Trong công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng, ngoài việc kiểm soát chất lượng trước khi thi công, trong quá trình thi công thì việc kiểm tra, kiểm định chất lượng một cấu kiện h
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài luận văn này là sản phẩm nghiên cứu của riêng cá nhân tôi Các
số liệu và kết quả trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa được ai công bố trong tất cả các công trình nào trước đây Tất cả các trích dẫn đã được ghi rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Tác giả luận văn
Lâm Văn Bằng
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn, tác giả đã nhận được sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo PGS-TS Dương Đức Tiến và những ý kiến về chuyên môn quý báu của các thầy cô giáo trong khoa Công trình – Trường Đại học Thủy lợi cũng như
sự giúp đỡ của Trung tâm Nghiên cứu phát triển hạ tầng kỹ thuật (sau đây gọi tắt là Trung tâm) Tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong Trường Đại học Thủy lợi
đã chỉ bảo hướng dẫn khoa học tận tình và cơ quan cung cấp số liệu trong quá trình học tập, nghiên cứu hoàn thành luận văn này
Do thời gian nghiên cứu còn hạn chế nên Luận văn khó tránh khỏi những thiếu sót, tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý thầy cô và các bạn
Xin trân trọng cảm ơn!
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC HÌNH ẢNH vi
DANH MỤC HÌNH ẢNH vii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài 2
3 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu: 2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
6 Kết quả dự kiến đạt được: 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG DÂN DỤNG 4
1.1 Tổng quan về công tác Kiểm định chất lượng công trình xây dựng dân dụng 4
1.1.1 Các khái niệm và giới thiệu chung về công trình xây dưng 4
1.1.2 Khái niệm về sự cố, tuổi thọ công trình, giám định chất lượng công trình xây dựng 9
1.1.3 Khái niệm Kiểm định chất lượng công trình xây dựng dân dụng: 13
1.2 Tổng quan các mô hình tổ chức thực hiện công tác Kiểm định chất lượng công trình 15
1.2.1 Tổng quá về công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng 15
1.2.2 Các trường hợp thực hiện kiểm định: 18
1.2.3 Các mô hình tổ chức thực hiện công tác kiểm định chất lượng công trình 23
1.3 Những bài học kinh nghiệm về công tác Kiểm định chất lượng công trình xây dựng dân dụng 29
1.3.1 Phương pháp tổ chức, triển khai công tác kiểm định chất lượng công trình 29
1.3.2 Các giai đoạn của công tác Kiểm định chất lượng công trình xây dựng 30
1.3.3 Một số tồn tại chủ yếu của các công trình, dự án 32
KẾT LUẬN CHƯƠNG I 34
Trang 4CHƯƠNG 2: CƠ SỞ KHOA HỌC CÔNG TÁC KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG CÔNG
TRÌNH XÂY DỰNG DÂN DỤNG 35
2.1 Cơ sở pháp luật về công tác kiểm định chất lượng công trình xây dựng dân dụng 35
2.1.1 Quy định của Nhà nước về công tác kiểm định chất lượng công trình xây dựng dân dụng: 35
2.1.2 Các Quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật có liên quan đến công tác kiểm định chất lượng công trình xây dựng dân dụng 40
2.2 Cơ sở khoa học về công tác kiểm định chất lượng công trình xây dựng dân dụng 41
2.2.1 Cơ sở khoa học và các tiêu chuẩn áp dụng trong công tác kiểm định chất lượng công trình xây dựng: 41
2.2.2 Nguyên tắc, phương pháp, quy trình thực hiện công tác kiểm định công trình xây dựng 44
2.2.3 Quy trình thực hiện kiểm định chất lượng công trình xây dựng 46
2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng công tác Kiểm định chất lượng công trình xây dựng dân dụng 51
2.3.1 Ảnh hưởng của thiết kế 52
2.3.2 Ảnh hưởng của công nghệ, giải pháp thi công 53
2.3.3 Ảnh hưởng của chất lượng vật liệu, sản phẩm cấu kiện dùng thi công xây lắp 53
2.3.4 Ảnh hưởng của các yếu tố môi trường 53
2.3.5 Ảnh hưởng của biến động mực nước ngầm và nền đất bên dưới công trình 53
2.3.6 Ảnh hưởng của công trình liền kề 54
2.3.7 Ảnh hưởng do những biến động bất thường khác 54
2.4 Nghiên cứu các mô hình tổ chức tư vấn Kiểm định chất lượng công trình xây dựng dân dụng 54
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TRONG CÔNG TÁC KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG DÂN DỤNG TẠI TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN HẠ TẦNG KỸ THUẬT 57
3.1 Giới thiệu về Trung tâm Nghiên cứu phát triển hạ tầng kỹ thuật 57
Trang 53.1.1 Quá trình hình thành, tổ chức bộ máy quản lý của Trung tâm 57 3.1.2 Vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm 60 3.2 Phân tích thực trạng công tác Kiểm định chất lượng công trình xây dựng dân dụng tại Trung tâm Nghiên cứu phát triển hạ tầng kỹ thuật 61 3.2.1 Các công trình, dự án Trung tâm đã thực hiện công tác Kiểm định chất lượng công trình: 61 3.2.2 Phân tích, đánh giá kết quả công tác kiểm định và tìm ra những thiếu sót trong quá trình kiểm định 62 3.3 Đề xuất các giải pháp Nâng cao chất lượng trong công tác kiểm định chất lượng công trình xây dựng dân dụng tại Trung tâm Nghiên cứu phát triển hạ tầng kỹ thuật 76 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 87 TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
Trang 6DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1.1 Các yếu tố cơ bản của chất lượng công trình xây dựng 9
Hình 1.2 : Sập sàn trong quá trình thi công đổ bê tông 10
Hình 1.3: Sập sàn trong quá trình thi công 11
Hình 1.4: Công trình bị nghiêng, lún 11
Hình 1.5: Vị trí của kiểm định trong vòng đời của một công trình 17
Hình 1.6 Mô hình thực hiện công tác kiểm định chất lượng công trình 25
Hình 1.7: Dự án: Khu nhà ở phục vụ tái định cư phường Phú Mỹ, quận 7, thành phố Hồ Chí Minh 26
Hình 1.8 Kiểm định chất lượng công trình xây dựng nhà chung cư tại Hà Nội 26
Hình 1.9 : Công tác khảo sát vết nứt sàn công trường tại Hà Nội 27
Hình 1.10: Bắn súng bật nẩy cấu kiện sàn 27
Hình 1.11: Siêu âm cấu kiện bê tông 28
Hình 1.12: Công tác nén mẫu khoan kiểm tra cường độ bê tông 28
Hình 2.1: Mô hình, cơ cấu tổ chức của Trung tâm Phát triển công nghệ quản lý và kiểm định xây dựng – Cục Giám định Nhà nước về chất lượng công trình xây dựng - Bộ Xây dựng 55
Hình 3.1: Sơ đồ tổ chức Trung tâm Nghiên cứu phát triển Hạ tầng kỹ thuật 59
Hình 3.2: Quá trình công tác kiểm định 63
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Đánh giá tình trạng kỹ thuật của kết cấu bê tông cốt thép theo các dấu hiệu mặt ngoài công trình 67 Bảng 3.2 Nhận định mức độ hư hỏng của kết cấu bê tông cốt thép 68 Bảng 3.3 Vết nứt do tác động của lực trong kết cấu bê tông cốt thép 71
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
- Trình tự đầu tư xây dựng một dự án chia làm ba giai đoạn gồm: Giai đoạn chuẩn bị
dự án, giai đoạn thực hiện dự án và giai đoạn kết thúc xây dựng của dự án đưa công
trình của dự án vào khai thác sử dụng, trừ trường hợp xây dựng nhà ở riêng lẻ - Theo
khoản 1 Điều 50 Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18/06/2014
- Công tác Quản lý chất lượng công trình hiện nay đã có những chuyển biến tích cực, phù hợp với đòi hỏi của thực thực tế trong đổi mới và phát triển của ngành xây dựng hiện nay Chất lượng công trình xây dựng phải được quản lý trong cả 3 giai đoạn đầu
tư xây dựng trên và nó được thể hiện rõ nhất và quan trọng nhất là trong giai đoạn thực hiện dự án của trình tự đầu tư xây dựng Vấn đề này là trách nhiệm của các chủ thể, thành phần tham gia trong dự án bao gồm: Người quyết định đầu tư, Chủ đầu tư, các đơn vị tư vấn, các nhà thầu thi công xây dựng, Cơ quan quản lý nhà nước
Trong công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng, ngoài việc kiểm soát chất lượng trước khi thi công, trong quá trình thi công thì việc kiểm tra, kiểm định chất lượng một cấu kiện hoặc toàn bộ công trình mới xây dựng cũng như công trình đã đưa vào sử dụng, nhằm làm rõ, kiểm chứng chất lượng của bộ phận, hay toàn bộ công trình phục là công việc không thể thiếu, không thể bỏ qua bởi nó cho các bên liên quan biết
rõ chất lượng thực sự của sản phẩm xây dựng có đáp ứng được các yêu cầu của thiết
