1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp quản lý chất lượng xây dựng công trình thủy lợi tại Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

77 48 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 1,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quản lý chất lượng công trình là nhiệm vụ của các đơn vị tham gia vào quá trình hình thành nên sản phẩm xây dựng bao gồm: Chủ đầu tư, nhà thầu, các tổ chức và cá nhân liên quan trong côn

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tác giả Các kết quả nghiên cứu và các kết luận trong Luận văn là trung thực, không sao chép từ bất kỳ một nguồn nào và dưới bất kỳ hình thức nào Việc tham khảo các nguồn tài liệu đã được thực hiện trích dẫn và ghi nguồn tài liệu tham khảo đúng quy định

Tác giả Luận văn

Trần Thị Quyên

Trang 2

Đến nay tác giả đã hoàn thành luận văn thạc sỹ với đề tài: “Một số giải pháp quản lý chất lượng xây dựng công trình thủy lợi tại Phòng Nông nghiệp & PTNT huyện Định Hóa” chuyên ngành Quản lý xây dựng

Do hạn chế về mặt thời gian, kiến thức khoa học và kinh nghiệm thực tế nên trong quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn, chắc chắn khó tránh khỏi những thiếu sót Tác giả rất mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo của các thầy giáo, cô giáo và các bạn đồng nghiệp

Trang 3

MỤC LỤC

DANH MỤC HÌNH ẢNH vi

DANH MỤC BẢNG BIỂU vii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT viii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 2

5 Kết quả dự kiến đạt được 2

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH 3

1.1 Khái niệm quản lý chất lượng công trình xây dựng 3

1.2 Vai trò của quản lý chất lượng công trình xây dựng 3

1.2.1 Nội dung hoạt động quản lý chất lượng công trình thủy lợi theo các giai đoạn của dự án 4

1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng công trình thủy lợi 5

1.3 Tình hình quản lý chất lượng công trình thủy lợi ở nước ta trong thời gian qua 10 1.3.1 Những bất cập trong công tác quản lý dự án xây dựng 10

1.3.2 Đánh giá chung về hiện trạng quản lý chất lượng công trình thuỷ lợi của nước ta 15

1.4 Kết luận chương 1 20

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG 21

2.1 Cơ sở pháp lý quản lý chất lượng công trình xây dựng thủy lợi 21

2.1.1 Hệ thống văn bản Luật trong hoạt động xây dựng 21

2.1.2 Hệ thống văn bản dưới Luật 21

2.2 Công tác quản lý chất lượng công trình thủy lợi 22

2.2.1 Quản lý chất lượng khảo sát xây dựng 22

2.2.2 Quản lý chất lượng thiết kế công trình xây dựng 25

2.2.3 Quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình xây dựng 29

Trang 4

2.3 Các phương pháp quản lý chất lượng công trình xây dựng 36

2.3.1 Lập kế hoạch quản lý chất lượng công trình xây dựng 36

2.3.2 Lập hệ thống quản lý chất lượng 38

2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng công trình thủy lợi 7

2.4.1 Nguyên nhân trực tiếp: 7

2.4.2 Nguyên nhân gián tiếp 9

2.5 Kết luận chương 2 41

CHƯƠNG 3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH THỦY LỢI TẠI PHÒNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN HUYỆN ĐỊNH HÓA, THÁI NGUYÊN42 3.1 Giới thiệu chung về Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Định Hóa, Thái Nguyên 42

3.1.1 Tóm tắt lịch sử hình thành 42

3.1.2 Chức năng nhiệm vụ 42

3.1.3 Bộ máy tổ chức của Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 44

3.2 Các chính sách, mục tiêu và kế hoạch về chất lượng công trình thủy lợi tại Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Định Hóa, Thái Nguyên 45

3.2.1 Các chính sách chất lượng 45

3.2.2 Mục tiêu chất lượng 46

3.2.3 Kế hoạch quản lý chất lượng 46

3.3 Công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng các công trình thủy lợi trên địa bàn huyện Định Hóa, Thái Nguyên của Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 46

3.3.1 Mô hình quản lý chất lượng công trình xây dựng 46

3.3.2 Các công trình thủy lợi do phòng quản lý qua các năm gần đây 47

3.4 Những tồn tại trong công tác quản lý chất lượng công trình của Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 1

3.4.1 Trong công tác quản lý tổ chức nhân sự 1

3.4.2 Trong quá trình lập khảo sát thiết kế 1

3.4.3 Trong quá trình thẩm định thiết kế 4

3.4.4 Trong việc giám sát thi công 4

3.4.5 Công tác nghiệm thu 5

3.5 Nguyên nhân của những tồn tại trên 6

Trang 5

3.5.1 Về chủ đầu tư 63.5.2 Về Tư vấn khảo sát, thiết kế 73.5.3 Cán bộ giám sát của chủ đầu tư 83.6 Đề xuất một số giải pháp quản lý chất lượng các công trình tại phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Định Hóa, Thái Nguyên 93.6.1 Giải pháp nâng cao năng lực quản lý Chủ đầu tư 93.6.2 Giải pháp tăng cường quản lý chất lượng trong công tác lựa chọn nhà thầu

Error! Bookmark not defined.

3.6.3 Giải pháp tổ chức quản lý tốt công tác khảo sát 103.6.4 Giải pháp trong quản lý sản phẩm thiết kế 103.6.5 Giải pháp nâng cao chất lượng công tác thẩm tra, thẩm định bản vẽ thi công,

dự toán công trình xây dựng Error! Bookmark not defined.

3.6.6 Giải pháp kiểm tra hệ thống quản lý chất lượng của Nhà thầu thi công 113.6.7 Giải pháp trong công tác giám sát công trình xây dựng 113.6.8 Các giải pháp chất lượng trong giai đoạn thi công xây dựng 12

3.6.9 Giải pháp phối hợp giữa chủ đầu tư và nhà thầu Error! Bookmark not defined.

3.6.10 Giải pháp tăng cường công tác tuyên truyền Error! Bookmark not defined.

3.7 Kết luận chương 3 13KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 14TÀI LIỆU THAM KHẢO 16

Trang 6

DANH MỤC HÌNH ẢNH

Hình 1.1 Các giai đoạn thực hiện đầu tư xây dựng công trình 11Hình 1.2 Đập xã Quy Kỳ huyện Định Hóa 13Hình 1.3 Cầu máng số 3, thuộc gói thầu số 5, công trình hồ thủy lợi Sông Dinh 3 bị gãy sập 14Hình 1.4 Kênh tưới xã Quy Kỳ huyện Định Hóa bị gãy sập 15Hình 3.1 Sơ đồ Uỷ ban nhân dân cấp huyện quyết định trong tổng biên chế hành chính của huyện 45

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1 Các công trình thủy lợi do phòng quản lý qua các năm gần đây 1

Trang 8

ĐTPT Đầu tư phát triển

UBND Ủy ban nhân dân

NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn

TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam

QCVN Quy chuẩn Việt Nam

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Có thể nói chất lượng công trình xây dựng không những có liên quan trực tiếp đến an toàn cộng đồng, sinh mạng con người, hiệu quả của dự án đầu tư xây dựng công trình

mà còn là yếu tố quan trọng đảm bảo sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia Với vai trò hết sức quan trọng như vậy nên luật pháp về xây dựng của các nước trên thế giới đều coi đó là mục đích hướng tới Ở Việt Nam, luật xây dựng 2014 được Quốc Hội khóa XIII thông qua và có hiệu lực năm 2015, trong đó chất lượng công trình cũng là nội dung trọng tâm, xuyên suốt Luật Xây dựng và các văn bản hướng dẫn Luật về quản lý chất lượng công trình xây dựng đã được hoàn thiện theo hướng hội nhập quốc tế; các mô hình quản lý chất lượng công trình tiên tiến cũng như các chỉ tiêu kỹ thuật cũng được áp dụng một cách hiệu quả

Chất lượng công trình xây dựng không những phải đảm bảo về mặt kỹ thuật, còn đảm bảo về an toàn sử dụng, thỏa mãn các yêu cầu về xã hội, kinh tế Có được chất lượng công trình như mong muốn, có nhiều yếu tố ảnh hưởng, trong dó có các yếu tố cơ bản nhất là năng lực quản lý và năng lực của các nhà thầu tham gia các quá trình hình thành nên sản phẩm xây dựng, song trình trạng còn tồn tại về chất lượng công trình, lãng phí, đặc biệt là các dự án vốn ngân sách nhà nước

Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là đơn vị chịu sự quản lý trực tiếp của huyện ủy, UBND huyện và các ngành cấp trên có liên quan Là đơn vị quản lý nhà nước về lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn nhưng công tác quản lý chất lượng xây dựng công trình trên địa bàn huyện, đặc biệt là của chủ đầu tư còn nhiều hạn chế, nhiều công trình hoạt động chưa hiệu quả, gây lãng phí thất thoát ngân sách nhà nước Trong khi đó nhiều công trình xuống cấp, xung yếu thì việc khắc phục, sửa chữa công trình còn chậm, nhà thầu thi công làm còn hạn chế, công tác giám sát chưa thật xâu sát

Để góp phần vào việc tìm ra những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công trình thủy lợi của Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Định Hóa, Thái Nguyên trong thời gian tới, tôi đã lựa chọn đề tài: “Một số giải pháp quản lý chất lượng xây dựng công trình thủy lợi tại Phòng Nông nghiệp & PTNT huyện Định Hóa”

Trang 10

2 Mục đích nghiên cứu

- Nhằm chỉ ra được những mặt hạn chế, bất cập trong công tác quản lý chất lượng công trình thủy lợi tại Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên theo phạm vi và phân cấp quản lý

