1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu và đề xuất giải pháp nâng cao năng lực kiểm định chất lượng công trình

126 88 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 2,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với nhu cầu hiện tại với nhiều công trình đã và đang được đưa vào sử dụng trong một thời gian thì công tác kiểm định chất lượng công trình đang được thực hiện một các đều đặn hàng năm..

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI

NGUYỄN ĐẮC THÀNH

NGHIÊN CỨU VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH CỦA TRUNG

TÂM CHÍNH SÁCH VÀ KỸ THUẬT THỦY LỢI

Chuyên ngành: Quản lý xây dựng

Mã số: 8580302

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS TS Lê Văn Hùng

HÀ NỘI, NĂM 2018

Trang 3

i

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các kết quả nghiên cứu

và các kết luận trong luận văn là trung thực, không sao chép từ bất kỳ một nguồn nào

và dưới bất kỳ hình thức nào.Việc tham khảo các nguồn tài liệu đã được thực hiện trích dẫn và ghi nguồn tài liệu tham khảo đúng quy định

Tác giả luận văn

Nguyễn Đắc Thành

Trang 4

ii

LỜI CÁM ƠN

Tác giả xin trân trọng cám ơn các thầy cô giáo Trường Đại học Thủy Lợi, nhất là cán

bộ, giảng viên Khoa Công trình, Phòng Đào tạo đại học và sau đại học đã giúp đỡ tận tình và tạo điều kiện cho tác giả hoàn thành luận văn này Đặc biệt tác giả xin trân trọng cảm ơn Thầy giáo PGS TS Lê Văn Hùng đã hết lòng ủng hộ và hướng dẫn tác giả hoàn thành luận văn này

Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn Ban Lãnh đạo Trung tâm Chính sách và Kỹ thuật Thủy lợi và các phòng ban đã quan tâm giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi hỗ trợ, giúp đỡ tác giả trong việc thu thập thông tin, tài liệu trong quá trình thực hiện luận văn

Đồng thời tác giả xin chân thành cảm ơn gia đình, những người thân và bạn bè đã luôn động viên, quan tâm, giúp đỡ và ủng hộ tác giả trong suốt quá trình học tập và nghiên

cứ để hoàn thành luận văn này

Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả đã cố gắng và nỗ lực rất nhiều nhưng do hạn chế về kiến thức, thời gian, kinh nghiệm và tài liệu tham khảo nên luận văn vẫn còn thiếu sót Tác giả rất mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo của các thầy cô và đồng nghiệp

Trân trọng cảm ơn!

Trang 5

iii

MỤC LỤC

DANH MỤC HÌNH ẢNH vi

DANH MỤC BẢNG BIỂU vii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT viii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH THỦY LỢI 5

1.1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TRÌNH THỦY LỢI 5

1.1.1 Các vấn đề chung về công trình thủy lợi 5

1.1.2 Những thành tựu trong xây dựng công trình thủy lợi thủy điện ở Việt Nam 11 1.1.3 Các vấn đề về chất lượng xây dựng và an toàn hồ đập 13

1.2 TẦM QUAN TRỌNG CỦA CÔNG TÁC KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG 19

1.2.1 Công tác kiểm định đối với công trình xây dựng mới(giai đoạn thi công công trình) 21

1.2.2 Công tác kiểm định đối với công trình đang vận hành (giai đoạn khái thác, sử dụng) 24

1.3 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH THỦY LỢI 28

1.3.1 Tình hình chất lượng công trình xây dựng thủy lợi hiện nay 28

1.3.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng của công trình thủy lợi trong quá trình sử dụng 31

1.3.3 Tình hình thực hiện kiểm định an toàn công trình thủy lợi hiện nay 39

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 42

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ NĂNG LỰC KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH THỦY LỢI 43

2.1 KHÁI NIỆM VÀ NHỮNG NGUYÊN TẮC CHUNG CỦA CÔNG TÁC KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH THỦY LỢI 43

2.1.1 Khái niệm về công tác kiểm định chất lượng công trình 43

2.1.2 Nguyên tắc kiểm định chất lượng công trình xây dựng 45

2.2 TÌNH HUỐNG, TRÌNH TỰ VÀ QUY TRÌNH THỰC HIỆN VIỆC KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH THỦY LỢI 48

Trang 6

iv

2.2.1 Tình huống kiểm định công trình thủy lợi 48

2.2.2 Trình tự thực hiện công tác kiểm định công trình thủy lợi 49

2.2.3 Quy trình kiểm định xây dựng 51

2.3 CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ CÔNG TÁC KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG XÂY DỰNG 59

2.3.1 Hệ thống các tiêu chuẩn, quy chuẩn kiểm định của ngành thủy lợi 59

2.3.2 Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật ngành 61

2.4 YÊU CẦU CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC KIỂM ĐỊNH CỦA ĐƠN VỊ TƯ VẤN 63 2.4.1 Cơ cấu tổ chức (hạng tư vấn, chứng chỉ) 63

2.4.2 Nhân sự (kính nghiệm nghề và hạng tư vấn, chứng chỉ) 67

2.4.3 Phòng thí nghiệm và thiết bị 69

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 72

CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH THỦY LỢI CỦA TRUNG TÂM CHÍNH SÁCH VÀ KỸ THUẬT THỦY LỢI 74

3.1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TRUNG TÂM CHÍNH SÁCH VÀ KỸ THUẬT THỦY LỢI 74

3.1.1 Giới thiệu về Trung tâm Chính sách và Kỹ thuật Thủy lợi 74

3.1.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý Trung tâm Chính sách và Kỹ thuật Thủy lợi 75 3.1.3 Năng lực của Trung tâm Chính sách và Kỹ thuật Thủy lợi 75

3.2 HOẠT ĐỘNG KIỂM ĐỊNH CÔNG TRÌNH THỦY LỢI CỦA TRUNG TÂM CHÍNH SÁCH VÀ KỸ THUẬT THỦY LỢI 80

3.2.1 Hệ thống những công trình mà Trung tâm đã thực hiện kiểm định 80

3.2.2 Những tồn tại và sai phạm trong quá trình kiểm định 82

3.3 ĐÁNH GIÁ VỀ HOẠT ĐỘNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH 85

3.3.1 Phân tích đánh giá về cơ cấu tổ chức, nhân sự và sự phát triển của phòng thí nghiệm xây dựng Las-XD của trung tâm 85

3.3.2 Phân tích, đánh giá và tìm ra các thiếu sót trong công tác kiểm định của trung tâm 88 3.3.3 Đề xuất phương pháp, quy trình quản lý công tác kiểm định tại Trung tâm

90

Trang 7

v

3.3.4 Đề xuất giải pháp nâng cao năng lực của trung tâm 96

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 100

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 102

1 Những kết quả đã đạt được trong luậnvăn 102

2 Kết luận và kiến nghị 102

TÀI LIỆU THAM KHẢO 104

PHỤ LỤC 105

Trang 8

vi

DANH MỤC HÌNH ẢNH

Hình 1.1 Công tác kiểm định trong vòng đời của công trình 20

Hình 1.2Quy trình đánh giá chất lượng công trình đang tồn tại hoặc sự cố công trình 25 Hình 1.3Sự cố sạt xói lở phía bờ tả hạ lưu của công trình thủy điện hồ Cửa Đạt xảy ra khi chịu tác động của áp thấp sau cơn bão số 10 cùng với việc xả lũ của hồ năm 2017 30

Hình 1.4 Sự cố thấm xuất hiện ở vai trái và mái hạ lưu đập hồ Núi Cốc 30

Hình 1.5 Sự cố nước ngầm đẩy gãy kênh bê tông của dự án thủy lợi Ngàn Trươi – Cẩm trang 31

Hình 2.1: Quy trình kiểm định chất lượng CTXD 54

Hình 2.2: Quy trình giám định chất lượng CTXD 54

Hình 2.3: Mô hình tổ chức QLCLCTXD 64

Hình 3.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý của Trung tâm [17] 75

Hình 3.2:Sơ đồ hoạt động phòng kiểm định chất lượng công trình của Trung tâm 85

Hình 3.3: Trình tự kiểm tra, đánh giá chất lượng với công trình xây mới 92

Hình 3.4: Trình tự kiểm định chất lượng công trình trong giai đoạn sử dụng 95

Hình 3.5: Sơ đồ đề xuất giải pháp mô hình tổ chức bộ máy phục vụ công tác kiểm định 97

Trang 9

vii

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1: Các tỉnh xây dựng nhiều hồ chứa 11

