Nhận thức được tầm quan trọng, tính bức xúc của hệ thống đê biển, Nhà nước đã xây dựng chiến lược phát triển kinh tế biển, nhiều chương trình cấp quốc gia về điều tra, khảo sát tài nguyê
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI
ĐINH MẠNH TIẾN
NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN LÝ DỰ ÁN TẠI BAN QUẢN LÝ
DỰ ÁN NÔNG NGHIỆP NINH BÌNH ĐỐI VỚI DỰ ÁN XÂY DỰNG
TUYẾN ĐÊ BIỂN BÌNH MINH IV
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI, NĂM 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI
ĐINH MẠNH TIẾN
NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN LÝ DỰ ÁN TẠI BAN QUẢN LÝ
DỰ ÁN NÔNG NGHIỆP NINH BÌNH ĐỐI VỚI DỰ ÁN XÂY DỰNG
TUYẾN ĐÊ BIỂN BÌNH MINH IV
Chuyên ngành: Quản lý xây dựng
Mã số: 60.58.03.02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: TS Đinh Thế Mạnh
HÀ NỘI, NĂM 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Họ và tên học viên: Đinh Mạnh Tiến
Lớp: 23QLXD22
Chuyên ngành đào tạo: Quản lý xây dựng
Đề tài nghiên cứu “ Nâng cao năng lực quản lý dự án tại Ban quản lý dự án Nông
nghiệp Ninh Bình đối với dự án xây dựng tuyến đê biển Bình Minh IV”
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các thông tin, tài liệu trích
dẫn trong luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc Kết quả nêu trong luận văn là trung thực
và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào trước đây
Tác giả luận văn
Đinh Mạnh Tiến
Trang 4L ỜI CẢM ƠN
Đề tài “Nâng cao năng lực quản lý dự án tại Ban quản lý dự án Nông nghiệp Ninh
Bình đối với dự án xây dựng tuyến đê biển Bình Minh IV” là kết quả từ quá trình nỗ
lực học tập và rèn luyện của học viên tại trường đại học Thủy Lợi
Học viên xin trân trọng cảm ơn thầy TS Đinh Thế Mạnh đã tận tình hướng dẫn, đóng góp ý kiến và giúp học viên hoàn thành luận văn tốt nghiệp này Học viên xin gửi lời
cảm ơn đến các thầy, cô giáo thuộc Bộ môn Công nghệ và Quản lý xây dựng - khoa Công trình đã tận tình truyền đạt kiến thức cho học viên trong suốt thời gian học vừa qua cùng với các thầy, cô giáo trong Hội đồng khoa học đã chỉ bảo lời những khuyên quý giá giúp học viên để hoàn thành luận văn
Học viên cũng xin được gửi lời cám ơn chân thành tới Lãnh đạo, các đồng nghiệp tại Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình NN& PTNT tỉnh Ninh Bình cùng người thân và bạn bè đã nhiệt tình giúp đỡ trong quá trình thu thập tài liệu để hoàn thiện luận văn này
Với thời gian và trình độ còn hạn chế, học viên không thể tránh khỏi những thiếu sót
và rất mong nhận được hướng dẫn và đóng góp ý kiến của thầy cô giáo, của đồng nghiệp, quý độc giả
Hà Nội, ngày tháng 05 năm 2017
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Đinh Mạnh Tiến
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH v
DANH MỤC BẢNG BIỂU vi
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT VÀ GIẢI THÍCH THUẬT NGỮ vii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 2
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ DỰ ÁN XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH ĐÊ BIỂN 3
1.1 Công trình đê biển và các giai đoạn quản lý dự án đê biển 3
1.1.1 Hệ thống công trình đê biển Việt Nam 3
1.1.2 Các giai đoạn quản lý dự án đê biển ở Việt Nam 16
1.2 Tình hình chung về công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng đê biển 18
1.2.1 Năng lực cán bộ 18
1.2.2 Công tác quản lý tiến độ 19
1.2.3 Công tác quản lý chất lượng 20
1.2.4 Công tác quản lý chi phí 22
1.2.5 Công tác quản lý đấu thầu và hợp đồng xây dựng 23
1.3 Công tác quản lý nhà nước trong quản lý dự án đê biển 23
1.3.1 Quản lý của nhà nước 24
1.3.2 Quản lý của Bộ xây dựng và các cơ quan ngang bộ 25
1.3.3 Quản lý của Ủy ban nhân dân các cấp 25
1.3.4 Quản lý của Thanh tra xây dựng 26
Kết luận chương 1 27
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ LÝ LUẬN TRONG QUẢN LÝ DỰ ÁN XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH ĐÊ BIỂN 28
2.1 Các quy định về công tác quản lý dự án đê biển 28
2.1.1 Công tác quản lý tiến độ 28
2.1.2 Công tác quản lý chất lượng 29
2.1.3 Công tác quản lý chi phí 30
2.1.4 Công tác đấu thầu và hợp đồng xây dựng 32
2.1.5 Công tác quản lý vận hành 34
2.2 Vai trò, nội dung và nhiệm vụ của công tác quản lý dự án đê biển 35
2.2.1 Nội dung của công tác quản lý dự án đê biển 35
2.2.2 Vai trò của công tác quản lý dự án đê biển 39
2.2.3 Nhiệm vụ của công tác quản lý dự án đê biển 39
2.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý dự án đê biển 40
Trang 62.3.1 Nguồn nhân lực cho quản lý dự án đầu tư xây dựng 41
2.3.2 Hệ thống văn bản pháp luật liên quan đến quản lý dự án đầu tư xây dựng 42
2.3.3 Sự phối hợp giữa các Ban, ngành và địa phương có liên quan đến quản lý dự án đầu tư xây dựng 42
2.3.4 Các yếu tố điều kiện tự nhiên môi trường kinh tế - xã hội 44
2.3.5 Các yếu tố ảnh hưởng khác 45
2.4 Cơ sở lý luận về mô hình quản lý dự án đầu tư xây dựng 46
2.4.1 Các mô hình tổ chức quản lý dự án đầu tư xây dựng 46
2.4.2 Các mô hình tổ chức hoạt động của Ban quản lý dự án 50
Kết luận chương 2 53
CHƯƠNG 3 CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN LÝ DỰ ÁN CỦA BAN QUẢN LÝ DỰ ÁN NÔNG NGHIỆP NINH BÌNH ĐỐI VỚI DỰ ÁN XÂY DỰNG TUYẾN ĐÊ BIỂN BÌNH MINH IV 54
3.1 Giới thiệu về ban quản lý dự án và công trình 54
3.1.1 Giới thiệu về Ban quản lý dự án nông nghiệp Ninh Bình 54
3.1.2 Giới thiệu về công trình 59
3.2 Đánh giá thực trạng về công tác quản lý dự án của Ban quản lý dự án 64
3.2.1 Cơ cấu tổ chức và năng lực cán bộ 64
3.2.2 Công tác quản lý tiến độ 66
3.2.3 Công tác quản lý chất lượng 68
3.2.4 Công tác quản lý chi phí 69
3.2.5 Công tác đấu thầu và hợp đồng xây dựng 71
3.3 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực quản lý dự án của Ban quản lý dự án đối với công trình đê biển Bình Minh IV 72
3.3.1 Giải pháp nâng cao về cơ cấu tổ chức và năng lực cán bộ 72
3.3.2 Giải pháp nâng cao năng lực công tác Quản lý tiến độ 75
3.3.3 Giải pháp nâng cao năng lực công tác Quản lý chất lượng 82
3.3.4 Giải pháp nâng cao năng lực công tác quản lý chi phí 87
3.3.5 Giải pháp nâng cao năng lực công tác Quản lý đầu thầu và Hợp đồng xây dựng91 Kết luận chương 3 94
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 95
1 Kết luận 95
2 Kiến nghị 96
2.1 Đối với các cơ quan quản lý nhà nước 96
2.2 Đối với Ban Quản lý dự án Nông Nghiệp tỉnh Ninh Bình 97
3 Hướng nghiên cứu tiếp theo 97
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
Trang 7DANH M ỤC CÁC HÌNH ẢNH
Hình 1.1 Cảnh đắp đê thời Trần 4
Hình 1.2 Đê biển Cát Hải, Hải Phòng 6
Hình 1.3 Tuyến đê biển số 5 - Thái Bình 7
Hình 1.4 Đê biển Thịnh Long và đê biển Nghĩa Hưng- Nam Định 7
Hình 1.5 Kè mái đê biển đê Bình Minh II bằng đá xếp khan trong khung bê tông 8
Hình 1.6 Cống qua tuyến đê biển Bình Minh II 9
Hình 1.7 Đê biển huyện Hậu Lộc- Thanh Hóa 10
Hình 1.8 Tuyến đê biển Mỹ Khê – TP Đà Nẵng 13
Hình 1.9 Kè Trần Phú – Nha Trang 14
Hình 1.10 Đê biển Hiệp Thạnh - Trà Vinh và Rạch Giá - Kiên Giang 15
Hình 1.11 Các giai đoạn thực hiện dự án đầu tư xây dựng 16
Hình 2.1 Nội dung quản lý dự án 36
Hình 2.2 Những tiêu chuẩn ràng buộc kết quả thực hiện dự án[6] 38
Hình 2.3 Mối quan hệ giữa các chủ thể tham gia dự án đầu tư xây dựng 44
Hình 2.4 Mô hình BQL dự án đầu tư xây dựng chuyên ngành, khu vực 46
Hình 2.5 Mô hình BQL dự án đầu tư xây dựng một dự án 47
Hình 2.6 Mô hình Chủ nhiệm điều hành dự án 48
Hình 2.7 Mô hình CĐT trực tiếp quản lý dự án 49
Hình 2.8 Mô hình tổ chức Chìa khóa trao tay 50
Hình 2.9 Sơ đồ tổ chức theo dạng chức năng 51
Hình 2.10 Sơ đồ tổ chức từng dự án 51
Hình 2.11 Sơ đồ tổ chức theo dạng ma trận 52
Hình 3.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức Ban QLDA Nông Nghiệp Ninh Bình [9] 57
Hình 3.2 Mặt cắt dọc tuyến đê điển hình 61
Hình 3.3 Mặt cắt dọc tuyến đường thi công 61
Hình 3.4 Mặt bằng hiện trạng xây dựng tuyến đê biển Bình Minh IV 63
Hình 3.5 Mô hình thông tin trong phần mềm PMS 79
Hình 3.6 Tổng hợp tiến độ hợp đồng và thực tế thực hiện, cho phép cập nhật từ MS Project vào tiến độ thực tế 80
Hình 3.7 Tổng hợp kế hoạch và thực tế thực hiện theo gói thầu/ hạng mục/ nguồn vốn theo thời gian cho một hoặc nhiều dự án 80
Hình 3.8 Thể hiện biểu đồ giá trị khối lượng theo kế hoạch và thực tế theo thời gian từng tháng hoặc từng năm 81