- Đề xuất một số giải pháp trong công tác quản lý về chất lượng công trình thủy lợi tại Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng: Công tác quản lý chất lượng công trình thủy lợi của chủ đầu tư

- Phạm vi nghiên cứu: Công tác quản lý chất lượng công trình thủy lợi tại Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên theo phạm vi và phân cấp quản lý

4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

- Cách tiếp cận: Tiếp cận qua các nguồn thông tin khác như sách báo, internet, qua các nghiên cứu, tài liệu đã công bố và tiếp cận qua thực tế công trình đã xây dựng;

- Phương pháp nghiên cứu:

+ Phương pháp lý thuyết;

+ Phương pháp thống kê, khảo sát: Thu thập, tổng hợp và phân tích số liệu;

+ Phương pháp tổng hợp, phân tích đánh giá

5 Kết quả dự kiến đạt được

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, luận văn cần phải nghiên cứu, giải quyết được những vấn đề sau:

- Hệ thống cơ sở lý luận về quản lý chất lượng xây dựng công trình thủy lợi trong điều kiện hiện nay Những kinh nghiệm trong quản lý chất lượng xây dựng công trình thời gian vừa qua;

- Đề xuất một số giải pháp quản lý chất lượng xây dựng công trình thủy lợi tại Phòng Nông nghiệp & PTNT huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên

Trang 11

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH

1.1 Khái niệm quản lý chất lượng công trình xây dựng

Chất lượng công trình xây dựng được thay đổi theo vị trí, vai trò của người đứng đầu Các hoạt động quản lý xây dựng để hướng đến các mục tiêu, mỗi chủ thể tham gia quản lý chất lượng công trình xây dựng, do vậy các nội dung về lập kế hoạch, kiểm soát sẽ khác nhau Tuy nhiên, về tổng thể chung thì đều hướng đến việc đảm bảo chất lượng công trình xây dựng

Theo quan điểm quản lý nhà nước, quản lý chất lượng công trình xây dựng là hoạt động quản lý của các chủ thể tham gia các hoạt động xây dựng theo quy định của pháp luật có liên quan trong quá trình chuẩn bị, thực hiện đầu tư xây dựng công trình khai thác và sử dụng nhằm đảm bảo các yêu cầu về an toàn và chất lượng của công trình [1]

Như vậy, dưới góc độ chủ đầu tư - một chủ thể tham gia hoạt động xây dựng, khái niệm về quản lý chất lượng xây dựng là các hoạt động như lập kế hoạch, kiểm soát, điều chỉnh, kích thích phù hợp tuân thủ theo quy định của pháp luật trong suốt quá trình từ bước chuẩn bị cho đến vận hành khai thác sử dụng nhằm đảm bảo an toàn của công trình và khai thác có hiệu quả

1.2 Vai trò của quản lý chất lượng công trình xây dựng

Công tác quản lý chất lượng các công trình xây dựng có vai trò to lớn đối chủ đầu tư, nhà thầu và các đơn vị xây dựng nói chung, vai trò đó được thể hiện như sau:

- Đối với chủ đầu tư, đảm bảo và nâng cao chất lượng sẽ đáp ứng được các yêu cầu của chủ đầu tư, tiết kiệm được vốn đầu tư và góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, tạo dựng lòng tin, sự ủng hộ của chủ đầu tư với nhà thầu, góp phần phát triển mối quan

hệ hợp tác lâu dài

- Đối với nhà thầu, việc đảm bảo và nâng cao chất lượng công trình xây dựng sẽ giảm hao phí nguyên vật liệu, nhân công, máy móc, thiết bị, , tăng năng suất lao động, đồng thời nâng cao chất lượng công trình xây dựng là tư liệu sản xuất có ý nghĩa quan trọng tới tăng năng suất lao động, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ đối với nhà thầu

Trang 12

Quản lý chất lượng công trình xây dựng là yếu tố quan trọng, quyết định sức cạnh tranh của các doanh nghiệp xây dựng

Trong thời gian qua, vốn đầu tư dành cho lĩnh vực xây dựng rất lớn, vì vậy quản lý chất lượng công trình xây dựng rất cần được quan tâm Tuy nhiên vẫn còn có những công trình chất lượng kém, bị bớt xén, rút ruột khiến dư luận bất bình, nên vấn đề cần thiết đặt

ra đó là làm sao để công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng có hiệu quả

1.2.1 Nội dung hoạt động quản lý chất lượng công trình thủy lợi theo các giai đoạn của dự án

Theo nghị định 46/NĐ-CP ngày 12/5/2015 về quản lý chất lượng công trình xây dựng, xuyên suốt các giai đoạn từ khâu khảo sát, thiết kế đến thi công và khai thác công trình [1]

Quản lý chất lượng công trình là nhiệm vụ của các đơn vị tham gia vào quá trình hình thành nên sản phẩm xây dựng bao gồm: Chủ đầu tư, nhà thầu, các tổ chức và cá nhân liên quan trong công tác khảo sát, thiết kế, thi công xây dựng, bảo hành và bảo trì, quản lý khai thác và sử dụng công trình

Hoạt động quản lý chất lượng công trình xây dựng ngoài vấn đề về quy hoạch thì chủ yếu là công tác giám sát của chủ đầu tư và các chủ thể khác, có thể gọi chung là giám sát xây dựng Nội dung công tác giám sát và tự giám sát có thể thay đổi tuỳ theo nội dung của hoạt động xây dựng cần được giám sát

Trong giai đoạn khảo sát, ngoài sự giám sát của CĐT, nhà thầu khảo sát xây dựng phải

có bộ phận chuyên trách tự giám sát công tác khảo sát

Trong giai đoạn thiết kế, nhà thầu thiết kế xây dựng công trình chịu trách nhiệm trước chủ đầu tư và pháp luật về chất lượng thiết kế xây dựng công trình Chủ đầu tư nghiệm thu sản phẩm thiết kế và chịu trách nhiệm về các bản vẽ thiết kế giao cho nhà thầu thi công xây dựng công trình

Trong giai đoạn thi công xây dựng công trình, nhất thiết phải có các hoạt động quản lý chất lượng và tự giám sát của nhà thầu thi công xây dựng; giám sát thi công xây dựng

Trang 13

công trình và nghiệm thu công trình xây dựng của chủ đầu tư; giám sát tác giả của nhà thầu thiết kế xây dựng công trình

Trong giai đoạn bảo hành, chủ đầu tư, chủ sở hữu hoặc chủ quản lý sử dụng công trình

có trách nhiệm kiểm tra tình trạng công trình xây dựng, phát hiện hư hỏng để yêu cầu sửa chữa, thay thế, giám sát và nghiệm thu công việc khắc phục sửa chữa đó Ngoài ra còn có giám sát của cộng đồng về chất lượng công trình xây dựng

Như vậy, quản lý chất lượng công trình xây dựng cần được coi trọng trong tất cả các giai đoạn từ giai đoạn khảo sát thiết kế thi công cho đến giai đoạn bảo hành của công trình xây dựng

1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng công trình thủy lợi

Lĩnh vực xây dựng cũng như các lĩnh vực khác đều có nhiều yếu tố ảnh hưởng, để phân loại, xác định các nguyên nhân và biện pháp khắc phục, thì các yếu tố ảnh hưởng được phân nhóm lại với nhau Trong phạm vi quản lý chất lượng công trình thủy lợi, yếu tố ảnh hưởng được phân thành nhóm yếu tố khách quan và nhóm yếu tố chủ quan

a Nhóm yếu tố khách quan:

Nhóm yếu tố khách quan là những yếu tố tác động từ bên ngoài, bao gồm ba yếu tố: (i) yếu tố do sự tác động bởi môi trường xung quanh, điều kiện khí hậu, thủy văn, quan điểm, thị hiếu của cộng đồng; (ii) yếu tố do sự tác động của cơ chế chính sách của Nhà nước hoặc thể chế; (iii) yếu tố do sự tác động bởi sự phát triển của khoa học công nghệ Thời tiết khắc nghiệt, mưa kéo dài, ảnh hưởng đến chất lượng, tiến độ công trình, công nhân phải làm việc đôi khi đốt cháy giai đoạn, thời gian giãn cách kỹ thuật không được như ý muốn ảnh hưởng tới chất lượng

Địa chất phức tạp, ảnh hưởng tới công tác khảo sát dẫn đến nhà thầu, chủ đầu tư, thiết kế phải bàn bạc lại, mất thời gian do thay đổi đưa ra biện pháp xử lý nền móng ảnh hưởng đến tiến độ chung của công trình Đối với các công trình yêu cầu tiến độ nhanh thì đây là một yếu tố rất bất lợi, bởi công tác xử lý nền móng thường diễn ra trong thời gian dài

Trang 14

b Nhóm các yếu tố chủ quan:

Là nhóm do những yếu tố chủ quan của các đơn vị, cá nhân tham gia hoạt động xây dựng gây ra, bao gồm các yếu tố: năng lực, kinh nghiệm tham gia trực tiếp, gián tiếp trong hoạt động xây dựng; chất lượng của vật tư, vật liệu sử dụng cho công trình xây dựng; chất lượng của thiết bị, công cụ sử dụng để xây dựng công trình; phương pháp thi công, biện pháp tổ chức thực hiện thi công, công công tác quản lý, quy trình kiểm soát chất lượng xây dựng công trình

Đơn vị thi công là chủ thể tham gia trực tiếp để chuyển đổi bản vẽ thiết kế thành sản phẩm hiện thực, vậy đơn vị thi công đóng vai trò rất quan trọng, ảnh hưởng tới công tác quản lý chất lượng đặc biệt chất lượng công trình xây dựng Bên cạnh những kỹ năng nghề nghiệp mà mỗi cá nhân, đơn vị có được (kỹ năng chuyên môn), mỗi cá nhân cũng như toàn đội đều phải được bồi dưỡng, đào tạo nhận thức về chất lượng và tầm quan trọng của công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng để họ có ý thức thực hiện nghiêm chỉnh Đồng thời hướng mọi hoạt động mà họ thực hiện đều phải vì mục tiêu chất lượng

Vật liệu xây dựng là một bộ phận quan trọng, góp phần hình thành công trình, có thể

ví như phần xương sống của công trình Chất lượng của vật liệu xây dựng là yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng tới chất lượng công trình xây dựng Vậy nguyên vật liệu xây dựng với chất lượng như thế nào thì được coi là đảm bảo?