kế, tuân thủ theo tiêu chuẩn, quy chuẩn hay không Công tác Kiểm định chất lượng công trình xây dựng được thực hiện trong giai đoạn thực hiện dự án, kết thúc dự án và giai đoạn dự án đã được đưa vào sử dụng mục đích để kiểm tra, đánh gia chất lượng công trình xây dựng
Các nội dung và phương pháp kiểm định như sau:
- Khảo sát đánh giá bằng trực quan công trình xây dựng;
- Thực hiện các công tác thí nghiệm tại hiện trường và lấy mẫu thí nghiệm về phòng thí nghiệm để kiểm tra chất lượng hiện trạng công trình xây dựng
- Kiểm tra hồ sơ biên bản nghiệm thu, bản vẽ hoàn công của công trình
Trang 10Dựa trên các kết quả tính toán về khảo sát, kết quả tính toán của công tác thí nghiệm đưa ra các đánh giá, kết luận, về sự phù hợp với thiết kế, các quy chuẩn, tiêu chuẩn hiện hành
Xuất phát từ thực tế nhu cầu trong công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng và
để hoàn thiện hơn công tác kiểm định cho đơn vị đang công tác là Trung tâm Nghiên
cứu phát triển hạ tầng kỹ thuật Tác giả luận văn chọn đề tài: "Nâng cao chất lượng trong công tác kiểm định chất lượng công trình xây dựng dân dụng tại Trung tâm Nghiên cứu phát triển hạ tầng kỹ thuật”
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Luận văn được thực hiện nhằm mục đích:
- Phân tích các nội dung của công tác kiểm định chất lượng công trình xây dựng dân dụng
- Trình bày cụ thể các phương pháp kiểm định chất lượng công trình xây dựng dân dụng
- Phân tích, đánh giá những tồn tại trong công tác kiểm định chất lượng công trình xây dựng dân dụng tại Trung tâm từ đó đưa ra được các giải pháp để nâng cao chất lượng trong công tác kiểm định chất lượng công trình xây dựng dân dụng của Trung tâm
3 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
a Cách tiếp cận:
Tiếp cận từ tổng thể đến chi tiết: Tiếp cận các kết quả đã nghiên cứu về công tác kiểm định chất lượng của các đơn vị đã có nhiều kinh nghiệm và của các chuyên gia trong lĩnh vực kiểm định
Tiếp cận toàn diện, đa ngành đa lĩnh vực: xem xét các yếu tố phát triển khi nghiên cứu
đề tài gồm các lĩnh vực kinh tế xã hội, môi trường sinh thái…
b Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết;
- Phương pháp phân loại và hệ thống hóa lý thuyết;
- Phương pháp thu thập điều tra;
Trang 11- Phương pháp sử dụng các lý thuyết toán học thống kê xác xuất, các phương pháp lý thuyết tập hợp
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tập trung nghiên cứu công tác Kiểm định chất lượng hiện trạng công trình tại Trung tâm Nghiên cứu phát triển hạ tầng kỹ thuật
b Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài tiến hành nghiên cứu nội dung, phương pháp và đánh giá kết quả trong công tác Kiểm định chất lượng công trình xây dựng dân dụng từ đó nâng cao chất lượng công tác kiểm định chất lượng công trình xây dựng dân dụng
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
a Ý nghĩa khoa học của đề tài:
Luận văn góp phần hệ thống hóa và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản và thực tiễn về công tác Kiểm định chất lượng công trình xây dựng dân dụng giai đoạn hiện nay để làm cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu Nâng cao chất lượng trong công tác kiểm định chất lượng công trình xây dựng dân dụng
b Ý nghĩa thực tiễn của đề tài:
Kết quả nghiên cứu giải pháp Nâng cao chất lượng trong công tác kiểm định chất lượng công trình xây dựng dân dụng tại Trung tâm Nghiên cứu phát triển hạ tầng kỹ thuật là những gợi ý thiết thực có thể vận dụng vào công tác quản lý chất lượng trong xây dựng công trình dân dụng thời gian tới
6 Kết quả dự kiến đạt được
Hệ thống hóa các vấn đề tổng quan về công tác Kiểm định chất lượng công trình xây dựng dân dụng
Phân tích thực trạng công tác Kiểm định chất lượng công trình xây dựng dân dụng tại Trung tâm nghiên cứu phát triển hai tầng kỹ thuật
Đề xuất một số giải pháp nhằm Nâng cao chất lượng trong công tác kiểm định chất lượng công trình xây dựng dân dụng
Trang 12CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG DÂN DỤNG
1.1 Tổng quan về công tác Kiểm định chất lượng công trình xây dựng dân dụng
1.1.1 Các khái niệm và giới thiệu chung về công trình xây dưng
- Dự án đầu tư xây dựng là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để
tiến hành hoạt động xây dựng để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn và chi phí xác định Ở giai đoạn chuẩn bị dự án đầu tư xây dựng, dự án được thể hiện thông qua Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng, Báo cáo nghiên
cứu khả thi đầu tư xây dựng hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng - Theo
khoản 15 điều 3 Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18/06/2014
- Giai đoạn chuẩn bị dự án gồm các công việc: Tổ chức lập, thẩm định, phê duyệt Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi (nếu có); lập, thẩm định, phê duyệt Báo cáo nghiên cứu khả thi hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng để xem xét, quyết định đầu tư xây dựng và thực hiện các công việc cần thiết khác liên quan đến chuẩn bị dự án –
Theo khoản a điều 6 Nghị định số: 59/2015/NĐ-CP ngày 18 tháng 6 năm 2015 về quản lý dự án đầu tư xây dựng;
- Giai đoạn thực hiện dự án gồm các công việc: Thực hiện việc giao đất hoặc thuê đất (nếu có); chuẩn bị mặt bằng xây dựng, rà phá bom mìn (nếu có); khảo sát xây dựng; lập, thẩm định, phê duyệt thiết kế, dự toán xây dựng; cấp giấy phép xây dựng (đối với công trình theo quy định phải có giấy phép xây dựng); tổ chức lựa chọn nhà thầu và ký kết hợp đồng xây dựng; thi công xây dựng công trình; giám sát thi công xây dựng; tạm ứng, thanh toán khối lượng hoàn thành; nghiệm thu công trình xây dựng hoàn thành; bàn giao công trình hoàn thành đưa vào sử dụng; vận hành, chạy thử và thực hiện các
công việc cần thiết khác - Theo khoản b điều 6 Nghị định số: 59/2015/NĐ-CP ngày 18
tháng 6 năm 2015 về quản lý dự án đầu tư xây dựng;
- Giai đoạn kết thúc xây dựng đưa công trình của dự án vào khai thác sử dụng gồm các
công việc: Quyết toán hợp đồng xây dựng, bảo hành công trình xây dựng - Theo khoản
Trang 13c điều 6 Nghị định số: 59/2015/NĐ-CP ngày 18 tháng 6 năm 2015 về quản lý dự án đầu tư xây dựng;
- Công trình xây dựng là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật
liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kế Công trình xây dựng bao gồm công trình dân dụng, công trình công nghiệp, giao thông, nông nghiệp và phát triển nông thôn, công trình hạ tầng
kỹ thuật và công trình khác – Theo khoản 10 điều 3 Luật Xây dựng số 50/2014/QH13
ngày 18/06/2014
- Khái niệm về công trình xây dựng dân dụng: Theo phụ lục 1 Thông tư
03/2016/TT-BXD ngày 10/03/2016 của Bộ Xây dựng Quy định về phân cấp công trình xây dựng
và hướng dẫn áp dụng trong quản lý hoạt động đầu tư xây dựng thì công trình xây dựng dân dụng bao gồm các công trình sau:
+ Công trình giáo dục: Nhà trẻ, trường mẫu giáo; Trường tiểu học; Trường trung học
cơ sở, trường trung học phổ thông, trường phổ thông có nhiều cấp học; Trường đại học, trường cao đẳng; Trường trung học chuyên nghiệp, trường dạy nghề, trường công nhân kỹ thuật, trường nghiệp vụ;
+ Công trình y tế: Bệnh viện đa khoa, bệnh viện chuyên khoa từ trung ương đến địa phương;Trung tâm thí nghiệm an toàn sinh học;
+ Công trình thể thao: Sân vận động, sân thi đấu các môn thể thao ngoài trời có khán đài; Nhà thi đấu, tập luyện các môn thể thao có khán đài; Sân gôn; Bể bơi, sân thể thao ngoài trời; Trung tâm hội nghị, nhà hát, nhà văn hoá, câu lạc bộ, rạp chiếu phim, rạp xiếc, vũ trường và các công trình văn hoá tập trung đông người khác; Bảo tàng, thư viện, triển lãm, nhà trưng bày;
+ Chợ;
+ Nhà ga hàng không (Nhà ga chính);
+ Trụ sở cơ quan nhà nước và tổ chức chính trị: Trụ sở làm việc của Quốc hội, Chính phủ, Chủ tịch nước; Trụ sở làm việc của các Bộ, Ngành, Uỷ ban nhân dân và cơ quan chuyên môn trực thuộc các cấp; Trụ sở tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội
Trang 14 Thế nào là một sản phẩm có chất lượng, thế nào là chất lượng công trình xây dựng?