Hình 3.9 Sơ đồ kiểm tra chất lượng nguồn vật liệu đầu vào 84
Hình 3.10 Ứng dụng công nghệ THTT 3G vào Quản lý chất lượng 86
Trang 8Hình 3.11 Tổng hợp khối lượng chi tiết công tác theo hợp đồng, thực tế thực hiện,
nghiệm thu, thanh toán theo thời gian 90
Hình 3.12 Cảnh báo tự động các sai sót trong quản lý chi phí giúp chủ đầu tư tránh các rủi ro pháp lý 90
Hình 3.13 Sơ đồ quản lý đấu thầu và hợp đồng xây dựng 91
DANH MỤC BẢNG BIỂU Bảng 3.1 Bảng phân công nhiêm vụ tại Ban QLDA 57
Bảng 3.2 Bảng tóm tắt quy mô dự án Xây dựng tuyến đê biển Bình Minh IV 59
Bảng 3.3 Đề xuất vị trí nhân lực cho phòng kỹ thuật của Ban QLDA 72
Bảng 3.4 Các giải pháp kiểm soát trong công tác Quản lý tiến độ 76
Trang 9DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT VÀ GIẢI THÍCH THUẬT NGỮ
T ừ viết tắt T ừ viết đầy đủ
BCKTKT : Báo cáo kinh tế kỹ thuật
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quản lý dự án là một trong những lĩnh vực kiến thức mang tính kinh nghiệm, có ý nghĩa quan trọng trong các nhiệm vụ hàng ngày của bất kỳ một nhà quản lý nào Nó là một quá trình phức tạp, không có sự lặp lại và khác hoàn toàn so với việc quản lý công việc hàng ngày của một nhà hàng, một công ty sản xuất hay một nhà máy - bởi tính lặp lại, diễn ra theo các nguyên tắc chặt chẽ và được xác định rõ của công việc Trong khi
đó, công việc của quản lý dự án và những thay đổi của nó mang tính duy nhất, không lặp lại, không xác định rõ ràng và không có dự án nào giống dự án nào Mỗi dự án có địa điểm khác nhau, không gian và thời gian khác nhau, thậm chí trong quá trình thực hiện dự án còn có sự thay đổi mục tiêu, ý tưởng từ chủ đầu tư Cho nên, việc điều hành quản lý dự án cũng luôn thay đổi linh hoạt, không có công thức nhất định
Trong những năm qua, Ban quản lý dự án Nông nghiệp Ninh Bình đã tiến hành quản
lý một số lượng lớn các dự án xây dựng công trình thủy lợi, phục vụ đắc lực cho công tác đê điều, phòng chống lụt bão, giảm nhẹ thiên tai, từng bước nâng cấp, cải thiện cơ
sở hạ tầng nông nghiệp, thủy lợi tỉnh Ninh Bình theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa tạo điều kiện thuận lợi góp phần cải thiện và thúc đẩy vào sự phát triển chung của tỉnh Ninh Bình
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện công tác quản lý các dự án, năng lực của Ban
quản lý dự án nông nghiệp Ninh Bình còn có những tồn tại, hạn chế cần khắc phục như tiến độ thi công chậm, trình độ chuyên môn của một bộ phận cán bộ chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ giai đoạn hiện nay
Chính vì lý do đó mà học viên chọn đề tài: “ Nâng cao năng lực quản lý dự án tại
Ban quản lý dự án nông nghiệp Ninh Bình đối với dự án xây dựng tuyến đê biển Bình Minh IV ” làm đề tài luận văn tốt nghiệp Trên cơ sở nghiên cứu về quản lý dự
án nói chung và quản lý dự án đầu tư xây dựng nói riêng, sẽ áp dụng vào dự án xây dựng tuyến đê biển Bình Minh IV tỉnh Ninh Bình để có những kiến nghị, giải pháp
Trang 11góp phần hoàn thiện và nâng cao năng lực quản lý dự án tại Ban quản lý dự án nông nghiệp Ninh Bình Mong rằng nghiên cứu trên sẽ giúp cho công trình được thi công thuận lợi và đạt được hiệu quả cao nhất, góp phần thúc đẩy vào sự phát triển chung của
tỉnh Ninh Bình
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là đánh giá thực trạng về công tác quản lý dự án để đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực quản lý dự án tại ban quản lý dự án nông nghiệp Ninh Bình, áp dụng đối với dự án đê biển Bình Minh IV
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu công tác quản lý dự án tại Ban quản lý dự án Nông nghiệp Ninh Bình, những nhân tố ảnh hưởng đến năng lực quản lý dự án và các giải pháp nâng cao năng lực quản lý dự án tại Ban quản lý để áp dụng cho dự án xây dựng tuyến đê biển Bình Minh IV sắp triển khai trong thời gian tới
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn được tập trung vào công tác quản lý dự án các công trình xây dựng lĩnh vực nông nghiệp, thủy lợi tại Ban quản lý dự án Nông nghiệp tỉnh Ninh Bình
4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Thu thập, tổng hợp phân tích tài liệu trên cơ sở các quy định hiện hành và kinh nghiệm thực tế tại sở, ban ngành có liên quan tại Ninh Bình
Các phương pháp nghiên cứu:
+ Phương pháp đối chiếu với hệ thống văn bản pháp quy, phương pháp dự báo
+ Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh và một số phương pháp kết hợp khác
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ DỰ ÁN XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH ĐÊ BIỂN
1.1 Công trình đê biển và các giai đoạn quản lý dự án đê biển
1.1.1 Hệ thống công trình đê biển Việt Nam
Lịch sử ghi nhận quá trình hình thành hệ thống đê điều Việt Nam từ thời Lý- Trần, vừa mới lên ngôi Lý Công Uẩn vị vua đầu tiên của một triều đại được đánh giá là "mở đầu công việc xây dựng đất nước bước vào quy mô lớn, đặt nền tảng vững chắc và toàn diện cho sự phát triển của dân tộc và của quốc gia phong kiến độc lập" Đắp đê trị thủy
đã trực tiếp ảnh hưởng đến quyền lợi của quốc gia không thể phó mặc cho sự tự phát
của dân chúng Đến năm 1077, triều đình đứng ra chủ trương đắp những con đê quy
mô lớn Theo Việt sử lược, thì năm ấy nhà Lý cho đắp đê sông Như Nguyệt (Sông Cầu) dài 67.380 bộ (khoảng 30 km)
Sang đến đời Trần đã cho đắp thêm theo từng tuyến sông chính từ đầu nguồn ra đến biển, tôn cao đắp to những đoạn đã có, đắp thêm những đoạn nối, cải tạo một số tuyến vòng vèo bất hợp lý Về cơ bản những tuyến đê đó gần giống như ngày nay, nhất là tuyến đê sông Hồng và sông Cầu Về kỹ thuật đắp đê thời kỳ này là bước một bước nhảy vọt, tạo nên thế nước chảy thuận hơn mặt khác cũng phải có những tiến bộ kỹ thuật nhất định mới có thể xác định được tuyến đê, chiều cao đê từng đoạn cho phù hợp với đường mặt nước lũ
Ngoài việc đắp đê nhà Trần còn rất coi trọng công tác hộ đê phòng lụt, đặt thành trách nhiệm cho chính quyền các cấp “Năm nào cũng vậy, vào tháng sáu, tháng bảy (mùa lũ) các viên đê sứ phải thân đi tuần hành, thấy chỗ nào non phải tu bổ ngay, hễ biếng nhác không làm tròn phận sự để đến nỗi trôi dân cư, ngập lúa mạ, sẽ tùy tội nắng nhẹ
mà khiển phạt”
Trang 13Hình 1.1 Cảnh đắp đê thời Trần Các triều đại phong kiến sau này dựa vào đó mà tiếp tục phát triển hệ thống đê điều đã
có và phát triển tiếp lên Theo sách Đại Nam thực lục thì dưới triều Nguyễn năm đó
vua còn cho đắp bảy đoạn đê mới ở Bắc Bộ Đến tháng 9 năm 1809, triều Nguyễn đã
ban hành điều lệ về đê điều ở Bắc Bộ với các quy định rất chặt chẽ về việc kiểm tra,
phòng chống lũ và gia cố hệ thống đê điều hàng năm
Thời kỳ Pháp thuộc, với tư cách là người thống trị thực dân Pháp nhận thức ngay được tầm quan trọng và kinh tế chính trị Bắc Kỳ Vì vậy ngay từ những ngày đầu thiết lập nền đô hộ, chính quyền Pháp cũng rất chú trọng đến tình hình đê điều và trị thuỷ của Việt Nam Trong quá trình cai trị của mình chính quyền Pháp đã gặp phải không ít những thiệt hại do thiên tai, lũ lụt gây ra, đặc biệt nghiêm trọng như trận lũ lịch sử năm
1915 gây thiệt hại rất nghiêm trọng về người và nhà cửa Sau trận lụt lịch sử đó, trước
áp lực của dư luận, chính quyền thực dân mới nghiên cứu thực hiện một kế hoạch đắp
đê Bắc bộ tương đối quy mô, trong đó có nhiều biện pháp mà ngày nay chúng ta vẫn còn nhắc tới như: Tái sinh rừng thượng nguồn để chậm lũ; xây dựng hồ chứa ở thượng nguồn để cắt lũ; đắp đê cao hơn mức lũ đặc biệt; củng cố đê hiện tại và tôn cao đến
mức an toàn tuyệt đối…
Hệ thống đê điều Việt Nam hiện nay có khoảng hơn 8.000 km đê, trong đó hơn 5.000
km là đê sông, còn lại là đê biển với khối lượng đất ước tính là 520 triệu m3 Sự hình thành hệ thống đê thể hiện sự đóng góp, cố gắng của nhân dân trong suốt nhiều thế kỷ qua Mặc dù tại một số nơi đê còn chưa đảm bảo tính ổn định cao đối với lũ lớn tuy vậy vai trò bảo vệ của các tuyến đê sông hay hệ thống đê biển là rất to lớn và không
thể phủ định
Trang 14Hàng năm, hệ thống đê này đều được đầu tư củng cố, nâng cấp, đặc biệt là đối với đê biển sau những cơn bão lớn đã từng bước củng cố vững chắc đáp ứng được yêu cầu
chống lũ đặt ra của từng thời kỳ
1.1.1.1 Hiện trạng tuyến đê biển miền Bắc
• Hiện trạng tuyến đê biển Quảng Ninh