Với tình trạng vật liệu xây dựng (xi măng, cát, đá) như hiện nay, ngoài loại tốt có thương hiệu, vẫn còn tồn tại một lượng hàng kém chất lượng, nếu sử dụng loại này sẽ gây ảnh hưởng xấu tới chất lượng công trình xây dựng, thậm chí nặng hơn là ảnh hưởng tới tính mạng con người (khi công trình đã hoàn công và được đưa vào sử dụng) Do vậy, trong quá trình thi công công trình, nếu không được phát hiện kịp thời,

vì mục đích trục lợi của công nhân ý thức kém, sẽ có hiện tượng trộn lẫn vào trong quá trình thi công Cũng vậy, đối với sắt, thép (phần khung công trình), bên cạnh những hàng tốt, chất lượng cao, có thương hiệu nổi tiếng, còn trôi nổi, tràn ngập trên thị trường còn rất nhiều hàng nhái kém chất lượng

Trang 15

Và một thực trạng nữa, các mẫu thí nghiệm đưa vào công trình, đôi khi được chứng nhận luôn mà không có thí nghiệm, do đó chất lượng vật liệu xây dựng không đảm bảo Chẳng hạn như nước trộn trong bê tông cốt thép không đảm bảo ảnh hưởng đến công tác trộn bê tông, công tác đổ bê tông không đảm bảo

Ý thức của công nhân trong công tác xây dựng rất quan trọng, nếu đội ngũ công nhân không có ý thức, chuyên môn kém, trộn tỷ lệ kết phối không đúng tỷ lệ xây dựng sẽ dẫn đến những hậu quả không lường

Biện pháp kỹ thuật thi công, các quy trình phải tuân thủ các tiêu chuẩn, quy phạm thi công, nếu không sẽ ảnh hưởng tới chất lượng công trình, các cấu kiện chịu lực sẽ không được đảm bảo Ví dụ như các cấu kiện thi công công trình đặc biệt nếu thi công không đúng trình tự, thi công khác đi, các cấu kiện sẽ không được đảm bảo dẫn đến công trình có có một vài phần chịu lực kém so với thiết kế

1.3 Những nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng công trình thủy lợi

Có 2 nguyên nhân dẫn đến các tình trạng trên: nguyên nhân trực tiếp (thuộc về các chủ thể tham gia thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình), nguyên nhân gián tiếp (thuộc về các cơ quan quản lý Nhà nước):

1.3.1 Nguyên nhân trực tiếp:

Các chủ thể tham gia QLDA không bảo đảm điều kiện năng lực theo quy định

1.3.1.1 Chủ đầu tư

Các chủ đầu tư công trình đều thành lập ban QLDA khi có dự án Bộ máy quản lý chất lượng chưa đảm bảo điều kiện năng lực, hoàn toàn ỷ lại cho cán bộ tư vấn giám sát (do chủ đầu tư thuê) Hầu hết các chủ đầu tư không thuê tư vấn quản lý dự án (Trừ những công trình của một số huyện có Ban QLDA chuyên nghiệp) Các ban QLDA do chủ đầu tư thành lập khi có công trình hầu hết là kiêm nhiệm, Đặc biệt đối với các công trình do xã làm chủ đầu tư, Ban QLDA không có cán bộ có chuyên môn về lĩnh vực xây dựng, điều kiện năng lực và sự hiểu biết về Pháp luật xây dựng cũng như công tác quản lý chất lượng xây dựng của cấp xã còn nhiều hạn chế

Trang 16

1.3.1.2 Các tổ chức tư vấn xây dựng

Công tác khảo sát, thiết kế, thẩm tra, thí nghiệm: Các đơn vị tư vấn tăng nhanh về số lượng nhưng năng lực hoạt động chuyên môn còn yếu kém, thiết bị, công nghệ của các đơn vị tư vấn chậm đổi mới, dẫn đến chất lượng hồ sơ khảo sát, hồ sơ thiết kế, chất lượng chưa cao, còn nhiều sai sót Trong thời gian qua công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực này còn bị buông lỏng, dẫn đến một bộ phận chạy theo lợi nhuận kinh

tế, hiện tượng “mượn dấu, mượn tư cách pháp nhân” đang diễn ra khá phổ biến trong hoạt động tư vấn xây dựng, chất lượng hồ sơ tư vấn chưa cao gây lãng phí về kinh tế

và chậm trễ tiến độ thi công

Công tác tư vấn giám sát: Hiện nay tư vấn giám sát công trình trên địa bàn huyện nói chung và địa bàn các xã nói riêng, vừa thiếu vừa yếu, mới thực hiện được một nhiệm

vụ là kiểm soát chất lượng công trình nhưng chưa tốt, chưa giúp chủ đầu tư về công tác kiểm tra, kiểm soát đối với công tác khảo sát, thiết kế, thí nghiệm, chưa kiểm tra được chất lượng vật tư, vật liệu đưa vào xây dựng Lợi dụng sự thiếu hiểu biết về quản

lý chất lượng xây dựng của Chủ đầu tư, nhiều đơn vị Tư vấn cử cán bộ giám sát chưa

có chứng chỉ hành nghề tư vấn giám sát, hoặc thực hiện công tác giám sát thi công không phù hợp với chứng chỉ được cấp, thiếu kinh nghiệm trong việc giám sát thi công công trình, dẫn tới chất lượng công trình không cao Tình trạng một người giám sát nhiều công trình cùng một thời gian diễn ra khá phổ biến hiện nay

Nhìn chung, chất lượng công tác tư vấn giám sát hiện nay trên địa bàn huyện, các xã còn thiếu và yếu kém, nhiều công trình mang tính chất hình thức, đối phó, hợp pháp hoá thủ tục quản lý chất lượng để thanh quyết toán Nhiều công trình tư vấn giám sát được đơn vị thi công, giới thiệu, bảo lãnh với chủ đầu tư để thực hiện việc giám sát thi công nên việc giám sát thi công chưa thực sự khách quan chưa đảm bảo yêu cầu theo quy định Đặc biệt còn có những công trình, tư vấn giám sát chỉ ký hồ sơ nhưng không

có mặt thường xuyên tại hiện trường, dẫn đến chất lượng thi công công trình không đảm bảo về yêu cầu kỹ thuật

Trang 17

1.3.1.3 Các đơn vị xây lắp

Công tác đầu tư XDCB phát triển nhanh cả về qui mô và chiều sâu Các đơn vị xây lắp hiện nay tuy đã có cố gắng nhiều trong tổ chức bộ máy và đầu tư trang thiết bị phục vụ sản xuất, nhưng thực lực vẫn chưa đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn hiện nay Hình thức tổ chức thi công ở các công trình xây dựng của các nhà thầu xây dựng hiện nay chủ yếu khoán gọn cho các đội sau khi đơn vị trúng thầu Điều hành về kinh tế, tiến độ và kỹ thuật phụ thuộc năng lực của người đội trưởng từ đó dẫn đến hệ thống tổ chức đảm bảo chất lượng của doanh nghiệp không có hoặc có thành lập cũng chỉ là hình thức, hiệu lực chưa cao Công tác chỉ đạo, kiểm tra, kiểm soát để nâng cao được chất lượng xây lắp công trình bị buông lỏng (ví dụ: lập tiến độ, biện pháp, thiết bị thi công, ghi chép nhật ký công trình, thí nghiệm các loại vật tư vật liệu và bán thành phẩm đưa vào công trình) Do khoán gọn cho đội trưởng nên qui trình, quy phạm thi công chưa được kiểm soát chặt chẽ, thực hiện chưa nghiêm túc, một số công trình còn

có hiện tượng đưa vật liệu không đúng chủng loại, kém chất lượng vào công trình, sử dụng nhân công không có tay nghề được đào tạo, thiết bị thi công chưa đáp ứng được với cấp và loại công trình theo hồ sơ dự thầu Công tác thí nghiệm vật tư, vật liệu, cấu kiện bán thành phẩm để xác định chất lượng chỉ mang tính chất hình thức, đối phó nên chưa phản ánh được thực chất của chất lượng thi công

1.3.2 Nguyên nhân gián tiếp

Sự phối hợp về công tác quản lý chất lượng trong hệ thống quản lý nhà nước của các cấp, các ngành trên địa bàn tỉnh, đặc biệt là ở cấp huyện còn nhiều hạn chế Việc thực hiện các chế tài về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựng chưa kiên quyết, chưa áp dụng các được các biện pháp xử phạt nặng mang tính chất răn đe cao Hiệu quả của công tác kiểm tra sự tuân thủ các quy định của Pháp luật về quản lý chất lượng công trình hiện nay còn hạn chế do kết quả kiểm tra chỉ dừng ở mức độ nhắc nhở Đối với các công trình vốn ngân sách Nhà nước, tình trạng đầu tư dàn trải, thiếu

