên hệ: việc hợp tác và chia sẻ thông tin giữa các bên tham gia là cách tốt nhất để giảm bớt căng thẳng và các xung đột
(3) Các vấn đề kỹ thuật:
- Giả thiết về thiết kế: một số giả thuyết dùng đưa ra trong quá trình thiết kế đã có thể rất phù hợp với các dự án đã qua, nhưng trở nên không chính xác đối với các công trình kế tiếp cũng như những loại công trình mới do mức độ phức tạp cao
- Điều kiện công trường: điều kiện địa chất đất đai, đặc biệt là đối với lớp đất mặt, luôn
có mức độ không chức chắn cao, do vậy tạo nên các rủi ro cao đối với các kết cấu bên trên
Trang 21- Quy trình thi công: do các quy trình thi công không được xác định rõ ràng từ trước cho nên các bản thiết kế có thể sẽ phải chỉnh sửa hoặc thay đổi hoàn toàn trong giai đoạn xây dựng
- An toàn xây dựng: đây là vấn đề lớn của ngành xây dựng do các rủi ro về không chắc chắn và mất an toàn rất lớn và luôn tiềm ẩn khả năng xảy ra
Trong ngành xây dựng còn có một cách nữa để xác định và phân loại các rủi ro có thể xẩy ra đối với quá trình thi công xây lắp, đó là Danh sách các rủi ro lớn (Bảng 1.1) và Danh sách các tác động của rủi ro (Bảng 1.2) Trong đó ba rủi ro quan trọng nhất của ngành xây dựng được đề ra là thời tiết, năng xuất của nhân công và máy móc thi công,
và chất lượng vật liệu Nguyên nhân gây ra các rủi ro tiềm ẩn có thể xuất phát từ nhiều nguồn khác nhau, với một số ví dụ điển hình thể hiện trong Bảng 1.3 Có thể nói các rủi ro thường được quyết định và dự phòng trong các giai đoạn đầu tiên của dự án (giai đoạn nghiên cứu khả thi và lập kế hoạch) trong khi tác động thực sự của các rủi ro này chỉ có thể biết được trong các giai đoạn sau này (giai đoạn xây dựng và sử dụng công trình)
Có thể chấp nhận > < Không thể chấp nhận
Có thể bảo đảm > < Không thể bảo đảm
Trang 22Bảng 1 3 Các nguồn nguyên nhân tạo nên rủi ro Các thay đổi về phạm vi và yêu cầu dự án Các sai số và thiếu sót trong thiết kế Các vai trò và trách nhiệm được xác định không đúng Nhân viêc có kỹ năng không đáp ứng yêu cầu
Thiên tai địch họa Các công nghệ và kỹ thuật mới
1.2.3 Quản lý rủi ro trong xây dựng
1.2.3.1 Khái niệm
Từ đầu những năm 1990 thì ngành xây dựng bắt đầu chú ý nhiều hơn đến một phương pháp quản lý giúp giải quyết các mối nguy hiểm, đó là quản lý rủi ro mà nó đã được áp dụng nhiều trong các ngành dịch vụ và công nghiệp khác Các bước cơ bản trong quản
lý rủi ro tương đối rõ ràng và đơn giản, đó là: các mối nguy hiểm được xác định rõ; những điều xảy ra tiếp theo và khả năng xuất hiện của chúng được đánh giá và phân tích cụ thể; các ưu tiên được đưa ra; các rủi ro gây tác hại lớn và có khả năng xuất hiện cao được loại bỏ hay hạn chế trong khi vẫn áp dụng biện pháp dự phòng đối với các rủi ro tiềm ẩn Việc áp dụng quản lý rủi ro trong các công ty xây dựng nói chung và các công trường xây dựng nói riêng đã giúp tạo ra được một số lợi thế cạch tranh, cụ thể như:
- Tăng mức độ cẩn trọng đối với những tác hại có thể có sau này của các rủi ro;
- Tập trung nhiều hơn nguồn tài nguyên và sự chú trọng của công ty cũng như dự án đến quá trình quản lý rủi ro;
- Quá trình kiểm soát quản lý của ban giám đốc tốt và hiệu quả hơn;
- Giảm chí phí dài hạn của công ty và dự án, do vậy giúp tăng lợi nhuận doanh nghiệp;
- Có biện pháp loại bỏ hay hạn chế các nguy hiểm có thể có từ các rủi ro đã được chú ý đến từ trước
Quản lý rủi ro là một quá trình xác định, đánh giá và xếp hạng các rủi ro có thể xảy ra
mà qua đó thì các biện pháp hữu hiệu và nguồn tài nguyên cần thiết được lựa chọn và
áp dụng vào thực tế để hạn chế, theo dõi và kiểm soát các khả năng xuất hiện và/hoặc
Trang 23các tác động của các sự kiện không dự báo trước Từ định nghĩa này có thể thấy ngày rằng mục đích của quản lý rủi ro đối với ngành xây dựng là làm tăng tối đa kết quả có lợi do tác động của các sự kiện không dự báo trước và hạn chế tối thiểu các tác động tiêu cực của chúng đối với dự án xây dựng nói riêng và công ty xây dựng nói chung Hay theo một cách khác thì có thể nói quản lý rủi ro là một phương pháp quan trọng để hướng dự án tới thành công Hiện nay nhiều người trong ngành xây dựng vẫn còn chưa hiểu hoặc coi thường các rủi ro cũng như các biện pháp quản lý rủi ro Do vậy họ cũng không biết được những tác động tiểm ẩn của rủi ro tới dự án xây dựng hay quá trinh kinh doanh của họ và công ty họ Khi đó nếu các mối nguy hiểm xảy ra thực sự tại công trường thì tác động tiêu cực của chúng sẽ rất lớn tới con người, máy móc thiết bị