- Theo định nghĩa của tiêu chuẩn ISO9001:2008 thì “Chất lượng là mức độ của một tập hợp các đặc tính vốn có đáp ứng các yêu cầu”
Phân tích rõ về nội dung định nghĩa này như sau:
- Thứ nhất về cụm từ: “các yêu cầu” – dưới góc độ một tổ chức, một công ty sản xuất
và kinh doanh trong một môi trường nhất định thì các yêu cầu có thể là các yêu cầu bên ngoài, các yêu cầu bên trong Các yêu cầu bên ngoài theo nghĩa hẹp có thể bao gồm: Yêu cầu của luật pháp, yêu cầu của khách hàng, yêu cầu của công nghệ, yêu cầu cạnh tranh với các đối thủ…hay xét theo nghĩa rộng là các yêu cầu xuất phát từ môi trường bên ngoài Các yêu cầu bên trong là các yêu cầu của doanh nghiệp như: yêu cầu
kỹ thuật đối với sản phẩm, yêu cầu xuất phát từ năng lực con người, năng lực công nghệ và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, các yêu cầu thêm vào cho sản phẩm hay dịch vụ đảm bảo độ tin cậy hay tăng khả năng cạnh tranh…Như vậy, khi một sản phẩm, dịch vụ hay quá trình đáp ứng các yêu cầu này thì được gọi là chất lượng phù hợp, nếu mức độ đáp ứng thấp hơn thì là chất lượng thấp, cao hơn là chất lượng cao;
- Thứ hai xét về cụm từ: “đặc tính vốn có” đó là đặc tính vốn có của sản phẩm chứ không phải các đặc tính thêm vào sản phẩm Ví dụ, khi chúng ta sơn tường ngoài nhà
mà chúng ta sử dụng sơn nước thì rõ ràng sau một thời gian tường nhà sẽ bị bong tróc, rêu mốc do đó sản phẩm sơn nước không có đặc tính chống lại rêu mốc và các điều kiện khí hậu bên ngoài điều này vô hình chung đem lại sự kỳ vọng của người sử dụng
về sản phẩm cao hơn những gì gọi là vốn có của nó, do đó, sản phẩm đó không gọi là
có chất lượng phù hợp;
- Còn một khía cạnh nữa cũng cần phải xét đến, khi nhắc đến chất lượng, thường chúng ta sẽ phải sử dụng từ “chất lượng phù hợp” chứ không phải chất lượng tốt hay chất lượng không tốt Vì bản chất chất lượng của sản phẩm phù hợp với các yêu cầu đối với một môi trường bên ngoài và bên trong nhất định chứ không phải mọi môi trường Ví dụ kết cấu thép thường không thể gọi là bền vững trong môt trường biển, nhà gỗ không thể gọi là có độ an toàn cao trong phòng chống cháy
Trang 15Có nhiều quan điểm khác định nghĩa về chất lượng của một sản phẩm cụ thể như sau:
- Quan điểm theo hướng sản phẩm thì chất lượng sản phẩm là tổng thể các thuộc tính sản phẩm quy định tính thích dụng sản phẩm để thỏa mãn những nhu cầu phù hợp với công dụng của nó;
- Quan điểm theo hướng nhà sản xuất thì chất lượng là tổng hợp những tính chất đặc trưng của sản phẩm thể hiện mức độ thỏa mãn các yêu cầu định trước cho nó trong điều kiện kinh tế xã hôi nhất định như sự phù hợp với thị trường, đảm bảo về mặt cạnh tranh, đi kèm theo các chi phí giá cả;
Chất lượng công trình xây dựng:
Công trình xây dựng là một loại hàng hóa cho nên chất lượng công trình xây dựng cũng mang đầy đủ các đặc điểm của chất lượng sản phẩm hàng hóa đó là: Chất lượng công trình xây dựng là tập hợp các đặc tính vốn có của công trình đó thỏa mãn các yêu cầu (khai thác, vận hành, sử dụng )
Theo thời gian các chỉ tiêu phản ảnh chất lượng về vật liệu, về kết cấu công trình có những thay đổi Điều kiện làm việc của công trình cũng như tác động của các môi trường tự nhiên, môi trường xã hội …diễn ra trong nhiều trường hợp cũng không hoàn toàn đúng như trong thiết kế
Các chỉ số kỹ thuật đạt đựơc của công trình hoặc một kết cấu công trình biến đổi theo thời gian Các khái niệm tuổi bê tông, sức chịu tải của đất trong quá trình cố kết, tuổi thọ công trình…là những ví dụ giải thích điều này Chỉ số kỹ thuật trong công trình suy giảm thì khả năng chịu lực cũng bị suy giảm Khả năng chịu lực “hiện hữu” của công trình hoăc một kết cấu tại một thời điểm nào đó thể hiện “trạng thái kỹ thuật công trình”
Các đặc tính vốn có của công trình xây dựng là: Đặc tính mỹ thuật và đặc tính kỹ thuật Đây là các đặc tính được tạo nên bới tập hợp các nhân tố cấu thành công trình xây dựng: Con người, vật liệu, các yếu tố tự nhiên (cảnh quan, khí hậu, địch họa ) Chất lượng công trình xây dựng là những yêu cầu về an toàn, bền vững, kỹ thuật và
mỹ thuật của công trình nhưng phải phù hợp với qui chuẩn và tiêu chuẩn xây dựng,
Trang 16các qui định trong văn bản qui phạm pháp luật có liên quan và hợp đồng kinh tế (Hình 1.1)
Từ khái niệm tổng quát này, chất lượng công trình xây dựng phải bao gồm các yêu cầu cần có của một công trình xây dựng (các yêu tố đảm bảo chất lượng) mà còn phải thỏa mãn các yêu cầu vì lợi ích của xã hội (sự phù hợp) Ngay trong yêu cầu đảm bảo chất lượng đã bao gồm không chỉ đảm bảo sự an toàn về mặt kỹ thuật mà còn an toàn về nhu cầu sử dụng các yếu tố kinh tế kỹ thuật Một công trình quá an toàn, quá chắc chắn nhưng không đẹp, không phù hợp kiến trúc, không kinh tế thì cũng không thoả mãn yêu cầu về chất lượng công trình, ngược lại một công trình đẹp chưa hẳn đã đảm bảo
an toàn Một công trình xây dựng chỉ thỏa mãn yêu cầu của chủ sở hữu nhưng vi phạm quy hoạch, kiến trúc đô thị, ảnh hưởng môi trường,… thì cũng không thể coi là công trình có chất lượng
Đảm bảo Phù hợp
= +
Hình 1.1 Các yếu tố cơ bản của chất lượng công trình xây dựng
Do vậy, để công trình xây dựng có chất lượng phù hợp với các yêu cầu về kỹ thuật, mỹ thuật, kinh tế thì công trình xây dựng cần được kiểm soát chặt chẽ các yếu tố đầu vào (Giai đoạn chuẩn bị đầu tư) và các yếu tố đầu ra (quá trình thi công nghiệm thu, quá trình khai thác, sử dụng )
Trong thời gian qua, công tác QLCLCTXD - yếu tố quan trọng quyết định đến CLCTXD đã có nhiều tiến bộ Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật thì trình độ của đội ngũ cán bộ quản lý được nâng cao, sự lớn mạnh của đội ngũ công nhân các ngành nghề xây dựng, với việc sử dụng vật liệu mới có chất lượng cao, việc đầu tư thiết bị thi công hiện đại, sự hợp tác trao đổi kinh nghiệm, việc học hỏi những công nghệ kỹ thuật tiên tiến của các nước có nền công nghiệp xây dựng phát triển cùng với việc ban hành các chính sách hợp lý, các văn bản pháp quy tăng cường công tác QLCLCTXD, chúng
ta đã xây dựng được nhiều công trình góp phần quan trọng vào hiệu quả của nền kinh
Trang 17tế quốc dân Trong lĩnh vực xây dựng dân dụng đã xây dựng nhiều nhà chung cư, nhà liền kề với nhiều tính năng hữu dụng nhất; các trường học, công trình văn hóa, thể thao… cũng đã được xây dựng hàng loạt để phục vụ nhu cầu thiết thực và nâng cao đời sống của nhân dân
Tuy nhiên, bên cạnh những thành quả đạt được thì cũng đã có những rủi ro, sự cố đáng tiếc xảy ra trong quá trình thi công Và cũng đã có những công trình không đảm bảo chất lượng không đảm bảo được nhu cầu sử dụng, công trình bị nứt vỡ, nghiêng, lún gây mất an toàn cho người sử dụng, tốn kém tiền của của nhân dân, của nhà nước Nhiều công trình không có biện pháp, không triển khai công tác bảo trì làm cho tuổi thọ công trình giảm xuống, gây thấm dột, bong tróc
Chính vì thế công tác QLCLCTXD là rất quan trọng và cần phải chú trọng và phải có
sự chung tay của các bên liên quan từ cơ quan QLNN, CĐT, các đơn vị tư vấn, các nhà thầu để có thể tạo ra được những sản phẩm xây dựng tốt nhất
1.1.2 Khái niệm về sự cố, tuổi thọ công trình, giám định chất lượng công trình xây dựng