Bảng 1.2: Tỷ lệ hư hỏng đập đất vừa và nhỏ theo từng nhóm tiêu chí [6] 17

Bảng 1.3 Số liệu thực hiện về quản lý an toàn hồ đập tại các địa phương [9] 40

Bảng 3.1: Danh mục các thiết bị của Trung Tâm 78

Trang 10

viii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

1 BQLDA: Ban quản lý dự án

2 CLCTXD: Chất lượng công trình xây dựng

4 CĐT NT: Chủ đầu tư nghiệm thu

5 CTXDTL: Công trình xây dựng Thủy lợi

6 CO: Chứng chỉ của nhà sản xuất

7 CQ Nhà thầu kiểm tra lượng mẫu nhất định theo quy định đối

15 QCVN: Quy chuẩn Việt Nam

16 QLCL NN: Quản lý chất lượng nhà nước

17 QLCLCTXD: Quản lý chất lượng công trình xây dựng

Trang 11

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong thời kỳ phát triển với nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế Quốc tế như hiện này, Ngành xây dựng đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình tạo ra cơ sở vật chất, kỹ thuật hạ tầng cho xã hội Đồng hành cùng sự phát triển không ngừng của ngành xây dựng thì các công tác liên quan như quản lý vận hành, bảo vệ an toàn công trình, quản lý chất lượng công trình, kiểm định chất lượng xây dựng đang được song song thực hiện Với nhu cầu hiện tại với nhiều công trình đã và đang được đưa vào sử dụng trong một thời gian thì công tác kiểm định chất lượng công trình đang được thực hiện một các đều đặn hàng năm

Công tác kiểm định chất lượng xây dựng có vai trò tiên quyết trong kiểm soát chất lượng xây dựng từ khi khảo sát thiết kế đến khi nghiệm thu bàn giao đưa vào sử dụng Tiếp theo đến quá trình khai thác công trình, công tác đánh giá và kiểm định chất lưọng có tính quyết định giúp cho bảo hành, bảo trì bảo đảm chất lượng và an toàn công trình

Để đảm bảo được công tác vận hành bảo trì công trình, trong những năm qua, hoạt động kiểm định chất lượng của công trình ngày càng được chú trọng đầu tư Tuy nhiên, trước đòi hỏi ngày càng cao về công tác bảo trì các công trình đã và đang xây dựng, hoạt động kiểm định chất lượng công trình chưa đáp ứng được nhu cầu đó Các công trình cần kiểm định chất lượng thì tổ chức tư vấn thực hiện công tác kiểm định phải tự lập đề cương kiểm định, trình chủ đầu tư phê duyệt Công tác kiểm tra giám sát, kiểm định là một trong các nguyên nhân dẫn tới tình trạng chất lượng công trình không đảm bảo, xảy 2 ra hiện tượng thấm, nứt, lún, , chưa mang lại hiệu quả như mong muốn

Trung tâm Chính sách và Kỹ thuật thủy lợi được đổi tên từ Trung tâm Tư vấn và Chuyển giao công nghệ Thuỷ lợi từ tháng 8 năm 2017 Trước đó, Trung tâm Tư vấn và Chuyển giao công nghệ Thủy lợi là đơn vị trực thuộc Tổng cục Thủy lợi được thành

Trang 12

2

lập dựa trên cơ sở sát nhập hai đơn vị là Trung tâm Tư vấn kỹ thuật về Đê điều (trực thuộc Cục Quản lý đê điều và Phòng, chống lụt, bão cũ) và Trung tâm Chuyển giao công nghệ quản lý nước và công trình thuỷ lợi (trực thuộc Cục Thuỷ lợi cũ): dựa trên yêu cầu thiết yếu và nhiệm vụ tư vấn Trung tâm đã thực hiện được một số dự án kiểm định chất lượng công trình

Với yêu cầu thực tiễn nêu trên tác giả luận văn chọn đề tài "Nghiên cứu và đề xuất giải pháp nâng cao năng lực kiểm định chất lượng công trình của Trung tâm chính sách và kỹ thuật thủy lợi"

2 Mục đích của đề tài

Nghiên cứu thực trạng năng lực, tiềm năng và các nhân tố ảnh hưởng đến kiểm định chất lượng công trình xây dựng Thủy lợi của Trung tâm Chính sách và Kỹ thuật Thủy lợi, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực kiểm định

3 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

3.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn dự kiến sử dụng các phương pháp nghiên cứu như sau :

-Phương pháp nghiên cứu tổng quan;

- Phương pháp thu thập số liệu, phân tích so sánh;

- Phương pháp thống kê, tổng hợp;

- Phương pháp kế thừa

Trang 13

3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu trực tiếp của đề tài là hoạt động kiểm định công trình thủy lợi và các hoạt động liên quan đến quy trình kiểm định chất lượng công trình thủy lợi của Trung tâm Chính sách vả Kỹ thuật Thủy lợi

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là các hoạt động liên quan mật thiết đến công tác kiểm định chất lượng công trình xây dựng thủy lợi tại Trung tâm Chính sách và Kỹ thuật Thủy lợi

5 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

5.1 Ý nghĩa khoa học

Ý nghĩa khoa học của đề tài góp phần hệ thống, cập nhật các văn bản pháp luật về công tác kiểm định chất lượng công trình xây dựng và nâng cao hiệu quả năng lực kiểm định chất lượng công trình dựng Đề tài phản ánh một số vấn đề còn tồn tại và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao năng lực kiểm định chất lượng công trình Những nghiên cứu này có thể làm tài liệu tham khảo cho các công tác quản lý, tư vấn kiểm định chất lượng công trình, áp dụng vào các doanh nghiệp thực hiện công tác kiểm định hiện nay

5.2 Ý nghĩa thực tiễn

Đề xuất các ý kiến nhằm hoàn thiện nâng cao hiệu quả năng lực kiểm định chất lượng công trình và là tài liệu tham khảo có giá trị gợi mở trong hoạt động kiểm định chất lượng công trình xây dựng tại Trung tâm Chính Sách và Kỹ thuật Thủy lợi trong quá trình hoạt động và phát triển sau này

6 Kết quả đạt được

Đạt được những mục đích nghiên cứu đặt ra, luận văn giải quyết được các kết quả cụ thể sau đây:

Trang 14

4

- Hệ thống được cơ sở lý luận và các văn bản pháp luật kèm theo của công tác kiểm định chất lượng công trình xây dựng Kinh nghiệm đạt được trong quá trình kiểm định chất lượng công trình xây dựng ở trong nước thời gian vừa qua

- Phân tích cơ sở nghiêm cứu quy trình thực hiện công tác kiểm định chất lượng công trình của Trung tâm chính sách và kỹ thuật thủy lợi;

- Nghiên cứu và đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện, nâng cao năng lực và rút ngắn thời gian thực hiện tư vấn kiểm định công trình xây dựng của Trung tâm

Chính sách và Kỹ thuật Thủy lợi

7 Nội dung của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, luận văn được cấu trúc từ 3 chương nội dung chính:

Chương 1: Tổng quan về năng lực kiểm định chất lượng công trình Thủy lợi

Chương 2: Cơ sở khoa học về năng lực kiểm định chất lượng công trình Thủy lợi Chương 3: Thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao năng lực kiểm định chất lượng

công trình Thủy lợi của Trung tâm Chính sách và Kỹ thuật Thủy lợi

Trang 15

5

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH THỦY LỢI

1.1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TRÌNH THỦY LỢI

1.1.1 Các vấn đề chung về công trình thủy lợi

1.1.1.1 Khái niệm công trình thủy lợi và phân loại, phân cấp công trình thủy lợi

Khái niệm công trình thủy lợi

Công trình được xây dựng để sử dụng nguồn nước gọi là công trình thủy lợi Nhiệm vụ chủ yếu của các công trình thủy lợi là làm thay đổi, cải biến trạng thái tự nhiên dòng chảy của sông, hồ, biển, nước ngầm để sử dụng nước một cách hợp lý, có lợi nhất và bảo vệ môi trường xung quanh tránh khỏi những tác hại của dòng nước gây nên Công trình thủy lợi có thể làm hình thành dòng chảy nhân tạo để thỏa mãn nhu cầu dùng

nước, khi dòng chảy tự nhiên ở nơi đó không đủ hoặc không có [1]

“Công trình thủy lợi là công trình hạ tầng kỹ thuật thủy lợi bao gồm đập, hồ chứa

nước, cống, trạm bơm, hệ thống dẫn, chuyển nước, kè, bờ bao thủy lợi và công trình khác phục vụ quản lý, khai thác thủy lợi” [2]

“Công trình thủy lợi đầu mối là công trình thủy lợi ở vị trí khởi đầu của hệ thống tích

trữ, điều hòa, chuyển, phân phối, cấp, điều tiết nước hoặc công trình ở vị trí cuối của

hệ thống tiêu, thoát nước” [2]

Phân loại và phân cấp công trình thủy lợi

Phân loại:

“Loại công trình thủy lợi được xác định theo quy mô, nhiệm vụ, tầm quan trọng, mức độ rủi ro vùng hạ du, bao gồm công trình thủy lợi quan trọng đặc biệt, công trình thủy lợi lớn, công trình thủy lợi vừa và công trình thủy lợi nhỏ.” [2]

Ngoài ra để phục vụ cho các lĩnh vực thủy lợi khác nhau do điều kiện khí hậu, thủy văn, địa chất và địa hình khác nhau chia ra các loại công trình thủy lợi có kết cấu khác nhau như sau:

Trang 16

* Đập bê tông: Được xây dựng bằng bê tông hoặc bê tông cốt thép Gồm có đập bê tông trọng lực, đập trục chống và đập vòm

* Đập đất: Được xây dựng bằng các loại đất Đập đất được chia làm 2 loại: Đập đồng chất (thân đập được đắp bằng một loại đất) và đập đất không đồng chất (thân đập được đấp bằng nhiều loại đất)

* Đập đá: Được xây dựng bằng đá

- Các công trình điều chỉnh

Các công trình này bao gồm tường cánh, đê, đập, kè làm bằng các vật liệu tại chỗ (đất,

đá, gỗ), có thể làm bằng bê tông, bê tông cốt thép Mặt cắt ngang là hình thang Yêu cầu về vật liệu đảm bảo ổn định không bị xói lở do dòng chảy gây nên

“Đê được phân loại thành đê sông, đê biển, đê cửa sông, đê bối, đê bao và đê chuyên dùng” [3]

Các kè bảo vệ bờ khỏi bị xói lở thường dùng đá, tấm bê tông phủ bề mặt của bờ sông cần đảm bảo trên mặt bằng của nó phẳng

- Các công trình dẫn nước

Công trình dẫn nước bao gồm các loại sau:

+ Kênh: là một dạng sông nhân tạo, được đào đắp hoặc nửa đòa nửa đắp mà thành Mặt cắt ngang có dạng hình thang

Trang 17

7

+ Máng nước, dốc nước, cầu máng: là kênh nhân tạo được xây trên mặt đất hoặc cao hơn mặt đất, làm bằng bê tông cốt thép, thép, gỗ Các công trình này được sử dụng khi điều kiện địa hình, địa chất không cho phép làm kênh

+ Đường hầm: được xây dựng dưới đất, trong nói Khi các đường dẫn nước dặp phải núi cao không thể đòa kênh được người ta thường phải làm đường hầm để nối tiếp các kênh chuyển nước Cũng có thể là đường hầm dẫn nước vào nhà máy thủy điện, hoặc đường hầm tháo lũ của hồ chứa…

+ Đường ống: là những ống dẫn nước làm bằng thép, bê tông cốt thép được đặt trên mặt hoặc dưới đất hoặc bố trí trong thân đập, dưới kênh mương, đê… để dẫn nước

- Các công trình chuyên môn

Là những công trình được dùng cho một mục đích kinh tế thủy lợi như:

+ Trạm thủy điện: nhà máy, buồng xoắn, bể áp lực, tháp điều áp

+ Công trình giao thông thủy: âu tàu, máy nâng tàu, công trình chuyển gỗ, bến cảng… + Công trình thủy nông: cống điều tiết, hệ thống tười tiêu, hệ thống thoát nước

+ Công trình cấp nước và thoát nước: Công trình lấy nước, dẫn nước, trạm bơm, công trình cho vệ sinh, thoát nước

+ Công trình cho các: đường cá đi, đường chuyển cá, hồ nuôi cá…

Phân cấp:

“Cấp công trình thủy lợi được xác định theo quy mô, nhiệm vụ, điều kiện địa chất nền

và yêu cầu kỹ thuật xây dựng công trình, bao gồm công trình thủy lợi cấp đặc biệt, công trình thủy lợi cấp I, công trình thủy lợi cấp II, công trình thủy lợi cấp III và công trình thủy lợi cấp IV” [2]

“Đê được phân thành cấp đặc biệt, cấp I, cấp II, cấp III, cấp IV và cấp V theo mức độ quan trọng từ cao đến thấp.” [3]

Trang 18

8

Tiêu chí phân cấp đê bao gồm:

a) Số dân được đê bảo vệ;

b) Tầm quan trọng về quốc phòng, an ninh, kinh tế - xã hội;

c) Đặc điểm lũ, bão của từng vùng;

d) Diện tích và phạm vi địa giới hành chính;

đ) Độ ngập sâu trung bình của các khu dân cư so với mực nước lũ thiết kế;

e) Lưu lượng lũ thiết kế

Để phân cấp công trình thủy lợi như hồ chứa nước và các công trình bảo vệ như đê kè được định cụ thể trong các tiêu chuẩn chuyên ngành

QCVN 04-05-2012/BNNPTNT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia Công trình thủy lợi – các

quy định chủ yếu về thiết kế

TCVN 9902:2016: Công trình thủy lợi – Yêu cầu thiết kế đê sông

TCVN 8419:2010: Công trình thủy lợi – Thiết kế công trình bảo vệ bờ sông chống lũ

1.1.1.2 Đặc điểm và vai trò của công trình Thủy lợi

Đặc điểm của công trình Thủy lợi

- Công trình xây dựng thủy lợi trước hết là công trình xây dựng do đó có những đặc điểm sau:

+ Có tính đơn chiếc, không sản xuất hàng loạt;

+ Tính quy mô (Đơn giản, phức tạp) : Tính tổ hợp (nhiều công năng);

+ Tính phức tạp; không cho phép có thứ phẩm, phế phẩm, khó kiểm tra được chất lượng chính xác khi đã thi công xong;

+ Tính cố định;

Trang 19

9

+ Tính đặc thù: Chi phí xây dựng hình thành và chính xác hóa dần theo từng bước thiết kế;

+ Chịu ảnh hưởng trực tiếp của thời tiết;

- Đặc điểm của công trình xây dựng thủy lợi nói riêng đó là có tính chất là tồn tại lâu dài, có thể tích lớn, chu kỳ sản xuất dài, sử dụng vốn lớn, vốn chu chuyển chậm;

- Các dự án xây dựng công trình thủy lợi có thể gồm các dự án xây dựng hồ chứa, trạm bơm tưới tiêu, hệ thống kênh dẫn nước, hệ thống kè chống sạt lở bờ đê

- Quá trình xây dựng các CTXDTL đều phải luôn quan tâm đến các yếu tố vô cùng quan trọng như:

Công năng: Đáp ứng nhu cầu sử dụng của công trình, tận dụng được tối đa nguồn nước, chống thất thoát nước

Cấu trúc, kết cấu: Tính toán sao cho vừa đủ, hài hòa, tránh lãng phí;

An toàn công trình: Đảm bảo khả năng chịu lực, ổn định

Vai trò của công trình Thủy lợi

Trữ lượng nước trên trái đất rất lớn, khoảng 1,45 tỷ km2 trong đó hơn 90% là nước ở các đại dương và biển, còn lại là nước ở trong lục địa

Nguồn nước trong lục địa đóng vai trò rất quan trong đối với cuộc sống và sự nghiệp của loài người Lượng dòng chảy bình quan hàng năm trên quả đất vào khoảng 35150

km3, trong đó ở châu Á vàng khoảng 12800 km3

Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, mặc dù lượng mưa trung bình nhiều năm trên toàn lãnh thổ vào khoảng 1.940 mm/năm nhưng do ảnh hưởng của địa hình đồi núi, lượng mưa phân bố không đều trên cả nước và biến đổi mạnh theo thời gian

đã và đang tác động lớn đến trữ lượng và phân bố tài nguyên nước ở Việt Nam Việt Nam có hơn 2.360 con sông có chiều dài từ 10 km trở lên, trong đó có 109 sông chính Toàn quốc có 16 LVS với diện tích lưu vực lớn hơn 2.500 km2 , 10/16 lưu vực có diện

Trang 20

Căn cứ vào mục đích trên, yêu cầu khai thác nguồn nước phải xây dựng các công trình thủy lợi bao gồm các lĩnh vực sau: [1]

- Thủy năng: sử dụng năng lượng của nước sông, biển để phát điện

- Thủy nông: dùng biện pháp thủy lợi để tưới tiêu, thau chua rửa mặn, chống xói mòn bạc màu

- Cung cấp nước và thoát nước cho khu công nghiệp, thành phố, nông thôn, nhà máy, nông trường, trại chăn nuôi

- Thủy sản: làm hồ nuôi cá và phát triển thủy sản

Ngoài các biện pháp thủy lợi có liên quan đến công trình phục vụ công cộng khác như công trình vệ sinh, công trình phục vụ thể thao, các khu nghỉ mát và an dưỡng của nhân dân lao động

Mỗi một biện pháp thủy lợi có thể sử dụng nguồn nước vào các mục đích khác nhau

Ví dụ như có thể sử dụng nguồn nước để phát điện đồng thời để tưới trong nông nghiệp, có thể sử dụng nguồn nước để tưới, cung cấp cho thành phố và khu công nghiệp đông thời để giao thông thủy, nuôi cá… Vì vậy lợi dụng tổng hợp nguồn nước

là nguyên tắc cơ bản nhất trong việc nghiên cứu khai thác, sử dụng, trị thủy dòng sông…

Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, nguyên tắc lợi dụng tổng hợp nguồn nước được thực hiện triệt để vì qui luật cơ bản về kinh tế XHCN đã tạo ra những điều kiện thuận lợi nhất cho việc thực hiện những nguyên tắc đó Hệ thống XHCN cũng tạo ra điều kiện