và vật liệu trên công trường thi công Chính vì vậy cần phải coi trọng và sử dụng các biện pháp lý luận về quản lý rủi ro để xác định rủi ro cũng như phòng ngừa và loại bỏ các rủi ro có tác động lớn hay có nguy cơ xảy ra cao
Một rủi ro là một số điều có thể xảy ra, mà nếu xảy ra thì sẽ có các tác động hoặc tiêu cực hoặc tích cực hoặc cả tiêu cực và tích cực tới dự án xây dựng Điều này đã xác nhận một khả năng có giá trị dưới 100% Còn nếu khả năng là 100% thì khi đó không phải là rủi ro nữa mà là một vấn đề cụ thể sẽ diễn ra trong tương lai Thêm vào đó là việc một rủi ro phải có khả năng xảy ra lớn hơn 0%, nghĩa là nó phải có cơ hội xảy ra chứ nếu không thì không được gọi là rủi ro nữa Luôn có một số các rủi ro khác nhau
và chúng ta cần phải quyết định theo từng công trình cụ thể cần phải xử lý chúng như thế nào cho hợp lý nhất Ngoài ra cũng cần phải liên tục theo dõi và kiểm tra các rủi
ro, dẫu rằng dự án hay công ty đã đưa ra các biện pháp hạn chế tác động tiêu cực và loại bỏ chúng hoàn toàn Đó là các công việc cụ thể như tiến hành xem xét thường xuyên và định kỳ các rủi ro đã được xác định từ trước, đánh giá thực trạng các rủi ro này, kiểm tra khả năng xảy ra trong tương lại và tác động của chúng và phát hiện ra các rủi ro mới, nếu có đối với dự án xây dựng Bằng các cách tiến hành như trên, chúng ta đã thiết lập được một kế hoạch quản lý rủi ro cho dự án xây dựng trong một thời gian ngắn nhất có thể
Trang 241.2.3.2 Các cơ sở quản lý rủi ro
Các cơ sở của quản lý rủi ro được trình bày dưới đây có thể giúp các công ty xây dựng
và các công trường thi công tránh được hoặc giảm thiểu được rủi ro tiêu cực Trong số này thì năm cơ sở đầu tiên có liên quan tới khía cạnh kinh doanh của công ty xây dựng
và năm cơ sở sau có liên quan tới mức độ quản lý dự án xây dựng
(1) Cơ sở 1: Văn hóa – Thiết lập văn hóa về quản lý và loại trừ rủi ro
Thiết lập văn hóa doanh nghiệp và văn hóa công trường trong việc quản lý rủi ro và loại trừ những tác hại tiêu cực của chúng sẽ giúp cho công ty và công trường có một tầm nhìn tổng quan để tập trung nhấn mạnh vào khâu đảm kiểm soát và quản lý rủi ro, những phần quan trọng nhất trong thực tế kinh doanh và hoạt động xây dựng Cần phải coi tầm nhìn tổng quan này như một giá trị cốt lõi của doanh nghiệp và được nhất quán ủng hộ từ trên xuống dưới Có thể toàn bộ các bộ n\phận và cá nhân trong công ty xây dựng thấy được tầm quan trọng của quản lý rủi ro, những cũng có thể không ai chú ý đến và bị coi nhe Chính vì vậy để xây dựng được văn hóa này trong doanh nghiệp thì cần có các kế hoạch chiến lược và chi tiết nhằm xây dựng, duy trì và phát huy văn hóa này cũng như có sự tham gia của mọi nhân viên trong công ty và trong công trường xây dựng, từ ban giám đốc cho tới các công nhân phổ thông Khi đó thì chất lương xây dựng phải được coi trọng cao hơn lợi nhuận doanh nghiệp và khi có chất lượng tốt thì sẽ có lợi nhuận kèm theo
(2) Cơ sở 2: Ngăn chặn và hạn chế từ trước – Hãy áp dụng các biện pháp phòng ngừa
từ trước, cùng với các biện pháp xử lý khi có rủi ro
Cần thiết lập các quá trình và hệ thống trong nội bộ công ty xây dựng và các dự án xây dựng hướng tới việc quản lý rủi ro Thông thường trong giai đoạn lập kế hoạch ban đầu đã có thể xác định được các nguồn gây rủi ro tiềm ẩn, do việc những biện pháp can thiệp sớm sẽ giúp giảm bớt mức độ nghiêm trọng và thiệt hại khi rủi ro xảy ra Khi rủi ro đã được xác định rõ thì một kế hoạch thực hiện có thể được phát triển để thay đổi các điều kiện sẽ xảy ra, giúp tránh hoặc hạn chế được rủi ro Tất nhiên rằng có một
số sự kiện và thực tế xảy ra mà ta không biết trước, khi đó thì cần có hành động để xử
lý chúng Dẫu cho chúng ta không thể lập kế hoạch chi tiết cho mọi trường hợp, việc
Trang 25xác định trước các rủi ro sẽ xuất hiện ở những khu vực nào và đề xuất các ưu tiên trong hành động từ trước chính là những biện pháp khung hợp lý nhất để xử lý các hiện tượng và sự kiện không lường trước được
(3) Cơ sở 3: Lập kế hoạch – Hãy lập kế hoạch để không làm phát sinh tác động tiêu cực của rủi ro