Vùng Quảng Ninh với diện tích chủ yếu là đồi núi, thậm chí là có các dải núi chạy dọc
ra phía biển, vùng đất bằng phẳng khá ít, địa hình khá cao do vậy hệ thống đê ở khu vực này khá lớn
Đê biển vùng Quảng Ninh được đắp với kết cấu chủ yếu là đất núi vì ở đây có rất nhiều mỏ đất núi ven biển, do vậy việc khai thác và thi công khá thuận lợi, nên kết cấu thân đê khá tốt, ổn định
Khu vực này có Vịnh Hạ Long nên cũng ít chịu tác động mạnh trực tiếp từ biển Tất cả các đảo rải rác và nằm xen kẽ nhau trên biển vô hình đã tạo ra một bức tường chắn gió cho khu vực bên trong, do vậy khi có gió bão thì sóng cũng không thể lớn bằng những khu vực chịu tác động trực tiếp từ biển vào Vì thế hệ thống đê ở đây khá an toàn và có thể chịu được bão cấp 10 Mặt khác, đây là khu vực chủ yếu phát triển du lịch do vậy
đê biển cũng được ưu tiên nâng cấp, sửa chữa tu bổ thường xuyên hơn
Chiều rộng mặt đê nhiều tuyến còn nhỏ gây khó khăn cho việc giao thông cũng như kiểm tra, ứng cứu đê như tuyến đê Hà Nam Ngoài ra, công trình bảo vệ bờ biển còn
có thể kể đến công trình khu vực cửa sông Bắc Luân, mũi Tràng Vĩ, mũi Ngọc; công trình có tính tôn tạo là khu biển Hòn Gai, Bãi Cháy, đảo Tuần Châu
Chiều dài đê kết hợp với đường giao thông: L = 6895,30m (kể cả cầu giao thông trên tuyến), đê đắp bằng đất bảo vệ mái phía biển bằng cấu kiện BT đúc sẵn, hộ chân mái bằng hai hàng ống buy Bảo vệ mái phía đồng bằng đá hộc lát khan trong các ô bằng
đá xây, hộ chân mái bằng đá đổ Mặt đê cứng hoá bằng BT M250# [7]
Trang 15• Hiện trạng đê biển Hải Phòng
Các tuyến Đê biển I, Đê biển II, Đê biển Cát Hải là các tuyến đê trực tiếp chịu tác động của sóng biển, các tuyến đê còn lại có rừng cây chắn sóng hoặc bãi rộng ở phía ngoài nên ít bị ảnh hưởng của sóng biển
Cao trình đỉnh đê: từ +4.0 đến +5.5m(cao độ lục địa).Bề rộng mặt đê: Từ 3.0m đến 5.0m Hệ số mái dốc: phía biển m = 2.0 -:-3.5, phía đồng m = 2.0
Kết cấu thân đê: Hầu hết các tuyến đê đều được đắp bằng đất tại chỗ là đất cát pha là chủ yếu, một số đoạn xung yếu được kè lát mái hộ bờ Do đất đắp đê là đất chua mặn
nên nhiều đoạn không thể trồng được cỏ bảo vệ mái kể cả một số giống cỏ đặc biệt chịu mặn [7]
Hình 1.2 Đê biển Cát Hải, Hải Phòng
• Hiện trạng đê biển Thái Bình
Với chiều dài hơn 150 km, chất lượng thực trạng các tuyến đê biển tại Thái Bình được đánh giá: hình thức kết cấu công trình đê đựơc đắp bằng đất, nhiều đoạn chưa đủ cao trình thiết kế, mặt đê một số đoạn đang được rải đá cấp phối Đê không được tốt do bị xói mòn, nhìn chung năng lực phòng chống lũ bão của các công trình (Kè, Cống) trên tuyến còn rất yếu Trong khi đó vùng bảo vệ của các tuyến đê biển lại rất rộng lớn, do vậy yêu cầu đặt ra cho các tuyến đê biển số 5, 6, 7 và 8 huyện (Kiến Xương và Tiền Hải, Thái Thuỵ) là phải ổn định đời sống của nhân dân vùng ven biển thường gặp thiên tai [7]
Trang 16Hình 1.3 Tuyến đê biển số 5 - Thái Bình
• Hiện trạng đê biển Nam Định
Khu vực giữa thường xuyên bị xâm thực xói mòn đe dọa đến an toàn công trình, gồm Giao Thủy: 6km, Hải Hậu: 27 km, Nghĩa Hưng: 2 km, tổng 35 km
Hình 1.4 Đê biển Thịnh Long và đê biển Nghĩa Hưng- Nam Định
Đê biển tỉnh Nam Định chạy theo 2 hướng; đê Giao Thủy chạy theo hướng Bắc - Đông Bắc Đê Hải Hậu chạy theo hướng Đông - Đông Bắc Trong bất kỳ mùa mưa hay mùa khô, đều có sự cố do gió mùa Đông Bắc hay gió mùa Đông Nam
Tuyến đê biển nhiều đoạn đắp bằng đất pha cát, một số đoạn thân đê đắp bằng cát bọc
01 lớp đất thịt mỏng phía ngoài (chiều dầy lớp đất thịt bọc 0,5m -:- 0,7m), một số đoạn
đê đi qua khu vực bãi hẹp và thấp, khoảng 50km chiều dài đê trực diện với biển [7]
• Hiện trạng đê biển Ninh Bình
Tuyến đê Bình Minh II
Trang 17Đây là tuyến đê chính có nhiệm vụ bảo vệ sản xuất cũng như toàn bộ dân cư và cơ sở
hạ tầng quan trọng của huyện Kim Sơn với số dân 170.174 người, diện tích tự nhiên 16522.8ha
Hình 1.5 Kè mái đê biển đê Bình Minh II bằng đá xếp khan trong khung bê tôngTuyến đê Bình Minh II từ cống Như Tân đến cống Càn dài 22,8 km được dự án PAM
5325 nâng cấp từ những năm 2000, đến nay cao trình đỉnh đê từ (+3.70)- (+4.00) thấp hơn cao trình đê thiết kế từ 1,5-1,8m, B = 4 m, mái trong đồng m = 2, mái phía biển m
= 3, đây là tuyến đê trực tiếp chịu bão, sóng biển Trên tuyến đê có 13 cống, một số cống được xây từ lâu thân cống ngắn như cống Như Tân, Cồn Thoi, Điện Biên, Tháng Mười, cống Càn Cống CT2 có vụng xói sâu phía đồng xuất hiện năm 2002 đã được
xử lý Cống CT3 có vụng xói phía đồng cần có phương án bảo vệ trong mùa mưa lũ
Như vậy tuyến đê biển Bình Minh II trực tiếp chịu ảnh hưởng của bão biển tuy đã được tu bổ nhưng khả năng chống bão chỉ đảm bảo bão cấp 10 triều trung bình hai đoạn cửa sông vẫn chưa được nâng cấp Nếu bão to sóng lớn trên cấp 10 dễ sảy ra sạt
lở mái gây vỡ đê uy hiếp đến an toàn tuyến đê
Trang 18Hình 1.6 Cống qua tuyến đê biển Bình Minh II Tuyến đê Bình Minh I
Đây là phòng tuyến cuối có nhiệm vụ ứng cứu cho tuyến đê Bình Minh II gặp trường hợp bão lớn vượt tần suất xảy ra
Tuyến đê được xây dựng từ năm 1959 dài 10.3 km hiện tại tuyến đê này nằm sâu trong nội địa và đang xuống cấp nghiêm trọng, hiện nay tuyến đê có các thông số sau: Bề rộng mặt đê : B = 2,0 - 2,5 m, mái đê phía biển :m = 0,5 - 1,0; mái đê phía đồng :m = 0,5 - 1,0; cao trình mặt đê : H = (+2,50) – (+3,00) m [7]
1.1.1.2 Hiện trạng tuyến đê biển miền Trung
• Hiện trạng đê biển Thanh Hóa
Với tổng chiều dài là 102 km bờ biển, hiện nay đã có 99,874 km đê biển và đê cửa sông với các quy mô khác nhau, các tuyến đê kè này được hình thành qua nhiều thế hệ, chủ yếu do nhân dân tự làm để đối phó với bão lũ Trong nhiều năm gần đây Nhà nước
đã đầu tư kinh phí và đưa ra nhiều giải pháp công trình để củng cố tu bổ một số đoạn
đê kè xung yếu nhằm bảo vệ dân sinh kinh tế cho một số khu vực trọng điểm
Với tổng chiều dài là 102 km bờ biển, hiện nay đã có 99,874 km đê biển và đê cửa sông với các quy mô khác nhau, các tuyến đê kè này được hình thành qua nhiều thế hệ, chủ yếu do nhân dân tự làm để đối phó với bão lũ Trong nhiều năm gần đây Nhà nước
Trang 19đã đầu tư kinh phí và đưa ra nhiều giải pháp công trình để củng cố tu bổ một số đoạn
đê kè xung yếu nhằm bảo vệ dân sinh kinh tế cho một số khu vực trọng điểm Nhưng
do khó khăn về kinh phí nên việc xây dựng tu bổ công trình còn nhiều nhiều hạn chế, quy mô còn quá nhỏ, công trình làm chưa đồng bộ, giải pháp công trình chưa thực sự tối ưu, những nguyên nhân gây ra diễn biến bờ biển dẫn đến xói lở công trình chưa được xác định chính xác, vì tài liệu khí tượng, thuỷ văn, thuỷ lực khu vực này không
có, vì vậy công trình làm ra hiệu quả chưa cao, chưa đảm bảo tính ổn định lâu dài [7]
Hình 1.7 Đê biển huyện Hậu Lộc- Thanh Hóa
• Hiện trạng đê biển Nghệ An
Tổng chiều dài đê biển toàn tỉnh là 145,35 km Vùng biển Nghệ An từ Quỳnh Lập (huyện Quỳnh Lưu) đến Cửa Hội (thị xã Cửa Lò) có chiều dài tiếp giáp với biển là 82km Trên chiều dài này có nhiều sông lạch, chảy ra biển, trong đó có cửa lạch chính là: Cửa Trạp (sông Hoàng Mai), Cửa Quèn, Cửa Thời, Cửa Vạn, Cửa Lò và Cửa Hội Tổng chiều dài đê biển 145.35km Cao trình đỉnh đê lấy theo chiều cao trung bình tần suất 5%, gió bão cấp 9 Đê trực tiếp biển cao trình từ (+4.00) đến (+5.00) Đê ngăn mặn cao trình từ (+3.00) đến (+3.5)
Hầu hết các tuyến đê được nhân dân địa phương đắp nên chủ yếu ngăn nước từ sông
và một phần ngăn nước triều cường Đê được đắp bởi đất tại chỗ, sự đầm nén yếu, quy hoạch và kỹ thuật đê điều chưa đảm bảo, đê đắp còn nhỏ, cao trình chưa đảm bảo cho yêu cầu hiện nay Từ khi đắp đến nay nhiều tuyến đê không được bồi trúc và tu bổ nên xuống cấp nghiêm trọng, có nhiều chỗ không còn thành hình của đê nữa
Trang 20Về cơ bản, các tuyến đê biển thuộc tỉnh Nghệ An đảm bảo về độ cao chống lũ, trừ 1 số đoạn đê cục bộ và vùng cửa sông Tuy nhiên, các cống dưới đê hầu hết được xây dựng
từ lâu chưa được cải tạo, nâng cấp, mặt đê còn nhỏ, mái hạ lưu và mặt đê chưa có biện pháp bảo vệ [7]
• Hiện trạng đê biển Hà Tĩnh
Toàn tỉnh có 32 tuyến đê, với chiều dài 316,2 km (trong đó tuyến đê La Giang là đê cấp II dài 19,2km, còn lại 31 tuyến đê cấp IV, cấp V với chiều dài 297 km Hệ thống