Sự cố công trình, tuổi thọ công trình xây dựng:
Sự cố công trình:
- Định nghĩa sự cố: Sự cố công trình xây dựng là hư hỏng vượt quá giới hạn an toàn
cho phép, làm cho công trình xây dựng hoặc kết cấu phụ trợ thi công xây dựng công trình có nguy cơ sập đổ, đã sập đổ một phần hoặc toàn bộ trong quá trình thi công xây dựng và khai thác sử dụng công trình (Theo khoản 34 điều 3 Luật xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18 tháng 06 năm 2014);
Trang 18Một số hình ảnh về sự cố công trình xây dựng
Hình 1.2 : Sập sàn trong quá trình thi công đổ bê tông
- Sập sàn trong quá trình thi công đổ bê tông Nguyên nhân chính gây ra là do công tác lắp dựng dàn giáo không đảm bảo về khả năng chịu lực để chống đỡ sàn khi có tải trọng của bê tông đổ lên Có thể do nhà thầu thi công không lắp dựng giáo chống sàn không đúng biện pháp được phê duyệt, hoặc có thể là biện pháp thi công giáo chống ban đầu đã phê duyệt không đảm bảo về khả năng chịu lực của sàn
- Công tác quản lý, kiểm soát chất lượng công trình của các đơn vị liên quan như Chủ đầu tư, tư vấn giám sát, nhà thầu thi công…còn lỏng lẻo thiếu trách nhiệm dẫn đến sự cố gây hậu quả nghiêm trọng
Trang 19Hình 1.3: Sập sàn trong quá trình thi công
- Sập sàn bê tông cốt thép tầng 2 trong quá trình thi công sàn tầng 3 Nhà thầu thi công không tuân thủ tiêu chuẩn TCVN 4453-1995về công tác giáo chống (2,5 tầng),
và cộng thêm có thể là bê tông sàn tầng 2 chưa đạt cường độ theo thiết kế…vì thế gây ra sự cố nghiêm trọng này
Hình 1.4: Công trình bị nghiêng, lún
- Công trình bị nghiêng trong thời gian đã được đưa vào sử dụng, nguyên nhân gây
ra sự cố này là do nền móng yếu, công tác thi công gia cố móng không đảm bảo sức chịu tải của công trình Không được quan trắc lún để theo dõi kiểm tra thường xuyên theo yêu cầu của thiết kế
Trang 20- Điều tra sự cố:
+ Khi thực hiện điều tra một sự cố của công trình xây dựng, khảo sát, thu thập thông tin, phân tích và đánh giá sự cố là các bước trong quy trình của phương bệnh học công trình khi tiến hành xử lý các sự cố công trình xây dựng đã xảy ra Nội dung chi tiết gồm các phần:
- Tiếp cận và thu thập thông tin về sự cố;
- Phân tích nguyên nhân sự cố theo nguyên lý loại trừ dần để xác định nguyên nhân chính, các nguyên nhân phụ;
- Thiết lập kịch bản diễn biến sự cố;
Trang 21- Đề xuất hướng khắc phục sự cố và bài học
Tuổi thọ công trình:
- Tuổi thọ của một đối tượng (công trình hoặc bộ phận công trình): Là thời gian tồn tại (tính theo lịch) của đối tượng đó từ khi bắt đầu đưa vào sử dụng cho tới khi đạt tới trạng thái giới hạn;
- Tuổi thọ thiết kế (tuổi thọ danh định): Là thời gian từ khi đưa vào sử dụng tới khi công trình đạt tới trạng thái giới hạn do người thiết kế dự tính trước;
- Tuổi thọ sử dụng: Là thời gian thực tế khai thác công trình mà trong thời gian đó không có việc sửa chữa bộ phận hay toàn bộ công trình;
- Tuổi thọ sử dụng yêu cầu: Là thời gian sử dụng công trình đáp ứng được các yêu cầu của người khai thác (ví dụ yêu cầu của khách hàng đối với thiết kế hoặc có những nhu cầu đặc trưng riêng cho công trình)
1.1.3 Khái niệm Kiểm định chất lượng công trình xây dựng dân dụng
- Kiểm định xây dựng là hoạt động kiểm tra, đánh giá chất lượng hoặc nguyên nhân hư hỏng, giá trị, thời hạn sử dụng và các thông số kỹ thuật khác của sản phẩm xây dựng,
bộ phận công trình hoặc công trình xây dựng thông qua quan trắc, thí nghiệm kết hợp
với việc tính toán, phân tích (Theo khoản 8 điều 3 Nghị định 46/2015/NĐ-CP ngày 12
tháng 05 năm 2015 của Chính Phủ về quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng);
- Công tác kiểm định chất lượng công trình xây dựng dân dụng được tiến hành bởi các biện pháp: khảo sát (đo, vẽ, đánh giá ngoại quan ), kiểm tra các tính chất cơ, lý, hóa của sản phẩm bằng phương pháp phá hủy (thử tải trực tiếp, lấy mẫu từ cấu kiện để thử ) hoặc không phá hủy (siêu âm, đo mật độ bằng phóng xạ ) Ngày nay, khoa học công nghệ đã cho ra đời nhiều thiết bị kiểm định cho phép xác định một hay nhiều tính chất của bộ phận công trình hoặc công trình với mức độ chính xác cao so sánh với quy định của thiết kế, của tiêu chuẩn và quy chuẩn Người kiểm định cần đối chiếu, so sánh các tính chất (kích thước, cường độ, khả năng chịu lực ) với thiết kế đã được duyệt và tiêu chuẩn, quy chuẩn (quy định của pháp luật) để đánh giá xem chất lượng của sản
Trang 22phẩm xây dựng đó có đạt yêu cầu hay không, có được đưa vào sử dụng hay phải gia
cố, sửa chữa hoặc phá đi làm lại
Vậy chúng ta có thể diễn giải đầy đủ hơn khái niệm kiểm định chất lượng công trình
xây dựng như sau: “Kiểm định chất lượng công trình xây dựng dân dụng là hoạt động khảo sát, kiểm tra, thử nghiệm nhằm định lượng một hay nhiều tính chất liên quan đến chất lượng của sản phẩm hoặc công trình xây dựng làm cơ sở cho việc phân tích, tính toán, so sánh với quy định của thiết kế và tiêu chuẩn áp dụng, tiến hành đánh giá, kết luận và kiến nghị liên quan đến chất lượng công trình”
Nội dung chính của công tác kiểm định là:
Theo khoản 2 điều 29 Nghị định 46/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng 05 năm 2015 của Chính Phủ về quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng, thì các trường hợp thực hiện công tác kiểm định là:
“Kiểm định chất lượng, thí nghiệm khả năng chịu lực của kết cấu công trình được thực hiện trong các trường hợp sau:
a) Được quy định trong hợp đồng xây dựng hoặc chỉ dẫn kỹ thuật theo yêu cầu của thiết kế;
b) Khi công trình, hạng mục công trình, bộ phận công trình xây dựng có biểu hiện không đảm bảo chất lượng theo yêu cầu của thiết kế;
c) Theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền ký hợp đồng đầu tư theo hình thức đối tác công tư;
d) Trưng cầu của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng theo quy định của pháp luật về giám định tư pháp hoặc theo yêu cầu của cơ quan chủ trì tổ chức giám định nguyên nhân sự cố khi xảy ra sự cố công trình xây dựng;
đ) Theo yêu cầu của Hội đồng nghiệm thu nhà nước các công trình xây dựng hoặc yêu cầu của cơ quan chuyên môn về xây dựng khi cần thiết”
- Theo điểm đ khoản 2 điều 29 Nghị định 46/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng 05 năm 2015
của Chính Phủ về quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng:
“Trong quá trình kiểm tra, cơ quan có thẩm quyền được quyền yêu cầu chủ đầu tư và
Trang 23các bên có liên quan giải trình, khắc phục các tồn tại (nếu có) và thực hiện thí nghiệm đối chứng, thử tải, kiểm định chất lượng bộ phận, hạng mục hoặc toàn bộ công trình theo quy định tại Điều 29 Nghị định này”
- Đích hướng tới của công tác kiểm định, dù kiểm định chất lượng của một kết cấu đang xây dựng, một công trình mới xây dựng xong hoặc công trình đang vận hành… đều nhằm đánh giá trạng thái kỹ thuật của công trình, chất lượng hiện trạng công trình tại thời điểm kiểm tra, tức khả năng chịu lực hiện hữu của nó Do đó, công việc trọng tâm là phải có các số liệu thực thông qua các thí nghiệm trong phòng và thí nghiệm hiện trường theo các phương pháp lấy mẫu trực tiếp hoặc lấy mẫu không phá hoại cùng với việc sử dụng các phương pháp phân tích, tính toán hiện đại, tin cậy