Liên quan mật thiết tới biện pháp ngăn chặn và hạn chế rủi ro từ trước đó chính là việc lập kế hoạch Dự án xây dựng tốt không thể đạt được khi công trường có sự bất ổn và lộn xộn, do vậy có yêu cầu phải lập kế hoạch hợp lý Lập kế hoạch chiến lược là quá trình quan tâm tới việc các yếu tố của công trường; như thuê mướn và duy trì nhân công, lựa chọn dự án và chủ đầu tư để đấu thầu, kế hoạch đào tạo và chương trình đảm bảo chất lương; có thể được quan tâm cùng nhau để góp phần làm giảm các thiệt hại
do rủi ro gây ra Lập kế hoạch dự án cũng là một khía cạnh quan trọng đối với quá trình quản lý rủi ro Một bản kế hoạch hành động cho dự án sẽ giúp tập trung nguồn tài nguyên vào các khu vực có thể giảm được rủi ro như thông tin và hệ thống liên hệ, thương lượng hợp đồng, xác định phạm vi công việc, chia xẻ trách nhiệm và các cuộc họp công trường Để cho bản kế hoạch này có hiệu quả thì chúng cần phải đơn giản, có tính khả thi và được thong báo đến các bên liên quan
(4) Cơ sở 4: Thông tin liên lạc – Hãy thông tin để giúp mọi người cùng hiểu rõ về yêu cầu cuối cùng và nhận biết ban đầu
Mọi người đều đồng ý rằng các vấn đề thông tin liên lạc chiếm tỷ lệ lớn trong các xung đột và yêu cầu phát sinh tại các dự án xây dựng Khi tất cả các bên tham gia trong công trường xây dựng thể hiện rõ mục tiêu cũng như những nhận biết của họ thường xuyên và liên tục từ ban đầu, khi đó hệ thống liên kết giữa các bên đã được thiết lập nhằm giảm thiểu sự đối lập trong công việc của họ Để đạt được hiệu quả các thì các thong tin liên lạc cần phải theo cả hướng thông báo lên cấp trên cũng như yêu cầu xuống cấp dưới cho tất cả các đơn vị tham gia trong công trường xây dựng Với một cách tổ chức và lập kế hoạch tốt sẽ tạo ra được hệ thống thông tin liên lạc tốt và
có hiệu quả, với việc tất cả các bên tham gia cần phải đồng ý chấp nhận nội dung thông tin và luồng truyền tin trong dự án xây dựng cũng như trong công ty xây dựng
Trang 26Các công cụ phục vụ hệ thống thông tin hiệu quả là điện thoại, fax, email, thư tín, chuyển phát nhanh… Ngoài ra các thông tin cần phải được quản lý một cách chuyên nghiệp và đúng cách Khi nhận được thông tin hay thông báo gì đó thì việc đầu tiên cần đọc qua để hiểu nội dung và sau đó mới chuyển đến cho những cá nhân và tổ chức liên quan
(5) Cơ sở 5: Đào tạo – Hãy đào tạo mọi người có liên quan
Đào tạo hợp lý sẽ là cơ sở cho bất kỳ thành công nào trong mọi lĩnh vực Các kỹ sư nhiều kinh nghiệm tại công trường và văn phòng công ty có thêm môt nhiệm vụ nữa là truyền dạy các hiểu biết và kinh nghiệm của họ cho cả nhân viên nội bộ và cả khách hàng Như một đặc điểm nghề nghiệp, các kỹ sư xây dựng có những hiểu biết sâu sắc
về ngành xây dựng mà khách hàng rất cần và thường nghe theo trong quá trình thi công xây dựng công trình Nếu công trường xây dựng và văn phòng công ty thiết lập được một hệ thống kèm việc chính thức thì nó sẽ giúp cho những nhân viên mới có it kinh nghiệm làm việc hiệu quả hơn và giảm bớt các sai sót hay gặp phải Những kinh nghiệm có được trong quá trình làm việc thực tế như kỹ năng đàm phán hợp đồng, thông tin liên lạc và lập kế hoạch có thể được sử dụng để quản lý rủi ro Qua đó những kinh nghiệm này nên được truyền dạy cho mọi người trong công ty và công trường, giúp cho họ có khả năng quản lý rủi ro hiệu quả hơn Chủ đầu tư là những người ít có kinh nghiệm và hiểu biết về ngành xây dựng, do vậy họ cũng cần được đào tạo và thông báo cho biết về các vấn đề cơ bản của ngành xây dựng cũng như những rủi ro có thể xảy ra và tác động của các rủi ro đó Từ đó mà các biện pháp phòng ngừa và loại
bỏ rủi ro có thể được đưa ra và áp dụng hiệu quả, với nguồn tài nguyên và kinh phí có sẵn từ ngân sách của chủ đầu tư
(6) Cơ sở 6: Phạm vi công việc – Hãy phát triển và quản lý phạm vi công việc một cách rõ ràng nhất
Một phạm vi công việc đầy đủ, rõ ràng và dễ hiểu sẽ phục vụ cho nhiều mục đích Trước tiên nó sẽ giúp tránh được các hiểu lầm hay hiểu sai từ các cá nhân và các bên tham gia dự án, làm cho họ hiểu được trách nhiệm cụ thể của họ, ở đâu và thời gian nào Ngoài ra phạm vi công việc được sử dụng như một cơ sở cho các thương thảo về