Trang 21

11

cho kế hoạch hóa cũng như việc thực hiện những biện pháp thủy lợi tổng hợp to lớn, thậm chí có thể làm thay đổi điều kiện thiên nhiên một vùng rộng lớn của đất nước Khi khai thác nguồn nước, việc thực hiện nguyên tắc lợi dụng tổng hợp rất phực tạp vì các lĩnh vực thủy lợi yêu cầu dùng nước không giống nhau, có ngành cần nước thường xuyên như cấp nước, thủy điện: có ngành dùng nước theo tùng thời kỳ như tưới ruộng

có ngành tiêu phí nước như cấp nước, tưới ruộng nhưng có ngành sau khi sử dụng, nước không mất đi như thủy điện, vận tải thủy, nuôi cá… Do đó có khi cùng một lúc không thỏa mãn được nhiều ngành Trường hợp đó phải dựa vào nguyên tắc ưu tiên cho ngành trọng điểm và có chú ý thích đáng đến các ngành khác… Vì vậy mọi biện pháp thủy lợi là mục đích để lợi dụng tổng hợp nguồn nước sẽ mang lại hiệu quả kinh

tế cao nhất

1.1.2 Những thành tựu trong xây dựng công trình thủy lợi thủy điện ở Việt Nam

Trong quá trình phát triển của ngàng thủy lợi từ năm 1945 đến nay chúng ta đã xây dựng được trên 6648 hồ chứa thủy lợi với tổng dung tích trữ nước khoảng 11 tỷ m3trong đó có 702 hồ chứa có dung tích trữ nước lớn hơn 3 triệu m3 hoặc đập cao trên 15m, 5946 hồ chứa có dung tích từ 0,2 triệu đến 3 triệu m3 nước

Bảng 1.1: Các tỉnh xây dựng nhiều hồ chứa

Trang 22

- Giai đoạn 1975-2000: Sau khi đất nước thống nhất, với yêu cầu đẩy mạnh phát triển kinh tế, nhà nước đã đầu tư xây dựng hàng loạt hồ chứa với nhiều quy mô khác nhau Một số hồ quy mô lớn như: Hồ Hòa Bình (Hòa Bình), Núi Cốc (Thái Nguyên), Kẻ Gỗ (Nghệ An), Yên Lập (Quảng Ninh), Sông Mực (Thanh Hóa), Phú Ninh (Quảng Nam), Dầu Tiếng (Tây Ninh)…, trong đó hồ Dầu Tiếng có dung tích lớn nhất 1,58 tỷ m3 Các địa phương trên cả nước đã xây dựng hơn 700 hồ chứa có dung tích từ 1-10 triệu m3, đặc biệt trong giai đoạn này các huyện, hợp tác xã, nông lâm trường đã xây dựng hàng ngàn hồ chứa nhỏ có dung tích dưới 0,2 triệum3

- Giai đoạn từ năm 2000 đến nay, Thông qua nhiều nguồn vốn đặc biệt là nguồn vốn trái phiếu chính phủ, Bộ NN&PTNT đã quản lý đầu tư, xây dựng mới nhiều hồ chứa

có quy mô lớn và vừa như : Cửa Đạt (Thanh Hóa); Định Bình (Bình Định); Tả Trạch (Thừa Thiên Huế); Nước Trong (Quảng Ngãi); Đá Hàn (Hà Tĩnh); Thác Chuối (Quảng Trị); IaSup Thượng (Đắc Lắc)… Đặc điểm chung của các hồ chứa thủy lợi là đập chính ngăn sông tạo hồ, tuyệt đại đa số dều là đập đất

Ngoài sự phát triển của hệ thống hồ chưa nước từ năm 1945 đến nay các hệ thống thủy lợi khác như hệ thống trạm bơm, kênh mương, đê kè cũng được xây dựng bổ sung từ chỗ chỉ có 13 hệ thông thủy lợi năm 1945 đến nay đã có 10 trạm bơm điện lớn, 5.500 cống tưới, tiêu lớn, 234.000 km kênh mương, 25.960 km đê và bờ bao các loại Thủy lợi đã góp phần quan trọng để tăng diện tích gieo trồng, tăng thời vụ, cải tạo đất, góp phần đảm bảo an ninh lương thực và xuất khẩu [5]

Các hệ thống thủy lợi đã đảm bảo tưới cho 7,3 triệu ha đất gieo trồng lúa, 1,5 triệu ha rau màu, cây công nghiệp, cấp khoảng 6 tỷ m3 nước phục vụ sinh hoạt và công nghiệp, ngăn mặn cho 0,87 triệu ha, cải tạo chua phèn 1,6 triệu ha, tiêu cho 1,72 triệu

Trang 23

13

ha đất nông nghiệp Cấp nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn kết hợp Chương trình xây dựng nông thôn mới, đã góp phần quan trọng để phát triển kinh tế -

xã hội, nâng cao sức khoẻ, cải thiện chất lượng cuộc sống cho người dân nông thôn

1.1.3 Các vấn đề về chất lượng xây dựng và an toàn hồ đập

Trong những năm qua, hòa trong xu thế đổi mới và phát triển của nền kinh tế, với sự

cố gắng to lớn của Đảng, Nhà nước, chính quyền các địa phương và nhân dân trong

cả nước, công tác xây dựng cơ bản có bước phát triển cả về số lượng, chất lượng, biện pháp và kỹ thuật thi công, trang thiết bị, đội ngũ cán bộ kỹ thuật xây dựng Nhiều công trình lớn, kỹ thuật phức tạp chúng ta có khả năng thiết kế, thi công mà không phải có sự trợ giúp của nước ngoài Nhà nước đã và đang đầu tư hàng trăm ngàn tỷ đồng cho xây dựng cơ bản trên các lĩnh vực như: Cơ sở hạ tầng giao thông (bao gồm đường bộ, đường sắt, hệ thống cầu lớn nhỏ, cảng biển, cảng sông, cảng hàng không…) Cơ sở phục vụ cho nông nghiệp như công trình thủy lợi, hệ thống cấp thoát nước, các trung tâm phát triển chăn nuôi trồng trọt Các công trình lớn phục vụ cho phát triển công nghiệp như dầu khí, khai thác khoáng sản… Các khu cụm công nghiệp trọng điểm, hàng trăm khu đô thị, khu dân cư mới được xây dựng với những công trình cao tầng kỹ thuật phức tạp Đó là chưa kể các công trình Nhà nước và nhân dân cùng làm và các công trình được cải tạo nâng cấp, đã làm thay đổi bộ mặt của đất nước nói chung và của từng địa phương nói riêng

Bên cạnh những kết quả cơ bản và to lớn đó, một vấn đề được xã hội hết sức quan tâm

đó là chất lượng xây dựng, vì chất lượng xây dựng là yếu tố quan trọng trong quá trình xây dựng, quyết định đến bộ mặt đô thị, nông thôn, các khu cụm công nghiệp Công trình xây dựng không bảo đảm chất lượng sẽ có nguy hại ảnh hưởng đến đời sống xã hội, không ít công trình do không bảo đảm chất lượng đã lún nứt, thậm chí sụp đổ mất

an toàn gây ra chết người, hàng năm trên phạm vi cả nước đều có các công trình giao thông thủy lợi, công trình thủy lợi, công nghiệp bị sập đổ gây tai nạn nghiêm trọng Chất lượng công trình không đảm bảo cũng gây mất mỹ quan, giảm độ bền vững của công trình, gây lãng phí tốn kém, thậm chí có công trình phải phá dỡ để làm lại Những điều đó đã ảnh hưởng đến uy tín nghề nghiệp, đến đời sống xã hội, khiến cho

dư luận thêm bức xúc

Trang 24

14

Cùng với việc chỉ đạo chống thất thoát trong đầu tư xây dựng cơ bản trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã quan tâm chỉ đạo vấn đề bảo đảm chất lượng công trình xây dựng trên các mặt đó là: Tăng cường quản lý Nhà nước về xây dựng, tích cực đầu tư trang thiết bị kỹ thuật hiện đại, áp dụng các tiến bộ khoa học trong xây dựng Nhà nước đã ban hành Luật xây dựng, Chính phủ đã có các nghị định, các bộ ngành liên quan đã có những thông tư hướng dẫn, xây dựng được các bộ đơn giá, định mức, các quy định về quy chuẩn, tiêu chuẩn Thiết lập bộ máy quản lý tham mưu giúp việc cho công tác quản lý nhà nước về chất lượng xây dựng như ở Trung ương có cục quản lý chất lượng xây dựng, ở các tỉnh có các trung tâm kiểm định chất lượng Xây dựng pháp lệnh thanh tra, hệ thống thanh tra xây dựng từ Bộ đến các tỉnh và huyện được kiện toàn bố trí sắp xếp lại Ở các trung tâm và doanh nghiệp tư vấn thiết kế, kiểm định được đầu tư các phòng thí nghiệm kiểm định, nhiều nơi được Bộ xây dựng công nhận đạt tiêu chuẩn LAS Công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ, phân cấp quản lý đầu tư xây dựng, cấp chứng chỉ hành nghề, cải cách thủ tục hành chính trong xây dựng có nhiều cố gắng đã góp phần đưa công tác xây dựng cơ bản nói chung và chất lượng xây dựng nói riêng từng bước vào nền nếp

