1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu giải pháp quản lí chất lượng các dự án đầu tư xây dựng nông thôn mới tại Ban quản lí dự án

109 66 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 917,59 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

P hương pháp nghiên cứu: Phương pháp thu thập, phân tích tài liệu trên cơ sở các quy định hiện hành, các nghiên cứu khoa học đã thực hiện và các dự án công trình thực tế; Phương pháp kế

Trang 1

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài luận văn này là sản phẩm nghiên cứu của riêng cá nhân tôi Các số liệu và kết quả trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa được ai công bố trong tất cả các công trình nào trước đây Tất cả các trích dẫn đã được ghi rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2018

Tác giả luận văn

Khuất Duy Tùng

Trang 2

ii

LỜI CẢM ƠN

Luận văn thạc sỹ “Nghiên cứu giải pháp quản lý chất lượng các dự án đầu tư xây dựng nông thôn mới tại Ban quản lý dự án ĐTXD huyện Thạch Thất” được hoàn thành tại trường Đại học Thủy Lợi

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn, tác giả đã nhận được sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo, PGS.TS Nguyễn Hữu Huếvà những ý kiến về chuyên môn quý báu của các thầy cô trong Bộ môn Công nghệ và Quản lý xây dựng, Khoa Công trình – Trường đại học Thủy Lợi

Tác giả xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc đến thầy giáo hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Hữu Huế

đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tác giả về chuyên môn trong suốt quá trình nghiên cứu

Tác giả xin gửi lời cảm ơn đến nhà trường và các thầy cô trong bộ môn đã dạy bảo hướng dẫn tác giả trong suốt quá trình học tập tại trường đại học Thủy lợi, các đồng nghiệp trong và ngoài ngành đã cung cấp tài liệu phục vụ cho luận văn

Xin gửi lời cảm ơn tới những người thân trong gia đình, đồng nghiệp và bạn bè đã động viên, khích lệ giúp tác giả hoàn thiện luận văn của mình

Tuy nhiên với thời gian và trình độ chuyên môn còn hạn chế, luận văn không thể tránh được sự thiếu sót, tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý thầy cô

để nghiên cứu được hoàn thiện hơn

Hà Nội, ngày tháng năm 2018

Tác giả luận văn

Khuất Duy Tùng

Trang 3

iii

MỤC LỤC

DANH MỤC HÌNH VI DANH MỤC VIẾT TẮT VII

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỐNG QUAN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 5

1.1 Dự án đầu tư xây dựng 5

1.1.1 Dự án đầu tư xây dựng 5

1.1.2 Đặc điểm của dự án đầu tư xây dựng công trình 6

1.1.3 Phân loại dự án đầu tư xây dựng 7

1.1.4 Các giai đoạn thực hiện dự án ĐTXD công trình 7

1.2 Chất lượng và Quản lý chất lượng công trình xây dựng 8

1.2.1 Chất lượng công trình xây dựng 8

1.2.2 Quản lý chất lượng công trình xây dựng 10

1.2.3 Mục tiêu và vai trò của quản lý chất lượng công trình xây dựng 11

1.2.4 Nội dung quản lý chất lượng công trình xây dựng 12

1.2.5 Những nguyên tắc quản lý chất lượng dự án ĐTXD 13

1.3 Công tác quản lý chất lượng xây dựng ở Việt Nam và trên thế giới 16

1.3.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý chất lượng công trình 16

1.3.2 Quan điểm và tiêu chí đánh giá chất lượng công trình xây dựng 19

1.3.4 Quản lý chất lượng xây dựng trên thế giới 27

1.4 Quy hoạch xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020 30

1.4.1 Quy hoạch xây dựng nông thôn mới 30

1.4.2 Quy định chung về quy hoạch nông thôn mới 31

1.4.3 Tiêu chí xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020 32

1.4.4 Nhiệm vụ xây dựng và phát triển nông thôn mới 35

Kết luận chương 1 36

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 38

2.1 Các quy định của pháp luật về quản lý chất lượng công trình xây dựng 38

Trang 4

iv

2.2 Nội dung công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng 39

2.2.1 Quản lý chất lượng giai đoạn khảo sát, thiết kế dự án 40

2.2.2 Quản lý chất lượng giai đoạn thi công công trình xây dựng 41

2.2.3 Quản lý chất lượng giai đoạn bảo hành công trình 45

2.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm 45

2.3.1 Nhóm yếu tố khách quan 45

2.3.2 Nhóm yếu tố chủ quan 46

2.4 Trách nhiệm của chủ đầu tư trong quản lý chất lượng xây dựng 47

2.5 Các phương pháp nghiên cứu nâng cao công tác quản lý chất lượng 49

2.5.1 Đổi mới nội dung và cách thức quản lý Nhà nước về chất lượng công trình xây dựng 49

2.5.2 Xây dựng đội ngũ cán bộ công chức trong cơ quan QLNN 51

2.5.3 Phát huy nội lực chủ động hội nhập quốc tế về lĩnh vực CLCT xây dựng 53

2.6 Quy hoạch nông thôn mới trên địa bàn huyện Thạch Thất 53

2.6.1 Một số nội dung cơ bản về nông thôn mới 53

2.6.2 Mục tiêu và nguyên tắc xây dựng Nông thôn mới 53

2.6.3 Đặc trưng của nông thôn mới 55

2.6.4 Nguồn lực xây dựng nông thôn mới 55

2.6.5 Vai trò và nhiệm vụ của khuyến nông trong chương trình xây dựng nông thôn mới ở huyện Thạch Thất 57

Kết luận chương 2 63

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG DỰ ÁN ĐTXD NÔNG THÔN MỚI TẠI BAN QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐTXD HUYỆN THẠCH THẤT 64

3.1 Giới thiệu về Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện Thạch Thất 64

3.1.1 Chức năng của ban quản lý dự án đầu tư xây dựng 64

3.1.2 Nhiệm vụ, quyền hạn 65

3.1.3 Kinh phí hoạt động 69

3.1.4 Cơ cấu tổ chức, biên chế 70

3.2 Các dự án trong quy hoạch nông thôn mới của Ban QLDA ĐTXD huyện Thạch Thất 72

Trang 5

v

3.2.1 Về kết quả thực hiện dự án trong những năm gần đây 72

3.2.2 Tình hình triển khai thực hiện các dự án 73

3.2.3 Phương hướng và nhiệm vụ năm 2017 78

3.3 Đánh giá năng lực của Ban quản lý dự án ĐTXD huyện Thạch Thất 79

3.3.1 Các mặt đạt được 79

3.3.2 Tồn tại, hạn chế 80

3.3.3 Nguyên nhân tồn tại, hạn chế 81

3.3.4 Định hướng nâng cao công tác quản lý chất lượng công trình tại Ban quản lý dự án ĐTXD huyện Thạch Thất 83

3.4 Đề xuất các giải pháp nâng cao công tác quản lý chất lượng dự án ĐTXD nông thôn mới tại Ban quản lý dự án ĐTXD huyện Thạch Thất 84

3.4.1 Hoàn thiện bộ máy nhân sự, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 84

3.4.2 Tăng cường công tác quản lý chất lượng trong quá trình thi công 89

3.4.3 Tăng cường xã hội hóa công tác quản lý chất lượng xây dựng 92

3.4.4 Đảm bảo tiến độ thực hiện các dự án 93

3.4.5 Đẩy mạnh công tác xử lý vi phạm về chất lượng 94

3.4.6 Hoàn thiện hệ thống văn bản quản lý chất lượng công trình 95

Kết luận chương 3 96

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 97

TÀI LIỆU THAM KHẢO 101

Trang 6

vi

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Quản lý chất lượng theo các giai đoạn của dự án ĐTXD công trình 13 Hình 3.1 Sơ đồ bộ máy tổ chức BQLDA ĐTXD huyện Thạch Thất 71 Hình 3.2 Sơ đồ nguyên nhân, kết quả ( Sơ đồ xương cá) 91

Trang 7

vii

DANH MỤC VIẾT TẮT

Viết tắt Nghĩa đầy đủ của các từ viết tắt

BQLDA Ban Quản lý dự án

BCKTKT Báo cáo kinh tế kỹ thuật

TKBVTC Thiết kế bản vẽ thi công

QLCL Quản lý chất lượng

Trang 9

1

M Ở ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Trong nhưng năm gần đây, khi đất nước bắt đầu hội nhập kinh tế quốc tế, diện mạo đất nước ngày càng được đổi mới Nền kinh tế tăng trưởng, kèm theo đó đời sống của nhân dân cũng được cải thiện Cùng với sự phát triển và nâng cao của các ngành kinh tế, các lĩnh vực khác cũng ngày càng thay đổi Đó là sự mọc lên của các công trình công nghiệp

và công trình dân dụng nhằm đáp ứng yêu cầu của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn và hội nhập quốc tế của đất nước Các hoạt động đầu tư được đẩy mạnh, đặc biệt là đầu tư xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng Thành quả của hoạt động đầu tư có tác động to lớn đến sự phát triển kinh tế xã hội, góp phần nâng cao, cải thiện đời sống cho nhân dân