Trang 27thời gian, chi phí và chất lượng, cũng như các phát sinh nếu có Thêm nữa, phạm vi công việc giúp cho các kỹ sư lập kế hoạch công việc từ ban đầu Do tầm quan trọng như vậy nên cần phải thông báo cho các thành viên cũng như các bên tham gia trong
dự án để mọi người hiểu rõ về phạm vi công việc một cách tổng thể cũng như của từng
cá nhân, từng tổ chức Nếu ai đó tiến hành công việc nằm ngoài phạm vi công việc được phổ biên ban đầu thì điều đó có nghĩa họ đã thực hiện các phần việc phát sinh, do vậy họ cần có sự đồng thuận của các bên liên quan Với việc mở rộng phạm vi công việc đồng nghĩa với việc tăng thêm các rủi ro có thể có với dự án xây dựng
(7) Cơ sở 7: Đền bù thiệt hại – Hãy chuẩn bị và thương lượng về các chi phí để đảm bảo chất lượng và có lợi nhuận
Dẫu rằng các phát sinh được tính theo khối lượng chi tiết hay tính trọn gói thì luôn quan niệm rằng một khoản chi phí hợp lý cần được trả cho các phát sinh cùng với một khoảng thời gian hợp lý để hoàn thành các phát sinh ở mức chất lượng được chấp nhận Cần phải thương lượng về phát sinh dựa vào phạm vi công việc đã được thỏa thuận ban đầu Điều quan trọng là phải trình nộp các yêu cầu về chi phí phát sinh một cách rõ ràng, với các giải thích chi tiết nếu có nhằm hạn chế các hiểu lầm và xung đột quyền lợi giữa các bên tham gia Trong quá trinh thuwong lượng và đàm phám hợp đồng, cần tránh các nhà thầu có lịch sử kiện tụng và đang làm ăn thua lỗ Đồng thời có thể hủy bỏ không thực hiện dự án nếu số tiền bỏ ra có khả năng cao hơn lợi nhuận thu được khi dự án đưa vào sử dụng
(8) Cơ sở 8: Hợp đồng – Hãy thương lượng để có được một thỏa thuận rõ ràng và hợp
lý
Một hợp đồng tốt là một hợp đồng hợp lý cho tất cả các bên tham gia, qua đó hạn chế được các rủi ro có thể có trong quá trình thi công xây dựng Ngược lai với một hợp đồng không rõ ràng về câu chữ và các điều khoản sẽ tiềm ẩn các rủi ro khó lường trước được Nên xem xét kỹ toàn bộ hợp đồng và có thể tư vấn thêm những đơn vị có hiểu biết sâu về từng vấn đề để phát hiện ra và loại bỏ hoặc chỉnh sửa các chữ, câu và khu vực có rủi ro xung đột cao Một cách hợp lý là nên sử dụng những hợp đồng chuẩn, đã được áp dụng ở nhiều công trình khác và được soạn thảo bởi các tổ chức
Trang 28chuyên về hợp đồng xây dựng nhưng có chỉnh sửa một số nơi cho phù hợp với tình hình thực tế Cần phải có thêm một chú ý nữa là rủi ro cần phải được chia đều cho các bên tham gia trong hợp đồng, với tỷ lệ phụ thuộc vào lợi nhuận các bên có được sau khi kết thúc hợp đồng
(9) Cơ sở 9: Tài liệu hợp đồng – Hãy chuẩn bị một bộ tài liệu hợp đồng có chất lượng
Với hầu như mọi công việc xây dựng, sản phẩm cuối cùng của bộ tài liệu hợp đồng là các tài liệu phục vụ thi công xây dựng công trường Do vậy việc đầu tiên là phải chuẩn bị kế hoạch làm sao tạo ra được chúng cũng như việc kết hợp giữa các bản vẽ thiết kế và bộ hồ sơ thuyết minh tính toán Khâu thiết kế được coi là phức tạp nhất
và chứa đựng nhiều rủi ro Do vậy cần phải có sự chấp thuận của chủ đầu tư đối với các yêu cầu thiết kế, cũng như việc phải phổ biến đầy đủ các yêu cầu đó tới các cá nhân và tổ chức liên quan Ngoài ra giai đoạn xây dựng cũng có nhiều rủi ro tiềm ẩn với các thay đổi và phát sinh khó lường trước Để thực hiện tốt công việc thiết kế và xây dựng thì cần có sự tham gia của chủ đầu tư cũng như những quyết định quan trong của họ về các vấn đề lớn, nhạy cảm
(10) Cơ sở 10: Giai đoạn xây dựng – Hãy thiết lập hệ thống để hoàn thành quá trình quản lý rủi ro
Giai đoạn xây dựng, hay giai đoạn cuối cùng của dự án là thời điểm sẽ có nhiều rủi ro xuất hiện và tác động tới dự án Đây chắc chắn không phải là lúc có thể bỏ qua các biện pháp bảo vệ chống lại các rủi ro tiềm ẩn Rất nhiều công việc cần thực hiện trong giai đoạn này Về mặt thi công xây dựng thì đó là các công việc đào đất, đổ bê tong, xây trát, sơn bả, hoàn thiện… Về mặt giấy tờ thì đó là các quá trình chuẩn bị hồ
sơ, giải thích các thắc mắc, đánh giá các phát sinh, kiểm tra công trường và nhiều công việc khác Tất cả các công việc vật chất và công việc giấy tờ này cần phải được thực hiện đúng thời gian dự định và có hiệu quả để tránh rủi ro chậm tiến độ hay phải thực hiện lại Một biện pháp hạn chế sự chậm tiến độ là chuyển tải các thông tin hiệu quả và lưu giữ thong tin chính xác giữa chủ đầu tư, tư vấn, các nhà thầu, đơn vị cung cấp máy móc vật tư và các đơn vị khác Nên thiết lập mối quan hệ đối tác, tránh mối quan hệ