Trang 18

vốn, chậm vốn, dẫn đến tiến độ chậm, tạo ra những yếu tố bất lợi cho nhà thầu (trượt giá, hiệu quả quay vòng vốn ) nảy sinh hiện tượng ăn bớt chất lượng để bù lỗ

Năng lực quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng của cấp huyện chưa đáp ứng yêu cầu quản lý (kể cả số lượng và năng lực cán bộ), thiết bị máy móc và phương tiện phục vụ cho công tác quản lý thiếu thốn Công tác kiểm tra chất lượng công trình xây dựng trên địa bàn các huyện chưa được chú trọng đúng mức, công tác phổ biến, cập nhật các văn bản của Pháp luật về chất lượng công trình xây dựng chưa kịp thời

Ở cấp xã Ban QLDA không có cán bộ chuyên môn, chủ yếu là kiêm nhiệm không được đào nghiệp vụ chuyên môn Công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng ỷ lại cho Tư vấn giám sát

1.4 Tình hình quản lý chất lượng công trình thủy lợi ở nước ta trong thời gian qua

Theo thống kê của báo cáo tổng hợp kết quả điều tra về quản lý khai thác công trình thủy lợi của Tổng cục Thủy lợi, trên toàn quốc có 6.648 hồ đập, có 16.738 trạm bơm, 235.051km kênh mương (đã kiên cố 60.330 km) và có 10.209km đê sông, đê biển, bờ bao

1.4.1 Những bất cập trong công tác quản lý dự án xây dựng

Công trình xây dựng là một sản phẩm của dự án đầu tư xây dựng, được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị công trình được liên kết với đất, được xây dựng theo thiết kế Hàng năm nguồn vốn đầu tư cho xây dựng chiếm khoảng 30% GDP Vì vậy, chất lượng công trình xây dựng là vấn đề cần được hết sức quan tâm

Trong thời gian qua, cùng với sự phát triển kinh tế và khoa học kỹ thuật, chúng ta đã xây dựng được nhiều công trình xây dựng, công nghiệp, giao thông, thủy lợi…, đảm bảo chất lượng xây dựng Bên cạnh những công trình đạt chất lượng cũng còn nhiều công trình chất lượng kém không đáp ứng được yêu cầu sử dụng như sụt lún, thấm dột,

đổ sập, …, gây thiệt hại rất lớn đến tiền của và tính mạng con người Nguyên nhân dẫn đến các công trình xây dựng công trình không đảm bảo chất lượng là do hệ thống quản

lý của nhà nước trong hoạt động xây dựng còn nhiều bất cập và sự yếu kém trong công

Trang 19

tác quản lý dự án xây dựng ở nước ta hiện nay Công tác quản lý chất lượng xuyên suốt trong quá trình chuẩn bị, thực hiện, khai thác theo sơ đồ sau:

Hình 1.1 Các giai đoạn thực hiện đầu tư xây dựng công trình

1.4.1.1 Giai đoạn chuẩn bị đầu tư

Giai đoạn đầu của dự án xây dựng là ý tưởng của người có quyền lực trong cơ quan nhà nước, hoặc một cá nhân, đoàn thể, tổ chức, doanh nghiệp có khả năng góp hoặc huy động vốn vì lợi ích công và lợi ích tư đưa ra Đây là vấn đề chủ quan nên có nhiều

dự án đầu tư dàn trải, với nguồn vốn đầu tư lớn, xây dựng công trình xong không phát huy hiệu quả (Trạm bơm xã Lam Vỹ, huyện Định Hóa)

Trang 20

1.4.1.2 Giai đoạn nghiên cứu tiền khả thi

Giai đoạn này cần phân tích sự cần thiết đầu tư, dự kiến quy mô, hình thức đầu tư, lựa chọn địa điểm xây dựng, lựa chọn phương án, xác định sơ bộ tổng mức đầu tư nên vai trò của Tư vấn là rất quan trọng Hiện nay, bên cạnh những đơn vị tư vấn chất lượng vẫn còn nhiều đơn vị tư vấn năng lực hạn chế, chậm đổi mới, tính cạnh tranh thấp, dẫn đến chất lượng tư vấn đầu tư thấp nên các nhà thầu và nhà đầu tư chịu rủi ro cao

1.4.1.3 Giai đoạn nghiên cứu khả thi

Giai đoạn này cần kiểm tra lại các những căn cứ, sự cần thiết, hình thức đầu tư, phương án địa điểm, giải phóng mặt bằng, giải pháp xây dựng, vốn, khả năng tài chính, tổng mức đầu tư, tiến độ dự án Nhiều dự án chủ đầu tư chưa chú trọng đến tổng mức đầu tư, tổng tiến độ, phương án giải phóng mặt bằng, kế hoạch vốn dẫn đến dự án chậm tiến độ, tổng mức đầu tư phải điều chỉnh

1.4.1.4 Giai đoạn thiết kế

Giai đoạn này là giai đoạn đưa ý tưởng dự án thành hiện thực, cần chú trọng trong khâu khảo sát, thiết kế Nhiều Tư vấn không đủ năng lực chuyên môn vẫn nhận được hợp đồng dẫn đến các công trình thiết kế mắc lỗi, khảo sát không kỹ, thiếu số liệu thống kê, thiết kế thiếu kinh nghiệm, không tuân thủ các tiêu chuẩn quy chuẩn, làm sai sót trong hồ sơ, thông đồng với chủ đầu tư gây thất thoát tiền của nhà nước dẫn đến khó khăn trong quá trình thi công và quyết toán công trình Công trình đập xã Quy Kỳ, với kết cầu đập tràn, mặt đập thiết kế cao, nước không tràn qua đỉnh đập, không lấy được nước vào kênh

Trang 21

Hình 1.2 Đập xã Quy Kỳ huyện Định Hóa

1.4.1.5 Giai đoạn đấu thầu

Trong khâu lựa chọn nhà thầu, chủ đầu tư không đủ thông tin để đánh giá năng lực, kinh nghiệm nhà thầu Các nhà thầu đưa ra giá dự thầu thấp Nhiều nhà thầu năng lực yếu kém, không đáp ứng được yêu cầu vẫn trúng thầu dẫn đến quá trình thực hiện cắt giảm nhiều chi phí, thay đổi biện pháp thi công, bớt xén các công đoạn, không thực hiện đúng quy trình kỹ thuật, buông lỏng trong quản lý chất lượng và bằng mọi cách

để hạ giá thành sản phẩm tăng lợi nhuận bất chấp sự an toàn của người lao động

1.4.1.6 Giai đoạn thi công

Giai đoạn này, vấn đề đảm bảo chất lượng xây dựng phải luôn gắn liền với đảm bảo an toàn trong quá trình thi công Ở nước ta, vấn đề này chưa coi trọng, đặc biệt là trong quản lý nhà nước, công tác thanh kiểm tra của cơ quan nhà nước còn lỏng lẻo Khi công trình xảy ra sự cố liên quan đến an toàn trong thi công, chất lượng có vấn đề thì việc phân định trách nhiệm, xử lý vụ việc đối với các bên liên quan không rõ ràng

Lực lượng quản lý xây dựng còn mỏng, chưa đáp ứng được yêu cầu, thiếu sự phối hợp trong thực hiện quản lý chất lượng công trình xây dựng giữa tổ chức thanh tra và cơ quan quản lý nhà nước Quy định về chủ đầu tư cũng vậy, dù không đủ năng lực vẫn được giao làm chủ đầu tư công trình xây dựng, tất sẽ dẫn đến công tác quản lý dự án không đảm bảo

Trang 22

Ngoài ra vai trò của giám sát là rất quan trọng, trong khi đó công tác đào tạo đội ngũ Tư vấn giám sát (TVGS) chưa được quan tâm đúng mức dẫn đến chất lượng TVGS không đảm bảo Sự phối hợp giữa các đơn vị giám sát như TVGS, giám sát chủ đầu tư, giám sát tác giả, giám sát sử dụng, giám sát cộng đồng ở một số công trình chưa được chặt chẽ

Công tác kiểm tra, giám sát chất lượng công trình xây dựng của cơ quan nhà nước còn chưa sâu sát, ít quan tâm đến giai đoạn thực hiện dự án, chỉ chú trọng “hậu kiểm” hoặc

xử lý qua quýt sau khi sự cố công trình xảy ra Việc phân giao trách nhiệm, quyền hạn chưa rõ ràng cho các đơn vị chức năng ở các cấp Bên cạnh đó, chế tài chưa đủ mạnh, chưa mang tính răn đe, phòng ngừa cao và chưa xử lý nghiêm đối với các hành vi vi phạm về chất lượng công trình

Các sự cố công trình thủy lợi vẫn thường xuyên xảy ra như: Cầu máng số 3, thuộc gói thầu số 5, công trình hồ thủy lợi Sông Dinh 3 bị gãy sập, đập và kênh tân hợp xã Quy

Kỳ, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên

Hình 1.3 Cầu máng số 3, thuộc gói thầu số 5, công trình hồ thủy lợi Sông Dinh 3 bị

gãy sập

Trang 23

Hình 1.4 Kênh tưới xã Quy Kỳ huyện Định Hóa bị gãy sập

1.4.2 Đánh giá chung về hiện trạng quản lý chất lượng công trình thuỷ lợi của nước ta