Tuy nhiên, chất lượng công trình xây dựng vẫn đang là vấn đề bức xúc hàng đầu, công trình không bảo đảm chất lượng cũng là nguyên nhân làm thất thoát trong đầu tư xây dựng cơ bản Dưới đây là những nguyên nhân tác giả nêu ra để hiểu rõ hơn về chất lượng công trình ở nước ta hiện nay:

Về chủ trương đầu tư: Đây là vấn đề quyết định đến toàn bộ dự án, chủ trương đầu tư

đúng sẽ mang lại hiệu quả cao, chất lượng công trình tốt, chủ trương đầu tư sai sẽ gây lãng phí tốn kém không bảo đảm chất lượng, hậu quả kéo dài Trong những năm qua, việc đầu tư xây dựng công trình còn nhiều tồn tại, do nghiên cứu khảo sát chưa tốt, chưa tính toán đầy đủ điều kiện xây dựng công trình, quy hoạch xây dựng chưa gắn với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội không tính toán đầy đủ yếu tố đầu vào và đầu

ra của sản phẩm nhất là những công trình sử dụng vốn đầu tư của Nhà nước, không ít công tình xây dựng ở Trung ương và địa phương còn sai lầm về chủ trương đầu tư

Về tư vấn thiết kế: Nguyên nhân chất lượng công trình không bảo đảm, phần lớn phụ

thuộc vào việc khảo sát thiết kế công trình, nhiều công trình tính toán không đầy đủ

Trang 25

* Thiết kế khá phổ biến là không đúng tiêu chuẩn quy chuẩn, chỉ dựa trên kết quả khảo sát sơ sài Nhiều trường hợp do chủ đầu tư yêu cầu nên khảo sát còn đơn giản, chưa theo quy định nhất là phần móng Khảo sát sai, dẫn tới thiết kế sai, chất lượng công trình thấp, những hiện tượng lún, nứt, thấm, dột, sập đổ thường xảy ra

Công tác thẩm tra, thẩm định chưa được coi trọng: hiện nay do việc phân cấp rộng rãi,

rất nhiều đơn vị có chức năng thẩm định, trong khi đó đội ngũ cán bộ thẩm định năng lực yếu, chưa có thực tế và kinh nghiệm, không ít trường hợp thẩm định sai hoặc thẩm định không đúng tiêu chuẩn, sau khi hồ sơ thiết kế được thẩm định, thi công vẫn phải

bổ sung điều chỉnh đã làm ảnh hưởng đến chất lượng công trình

Khâu thi công xây lắp: Thời gian qua có nhiều đơn vị có năng lực thi công, trang thiết

bị hiện đại, thi công những công trình lớn cấp quốc gia đạt tiêu chuẩn chất lượng thì còn không ít đơn vị năng lực yếu, đội ngũ cán bộ kỹ thuật, công nhân có tay nghề cao quá ít, nên khi thi công không bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật, không bảo đảm an toàn, chất lượng thấp Trong khi đó năng lực giám sát rất mỏng, cán bộ làm công tác giám sát viên còn thông đồng với nhà thầu rút ruột công trình, thi công sai thiết kế, chấp hành giờ giấc kỷ cương kỷ luật chưa nghiêm Mặt khác, công tác thanh tra, kiểm tra chưa được quan tâm chỉ đạo sát sao, lực lượng và bộ máy thanh tra còn ít kể cả cán bộ

và trang thiết bị, năng lực hạn chế, việc phát hiện những sai phạm trong xây dựng là

do quần chúng nhân dân hoặc do công nhân xây dựng phát hiện tố giác Công tác kiểm định chất lượng nhưng trang thiết bị chưa đầy đủ, kết luận kiểm định thiếu chính xác

Công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ tuy đã có nhiều cố gắng, nhưng chưa tập trung cao

đào tạo bồi dưỡng kiến thức nghiệp vụ như: Quản lý xây dựng, cán bộ làm giám sát, tư vấn thiết kế… Việc cấp chứng chỉ hành nghề chưa được chỉ đạo chặt chẽ, những hiện

Trang 26

Hồ đập đa phần được xây dựng đã lâu và bị xuống cấp:

Hiện nay trên cả nước có khoảng 6648 đập, trong đó nhiều tỉnh có hàng trăm hồ đập

như số liệu thống kê ở mục 1.1.2 Những tới hai phần ba hồ đập được xây dựng cách

đây trên 30-40 năm Say một thời gian dài làm việc, khá nhiều đập đã bị sự cố chống thấm, thiết bị thoát nước bị hư hại, các công trình trong đập như tràn, cống bị hỏng khớp nối, bị gãy, bị thấm manh, bị lún nghiêng, bi xói mòn Khoa ọc kỹ thuật dung trong thiết kế cách đây gần nửa thế kỷ chưa phản ánh đúng thực tế khách quan

Đập thấp, đập vật liệu địa phương chiếm tỉ lệ lớn, thi công thủ công nên dễ bị sự cố

Theo Ủy ban Thế giới về đập, tính theo cố lượng trên phạm vi toàn cầu, đập địa phương chiếm 71%, ở Việt Nam tỷ lệ này khoảng 90% Đập đất, đập vật liệu địa phương dễ bị tổn thương khi mực nước trước đập vượt thiết kế, khi có sóng đánh mạnh gây nước tràn qua đỉnh đập, tạo nên vỡ đập [6]

bảo các chỉ tiêu kỹ thuật như dung trong khô(k), hệ số đầm chặt (K), nối tiếp giữa đập với công trình trong đập, nối tiếp giữa đập với thiết bị thoát nước, thiết bị chống thấm, giữa đập với nền, giữa thân đập với bờ vai không tạo nên một chỉnh thể Bên cạnh đó lại thiếu giám sát kỹ thuật chặt chẽ, thiếu kiểm định vật liệu nghiêm ngặt, thiếu giám sát thường xuyên chất lượng thi công

Vật liệu đắp đập có lẫn chất hữu cơ, thân đập là nơi đổ rác thải Tất cả nhưng yếu tố đó

đã tạo nên nhiều ẩn họa trong đập (tổ môi, hang chuột) dễ tạo thấm mạnh, dễ gây sạt trượt, tạo nên tình trạng cống lấy nước, tràn xả lũ tách khỏi thân đập

Trang 27

Số đập

có sự

cố

Tổng số lượt đập

bị sự cố

Do mưa

Do địa chất,…

Do thấm

Do kết cấu, ổn định

42 6.28%

182 27.20%

272 40.66%

23 7.67%

73 24.33%

129 43%

25 9.43%

76 28.68%

91 34.34%

45 6.36%

220 31.07%

263 37.15%

100%

501 25.80%

135 6.95%

551 28.37%

755 38.88%

Quản lý hồ đập mới chú trọng khai thác sử dụng, ít quan tâm đến nghiên cứu trên công trường thực tế

Công tác quản lý đập được hiểu là bao gồm: Sử dụng, duy tu, bảo dưỡng, sửa chữa, quan trắc các yêu tố thủy văn, thủy lực, chuyển vị, biến dạng Trên thực tế, người quản

lý mới khai thác, sử dụng để đáp ứng các yêu cầu dùng nước Công tác duy tu, bảo dưỡng có làm nhưng chưa nề nếp Công tác sửa chữa lớn, đại tu chỉ khi nào hỏng mới tiến hành Chưa thực hiện sửa chữa lớn, đại tu định kỳ theo quy trình Khi có nguy cơ

sự cố, cần tiền khắc phục thì không có nguồn kinh phí Nhiều đập có đường tràn bị co hẹp do rào chắn để nuôi trồng thủy sản hoặc đổ phế thải xây dựng vào đường tháo Nhiều đập đất vừa và nhỏ được coi là đồi, nên có thể trồng cây lâu năm, trồng sắn ở mái hạ lưu; đào ao thả cá ở chân đập hạ lưu, cắm luồn ống tre, bương vào thân đập để lấy nước Đặc biệt, công tác quan trắc còn nhiều bất cập: Nhận thức đã có nhưng còn đơn giản Nguồn nhân lực vó chuyên môn về công tác quan trắc yếu và thiếu Quy trình, quy chuẩn, tiêu chuẩn điều chỉnh mọi vấn đề liên quan đến quan trắc đã có nhưng còn thiếu nhiều Các thiết bị quan trắc hầu hết dùng loại đơn giản, chưa hiện đại, ít dùng loại tự động ( chỉ ở một số đấp lớn mới bước đầu được cập nhật và hội

Trang 28

18

nhập với thế giới) Công tác lắp đặt có quy trình nhưng chửa thể hiện sắc thái riêng cho từng công trình Công tác đo đạc đã được thực hiện (ở đập có lắp đặt thiết bị) nhưng chưa đi vào nề nếp, thiếu cơ chế giám sát Số liệu quan trắc chưa có chuẩn đánh giá, chưa sử dụng số liệu quan trắc được trong quá trình quan trắc đập vào công tác đảm bảo an toàn đập