Trang 29đối thủ, để các bên tham gia có thể làm việc cùng nhau và hướng tới mục tiêu chung của dự án xây dựng
1.2.4 Quản lý rủi ro trong đầu tư dự án thủy điện trên thế giới
Dự án xây dựng công trình thủy điện cũng như dự án xây dựng nói chung bao gồm con người, tài liệu, nguồn vốn và thông tin được nhận định là một hệ thống mở phức tạp
và chủ đề lớn cho nghiên cứu Có nhiều yếu tố bất định cả bên trong và bên ngoài từ khi bắt đầu đến khi hoàn thành Ngoài ra, còn có các bên khác nhau trong ngành xây dựng như người tham gia dự án và cơ quan quản lý Trong khi đó, các dự án xây dựng thủy điện liên quan đến nhiều công đoạn như lập kế hoạch, thiết kế và xây dựng Những sai sót ở bất kỳ giai đoạn nào hoặc bởi bất kỳ người tham gia nào sẽ có tác động tiêu cực đến dự án Điều này có nghĩa là phạm vi quản lý rủi ro, kiểm soát rủi ro
là khá lớn và phức tạp Điều quan trọng là phải xác định các rủi ro chính để đưa ra một chiến lược quản lý rủi ro phù hợp
1.2.4.1 Quản lý rủi ro dự án thủy điện nhỏ tại Ấn Độ
Nền kinh tế Ấn Độ tăng trưởng 8,5%, điều bắt buộc đối với ngành điện là tăng trưởng 8,1 % năm (Chính phủ, 2012) Năng lượng của Ấn Độ có sự kết hợp của tất cả các nguồn lực sẵn có bao gồm cả năng lượng tái tạo Ấn Độ mong muốn tăng cường phát điện từ các nguồn năng lượng tái tạo đáng kể, để thúc đẩy nền kinh tế của nó; sự phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch là không thể quản lý
Nguồn năng lượng tái tạo (RE-Renewable Energy) nguồn tạo thành một phần nhỏ (ít hơn 10%) tiêu thụ năng lượng tổng thể của Ấn Độ ngày nay (Popovski, Gnjezda, Niederbacher, Naunov, & Milutinovic, 2000) Năng lượng thủy điện nhỏ chiếm hơn 15% tổng hợp năng lượng tái tạo Tuy nhiên, đóng góp từ các nhà máy thủy điện nhỏ hướng tới việc sản xuất thủy điện ở Ấn Độ không được khai thác nhiều vì hầu hết năng lượng thủy điện được tạo ra chỉ thông qua các dự án thủy điện lớn hoặc trung bình (Madlener & Ediger, 2004) Từ thành công hạn chế Ấn Độ đã đạt được, năng lượng thủy điện đã đóng góp hơn 20% cho hỗn hợp năng lượng tái tạo (Chính phủ, 2011) Ngành điện Ấn Độ có công suất lắp đặt là 86.000 MW Trong đó 25% là thủy điện (Chaurasiya, Prasad, & Khare, 2013) và còn lại là các dự án nhiệt, hạt nhân và khí đốt
Trang 30Tiến trình đánh giá rủi ro
- Xác định rủi ro: Xác định rủi ro là quá trình nhận biết các mối nguy hiểm mà dự án Thủy điện nhỏ chịu tác động, các phương thức hỏng hóc dự án tiềm năng và hậu quả xấu Các yếu tố nguy cơ chính đối với các dự án thủy điện nhỏ là các yếu tố khí hậu, điều tiết, chính sách, kinh tế xã hội, sự mất cân bằng môi trường Sự không chắc chắn của thị trường làm thay đổi giá điện, lãi suất, lạm phát do đó lợi nhuận của nhà đầu tư
bị ảnh hưởng Các dự án thủy điện phải đối mặt với nhiều rủi ro như rủi ro thị trường, rủi ro tín dụng, rủi ro trong xây dựng, rủi ro chính trị, rủi ro pháp lý, rủi ro bất khả kháng, vv
- Ước lượng rủi ro: Bao gồm xác định phản ứng sự bất định tồn tại và xác suất kết quả của các chi phí vượt quá So sánh các kịch bản có chi phí vượt quá với các kết quả chi phí không vượt quá Xác suất và kết quả ước tính sau đó được nhập vào mô hình rủi ro
- Sử dụng mô phỏng Monte-Carlo (MCS) để đánh giá rủi ro cho đầu tư dự án thủy điện Dưới đây là ví dụ minh họa đánh giá cho việc đầu tư cho 2 thủy điện nhỏ ở Ấn
Độ (nhà máy thủy điện Pathri và Mohammadpur)
a Ước tính NPV, IRR & BCR sử dụng mô phỏng Monte Carlo về dự án Thủy điện Pathri
Trang 31b Ước tính NPV, IRR & BCR sử dụng mô phỏng Monte Carlo về dự án Thủy điện Mohammadpur
Bảng 1 4 Kết quả chỉ tiêu tài chính cho các dự án thủy điện Pathri & Mohammadpur
Không và có xem xét rủi ro tại Ấn Độ
Chỉ tiêu
tài chính
Giá trị tính toán
Không xem xét đến rủi ro
Có xem xét đến rủi ro
Giá trị tính toán
Không xem xét đến rủi ro
Có xem xét đến rủi ro
(Nguồn: Công ty điện lực Ấn Độ)
Mô phỏng Monte – Carlo cho thấy độ chắc chắn của NPV ước tính, IRR & B/C trong bảng 1.4 NPV ước tính là 25,39% & 61,54%, IRR là 24,62% và 62,04% & B/C 25,33% và 62,07% cho dự án Pathri và Mohammadpur tương ứng Độ chắc chắn thấp