đê Hà Tĩnh rải khắp trên địa bàn 11 huyện, thị xã (chỉ còn huyện Hương Khê không có đê) Nhìn chung hệ thống đê điều mặt cắt còn nhỏ, cao trình thấp Ngoài tuyến đê La Giang hàng năm được Bộ NN&PTNT đầu tư vốn tu bổ thường xuyên đang từng bước được cũng cố Bằng nguồn vốn đầu tư từ chương trình nâng cấp đê biển của Chính phủ, toàn tỉnh đã nâng cấp được 12,3 km đê biển, đê cửa sông đủ khả năng chống đỡ với bão cấp 10 với tần suất triều P=5%, gồm: 3,3 km đê biển Hội Thống huyện Nghi Xuân; 2,0km đê biển Cẩm Lĩnh huyện Cẩm Xuyên; 0,6 km đê biển Kỳ Hà huyện Kỳ Anh; 1,0km đê Đồng Môn thị xã Hà Tĩnh và 5,4 km đê Tả Nghèn huyện Lộc Hà; Các tuyến đê còn lại chỉ đủ khả năng chống đỡ gió cấp 6 đến cấp 8 với mức triều trung bình [7]
• Hiện trạng đê biển Quảng Bình
Các tuyến đê vùng cửa sông biển Quảng Bình được xây dựng từ lâu Ban đầu có quy
mô nhỏ, tạm bợ, quá trình tồn tại bồi trúc và tôn cao Từ sau năm 1954 hệ thống đê vùng cửa sông biển được Nhà nước quan tâm đầu tư ngày càng được nâng cấp, mở rộng Tổng chiều dài đê biển hiện nay là 153km trong đó 136 km đê vùng cửa sông và 17km đê vùng cửa biển
Các tuyến đê chủ yếu đắp bằng đất thịt pha cát mịn, khả năng dính kết yếu Hiện nay cao trình đê một số đoạn, tuyến đang còn thấp so với thiết kế từ 0,3 đến 0,5m Mái đê đang còn dốc 1,5/1 đến 2/1, nhìn chung đê chưa đảm bảo yêu cầu về ổn định Dưới tác động của dòng chảy lũ, của sóng do gió bão hoặc gió mùa Đông Bắc đê thường bị sạt
lở, đứt vỡ [7]
Trang 21• Hiện trạng đê biển Quảng Trị
Những tuyến đê đã được đầu tư nâng cấp theo đúng nhiệm vụ thiết kế nhưng hàng năm vẫn có sự hư hỏng do lũ lụt và sự mài mòn của khí hậu theo thời gian và một số nguyên nhân khác như dòng chảy, sóng lũ, thẩm lậu do địa chất kém Đặc biệt trận lũ lịch sử năm 1999 đã làm cho các tuyến đê bị hư hỏng nặng, có nhiều đoạn bị cuốn trôi
Do nguồn vốn khắc phục hạn chế mà nhu cầu sản xuất nông nghiệp bức bách nên việc hàn gắn các tuyến đê mới chỉ là khôi phục tạm thời các tuyến đê đã có, chưa có giải pháp về lâu dài Cho nên hàng năm các tuyến đê này vẫn tiếp tục bị hư hỏng [7]
• Hiện trạng đê biển Thừa Thiên Huế
Tổng chiều dài đê biển là 183 km, từ sau giải phóng đã đầu tư nâng cấp được 107km, trong đó thông qua dự án PAM 4617 đã nâng cấp được 92 km, ngân sách Trung ương đầu tư hàng năm đã nâng cấp 15km, xây dựng được 42,265 km kè bảo vệ bờ
Hiện nay, còn 76km đê còn ở dạng thô sơ chưa được đầu tư cải tạo, nâng cấp, đê thấp, nhỏ, chất lượng đất đắp đê kém Trên hệ thống đê có 310 cống dưới đê phục vụ phát triển sản xuất, 200 cống đã được xây mới và tu sửa, 110 cống còn lại chưa được tu sửa, nâng cấp [7]
• Hiện trạng đê biển Đà Nẵng
Đà Nẵng có 30,8km đê, kè ngăn mặn, chống sóng, hướng dòng và bảo vệ bờ biển, gồm các tuyến đê Liên Hiệp dài 1,5km, đê lồi 0,8km, kè Thọ Quang dài 1,4km Trong đó,
có 3 tuyến đê cấp 9, tần suất thiết kế của mức nước triều là 5%: Đê Nam Ô phường Hoà Hiệp, Đê Sơn Trà - Điện Ngọc, Đê vùng cửa sông Hàn Các tuyến đê cấp 10: Đê Liên Chiểu, Đê Liên Chiểu - Thuận Phước, Đê khu đô thị Man Quang, Đê Thuận Thông qua dự án PAM 4617 đã đầu tư cải tạo, nâng cấp 1,5km đê ngăn mặn Liên Hiệp Từ năm 2001, Nhà nước thông qua ngân sách tỉnh đã đầu tư xây dựng kè Thuận Phước - Liên Chiểu dài 5,9km, 1,5km kè Thọ Quang Các tuyến đê biển thành phố Đà Nẵng chủ yếu là các tuyến đê ngăn mặn, về cơ bản đảm bảo cao độ thiết kế
Trang 22Hiện trạng của các tuyến đê tại Đà Nẵng: mặt đê chưa được gia cố cứng hoá, mái hạ lưu chưa được bảo vệ, kè Liên Chiểu chưa được xây dựng hoàn thiện cần tiếp tục kéo dài Vì vậy, cần phải có biện pháp củng cố các tuyến đê chắn sóng, trồng cây chống sóng bảo vệ bãi, trồng cỏ vetiver và gia cố mặt đê tại các khu vực thích hợp [7]
Hình 1.8 Tuyến đê biển Mỹ Khê – TP Đà Nẵng
• Hiện trạng đê biển Quảng Nam
Tổng chiều dài đê biển là 183km, từ sau giải phóng đã đầu tư nâng cấp được 107km, trong đó thông qua dự án PAM 4617 đã nâng cấp được 92km, ngân sách Trung ương đầu tư hàng năm đã nâng cấp 15km, xây dựng được 42,265km kè bảo vệ bờ Tất cả các tuyến đê đều được thiết kế ở cấp 9 và cấp 10, với mức nước triều tần suất là 5% Hiện nay, còn 76km đê còn ở dạng thô sơ chưa được đầu tư cải tạo, nâng cấp, đê thấp, nhỏ, chất lượng đất đắp đê kém Trên hệ thống đê có 310 cống dưới đê phục vụ phát triển sản xuất, 200 cống đã được xây mới và tu sửa, 110 cống còn lại chưa được tu sửa, nâng cấp
Vùng Nam Trung Bộ đã hình thành một số tuyến đê ven biển, đê cửa sông khá sớm như: Đê Đông tỉnh Bình Định với chiều dài hơn 40km, được xây dựng từ những năm 1930; đê Xuân Hòa, Xuân Hải được xây dựng phía trong đầm Cù Mông tỉnh Phú Yên được xây dựng và bồi trúc trong những năm 1956-1958; đê Ninh Giang, Ninh Phú huyện Ninh Hòa tỉnh Khánh Hòa được đắp trước năm 1975 Còn lại các tuyến đê khác
ở các tỉnh Nam Trung bộ phần lớn được hình thành sau những năm 1975 Hệ thống đê biển, đê cửa sông ở khu vực này thường ngắn và bị chia cắt bởi các cửa sông, đầm
Trang 23phá, dãy núi hoặc đồi cát Các tuyến đê được hình thành chủ yếu do người dân tự đắp, mang tính tự phát, xuất phát từ những bức xúc bảo vệ mùa vụ, đất đai sản xuất nông nghiệp, lập thành vành đai dân cư cho từng làng, xóm riêng lẻ cũng như lấn biển để nuôi trồng thủy sản Chính vì vậy đê biển ở khu vực này khá tạm bợ và manh mún, chỉ
có một số ít đoạn đê được Nhà nước đầu tư xây dựng có kết cấu khá vững chắc, một số đoạn đê được lát bê tông cả 3 mặt nhằm vừa đảm bảo chống triều cường, ngăn mặn vừa đảm bảo yêu cầu thoát lũ
Hình 1.9 Kè Trần Phú – Nha Trang Hiện nay toàn bộ miền Nam Trung Bộ có: 18 tuyến đê biển với chiều dài 101,8km; 31 tuyến đê cửa sông với chiều dài 131,35 km; 19 tuyến kè với chiều dài 23,26 km Các tồn tại chính của đê biển Nam Trung Bộ: Hầu hết các tuyến đê có bề rộng mặt B < 4,0
m gây khó khăn cho việc bảo dưỡng cũng như cứu hộ đê nhất là trong mùa bão và cao trình đỉnh đê các tuyến đê không đồng bộ và hầu hết chưa đạt yêu cầu chống lại nước dâng và sóng do bão [7]
1.1.1.3 Hiện trạng tuyến đê biển miền Nam
Sau ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng, Đảng và Nhà nước ta đó rất quan tâm tới công tác trị thủy trong đó có việc tu bổ, nâng cấp và hoàn thiện hệ thống đê biển Nhận thức được tầm quan trọng, tính bức xúc của hệ thống đê biển, Nhà nước đã xây dựng chiến lược phát triển kinh tế biển, nhiều chương trình cấp quốc gia về điều tra, khảo sát tài nguyên biển đã được thực hiện, các chương trình nâng cấp đê biển do Nhà nước
và các tổ chức quốc tế trợ giúp thực sự tạo ra sự ổn định giúp cho việc phát triển kinh
tế biển Song song với các hoạt động tư vấn, nhiều chương trình, đề tài nghiên cứu các
Trang 24cấp từ Trung ương đến địa phương có biển đã được triển khai nhằm điều tra, xác định lượng bùn cát bồi tích ở các vùng được bồi và lượng bùn cát bị xói mất ở các vùng biển lấn, các nghiên cứu về thủy triều, nước dâng, trường sóng, gió, dòng chảy, trong điều kiện bình thường cũng như khi gặp bão nhằm xây dựng được các luận cứ khoa học cho các giải pháp thiết kế, thi công hệ thống đê biển, phòng chống thiên tai Hiện nay trên toàn khu vực Nam Bộ có 16 tuyến đê biển với chiều dài 444,36km; 2 tuyến
kè biển với tổng chiều dài 16,5 km
Hình 1.10 Đê biển Hiệp Thạnh - Trà Vinh và Rạch Giá - Kiên Giang
Đê biển, đê cửa sông đã phát huy tác dụng ngăn mặn xâm nhập vào đồng, bảo vệ đất canh tác cho những vùng ngọt hóa Nhiều nơi đê đã góp phần khai hoang lấn biển, mở rộng đất canh tác Việc xây dựng đê biển và các công trình trên đê trong các năm qua trên thực tế đã góp phần quan trọng trong việc chủ động điều tiết nguồn nước góp phần chuyển đổi cơ cấu sản xuất, phát triển giao thông nông thôn, củng cố an ninh quốc phòng
Cao trình nhiều tuyến đê biển, đê cửa sông hiện chưa đủ khả năng phòng chống thiên tai, khi gặp triều cường và bão thường bị thiệt hại lớn.Các tuyến đê biển hầu hết còn thiếu cống nên chưa chủ động trong tiêu úng, tiêu phèn, hạn chế hiệu quả ngăn mặn, giữ ngọt, chưa đáp ứng yếu cầu chuyển đổi sản xuất cho một số vùng Do được xây dựng qua nhiều thời kỳ nên đê biển Nam Bộ thiếu tính hệ thống về vùng và đối tượng bảo vệ, không thống nhất về tiêu chuẩn kỹ thuật [7]
Trang 251.1.2 Các giai đoạn quản lý dự án đê biển ở Việt Nam
Dự án xây dựng đê biển bao gồm 3 giai đoạn cơ bản là: Chuẩn bị dự án; Thực hiện dự