- Các bài toán phân tích trạng thái kỹ thuật công trình được tiến hành với các số liệu đầu vào là hiện trạng công trình cùng với các tổ hợp tải trọng thực tế đã từng xảy ra và
có thể xảy ra thường là các bài toán khó khăn, nhiều thách thức mà không phải kỹ sư kết cấu nào cũng có thể thực hiện được
Giám định chất lượng công trình xây dựng: Là hoạt động kiểm định chất lượng
công trình xây dựng được tổ chức thực hiện bởi cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền hoặc theo yêu cầu của cơ quan này
- Giám định xây dựng là hoạt động kiểm định xây dựng và đánh giá sự tuân thủ các quy định của pháp luật về đầu tư xây dựng, được tổ chức thực hiện bởi cơ quan quản
lý nhà nước có thẩm quyền hoặc theo yêu cầu của cơ quan này (Theo khoản 9 điều 3
Nghị định 46/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng 05 năm 2015 của Chính Phủ về quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng)
1.2 Tổng quan các mô hình tổ chức thực hiện công tác Kiểm định chất lượng công trình
1.2.1 Tổng quá về công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng
Như đã phân tích ở trên, công tình xây dựng là loại sản phẩm hàng hóa đặc thù, được sản xuất đơn chiếc và không cho phép có phế phẩm nên rất cần thiết kiểm tra chặt chẽ các khâu, các giai đoạn trong quá trình hình thành sản phẩm Công việc quan trọng đầu tiên là đảm bảo chất lượng thiết kế Trên cơ sở nhiệm vụ thiết kế, sản phẩm thiết kế cần được đơn vị thứ ba độc lập giúp chủ đầu tư thẩm tra từ các số liệu đầu vào có liên
Trang 24quan trực tiếp đến công trình, phương pháp tính toán, các giải pháp cấu tạo và giải pháp thiết kế nhằm thoả mãn được nhiệm vụ thiết kế đặt ra phục vụ cho quá trình khai thác sử dụng Đây được xem là tiêu chuẩn đầu tiên và xuyên suốt không chỉ trong giai đoạn của công tác thiết kế, mà đặc biệt quan trọng trong công tác thi công, nghiệm thu công trình Việc thuê tư vấn giám sát kiểm soát chất lượng thi công cũng không thể kiểm soát hết các vấn đề của chất lượng công trình nếu không có kiểm định chất lượng Công tác kiểm định chất lượng là cách có thể đánh giá mức độ, kiểm tra đối chứng và làm sáng tỏ thực trạng chất lượng
Để góp phần chủ động kiểm soát tốt nhất chất lượng công trình trong suốt vòng đời công trình, hoạt động kiểm soát của đơn vị thứ ba độc lập cần triển khai ở cả ba giai đoạn hình thành và vận hành sản phẩm với các hình thức khác nhau (xem hình 3.1)
- Trong giai đoạn thiết kế (thiết kế cơ sở, thiết kế kỹ thuật, thiết kế bản vẽ thi công)cần thẩm tra, thẩm định thiết kế;
- Trong giai đoạn thi công xây dựng (giai đoạn chuyển sản phẩm trên giấy thành sản phẩm vật chất cụ thể) là giai đoạn có nhu cầu kiểm soát chất lượng thông qua công tác kiểm định nhiều và phổ biến nhất Công tác kiểm định giai đoạn này bao gồm kiểm định chất lượng vật liệu, cấu kiện xây dựng, thiết bị công trình, chất lượng các công việc thi công và chất lượng công trình hoàn thành;
- Trong giai đoạn khai thác, sử dụng công trình ,công tác kiểm định nhằm mục đích chủ động phòng ngừa sự xuống cấp hay hư hỏng công trình (bảo trì phòng ngừa) hoặc phục vụ trực tiếp công tác duy tu, sửa chữa, nâng cấp và cải tạo và thay thế khi cần thiết
- Trong trường hợp xảy ra sự cố công trình khi đang thi công hoặc đang được khai thác
sử dụng, công tác kiểm định là nhân tố quan trọng nhất phục vụ việc điều tra sự cố, xác định chính xác nguyên nhân để có các biện pháp khắc phục sự cố
Trang 25(Đạt)
(Không đạt)
THI CÔNG
Kiểm định
(Đạt)
(Không đạt)
Kiểm định
Nghiệm thu
Loại
Sửa chữa khắc phục
VẬN HÀNH,
SỬ DỤNG
Kiểm định
TIẾP TỤC SỬ DỤNG
Sửa chữa, duy tu,
nâng cấp, phá dỡ
Vật tư, Vật liệu, cấu kiện XD
Trang 261.2.2 Các trường hợp thực hiện kiểm định
Kiểm định chất lượng vật liệu, cấu kiện, sản phẩm sử dụng trong thi công
Đương nhiên ở đây cần tách, phân định rõ việc kiểm tra vật liệu đầu vào Theo quy định, mọi vật liệu đầu vào đều phải được nhà thầu tự kiểm tra thông qua CO (chứng chỉ của nhà sản xuất) và CQ (nhà thầu kiểm tra lượng mẫu nhất định theo quy định đối với vật liệu và sản phẩm) Đây là công tác kiểm tra thông thường theo quy định trong các tiêu chuẩn thi công xây dựng Công tác kiểm định thực hiện đối với vật tư trước khi đưa vào sử dụng trong công trình khi có nghi ngờ về chất lượng hoặc theo yêu cầu Như vậy, kiểm định chất lượng vật liệu, sản phẩm trong quá trình thi công đều gắn với
“tình huống” cụ thể
Bên cạnh đấy trong thi công không chỉ sử dụng các loại vật liệu ở trạng thái rời ban đầu (cát, sỏi đá, ximăng, sắt thép, gạch đá, vữa, gỗ các loại v.v.) mà nhiều trường hợp phải sử dụng cấu kiện hay sản phẩm xây dựng đã được gia công và chế tạo sẵn Những dạng cấu kiện và sản phẩm có thể kể ra với rất nhiều chủng loại khác nhau Ví dụ như
cấu kiện: cọc móng; panel, tấm đan, cấu kiện cột, dầm; vì kèo (Bằng thép hay BTCT)
và các chi tiết, bộ phận lắp ghép khác v.v Chúng được đưa về hiện trường xây dựng ở dạng cấu kiện, sản phẩm hoàn chỉnh hoặc bán thành phẩm Nhà thầu phải biết rõ xem sản phẩm có đáp ứng yêu cầu của thiết kế hay không để quyết định đưa chúng vào thi công lắp dựng vào công trình
Có thể xảy ra 2 trường hợp thường gặp sau đây:
- Trong quá trình gia công chế tạo sản phẩm có sự theo dõi và quản lý chất lượng của bên đặt hàng Việc kiểm tra chất lượng được thực hiện tương tự như đối với những cấu kiện thi công trực tiếp trên công trình, tức là có cán bộ chuyên môn giám sát và
nghiệm thu ở tất cả các giai đoạn gia công (theo dõi của cán bộ kỹ thuật và của tư vấn
giám sát trong các bước gia cộng, có kèm theo các chứng chi về chất lượng vật liệu sử dụng) Đối với những sản phẩm này trước khi đem lắp dựng vào công trình sẽ không
cần qua kiểm định chất lượng nữa (trừ trường hợp có sự nghi ngờ chất lượng của cá
biệt sản phẩm nào đó, cần kiểm định lại)
- Trường hợp nhập về công trình là những sản phẩm chế sẵn, không qua giám sát của bên đặt hàng hoặc nguồn gốc xuất xứ chưa rõ ràng thì chúng phải qua kiểm định chất
Trang 27lượng trước khi thi công lắp dựng vào công trình Công việc kiểm định chất lượng phải
do đơn vị tư vấn có chuyên môn phù hợp thực hiện Căn cứ vào kết quả kiểm định với đánh giá và kết luận là đáp ứng yêu cầu thiết kế và tiêu chuẩn áp dụng thì cho phép sử
dụng thi công bình thường
Kiểm định phục vụ công tác nghiệm thu
Theo quy định, mọi sản phẩm, cấu kiện, kết cấu hay bộ phận kết cấu, hạng mục công trình và toàn công trình, trước khi quyết định chuyển sang giai đoan thi công tiếp theo hay đưa vào sử dụng đều phải được nghiệm thu chất lượng
Có thể xảy ra các trường hợp sau đây:
- Sau khi xem xét đối tượng nghiệm thu không phát hiện có vấn đề gì nghi ngờ về chất lượng, đồng thời mọi vật liệu và sản phẩm sử dụng trong thi công đều có kèm theo đầy
đủ các chứng chỉ xác định chất lượng hợp chuẩn, thì cho phép nghiệm thu, không cần tiến hành kiểm định lại
- Trường hợp đối tượng nghiệm thu, mặc dù kèm theo có đầy đủ các văn bản và chứng chỉ xác nhận chất lượng là đảm bảo, nhưng qua xem xét trực tiếp trên hiện trường,