Trang 32chỉ ra rằng chỉ số tài chính tính toán không được đánh giá là tính toán rủi ro theo phương pháp truyền thống; nó hoàn toàn dựa trên giả định của người quản lý đầu tư
1.2.4.2 Quản lý rủi ro dự án thủy điện tại Indonesia
Sự phát triển của nhà máy thủy điện là một trong những nỗ lực trong việc sử dụng nguồn nước tạo ra năng lượng cho mục đích sử dụng điện Ngày nay, công suất lắp đặt của các nhà máy thủy điện là 3.529 MW từ tổng công suất lắp đặt 24.846 MW từ các nhà máy điện thuộc sở hữu của Công ty Điện lực Quốc Gia (PLN) và thủy điện tiềm năng 75.000 MW trên khắp Indonesia Nhà máy thủy điện có cấu trúc phức tạp và có lượng lớn vốn có thời gian xây dựng dài hạn Tình trạng này áp đặt các yếu tố không chắc chắn với rủi ro cao đáng kể Giai đoạn xây dựng được xác định là một giai đoạn quan trọng trong các dự án thủy điện, nơi có nhiều yếu tố không lường trước được Không quản lý rủi ro dự án dẫn đến các vấn đề quan trọng đối với khách hàng như thời gian hoàn thành chậm trễ và chi phí vượt quá Để ngăn chặn sự chậm trễ thời gian và chi phí vượt quá trong xây dựng thủy điện trong ngành điện quốc gia, nghiên cứu về quản lý rủi ro dự án trong giai đoạn xây dựng thủy điện các dự án nhà máy đã được thực hiện Mục đích của nghiên cứu này là xác định và đo tầm quan trọng của việc xây dựng rủi ro và xác định mức độ thỏa thuận hoặc bất đồng giữa khách hàng, nhà tư vấn,
và các nhà thầu về xếp hạng rủi ro xây dựng trong các dự án thủy điện
Để ngăn chặn sự chậm tiến độ và chi phí quá mức như vậy, tập trung tiến hành một nghiên cứu về quản lý rủi ro dự án trong giai đoạn xây dựng của dự án nhà máy thủy điện Hơn 90% các nhà máy thủy điện ở Indonesia được sở hữu và vận hành bởi Công
ty Điện lực Quốc gia (PLN)
Hướng dẫn cho Cơ quan quản lý dự án về kiến thức (Hướng dẫn PMBOK®) (PMI
2004, trang 127) cho rằng quản lý rủi ro là quá trình có hệ thống xác định, phân tích và phản hồi rủi ro dự án Hơn nữa, Elkington và Smallman (2002) 21 giải thích rằng quản
lý rủi ro phải tích hợp rủi ro được xác định trong rủi ro phân tích giai đoạn vào quản lý
dự án.Rủi ro xây dựng có thể được xác định theo một số cách như tầm quan trọng, khả năng, tần suất, nguồn và tác động đến dự án Về nguồn gốc rủi ro, rủi ro dự án trong xây dựng giai đoạn, có thể được phân loại thành hai; tức là yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài Các yếu tố bên trong từ bên trong tổ chức cần sự chú ý hàng ngày từ nhóm
Trang 33dự án trong quá trình thực hiện của các tác phẩm Mặt khác, các yếu tố bên ngoài đến
từ bên ngoài tổ chức không thể bị kiểm soát bởi các yếu tố của tổ chức như thay đổi quy định, thay đổi chính trị, lạm phát Kết quả là, các yếu tố bên ngoài cần được xác định trong thiết kế giai đoạn bằng cách chuẩn bị tài liệu chính xác và rõ ràng, ví dụ, áp dụng giá công thức điều chỉnh để bù đắp biến động giá của vật liệu xây dựng hoặc cây trồng hoặc tiền công lao động trong thời gian xây dựng Năm các yếu tố rủi ro, cụ thể
là "các yếu tố nguy cơ ban đầu quan trọng", như được nhận thức bởi khách hàng, các nhà tư vấn, và các nhà thầu trong các dự án thủy điện trong tổ chức Công ty Điện lực Quốc Gia là: (1) Điều kiện địa chất, (2) Điều kiện của nước ngầm, (3) Sự chậm trễ của bên thứ ba, (4) quản lý và giám sát trang dự án kém, (5) Tốc độ ra quyết định thấp liên quan đến tất cả các dự án các nhóm (Nguồn: Công ty Điện lực Quốc gia Indonesia)
1.2.4.3 Quản lý rủi ro dự án thủy điện nhỏ tại Bồ Đào Nha
Với phát triển công nghiệp và dân số và tăng trưởng kinh tế, đã có sự gia tăng đáng kể trong nhu cầu và tiêu thụ điện ở Bồ Đào Nha những thập kỷ qua, mà đã phải được đáp ứng với một tăng sản lượng điện Bảng 1.5 cho thấy tiến hóa tiêu thụ điện trong nhiều năm từ năm 1995 Có thể thấy, mặc dù có một giảm tiêu thụ trong năm 2011 và 2012,tiêu thụ điện tăng 58% 1995 và 2012
Bảng 1 5 Sự phát triển của tiêu thụ điện ở Bồ Đào Nha (trừ quần đảo), 1995–2012
Tiêu thụ điện
(Nguồn: Công ty điện lực Quốc gia Bồ Đào Nha)
Tiến trình đánh giá rủi ro cho đầu tư 1 dự án thủy điện nhỏ
(1) Xác định rủi ro: những rủi ro tiềm ẩn chính liên quan đến đầu tư vào các nhà máy thủy điện nhỏ SHP (Small hydropower) có liên quan cho dự án gồm: xây dựng / hoàn thành, công nghệ, địa chất, thủy văn, kinh tế, tài chính, chính trị, môi trường, văn hóa
xã hội