Tất nhiện, cùng với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, đó là sự cạnh tranh giữa các đơn vị trong ngành xây dựng Hiện nay, các công trình với quy mô lớn đều có mặt ở hầu hết các thành phố lớn trong cả nước Trong môi trường cạnh tranh đó, một trong những chìa khóa đem lại thành công đó chính là chất lượng công trình Đó là nhân tố vô cùng quan trọng Bởi lẽ công trình xây dựng có đặc điểm nguyên chiếc, đơn nhất, cố định và không thể di dời Do đó, công tác quản lý chất lượng là vô cùng quan trọng Ở Việt Nam, không ít sự

cố xảy ra gây hậu quả nghiệm trọng, đa phần đều liên quan đến chất lượng công trình Chẳng hạn như vụ sập công trình trường Mầm non Vườn Xanh (phường Mỹ Đình, quận Nam Từ Liêm) đêm 25/9/2017, nào là vụ bức tường lớn của tầng 3 tòa nhà trường Tiểu học Đồng Tâm (quận Hai Bà Trưng, Hà Nội) cũng bất ngờ đổ ập xuống ngõ 128C Đại La lúc 22 giờ đêm, trung tuần tháng 8/2017 Hay gần đây là một công trình xây dựng trên đường Tố Hữu, phường Đại Mỗ, quận Nam Từ Liêm, TP Hà Nội vào khoảng 2h ngày 17/1/2018 đã xảy ra vụ sập giàn giáo khiến 3 công nhân tử vong và 3 người khác bị thương nặng Do đó đặt vấn đề ở đây là công tác quản lý chất lượng xây dựng Điều đó cho thấy chất lượng công trình, sản phẩm xây dựng cần được quan tâm, đẩy mạnh trong mọi quá trình thi công đầu tư xây dựng công trình

Quản lý chất lượng là các hoạt động có phối hợp để định hướng và kiểm soát một tổ chức về chất lượng Việc định hướng và kiểm soát về chất lượng nói chung bao gồm

Trang 10

Tuy nhiên, việc triển khai thực hiện, quản lý dự án và công tác quản lý chất lượng công trình của cán bộ trong BQLDA vẫn còn những tồn tại, hạn chế như công tác phối hợp giữa cán bộ BQLDA với đơn vị thi công, tư vấn giám sát chưa sát sao, nhịp nhàng Trình

độ, kinh nghiệm chuyên môn của một số cán bộ chưa đáp ứng được nhiệm vụ được giao phó Bên cạnh đó, khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển dẫn tới quá trình thi công công trình được rút ngắn, chất lượng công trình được nâng cao Chính vì vậy đòi hỏi những cán bộ có chuyên môn cao và luôn nắm bắt được những khoa học công nghệ mới, nhằm nâng cao công tác quản lý dự án cũng như quản lý chất lượng của công trình

Xuất phát từ thực tiễn nêu trên, học viên chọn đề tài “Nghiên cứu giải pháp quản lý chất

lượng các dự án đầu tư xây dựng nông thôn mới tại Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng

huyện Thạch Thất” làm luận văn tốt nghiệp của mình

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Trang 11

- Tìm hiểu các văn bản pháp luật và các tài liệu liên quan đến CLCT xây dựng;

- Tiếp cận các thông tin dự án, từ tổng thể đến chi tiết;

- Tiếp cận các dự án công trình thực tế và các ấn phẩm phân tích, nghiên cứu đã phát hành để giải đáp các mục tiêu đề ra của đề tài

4.2 P hương pháp nghiên cứu:

Phương pháp thu thập, phân tích tài liệu trên cơ sở các quy định hiện hành, các nghiên cứu khoa học đã thực hiện và các dự án công trình thực tế;

Phương pháp kế thừa những kết quả đã tổng kết, nghiên cứu;

Phương pháp tổng hợp, so sánh, phân tích, thống kê;

Vận dụng đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước về quản lý chất lượng công trình xây dựng theo các văn bản quy phạm hiện hành;

Nghiên cứ một số tài liệu thứ cấp, các tài liệu thống kê, báo cáo của các tổ chức quản

lý, giám sát xây dựng hiện thời

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

5.1 Ý nghĩa khoa học

Đề tài này đánh giá được các tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của chúng Từ đó đề xuất được giải pháp nâng cao công tác QLCL công trình xây dựng cho một BQLDA

Trang 12

4

cụ thể, qua đó cung cấp cơ sở cho các BQLDA, các ban ngành liên quan hoặc các đơn

vị xây dựng khác tham khảo

5.2 Ý nghĩa thực tiễn

Việc phân tích chi tiết các tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của chúng dựa trên cơ sở thực tế và các khía cạnh khác nhau sẽ giúp cho các giải pháp đề xuất thực sự thiết thực đối với Ban quản lý dự án ĐTXD huyện Thạch Thất Qua đó kết quả của luận văn có thể cung cấp các giải pháp hữu ích cho đơn vị, đồng thời góp phần làm cơ sở cung cấp thông tin nhằm cải thiện hiệu quả nói chung cho các các BQLDA khác

6 Kết quả đạt được

- Xác định được những tồn tại và hạn chế trong công tác quản lý chất lượng các dự án ĐTXD nông thôn mới mà Ban quản lý dự án ĐTXD huyện Thạch Thất đã và đang gặp phải trong thời gian qua;

- Giúp cho công tác quản lý chất lượng công trình bên phía chủ đầu tư được chuyên nghiệp hóa, đảm bảo cho dự án thỏa mãn tốt nhất các yêu cầu về chất lượng, tiến độ và mục tiêu đặt ra;

- Đề xuất các giải pháp nâng cao công tác QLCL các dự án ĐTXD nông thôn mới tại Ban quản lý dự án ĐTXD huyện Thạch Thất để hoàn thành kế hoạch xây dựng nông thôn mới do thành phố, huyện đề ra; góp phần nâng cao đời sống nhân dân, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện Thạch Thất

Trang 13

5

CHƯƠNG 1 TỐNG QUAN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

1.1 D ự án đầu tư xây dựng

1.1.1 D ự án đầu tư xây dựng

- Dự án là việc thực hiện một mục đích hay nhiệm vụ công việc nào đó dưới sự ràng buộc về yêu cầu và nguồn lực đã định Thông qua việc thực hiện dự án để cuối cùng đạt được mục tiêu nhất định đã dề ra và kết quả của nó có thể là một sản phẩm hay một dịch vụ mà bạn mong muốn

Dự án là tập hợp các đề xuất để thực hiện một phần hay toàn bộ công việc nhằm đạt được mục tiêu hay yêu cầu nào đó trong một thời gian nhất định dựa trên nguồn vốn xác định

Dự án là một quá trình mang đặc thù riêng bao gồm một loạt các hoạt động được phối hợp và kiểm soát, có định ngày khởi đầu và kết thúc, được thực hiện với những hạn chế

về thời gian, chi phí và nguồn lực nhằm đạt được mục tiêu phù hợp với những yêu cầu

cụ thể

Dự án là đối tượng của quản lý và là một nhiệm vụ mang tính chất 1 lần, có mục tiêu

rõ ràng trong đó bao gồm chức năng, số lượng và tiêu chuẩn chất lượng), yêu cầu phải được hoàn thành trong một khoảng thời gian quy định, có dự toán tài chính từ trước

và nói chung không được vuợt qua dự toán đó

- Dự án đầu tư là tập hợp các đề xuất bỏ vốn trung và dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định

- Dự án đầu tư xây dựng là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để tiến hành hoạt động xây dựng để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn và chi phí xác định Ở giai đoạn chuẩn bị dự án đầu tư xây dựng, dự án được thể hiện thông qua Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng, Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng

Trang 14

6

Theo tác giả luận văn, dự án đầu tư xây dựng được hiểu là các dự án đầu tư mà đối tượng đầu tư là công trình xây dựng, nghĩa là dự án có liên quan tới hoạt động xây dựng cơ bản như xây dựng nhà cửa, đường sá, cầu cống, công trình cấp nước không phải tất cả các dự án đầu tư đều có liên quan tới hoạt động xây dựng cơ bản Vì thế, đối với những dự án đầu tư không liên quan tới hoạt động xây dựng cơ bản không gọi

là dự án đầu tư xây dựng

Dự án ĐTXD bao gồm các dự án xây dựng mới, cải tạo, sửa chữa, trùng tu, tôn tạo,

mở rộng các công trình đã được đầu tư xây dựng trước đó

Dự án ĐTXD khác với các dự án khác là dự án ĐTXD bắt buộc có liên quan đến xây dựng, dù tỷ trọng trong tổng vốn đầu tư của phần xây dựng có rất nhỏ

1.1.2 Đặc điểm của dự án đầu tư xây dựng công trình

Đặc điểm của dự án đầu tư xây dựng là:

- Mỗi dự án đầu tư xây dựng là một đơn vị xây dựng được cấu thành bởi một hoặc nhiều công trình đơn lẻ có mối liên hệ nội tại, thực hiện hạch toán thống nhất, quản lý thống nhất trong quá trình xây dựng trong phạm vi thiết kế sơ bộ

- Các dự án đầu tư xây dựng phải tuân thủ theo một trình tự xây dựng cần thiết và trải qua một quá trình xây dựng đặc biệt, tức là mỗi dự án xây dựng là cả một quá trình theo thứ tự từ lúc đưa ra ý tưởng xây dựng và đề nghị xây dựng đến lúc lựa chọn phương án, đánh giá, quyết sách, điều tra thăm dò, thiết kế, thi công cho đến lúc công trình hoàn thiện đi vào sử dụng

- Dự án đầu tư xây dựng dựa theo nhiệm vụ đặc biệt để có được hình thức tổ chức có đặc điểm dùng một lần Điều này được biểu hiện ở việc đầu tư duy nhất một lần, địa điểm xây dựng cố định một lần, thiết kế và thi công đơn nhất

- Mọi dự án đầu tư xây dựng đều có tiêu chuẩn về hạn ngạch đầu tư Chỉ khi đạt đến một mức độ đầu tư nhất định mới được coi là dự án xây dựng, nếu không đạt được tiêu chuẩn về mức đầu tư này thì chỉ được coi là đặt mua tài sản cố định đơn lẻ, mức hạn ngạch về đầu tư này được Nhà nước quy định

Trang 15

7

1.1.3 Phân loại dự án đầu tư xây dựng

- Dự án đầu tư xây dựng được phân loại theo quy mô, tính chất, loại công trình chính của dự án gồm: Dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A, dự án nhóm B và dự án nhóm C theo các tiêu chí quy định của pháp luật về đầu tư công và được quy định chi tiết tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này

- Dự án đầu tư xây dựng công trình chỉ cần yêu cầu lập Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu

tư xây dựng gồm:

+ Công trình xây dựng sử dụng cho mục đích tôn giáo;

+ Công trình xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo, nâng cấp có tổng mức đầu tư dưới 15 tỷ đồng (không bao gồm tiền sử dụng đất)

- Dự án đầu tư xây dựng được phân loại theo loại nguồn vốn sử dụng gồm: Dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước, dự án sử dụng vốn nhà nước ngoài ngân sách và dự án

sử dụng vốn khác

1.1 4 Các giai đoạn thực hiện dự án ĐTXD công trình

Trình tự thực hiện đầu tư xây dựng được quy định cụ thể như sau

a) Giai đoạn chuẩn bị dự án gồm các công việc: Tổ chức lập, thẩm định, phê duyệt Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi (nếu có); lập, thẩm định, phê duyệt Báo cáo nghiên cứu khả thi hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng để xem xét, quyết định đầu tư xây dựng và thực hiện các công việc cần thiết khác liên quan đến chuẩn bị dự án;

b) Giai đoạn thực hiện dự án gồm các công việc: Thực hiện việc giao đất hoặc thuê đất (nếu có); chuẩn bị mặt bằng xây dựng, rà phá bom mìn (nếu có); khảo sát xây dựng; lập, thẩm định, phê duyệt thiết kế, dự toán xây dựng; cấp giấy phép xây dựng (đối với công trình theo quy định phải có giấy phép xây dựng); tổ chức lựa chọn nhà thầu và ký kết hợp đồng xây dựng; thi công xây dựng công trình; giám sát thi công xây dựng; tạm ứng, thanh toán khối lượng hoàn thành; nghiệm thu công trình xây dựng hoàn thành;

Trang 16

1.2 Chất lượng và Quản lý chất lượng công trình xây dựng

1.2.1 C hất lượng công trình xây dựng

Theo tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế ( ISO) chất lượng là mức độ thỏa mãn của một tập hợp các thuộc tính đối với các yêu cầu đã nêu ra hay tiềm ẩn

Rộng hơn chất lượng công trình xây dựng còn có thể hiểu không chỉ từ góc độ của bản thân sản phẩm và người được thụ hưởng sản phẩm xây dựng mà còn cả trong quá trình hình thành sản phẩm xây dựng đó với các vấn đề liên quan khác Một số vấn đề cơ bản

đó là:

- Chất lượng công trình cần được quan tâm ngay từ khi hình thành ý tưởng về xây dựng công trình, từ khâu khảo sát, lập quy hoạch, lập dự án, thi công đến khi hoàn thành bàn giao đưa vào sử dụng và dỡ bỏ công trình sau khi hết thời hạn sử dụng Chất lượng công trình thể hiện ở chất lượng quy hoạch xây dựng, chất lượng dự án đầu tư xây dựng công trình, chất lượng khảo sát, thiết kế

- Chất lượng công trình tổng thể phải được hình thành từ chất lượng của nguyên vật liệu, cấu kiện, chất lượng của công việc xây dựng riêng lẻ, của các bộ phận, hạng mục công trình

- Các tiêu chuẩn kỹ thuật không chỉ thể hiện ở các kết quả thí nghiệm, kiểm định nguyên vật liệu, cấu kiện, máy móc thiết bị mà còn ở quá trình hình thành và thực hiện các bước công nghệ thi công, chất lượng các công việc của đội ngũ công nhân, kỹ sư lao động trong quá trình thực hiện các hoạt động xây dựng

- Vấn đề an toàn không chỉ là trong khâu khai thác, sử dụng đối với người thụ hưởng công trình mà còn là cả trong giai đoạn thi công xây dựng đối với đội ngũ công nhân,

kỹ sư xây dựng;

Trang 17

9

- Tính thời gian không chỉ thể hiện ở thời hạn công trình đã xây dựng có thể phục vụ

mà còn ở thời hạn phải xây dựng và hoàn thành, đưa công trình vào khai thác, sử dụng;

- Tính kinh tế không chỉ thể hiện ở số tiền quyết toán công trình chủ đầu tư phải chi trả

mà còn thể hiện ở góc độ đảm bảo lợi nhuận cho các nhà thầu thực hiện các hoạt động

và dịch vụ xây dựng như lập dự án, khảo sát, thiết kế, thi công xây dựng

- Vấn đề môi trường: cần chú ý không chỉ từ góc độ tác động của dự án tới các yếu tố môi trường mà cả các tác động theo chiều ngược lại, tức là tác động của các yếu tố môi trường tới quá trình hình thành dự án

1.2.1.1 Các thuộc tính của chất lượng

Chất lượng bao gồm 8 thuộc tính

- Thuộc tính kỹ thuật: Phản ánh công dụng chức năng của sản phẩm, được quy định bởi các chỉ tiêu như kết cấu vật chất, thành phần cấu tạo, các đặc tính về cơ lý hóa

- Thuộc tính về tuổi thọ: Đây là yếu tố đặc trưng cho tính chất của sản phẩm có giữ được khả năng làm việc bình thường hay khoogn trong một điều kiện thực hiện nghiêm túc chế độ bảo hành, bảo dưỡng theo quy định thiết kế Là cơ sở quan trọng giúp khách hàng quyết định lựa chọn, làm tăng uy tín và khả năng cạnh tranh của sản phẩm

- Độ tin cậy: Phản ánh chất lượng sản phẩm, là cơ sở để doanh nghiệp có khả năng duy trì và phát triển sản phẩm của mình

- Độ an toàn: Những chỉ tiêu an toàn trong khai thác vận hành là yếu tố bắt buộc trong mỗi sản phẩm với điều kiện như hiện nay

- Mức độ gây ô nhiễm: Là yêu cầu bắt buộc phải tuân thủ khi bàn giao sản phẩm đưa vào sử dụng

- Tính tiện dụng: Phản ánh đòi hỏi về tính sẵn có, dễ vận chuyển, bảo quản và sử dụng

- Tính kinh tế: Là yếu tố rất quan trọng đối với những sản phẩm khi sử dụng có tiêu hao nhiên liệu và năng lượng

- Tính thẩm mỹ: Là đặc trung cho sự hợp lý về hình thức

Trang 18

10

- Tính vô hình: Ngoài những thuộc tính hữu hình trên thì chất lượng còn có những thuộc tính vô hình khác và nó có ý nghĩa quan trọng đối với khách hàng khi đánh giá chất lượng sản phẩm Đây là căn cứ tạo ra sự khác biệt, thể hiện tính chuyên nghiệp

1.2.1.2 Các yêu cầu và đặc điểm của chất lượng

a Các yêu cầu:

Chất lượng phải chính là kết quả của sự phối hợp thống nhất giữa lao động với các yếu

tố kỹ thuật, kinh tế và các yếu tố văn hóa xã hội

Chất lượng phản ánh được khả năng đáp ứng yêu cầu về chức năng kỹ thuật, phản ánh giá trị mà sản phẩm có thể đạt được

Các thuộc tính chất lượng phải là sự kết hợp của nhiều yếu tố, nhiều bộ phận hợp thành Không chỉ phản ánh trình độ kỹ thuật của sản phẩm mà còn phản ánh trình độ, điều kiện phát triển kinh tế xã hội của mỗi nước, khu vực trong từng thời kỳ

Chất lượng được hình thành trong mọi hoạt động, quá trình, vì thế phải xem xét một cách chặt chẽ giữa các quá trình trước trong và sau sản xuất, giữa các yếu tố tác động trực tiếp, gián tiếp, bên trong và bên ngoài

b Đặc điểm của chất lượng

Chất lượng công trình là một phạm trù kinh tế xã hội, có tính tương đối và thay -đổi theo không gian và thời gian

Chất lượng công trình phải được đánh giá thông qua các tiêu chuẩn cụ thể

Chất lượng công trình phải được đánh giá trên hai mặt khách quan và chủ quan Tính chủ quan thể hieejnt hông qua chất lượng trong sự phù hợp hay còn gọi là chất lượng thiết kế Tính khách quan thể hiện thông qua chất lượng trong sự tuân thủ thiết kế

1.2.2 Quản lý chất lượng công trình xây dựng

Quản lý chất lượng công trình là các hoạt động có phối hợp để định hướng và kiểm soát một tổ chức về chất lượng Là tập hợp những haojt độgn chức năng quản lý chung nhằm xác định chính sách chất lượng, mục đích chất lượng và thực hiện chúng bằng

Trang 19

11

các phương pháp như lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng trong một khuôn khổ hệ thống Việc định hướng và kiểm soát về chất lượng nói chung bao gồm lập chính sách chất lượng và mục tiêu chất lượng, hoạch

định chất lượng, kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng

Quản lý chất lượng hiện đã được áp dụng trong mọi ngành công nghiệp, không chỉ trong sản xuất mà trong mọi lĩnh vực, trong mọi loại hình tổ chức, từ quy mô lớn đến quy mô

nhỏ, cho dù có tham gia vào thị trường quốc tế hay không Quản lý chất lượng đảm bảo cho tổ chức làm đúng những việc phải làm và những việc quan trọng, theo triết lý "làm việc đúng" và "làm đúng việc", "làm đúng ngay từ đầu" và "làm đúng tại mọi thời điểm"

Quản lý chất lượng có thể được xem là gồm 3 thành phần chính: kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng

1.2.3 M ục tiêu và vai trò của quản lý chất lượng công trình xây dựng

1.2.3.1 Mục tiêu quản lý chất lượng CTXD

Mục tiêu cơ bản của dự án đầu tư xây dựng CTCNTTNT là hoàn thành các công việc của dự án theo đúng yêu cầu kỹ thuật và chất lượng, trong phạm vi ngân sách được duyệt và theo đúng tiến độ thời gian cho phép

Nhằm đạt được sự phát triển của đơn vị trên cơ sở năng suất - chất lượng - hiệu quả Việc xây dựng một hệ thống quản lý chất lượng cũng như áp dụng và vận hành hệ thống