án đầu tư; Kết thúc xây dựng đưa dự án vào khai thác, sử dụng
Hình 1.11 Các giai đoạn thực hiện dự án đầu tư xây dựng
1.1.2.1 Giai đoạn chuẩn bị đầu tư
Về cơ bản các dự án thông thường bao gồm: báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, báo cáo nghiên cứu khả thi Nội dung cần thực hiện trong giai đoạn này là: nghiên cứu thị trường, khả năng, sự cần thiết phải đầu tư và lựa chọn địa điểm xây dựng
Dự án đầu tư xây dựng chỉ cần lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng trong các trường hợp sau: CTXD sử dụng cho mục đích tôn giáo; CTXD quy mô nhỏ và công trình khác do Chính phủ quy định
CHUẨN BỊ DỰ ÁN Nghiên cứu cơ hội
Nghiên cứu tiền khả thi Nghiên cứu khả thi
THỰC HIỆN DỰ ÁN
VẬN HÀNH DỰ ÁN Vận hành dự án Đánh giá sau dự án Kết thúc dự án
Chu kỳ dự án mới
Thiết kế, đấu thầu
Thi công xây lắp
Trang 261.1.2.2 Giai đoạn thực hiện dự án
Sau khi dự án được phê duyệt, mục tiêu của dự án đã được xác định thì sẽ chuyển sang bước thiết kế kỹ thuật (đối với các dự án phức tạp có yêu cầu thiết kế ba bước), thiết
Thiết kế ba bước bao gồm thiết kế cơ sở, thiết kế kỹ thuật và thiết kế bản vẽ thi công
áp dụng đối với công trình quy định phải lập dự án và có quy mô là cấp đặc biệt, cấp I
và công trình cấp II có kỹ thuật phức tạp do người quyết định đầu tư quyết định
Trên cơ sở thiết kế, dự toán công trình được duyệt, chủ đầu tư (CĐT) sẽ tổ chức lựa chọn nhà thầu thi công và triển khai thi công xây dựng công trình Sau khi công trình được hoàn thành, tiến hành vận hành thử, chuẩn bị nghiệm thu, bàn giao công trình Như vậy giai đoạn này tập trung một số nội dung sau: Giao đất hoặc thuê đất để xây dựng; Đền bù giải phóng mặt bằng; Thiết kế công trình và lập dự toán hoặc tổng dự toán; Xin cấp phép xây dựng; Tổ chức lựa chọn nhà thầu thi công xây dựng, lắp đặt thiết bị; Tổ chức triển khai thi công xây dựng công trình (XDCT) và mua sắm, lắp đặt thiết bị
1.1.2.3 Giai đoạn quản lý vận hành
Sau khi nhà thầu thi công XDCT hoàn tất việc thi công, vận hành thử và nghiệm thu bàn giao công trình thì chuyển sang giai đoạn kết thúc xây dựng và đưa công trình vào khai thác sử dụng
Các nội dung chủ yếu trong giai đoạn này gồm: Nghiệm thu bàn giao công trình; Đưa công trình vào sử dụng; Bảo hành công trình; Quyết toán vốn đầu tư
Trong giai đoạn này nhà thầu phải có nghĩa vụ bảo hành công trình, các dự án thông thường thời gian bảo hành là 12 tháng, đối với các dự án quan trọng của Nhà nước thì
Trang 27thời gian bảo hành là 24 tháng, hoặc một số trường hợp đặc biệt CĐT có thể yêu cầu
nhà thầu kéo dài thời gian bảo hành công trình
Công trình, hạng mục công trình xây dựng khi đưa vào khai thác, sử dụng phải được bảo trì; Quy trình bảo trì phải được CĐT tổ chức lập và phê duyệt trước khi đưa hạng mục công trình, công trình xây dựng vào khai thác, sử dụng; phải phù hợp với mục đích sử dụng, loại và cấp công trình xây dựng, hạng mục công trình, thiết bị được xây dựng và lắp đặt vào công trình; Chủ sở hữu hoặc người quản lý sử dụng công trình có trách nhiệm bảo trì công trình xây dựng, máy, thiết bị công trình
Theo phân tích trên đây, các giai đoạn thực hiện dự án đầu tư có mối liên hệ mật thiết với nhau, mỗi giai đoạn có tầm quan trọng riêng nên không đánh giá quá cao hoặc xem nhẹ một giai đoạn nào và kết quả của giai đoạn này là tiền đề của giai đoạn sau Trong quá trình quản lý đầu tư xây dựng CĐT luôn đóng vai trò quan trọng và quyết định đến việc nâng cao hiệu quả đầu tư và xây dựng
1.2 Tình hình chung về công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng đê biển
Hiện nay tình hình biến đổi khí hậu, nước biển dâng đang ngày một ảnh hưởng rất lớn đến an ninh xã hội, đời sống nhân dân, Đảng và Chính phủ đã rất quan tâm đầu tư đến vấn đề mang tầm thế giới này Đặc biệt đê biển ngăn chặn nước biến lấn sâu vào đất liền, cũng như thiên tai bão gió ngày càng khốc liệt đòi hỏi đầu tư một hệ thống đê biển đồng bộ, đúng yêu cầu kỹ thuật, chịu được những cơn bão lớn đến từ biển cả Công tác quản lý dự án đê biển ở Việt Nam đang ngày càng được chú trọng và quan tâm hơn bao giờ hết
1.2.1 Năng lực cán bộ
Trong thời gian qua công tác quản lý dự án (QLDA) đầu tư XDCT - yếu tố quan trọng quyết định đến chất lượng CTXD đã có nhiều tiến bộ Năng lực của đội ngũ cán bộ tham gia QLDA đã được cải thiện và ngày càng lớn mạnh Điều này thể hiện ở gần như mọi "công đoạn" từ chuẩn bị dự án đến thực hiện dự án Sự chủ động trong công việc, trách nhiệm cá nhân (cá nhân hoặc cơ quan) đã tiệm cận hơn đến sự minh bạch Chủ đầu tư vẫn chưa có chính sách linh hoạt trong việc bố trí, sắp xếp nguồn lao động Sắp xếp vị trí đúng với năng lực và trình độ của từng người để phát huy hết khả năng
Trang 28của mỗi người Bên cạnh đó, việc sắp lại nguồn lao động đặc biệt là sau khi dự án kết thúc vẫn chưa được thực hiện Điều đó dẫn đến tình trạng thất nghiệp của người lao động và đánh mất những lao động then chốt và quen việc với các dự án sau Ngoài ra, việc phối hợp làm việc theo nhóm trong nội bộ quản lý của chủ đầu tư vẫn còn yếu kém, phong cách làm việc cá nhân vẫn còn hiện hữu Trên thực tế vẫn có nhiều các chủ đầu tư sử dụng mô hình Ban quản lý kiêm nhiệm dẫn đến chồng chéo khi thực hiện nhiệm vụ, tổ chức chưa phù hợp
Nguồn cán bộ trong các Ban còn thiếu chuyên gia giỏi trong nhiều lĩnh vực, chế độ đãi ngộ, thu hút nhân tài chưa tốt nên khó thu hút cán bộ giỏi, chủ chốt dẫn đến sự chậm trễ trong giải quyết công việc Chỉ có một số cán bộ có chuyên môn vững và cơ bản được chuyển từ bộ phận khác sang, số còn lại phần lớn là cán bộ trẻ chưa có kinh nghiệm Tâm lý e ngại, sợ trách nhiệm trong các nhiệm vụ của cán bộ QLDA làm giảm khả năng sáng tạo, đột phá trong quy trình thực hiện dự án
Cùng với việc hội nhập, giao lưu kinh tế, văn hoá,… Công nghệ khoa học phát triển liên tục, các Ban không cập nhật kịp dẫn đến sự lạc hậu và trì trệ, nếp làm ăn cũ Về cơ bản vẫn theo các quy định hiện hành, xong đôi khi làm theo kinh nghiệm cá nhân nên không thích nghi được với yêu cầu trong tình hình mới Bỏ qua nhiều cơ hội vì có tư tưởng ổn định, không thích thay đổi Sự phân cấp quản lý còn chưa khoa học, phù hợp (năng lực chưa đảm bảo, tổ chức chồng chéo,…ở các Ban quản lý dự án cấp thấp, Ban quản lý dự án kiêm nhiệm)
Việc quy định rạch ròi trách nhiệm giữa các đơn vị tham gia vào dự án chưa chi tiết cụ thể dẫn đến tâm lý e ngại, thiếu quyết đoán trong thực hiện nhiệm vụ quản lý dự án của các Ban QLDA Áp lực đến từ xã hội, Chủ đầu tư, cấp quyết định đầu tư, phía các cấp quản lý nhà nước, nhân dân trong vùng dự án,
1.2.2 Công tác quản lý tiến độ
Công tác Giám sát đầu tư (trong đó bao gồm cả việc theo dõi, đánh giá hiệu quả dự án)
đã được chú trọng hơn CĐT xác định các hoạt động, trình tự và ước tính thời gian
thực hiện một cách tổng quan, khoa học và đảm bảo về dự án Chủ đầu tư đã có ý thức
Trang 29trong khâu lập tiến độ dự án, xây dựng và kiểm soát một cách chặt chẽ, thực hiện dự
án theo đúng khung tiến độ đã được phê duyệt
Tuy nhiên, công tác quản lý tiến độ dự án vẫn có một số tồn tại như chưa được thực
hiện nghiêm túc dẫn đến đầu tư dàn trải, dự án kéo dài Dự án bị kéo dài có thể ở khâu xây dựng hoặc khâu thực hiện, hoặc cả hai Các nguyên nhân chính dẫn đến việc kéo dài dự án: Nhà thầu thiếu sự đốc thúc, giám sát chặt chẽ ngay tại công trình Thậm chí,
một số chủ đầu tư chưa cương quyết xử lý các nhà thầu thực hiện chậm tiến độ; phải thay đổi thiết kế dự án; cấp phát vốn không theo kế hoạch; việc giao kế hoạch vốn đầu
tư từ các cấp còn chậm so với quy định; nguồn nguyên liệu đầu vào bị thiếu; sơ suất trong thi công; trao đổi thông tin giữa các bên liên quan không thông suốt; công việc
mới phát sinh; thiếu lao động có tay nghề; thời tiết xấu Ngoài ra, một số chủ đầu tư chưa quan tâm thực hiện công tác giám sát thi công, đôn đốc các nhà thầu xây lắp đảm bảo tiến độ đúng quy định
1.2.3 Công tác quản lý chất lượng
Từ khi Đảng ta thực hiện đường lối đổi mới, ngành xây dựng có cơ hội lớn để phát triển Thành công của công cuộc đổi mới đã tạo điều kiện vô cùng thuận lợi cho ngành xây dựng vươn lên, đầu tư nâng cao năng lực, vừa phát triển, vừa tự hoàn thiện mình,