Trang 34(2) Đánh giá rủi ro: phân tích độ nhạy chứng minh rằng khả năng tồn tại của dự án có thể rất nhiều nhạy cảm với biến thể của các biến liên quan đến đầu tư, thuế suất và tỷ
lệ chiết khấu Nghiên cứu trước đây dựa trên trên phương pháp xác định và mỗi biến là phân tích độc lập, đánh giá tác động của nó lên dự án khả thi Theo cách tiếp cận ban đầu này, kỹ thuật phân tích nguy cơ xác suất sẽ được sử dụng để đánh giá cả tác động lẫn xác suất của các sự kiện Các biến có liên quan được tạo ngẫu nhiên bằng cách sử dụng Mô phỏng Monte Carlo và từ những giá trị này hàng năm dòng tiền được ước tính để tính toán dự kiến NPV và phân bố xác suất của nó Thứ nhất là độc lập đánh giá từng biến được thực hiện nhưng chính mục tiêu là để có được một phân tích kết hợp, cho phép đánh giá cả tác động lẫn xác suất của các các kịch bản được đặc trưng bởi sự kết hợp của các sự kiện ngẫu nhiên Phần mềm @Risk đã được sử dụng cho phân phối phù hợp dữ liệu được sử dụng trong phân tích này và cho Monte Carlo mô phỏng
(3) Phân tích một dự án thủy điện nhỏ ở Bồ Đào Nha với dạng tuabin Kaplan, công suất lắp máy 1,90 MW và hồ chứa dung tích là 0,5 triệu m3 Chiều cao đập 12,5 m và lưu lượng 18 m3/s Chỉ tiêu đánh giá đầu tư dự án: NPV: 984.240€; IRR:13,17%; Thời gian hoàn vốn 7,8 năm
Biểu giá bán điện thay đổi tác động đến NPV Dự án chậm tiến độ tác động đến NPV
Ngân sách đầu tư tăng tác động đến NPV Tỷ lệ triết khấu thay đổi tác động đến NPV
Trang 35Ta có thể thấy thể thấy, nếu yêu cầu tăng gần 25% trong số tiền đầu tư ban đầu để đạt được NPV bằng 0 Giá trị ban đầu của đầu tư sẽ phải tăng từ 3.969.600 € lên 4.962.000 €, tức là tăng khoảng 1.000.000 €
Bảng 1 6 Tổng hợp biến thay đổi được xét đến mô phỏng rủi ro tác động đến đầu tư
phát triển thủy điện nhỏ tại Bồ Đào Nha
Chi phí đầu tư Dạng tam giác (Triangular) Maximun value = 226%xMode
Minimun value = 54%xMode
Chi phí O&M Dạng tam giác (Triangular) Maximun value = 195%xMode
Minimun value = 62%xMode
Tỷ lệ chiết khấu Dạng tam giác (Triangular) Maximun value = 171%xMode
Minimun value = 76%xMode Biểu giá (giá trị
thị trường) Dạng chuẩn (Normal) Expert value = 46.96€/MWh Standar deviation = 14.80 €/MWh Biểu giá (cung
Expert value = 91.00€/MWh Standar deviation = 28.68 €/MWh Phần mềm @Risk đã được sử dụng cho phân phối phù hợp dữ liệu được sử dụng trong phân tích này và cho Monte Carlo mô phỏng
Biểu đồ phân bố xác suất rủi ro đầu tư
Biểu đồ phân bố xác suất rủi ro O&M
Biểu đồ phân bố xác suất rủi ro tỷ lệ chiết
khấu
Biểu đồ phân bố xác suất rủi ro hỗ trợ giá điện
nguồn năng lượng tái tạo
Trang 361.2.5 Quá trình quản lý rủi ro
Quản lý rủi ro là một quá trình có hệ thống để xác định rủi ro, đánh giá mức độ tác hại
và khả năng xuất hiện, và ứng phó với rủi ro trong hoạt động thi công xây dựng Mục đích tổng thể của quá trình quản lý rủi ro là tối đa hóa các cơ hội và thuận lợi khi có sự kiện rủi ro xuất kiện sau này đồng thời với việc hạn chế các tác động tiêu cực và bất lợi đối với quá trình thi công xây dựng tại công trường Một mô hình bao gồm ba phần
chính là xác định rủi ro, đánh giá rủi ro và ứng phó với rủi ro như thể hiện trong Hình 1.2, thường được sử dụng nhiều trong các công trường xây dựng và các hoạt động xây
dựng Trong thực tế xây dựng thì quá trình quản lý rủi ro có thể sẽ phức tạp hơn, biến
động hơn Một mô hình quản lý rủi ro được thể hiện trong Hình 1.3, với các bước
được thực hiện theo cách thông thường và được lặp lại nhiều lần trong một sơ đồ khép kín từ khi bắt đầu dự án xây dựng cho đến khi kết thúc hoàn toàn các công việc có liên quan
Hình 1.2.Quá trình quản lý rủi ro trong xây dựng
Trang 37Hình 1.3.Vòng tròn xác định, đánh giá và phản ứng với rủi ro (1) Xác định rủi ro
Xác định rủi ro là bước đầu tiên trong bất kỳ quá trình quản lý rủi ro nào với mục đích
là quyết định rõ ràng các rủi ro tiềm ẩn có thể xảy ra trong các giai đoạn tiếp theo và
có tác động tới dự án xây dựng Trong giai đoạn này nên thu hút nhiều nhất có thể các đối tác tham gia và liên quan tới dự án Một số công cụ và biện pháp dùng để xác định các rủi ro của dự án phương dùng phương pháp động não, tham khảo ý kiến chuyên gia, phỏng vấn các thành viên dự án, câu hỏi điều tra, những kinh nghiệm đã trải qua, dùng mô phỏng, phân tích và đánh giá các dự án tương tự khác Có một thực tế rằng các việc xác định các rủi ro có thể có thường dựa vào nhận định cá nhân của các thành viên và các đối tác tham gia vào dự án xây dựng Điều này có nghĩa rằng kinh nghiệm