phát hiện tồn tại khuyết tật (trên một số chi tiết hay bộ phận sản phẩm hoặc kết cấu)
hay một số biểu hiện khác gây nghi ngờ về chất lượng bên trong (Như hiện tượng rỗ, cong vênh, sứt mẻ ) Khi đó cần tiến hành kiểm định lại với mục tiêu xác định rõ chất lượng của cấu kiện, đối tượng cần nghiệm thu để làm căn cứ nghiệm thu
Yêu cầu thực hiện kiểm định đối với sản phẩm với những lý do xác đáng như: Phát hiện việc thực hiện không đầy đủ các bước quy định quan trọng trong công nghệ thi công trên hiện trường; sản phẩm thi công thiếu xác nhận đầy đủ của các đơn vị liên quan như tư vấn thiết kế, tư vấn giám sát ở những khâu cần thiết; Phát hiện sự không phù hợp giữa kết quả thử nghiệm kiểm tra chất lượng vật liệu và cấu kiện so với yêu
cầu thiết kế hoặc tiêu chuẩn áp dụng v.v (Kể cả khi những biểu hiện trên bề mặt
ngoài của sản phẩm hoặc kết cấu công trình là bình thường) Khi đó cần thực hiện
kiểm định để làm căn cứ nghiệm thu với kết quả xác định chất lượng là thỏa mãn yêu cầu thiết kế hoặc tiêu chuẩn áp dụng và giải thích rõ những vấn đề tồn tại kể trên
Trang 28Đối với công trình có quy mô tương đối lớn hoặc có những kết cấu phức tạp, sử dụng sản phẩm lần đầu mang tính thử nghiệm về nội dung thiết kế hay công nghệ sản xuất v.v Trong quá trình thi công, đã thực hiện đầy đủ các khâu kiểm tra, có đủ mọi văn bản kỹ thuật kèm theo xác nhận chất lượng sản phẩm Trường hợp này, việc thực hiện
kiểm định chất lượng sẽ mang tính kiểm tra xác suất (Phạm vi kiểm định là sản phẩm
hay cấu kiện, chi tiết được chỉ định bất kỳ trên công trình) để một lần nữa khẳng
định chất lượng trước khi quyết định nghiệm thu công trình hoặc quyết định áp dụng thi công đại trà
Đối với công trình có yêu cầu an toàn cao về sử dụng, môi trường, công trình có đông người sử dụng tập trung, nhằm đảm bảo an toàn tối đa cho con người cần kiểm định chất lượng công trình, bộ phận công trình thông qua thử tải, chạy thử liên động các hệ thống liên quan đến an tòan sử dụng như : hệ thống thoát hiểm, hệ thống phòng cháy chữa cháy, hệ thống điện, hệ thống điều không, hệ thống điều khiển thông minh công trình và các giải pháp đảm bảo an toàn môi trường
Kiểm định công trình xây dựng trong quá trình sử dụng
Kiểm định chất lượng công trình đang sử dụng phục vụ bảo trì, cải tạo, sửa chữa hoặc nâng cấp công trình đang và sẽ là khối lượng công việc đòi hỏi nhiều nhất đối với các
tổ chức tư vấn chuyên về kiểm định
Để chẩn đoán kết cấu và công trình nhằm mục đích xem xét duy trì, cải tạo, sửa chữa hoặc bảo trì công trình, người kỹ sư phải dựa trên kết quả kiểm định về vật liệu xây dựng, phân tích kết cấu, các phương pháp đo đạc kiểm tra, sự hiểu biết về quy luật của quá trình suy thoái, ăn mòn vật liệu và kết cấu… Để chẩn đoán chính xác, cần phải thu thập các thông tin về lịch sử xây dựng và khai thác công trình, những hư hỏng đã sửa chữa đã làm trong quá khứ đối với công trình đang xét Kết quả công tác kiểm tra thường xuyên, kiểm tra hàng năm và kiểm tra chi tiết có số liệu của công tác kiểm định đối với công trình là những thông tin hết sức quan trọng cho chuẩn đoán kỹ thuật đối với một công trình
Một lần nữa, vai trò của công tác kiểm định là rất quan trọng và không thể thiếu trong giai đoạn khai thác sử dụng công trình Kết quả kiểm nghiệm về cơ học đối với vật liệu
Trang 29và kết cấu, các thí nghiệm không phá hoại là căn cứ để chuẩn đoán kỹ thuật về thực trạng chất lượng công trình
Kiểm định phục vụ công tác bảo trì công trình xây dựng
Đối với bất kỳ một công trình xây dựng nào, ngay từ thời gian bắt đầu sử dụng khai thác và trong suốt thời gian tồn tại của nó, phải có sự quản lý chất lượng chặt chẽ và được bảo trì thường xuyên theo định kỳ nhằm khôi phục chất lượng trở về trạng thái ban đầu của công trình
Theo khoản 5 điều 40 Nghị định 46/2015/ NĐ-CP ngày 12/05/2015 của Bộ Xây dựng:
Về quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng:
“Kiểm định chất lượng công trình phục vụ công tác bảo trì được thực hiện trong các trường hợp sau:
a) Kiểm định định kỳ theo quy trình bảo trì công trình đã được phê duyệt;
b) Khi phát hiện thấy chất lượng công trình có những hư hỏng của một số bộ phận công trình, công trình có dấu hiệu nguy hiểm, không đảm bảo an toàn cho việc khai thác, sử dụng;
c) Khi có yêu cầu đánh giá chất lượng hiện trạng của công trình phục vụ cho việc lập quy trình bảo trì đối với những công trình đã đưa vào sử dụng nhưng chưa có quy trình bảo trì;
d) Khi cần có cơ sở để quyết định việc kéo dài thời hạn sử dụng của công trình đối với các công trình đã hết tuổi thọ thiết kế hoặc làm cơ sở cho việc cải tạo, nâng cấp công trình;
đ) Khi có yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng”
Tiến hành theo dõi công trình thường xuyên nhằm đề phòng hư hỏng ở một số chi tiết,
bộ phận công trình; phát hiện có hư hỏng và xuống cấp ở một số bộ phận công trình nhằm khôi phục chất lượng về trạng thái ban đầu, nếu hư hỏng xảy ra mà đơn vị chủ
sở hữu quản lý công trình không có người đủ trình độ thực hiện kiểm tra và phát hiện chúng thì cần mời đơn vị tư vấn có chuyên môn phù hợp thực hiện kiểm định
Trang 30Đối với các công trình xây dựng dân dụng, trải qua thời gian dài sử dụng và khai thác cũng đều xuất hiện những biến động về hình dạng bên ngoài cũng như chất lượng bên trong kết cấu Trong môi trường tự nhiên và môi trường sử dụng, tùy thuộc loại vật liệu và tính chất làm việc của cấu kiện mà chất lượng của chúng bị suy giảm với tốc độ phong hóa theo thời gian có khác nhau Một số hiện tượng phong hóa như ăn mòn, rỉ, nứt, bong tróc, mục mủn bề mặt v.v cũng không xảy ra giống nhau ở mỗi công trình, thậm chí ở mỗi vùng hay khu vực trên kết cấu v.v trên kết cấu công trình dần dần xuất hiện hư hỏng và khuyết tật Tình trạng này tồn tại càng kéo dài, hư hỏng sẽ càng nặng
nề phạm vi xuống cấp ngày càng mở rộng hơn Vì vậy, công tác sửa chữa chống xuống cấp những công trình cũ luôn được đặt ra đối với mọi loại công trình Kết quả kiểm định sẽ xác định rõ vị trí, vùng miền hoặc khu vực nào đang tồn tại khuyết tật, đánh giá độ lớn và phạm vi ảnh hưởng cùng nguyên nhân liên quan đến chúng Căn cứ vào đó, việc thi công sửa chữa chống xuống cấp sẽ thực hiện một cách hiệu quả
Kiểm định phục vụ cải tạo, nâng cấp công trình
Trong quá trình khai thác công trình, không phải bao giờ nội dung sử dụng cũng theo đúng nhiệm vụ đặt ra do thiết kế quy định ban đầu Hoặc là nhu cầu sử dụng công trình thay đổi so với thiết kế ban đầu
- Cải tạo theo yêu cầu thay đổi tiện nghi, điều kiện sử dụng
Không phân biệt chủng loại công trình, trong quá trình khai thác, luôn xuất hiện yêu cầu thay đổi về tiện nghi và điều kiện sử dụng Trong đó có thể kéo theo sự biến động
về bố trí lại không gian, xắp xếp lại diện tích mặt bằng công trình; chuyển vị trí tải trọng sử dụng hoặc tăng giảm trị số tác dụng của chúng v.v Từ đó làm thay đổi sơ đồ làm việc của cấu kiện hoặc bộ phận kết cấu chịu lực Yêu cầu cải tạo khi đó nhằm mục tiêu đáp ứng những yêu cầu sử dụng mới, vừa làm cho công trình đẹp lên mà vẫn đảm bảo an toàn về mặt chịu lực Chính vì thế cần phải có công tác kiểm tra đánh giá, khảo sát để tính toán lại cho phù hợp với công năng sử dụng