Hiệu quả của các công trình thuỷ lợi mang lại vẫn chưa làm hài lòng các nhà quản lý, các chủ đầu tư, chưa tương xứng với năng lực công trình mà nhà nước và nhân dân đã đầu tư xây dựng Nguyên nhân chủ yếu là do sự bất cập về mô hình quản lý chất lượng công trình xây dựng và cơ chế quản lý Quản lý công trình thuỷ lợi vẫn còn theo cơ chế bao cấp,“ xin cho” đã không huy động được các tổ chức, cá nhân, các thành phần kinh tế và người được hưởng lợi tham gia đầu tư xây dựng và quản lý công trình Qua kiểm tra thực tế cho thấy còn nhiều công trình thuỷ lợi chưa đảm bảo chất lượng để xảy ra những tồn tại về kỹ thuật mà nguyên nhân chính là do có nhiều hạn chế, thiếu sót ở các bước: Khảo sát, thiết kế, thẩm tra hồ sơ, thi công xây dựng, giám sát thi công Các chủ thể tham gia hoạt động xây dựng không tuân thủ đúng các quy định pháp luật hiện hành về quản lý chất lượng công trình xây dựng Quy trình kỹ thuật trong thi công xây dựng chưa tuân thủ nghiêm túc, nhất là sử dụng chưa đúng vật liệu trong thi công Tình trạng bớt xén, quy trình quy phạm kỹ thuật thi công xây dựng chưa quản lý chặt chẽ Công tác giám sát của chủ đầu tư, của nhà thầu tư vấn giám sát còn lỏng lẻo, thiếu

Trang 24

trách nhiệm, chưa thường xuyên liên tục Việc lập các hồ sơ tài liệu về chất lượng nhất

là việc kiểm định, thí nghiệm chất lượng còn buông lỏng Năng lực của chủ đầu tư, Ban quản lý dự án, các đơn vị tư vấn, nhà thầu thi công xây dựng còn nhiều hạn chế, chưa được quan tâm củng cố kiện toàn Công tác nắm bắt về tình hình chất lượng, báo cáo chất lượng của chủ đầu tư, các Ban quản lý dự án còn chưa kịp thời, chưa đảm bảo theo đúng yêu cầu quy định, cụ thể:

a) Đối với Chủ đầu tư

Hầu hết các chủ đầu tư thành lập các Ban QLDA khi có công trình thì đều giao hoàn toàn trách nhiệm cho Ban QLDA Nhiều Ban QLDA lập ra không có chuyên môn nghiệp vụ về lĩnh vực xây dựng, sự hiểu biết về xây dựng cũng như công tác quản lý chất lượng xây dựng còn nhiều hạn chế Khi lựa chọn nhà thầu các chủ đầu tư chưa kiểm tra, kiểm soát đầy đủ thông tin về năng lực, kinh nghiệm của các nhà thầu đủ năng lực và có kinh nghiệm để tham gia thực hiện dự án Phương thức lựa chọn nhà thầu chưa phù hợp, việc lựa chọn đơn vị trúng thầu chủ yếu căn cứ vào giá dự thầu thấp nhất mà chưa tính một cách đầy đủ đến yếu tố đảm bảo chất lượng, đến hiệu quả đầu tư của Dự án Một số công trình việc tổ chức đấu thầu chỉ mang tính chất hình thức, thủ tục

b) Đối với các đơn vị Tư vấn xây dựng

Trong những năm gần đây, các đơn vị tư vấn xây dựng mọc lên và phát triển rất nhanh

về số lượng, nhưng những đơn vị thực sự có năng lực không nhiều, một số đơn vị năng lực hoạt động chuyên môn còn hạn chế, các thiết bị, công nghệ của các đơn vị tư vấn chậm đổi mới, dẫn đến chất lượng hồ sơ khảo sát, hồ sơ thiết kế, công tác giám sát, chất lượng chưa cao, còn nhiều sai sót Đánh giá về hoạt động và chất lượng một số lĩnh vực Tư vấn xây dựng, còn một số tồn tại như sau:

Về công tác khảo sát: Hiện tượng không lập nhiệm vụ khảo sát diễn ra khá phổ biến ở công trình tuyến huyện, tuyến xã, hồ sơ khảo sát của nhiều công trình không có nhật

ký khảo sát, không có nhiệm vụ và phương án khảo sát được chủ đầu tư phê duyệt Một số công trình khảo sát địa chất chưa phù hợp về vị trí hố khoan, số lượng hố

Trang 25

khoan và chiều sâu khoan Các số liệu thí nghiệm, phân tích chỉ tiêu cơ lý một số công trình không do phòng thí nghiệm hợp chuẩn thực hiện, số liệu khảo sát chưa phù hợp với thực tế, chủ trì khảo sát chưa đảm bảo điều kiện năng lực theo quy định của nghị định 46/2015/NĐ-CP [1]

Về công tác thiết kế: Các công trình có quy mô nhỏ: Phần thuyết minh tính toán kết cấu mang tính hình thức; Thực hiện không đúng hoặc không đủ các điều kiện địa chất thủy văn khi thiết kế các công trình cầu, tràn, đê, đập Các cầu, cống thiết kế định hình mà không thiết kế theo tình hình thực tế Hồ sơ không chỉ định rõ cường độ cốt thép sử dụng và không chỉ định rõ cốt liệu đá trong bê tông Đặc biệt, một số công trình, số liệu khảo sát trong hồ sơ không đúng với thực tế, hồ sơ thiết kế không có nhiệm vụ thiết kế được chủ đầu tư phê duyệt, hầu hết các hồ sơ thiết kế chưa lập quy trình bảo trì cho công trình, đơn vị thiết kế không thực hiện giám sát tác giả theo quy định Một số hồ sơ thiết kế Chủ trì thiết kế chưa đảm bảo điều kiện năng lực theo quy định của NĐ 46/2015/NĐ-CP [1]

Về công tác thẩm tra thiết kế, dự toán: Theo Nghị định 46/2015/NĐ-CP [1], Công tác thẩm tra thiết kế dự toán là do các đơn vị Tư vấn thực hiện, nhưng trách nhiệm thực hiện của tư vấn thẩm tra chưa thực hiện nghiêm túc theo quy định của Pháp luật xây dựng Những sai sót trong thiết kế tư vấn thẩm tra không phát hiện được Nhiều công trình tư vấn thẩm tra ký kết hợp đồng với chủ đầu tư thẩm tra toàn bộ từ khâu thiết kế bản vẽ thi công đến dự toán công trình, nhưng thực tế chỉ thẩm tra phần dự toán, không có hoặc nêu không đẩy đủ các nội dung thẩm tra thiết kế bản vẽ thi công Một số công trình chủ đầu tư không lưu hồ sơ năng lực về tư vấn thẩm tra Chủ trì thẩm tra không đảm bảo điều kiện năng lực theo quy định Nhiều công trình thực hiện công tác thẩm tra chỉ mang tính thủ tục, hình thức, chưa chú trọng đến chất lượng thẩm tra, các Chủ đầu tư chưa kiểm tra chặt chẽ điều kiện năng lực của đơn vị tư vấn thẩm tra Công tác kiểm tra, kiểm soát về lĩnh vực này đối với cơ quan quản lý chưa được quan tâm đúng mức

Về công tác tư vấn giám sát: Sau khi đấu thầu, công trình triển khai thi công, chất lượng xây lắp công trình được quyết định một phần chủ yếu ở khâu giám sát thi công,

tư vấn giám sát giúp các Chủ đầu tư giám sát và quản lý thực hiện dự án với nhiệm vụ:

Trang 26

Kiểm soát chất lượng công trình, khối lượng, tiến độ, giúp Chủ đầu tư trong việc phát hiện những bất hợp lý trong thiết kế, dự toán, trong tổ chức thi công, giúp Chủ đầu tư nghiệm thu, thanh quyết toán đưa công trình vào sử dụng

Thực trạng hiện nay vẫn còn tư vấn giám sát hạn chế về năng lực, hiểu biết về Pháp luật xây dựng còn hạn chế, đặc biệt là nhận thức được tầm quan trọng của công tác Quản lý chất lượng công trình xây dựng;

Một số Tư vấn giám sát chưa bám vào nhiệm vụ giám sát và hợp đồng giám sát để thực hiện công tác giám sát thi công Chưa giúp Chủ đầu tư kiểm tra điều kiện năng lực của các nhà thầu so với Hồ sơ trúng thầu (Bộ máy chỉ đạo thi công, nhân lực, máy móc, thiết bị thi công, biện pháp thi công công trình, an toàn lao động, chất lượng vật

tư, vật liệu đưa vào xây dựng ) Chưa kiểm tra, kiểm soát được Hồ sơ quản lý chất lượng: Ghi chép Nhật ký giám sát chưa thể hiện được đầy đủ công tác quản lý chất lượng của chủ đầu tư; không nhận xét hoặc không thường xuyên đánh giá chất lượng sau mỗi ngày hoặc mỗi ca làm việc trong nhật ký công trình; không kiểm tra kiểm soát các tài liệu làm căn cứ nghiệm thu dẫn đến các Biên bản nghiệm thu không đảm bảo quy định hiện hành Hầu hết các công trình Biên bản nghiệm thu công việc, giai đoạn thiếu các căn cứ nghiệm thu, và các thông số kỹ thuật thi công thực tế của đối tượng nghiệm thu, cá biệt còn có những công trình áp dụng sai tiêu chuẩn kỹ thuật Hồ sơ quản lý chất lượng chưa được quan tâm, chưa thể hiện được chất lượng thi công công trình Công tác lập hồ sơ quản lý chất lượng chỉ mang tính hình thức, chưa phản ánh được các thông số kỹ thuật thực tế của công trình