đã có sẽ không có vai trò quan trọng nhiều như những giả định thông thường được đưa
ra trong quá trình xác định rủi ro của các dự án xây dựng Trong quá trình xác định rủi
Trang 38ro thì các rủi ro tiềm ẩn có thể được chia ra thành các nhóm khác nhau, như các nhóm
(3) Ứng phó với rủi ro
Quá trình này có liên quan trực tiếp tới việc chỉ ra các biện pháp hay công cụ để xử lý các rủi ro đã được xác định và đánh giá từ trước Thông thường để ứng phó với rủi ro sẽ có bốn chiến lược chính là: (1) tránh rủi ro – thay đối kế hoạch xây dựng hay áp dụng các biện pháp cần thiết để loại bỏ rủi ro, (2) giảm thiểu rủi ro – giảm khả năng xuất hiện của rủi ro hoặc giảm tác động tiêu cực sau này của rủi ro, (3) chuyển hướng rủi ro – chuyển những rủi ro không thể tránh khỏi hay giảm bớt cho các đối tác khác trong và ngoài dự án xây dựng và (4) duy trì rủi ro – chấp nhận có các rủi ro này trong
dự án xây dựng Nếu chấp nhận sẽ có rủi ro tiềm ẩn thì sẽ có hai khả năng đối với các rủi ro này: hoặc là sẽ phát triển kế hoạch dự phòng cho trường hợp rủi ro xuất hiện hoặc là không có chuẩn bị nào cho đến khi rủi ro xuất hiện Trong thực tế ngành xây dựng thì có rất nhiều rủi ro không thể tránh khỏi và lặp lại nhiều lần cho nên thông thường thì các công ty xây dựng áp dụng chiến lược giảm thiểu rủi ro cho chính họ và chuyển hướng rủi ro cho các đối tác khác [2]
Trang 39Kết luận chương 1
Chương này đã đưa ra những giới thiệu chung nhất những hiểu biết ban đầu về quản lý dự án, cơ bản về rủi ro và quản lý rủi ro trong ngành xây dựng Rủi ro được coi là mối nguy hiểm, có khả năng (nhưng không chắc chắn) gây ra tác động tiêu cực tới kết quả dự định ban đầu như mất mát, thương tật, suy giảm chất lượng hay tăng thêm chi phí không cần thiết Từ đó, ta thấy cần coi trọng và luôn xem xét đến các yếu
tố có thể gây ra các rủi ro bất lợi và áp dụng biện pháp quản lý rủi ro phù hợp để hạn chế và loại bỏ những tác động không tốt tới giai đoạn thi công xây dựng sau này Những khái niệm và phân loại rủi ro trong xây dựng là cơ sở xác định rủi ro, đánh giá rủi ro sẽ được trình bày trong Chương 2 của luận văn
Trang 40CHƯƠNG 2: XÁC ĐỊNH VÀ ĐÁNH GIÁ CÁC RỦI RO TRONG XÂY
DỰNG DỰ ÁN THỦY ĐIỆN
2.1 Nhận diện các yếu tố rủi ro
Một cơ sở quan trọng trong quá trình phân tích rủi ro là phải tránh được những điều bất ngờ, không chuẩn bị trước Sẽ không thể tránh được một cơn bão lớn đang tiến về gần công trường xây dựng của chúng ta, nhưng nếu biết được hướng đi, độ rộng, cấp bão của nó cũng như thời điểm bão tác động tới công trình thì chúng ta sẽ có các biện pháp chuẩn bị để đối phó với cơn bão đó Nếu không biết thông tin chính xác về cơn bão và thời điểm nó gây tác động tới công trường xây dựng thì chúng ta sẽ không thể đưa ra các biện pháp phòng ngừa và đối phó Khi đó thì sẽ có các hậu quả tiêu cực và nguy hiểm xảy ra đối với công trường xây dựng như tai nạn, đổ vỡ và gián đoạn thi công Có thể nói việc xác định rủi ro là bước đầu tiên trong quá trình quản lý rủi ro, với mục đính là chỉ rõ các sự kiện rủi ro càng sớm càng tốt để qua đó có thể loại bỏ sự xuất hiện của rủi ro hoặc giảm thiểu tác động tiêu cực của rủi ro có thể gây ra Trong môi trường đa dạng và năng động, thì quá trình đánh giá rủi ro thường được tiến hành Khi đó trong mỗi giai đoạn xem xét của lãnh đạo thì sẽ luôn có những công việc cần phải thực hiện để xác định rủi ro
Có nhiểu cách khác nhau để xác đỉnh rủi ro có thể xuất hiện trong ngành xây dựng nói chung và công trường thi công nói riêng Mỗi cách thì lại có ưu điểm riêng và hạn chế riêng, có thể áp dụng phù hợp cho các hoàn cảnh và thời điểm khác nhau Có thể nói không có một cách xác định rủi ro nào được coi là tối ưu và được sử dụng duy nhất trong mọi trường hợp Chính vì vậy việc hiểu được nhiều cách xác định rủi ro là rất quan trọng để qua đó có thể lựa chọn được những cách xác định rủi ro phù hợp nhất cho thực tế cụ thể Sau đây là một số cách xác định rủi ro phổ biến nhất thường được
áp dụng:
- Bảng liệt kê rủi ro
- Động não theo nhóm
- Bảng báo cáo vấn đề