và đã đóng góp không nhỏ vào sự tăng trưởng kinh tế của đất nước Các doanh nghiệp của ngành xây dựng không ngừng lớn mạnh về mọi mặt, làm chủ được công nghệ thiết
kế và thi công; đã thi công được những công trình có quy mô lớn, phức tạp ngang tầm khu vực
Các công trình xây dựng nói chung và công trình biển nói riêng có vai trò quan trọng trong sự phát triển của xã hội Trong những năm gần đây, trình độ quản lý các chủ đầu
tư cũng như trình độ chuyên môn của các nhà thầu Việt Nam trong thiết kế và thi công xây dựng đê biển ngày càng được nâng cao Điều đó thể hiện qua việc chúng ta đã thiết kế và thi công đảm bảo mỹ thuật, kỹ thuật khoảng hơn 2500 km đê biển từ Quảng Ninh đến Kiên Giang
Công trình có chất lượng tốt đã và đang đóng vai trò quan trọng trong việc phòng chống thiên tai và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của đất nước Hầu hết các công trình,
Trang 30hạng mục công trình được đưa vào sử dụng trong thời gian qua đều đáp ứng được yêu cầu về chất lượng, quy mô, công suất, công năng sử dụng theo thiết kế, đảm bảo an toàn chịu lực, an toàn trong vận hành và đã phát huy được hiệu quả
Mặc dù Nhà nước đã có nhiều cố gắng trong việc đảm bảo, nâng cao, kiểm soát chất lượng công trình đê biển và đã đạt được thành tích đáng ghi nhận Tuy nhiên, công trình kém chất lượng hoặc vi phạm về chất lượng vẫn còn tồn tại Một số công trình mới đưa vào sử dụng đã bộc lộ nhiều khuyết điểm về chất lượng gây nhiều bức xúc trong xã hội
Kiểm soát chất lượng vật liệu đầu vào còn rất nhiều vấn đề Các công trình thủy lợi với vật liệu xây dựng chủ yếu là đất, đá, xi măng, cát, đá đổ bê tông… Các cán bộ của chủ đầu tư thường chưa quyết liệt xử lý những trường hợp đơn vị thi công thường đưa vào những vật liệu không đúng qui cách và đúng với vật liệu như trong thiết kế Có thể nói khâu kiểm soát chất lượng còn rất lỏng lẻo có lẽ là chủ yếu dẫn đến công trình kém chất lượng hiện nay Các quy trình nghiệm thu mà các cán bộ của chủ đầu tư đang thực hiện chưa chặt chẽ, trình tự chỉ đúng trên giấy tờ chứ thực tế thực hiện thì đang làm ngược lại
Khâu xử lý hiện trường: Trong quá trình thi công luôn luôn gặp những vấn đề cần phải
xử lý như: Sai khác giữa địa hình thực tế và tài liệu khảo sát, xuất hiện biến đổi địa chất bất thường như khối lượng bùn lớn dẫn đến khối lượng mặt cắt thay đổi hoặc trong quá trình thi công gặp các công trình ngầm mà khi khảo sát địa hình không phát
hiện ra Có rất nhiều các tình huống cần phải giải quyết nhanh nếu không sẽ phải dừng thi công trong thời gian lâu dẫn đến thiệt hại lớn cho nhà thầu cũng như ảnh hưởng đến tiến độ công trình Hiện nay, công tác xử lý hiện trường của các chủ đầu tư còn nhiều bất cập chưa quyết liệt trong việc phối kết hợp giữa chủ đầu tư, nhà thầu thi công và thiết kế Phương án còn sửa đổi nhiều lần sau khi thống nhất phương án đơn vị tư vấn triển khai thiết kế điều chỉnh sau đó thẩm định thiết kế mới tiếp tục thi công
Thực tế nhiều công trình được thiết kế bởi những kỹ sư không có chuyên môn, kinh nghiệm (tham khảo thiết kế có trước, sao chép) hoặc chuyên môn, kinh nghiệm yếu kém đã phải trả giá bằng các hư hỏng công trình từ những sai sót trong thiết kế của
Trang 31mình Bên cạnh đó cũng có thể có những sai sót của những người có chuyên môn, kinh nghiệm xuất phát từ sự chủ quan trên cơ sở tin tưởng quá lớn vào kinh nghiệm mà bỏ qua những điểm khác biệt mà các công trình trước đây chưa gặp phải
Ở Việt Nam, trước đây chỉ có rất ít các kỹ sư, chuyên gia có đủ chuyên môn và kinh nghiệm thực hiện công tác thiết kế công trình biển đảm bảo chất lượng, còn phần lớn công trình có qui mô phải thuê đơn vị tư vấn nước ngoài Trong khoảng 15 năm trở lại đây, công tác đào tào kỹ sư chuyên ngành kỹ thuật bờ biển mới được quan tâm đầu tư
và số lượng kỹ sư tham gia thiết kế công trình biển có tăng lên nhưng chất lượng thiết
kế chưa thực sự tương xứng với yêu cầu phát triển của đất nước, đặc biệt khi Đảng và Nhà nước đã có chiến lược phát triển mạnh mẽ kinh tế Biển Do đó cần tăng cường hơn nữa sự quan tâm đối việc nâng cao chất lượng, số lượng đội ngũ những nhà thiết
kế công trình Biển
1.2.4 Công tác quản lý chi phí
Hàng năm nhà nước dành vốn ngân sách rất lớn để đầu tư xây dựng để hạ tầng kỹ thuật phát triển kinh tế xã hội, tất cả các ngành kinh tế đều phụ thuộc rất lớn vào nguồn ngân sách của nhà nước Tuy nhiên, hàng năm vốn ngân sách nhà nước không thể đáp ứng hết được nhu cầu của tất cả các ngành kinh tế Vì vậy việc cân đối phân bổ
và điều hành vốn đối với các bộ, ngành, địa phương để triển khai các dự án nhằm mục tiêu phát triển kinh tế xã hội là hết sức khó khăn
Đa số các địa phương chưa huy động được các nguồn lực đầu tư từ ngân sách địa phương, các doanh nghiệp hưởng lợi từ dự án và lồng ghép với các dự án, các công trình liên quan vào Chương trình nâng cấp đê biển Thực tế đến nay nguồn ngân sách dành cho nâng cấp đê biển còn rất hạn chế mặt khác việc phân cấp quản lý hệ thống đê biển quá rộng lại thiếu quản lý đồng bộ, dẫn đến nhiều dự án được phê duyệt ồ ạt, vượt quá khả năng cân đối của ngân sách nhà nước Khi lập một dự án nâng cấp, cải tạo hay xây mới một tuyến đê biển xung yếu đủ để chống chọi trước nhưng cơn bão lớn (cấp 10,11,12), thì tổng mức đầu tư cho dự án là rất lớn, nguồn ngân sách nhà nước không thể tập trung đáp ứng được, dẫn đến dự án đầu tự bị cắt khúc ra từng năm, dự án phải
hạ cấp, đầu tư dàn trải, thiếu tập trung, dẫn đến hiệu quả đầu tư kém, lãng phí nguồn lực Nhà nước, phát sinh nợ đọng xây dựng cơ bản
Trang 321.2.5 Công tác quản lý đấu thầu và hợp đồng xây dựng
Công tác đấu thầu đóng góp những thành tựu to lớn cho sự phát triển kinh tế, thể hiện vai trò quan trọng trong các hoạt động của kinh tế thị trường Đấu thầu sẽ trở thành một nghề ở Việt Nam và những con người hoạt động trong nghề này sẽ góp phần quan trọng vào việc nâng cao mức độ cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả trong các hoạt động đầu tư công ở nước ta Tuy nhiên, đây là lĩnh vực đặc thù, đòi hỏi người thực hiện phải có năng lực, trình độ và đặc biệt là kiến thức nghề nghiệp, cùng với “cái tâm” trong sáng thì mới nâng cao được hiệu quả đấu thầu
Quá Luật Đấu thầu 2013, Nghị định số 63/2014/NĐ-CP ngày 26/6/2014 của Chính phủ và các thông tư hướng dẫn thực hiện công tác đấu thầu từ thời điểm được ban hành đã khắc phục được những thiếu sót của hệ thống pháp luật về đấu thầu trước đây Việc triển khai thực hiện hệ thống văn bản về đấu thầu được thực hiện đồng bộ ở các địa phương và trung ương Luật Đấu thầu năm 2013, Nghị định số 63/2014/NĐ-CP và các Thông tư hướng dẫn đã được các Bộ ngành trung ương và địa phương phổ biến, quán triệt rộng rãi đến tất cả các đối tượng tham gia hoạt động đấu thầu
Tuy nhiên, việc triển khai công tác đấu thầu đặc biệt ở địa phương vẫn còn những tồn tại, hạn chế cần được khắc phục sớm : tình trạng thất thoát, lãng phí vốn đầu tư vẫn còn xảy ra ở tất cả các giai đoạn của quá trình đầu tư, từ khâu chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư, quyết toán đưa vào sản xuất và bảo trì dự án Trong đó, vấn nạn tham
nhũng, tiêu cực trong các giai đoạn đầu tư, đấu thầu, tuyển chọn tư vấn nhà thầu, nhà cung ứng vẫn còn xảy ra
Sản phẩm của quá trình đấu thầu cuối cùng là hợp đồng ký kết giữa chủ đầu tư và nhà thầu trúng thầu Hiệu quả đạt được từ công tác đấu thầu phụ thuộc rất nhiều vào việc thực hiện nghĩa vụ và ràng buộc giữa chủ đầu tư và nhà thầu như đã nêu trong hợp đồng Tuy nhiên, tại một số các địa phương thì công tác quản lý thực hiện hợp đồng
còn chưa được quan tâm đúng mức
1.3 Công tác q uản lý nhà nước trong quản lý dự án đê biển
Quản lý nhà nước về xây dựng bao gồm: Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, kế hoạch phát triển và các hoạt động xây dựng; Ban hành và tổ chức thực hiện các văn
Trang 33bản quy phạm pháp luật về xây dựng; Ban hành quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng; Quản
lý chất lượng, lưu trữ hồ cơ công trình xây dựng; Cấp, thu hồi các loại giấy phép trong hoạt động xây dựng; Hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại tố cáo và xử
lý vi phạm trong hoạt động xây dựng; Tổ chức nghiên cứu khoa học và công nghệ trong hoạt động xây dựng; Đào tạo nguồn lực cho hoạt động xây dựng; Hợp tác quốc