- Cải tạo theo yêu cầu thay đổi nội dung, công năng sử dụng mới
Đó là trường hợp công năng sử dụng có sự thay đổi mà theo thiết kế ban đầu hay công trình hiện tại không đáp ứng đủ Mặc dù bản thân kết cấu công trình vẫn trong tình
Trang 31trạng làm việc bình thường Có thể nêu ví dụ : Cải tạo nhà làm việc thành nhà ở căn
hộ, thay đổi tầng thương mại thành căn hộ - cần bố trí bổ sung các tường ngăn gian, đặt mới khu WC, bếp, hệ thống kỹ thuật cấp thoát nước v.v; Cải tạo nhà xưởng cho phù hợp với thay đổi mặt hàng, áp dụng công nghệ mới nhằm thỏa mãn sự xắp xếp lại dây chuyền sản xuất, bố trí lại máy móc thiết bị , thay đổi vị trí lắp đặt hệ thống kỹ thuật kèm theo v.v
Nhiều công trình là nhà ở, nhà làm việc có nhu cầu cải tạo mở rộng diện tích, thay đổi không gian sử dụng Tùy theo nhiệm vụ cải tạo và đặc điểm công trình, có thể ngoài yêu cầu trên, còn có thể tăng thêm diện tích bằng cách: Mở rộng thêm một phần mặt bằng của nhà cũ; cơi nới thêm một số tầng mới hoặc kết hợp cả hai Quy mô cải tạo trong trường hợp này thường khá lớn Vi rằng công trình sau cải tạo sẽ hầu như đổi mới hoàn toàn
Chính vì thế cần có công tác khảo sát, kiểm tra đánh giá thật kỹ lưỡng và cẩn thận Khi
đó, công tác kiểm định là cần thiết và cho tính chính xác cao Kết quả kiểm định hiện trạng chất lượng công trình sẽ cung cấp các thông tin và số liệu đầu vào cho thiết kế và thi công cải tạo, chọn giải pháp cấu tạo phù hợp, vừa đảm bảo an toàn cho công trình, vừa thỏa mãn yêu cầu của công năng sử dụng mới
1.2.3 Các mô hình tổ chức thực hiện công tác kiểm định chất lượng công trình
Về công tác QLCLCTXD ở nước ta hiện nay đã và đang được Quốc hội, các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền rất quan tâm sâu sát đặc biệt là những năm gần đây Như việc ban hành Luật xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18/06/2014 – Quy định về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, các nhân và quản lý nhà nước trong hoạt động đầu tư xây dựng Kèm theo đó là các Nghị định, thông tư hướng dẫn
cụ thể các điều, mục của Luật xây dựng như:
Nghị định số 46/2015/NĐ-CP của Chính Phủ ngày 12/05/2015 về Quản lý chất lượng
và bảo trì công trình xây dựng;
Nghị định số 59/2015/NĐ-CP của Chính Phủ ngày 18/06/2015 Về quản lý dự án đầu
tư xây dựng;
Trang 32Nghị định số: 42/2017/NĐ-CP của Chính Phủ ngày 05/04/2017 Về sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18/06/2015 của Chính Phủ về quản lý
dự án đầu tư xây dựng;
Nghị định số 100/2018/NĐ-CP của Chính Phủ ngày 16/07/2018 của Chính Phủ về việc Sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh thuộc các lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Xây dựng;
Thông tư 17/2016/TT-BXD của Bộ Xây dựng ngày 30/6/2016 về việc Hướng dẫn về năng lực tổ chức cá nhân tham gia hoạt động xây dựng;
Thông tư số 18/2016/TT-BXD của Bộ Xây dựng ngày 30 tháng 06 năm 2016 quy định chi tiết và hướng dẫn một số nội dung về thẩm định, phê duyệt dự án và thiết kế, dự toán xây dựng công trình;
Thông tư số 24/2016/TT-BXD của Bộ Xây dựng ngày 01 tháng 09 năm 2016 Sửa đổi,
bổ sung một số điều của các thông tư liên quan đến quản lý dự án đầu tư xây dựng; Thông tư số 26/2016/TT-BXD của Bộ Xây dựng ngày 26/10/2016 Quy định chi tiết một số nội dung về quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng;
Cơ quan quản lý nhà nước đã đưa ra những quy định mới và ngày càng hoàn thiện hơn
về QLCLCTXD trong đó quản lý về năng lực và tổ chức cá nhân tham gia hoạt động xây dựng
Theo danh sách trên trang web của Cục Quản lý hoạt động xây dựng – Bộ Xây dựng
(http://hdxd.xaydung.gov.vn/cqlhdxd/danh-sach-nha-thau.html) thì từ khi Thông tư
17/2016/TT-BXD ngày 30/6/2016 có hiệu lực đến thời điểm này có khoảng hơn 7000 đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp đã được kiểm duyệt và cấp chứng chỉ năng lực hoạt động xây dựng và có khoảng hơn 7000 cá nhân cũng đã được cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng Trong số các đơn vị tổ chức, cá nhân đã được kiểm duyệt cấp chứng chỉ hoạt động xây dựng thì có rất nhiều cá nhân, tổ chức có hành nghề về lĩnh vực Kiểm định chất lượng công trình Có rất nhiều phòng thí nghiệm chuyên ngành cũng đã được cấp phép để hoạt động phục vụ các công tác kiểm định
Hệ thống tổ chức đảm bảo CLCTXD ở nước ta hiện nay đang đi theo xu thế tạo ra năng lực về pháp chế và kỹ thuật để tập trung chú ý vào việc kiểm định đánh giá chất
Trang 33lượng ở tất cả các giai đoạn nhằm đảm bảo mọi đầu vào đều có chất lượng và có khả năng đáp ứng tốt nhất yêu cầu đặt ra đối với chất lượng công trình xây dựng Quá trình được thể hiện qua các khâu:
- Thẩm định quy hoạch và thiết kế xây dựng trước khi triển khai thi công xây dựng;
- Kiểm định vật liệu, chế phẩm và thiết bị của công trình xây dựng: Do các tổ chức Kiểm định xây dựng thực hiện;
- Tổ chức kiểm tra giám sát hiện trường: Do Chủ đầu tư và các tổ chức tư vấn giám sát chất lượng xây dựng thực hiện;
Quy trình thực hiện Tiêu chí thực hiện
Hình 1.6 Mô hình thực hiện công tác kiểm định chất lượng công trình
Luật Xây dựng
Hệ thống văn bản
pháp luật
Hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn
Kiểm định công trình
xây dựng
Mô hình quản lý chất lượng công tác kiểm định
Trang 34Một số hình ảnh về công tác kiểm định chất lượng công trình dân dụng
Hình 1.7: Dự án: Khu nhà ở phục vụ tái định cư phường Phú Mỹ, quận 7, thành phố
Hồ Chí Minh
Hình 1.8 Kiểm định chất lượng công trình xây dựng nhà chung cư tại Hà Nội
Trang 35Hình 1.9 : Công tác khảo sát vết nứt sàn công trường tại Hà Nội
Hình 1.10: Bắn súng bật nẩy cấu kiện sàn
Trang 36Hình 1.11: Siêu âm cấu kiện bê tông
Hình 1.12: Công tác nén mẫu khoan kiểm tra cường độ bê tông
Trang 371.3 Những bài học kinh nghiệm về công tác Kiểm định chất lượng công trình xây dựng dân dụng
Quá trình thực hiện thực tế công tác kiểm định chất lượng công trình cũng như xem xét học hỏi từ các đơn vị bạn, tác giả đã rút ra được một số kinh nghiệm sau:
1.3.1 Phương pháp tổ chức, triển khai công tác kiểm định chất lượng công trình
Qua từng công trình, từng dự án, các biện pháp, phương thức thực hiện đã được hoàn thiện hơn và có tính sát thực hơn
Việc chọn phương pháp thu thập thông tin và số liệu về công trình kiểm định phụ thuộc trước hết vào việc xác định lượng thông tin, nội dung khảo sát chúng, đặc điểm
và mức độ phức tạp của kết cấu công trình
- Quan sát trực tiếp bằng mắt thường kết hợp sử dụng phương tiện khảo sát đơn giản:
Bước đầu khi tiếp cận thực hiện khảo sát bề mặt ngoài công trình, nhiều thông tin có thể dễ dàng nhận biết và phát hiện ngay được bằng mắt thường, như các số liệu về kích thước hình học, tình trạng nứt, khuyết tật hư hỏng bề mặt (bong tróc, thấm dột, phong hóa bề mặt, cong vênh, xoắn vặn, tình trạng rỗ, rỉ, lỏng lẻo liên kết ) Thông tin thu thập có thể vừa định tính, vừa định lượng hoặc chỉ là cần định tính Vì vậy, để thu thập những thông tin dạng này, khi cần thiết có thể kết hợp sử dụng một số phương tiện, dụng cụ đo đơn giản (thước đo các loại, dây dọi, kính lúp, ống soi nứt v.v.)