Quy trình vận hành cống, đập, quy trình cấp nước tưới hầu như không có ở các hồ đập nhỏ Đập vừa thì có nhưng không tuân thủ nghiêm ngặt

Hệ thống video quan sát chưa được quan tâm đầy đủ Tính liên kết hệ thống trong quan trắc giữa các đập chưa được hình thành Công tác quan trắc chịu tác động nhiều của các yêu tố kinh tế, xã hội

Đập thấp, bằng vật liệu địa phương nằm rải rác trên một địa hình rộng lớn tạo nhiều hồ nhỏ, khá hiệu quả trong cấp nước cho một nền nông nghiệp sản xuất nhỏ nhưng lại hay gây ra hư hỏng Khi xảy ra sự cố lại không có phương tiện, không có đường vào cứu

hộ, Mô hình tổ chức quản lý hồ đập chưa thực sự hợp lý, chưa về một mối Bộ máy và nhân lực chuyên lo công tác an toàn đập chưa có ở khá nhiều tỉnh, hồ đập nhỏ giao về cho xã, hợp tác xã quản lý Nơi đây, đội ngũ chuyên môn không có, nên hồ đập bị hư hại do hiểu biết của người dân và cả quản lý còn hạn chế Làm đường nông thôn mới

đã lấp vít mất tràn xả lũ

Sự phát triển kinh tế xã hội đòi hỏi an toàn đập ở mức độ cao hơn

Đập hồ được xây dựng đã lâu Ở thời điểm xây đập, chưa có yêu cầu lớn về tạo cảnh quan du lịch, yêu cầu kiến trúc mỹ thuật còn thấp Kinh tế phát triển, đời sống nhân dân nâng cao, nhu cầu du lịch tăng lên Phát triển du lich bao giờ cũng gắn với sông nước nên hồ chứa là một điểm hấp dẫn du lịch Điều này đòi hỏi phải nâng cấp hồ đập, phải có những kết cấu công trình thích hợp

Đặc biệt hạ du đập, hồ những khu công nghiệp ra đời, các công trình xây dựng hiện đại mọc lên, các nhà máy, công ty, xí nghiệp quan trọng ra đời, mật độ dân cư tăng lên, hạ tâng cơ sở (điện, đường, trường, trạm) ngày càng nhiều Nước từ hồ chưa dùng cho sinh hoạt và cho sản xuất nông công nghiệp ngày càng lớn về số lượng và yêu cầu cao

Trang 29

19

về chất lượng Như thế thực tại hôm nay khác xa lúc xây dựng đập hồ đã đặt ra: nếu hồ đập xảy ra sự cố thì hạ lưu các hồ dùng nước sẽ thiệt hại lớn hơn nhiều so với người tư vấn lập luận tính toán lúc đầu

Một vấn đề nữa đặt ra từ sự thây đổi của hạ lưu hồ đập, mà tạo ra một điều kiên biên mới cho sự vận hành hồ đập hoặc phải nâng cấp, bổ sung các công trình hiện có

1.2 TẦM QUAN TRỌNG CỦA CÔNG TÁC KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG

Các công trình xây dựng thủy lợi là loại sản phầm hàng hóa đặc thù, được sản xuất đơn chiếc và không cho phép có phế phẩm nên rất cần thiết kiểm tra chặt chẽ các khâu, các giai đoạn trong quá trình hình thành sản phẩm công việc đầu tiền là đảm bào chất lượng thiết kế Trên cơ sở nhiệm vụ thiết kế, sản phầm cần được bên thứ ba độc lập giúp chủ đầu tư thẩm tra từ các số liệu đầu vào có liên quan trực tiếp đến công trình, phương pháp tính toán, các giải pháp cấu tạo và giải pháp thiết kế nhằm thỏa mãn được nhiệm vụ thiết kế đặt ra phục vụ cho quá trình khai thác sử dụng Đây được xem

là tiêu chuẩn đầu tiên và xuyên suốt không chỉ trong giai đoạn cỉa công tác thiết kế, mà đặc biệt quan trọng trong công tác thi công, nghiệm thu công trình Việc thuê tư vấn giám sát kiểm soát chất lượng thi công cũng không thể kiểm soát hết các vẫn đề của chất lượng công trình nếu không có kiểm định chất lượng công trình Công tác kiểm định chất lượng là cách duy nhất có thể đánh giá mức độ và làm sáng tỏ thực trạng chất lượng

Để chủ động kiểm soát tốt nhất chất lượng công trình trong suốt quá trình hoạt động của công trình, hoạt động kiểm soát của bên thứ ba độc lập cần triển khai ở cả ba giai đoạn hình thành và vận hành sản phầm với các hình thức khác nhau

Trang 30

20

Hình 1.1 Công tác kiểm định trong vòng đời của công trình

- Giai đoạn thiết kế (thiết kế cơ sở, thiết kế kỹ thuật, thiết kế bản vẽ thi công) cần thẩm tra, thẩm định thiết kế

- Giai đoạn thi công xây dưng ( giai đoạn chuyển sản phầm trên giáy thành sản phẩm vật chất cụ thể) là giai đoạn có nhu cầu kiểm soát chất lượng thông qua các công tác kiểm định nhiều và phổ biến nhất Công tác kiểm định giai đoạn này bao gồm kiểm định chất lượng vật liệu, cấu kiện xây dựng, thiết bị công trình, chất lượng các công viêc thi công và chất lượng công trình hoàn thành;

Trang 31

21

- Trong giai đoạn khai thác sử dụngcông trình, công tác kiểm định nhằm mục đích chủ động phòng ngừa sự xuống cấp hay hư hỏng công trình hoặc phục vụ trực tiếp công tác duy tu, sửa chưa, nâng cấp, cải tạo và thay thế khi cần thiết

Với nội dung tác giả muốn đề cập đến là các trường hợp kiểm định chất lượng thường gặp và tập trung chủ yếu ở giai đoạn thi công xây dựng và giai đoạn khai thác, sử dụng

1.2.1 Công tác kiểm định đối với công trình xây dựng mới(giai đoạn thi công công trình)

Trong giai đoạn này công tác kiểm định được quan tâm nhất để đảm bảo được chất lượng công trình xây dựng trước khi được đưa vào sử dụng với các nội dung bao gồm kiểm định chất lượng vật liệu, cấu kiện xây dựng, thiết bị công trình, chất lượng các công viêc thi công và chất lượng công trình hoàn thành

1.2.1.1 Kiểm định chất lượng vật liệu, cấu kiện xây dựng, thiết bị công trình phục vụ thi công

Mọi vật liệu đầu vào đều phải được nhà thầu kiểm tra thông qua CO (chứng chỉ của nhà sản xuất) và CQ (nhà thầu kiểm tra lượng mẫu nhất định theo quy định đối với vật liệu và sản phầm) Ở đây cần tách bạch giữa việc kiểm tra vật liệu đầu vào và công tác kiểm định vật liệu, vật tư, thiết bị Kiểm tra, thử nghiệm vật tư, vật liệu, thiết bị đầu vào là công tác kiểm tra thông thường theo quy định trong các tiêu chuẩn thi công xây dựng Còn trong công tác kiểm định thực hiện đối với vật tư trước khi đưa vào sử dụng trong công trình chỉ được thực hiện khi có nghi ngờ về chất lượng hoặc theo yêu cầu Như vậy, kiểm định chất lượng vật liệu, sản phẩm trong quá trình thi công đều gắn với tình huống cụ thể

Các loại vật liệu được sử dụng trong xây dựng như sơn, xi măng phụ gia… được quy

định cụ thể trong “phần 2: quy định về kỹ thuật” của QCVN 16:2017/BXD Quy chuẩn

kỹ thuật quốc gia về sản phầm, hàng hóa vật liệu xây dựng

Trong giai đoạn thi công không phải bao giờ cũng chỉ sử dụng các loại vật liệu ở trạng thái ban đầu (cát, sỏi đá, xi măng, sắt thép, gạch đá, vữa, gỗ các loại …) mà có nhiều trường hợp nhà thầu phải sử dụng cấu kiện hay sản phẩm xây dựng đã được gia công

Trang 32

22

và chế tạo sẵn Những dạng cấu kiện và sản phẩm có thể kể ra với rất nhiều chủng loại khác nhau Có thể kể ra các loại cấu kiện như: cọc móng; panel; tấm đan;… và các chi tiết, bộ phận lắp ghép khác Chúng được đưa về hện trường xây dựng ở dạng cấu kiện, sản phẩm hoàn chỉnh hoặc bán thành phẩm Nhà thầu cần phải biết rõ xem sản phẩm có đáp ứng yêu cầu của thiết kế hay không để quyết định đưa chúng vào thi công lắp dựng vào công trường

Đối với hàng hóa vật liệu xây dựng được gia công chế tạo sẵn có thể xảy ra 2 trường hợp thường gặp:

- Trong quá trình gia công chế tạo sản phẩm có sự theo dõi và quản lý chất lượng của bên đặt hàng Việc kiểm tra chất lượng được thực hiện tương tự như đối với những cấu kiện thi công trực tiếp trên công trình, tức là có cán bộ chuyên môn giám sát và nghiệm thu ở tất cả các giai đoạn gia công (theo dõi của cán bộ kỹ thuật và của tư vấn giám sát trong các bước gia công, có kèm theo các chứng chỉ về chất lượng vật liệu sử dụng) Đồi với những sản phẩm này trước khi đém lắp dựng vào công trình sẽ không cần qua kiểm định chất lượng nữa (trừ trường hợp có sự nghi ngờ chất lượng của cá biệt sản phầm nòa đó, cần kiểm định lại)

- Trường hợp nhập về công trình là những sản phầm chế tạo sẵn, không quá giám sát của bên đặt hàng hoặc nguồn gốc xuất xứ chưa rõ ràng… Thì chúng phải quá kiểm định chất lượng trước khi thi công lắp dựng vào công trình Công việc kiểm định chất lượng phải do đơn vị tư vấn có chuyên môn phù hợp thực hiện Căn cứ vào kết quả kiểm định với đánh giá và kết luận là đáp ứng yêu cầu thiết kế và tiêu chuẩn áp dụng thì cho phép sử dụng thi công bình thường

1.2.1.2 Kiểm định phục vụ công tác nghiệm thu

Theo quy định, mọi sản phầm, cấu kiện, kết cấu hay bộ phận kết cấu, hạng mục công trình và toàn công trình, trước khi quyết định chuyển sang giai đoạn thi công tiếp theo hay đưa vào sử dụng đều phải được nghiệm thu chất lượng

Trang 33

23

Có thể xảy ra các trường hợp sau:

- Sau khi xem xét đối tượng nghiệm thu không phát hiện vấn đề gì nghi ngờ về chất lượng, đồng thòi mọi vật liệu và sản phẩm sử dụng trong thi công đều có kèm theo đầy

đủ các chứng chỉ xác định chất lượng hợp chuẩn, thì cho phép nghiệm thu, không cần tiến hành kiểm định lại

- Trường hợp đối tượng nghiệm thu, mặc dù kèm theo đầy đủ các văn bản và chứng chỉ xác nhận chất lượng là đảm bảo, nhưng qua xem xét trực tiếp trên hiện trường, phát hiện tồn tại khuyết tật (trên một số chi tiết hay bộ phận snar phẩm hoặc kết cấu) hay một số biểu hiện khác gây nghi ngờ về chất lượng bên trong (như hiện tượng rỗ, cong vênh, sứt mẻ…) Khi đó cần tiến hành kiểm định lại với mục tiêu xác định rõ chất lượng bên trong để làm căn cứ nghiệm thu

- Yêu cầu thực hiện kiểm định đối với sản phẩm với những lý do xác đáng như: Phát hiện việc thực hiện không đầy đủ các bước quy định quan trọng trong công nghệ thi công trên hiện trường; sản phẩm thi công thiếu xác nhận đầy đủ của các đơn vị liên quan như tư vấn thiết kế, tư vấn giám sát ở những khâu cần thiết; Phát hiện sự không phù hợp giữa kết quả thử nghiệm kiểm tra chất lượng vật liệu và cấu kiện so với yêu cầu thiết kế hoặc tiêu chuẩn áp dụng , ( kể cả khi những biểu hiện trên mặt ngoài của sản phẩm hoặc kết cấu công trình là bình thường) Khi đó cần thực hiện kiểm định để làm căn cứ nghiệm thu với kết quả xác định chất lượng là thỏa mãn yêu cầu thiết kế hoặc tiêu chuẩn áp dụng và giải thích rõ những vẫn đề tồn tại kể trên

- Đối với công trình có quy mô tương đối lớn hoặc có những kết cấu phức tạ, sử dụng sản phẩm lần đầu mang tính thử nghiệm về nọi dung thieets kế hay công nghệ sản xuất… Trong quá trình thi công, đã thực hiện đầy đủ các khâu kiểm tra, có đủ mọi văn bản kỹ thuật kèm theo xác nhận chất lượng sản phẩm Trường hợp này, việc thực hiện kiểm định chất lượng sẽ mang tính kiếm tra xác suất (Phạm vi kiểm định là sản phẩm hay cấu kiện, chi tiết… được chỉ định bất kỳ trên công trình) để một lần nữa khẳng định chất lượng trước khi quyết định nghiệm thu công trình hoặc quyết định áp dụng thi công đại trà

Trang 34

24

- Đối với công trình có yêu cầu an toàn cao về sử dụng, môi trường, công trình có đông người sử dụng tập trung, nhằm đảm bảo an toàn tối đa cho con người cần kiểm định chất lượng công trình, bộ phận công trình thông qua thử tải, chạy thử liên động các hệ thống liên quan đến an toàn sử dụng như: hệ thống thoát hiểm, hệ thống phòng cháy chưa cháy, hệ thống điện, hệ thống điều không, hệ thống điều khiển thông mình công trình và các giải pháp đảm bảo an toàn môi trường

1.2.2 Công tác kiểm định đối với công trình đang vận hành (giai đoạn khái thác,

sử dụng)

Công tác kiểm định chất lượng công trình đang sử dụng phục vụ bảo trì, cải tạo, sửa chữa hoặc nâng cấp công trình đang và sẽ là khối lượng công việc đòi hỏi nhiều nhất đối với các tổ chức tư vấn chuyên về kiểm định

Để chuẩn đoán kết cấu và công trình nhằm mục đích xem xét duy trì, cải tạo, sửa chữa hoặc bảo trì công trình, người kỹ sư phải dựa vào kết quá kiểm định về vật liệu xây dựng, phân tích kết cấu, các phương pháp đo đạc, sự hiểu biết về quy luật của quá trình suy thoái, ăn mòn vật liệu và kết cấu… Để chuẩn đoán chính xác, cần phải thu thập các thông tin về lịch sử xây dựng và khai thác công trình, những hư hỏng đã sửa chữa đã làm trong quá khứ đồi với công trình đang xét Kết quả công tác kiểm tra thường xuyên, kiểm tra hàng năm và kiểm tra chi tiết có số liệu của công tác kiểm tra thường xuyên, kiểm tra hàng năm và kiểm tra chi tiết có số liệu của công tác kiểm định đồi với công trình là những thông tin hết sức quan trọng cho chuẩn đoán kỹ thuật đối với một công trình

Trang 35

25

Hình 1.2Quy trình đánh giá chất lượng công trình đang tồn tại hoặc sự cố công trình

1.2.2.1 Kiểm định phục vụ công tác bảo trì công trình xây dựng

Với bất kỳ công trình xây dựng nào, ngay từ thời gian bắt đầu sử dụng khai thác và trong suốt thời gian tồn tại của nó, phải có sự quản lý chất lượng chặt chẽ và được bảo trì thường xuyên theo định kỳ nhằm khôi phục chất lượng trở về trạng thái ban đầu của công trình

Trang 36

26

Việc bảo trì công trình thực hiện với 4 cấp: [7]

- Cấp duy tu, bảo dưỡng – Tiến hành theo dõi công trình thường xuyên nhằm đề phòng

hư hỏng ở một số chi tiết, bộ phận công trình Công việc này do chủ sở hữu quản lý công trình thực hiện, không yêu cầu phải tốt chứ thực hiện kiểm định

- Cấp sữa chữa nhỏ - Tiến hành khi phát hiện có hư hỏng ở một số chi tiết hay bộ phận công trình mới xảy ra ở giai đoạn ban đầu Mức độ sửa chữa là đơn gian, do chủ sở hữu quản lý công trình thực hiện, không cần có sự tham gia của kiểm định

- Cấp sử chữa vừa – Tiến hành khi phát hiện có hư hỏng và xuống cấp ở một số bộ phận công trình nhằm khôi phục chất lượng về trạng thái ban đầu Mức độ sửa chữa là trung bình Nếu hư hỏng xảy ra mà đơn vị chủ sở hữu quản lý công trình không có người đủ trình độ thực hiện kiểm tra và phát hiện chúng thì cần mời đơn vị tư vấn có chuyên môn phù hợp thực hiện kiểm định

- Cấp sửa chữa lớn – Tiến hành khi phát hiện có hư hỏng và xuống cấp khá nặng ở nhiều bộ phận công trình Do việc thực hiện thi công sửa chữa là phức tạp nên phải theo chỉ dẫn của thiết kế sửa chữa – Lấy căn cứ là kết quả kiểm định hiện trạng hư hỏng Trong báo cáo kết quả kiểm định khi đó cần có đánh giá và kết luận về nguyên nhân dẫn đến hư hỏng, phạm vi hư hỏng và những kiến nghị liên quán đến việc xử lý chúng

Mặc dù những quy định trên được thế hiện rõ ràng cụ thể nhưng trong thời gian quá, công tác quản lý đối với đa số các công trình cũ không được quản lý chất lượng một cách chu đáo và có hệ thống