đó phải đạt được hiệu quả của tổ chức với các mục tiêu đề ra trong một thời gian nhất định Hiệu quả của tổ chức là phải xét ở hiệu quả chung chứ không phải chỉ xét riêng một mặt nào Hiệu quả chung của đơn vị phải thể hiện được mục tiêu chất lượng công trình, đóng góp với nhà nước, xã hội tăng, đời sống vật chất tinh thần của nhân dân được cải thiện, nâng cao, sản xuất gắn với bảo vệ môi trường và thực hiện một sự phát triển bền vững

- Đầu tư phải thực hiện theo chương trình, dự án, phù hợp với chiến lược, quy hoạch,

kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội

Trang 20

12

- Đầu tư phải đúng mục tiêu, có hiệu quả, chống dàn trải, lãng phí

- Phương thức quản lý đầu tư xây dựng công trình cấp nước phải phù hợp, đảm bảo hiệu lực và hiệu quả của quản lý nhà nước

- Quy trình thủ tục thực hiện đầu tư phải tuân thủ các quy định pháp luật về quản lý đầu tư

- Phân định rõ quyền hạn, trách nhiệm của tổ chức, cá nhân, có chế tài cụ thể trong từng khâu của quá trình đầu tư

1.2.3.2 Vai trò quản lý chất lượng công trình xây dựng

Việc quản lý chất lượng là nhằm đảm bảo về CLCT, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đơn vị, đơn vị thi công và người thụ hưởng công trình, sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên và lao động

Tăng cường quản lý chất lượng sẽ giúp cho việc xác định đầu tư đúng hướng, khai thác quản lý sử dụng công nghệ, con người có hiệu quả hơn Đây là lý do vì sao quản

lý chất lượng được đề cao trong những năm gần đây Như vậy, về mặt chất hay lượng việc bỏ ra những chi phí ban đầu để đảm bảo chất lượng sản phẩm sẽ giúp đơn vị, doanh nghiệp giảm thiểu rủi ro về sau và hoạt động có hiệu quả hơn

1.2.4 Nội dung quản lý chất lượng công trình xây dựng

Quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình bao gồm các hoạt động quản lý chất lượng của nhà thầu thi công xây dựng; giám sát thi công xây dựng công trình và nghiệm thu công trình xây dựng của chủ đầu tư; giám sát tác giả của nhà thầu thiết kế xây dựng công trình

Chủ đầu tư phải yêu cầu nhà thầu thi công xây dựng công trình phải có hệ thống quản

lý chất lượng để thực hiện nội dung quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình theo quy định của pháp luật

Chủ đầu tư phải tổ chức giám sát thi công xây dựng công trình theo nội dung theo quy định của pháp luật Trường hợp chủ đầu tư không đủ điểu kiện năng lực thì phải thuê tổ chức tư vấn giám sát thi công xây dựng Chủ đầu tư tổ chức nghiệm thu công trình xây dựng

Trang 21

13

Ngoài ra, còn có sự giám sát của nhân dân về chất lượng công trình Có thể thấy rất rõ

là quản lý chất lượng rất được coi trọng trong giai đoạn thi công xây dựng công trình, trong khi các hoạt động thiết kế, khảo sát chưa được quan tâm một cách thích đáng Hoạt động xây dựng Hoạt động quản lý chất lượng

Hình 1.1 Quản lý chất lượng theo các giai đoạn của dự án ĐTXD công trình

1.2.5 Những nguyên tắc quản lý chất lượng dự án ĐTXD

1.2.5.1 Nguyên tắc cơ bản quản lý chất lượng dự án đầu tư xây dựng công trình

Chủ đầu tư có trách nhiệm tổ chức quản lý chất lượng công trình phù hợp với hình thức đầu tư, hình thức quản lý dự án, hình thức giao thầu, quy mô và nguồn vốn đầu tư trong quá trình thực hiện đầu tư xây dựng công trình theo quy định của Nhà nước Chủ đầu tư được quyền tự thực hiện các hoạt động xây dựng nếu đủ điều kiện năng lực theo quy định của pháp luật

Việc đầu tư xây dựng công trình phải phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh

tế – xã hội, quy hoạch ngành, quy hoạch xây dựng, bảo đảm an ninh, an toàn xã hội và

an toàn môi trường, phù hợp với các quy định của pháp luật về đất đai và pháp luật khác có liên quan

- Giám sát của chủ đầu tư

- Thẩm tra thiết kế của Chủ đầu tư

- Tự giám sát của nhà thầu xây dựng

- Giám sát và nghiệm thu của chủ đầu tư

- Bảo trì công trình

Trang 22

14

Thực hiện quản lý đầu tư theo những nguyên tắc cơ bản sau:

- Phân định rõ chức năng quản lý của nhà nước và phân cấp quản lý về đầu tư và xây dựng phù họp với từng loại nguồn vốn và chủ đầu tư Thực hiện quản lý đầu tư theo dự

án, quy hoạch và pháp luật

- Dự án đầu tư thuộc vốn ngân sách nhà nước, vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước và vốn do doanh nghiệp nhà nước đầu tư phải được quản lý chặt chẽ theo trình tự đầu tư và xây dựng đối với từng loại vốn

- Đối với các hoạt động đầu tư xây dựng của nhân dân, nhà nước chỉ quản lý về quy hoạch, kiến trúc và môi trường sinh thái

- Phân định rõ trách nhiệm và quyền hạn của các cơ quan quản lý nhà nước, chú đầu

tư, của tổ chức tư vấn và nhà thầu trong quá trình đầu tư và xây dựng

1.2.5.2 Nguyên tắc cụ thể quản lý dự án đầu tư xây dưng công trình

* Tập trung dân chủ:

Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong quản lý đầu tư xây dựng công trình nghĩa là kết hợp lãnh đạo kinh tế tập trung có kế hoạch với quyền tự chú trong sán xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, của người lao động, là sự thống nhất giữa ba lợi ích trong sản xuất

* Thống nhất lãnh đạo chính trị và kinh tế:

Cơ sở của việc áp dụng nguyên tắc thống nhất lãnh đạo chính trị và kinh tế thể hiện ớ chỗ không có thứ chính trị nào lại không phụ thuộc vào kinh tế, ngược lại không thể có một nền kinh tế nào lại không được quy định bởi một chính sách nhất định

* Nguyên tắc thủ trưởng:

Bản chất của nguyên tắc thủ trưởng thể hiện ở chỗ quyền lãnh đạo từng đơn vị sản xuất được trao cho một người điều hành và người đó phải chịu trách nhiệm về các quyết định của mình trước tập thể và trước pháp luật

* Quan tâm đến lợi ích vật chất và tinh thần của người lao dộng:

Trang 23

15

Sự quan tâm của người lao động đến kết quả lao động luôn mang tính khách quan Quản lý phải biết quan tâm lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần của người lao động Vấn đề có tính nguyên tắc và phải kết hợp giữa khuyến khích lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần đối với người lao động trước thành quả của họ

* Tiết kiệm và hạch toán kinh tế:

Nguyên tắc tiết kiệm và hạch toán kinh tế trong quản lý phản ánh nhu cầu khách quan của lãnh đạo kinh tế trong xã hội chủ nghĩa Hạch toán kinh tế là công cụ đê hoàn thành nhiệm vụ sản xuất một cách tiết kiệm nhất

Ngoài quy định như trên, tuỳ theo nguồn vốn sử dụng cho dự án, nhà nước còn quản lý theo quy định sau đây:

- Đối với các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước kể cả các dự án thành phần, nhà nước quản lý toàn bộ quá trình đầu tư xây dựng từ việc xác định chủ trương đầu tư, lập

dự án, quyết định đầu tư, lập thiết kế, tổng dự toán, lựa chọn nhà thầu, thi công xây dựng đến khi nghiệm thu, bàn giao và đưa công trình vào khai thác sử dụng Người quyết định đầu tư có trách nhiệm bố trí đủ vốn theo tiến độ thực hiện dự án, nhưng không quá 2 nãm đối với dự án nhóm c, 4 năm đối với dự án nhóm B [3]

Các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền quyết định theo phân cấp, phù hợp với quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước;

- Đối với dự án của doanh nghiệp sử dụng vốn tín dụng do nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước và vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước thì nhà nước chỉ quản lý về chủ trương và quy mô đầu tư Doanh nghiệp có dự án

tự chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện và quản lý dự án theo các quy định;

- Đối với các dự án sử dụng vốn khác bao gồm cả vốn tư nhân, chủ đầu tư tự quyết định hình thức và nội dung quản lý dự án Đối với các dự án sử dụng hỗn hợp nhiều nguồn vốn khác nhau thì các bên góp vốn thoả thuận về phương thức quản lý hoặc quản lý theo quy định đối với nguồn vốn có tỷ lệ % lớn nhất trong tổng mức đầu tư

Trang 24

16

Đối với dự án do Quốc hội thông qua chủ trương đầu tư và dự án nhóm A gồm nhiều

dự án thành phần, nếu từng dự án thành phần có thể độc lập vận hành, khai thác hoặc thực hiện theo phân kỳ đầu tư được ghi trong văn bản phê duyệt báo cáo đầu tư thì mỗi

dự án thành phần được quản lý, thực hiện như một dự án độc lập

1.3 Công tác quản lý chất lượng xây dựng ở Việt Nam và trên thế giới

1.3.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý chất lượng công trình

1.3.1.1 Nhân tố bên ngoài

+ Nhân tố vĩ mô:

Việc phân tích môi trường vĩ mô giúp cho doanh nghiệp trả lời câu hỏi: Doanh nghiệp phải đối phó với cái gì, từ đó có thể tìm ra các giải pháp, những hướng đi đúng cho doanh nghiệp trong việc sản xuất kinh doanh Mỗi nhân tố của môi trường vĩ mô có thể tác động trực tiếp đến doanh nghiệp hoặc tác động đến doanh nghiệp thông qua các tác động khác