- Tiến hành đồng thời nhiều phương pháp độc lập:
Ta biết rằng mỗi phương pháp kiểm tra, thử nghiệm đều có phạm vi và điều kiện áp dụng nào đó Mặt khác, kết quả nhận được bao giờ cũng chứa đựng sai số nhất định
Vì vậy, trường hợp cho phép và cần thiết, nên áp dụng đồng thời hai hoặc nhiều phương pháp khảo sát thu thập đối với một số thông tin quan trong (chẳng hạn kết hợp lấy số liệu từ phương pháp thí nghiệm phá hủy mẫu thử và phương pháp thí nghiệm không phá hủy, giữa tính toán lý thuyết và kiểm tra bằng thí nghiệm thử tải trực tiếp trên sản phẩm hoặc kết cấu công trình…) Từ kết quả nhận được, khi tiến hành xử lý
số liệu, có đầy đủ lượng thông tin để chọn lọc, đảm bảo độ tin cậy, độ chính xác cần thiết
- Sử dụng đồng thời nhiều phương tiện thu thập và ghi nhận thông tin khác nhau:
Trang 38Thực tế cho thấy để hình thành một nhận xét, đánh giá nào đó, phải xem xét rất nhiều
số liệu và thông tin vừa thu thập được Khi đưa ra kết luận phải xem xét ở nhiều biểu hiện khác nhau của chúng Ví dụ, khi đánh giá về mức độ độ ổn định của công trình, ngoài việc xem xét công trình có xảy ra lún, nghiêng không, còn kết hợp xem xét tình trạng nứt, những biểu hiện khuyết tật khác như hiện trạng bong tróc, thấm dột…trên công trình Như vậy là đồng thời ta phải thực hiện kiểm tra độ thẳng đứng, xác định mức độ lún, lún không đều (ghi nhận bằng các số liệu đo); Khảo sát tình trạng nứt: vị trí nứt, độ dài vết nứt, chiều nứt, mật độ các vết nứt…(ghi nhận bằng hình vẽ, sơ đồ, ảnh chụp); Khảo sát tình trạng khuyết tật hư hỏng cục bộ gây giảm yếu tiết diện làm việc cấu kiện v.v…(ghi nhận bằng sơ đồ, ảnh chụp, nhận xét, ghi chú)
Tóm lại, có thể nêu rất nhiều phương pháp khác nhau khi thực hiện khảo sát thu thập thông tin trong kiểm định Vấn đề không kém phần quan trong đến kết quả khảo sát là khả năng đáp ứng về năng lực trang thiết bị sử dụng trong khai thác thông tin Cuối cùng là vai trò của con người thực hiện khảo sát : trình độ chuyên môn và năng lực chuyên nghiệp trong quá trình thực hiện khảo sát thông tin…
1.3.2 Các giai đoạn của công tác Kiểm định chất lượng công trình xây dựng
Trình tự thực hiện kiểm định chất lượng sản phẩm, công trình xây dựng bao gồm 3 giai đoạn: Giai đoạn 1 (khảo sát), giai đoạn 2 (xử lý số liệu), giai đoạn 3 (đánh giá, kết luận và kiến nghị)
Giai đoạn 1: Khảo sát, kiểm tra, thu thập số liệu và thông tin về đối tượng khảo sát
(vật liệu, sản phẩm, công trình xây dựng )
Trong giai đoạn này đơn vị kiểm định thực hiện thu thập thông tin bằng cách tiến hành các hoạt động khảo sát, kiểm tra, thử nghiệm, định lượng những tính chất đặc trưng của sản phẩm hoặc công trình xây dựng bởi các chuyên gia có năng lực và kinh nghiệm
Khảo sát là việc thu thập thông tin như: đo kích thước, đo cường độ, đo hiện trạng cấu kiện, đo dò tìm các khuyết tất của kết cấu, đo cấu trúc bên trong của kết cấu, khảo sát
đo vẽ các yếu tố cấu thành cấu trúc và nhiều dạng phương tiện khác nữa như: hình vẽ,
sơ đồ, các ký hiệu, ảnh chụp, lời ghi chú, nhận xét kèm theo v.v
Trang 39Giai đoạn 2: Xử lý số liệu và thông tin
Sau khi hoàn thành công việc khảo sát, chuyển sang giai đoạn xử lý thông tin vừa thu thập được Đó là việc “tổng hợp, phân tích, tính toán và so sánh chúng với quy định của thiết kế và tiêu chuẩn áp dụng”
Trong giai đoạn này, cần thực hiện quá trình chọn lọc để lược bỏ đi những số liệu hay thông tin nào mang tính dị thường, bất hợp lý, nằm ngoài quy luật Sau đó, chỉ còn giữ lại những thông tin nào là đại diện cho nội dung khảo sát, phản ánh trực tiếp các đặc trưng kỹ thuật hay tính chất của đối tượng kiểm định Kết quả tổng hợp, phân tích, tính toán và so sánh chúng với quy định của thiết kế và tiêu chuẩn áp dụng sẽ được trình bày theo một trình tự nhất định
Nhưng đối với công trình xây dung nói chung thì đến đây, công việc kiểm định mới chỉ hoàn thành một phần việc quan trọng là đưa những số liệu và thông tin hỗn tạp, rời rạc, phản ánh tính chất thuộc phạm vi cục bộ, bộ phận về trạng thái hệ thống, xắp xếp theo một trật tự và quy luật nhất định Nhìn vào các kết quả sau khi xử lý xong, mọi tính chất cần khảo sát về đối tượng kiểm định được bộc lộ một cách đầy đủ và rõ nét
Giai đoạn 3: Đánh giá, kết luận và kiến nghị
Đây là giai đoạn kết thúc công tác kiểm định Trong giai đoạn này, mọi vấn đề đặt ra trong nhiệm vụ và mục tiêu kiểm định phải được giải quyết và trả lời một cách thỏa đáng
Trước hết, việc đánh giá và kết luận phải lấy căn cứ ở kết quả xử lý thông tin, rút ra từ giai đoạn 2, đồng thời dựa trên cơ sở những yêu cầu của thiết kế và quy định của tiêu chuẩn áp dụng
Nội dung đánh giá có thể là mức độ phù hợp, sự đáp ứng là tích cực hay tiêu cực của những chỉ tiêu cần đạt (kích thước hình học, cấu tạo, chất lượng ) của sản phẩm hoặc công trình so với yêu cầu của thiết kế và quy định của tiêu chuẩn liên quan Kết quả đánh giá phải làm nổi bật bản chất sự việc, đặc tính hay hiện trạng làm việc và chất lượng của đối tượng kiểm định tại thời điểm kiểm tra
Nội dung kết luận là những trả lời trực tiếp đối với mục tiêu đặt ra trong kiểm định (chẳng hạn: kết luận về khả năng nghiệm thu công trình; về khả năng đưa công trình
Trang 40vào sử dụng - khai thác; về khả năng sửa chữa, cải tạo công trình; về nguyên nhân gây nên sự cố v.v)
Cách diễn đạt nội dung đánh giá và kết luận không thể chung chung, mà phải thật mạch lạc, rõ ràng, sao cho người đọc không thể hiểu theo nhiều ý khác nhau hoặc trái ngược nhau
Trong một số trường hợp, khi thấy cần thiết, người viết báo cáo kiểm định có thể đề xuất kiến nghị tiếp theo những đánh giá và kết luận vừa nêu Kiến nghị cũng có thể là
ý nhấn mạnh về sự cần thiết phải giải quyết trong xử lý những khiếm khuyết đang tồn tại được coi là quan trọng, nhằm đảm bảo an toàn về mặt chịu lực, hoàn thiện hơn về tính mỹ thuật của công trình Có những kiến nghị chứa đựng tính cấp thiết, tính bắt buộc hoặc không thể bỏ qua, cần được giải quyết trong khoảng thời gian nhất định v.v Cũng có những kiến nghị mà việc đáp ứng nó còn tùy thuộc vào bên đặt hàng kiểm định hoặc các đối tác liên quan như chủ đầu tư, nhà thầu, đơn vị tư vấn thiết kế, người
sử dụng v.v
1.3.3 Một số tồn tại chủ yếu của các công trình, dự án
Qua công tác kiểm tra, kiểm định ở các thời kỳ, giai đoạn của dự án: Giai đoạn chuẩn
bị đầu tư; giai đoạn thi công; giai đoạn đưa công trình vào sử dụng, giai đoạn duy tu bảo dưỡng, sửa chữa nâng cấp Thường thấy một số tồn tại sau:
- Công tác khảo sát, thiết kế: Quá trình khảo sát phục vụ thiết kế ở một số công trình chưa tuân thủ theo quy định, dẫn đến việc thiết kế xây dựng của công trình có tính chính xác không cao, chính vì thế công tác triển khai thi công, áp dụng các quy chuẩn, tiêu chuẩn không hợp lý, gây nún, nứt, nghiêng công trinh
- Việc lựa chọn các nhà thầu, đơn vị thi công không đảm bảo dẫn đến việc nhiều nhà thầu không đủ năng lực, kinh nghiệm chưa phù hợp để thực hiện công tác thi công tại các dự án, công trình dẫn đến nhiều thiếu sót trong thi công, xử lý tình huống sự cố không đảm bảo, gây ảnh hưởng đến chất lượng công trình
- Nhà thầu không đủ năng lực về chuyên môn cũng như tài chính dẫn đến nhiều hệ lụy trong quá trình thi công, gây ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng công trình xây dựng như: Thi công không đúng bản vẽ thiết kế được phê duyệt, do kỹ sư thiếu kinh