tế trong lĩnh vực hoạt động xây dựng
1.3.1 Quản lý của nhà nước
Chính phủ đã thống nhất quản lý nhà nước về hoạt động đầu tư xây dựng công trình trong phạm vi cả nước; chỉ đạo xây dựng và thực hiện chiến lược, kế hoạch; ban hành các chính sách văn bản quy phạm pháp luật về công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng kịp thời trong góp phần vào hiệu quả tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân, phục vụ và nâng cao đời sống của nhân dân
Chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương thực hiện pháp luật về xây dựng; phân công, phân cấp quản lý nhà nước cho các bộ, ngành, địa phương; chỉ đạo giải quyết những vấn đề quan trọng, phức tạp vướng mắc trong quản lý hoạt động đầu tư xây dựng
Bộ máy quản lý Nhà nước về chất lượng công trình xây dựng là hệ thống các cơ quan Nhà nước từ Trung ương đến địa phương, tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc chung thống nhất tạo thành một cơ chế đồng bộ có mối quan hệ qua lại chặt chẽ với nhau để thực hiện nhiệm vụ và chức năng của Nhà nước Mỗi cơ quan Nhà nước là một khâu (mắt xích) không thể thiếu được của bộ máy Nhà nước Năng lực quản lý Nhà nước về chất lượng công trình xây dựng tuỳ thuộc vào hiệu lực hiệu quả của từng
cơ quan Nhà nước này
Nhà nước dùng pháp luật để điều chỉnh các mối quan hệ nhằm đưa xã hội theo một trật tự nhất định, trong quá trình xây dựng và phát triển phải tuân thủ nghiêm ngặt các văn bản luật và dưới luật Hoạt động đầu tư xây dựng ở nước ta hiện nay đang được điều chỉnh bằng nhiều văn bản ở các cấp độ pháp lý khác nhau Nội dung các văn bản pháp luật về đầu tư xây dựng hiện hành bao quát một cách có hệ thống, đồng bộ và đầy đủ các hoạt động đầu tư xây dựng trong nước Những văn bản có tính pháp lý cao nhất, cùng với các văn bản khác do các Bộ, ngành và địa phương ban hành, đã tạo
Trang 34thành một hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về đầu tư xây dựng làm cơ sở pháp lý để các cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức, cá nhân trong nước cũng như nước ngoài thực hiện việc đầu tư và quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng.
Tuy nhiên trong quá trình thực hiện vẫn còn những vướng mắc nẩy sinh do tiến trình trình phát triển và đã được kịp thời sửa đổi bổ sung cho phù hợp với yêu cầu thực tế Một hệ thống chính sách quản lý đúng đắn, đầy đủ sẽ đem lại hiệu quả quản lý cao và ngược lại, một hệ thống chính sách quản lý chưa đầy đủ, không đồng bộ, còn thiếu sót
sẽ làm giảm hiệu quả của công tác quản lý Những quy định của các văn bản quy phạm pháp luật được Quốc hội, Chính phủ ban hành mang tính tổng quát về nguyên tắc và quá trình thực hiện nên để đáp ứng yêu cầu trong công tác quản lý nhà nước về xây dựng, cần thiết phải ban hành bổ sung các quy định cụ thể hoặc vận dụng từ các quy định của Bộ Xây dựng Do đó, sự phù hợp các văn bản quy phạm pháp luật là nhân tố tác động tới cơ cấu, cách thức vận hành và nội dung cần thực hiện trong hoạt động quản lý nhà nước về xây dựng
1.3.2 Quản lý của Bộ xây dựng và các cơ quan ngang bộ
Bộ xây dựng và các cơ quan ngang bộ đã tăng cường vai trò, trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành, đặc biệt là việc kiểm soát, quản lý chất lượng và chi phí xây dựng ở tất cả các khâu của quá trình đầu tư xây dựng thông qua việc thẩm định dự án, thẩm định thiết kế và dự toán, cấp phép xây dựng, quản lý năng lực hành nghề xây dựng, kiểm tra việc nghiệm thu công trình trước khi đưa vào khai thác sử dụng Tuy nhiên vẫn còn nhiều bất cập, thiếu sót trong quản lý nhà nước về xây dựng, các văn bản pháp quy còn chồng chéo, thiếu cụ thể, chưa đồng bộ
1.3.3 Quản lý củaỦy ban nhân dân các cấp
Công tác quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng các tuyến đê biển trên địa bàn các tỉnh được thực hiện theo đúng các quy định hiện hành của Nhà nước Từ chủ trương, các bước chuẩn bị đầu tư đến GPMB đều được Uỷ ban nhân dân (UBND) tỉnh, Sở Nông nghiệp và PTNT và các Sở ngành liên quan, UBND các huyện thực hiện tốt, đảm bảo phù hợp với quy hoạch, đáp ứng được yêu cầu trước mắt và định hướng phát triển lâu dài về phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh
Trang 35Các cơ quan quản lý của nhà nước các cấp thực hiện khá tốt việc tuyên truyền, giáo dục, phổ biến các văn bản pháp luật của Nhà nước, văn bản của cấp trên và cấp của mình ban hành cho nhân dân trên địa bàn tỉnh quản lý để nâng cao ý thức chấp hành pháp luật
Các cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng đã chú trọng về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và sự hiểu biết về pháp luật để
họ làm tốt được nhiệm vụ của mình
Tuy nhiên ở nhiều địa phương có nhiều dự án đầu tư xây dựng chưa đúng quy hoạch, công trình phân bổ lộn xộn không theo quy hoạch Tình trạng lấn chiếm hành lang bảo
vệ đê còn nhiều tồn tại, chế tài xử lý vi phạm chưa đủ mạnh, chưa có biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn Trình độ đội ngũ cán bộ công chức trong quản lý nhà nước về xây dựng ở một số địa phương không đồng bộ, còn yếu và thiếu, chưa đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ nên trong quá trình thực hiện nhiệm vụ còn khá lúng túng
1.3.4 Quản lý của Thanh tra xây dựng
Thanh tra xây dựng thuộc Bộ Xây dựng, Sở Xây dựng thực hiện chức năng thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành về xây dựng đối với tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động đầu tư xây dựng
Bộ xây dựng chịu trách nhiệm chỉ đạo, tổ chức thực hiện thanh tra chuyên ngành về hoạt động đầu tư xây dựng trong phạm vi cả nước Sở xây dựng chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện thanh tra chuyên ngành về hoạt động đầu tư xây dựng tại địa phương Nhờ đẩy mạnh, đổi mới hoạt động thanh, kiểm tra, ngành Thanh tra đã có những đóng góp quan trọng cho thành tựu phát triển kinh tế xã hội của đất nước, nhất là công tác tiếp dân, giải quyết đơn thư, khiếu nại và phòng chống tham nhũng Kết quả từ công tác thanh kiểm tra của những năm gần đây cho thấy, các vi phạm đã được phát hiện, chấn chỉnh kịp thời, kết quả thanh tra luôn đảm bảo chính xác, trung thực, đúng pháp luật Thanh tra Bộ cũng sẽ tiếp tục xây dựng, góp ý soạn thảo các văn bản quy phạm pháp luật Cùng với đó là việc tổ chức tiếp công dân và thực hiện việc giải quyết khiếu nại tố cáo đúng pháp luật, đúng thẩm quyền Thanh Tra Bộ Xây dựng đã chủ động, tích cực tìm ra các phương pháp mới trong công tác thanh tra chuyên ngành, thanh tra
Trang 36hành chính lẫn phương thức tổ chức tiếp công dân, thực hiện giải quyết khiếu nại tố cáo để đảm bảo đúng pháp luật, hạn chế tình trạng khiếu kiện kéo dài vượt cấp xảy ra Thực tế hiện nay, việc tổ chức tiếp công dân và thực hiện việc giải quyết khiếu nại tố cáo về đất đai liên quan đến GPMB ở một số địa phương chưa triệt để đã khiến cho tình trạng khiếu kiện kéo dài, gây ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống chính trị, kinh tế
xã hội đất nước Vẫn còn những hạn chế, bất cập những thiếu sót của pháp luật trong quản lý dự án, đơn giá bồi thường, xác định mục đích sử dụng đất… đồng thời chưa
xử lý nghiêm minh các hành vi, các hoạt động vi phạm pháp luật, ảnh hưởng chất lượng công trình, gây thất thoát, lãng phí của nhà nước [12]
Kết luận chương 1
Qua nghiên cứu chương 1 này, học viên đã hệ thống hóa và tổng quan về dự án đầu tư xây dựng đê biển và quản lý dự án đầu tư xây dựng đê biển làm cơ sở cho việc nghiên cứu, làm rõ các vấn đề ở các chương tiếp theo
Cụ thể học viên đã giới thiệu lịch sử hình thành và thực trạng tuyến đê biển Bắc- Trung- Nam, các giai đoạn thực hiện của dự án đầu tư XDCT đê biển Đánh giá về tình hình công tác quản lý dự án đầu tư XDCT đê biển ở Việt Nam Phân tích những thành tựu đạt được, những tồn tại hạn chế và nguyên nhân dẫn đến những tồn tại vướng mắc Tổng quan vai trò quản lý của các cơ quan nhà nước trong công tác QLDA đê biển
Đó là các nội dung quan trọng và là tiền đề gợi mở cho các phân tích sâu hơn về công tác quản lý dự án Từ đó đề xuất ra được các giải pháp chính phục vụ cho mục đích đặt
ra cho đề tài luận văn này
Trang 37CHƯƠNG 2 CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ LÝ LUẬN TRONG QUẢN LÝ DỰ