Nhân tố chính trị và thể chế Sự ổn định chính trị, việc công bố các chủ trương, chính

sách, các đạo luật, các pháp lệnh và nghị định cũng như các quy định pháp quy có ảnh hưởng đến doanh nghiệp, tác động đến cách thức của doanh nghiệp Mỗi quy định mới được công bố sẽ có thể tạo đà cho doanh nghiệp này phát triển, nhưng cũng có thể thu hẹp phạm vi hoạt động của doanh nghiệp khác Doanh nghiệp phải nắm được đầy đủ những luật lệ và quy định của chính phủ và thực hiện chúng một cách nghiêm túc, đồng thời dựa trên những quy định mới điều chỉnh hoạt động của doanh nghiệp cho phù hợp Pháp lệnh chất lượng hàng hoá đã ban hành cũng như chính sách chất lượng quốc gia nếu được ban hành sẽ là những định hướng quan trọng để các doanh nghiệp đổi mới công tác quản lý chất lượng, đề ra chính sách chất lượng, chiến lược phát triển chất lượng và xây dựng hệ thống chất lượng cho doanh nghiệp mình

Nhân tố kinh tế Các nhân tố kinh tế ảnh hưởng vô cùng lớn đến các doanh nghiệp

Chúng rất rộng lớn, đa dạng và phức tạp Các ảnh hưởng chủ yếu về kinh tế bao gồm các nhân tố như lãi suất ngân hàng, cán cân thanh toán, chính sách tài chính và tiền tệ.Vì các nhân tồ này rất rộng nên từng doanh nghiệp cần xuất phát từ các đặc điểm

Trang 25

17

của doanh doanh nghiệp mình mà chọn lọc các nhân tố có liên quan để phân tích các tác động cụ thể của chúng, từ đó xác định được các nhân tố có thể ảnh hưởng lớn tới họat động kinh doanh cũng như tới hoạt động quản lý chất lượng của doanh nghiệp

Nhân tố xã hội Các nhân tố xã hội thường thay đổi chậm nên thường khó nhận ra, nhưng

chúng cũng là các nhân tố tạo cơ hội hoặc gây ra những nguy cơ đối với doanh nghiệp Đối với nước ta trong thời kỳ quá độ có thể có những thay đổi nhanh, doanh nghiệp cần chú ý phân tích kịp thời để đón bắt cơ hội hoặc phòng tránh nguy cơ

Nhân tố khoa học- kỹ thuật- công nghệ Cùng với sự phát triển của cuộc cách mạng

khoa học kỹ thuật cũng như cuộc cách mạng công nghệ, các nhân tố này càng trở nên quan trọng, giữ vai trò quyết định trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp Việc áp dụng những công nghệ mới, những thành tựu mới của khoa học và kỹ thuật mang lại sức cạnh tranh lớn cho doanh nghiệp

Nhân tố tự nhiên Các điều kiện về vị trí địa lý, khí hậu, thời tiết có ảnh hưởng rõ rệt

đến các quyết định của doanh nghiệp Vấn đề sử dụng hợp lý các nhuồn tài nguyên, năng lượng cũng như các vấn đề về môi trường, đòi hỏi các doanh nghiệp có các biện pháp sử lý thích đáng để bảo đảm sự hài hoà lợi ích của doanh nghiệp với lợi ích của người tiêu dùng và xã hội

+ Nhân tố trực diện

Đối thủ cạnh tranh Sự hiểu về các đối thủ cạnh tranh với mình là điều cực kỳ quan

trọng đối với doanh nghiệp để tồn tại và phát triển Chính sự cạnh tranh nhau giữa các đối thủ sẽ quyết định tính chất và mức độ ganh đua trong công nghiệp cũng như trên thị trường

Doanh nghiệp phải phân tích từng đối thủ cạnh tranh để hiểu và nắm bắt được các ý đồ của họ cũng như các biện pháp phản ứng vàn hành động mà họ có thể thực hiện để giành lợi thế

Doanh nghiệp phải biết đối thủ của mình đang làm gì, mục tiêu chiến lược của họ như thế nào, phương thức quản lý chất lượng của họ, họ đã có chính sách chất lượng và hệ thống chất lượng chưa?

Trang 26

18

Bên cạnh những đối thủ hiện có, cũng cần phát hiện và tìm hiểu những đối thủ tiềm ẩn mới mà sự tham gia của họ trong tương lai có thể mang lại những nguy cơ mà doanh nghiệp phải thay đổi chính sách để ứng phó với những tình thế mới

Doanh nghiệp cũng không thể coi nhẹ những sản phẩm tiềm ẩn có thể thay thế hoặc hạn chế sản phẩm của mình trên thị trường, do đó phải thường xuyên nghiên cứu cải tiến thiết kế, đổi mới công nghệ để không ngừng hoàn thiện sản phẩm của mình

Người cung cấp Những người cung cấp là một phần quan trọng trong hoạt động của

doanh nghiệp có tác động lớn đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.Đó là những nguồn cung cấp nguyên- nhiên- vật liệu, chi tiết, phụ tùng, máy móc, trang- thiết bị, cung cấp vốn cho doanh nghiệp Họ là chỗ dựa vững chắc cho doanh nghiệp Họ có thể gây áp lực với doanh nghiệp bằng cách tăng giá, giảm giá, giảm chất lượng hoặc cung cấp không đủ số lượng, không dúng thời hạn Doanh nghiệp cần có đủ thông tin

về những người cung cấp, lựa chọn những bạn hàng tin cậy và tạo nên mối quan hệ lâu dài với họ

Khách hàng Khách hàng là nhân tố quyết định sự sống còn của doanh nghiệp Sự tín nhiệm của khách hàng là mục tiêu của doanh nghiệp Sự tín nhiệm đó đạt được khi doanh nghiệp thoả mãn tốt nhu cầu của khách hàng so với đối thủ của mình

Khách hàng thường mong muốn chất lượng cao nhưng giá cả phú hợp, bảo hành và dịch vụ tốt Doanh nghiệp cần nghiên cứu, tìm hiểu những mong muốn của họ để có những biện pháp thích ứng Phải nắm bắt được các đặc điểm về vị trí địa lý, dân tộc và xác định các khách hàng tiềm ẩn trong tương lai

1.3.1.2 Nhân tố bên trong

Phân tích nội bộ đòi hỏi phải thu thập, xử lý những thông tin về tiếp thị, nghiên cứu- triển khai, sản xuất, tài chính qua đó hiểu được mọi công việc ở các bộ phận, hiểu được mọi người, tìm ra những mặt mạnh và mặt yếu của doanh nghiệp, từ đó đưa ra nhưng biện pháp để phát huy mọi nguồn lực trong doanh nghiệp

Quá trình phân tích nội bộ của doanh nghiệp cùng với quá trình phân tích môi trường bên ngoài tác động đến doanh nghiệp sẽ giúp cho doanh nghiệp tìm ra những mặt

Trang 27

19

mạnh và mặt yếu, tìm ra những cơ hội thuận lợi và thách thức hiểm nguy, từ đó đề ra những chiến lược, mục tiêu, chính sách của doanh nghiệp, đề ra những chính sách chất lượng thích hợp nhằn đảm bảo và nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng cạnh tranh trên thị trường, tạo điều kiện cho sự phát triển bền vững

Phân tích các nhân tố bên trong và nhân tố bên ngoài, doanh nghiệp sẽ đánh giá chính xác bản thân và các đối tác có liên quan, qua đó đưa ra những biện pháp quản lý chất lượng có hiệu quả cũng như đề ra những chiến lược phát triển đúng đắn, xây dựng và thực hiện được một hệ chất lượng phù hợp với doanh nghiệp để nâng cao vị trí của mình trên thị trường

1.3.2 Quan điểm và tiêu chí đánh giá chất lượng công trình xây dựng

1.3.2.1 Quan điểm đánh giá chất lượng xây dựng công trình

Một là, đánh giá dưới góc độ của Luật Xây dựng “Công trình xây dựng là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kế

” Với góc độ này thì chất lượng công trình phụ thuộc vào năng lực của những nguời tham gia xây dựng công trình ( lập dự án đầu tư xây dựng, thiết kế , khảo sát, thi công xây dựng, quản lý dự án đầu tư xây dựng và giám sát thi công xây dựng công trình); phụ thuộc vào chất lượng vật liệu, vật tư và thiết bị lắp đặt vào công trình; phụ thuộc vào chất lượng thi công xây dựng; phụ thuộc vào chất lượng khảo sát xây dựng

và thiết kế xây dựng công trình; và phụ thuộc vào công tác quản lý chất lượng các khâu trong quá trình lập và thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình

Hai là, đánh giá về mức độ an toàn, bền vững của công trình.Theo Luật Xây dựng,

thì sự cố công trình là những hư hỏng vượt quá giới hạn an toàn cho phép làm cho công trình có nguy cơ sập đổ, đã sập đổ một phần hoặc toàn bộ công trình hoặc công trình không sử dụng được theo thiết kế Theo đó, có 4 loại sự cố bao gồm sự cố sập

đổ, sự cố về biến dạng, sự cố sai lệch vị trí và sự cố về công năng; về cấp độ có cấp

I, II, III và cấp IV tùy thuộc vào mức độ hư hỏng công trình và thiệt hại về người

Trang 28

20

Chính vì vậy mà mức độ an toàn, bền vững của công trình là điều cần phải được xem xét chặt chẽ và nghiêm túc

Ba là, đánh giá sự đáp ứng của công trình với các quy định về quy chuẩn xây dựng

và các tiêu chuẩn kỹ thuật xây dựng được phép áp dụng cho riêng dự án đã nêu trong hợp đồng xây dựng Theo Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn thì “Tiêu chuẩn do một tổ chức công bố dưới dạng văn bản để tự nguyện áp dụng”, do đó ngay tại điểm e khoản