Vẫn còn một số đơn vị Tư vấn khi thực hiện nhiệm vụ giám sát không kiểm tra, kiểm soát và theo dõi chặt chẽ, hoạt động của cán bộ được cử làm công tác giám sát trực tiếp, việc lưu trữ hồ sơ quản lý chất lượng (nhật ký giám sát, các báo cáo chất lượng, các văn bản đề xuất, kiến nghị, các thay đổi bổ sung, các biên bản nghiệm thu) hầu hết chưa được các đơn vị tư vấn giám sát quan tâm

Một số đơn vị tư vấn giám sát bố trí cán bộ giám sát không đúng chuyên ngành phù hợp, chưa có chứng chỉ hành nghề giám sát, bố trí một tư vấn giám sát đồng thời trong cùng một thời điểm, giám sát nhiều công trình

Trang 27

Chưa tuân thủ qui định về điều kiện và năng lực hoạt động của Tư vấn giám sát theo nghị định 46/2015/NĐ-CP [1] dẫn đến chất lượng công tác giám sát chưa cao, giám sát chưa làm hết trách nhiệm, chất lượng công trình vẫn chưa được kiểm soát theo hồ sơ thiết kế được duyệt một cách đầy đủ

Về lĩnh vực thí nghiệm: Hầu hết các phòng thí nghiệm được kiểm tra chưa thực hiện nghiêm túc công tác quản lý theo quy định như: Chưa áp dụng kịp thời các Tiêu chuẩn

kỹ thuật về thí nghiệm vật liệu xây dựng, một số đơn vị không tổ chức lấy mẫu thí nghiệm tại hiện trường, không có mẫu lưu tại phòng thí nghiệm Bố trí cán bộ thí nghiệm chưa qua các lớp đào tạo thí nghiệm viên

c) Công tác quản lý chất lượng của các đơn vị xây lắp

Hệ thống quản lý chất lượng ở các đơn vị có qui mô lớn thực hiện tốt, các đơn vị có quy mô nhỏ không thành lập hệ thống quản lý chất lượng hoặc có thành lập cũng chỉ là hình thức, chất lượng chưa cao Nhiều đơn vị bố trí chỉ huy trưởng công trình và cán

bộ kỹ thuật, thiết bị thi công chưa đúng với hồ sơ dự thầu, chưa thực hiện nghiêm túc các cam kết trong hợp đồng xây lắp Việc lập hồ sơ quản lý chất lượng còn mang tính đối phó như: Ghi chép nhật ký công trình chưa đảm bảo quy định Công tác nghiệm thu nội bộ còn mang tính hình thức Công tác thí nghiệm vật tư, vật liệu, cấu kiện bán thành phẩm để xác định chất lượng còn mang tính đối phó Không lập bản vẽ hoàn công hoặc lập bản vẽ hoàn công không đúng quy định, chất lượng thi công một số công việc chưa đảm bảo Hồ sơ thiết kế được duyệt như:

+ Đối với công trình Thủy lợi: Quy trình thi công các lớp đất đắp chưa đảm bảo yêu cầu kỹ thuật, các công trình kênh, mương hầu hết thi công bằng ván khuôn, gạch rỗng chưa đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật hiện hành Thi công công tác đắp đất không đảm bảo trình tự kỹ thuật (chiều dày lớp đắp, máy móc đầm nén và phương pháp đầm…) Đặc biệt là các vị trí mái taluy

Công tác thí nghiệm vật tư, vật liệu, cấu kiện bán thành phẩm để xác định chất lượng một số công trình thực hiện chưa nghiêm túc, còn mang tính đối phó

Trang 28

1.5 Kết luận chương 1

Hiện nay, với sự phát triển của ngành xây dựng Việt Nam, công tác quản lý dự án ở nước ta đang dần được quan tâm đúng mức Đặt biệt, công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng ở giai đoạn thi công cũng được Nhà nước quy định chặt chẽ từ giai đoạn đấu thầu và lựa chọn nhà thầu, đến giai đoạn tổ chức thi công và quản lý chất lượng thi công và bảo hành và bảo trì công trình

Kết quả là có nhiều công trình đạt chất lượng, đảm bảo tiến độ, an toàn và phát huy hiệu quả Bên cạnh những công trình đảm bảo chất lượng cũng còn nhiều công trình không đảm bảo chất lượng, xuất phát từ những nguyên nhân chủ quan do con người và nguyên nhân khách quan bất khả kháng xảy ra

Để công tác quản lý dự án xây dựng ở nước ta phát huy được hiệu quả hơn nữa, rất cần

có một cơ chế chính sách của Nhà nước phù hợp, một môi trường pháp lý chặt chẽ, một đội ngũ Tư vấn quản lý dự án, Tư vấn giám sát chuyên nghiệp, được đào tạo bài bản và một môi trường đầu tư trong sạch, thông thoáng, tạo điều kiện để năng lực của các đơn vị tư vấn, các doanh nghiệp xây dựng được phát huy, góp phần nâng cao chất lượng công trình xây dựng

Trang 29

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG

2.1 Cơ sở pháp lý quản lý chất lượng công trình xây dựng

2.1.1 Hệ thống văn bản Luật trong hoạt động xây dựng

- Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18 tháng 06 năm 2014 [2], một số nội dung của luật đã bổ sung thêm nhiều điều khoản mới như: “Điều 7: Quy định năng lực hoạt động xây dựng, năng lực hành nghề xây dựng” , “Điều 40: Điều chỉnh dự án đầu tư xây dựng công trình có sử dụng 30% vốn nhà nước trở lên”, “Điều 40a (bổ sung vào điều 40): Giám sát, đánh giá dự án đầu tư xây dựng công trình”, “Điều 43: Quản lý chi phí dự án đầu tư xây dựng công trình”, “Điều 54: Các bước thiết kế xây dựng công trình”, và sửa đổi bổ sung 1 số điều của luật đấu thầu, sửa đổi bổ sung 1 số điều của luật đất đai, luật nhà ở

- Luật Đấu thầu số 61/2005/QH11 bộc lộ một số bất cập làm nảy sinh tiêu cực trong quá trình đấu thầu và lựa chọn nhà thầu, làm ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng công trình xây dựng Hiện nay, Luật đấu thầu số 43/2013/QH13 [3] ban hành ngày 26 tháng 11 năm 2013 được công bố vào ngày 1/7/2014 đã có nhiều thay đổi như: tạo cơ hội cho các nhà thầu cạnh tranh, quy trình lựa chọn nhà thầu cụ thể hơn, có nhiều phương pháp đánh giá, phân cấp trách nhiệm rõ ràng, quy định hành vi cấm và xử phạt theo hướng chặt chẽ hơn

- Luật đầu tư số 49/2014/QH13 [4] có nhiều thay đổi như: đơn giản hóa thủ tục hành chính, đảm bảo kinh doanh bình đẳng, tự do, tạo cơ hội nhiều hơn cho các nhà đầu tư nước ngoài và thúc đẩy đầu tư trong nước

2.1.2 Hệ thống văn bản dưới Luật

Nghị định số 46/2015/NĐ-CP [1] hướng dẫn luật xây dựng về quản lý chất lượng công trình xây dựng trong công tác khảo sát, thiết kế, thi công xây dựng; về bảo trì công trình xây dựng và giải quyết sự cố công trình xây dựng thay thế cho Nghị định 15/2013/NĐ-CP

Trang 30

Nghị định 59/2015/NĐ-CP [5], ngày 18 tháng 6 năm 2015 về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình đã thực hiện phân cấp mạnh hơn về thẩm quyền quyết định đầu tư cho cấp huyện, xã thì việc quản lý và giám sát lại thiếu chặt chẽ Mặt khác, sau khi phân bổ vốn, Chủ đầu tư có quyền thực hiện các công đoạn chuẩn bị đầu tư, phê duyệt dự án, bản vẽ, phê duyệt đấu thầu, mời thầu nên thường xảy ra tình trạng thông đồng để đấu thầu thành công

Nghị định số 37/2015/NĐ-CP [6] hướng dẫn về hợp đồng xây dựng thay thế cho Nghị định số 48/2010/NĐ-CP và Nghị định 207/2013/NĐ-CP về sửa đổi bổ sung 1 số điều của Nghị định số 48/2010/NĐ-CP về hoạt động xây dựng có nhiều nội dung chưa phù hợp Đó là việc chỉ áp dụng đối với các hợp đồng thuộc dự án sử dụng 30% vốn nhà nước trở lên; quy định giá hợp đồng trọn gói không được điều chỉnh gây khó khăn cho quá trình thực hiện; quy định về việc điều chỉnh giá hợp đồng theo đơn giá cố định và theo thời gian còn chưa phù hợp; quá trình thực hiện các loại hợp đồng theo đơn giá điều chỉnh việc kiểm tra, xác định giá vật tư, nguyên, nhiên vật liệu theo giá thị trường gặp nhiều khó khăn

Nghị định 32/2015/NĐ-CP [7] về quản lý chí phí đầu tư xây dựng công trình quy định chỉ được điều chỉnh tổng mức đầu tư khi điều chỉnh dự án là chưa phù hợp Hệ thống định mức được công bố chưa đồng bộ, thiếu nhiều định mức công tác đặc thù, công nghệ ít được đổi mới gây vướng mắc trong thanh toán hoặc tranh chấp giữa chủ đầu tư với nhà thầu hoặc cơ quan thanh tra, kiểm tra; một số định mức chi phí tỷ lệ % quy định chưa phù hợp, đặc biệt trong lĩnh vực tư vấn đầu tư xây dựng và quản lý dự án

- Nghị định 42/2017/NĐ-CP [8] sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 59/2015/NĐ-CP [7] về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình

2.2 Công tác quản lý chất lượng xây dựng công trình

2.2.1 Quản lý chất lượng khảo sát xây dựng

- Để công tác quản lý chất lượng khảo sát xây dựng đạt hiêu quả phải thực hiện các việc sau:

Chủ đầu tư phải phê duyệt nhiệm vụ khảo sát xây dựng kể cả trong trường hợp khảo sát bổ sung theo đề nghị của các nhà thầu thiết kế, khảo sát xây dựng, thi công xây

Trang 31

xây dựng do tổ chức tư vấn thiết kế hoặc nhà thầu khảo sát xây dựng lập và được chủ đầu tư phê duyệt Nhiệm vụ khảo sát xây dựng phải phù hợp với yêu cầu từng loại công việc khảo sát, từng bước thiết kế, bao gồm các nội dung: Mục đích khảo sát, phạm vi khảo sát, phương pháp khảo sát, khối lượng các loại công tác khảo sát dự kiến, tiêu chuẩn khảo sát được áp dụng và thời gian thực hiện khảo sát Nhiệm vụ khảo sát xây dựng được bổ sung trong các trường hợp sau đây:

Trong quá trình thực hiện khảo sát xây dựng, nhà thầu khảo sát xây dựng phát hiện các yếu tố bất thường ảnh hưởng trực tiếp đến giải pháp thiết kế

Trong quá trình thiết kế, nhà thầu thiết kế phát hiện tài liệu khảo sát không đáp ứng yêu cầu thiết kế

- Trong quá trình thi công nhà thầu thi công xây dựng phát hiện các yếu tố khác thường so với tài liệu khảo sát ảnh hưởng trực tiếp đến giải pháp thiết kế và giải pháp thi công, chất lượng của công trình Chủ đầu tư phải phê duyệt phương án kỹ thuật khảo sát xây dựng theo nhà thầu khảo sát xây dựng lập kể cả trong các trường hợp bổ sung nhiệm vụ khảo sát

1 Phương án kỹ thuật khảo sát xây dựng phải đáp ứng các yêu cầu phải phù hợp với nhiệm vụ khảo sát xây dựng được chủ đầu tư phê duyệt và tuân thủ các tiêu chuẩn về khảo sát được áp dụng

2 Chủ đầu tư phải thực hiện giám sát khảo sát xây dựng

Chủ đầu tư thực hiện giám sát công tác khảo sát xây dựng thường xuyên có hệ thống

từ khi bắt đầu khảo sát đến khi hoàn thành công việc Trường hợp chủ đầu tư không có

đủ điều kiện năng lực thì phải thuê tư vấn giám sát hoặc cá nhân có chuyên môn phù hợp thực hiện giám sát công tác khảo sát xây dựng

Nội dung giám sát công tác khảo sát xây dựng bao gồm:

+ Kiểm tra điều kiện năng lực hoạt động xây dựng của các nhà thầu khảo sát xây dựng

+ Theo dõi, kiểm tra vị trí khảo sát, khối lượng khảo sát và việc thực hiện quy trình khảo sát theo phương án kỹ thuật đã được phê duyệt Khi nghiệm thu thành phần công

Trang 32

tác khảo sát ngoài hiện trường và nghiệm thu hoàn thành khảo sát ngoài hiện trường phải lập biên bản theo mẫu quy định tại phụ lục số 1 và số 2 của Thông tư 06/2006/TT-BXD ngày 10/11/2006 của Bộ Xây dựng [9]

+ Theo dõi và yêu cầu nhà thầu khảo sát xây dựng thực hiện bảo vệ môi trường và các công trình xây dựng trong khu vực khảo sát, không gây tiếng ồn quá giới hạn cho phép

+ Chỉ được phép chặt cây, hoa màu khi được tổ chức, cá nhân quản lý sở hữu cây hoa màu cho phép

+ Phục hồi lại hiện trường khảo sát xây dựng

+ Bảo vệ công trình hạ tầng kỹ thuật và các công trình khác trong địa điểm khảo sát, phải bồi thường thiệt hại nếu gây tổn thất

- Chủ đầu tư yêu cầu nhà thầu khảo sát phải tự giám sát khảo sát xây dựng

Nhà thầu khảo sát xây dựng phải có bộ phận chuyên trách tự giám sát công tác khảo sát xây dựng Nội dung tự giám sát công tác khảo sát xây dựng gồm: theo dõi, kiểm tra thực hiện phương án kỹ thuật xây dựng đã được chủ đầu tư phê duyệt; ghi chép kết quả theo dõi, kiểm tra vào nhật ký xây dựng và chủ đầu tư phải nghiệm thu kết quả khảo sát xây dựng

Khi nghiệm thu báo cáo kết quả khảo sát xây dựng, chủ đầu tư căn cứ vào: hợp đồng khảo sát xây dựng nhiệm vụ và phương án kỹ thuật khảo sát đã được chủ đầu tư phê duyệt, tiêu chuẩn khảo sát xây dựng được áp dụng

Báo cáo kết qua khảo sát gồm: nội dung của nhiệm vụ khảo sát, đặc điểm, quy mô, tính chất của công trình, vị trí, điều kiện tự nhiên của khu vực khảo sát, tiêu chuẩn về khảo sát xây dựng được áp dụng, quy trình, khối lượng khảo sát, phương pháp và thiết

bị khảo sát, phân tích số liệu, đánh giá kết quả khảo sát, đề xuất giải pháp kỹ thuật phục vụ cho việc thiết kế thi công xây dựng công trình, các kết luận và kiến nghị

Nội dung nghiệm thu gồm: Đánh giá chất lượng công tác khảo sát so với nhiệm vụ khảo sát xây dựng, tiêu chuẩn khảo sát được áp dụng, nghiệm thu khối lượng công việc khảo sát xây dựng theo hợp đồng xây dựng đã ký kết

Trang 33

Việc nghiệm thu kết quả khảo sát xây dựng phải được lập thành biên bản bao gồm các nôi dung sau: đối tượng nghiệm thu (ghi tên công việc khảo sát, bước thiết kế xây dựng công trình), thành phần trực tiếp nghiệm thu (chủ đầu tư, nhà thầu khảo sát xây dựng, nhà thầu giám sát, khảo sát xây dựng), thời gian và địa điểm nghiệm thu, căn cứ nghiệm thu, đánh giá kết quả khảo sát xây dựng đối chiếu với nhiệm vụ khảo sát và phương án khảo sát đã được phê duyệt, kết luận nghiệm thu (chấp nhận hay không chấp nhận, yêu cầu sửa đổi, bổ sung, hoàn chỉnh và các kiến nghị khác) và Chủ đầu tư chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc nghiệm thu báo cáo kết quả khảo sát xây dựng

Nhà thầu khảo sát xây dựng phải chịu trách nhiệm trước chủ đầu tư và pháp luật về tính trung thực và tính chính xác của kết quả khảo sát

2.2.2 Quản lý chất lượng thiết kế xây dựng công trình

- Chủ đầu tư kiểm tra nhiệm vụ thiết kế: Chủ đầu tư tự lập hoặc thuê các tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện năng lực để lập nhiệm vụ thiết kế công trình đối với công trình phải lập dự án đấu tư xây dựng và báo cáo kinh tế - kỹ thuật xây dựng theo quy định tại Luật Xây dựng [2]

Nhiệm vụ thiết kế phải phù hợp với chủ trương đầu tư đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt bao gồm các nôi dung: Mục tiêu xây dựng công trình, căn cứ lập nhiệm vụ thiết

kế, địa điểm xây dựng, yêu cầu về quy hoạch, quy mô công trình, yêu cầu về sử dụng,

kỹ mỹ thuật của công trình Tại các bước thiết kế, nhiệm vụ thiết kế có thể được bổ xung phù hợp với điều kiện thực tế để đảm bảo hiệu quả cho dự án

Nhiệm vụ thiết kế do chủ đầu tư phê duyệt là căn cứ để nhà thầu tư vấn lập dự án đấu

tư xây dựng công trình

- Chủ đầu tư kiểm tra về quy cách hồ sơ thiết kế xây dựng công trình gồm

+ Hồ sơ thiết kế bao gồm: Thuyết minh thiết kế, các bản vẽ thiết kế, các tài liệu khảo sát xây dựng liên quan, dự toán xây dựng công trình

+ Bản vẽ thiết kế xây dựng công trình phải có kich cỡ, tỉ lệ, khung tên và được thể hiện theo các tiêu chuẩn

Trang 34

+ Các bản thuyết minh, bản vẽ thiết kế, dự toán phải được đóng thành tập hồ sơ thiết

kế, có danh mục, đánh số, kí hiệu để dễ tra cứu

- Chủ đầu tư kiểm tra nôi dung thiết kế cơ sở:

+ Thiết ké cơ sở là thiết kế được thực hiện ở giai đoạn lập dư án đầu tư xây dựng công trình, nội dung thiết kế cơ sở bao gồm phần thuyết minh và phần bản vẽ

+ Phần thuyết minh thiết kế cơ sở bao gồm các nôi dung:

Giới thiệu địa điểm xây dựng, phương án thiết kế, tổng mặt bằng công trình, vị trí, quy

mô xây dựng các hạng mục công trình

Phương án công nghệ, dây chuyền công nghệ (đối với công trình yêu cầu công nghệ) Phương án kiến trúc

Phương án kết cấu chính, hệ thông kỹ thuật hạ tầng kỹ thuật chủ yếu của công trình Phương án bảo vệ môi trường, phòng chống cháy theo quy định của pháp luật

Danh mục các quy chuẩn, tiêu chuẩn chủ yếu được áp dụng

+ Phần bản vẽ thiết kế cơ sở bao gồm:

Tổng mặt bằng công trình

Sơ đồ công nghệ

Bản vẽ kiến trúc

Bản vẽ phương án kết cấu chính, hệ thống kỹ thuật, hạ tầng kỹ thuật chủ yếu của công trình

- Chủ đầu tư kiểm tra nội dung thiết kế kỹ thuật

a Thiết kế kỹ thuật là thiết kế được thực hiện trên cơ sở thiết kế cơ sở trong dự án đấu

tư xây dựng công trình được phê duyệt

b Hồ sơ thiết kế kỹ thuật phải phù hợp với thiết kế cơ sở:

Trang 35

Thuyết minh gồm các nội dung theo quy định tại nghị định của chính phủ về quản lý

dự án đấu tư xây dựng công trình, nhưng phải tính toán lại và làm rõ: phương án lực chọn kỹ thuật sản xuất, dây chuyền công nghê, so sánh các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật

Bản vẽ phải thể hiện chi tiết về các kích thước, thông số kỹ thuật chủ yếu vật liệu chính

Dự toán (tổng dự toán xây dựng công trình )

- Chủ đầu tư kiểm tra nội dung thiết kế bản vẽ thi công

a Thiết kế bản vẽ thi công phải thể hiện đầy đủ các thông số kỹ thuật, vât liệu sử dụng

và chi tiết cấu tạo phù hợp với các quy chuẩn, tiêu chuẩn áp dụng

b Hồ sơ thiết kế bản vẽ thi công gồm:

Thuyết minh phải giải thích đầy đủ các nội dung mà bản vẽ không thể hiện được để người trực tiếp thi công thực hiện theo đúng thiết kế

Bản vẽ phải thể hiện chi tiết tất cả các chi tiết của công trình, cấu tạo với đầy đủ các kích thước, vật liệu và thông số kỹ thuật

Dự toán xây dựng công trình

- Chủ đầu tư tổ chức thẩm định, phê duyệt đối với trường hợp thiết kế 3 bước

a Đối với thiết kế kỹ thuật: Chủ đầu tư tổ chức thẩm định, phê duyệt thiết kế kỹ thuật

về sự phú hợp của thiết kế kỹ thuật với thiết kế cơ sở, sự hợp lý của các giải pháp kết cấu công trình, việc lựa chọn dây chuyền và thiết bị công nghệ

Sự tuân thủ các quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng được áp dụng, các quy định về môi trường, về phòng cháy chữa cháy.Thiết kế kỹ thuật phải được chủ đầu tư đóng đấu đã phê duyệt theo mẫu phụ lục 4 của Thông tư 06/2016/TT-BXD [10]

Đánh giá mức độ an toàn của công trình

b Đối với bản vẽ thiết kế thi công: thiết kế bản vẽ thi công phải được chủ đầu tư hoặc đại diện được ủy quyền của chủ đầu tư xác nhận bằng chữ ký và đóng đấu đã phê quyệt theo Điều 5 Thông tư 06/2016/TT-BXD [10] vào từng tờ bản vẽ trước khi đưa ra

Trang 36

thi công Chủ đầu tư có thể thuê tư vấn giám sát thi công xây dựng kiểm tra thiết kế bản vẽ thi công và ký xác nhận trong bản vẽ trước khi phê duyệt

- Thẩm định, phê duyệt thiết kế bản vẽ thi công đối với các trường hợp thiết kế 2 bước

và thiết kế 1 bước

a Đối với trường hợp thiết kế thực hiện 2 bước, chủ đầu tư tổ chức thẩm định phê duyệt thiết kế bản vẽ thi công Đối với thực hiện thiết kế 1 bước, chủ đầu tư tổ chức thẩm định thiết kế bản vẽ thi công để người quyết định đầu tư phê duyệt cùng với báo cáo kinh tế kỹ thuật xây dựng công trình

b Nội dung thẩm định bản vẽ thi công

c Việc đóng đấu xác nhận bản vẽ trước khi đưa ra thi công

- Chủ đầu tư phải nghiệm thu hồ sơ thiết kế công trình

a Hồ sơ thiết kế phải được chủ đầu tư tổ chức nghiệm thu sau khi phê duyệt

b Căn cứ nghiệm thu hồ sơ thiết kế công trình: hợp đồng giao nhận thầu thiết kế, nhiệm vụ thiết kế, thực hiện các bước trước đó đã được phê duyệt, quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng được áp dụng

c Nội dung nghiệm thu: đánh giá chất lượng thiết kế, kiểm tra hình thức và số lượng

hồ sơ thiết kế xây dựng công trình

- Điều chỉnh thiết kế

a Thiết kế xây dựng công trình đã phê duyệt chỉ được phép thay đổi trong các trường hợp sau:

Khi dự án đầu tư xây dựng công trình được điều chỉnh có yêu cầu phải thay đổi thiết kế

Trong quá trình thi công xây dựng công trình, chủ đầu tư được quyền điều chỉnh thiết

kế khi phát hiện thấy nhưng yếu tố bất hợp lý sẽ ảnh hưởng đến chất lượng công trình, tiến độ thi công xây dựng, biện pháp thi công và hiệu quả đầu tư dự án

Trang 37

b Nhà thầu thiết kế có nhiệm vụ sửa đổi, bổ sung hoặc thay đổi các thiết kế bất hợp lý nếu do lỗi của mình gây ra và có quyền từ chối những yêu cầu điều chỉnh thiết kế bất hợp lý của chủ đầu tư Chủ đầu tư có quyền thuê nhà thầu thiết kế khác thực hiện sửa đổi, bổ xung thay đổi thiết kế trong trường hợp nhà thầu thiết kế ban đầu không thực hiện các việc này Nhà thầu thiết kế thực hiện sửa đổi, bổ sung thay đổi thiết kế phải chịu trách nhiệm về chất lượng những sửa đổi, bổ sung thay đổi thiết kế này

c Trường hợp thay đổi thiết kế kỹ thuật nhưng không làm thay đổi thiết kế cơ sở hoặc thay đổi thiết kế bản vẽ thi công mà không làm thay đổi thiết kế bước trước thì chủ đầu

tư được quyết định phê duyệt thay đổi thiết kế Nhà thầu giám sát thi công xây dựng được ký điều chỉnh vào thiết kế bản vẽ thi công những nội dung đã được chủ đầu tư chấp thuận và phải chịu trách nhiệm về quyết định điều chỉnh của mình

d Trường hợp điều chỉnh thiết kế không làm thay đổi địa điểm quy hoạch xây dựng, mục tiêu, quy mô hoặc không làm vượt tổng mức đầu tư đã được duyệt của công trình thì chủ đầu tư được quyền tự điều chỉnh thiết kế Những nôi dung điều chỉnh thiết kế phải được thẩm định, phê duyệt lại

2.2.3 Quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình xây dựng

Quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình bao gồm các hoạt động quản lý chất lượng của nhà thầu thi công xây dựng; giám sát và nghiệm thu công trình xây dựng của chủ đầu tư; giám sát tác giả của nhà thầu thiết kế

Nhà thầu thi công xây dựng phải có hệ thống quản lý chất lượng để thực hiện nội dung quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình

Chủ đầu tư phải tổ chức giám sát thi công xây dựng công trình theo nội dung quy định tại Điều 26 Nghị định 46/2015/NĐ-CP [1] Trường hợp chủ đầu tư không có tổ chức

tư vấn giám sát đủ điều kiện năng lực thì phải thuê tổ chức tư vấn giám sát thi công xây dựng có đủ điều kiện năng lực hoạt động xây dựng thực hiện Chủ đầu tư tổ chức nghiệm thu công trình xây dựng

Nhà thầu thiết kế xây dựng công trình thực hiện giám sát tác giả theo quy định tại Điều

28 Nghị định 46/2015/ NĐ-CP [1]

Trang 38

- Chủ đầu tư yêu cầu nhà thầu thi công phải thực hiện quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình với các nội dung sau:

Lập hệ thống quản lý chất lượng phù hợp với yêu cầu, tính chất, quy mô công trình, quy định trách nhiệm của từng cá nhân, bộ phận thi công xây dựng công trình trong việc quản lý chất lượng công trình xây dựng

Thực hiện các thí nghiệm kiểm tra vật liệu, cấu kiện, vật tư, thiết bị công trình, thiết bị công nghệ trước khi xây dựng và lắp đặt vào công trình xây dựng theo tiêu chuẩn và yêu cầu thiết kế

Lập và kiểm tra thực hiện biện pháp thi công, tiến độ thi công

Lập và ghi nhật ký thi công xây dựng công trình theo quy định

Kiểm tra an toàn lao động, vệ sinh môi trường bên trong và bên ngoài công trường Nghiệm thu nội bộ và lập bản vẽ hoàn công cho bộ phận công trình xây dựng, hạng mục công trình xây dựng và công trình xây dựng hoàn thành và báo cáo chủ đầu tư về tiến độ, chất lượng, khối lượng, an toàn lao động và vệ sinh môi trường thi công xây dựng theo yêu cầu của chủ đầu tư

Chuẩn bị tài liệu làm căn cứ nghiệm thu theo quy định tại Điều 30, Điều 31, Điều 32 Nghị định 46/2015/NĐ-CP [1] và lập phiếu yêu cầu chủ đầu tư tổ chức nghiệm thu

- Chủ đầu tư phải thực hiện giám sát chất lượng thi công xây dựng công trình với các nội dung sau:

a Kiểm tra các điều kiện khởi công công trình xây dựng theo quy định tại điều 107 của Luật Xây dựng [2]

b Kiểm tra sự phù hợp năng lực của nhà thầu thi công xây dựng công trình với hồ sơ

Ngày đăng: 02/07/2020, 16:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w