ÁN XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH ĐÊ BIỂN
2.1 Các quy định về công tác quản lý dự án đê biển
Các văn bản quy phạm pháp luật là căn cứ pháp lý quan trọng nhất để cơ quan quản lý Nhà nước thực hiện việc quản lý và các bên tham gia dự án xây dựng công trình thực hiện theo
Ở nước ta qua nhiều giai đoạn điều chỉnh sửa đổi, đến nay Nhà nước đã ban hành hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật tương đối hoàn chỉnh nhằm đưa ra những tiêu chuẩn ngành, quy chuẩn Quốc gia và tiêu chuẩn cho công trình được cấp có thẩm quyền phê duyệt phục vụ cho công tác QLDA đầu tư XDCT Ngoài các Bộ Luật điều chỉnh chung thì các hoạt động thuộc lĩnh vực đầu tư xây dựng công trình đã được điều chỉnh trực tiếp bởi Luật Xây dựng cùng với các Quyết định áp dụng có liên quan, Nghị định quy định chi tiết, Thông tư hướng dẫn Dưới đây là một số văn bản pháp luật hiện hành còn hiệu lực có liên quan tới QLDA đầu tư xây dựng công trình thủy lợi nói chung và QLDA đê biển nói riêng
2.1.1 Công tác quản lý tiến độ
Theo điều 67 Luật Xây dựng Số 50/2014/QH13 được Quốc hội khóa XIII ban hành ngày 18/06/2014 Người quyết định đầu tư quyết định thời gian, tiến độ thực hiện khi phê duyệt dự án Đối với công trình thuộc dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước thì tiến độ thi công xây dựng không được vượt quá thời gian thi công xây dựng công trình
đã được người quyết định đầu tư phê duyệt Chủ đầu tư, nhà thầu thi công xây dựng công trình phải lập kế hoạch tiến độ, biện pháp thi công xây dựng và quản lý thực hiện
dự án theo tiến độ thi công xây dựng được duyệt Chủ đầu tư có trách nhiệm tạm ứng, thanh toán khối lượng hoàn thành theo tiến độ thực hiện hợp đồng xây dựng Khuyến khích chủ đầu tư, nhà thầu xây dựng đề xuất và áp dụng các giải pháp kỹ thuật, công nghệ và tổ chức quản lý hợp lý để rút ngắn thời gian xây dựng công trình[1]
Trang 382.1.2 Công tác quản lý chất lượng
Theo điều 26 Nghị định số 46/NĐ-CP ngày 12/05/2015 của Chính Phủ về quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng Công trình xây dựng phải được giám sát trong quá trình thi công xây dựng theo quy định tại Khoản 1 Điều 120 Luật Xây dựng Nội dung giám sát thi công xây dựng công trình gồm:
Thông báo về nhiệm vụ, quyền hạn của các cá nhân trong hệ thống quản lý chất lượng của chủ đầu tư, nhà thầu giám sát thi công xây dựng công trình, cho các nhà thầu có liên quan biết để phối hợp thực hiện;
Kiểm tra các điều kiện khởi công công trình xây dựng theo quy định tại Điều 107 của Luật Xây dựng; Kiểm tra sự phù hợp năng lực của nhà thầu thi công xây dựng công trình so với hồ sơ dự thầu và hợp đồng xây dựng, bao gồm: Nhân lực, thiết bị thi công, phòng thí nghiệm chuyên ngành xây dựng, hệ thống quản lý chất lượng của nhà thầu thi công xây dựng công trình; Kiểm tra biện pháp thi công xây dựng của nhà thầu so với thiết kế biện pháp thi công đã được phê duyệt;
Xem xét và chấp thuận các nội dung do nhà thầu trình quy định tại Khoản 3 Điều 25 Nghị định này và yêu cầu nhà thầu thi công chỉnh sửa các nội dung này trong quá trình thi công xây dựng công trình cho phù hợp với thực tế và quy định của hợp đồng Trường hợp cần thiết, chủ đầu tư thỏa thuận trong hợp đồng xây dựng với các nhà thầu
về việc giao nhà thầu giám sát thi công xây dựng lập và yêu cầu nhà thầu thi công xây dựng thực hiện đối với các nội dung nêu trên
Kiểm tra và chấp thuận vật liệu, cấu kiện, sản phẩm xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình; Kiểm tra, đôn đốc nhà thầu thi công xây dựng công trình và các nhà thầu khác triển khai công việc tại hiện trường theo yêu cầu về tiến độ thi công của công trình Giám sát việc thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường đối với các công trình xây dựng theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường; giám sát các biện pháp đảm bảo an toàn đối với công trình lân cận, công tác quan trắc công trình; Giám sát việc đảm bảo an toàn lao động theo quy định của quy chuẩn, quy định của hợp đồng và quy định của pháp luật về an toàn lao động; Đề nghị chủ đầu tư tổ chức điều chỉnh thiết kế khi phát hiện sai sót, bất hợp lý về thiết kế
Trang 39Tạm dừng thi công đối với nhà thầu thi công xây dựng khi xét thấy chất lượng thi công xây dựng không đảm bảo yêu cầu kỹ thuật, biện pháp thi công không đảm bảo an toàn; chủ trì, phối hợp với các bên liên quan giải quyết những vướng mắc, phát sinh trong quá trình thi công xây dựng công trình và phối hợp xử lý, khắc phục sự cố theo quy định của Nghị định này;
Kiểm tra tài liệu phục vụ nghiệm thu; kiểm tra và xác nhận bản vẽ hoàn công;
Tổ chức thí nghiệm đối chứng, kiểm định chất lượng bộ phận công trình, hạng mục công trình, công trình xây dựng theo quy định tại Điều 29 Nghị định này;
Thực hiện nghiệm thu công việc xây dựng để chuyển bước thi công, nghiệm thu giai đoạn thi công xây dựng hoặc bộ phận công trình xây dựng, nghiệm thu hoàn thành hạng mục công trình, công trình xây dựng theo quy định; kiểm tra và xác nhận khối lượng thi công xây dựng hoàn thành;
Tổ chức lập hồ sơ hoàn thành công trình xây dựng;
Thực hiện các nội dung khác theo quy định của hợp đồng xây dựng
Chủ đầu tư được quyền tự thực hiện giám sát thi công xây dựng công trình hoặc thuê
tổ chức tư vấn đủ điều kiện năng lực theo quy định thực hiện giám sát một, một số hoặc toàn bộ các nội dung quy định tại Khoản 1 Điều này [5]
2.1.3 Công tác quản lý chi phí
Quyết định số 79/QĐ-BXD ngày 15/02/2017 của Bộ Xây dựng về việc Công bố định mức chi phí quản lý dự án và tư vấn đấu tư xây dựng Quyết định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/03/2017
Theo điều 31 Nghị định số 32/2015/NĐ-CP ngày 25 tháng 3 năm 2015 của Chính phủ
về việc quản lý chi phí đầu tư xây dựng Chủ đầu tư có các quyền sau đây:
Quyết định phương pháp xác định tổng mức đầu tư Điều chỉnh cơ cấu các khoản mục chi phí trong tổng mức đầu tư nhưng không làm vượt tổng mức đầu tư đã được phê duyệt; điều chỉnh và phê duyệt dự toán xây dựng công trình điều chỉnh không làm vượt dự toán xây dựng công trình đã phê duyệt
Trang 40Tổ chức thẩm định hoặc thẩm tra, phê duyệt dự toán gói thầu xây dựng làm cơ sở lập
Hồ sơ mời thầu hoặc Hồ sơ yêu cầu để lựa chọn nhà thầu; Quyết định việc áp dụng, sử dụng định mức xây dựng, giá xây dựng công trình khi xác định dự toán xây dựng, chỉ
số giá xây dựng cho công trình, gói thầu xây dựng
Thuê các tổ chức tư vấn quản lý chi phí đầu tư xây dựng đủ kiện năng lực theo quy định tại Nghị định về quản lý dự án đầu tư xây dựng để thực hiện lập, thẩm tra, kiểm soát, quản lý chi phí đầu tư xây dựng; được quyền đòi bồi thường hoặc khởi kiện ra toà
án theo quy định của pháp luật đòi bồi thường các thiệt hại do việc chậm trễ của cơ quan thanh toán vốn đầu tư;
Chấp thuận các thay đổi biện pháp thi công, yêu cầu kỹ thuật do nhà thầu đề xuất nhưng phải đảm bảo chất lượng, tiến độ, an toàn, bảo vệ môi trường và không làm thay đổi giá trị hợp đồng đã ký kết Kiểm soát các thay đổi trong quá trình thi công xây dựng công trình có liên quan đến thay đổi chi phí đầu tư xây dựng công trình hoặc đẩy nhanh tiến độ xây dựng công trình;
Chấp thuận các đề xuất về thay đổi vật tư, vật liệu xây dựng theo đề xuất của tư vấn thiết kế hoặc nhà thầu thi công xây dựng nhưng phải đảm bảo về mặt kỹ thuật, mỹ thuật, chất lượng, tiến độ xây dựng trên cơ sở giá trị trong hợp đồng đã ký kết; được thực hiện một số công việc tư vấn đầu tư xây dựng khi có đủ điều kiện năng lực theo quy định; các quyền khác liên quan đến quản lý chi phí theo quy định khác của pháp luật có liên quan
Chủ đầu tư có các nghĩa vụ sau đây:
Tổ chức lập dự án đầu tư xây dựng công trình; trình cấp có thẩm quyền thẩm định, phê duyệt tổng mức đầu tư, tổng mức đầu tư điều chỉnh; tổ chức lập dự toán xây dựng công trình, dự toán xây dựng công trình điều chỉnh trình cấp có thẩm quyền thẩm định, phê duyệt; tổ chức xác định các định mức dự toán xây dựng mới hoặc điều chỉnh của công trình làm cơ sở quản lý chi phí đầu tư xây dựng; tổ chức xác định giá xây dựng công trình; chỉ số giá xây dựng cho công trình, gói thầu xây dựng; tạm ứng, thanh toán
và quyết toán hợp đồng theo các quy định trong hợp đồng đã ký kết với nhà thầu