2 Điều 8 Nghị định 12/2009/NĐ-CP ngày 12/02/2009 của Chính phủ về quản lý dự

án đầu tư xây dựng đã quy định trong phần thuyết minh thiết kế cơ sở phải nêu

”Danh mục các quy chuẩn, tiêu chuẩn chủ yếu được áp dụng” Theo quy định khoản

8 Điều 2 Nghị định số 48/2010/NĐ-CP ngày 07/5/2010 của Chính phủ về hợp đồng trong hoạt động xây dựng thì chủ đầu tư hoặc tư vấn của chủ đầu tư dựa vào danh mục các quy chuẩn, tiêu chuẩn được Người quyết định đầu tư cho phép áp dụng để biên soạn tiêu chuẩn áp dụng cho dự án đầu tư xây dựng công trình cụ thể bao gồm các quy định về kỹ thuật, định mức kinh tế - kỹ thuật, trình tự thực hiện các công việc, các chỉ tiêu, các chỉ số kỹ thuật và các chỉ số về điều kiện tự nhiên

Bốn là, đánh giá về mỹ thuật của công trình xây dựng Ngoài yêu cầu về độ an toàn

và bền vững thì yêu cầu mỹ thuật đối với công trình xây dựng không thể xem nhẹ được Công trình xây dựng trường tồn với thời gian, nếu chất lượng mỹ thuật không đảm bảo thì chủ đầu tư không được thụ hưởng công trình đẹp và không đóng góp cảnh quan đẹp cho xã hội Công trình xây dựng phải thể hiện được tính sáng tạo độc đáo, bố cục hiện đại nhuần nhuyễn với truyền thống, tránh sao chép, lặp lại, đơn điệu trong nghệ thuật kiến trúc

1.3.2.2 Tiêu chí đánh giá chất lượng xây dựng công trình

Về chất lượng công trình xây dựng và các tiêu chí đánh giá chất lượng của công trình xây dựng từ trước tới nay được đưa vào các tiêu chuẩn về quản lý chất lượng cũng

như đánh giá chất lượng công trình xây dựng, cụ thể như: TCVN 4057:1985 về hệ thống chỉ tiêu chất lượng sản phẩm xây dựng; TCVN 5637:1991 về Quản lý chất lượng xây lắp công trình xây dựng……

Trang 29

21

Hầu hết các tiêu chuẩn kể trên đưa ra các tiêu chí nhằm phục vụ cho việc nghiệm thu chứ chưa đưa ra tiêu chí đánh giá mức độ chất lượng , thí dự như: tốt, khá hoặc đạt.Chúng ta gặp nhiều khó khăn vì phải đánh giá chi tiết và thiếu nhiều tiêu chuẩn cho các loại công trình xây dựng.Chính vì vậy, các chủ đầu tư và cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng không đánh giá được về mức độ chất lượng công trình xây dựng hoặc chính ngay các nhà thầu thi công xây dựng cũng không tự đánh giá về mức độ chất lượng công trình xây dựng

Cho đến nay, vẫn chưa có tổ chức nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện về các hệ thống đánh giá cũng như các tiêu chí đánh giá chất lượng công trình xây dựng Tuy nhiên, xuất phát từ các cơ sở lý luận, thực tiễn xây dựng và hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật và văn bản quy phạm pháp luật ở nước ta, bước đầu có thể đánh giá chất lượng công trình xây dựng như sau:

Thứ nhất, cần xây dựng hệ thống đánh giá chất lượng công trình xây dựng (sau đây viết tắt là HTĐGCL) Hệ thống này là một hệ thống quy định rõ phương pháp đo lường và đánh giá chất lượng của một công trình xây dựng dựa trên các tiêu chuẩn được chấp thuận có liên quan Hệ thống này cho phép đánh giá chất lượng và so sánh khách quan chất lượng của công trình này so với công trình khác thông qua một hệ thống tính điểm

Thứ hai, HTĐGCL xây dựng với các mục tiêu sau:

- Xây dựng được điểm chuẩn về chất lượng đánh giá tay nghề nhà thầu thi công xây dựng

- Thiết lập một hệ thống đánh giá chất lượng tiêu chuẩn về tay nghề nhà thầu thi công xây dựng

- Đánh giá chất lượng tay nghề của một dự án xây dựng dựa trên các tiêu chuẩn có liên quan được chấp thuận

- Sử dụng như một tiêu chí để đánh giá hiệu suất của các nhà thầu dựa trên chất lượng tay nghề

- Biên soạn dữ liệu để phân tích thống kê

Trang 30

22

Thứ ba, HTĐGCL phải bao gồm các nội dung sau:

Một là, đánh giá tay nghề của nhà thầu thi công xây dựng

- Phạm vi đánh giá: HTĐGCL đặt ra các tiêu chuẩn về chất lượng tay nghề cho các nhà thầu thi công xây dựng đối với các bộ phận khác nhau của công trình xây dựng

và đối với các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng.Chất lượng tay nghề của nhà thầu thi công xây dựng được đánh giá theo yêu cầu của tiêu chuẩn có liên quan, và các tiêu chí được công nhận nếu tay nghề của nhà thầu thi công xây dựng tuân thủ tiêu chuẩn.Những tiêu chí này là cơ sở để tính điểm cho HTĐGCL (%) đối với một dự án xây dựng công trình

HTĐGCL đánh giá được thực hiện thông qua kiểm tra hiện trường và sử dụng các nguyên tắc, kết quả của đợt kiểm tra lần đầu Công trình xây dựng được sửa chữa sau khi đánh giá lần đầu sẽ không được kiểm tra lại Mục tiêu của nguyên tắc này là khuyến khích các nhà thầu thi công xây dựng phải " làm tốt mọi công việc ngay từ đầu và bất kỳ lúc nào"

Hai là, việc đánh giá của HTĐGCL

HTĐGCL đánh giá một dự án xây dựng được thực hiện theo kết quả kiểm tra-đánh giá độc lập và không được có mối quan tâm và liên hệ với dự án (khảo sát, thiết kế, thi công, giám sát, kiểm định, quản lý dự án …)

Mọi công tác đánh giá phải thực hiện theo yêu cầu bởi Tổ chức đánh giá được cơ quan quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng huấn luyện.Tổ chức thực hiện đánh giá phải đăng ký với cơ quan quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng mới đủ điều kiện để đánh giá chất lượng công trình xây dựng theo HTĐGCL

Ba là, phương pháp đánh giá và quy trình chọn mẫu

Trước khi tiến hành đánh giá các bộ phận công trình cần xác định phương pháp đánh giá thông qua phương pháp lấy mẫu và phương pháp thống kê Những mẫu được lấy đồng đều trong suốt quá trình thực hiện dự án hoặc trong các giai đoạn xây dựng

Trang 31

23

khác nhau Đánh giá các mẫu được lựa chọn từ theo thiết kế và tiến độ thực hiện dự

án Tất cả các vị trí kiểm tra phải thuận tiện cho việc đánh giá Các mẫu được lựa chọn phải bảo đảm là đại diện cho toàn bộ công trình

Bốn là, việc đánh giá phải dựa vào tiêu chuẩn của HTĐGCL

Tiêu chuẩn này xác định các yêu cầu về chất lượng tay nghề và thủ tục đánh giá chất lượng các công trình xây dựng The requirements in this standard are divided into four main building components:Những yêu cầu trong tiêu chuẩn này được chia thành bốn nội dung chính sau:

- Kết cấu công trình: toàn bộ hệ kết cấu chịu lực ( các loại công trình trừ công trình đường), các lớp đường ( đối với công trình đường)…

- Kiến trúc công trình: bên trong và mặt ngoài công trình (các loại công trình trừ công trình đường ), ngay đối với các công trình giao thông ( cầu , đường) cũng có các tiêu chí đưa ra để đánh giá như: độ cong đường, hình dáng cầu…

- Cơ điện (M & E) của công trình: thiết bị lắp đặt vào công trình, hệ thống cấp thoát nước, thiết bị phòng cháy chữa cháy, chiếu sáng, thông tin liên lạc, quan sát-bảo vệ

- Các công trình phụ trợ: Tùy theo tưng loại công trình mà đề xuất, thí dụ như đối với công trình dân dụng:hệ thống thoát nước ngoài nhà, đường nội bộ và bãi đậu xe, sân chơi, hàng rào và cổng … ; đối với công trình giao thông : cống thoát nước, hàng rào bảo vệ, lan can hộ lan, sơn vạch tuyến, cọc tiêu, biển báo…

Việc đánh giá được thực hiện trong suốt các giai đoạn xây dựng khác nhau Số lượng các mẫu được xác định dựa trên quy mô của công trình ( tổng diện tích sàn của công trình, diện tích mặt đường, thể tích khối đổ bê tông …) với một số lượng tối thiểu và tối đa của các mẫu

Các nội dung trên sẽ được đánh giá bằng điểm phù hợp với từng loại công trình Tỷ

lệ điểm cần phân phối tùy theo mức độ đòi hởi về thẩm mỹ công trình sao cho đanh giá được chất lượng tay nghề, thí dự như

Trang 32

Năm là , việc đánh giá phải thực hiện theo quy trình như sau:

- Tổ chức đánh giá phải được sự chấp thuận của cơ quan quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng theo phân cấp tùy thuộc vào cấp công trình được đánh giá

- Cơ quan quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng theo phân cấp xem xét nội dung, đề cương và số lượng mẫu phục vụ việc đánh giá do tổ chức đánh giá trình

- Tổ chức đánh giá thực hiện tại công trình

- Lập báo cáo đánh giá với bảng điểm theo HTĐGCL

Tác động của HTĐGCL với các chủ thể trong hoạt động xây dựng rất nhiều, cụ thể như:

- Là công cụ giúp chủ đầu tư tăng cường kiểm soát chất lượng công trình xây dựng;

- Cung cấp cho các chủ thể một hệ thống đánh giá chất lượng theo tiêu chuẩn về chất lượng tay nghề của các nhà thầu thi công xây dựng