Đối với bất kỳ một công trình xây dựng nào, trải qua thời gian dài sử dụng và khai thác cũng đều xuất hiện những biến động về hình dạng bên ngoiaf cũng như chất lượng bên trong Trong môi trường tự nhiên và môi trường sử dụng, tùy thuộc loại vật liệu và tính chất làm việc của cấu kiện mà chất lượng của chúng bị suy giảm đối với tốc độ phong hòa theo thời gian có khác nhau Một số hiện tượng phong hóa như ăn mòn, rỉ, nứt, bong tróc, mục mủn bề mặt… cũng không xảy ra giống nhau ở mỗi công trình, thậm trí ở mỗi vùng hay khu vực trên kết cấu Kết hợp tác dụng của nhưng biến

Trang 37

27

đồng nền đất, nước ngầm, của tải trọng sử dung… trên kết cấu coognt rình dần dần xuất hiện hư hỏng và khuyết tật Tình trạng này tồn tại càng kéo dài, hư hỏng sẽ càng nặng nề Phạm vi xuống cấp ngày càng mở rộng hơn Vì vậy, công tác sửa chữa chống xuống cấp nhưng công trình cũ luôn được đặt ra đối với mọi loại công trình

1.2.2.2 Kiểm định phục vụ cải tạo, nâng cấp công trình

Trong quá trình khái thác công trình, không phải bao giờ nội dung sử dụng cũng theo đúng nhiệm vụ đặt ra do thiết kế quy định ban đầu có thể xuất hiện một số thay đổi như sau:

*) Cải tạo theo yêu cầu thay đổi tiện nghi, điều kiện sử dụng

Không phân biệt chủng loại công trình, trong quá trình khai thác, luôn xuất hiện yêu cầu thay đổi về tiện nghi và điều kiện sử dụng Trong đó có thể kéo theo sự biến động

về bố trí lại không gian, sắp xếp lại diện tích mặt bằng công trình; chuyển vị trí tải trọng sử dụng hoặc tăng giảm trị số tác dụng của chúng… Từ đó làm thay đổi sơ đồ làm việc cấu kiện hoặc bộ phận kết cấu chịu lực Yêu cầu cải tạo khi đó nhằm mục tiêu đáp ứng những yêu cầu sử dụng mới, vừa làm cho công trình đẹp lên mà vẫn đảm bảo

an toàn về mặt chịu lực

*) Cải tạo theo yêu cầu thay đổi nội dung, công năng sử dụng mới

Đó là trường hợp công năng sử dụng có sự thay đổi mà theo thiết kế ban đầu hay công trình hiện tại không đáp ứng Mặc dù bản thân kết cấu công trình vẫn trong tình trạng làm việc bình thường Ví dụ: cải tạo hệ thống kênh mương, xây dựng thêm nhà máy thủy điện dưới chân hồ đập

Những năm gần đây, rất nhiều công trình kênh mương, trạm bơm, hồ chứa, có nhu cầu nâng cấp và cải tạo, thay đổi không gian sử dụng Khi đó kết quả kiểm định hiện trạng chất lượng công trình sẽ cung cấp các thông tin và số liệu đầu vào cho thiết kế và thi công cải tạo, chọn giải pháp cấu tạo phù hợp, vừa đảm bảo an toàn cho công trình, vừa thỏa mãn yêu cầu của công năng sử dụng mới

Trang 38

28

1.2.2.3 Kiểm định hiện trạng chất lượng phục vụ dỡ bỏ công trình

Trường hợp này khác đặc biệt trong công tác kiểm định công trình đang sử dụng Đó

là khi công trình đã quá niên hạn sử dụng, đang ở tình trạng xuống cấp nghiệm trọng, không còn trạng thái sử dụng an toàn Vấn đề dặt ra có thể phải chọn một trong 2 phương án sau:

*) Phương án 1: Quyết định phá bỏ công trình cũ để lấy diện tích xây lại mới

Phương án này trở nên hợp lý khi:

- Việc sửa chữa, gia cố đòi hỏi quá tốn kém về mặt kinh tế, phức tạp về kỹ thuật

- Công trình cũ nếu có thực hiện sửa chữa được thì cũng cẫn có những hạn chế về mặt tiện nghi sử dụng, về tính mỹ thuật đối với công trình, vẫn tồn tại một số khiếm khuyết không thể xử lý triệt để

- Xét tổng thể mọi mặt, không đáp ứng mục tiêu đầu tư

*) Phương án 2: Xem xét khả năng sửa chữa gia cố công trình

Mặc dù công trình đã bị xuống cấp nặng, nhưng kết quả kiểm định cho thấy so với phương án 1 việc thực hiện sửa chữa gia cố công trình cũ vẫn đem lại hiệu quả hơn, phù hợp khả năng của chủ đầu tư Điều này thể hiện ở chi phí thấp do còn tận dụng được một số bộ phận kết cấu chịu lực của công trình cũ Mặt khác, phương án sửa chữa gia cố vẫn đảm bảo mọi yêu cầu về mặt dử dụng…

Qua đó có thể thấy những đánh gia và kết luận của kiểm định giúp cho củ đầu tư nhanh chóng đưa ra được những quyết định cho việc chọn một trong hai phương án trên, tránh được lãng phí và những hậu quả đáng tiếc có thể xảy ra về sau

1.3 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH THỦY LỢI

1.3.1 Tình hình chất lượng công trình xây dựng thủy lợi hiện nay

Công trình xây dựng thủy lợi là một sản phẩm hàng hóa đặc biệt phục vụ cho sản xuất

và các nhu cầu của đời sống con người Hàng năm vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước (NSNN), của doanh nghiệp (DN), của người dân dành cho xây dựng là rất lớn Vì vậy,

Trang 39

29

chất lượng công trình xây dựng (CLCTXD) là vấn đề cần được hết sức quan tâm, nó

có tác động trực tiếp đến sự phát triển ổn định, bền vững, hiệu quả về kinh tế và đời sống của con người;

Thời gian vừa qua, công tác QLCLCTXD - yếu tố quan trọng quyết định đến CLCTXD đã có nhiều tiến bộ Với sự tăng nhanh và trình độ được nâng cao của đội ngũ cán bộ quản lý, sự lớn mạnh của đội ngũ công nhân các ngành nghề xây dựng, với việc sử dụng vật liệu mới có chất lượng cao, việc đầu tư thiết bị thi công hiện đại, sự hợp tác trao đổi kinh nghiệm của các nước có nền công nghiệp xây dựng phát triển cùng với việc ban hành các chính sách, các văn bản pháp quy tăng cường công tác QLCLCTXD, chúng ta đã xây dựng được nhiều công trình góp phần quan trọng vào hiệu quả của nền kinh tế quốc dân Trong lĩnh vực xây dựng thủy lợi nối tiếp thành công của hồ thủy điện Hòa bình(1994) đã xây dựng thêm một loạt các công trình thủy lợi phục vụ đời sống nhân dân như hồ thủy điện Sơn La, Hồ Cửa Đạt (2009), Hồ Lai Châu… và hệ thống kênh mương, trạm bơm được xây dựng và cải tạo nhằm nâng cao khả năng sử dụng hiệu quả nguồn nước

Tuy nhiên, bên cạnh những công trình mới đạt chất lượng và hiệu quả để phát triển kinh tế, cũng còn không ít công trình cũ và đang xây dựng có chưa đạt hiệu quả theo như kỳ vọng đầu tư, không đáp ứng được yêu cầu sử dụng, công trình nứt, vỡ, lún sụt vẫn đang được sử dụng và có nguy cơ gây mất ổn định công trình, thất thoát nguồn nước Đã thế, nhiều công trình không tiến hành bảo trì hoặc bảo trì không đúng định

kỳ làm giảm tuổi thọ công trình Cá biệt ở một số công trình gây sự cố làm thiệt hại rất lớn đến tiền của, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả đầu tư

Trang 40

30

Hình 1.3Sự cố sạt xói lở phía bờ tả hạ lưu của công trình thủy điện hồ Cửa Đạt xảy ra khi chịu tác động của áp thấp sau cơn bão số 10 cùng với việc xả lũ của hồ năm 2017

Hình 1.4 Sự cố thấm xuất hiện ở vai trái và mái hạ lưu đập hồ Núi Cốc

Hồ Núi Cốc Được xây dựng từ năm 1972 đến 1982, hồ Núi Cốc có một đập chính, 7 đập phụ Đập chính nằm ở xã Phúc Trìu (TP Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên), cao 27

m, dài 480 m, rộng 5 m, cao trình đỉnh đập (độ cao so với mực nước biển) là 49 m Công trình có vai trò chủ lực ngăn dòng chảy sông Công, giữ nước trong hồ Núi Cốc

Từ năm 2014 khu vực đập chính bắt đầu có vết thấm nhỏ nhưng không gây nguy hiểm Đến tháng 4/2017, lượng nước thấm qua đập chính ngày càng tăng và lan rộng

Ngày đăng: 02/07/2020, 16:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w