- Giúp cho những người thiết kế hiểu rõ những việc cần phải làm khi thiết kếcông trình xây dựng

- Cung cấp công cụ cho nhà thầu thi công xây dựng tự đánh giá và kiểm tra chất lượng công trình xây dựng

- Cung cấp công cụ cho người quản lý, sửdụng công trình xây dựng tự đánh giá chất lượng công trình mình sử dụng

Trang 33

25

Trong điều kiện hiện nay, khi Đảng và Nhà nước ta đang thực hiện chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền, phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế, cải cách hành chính, hội nhập quốc tế và xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, yêu cầu về xây dựng một hệ thống đánh giá chất lượng công trình xây dựng đồng bộ, thống nhất, công khai, minh bạch phải được quan tâm hơn bao giờ hết Do vậy, vấn đề cần có hệ thống giám sát và đánh giá chất lượng công trình

Hệ thống giám sát và đánh giá là công cụ hữu hiệu giúp Chính phủ có thể lượng định thành tích thực hiện công khai, minh bạch trong đầu tư xây dựng công theo các quy định của luật pháp

HTĐGCL này nhằm giúp Chính phủ và chính quyền các địa phương đạt được điều hành tốt Kinh nghiệm đã cho thấy, nếu không giám sát, đánh giá và kèm theo đó là

khen thưởng và chế tài, thì chủ trương, chính sách rất dễ chỉ nằm suông trên giấy HTĐGCL công khai, minh bạch là công cụ tốt giúp đầu tư xây dựng công đạt được hiệu quả trên các mặt chi phí, chất lượng và tiến độ Vì vậy, cần luôn luôn nắm vững mục đích của nó, nếu không thì chỉ làm tăng chi phí giao dịch một cách vô ích

Hiển nhiên, đó không phải là công cụ duy nhất, mà chỉ là một công cụ quan trọng trong tập hợp công cụ mà Chính phủ sử dụng phối hợp

Nhưng, công cụ chỉ là công cụ, nếu các cơ quan Nhà nước ta không đủ quyết tâm và

sự khéo léo để sử dụng nó một cách hiệu quả nhất trong đầu tư xây dựng công trình

1.3.3 Quản lý chất lượng xây dựng ở Việt Nam

Ngoài các bên tham gia xây dựng (chủ đầu tư, các nhà thầu…), việc kiểm soát chất lượng công trình ở Việt Nam hiện nay hầu như chỉ có các cơ quan quản lý Nhà nước đảm nhiệm thông qua các biện pháp như kiểm tra, xử lý vi phạm, còn việc tham gia của xã hội rất hạn chế Hiện nay có 2 cơ chế để xã hội tham gia vào công tác quản lý chất lượng công trình: theo quy trình pháp lý và tham gia tự phát

Tham gia theo quy trình pháp lý: Trước đây, việc tham gia của thành phần ngoài cơ quan QLNN trong quản lý chất lượng được quy định trong Nghị định 209/2004/NĐ-

Trang 34

26

CP của Chính phủ, tại Điều 28 về “Kiểm tra và chứng nhận sự phù hợp chất lượng công trình” Theo đó, bắt buộc một số đối tượng công trình sẽ được các đơn vị ngoài

cơ quan QLNN (chủ yếu là các đơn vị tư vấn) kiểm tra, chứng nhận sự đảm bảo về

an toàn chịu lực, sự phù hợp về chất lượng trước khi đưa vào sử dụng

Đây thực sự là cơ chế để xã hội cùng tham gia với cơ quan QLNN trong kiểm soát chất lượng công trình, nhưng thực tế triển khai đã không mang lại hiệu quả như mong muốn, trở thành hình thức, vì nhiều lý do như: các đơn vị thực hiện chứng nhận không thật sự độc lập, các điều kiện theo quy định không đảm bảo việc chọn được đơn vị đáng tin cậy, thiếu cơ chế kiểm tra của cơ quan QLNN

Với Nghị định 15/2013/NĐ-CP mới được ban hành ngày 06/02/2013, vấn đề tham gia của thành phần ngoài QLNN được quy định trong Điều 21, ở phần thẩm tra thiết

kế công trình của cơ quan QLNN địa phương, theo đó, các đơn vị tư vấn “có thể” được cơ quan QLNN thuê thẩm tra thiết kế khi cần Như vậy, xét về mặt xã hội hóa, quy định như Nghị định 15/2013/NĐ-CP là bước lùi trong việc tham gia của thành phần ngoài QLNN trong quản lý chất lượng công trình xây dựng

Tham gia tự phát: Sự tham gia tự nguyện của cộng đồng trong quản lý chất lượng xây dựng đã được nêu ở Nghị định 209/2004/NĐ-CP (Điều 3) và nay cũng có trong

Nghị định 15/2013/NĐ-CP (Điều 9) với nội dung “Giám sát của nhân dân về chất lượng công trình xây dựng”; nhưng việc “giám sát” này thực chất chỉ là hành động

phản ánh một cách tự phát của người dân nếu phát hiện “vấn đề” về chất lượng công trình, mang tính may rủi, không chuyên, không thể phát huy tác dụng căn cơ trong kiểm soát chất lượng công trình Thực sự, cũng không cần thiết quy định việc “giám sát” này vì nếu phát hiện vi phạm về chất lượng công trình, người dân hoàn toàn có thể phản ánh thông qua khiếu nại, tố cáo, đã có trong luật pháp

Như vậy, mặc dù đã có cơ chế cho thành phần ngoài cơ quan QLNN tham gia quản lý chất lượng xây dựng, nhưng thực tế ở Việt Nam thành phần ngoài QLNN vẫn chưa trở thành lực lượng hỗ trợ, cùng cơ quan QLNN kiểm soát chất lượng công trình xây dựng Trong khi đó, khả năng quản lý chất lượng xây dựng của QLNN hiện không tương xứng với tình hình phát triển của ngành xây dựng (lực lượng mỏng, năng lực hạn chế ) Xét

Trang 35

27

hiện trạng, tại Việt Nam, cơ quan QLNN vẫn đang đơn độc trong kiểm soát chất lượng

xây dựng

1.3.4 Quản lý chất lượng xây dựng trên thế giới

Xu hướng quản lý chất lượng xây dựng công trình của các nước

Ở các nước khác, lực lượng ngoài nhà nước tham gia rất mạnh mẽ trong kiểm soát chất lượng xây dựng, đơn cử như ở Singapore, Australia và Mỹ:

Singapore: đối với quản lý chất lượng công trình, ngoài cơ quan của nhà nước là Cơ quan Quản lý Xây dựng & Nhà ở (Building and Construction Authority – BCA), từ năm 1989, Singapore áp dụng hệ thống kiểm tra độc lập do các cá nhân hay tổ chức không thuộc BCA đảm nhiệm, gọi là Kiểm tra viên được ủy quyền (Accredited Checker – AC) AC có thể là một tổ chức hay cá nhân đạt các điều kiện về năng lực, kinh nghiệm chuyên môn (ví dụ đối với cá nhân phải có trên 10 năm kinh nghiệm hoạt động xây dựng tại Singapore, đã đăng ký hành nghề theo Luật Kỹ sư Chuyên nghiệp (Professional Engineers Act); đối với tổ chức phải có ít nhất 02 kỹ sư có đăng

ký, có chứng chỉ ISO 9001 ), có mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp theo quy định tối thiểu 500.000 SGD đối với cá nhân và 2 triệu SGD đối với tổ chức Các Kiểm tra viên này được BCA cấp giấy chứng nhận để thay cơ quan QLNN thực hiện kiểm tra thiết kế kết cấu (trước khi cấp phép xây dựng) và các kiểm tra trong quá trình thi công Luật của Singapore quy định chủ công trình phải thuê một Kiểm tra viên từ giai đoạn thiết kế; khi nộp hồ sơ để được cấp phép xây dựng, phải có báo cáo đánh giá của Kiểm tra viên đối với chất lượng thiết kế

Nguyên tắc quản lý chất lượng xây dựng của chính quyền Singapore là chủ đầu tư phải chứng minh và đạt sự chấp thuận của chính quyền đối với sự tuân thủ pháp luật trong qúa trình xây dựng thông qua các hình thức: chấp thuận thiết kế kết cấu khi cấp phép xây dựng, chấp thuận cho thi công tiếp tại các điểm chuyển giai đoạn quan trọng của công trình, chấp thuận công trình hoàn thành đưa vào sử dụng

Theo số liệu mới nhất (tháng 2 năm 2013), hiện ở Singapore có 25 cá nhân và 45 tổ chức thực hiện vai trò Kiểm tra viên (Accredited Checker – AC) Các Kiểm tra viên

Trang 36

28

hoạt động với tư cách cá nhân chỉ được kiểm tra công trình có giá trị dưới 15 triệu SGD, công trình có giá trị xây lắp lớn hơn phải do các AC là tổ chức thực hiện kiểm tra Hệ thống AC đã phát huy vai trò quan trọng trong việc giúp cơ quan QLNN kiểm soát chất lượng từ khâu thiết kế đến thi công công trình

Australia: Việc quản lý xây dựng tại Australia do các bang tự đảm nhiệm, không có

sự can thiệp của chính quyền trung ương Tại các bang, công tác quản lý xây dựng cũng giao cho chính quyền địa phương (Hội đồng địa phương cấp khu vực hoặc thành phố - Local council, hiện Australia có khoảng 700 hội đồng địa phương)

Lực lượng quản lý xây dựng tại các địa phương gồm Giám sát viên của nhà nước (gọi là Municipal Building Surveyor) do các hội đồng địa phương tuyển dụng và Giám sát viên tư nhân (Private Building Surveyors) Cả hai loại Giám sát viên này đều thực hiện việc quản lý xây dựng công trình qua các hình thức: ban hành giấy phép xây dựng (áp dụng từ năm 1993 đối với Giám sát viên tư nhân), kiểm tra quá trình thi công, ban hành giấy phép sử dụng (khi công trình hoàn thành)

Để trở thành Giám sát viên xây dựng (cả tư nhân và nhà nước) đều phải đạt các yêu cầu theo quy định (có năng lực, đạo đức, bảo hiểm trách nhiệm) và được cấp đăng ký tại cơ quan quản lý hành nghề xây dựng của bang (Building Practitioners Board) Tùy theo năng lực, kinh nghiệm, Giám sát viên được phân thành 2 loại là Giám sát viên bậc 1 và bậc 2; giám sát viên bậc 1 được kiểm tra tất cả công trình xây dựng, không phân biệt loại và quy mô; giám sát viên bậc 2 chỉ được kiểm tra các công trình

từ 3 tầng trở xuống, có tổng diện tích sàn dưới 2000m2

Ngay từ khi xin phép xây dựng, chủ đầu tư phải chọn một Giám sát viên xây dựng (có thể của nhà nước hoặc tư nhân) để tiến hành công tác kiểm tra trong suốt quá trình thi công tại những bước chuyển giai đoạn quan trọng (được xác định ngay trong giấy phép xây dựng) Chủ đầu tư phải trả phí cho công tác kiểm tra này như một dịch

vụ bắt buộc để xác nhận việc xây dựng của mình tuân thủ các quy định về quản lý chất lượng công trình

Trang 37

29

Mỹ: việc quản lý xây dựng tại Mỹ do các bang tự đảm nhiệm, chính quyền trung ương không tham gia Tại các bang, việc quản lý xây dựng cũng giao cho chính quyền cấp quận, hạt (county) hoặc thành phố (city / borough) thực hiện

Cũng tương tự như ở Singapore và Australia, nguyên tắc QLCL xây dựng ở Mỹ là chủ công trình phải có trách nhiệm đảm bảo sự tuân thủ các quy định của địa phương trong toàn bộ quá trình xây dựng và việc tuân thủ này phải được chứng thực thông qua kiểm tra và xác nhận bởi người có thẩm quyền

Người có thẩm quyền kiểm tra và xác nhận công trình tuân thủ quy định về quản lý chất lượng xây dựng trong quá trình thi công gọi là Giám định viên (Inspector), thuộc một trong 3 thành phần sau:

- Cơ quan quản lý nhà nước (Local Enforcing Agency);

- Các tổ chức tư nhân, gọi là Tổ chức độc lập được công nhận (Certified Third Party Agencies);

- Các cá nhân được nhà nước công nhận (Certified Code Officials)

Về nguyên tắc, chủ công trình được chủ động chọn Giám định viên (Inspector) thuộc một trong 3 thành phần trên để thực hiện kiểm tra công trình

Giám định viên thuộc thành phần 2 và 3 ở trên được gọi chung là Giám định viên tư nhân (Private inspector) có chức năng kiểm tra công trình như giám định viên nhà nước nhưng phải báo cáo kết quả kiểm tra của mình cho cơ quan QLNN địa phương Nếu phát hiện vi phạm, chỉ có cơ quan QLNN mới có quyền áp dụng các biện pháp chế tài

Để trở thành Giám định viên, cá nhân phải đạt một số điều kiện về trình độ chuyên môn, kinh nghiệm, có bảo hiểm trách nhiệm và được chính quyền địa phương công nhận (cấp giấy chứng nhận, giấy phép) Tuy nhiên, tùy theo địa phương mà thủ tục công nhận khác nhau, một số bang yêu cầu ứng viên phải qua một kỳ thi hay phỏng vấn, các bang khác chỉ yêu cầu ứng viên có chứng chỉ đào tạo nghiệp vụ do một số hiệp hội nghề nghiệp phát hành

Trang 38

30

Theo số liệu năm 2010, ở Mỹ có khoảng 102.400 giám định viên (Inspector), trong đó 44% làm việc cho cơ quan QLNN của chính quyền địa phương; 27% làm việc trong các

tổ chức độc lập (Certified Third Party Agencies), 8% là giám định viên cá nhân, chủ yếu

là Giám định viên nhà ở (Home Inspector), số còn lại làm việc cho chính quyền các bang

Như trên cho thấy ở các nước Singapore, Australia, Mỹ, đều có sự tham gia tích cực của thành phần tư nhân trong quá trình quản lý chất lượng công trình Ở các nước

này, lực lượng tư nhân mặc dù có tên gọi khác nhau (ở Singapore là Kiểm tra viên được ủy quyền –Accredited Checker, ở Australia là Giám sát viên tư nhân - Private Building Surveyors và ở Mỹ là Giám định viên tư nhân – Private Inspector); nhưng

có tính chất giống nhau là lực lượng hỗ trợ cơ quan nhà nước trong kiểm soát chất lượng xây dựng

1.4 Quy hoạch xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020

1.4.1 Quy hoạch xây dựng nông thôn mới

- Điểm dân cư nông thôn: Là nơi cư trú tập trung của nhiều hộ gia đình gắn kết với nhau trong sản xuất, sinh hoạt và các hoạt động xã hội khác trong phạm vi một khu vực nhất định bao gồm trung tâm xã, thôn, làng ấp, bản, buôn, phum, sóc được hình thành do điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội, văn hóa, phong tục, tập quán

và các yếu tố khác

- Quy hoạch nông thôn mới là bố trí, sắp xếp các khu chức năng, sản xuất, dịch vụ, hạng tầng kinh tế - xã hội - môi trường trên địa bàn, theo tiêu chuẩn nông thôn mới, gắn với đặc thù, tiềm năng, lợi thế của từng địa phương; được mọi người dân của xã trong mỗi làng, mỗi gia đình ý thức đầy đủ, sâu sắc và quyết tâm thực hiện

- Nhiệm vụ, đồ án quy hoạch xây dựng nông thôn mới: Là nhiệm vụ, đồ án quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn có nội dung đáp ứng các tiêu chí trong Bộ tiêu chi Quốc gia về nông thôn mới được ban hành tại Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/04/2009 của Thủ tướng chính phủ, Quyết định số 800/2010/QĐ-TTg ngày

Trang 39

- Phân khu chức năng xã, thôn, xóm, bản , làng, trung tâm xã: Là việc phân chia khu vực quy hoạch xã hoặc thôn, xóm, bản, làng, trung tâm xã theo các khu chức năng phục vụ mục đích hoạt động kinh tế, xã hội và mục đích khác của cộng đồng dân cư

- Chỉ tiêu sử dụng đất: Là chỉ tiêu đê quản lý phát triển không gian, kiến trúc được xác định cụ thể cho một khu vực hay một lô đất bao gồm mật độ xây dựng, hệ số sử dụng đất, chiều cao xây dựng tối đa, chiêu cao tối thiểu của công trình

- Mật độ xây dựng tối đa: Tỉ lệ giữa diện tích xây dựng công trình (m2 – diện tích chiếm đất được tính theo hình chiếu của mái che công trình) trên diện tích toàn lô đất, tính bằng %

- Hệ số sử dụng đất: Được tính bằng tổng diện tích sàn toàn công trình 9M2/diện tích toàn lô đất, không tính diện tích tầng hầm, mái

- Chỉ giới đường đỏ: Là đường ranh giới được xác định trên bản đồ qui hoạch và thực địa để phân định ranh giới giữa phần đất để xây dựng công trình và phần đất rành cho đường giao thong hoặc công trình kỹ thuật hạ tầng, không gian công cộng khác

- Chỉ giới xây dựng: Là đường đỏ giới hạn cho phép xây dựng nhà, công trình trên lô đất

1.4.2 Quy định chung về quy hoạch nông thôn mới

Quy hoạch nông thôn mới bao gồm:

- Quy hoạch định hướng phát triển không gian;

- Quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ;

Trang 40

32

- Quy hoạch phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội - môi trường theo chuẩn mới;

- Quy hoạch phát triển các khu dân cư và chỉnh trang các khu dân cư hiện có theo hướng văn minh, bảo tồn được bản sắc văn hóa tốt đẹp

Nguyên tắc lập qui hoạch

- Qui hoạch nông thôn mới phải phù hợp với Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng chính phủ

- Đồ án qui hoạch nông thôn mới phải tuân thủ các đồ án qui hoạch cấp trên đã được phê duyệt ( quy hoạch vùng Huyện, vùng Tỉnh, Quy hoạch chung đô thị…)

- Đối với những xã đã có quy hoạch đáp ứng các tiêu chí về xây dựng xã nông thôn mới thì không phải phê duyệt lại; đối với những xã đã và đang lập quy hoạch sử dụng đất thời kỳ 2001-2020 cần phải rà soát, bổ sung để phù hợp với việc lập quy hoạch theo thông tư liên tịch 13/2011

- Công tác lập quy hoạch nông thôn mới thống nhất thực hiện theo thông tư liên tịch 13/20011 Qui hoạch nông thôn mới được duyệt là cơ sở để quản lý sử dụng đất, lập

dự án xây dựng nông thôn mới trên địa bàn

1.4.3 Tiêu chí xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020

Căn cứ theo Quyết định số 1980/QĐ-TTg ngày 19/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ

về việc ban hành bộ tiêu chí Quốc gia về xã Nông thôn mới giai đoạn 2016-2020, có tất cả 19 tiêu chí về xã đạt chuẩn nông thôn mới, cụ thể như sau:

Quy hoạch có 1 tiêu chí về Quy hoạch;

Hạ tầng kinh tế - xã hội có 8 tiêu chí về: Giao thông; Thủy lợi; Điện; Trường học; Cơ

sở vật chất văn hóa; Cơ sở hạ tầng thương mại nông thôn; Thông tin và truyền thông; Nhà ở dân cư;

Kinh tế và tổ chức sản xuất có 4 tiêu chí về Thu nhập; Hộ nghèo; Lao động có việc làm; Tổ chức sản xuất;

Ngày đăng: 02/07/2020, 16:54

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm