1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện quy trình quản lý chất lượng các dự án sửa chữa, nâng cấp công trình vừa và nhỏ tại Công ty

103 81 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 1,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những năm qua, công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng được các cơ quan quản lý nhà nước, các Chủ đầu tư và các đơn vị liên quan coi trọng, quan tâm chỉ đạo thực hiện.. Các

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI

KHUẤT DUY TIẾN

HOÀN THIỆN QUY TRÌNH QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÁC

DỰ ÁN SỬA CHỮA, NÂNG CẤP CÔNG TRÌNH VỪA VÀ NHỎ

TẠI CÔNG TY THỦY LỢI SÔNG TÍCH

LUẬN VĂN THẠC SĨ

HÀ NỘI, NĂM 2018

Trang 3

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI

KHUẤT DUY TIẾN

HOÀN THIỆN QUY TRÌNH QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÁC

DỰ ÁN SỬA CHỮA, NÂNG CẤP CÔNG TRÌNH VỪA VÀ NHỎ

TẠI CÔNG TY THỦY LỢI SÔNG TÍCH

Chuyên ngành: QUẢN LÝ XÂY DỰNG

Mã số: 8580302

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS Lê Văn Hùng

HÀ NỘI, NĂM 2018

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tác giả Các kết quả nghiên cứu và các kết luận trong luận văn là trung thực, không sao chép từ bất kỳ một nguồn nào và dưới bất kỳ hình thức nào.Việc tham khảo các nguồn tài liệu đã được thực hiện trích dẫn và ghi nguồn tài liệu tham khảo đúng quy định

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Người viết luận văn

Khuất Duy Tiến

Trang 6

LỜI CẢM ƠN

Tác giả trân trọng cám ơn các thầy cô giáo, các cán bộ đang công tác tại trường Đại học Thủy lợi đã đóng góp ý kiến, giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập và thực hiện Luận văn

Tác giả trân trọng cảm ơn PGS.TS Lê Văn Hùng đã tận tình hướng dẫn tác giả trong quá trình thực hiện và hoàn thiện luận văn

Tác giả trân trọng cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã luôn tạo điều kiện, động viên, cung cấp tài liệu giúp tác giả hoàn thành Luận văn

Trong quá trình nghiên cứu không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong các thầy giáo, cô giáo và các bạn đồng nghiệp chia sẻ và đóng góp ý kiến để Luận văn được hoàn thiện hơn

Trân trọng cảm ơn!

Trang 7

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN I

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC HÌNH VẼ vi

DANH MỤC BẢNG BIỂU vii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT viii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Cách tiếp cận và phương pháp nghiêncứu 2

4 Nội dung luận văn 2

5 Đối tượng và phạm vi nghiêncứu 3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG 4

1.1 Quản lý chất lượng công trình xây dựng 4

1.1.1 Định nghĩa chất lượng và quản lý chất lượng 4

1.1.2 Chất lượng công trình xây dựng và quản lý chất lượng công trình xây dựng 9

1.2 Quản lý chất lượng xây dựng công trình thủy lợi 13

1.2.1 Vai trò của thủy lợi trong quá trình phát triển của đất nước 13

1.2.2 Đặc điểm của các công trình thủy lợi 15

1.2.3 Tình hình chất lượng xây dựng công trình thủy lợi nói chung hiện nay ở nước ta 16

1.3 Thực trạng công tác quản lý chất lượng xây dựng công trình tại Việt Nam trong thời gian qua 19

1.3.1 Thực trạng công tác quản lý chất lượng xây dựng của các công trình sửa chữa, nâng cấp 19

1.3.2 Những bất cập trong công tác quản lý chất lượng 20

1.3.3 Quản lý chất lượng công trình thủy lợi của các chủ thể trực tiếp tham gia xây dựng công trình 22

1.3.4 Những vấn đề còn tồn tại 27

1.3.5 Nguyên nhân của những tồn tại 30

Trang 8

Kết luận chương 1 33

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH 34

Hệ thống các văn bản pháp luật hiện hành về quản lý chất lượng công trình xây dựng 34

2.1.1 Hệ thống văn bản pháp lý chung 34

2.1.2 Hệ thống văn bản áp dụng cho các công trình sửa chữa, nâng cấp 34

2.2 Nội dung hoạt động quản lý chất lượng công trình theo các giai đoạn 35

2.2.1 Quản lý chất lượng khảo sát xây dựng 35

2.2.2 Quản lý chất lượng thiết kế công trình 36

2.2.3 Quản lý chất lượng thẩm định thiết kế công trình 36

2.2.4 Quản lý chất lượng quá trình xây dựng công trình 36

2.3 Các mô hình quản lý chất lượng đầu tư xây dựng công trình 37

2.3.1 Mô hình quản lý theo chức năng 37

2.3.2 Mô hình quản lý theo ma trận 38

2.4 Đặc thù về qui mô và quản lý chất lượng các công trình sửa chữa nâng cấp 41

2.4.1 Đặc thù về quy mô của các công trình sửa chữa, nâng cấp 41

2.4.2 Đặc thù quản lý chất lượng của các công trình sửa chữa, nâng cấp 42

2.4.3 Mô hình quản lý chất lượng của các công trình sửa chữa, nâng cấp vừa và nhỏ 47

Kết luận chương 2 48

CHƯƠNG 3 HOÀN THIỆN QUY TRÌNH QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÁC DỰ ÁN SỬA CHỮA, NÂNG CẤP CÔNG TRÌNH VỪA VÀ NHỎ TẠI CÔNG TY THỦY LỢI SÔNG TÍCH 49

3.1 Giới thiệu khái quát về Công ty TNHH MTV thủy lợi Sông Tích 49

3.2 Thực trạng công tác quản lý chất lượng các công trình sửa chữa, nâng cấp vừa và nhỏ tại Công ty TNHH MTV thủy lợi Sông Tích 51

3.2.1 Hiện trạng hệ thống công trình Công ty TNHH MTV thủy lợi Sông Tích 51

3.2.2 Mô hình quản lý dự án Công ty TNHH MTV thủy lợi Sông Tích đang áp dụng 52

3.2.3 Các dự án sửa chữa, nâng cấp của Công ty thủy lợi Sông Tích trong năm 2017 và 2018 53 3.2.4 Phân tích quá trình thực hiện dự án “ Sửa chữa, nâng cấp trạm bơm dã chiến Phù Sa phục vụ vụ Xuân năm 2018 và các năm tiếp theo” do công ty làm chủ đầu tư 57

Trang 9

3.3 Đánh giá chung về công tác quản lý chất lượng công trình do Công ty TNHH

MTV thủy lợi Sông Tích làm chủ đầu tư, quản lý, khai thác và sử dụng 64

3.3.1 Những kết quả đạt được 64

3.3.2 Những tồn tại trong công tác quản lý chất lượng của Công ty TNHH MTV thủy lợi Sông Tích 66

3.3.3 Nguyên nhân của những tồn tại 69

3.4 Hoàn thiện quy trình quản lý chất lượng các dự án sửa chữa, nâng cấp công trình vừa và nhỏ cho Công ty thủy lợi Sông Tích 71

Đề xuất quy trình thẩm định hồ sơ thiết kế 71

3.4.2 Nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ, nhân viên của Công ty 73

3.4.3 Nâng cao năng lực trong công tác lựa chọn nhà thầu 74

3.4.3 Nâng cao năng lực giám sát thi công xây dựng của Chủ đầu tư 75

3.4.4 Nâng cao quản lý vận hành của Chủ đầu tư trong quá trình sử dụng 75

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 76

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 77

1 Kết quả đạtđược: 77

2 Tồn tại của luậnvăn: 77

3 Kiến nghị và đề xuất hướng nghiêncứu: 77

TÀI LIỆU THAM KHẢO 79

PHỤ LỤC 80

Phụ lục 1 80

Phụ lục 2 88

Trang 10

DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình 1.1: Sơ đồ quản lý chất lượng công trình xây dựng 11

Hình 1.2: Một đoạn kênh tưới bị đổ của Công ty thủy lợi Sông Tích 20

Hình 2.1: Một phần điển hình của tổ chức theo chức năng 38

Hình 2.2: Một phần điển hình của tổ chức theo ma trận 39

Hình 2.3: Mô hình quản lý chất lượng xây dựng công trình sửa chữa, nâng cấp 48

Hình 3.1: Mô hình quản lý dự án tại Công ty 53

Hình 3.2: Quy trình thẩm định hồ sơ thiết kế 72

Trang 11

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: So sánh hai kiểu cơ cấu tổ chức theo chức năng và kiểu dự án 39 Bảng 3.1: Một số công trình SC, NC năm 2017 của Công ty thủy lợi Sông Tích 55 Bảng 3.2: Một số công trình SC, NC năm 2018 của Công ty thủy lợi Sông Tích 57

Trang 12

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

TNHH MTV Trách nhiệm hữu hạn một thành viên

NN & PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

KTCTTL Khai thác công trình thủy lợi

Trang 13

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Chất lượng công trình trong xây dựng là yếu tố quan trọng liên quan trực tiếp đến an toàn cộng đồng, hiệu quả của dự án đầu tư xây dựng công trình bất kể công trình xây dựng có quy mô lớn hay nhỏ Nó cũng là một yếu tố đảm bảo sự phát triển bền vững của đất nước nói chung và các địa phương nói riêng Do có vai trò quan trọng như vậy nên các quy định pháp luật về xây dựng của các nước trên thế giới đều coi đó là mục đích hướng tới

Trong những năm qua, công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng được các cơ quan quản lý nhà nước, các Chủ đầu tư và các đơn vị liên quan coi trọng, quan tâm chỉ đạo thực hiện Nhiều công trình xây dựng hoàn thành, đảm bảo các yêu cầu về chất lượng đã phát huy hiệu quả đầu tư, tạo động lực cho phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Mặc dù vậy, vẫn còn nhiều công trình xây dựng chất lượng thấp, cá biệt có công trình vừa xây dựng xong trong thời gian ngắn đã xuống cấp, hư hỏng gây bức xúc trong xã hội, làm lãng phí tiền của, không phát huy được hiệu quả vốn đầu tư, trong đó có những công trình với quy mô vừa và nhỏ Nguyên nhân chủ yếu do các Chủ đầu tư, các tổ chức tư vấn, các nhà thầu tham gia quản lý về xây dựng công trình không tuân thủ nghiêm túc các quy định quản lý từ khâu khảo sát, lập dự án đầu tư đến thi công xây dựng và kiểm tra chứng nhận sự phù hợp chất lượng, nghiệm thu, bảo hành, bảo trì công trình xây dựng Hệ thống quản lý chất lượng công trình xây dựng từ tỉnh đến cơ sở còn nhiều bất cập, thiếu đồng bộ và chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành Điều kiện năng lực của các tổ chức và cá nhân tham gia hoạt động xây dựng chưa đáp ứng yêu cầu

Công ty TNHH MTV Thủy lợi Sông Tích là công ty 100% vốn nhà nước được UBND thành phố Hà Nội giao cho đầu tư, quản lí, khai thác hệ thống công trình thủy lợi trên địa bàn 5 huyện, thị xã của thành phố Hà Nội: Ba Vì, Sơn Tây, Phúc Thọ, Thạch Thất

và Quốc Oai Các công trình đa số được xây dựng đã lâu hiện tại đã xuống cấp Hàng năm, Công ty làm Chủ đầu tư sửa chữa, cải tạo, nâng cấp các công trình thủy lợi thuộc địa bàn công ty quản lý đồng thời cũng là đơn vị quản lý, sử dụng và bảo trì công trình Do đặc thù các công trình trên địa bàn thi công chủ yếu vào mùa khô, các công

Trang 14

trình quy mô nhỏ, dàn trải rộng trên địa bàn các huyện, thời gian thi công ngắn, số lượng cán bộ kỹ thuật ít, nên việc quản lý chất lượng các công trình luôn được quan tâm hàng đầu Để hoàn thành tốt công tác quản lý dự án đưa các công trình vào sản xuất thì cần có các giải pháp quản lý chất lượng nhằm nâng cao hiệu quả và đảm bảo chất lượng công trình

Với yêu cầu thực tiễn nêu trên tác giả luận văn chọn đề tài “Hoàn thiện quy trình

quản lý chất lượng các dự án sửa chữa, nâng cấp công trình vừa và nhỏ tại Công ty thủy lợi Sông Tích”

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy trình, nâng cao công tác quản lý chất lượng các công trình vừa và nhỏ trên địa bàn Công ty TNHH MTV thủy lợi Sông Tích quản lý

3 Cách tiếp cận và phương pháp nghiêncứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, tác giả luận văn đã dựa trên cách tiếp cận cơ sở lý luận về khoa học quản lý xây dựng, quản lý chất lượng, những quy định hiện hành của

hệ thống văn bản pháp luật trong lĩnh vực này kết hợp tiếp cận thực tiễn tại công ty và các công trình công ty đang quản lý Tác giả sư dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp khảo sát thực tế

- Phương pháp nghiên cứu tổng quan;

- Phương pháp thu thập số liệu, phân tích so sánh;

- Phương pháp tổng kết rút kinh nghiệm từ thực tiễn;

- Phương pháp thống kê, tổng hợp

4 Nội dung luận văn

Nội dung luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị gồm 3 chương chính như sau:

- Chương 1: Tổng quan về quản lý chất lượng công trình xây dựng

Trang 15

- Chương 2: Cơ sở lý luận quản lý chất lượng công trình

- Chương 3: Hoàn thiện quy trình quản lý chất lượng các dự án sửa chữa, nâng cấp công trình vừa và nhỏ tại Công ty thủy lợi Sông Tích

5 Đối tượng và phạm vi nghiêncứu

a Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu là công tác quản lý chất lượng các dự án cải tạo, nâng cấp, sửa chữa do Công ty TNHH MTV Thủy lợi Sông Tích làm chủ đầu tư

b Phạm vi nghiên cứu:

Phạm vi nghiên cứu giới hạn vào các dự án, các công trình cải tạo, nâng cấp, sửa chữa

do Công ty TNHH MTV Thủy lợi Sông Tích làm chủ đầu tư

Trang 16

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG

1.1 Quản lý chất lượng công trình xây dựng

1.1.1 Định nghĩa chất lượng và quản lý chất lượng

1.1.1.1 Chất lượng

Trong mỗi lĩnh vực khác nhau, và những mục đích khác nhau sẽ nhiều quan điểm về chất lượng khác nhau Mặc dù vậy, có một định nghĩa về chất lượng được thừa nhận ở phạm vi quốc tế, đó là định nghĩa của Tổ chức Tiêu chuẩn hoá Quốc tế Theo điều 3.1.1 của tiêu chuẩn ISO 9000:2005 chất lượng được định nghĩa là: “Mức độ đáp ứng các yêu cầu của một tập hợp có đặc tính vốn có ”

Chất lượng cũng có thể được định nghĩa từ các góc độ khác nhau Từ góc độ nhà sản xuất có thể xem: chất lượng là mức độ hoàn thiện của sản phẩm (dự án) so với các tiêu chuẩn thiết kế được duyệt Như vậy, trong khu vực sản xuất, một dung sai của các chỉ tiêu được định rõ để đánh giá mức độ hoàn thành chất lượng Trong khu vực dịch vụ, chất lượng được xác định chủ yếu thông qua một số chỉ tiêu gián tiếp.Theo quan điểm của người tiêu dùng, chất lượng là tổng thể các đặc tính của một thực thể, phù hợp với việc sử dụng, đáp ứng yêu cầu tiêu dùng hay chất lượng là giá trị mà khách hàng nhận được, là sự thỏa mãn yêu cầu của khách hàng

Bên cạnh đó, chất lượng có thể được xác định trên các khía cạnh như thuộc tính vật chất của sản phẩm ; định hướng thời gian của sản phẩm dịch vụ (phù hợp với việc sử dụng lâu dài, đảm bảo liên tục bên lâu); các dịch vụ sau bán hàng; ấn tượng tâm lý đối với sản phẩm; yếu tố đạo đức kinh doanh trong kinh doanh Từ những khái niệm trên

có thể rút ra một số vấn đề sau:

- Chất lượng là phạm trù có thể áp dụng đối với mọi thực thể;

- Chất lượng phải thể hiện trên tập hợp nhiều đặc tính của thực thể, thể hiện khả năng thỏa mãn nhu cầu;

Trang 17

- Chất lượng là sự phù hợp với nhu cầu Một thực thể đáp ứng các tiêu chuẩn về sản phẩm nhưng lại không phù hợp với nhu cầu , không được thị trường chấp nhận thì

bị coi là không có chất lượng Chất lượng được đo bởi mức độ thỏa mãn nhu cầu Sự thỏa mãn được thể hiện ở nhiều phương diện như: tính năng của sản phẩm, giá cả, mức độ dịch vụ, tính an toàn

- Chất lượng phải gắn với điều kiện cụ thể của nhu cầu, của thị trường về kinh tế kỹ thuật, xã hội, phong tục tập quán

1.1.1.2 Các nguyên tắc trong quản lý chất lượng

Theo tiêu chuẩn ISO 9000-2000 có 8 nguyên tắc quản lý chất lượng:

Nguyên tắc 1 : Định hướng bởi khách hàng

Nội dung: Doanh nghiệp phụ thuộc vào khách hàng của mình và vì thế cần hiểu các nhu cầu hiện tại và tương lai của khách hàng, để không những đáp ứng mà còn phấn đấu vượt cao hơn sự mong đợi của khách hàng

Phân tích: Khách hàng chính là người mang lại nguồn lợi cho doanh nghiệp, có khách hàng nghĩa là có lợi nhuận, chính vì vậy chất lượng được định hướng bởi khách hàng

là một yếu tố chiến lược, dẫn tới khả năng chiếm lĩnh thị trường Do yêu cầu của khách hàng và của thị trường luôn luôn biến đổi theo thời gian, không gian, nên đòi hỏi chất lượng phải luôn nhạy cảm đối với những khách hàng mới, những yêu cầu thị trường và đánh giá những yếu tố dẫn tới sự thoả mãn khách hàng Nó cũng đòi hỏi ý thức cải tiến, đổi mới công nghệ, khả năng thích ứng nhanh và đáp ứng nhanh chóng mau lẹ các yêu cầu của thị trường; giảm sai lỗi và những khiếu nại của khách hàng

Trang 18

các chiến lược kinh doanh, hệ thống và các biện pháp huy động sự tham gia và tính sáng tạo của mọi nhân viên để xây dựng, nâng cao năng lực của tổ chức và đạt kết quả tốt nhất có thể được Bên cạnh đó người lãnh đạo phải tạo ra môi trường cạnh tranh trong công việc để thúc đẩy tính sáng tạo, phát triển của người lao động và công việc Một người lãnh đạo đúng đắn sẽ có tác dụng duy trì, phát huy chất lượng của chính doanh nghiệp trong từng sản phẩm làm ra

Người lãnh đạo phải: 1 Thể hiện mục tiêu đối với chất lượng hàng hóa tạo ra; 2 Phản ánh được nhu cầu của khách hàng; 3 Được mọi thành viên thấu hiểu và đồng lòng thực hiện

Nguyên tắc 3: Sự gắn kết và năng lực của con người

Nội dung:Tất cả mọi người được trao quyền và tham gia và gắn kết vào việc tạo giá trị Toàn bộ tổ chức luôn nâng cao năng lực của mình để tạo ra giá trị Năng lực có được thông qua nâng cao nhận thức, đào tạo, thực hành hoặc áp dụng vào thực tiễn

Phân tích: Con người là nguồn lực quý báu với những hiểu biết, kinh nghiệm mà máy móc không thể thay thế được Vì vậy, để đạt được kết quả trong công việc thì công tác chăm lo, bồi dường người lao động luôn phải được coi trọng Lãnh đạo phải tạo điều kiện để mọi nhân viên có điều kiện học hỏi, nâng cao kiến thức, trình độ nghiệp vụ, phát huy được nội lực tạo ra một sức mạnh cho doanh nghiệp trên con đường vươn tới mục tiêu chất lượng qua từng sản phẩm Sự thành công của doanh nghiệp chính từ sự đóng góp công sức nỗ lực của tất cả mọi người

Mỗi cương vị công tác sẽ có hành vi công việc và ứng xử phù hợp với vị trí của mình như sau:

- Lãnh đạo cao nhất: Xác định đường lối, nhiệm vụ cho từng vị trí, thành viên trong đơn vị một cách rõ ràng, minh bạch và công bằng

- Cán bộ quản lý: Lập kế hoạch thực hiện công việc trong bộ phận của mình, hướng dẫn các thành viên trong bộ phận triển khai công việc Giám sát việc đảm bảo chất lượng Tùy trường hợp, cán bộ quản lý có thể tham gia triển khai công việc để đảm bảo chất lượng tốt nhất

Trang 19

- Nhân viên: Trực tiếp thực hiện công việc, tuân thủ nghiêm túc những tiêu chuẩn chất lượng Đóng góp ý kiến, đề xuất giải pháp cải thiện, nâng cao chất lượng công việc

Nguyên tắc 4: Tiếp cận quản lý theo quá trình

Nội dung: Kết quả quá trình hiệu quả hơn khi các hoạt động của quá trình được hiểu

và quản lý tốt Quá trình cũng cần có các tiêu chí đánh giá, xác định sự tương giao của các quá trình với nhau trong một hệ thống chặt chẽ

Phân tích: Quá trình là tập hợp các hoạt động có liên quan với nhau được tiến hành theo một trình tự hợp lí để tạo ra các kết quả có giá trị cho tổ chức Nói một cách khác, quá trình là dây chuyền sản xuất ra những sản phẩm hữu ích dành cho khách hàng bên ngoài hay khách hàng nội bộ Để hoạt động hiệu quả, tổ chức phải xác định và quản lí nhiều quá trình có liên quan và tương tác lẫn nhau Thông thường, đầu ra của một quá trình sẽ tạo thành đầu vào của quá trình tiếp theo Việc xác định một cách có hệ thống

và quản lí các quá trình được triển khai trong tổ chức và đặc biệt quản lí sự tương tác giữa các quá trình đó được gọi là cách "tiếp cận theo quá trình"

Quản lý chất lượng phải được xem xét như một quá trình, kết quả của quản lý sẽ đạt được tốt khi các hoạt động có liên quan được quản lý như một quá trình Quá trình là một dãy các sự kiện nhờ đó biến đổi đầu vào thành đầu ra Để quá trình đạt được hiệu quả thì giá trị của đầu ra phải lớn hơn đầu vào, có nghĩa là quá trình gia tăng giá trị

Nguyên tắc 5: Quản lý chất lượng theo hệ thống

Nội dung: Việc xác định, hiểu biết và quản lý một hệ thống các quá trình có liên quan lẫn nhau đối với mục tiêu đề ra sẽ đem lại hiệu quả của doanh nghiệp

Phân tích: Tổ chức không thể giải quyết bài toán chất lượng theo từng yếu tố tác động đến chất lượng một cách riêng lẻ mà phải xem xét toàn bộ các yếu tố tác động đến chất lượng một cách hệ thống và đồng bộ, phối hợp hài hoà các yếu tố này Phương pháp hệ thống của quản lý là cách huy động, phối hợp toàn bộ nguồn lực để phục vụ mục tiêu chung của tổ chức Việc xác định, hiểu biết và quản lý một hệ thống các quá trình có liên quan lẫn nhau đối với mục tiêu đề ra sẽ đem lại hiệu quả cho tổ chức

Trang 20

Nguyên tắc 6: Cải tiến liên tục

Nội dung: Cải tiến liên tục là mục tiêu, đồng thời cũng là phương pháp của mọi doanh nghiệp Muốn có được khả năng cạnh tranh và mức độ chất lượng cao nhất, doanh nghiệp phải liên tục cải tiến

Phân tích: Chất lượng định hướng bởi khách hàng, mà nhu cầu mong muốn của khách hàng là luôn luôn biến đổi theo xu hướng muốn thoả mãn ngày càng cao các yêu cầu của mình, bởi vậy chất lượng cũng luôn cần có sự đổi mới Muốn có sự đổi mới và nâng cao chất lượng thì phải thực hiện cải tiến liên tục, không ngừng Cải tiến đó có thể là cải tiến phương pháp quản lý, cải tiến, đổi mới các quá trình, các thiết bị, công nghệ, nguồn lực, kể cả cách sắp xếp bố trí lại cơ cấu tổ chức quản lý Tuy nhiên trong cải tiến cần phải tính kỹ và mang tính chắc chắn, bám chắc vào mục tiêu của tổ chức

Nguyên tắc 7: Quyết định dựa trên sự kiện

Nội dung: Mọi quyết định và hành động của hệ thống quản lý hoạt động kinh doanh muốn có hiệu quả phải được xây dựng dựa trên việc phân tích dữ liệu và thông tin Phân tích: Mọi quyết định và hành động của hệ thống quản lý chất lượng muốn có hiệu quả phải được xây dựng dựa trên việc phân tích dữ liệu và thông tin một cách chính xác Không quyết định dựa trên việc suy diễn.Việc đánh giá phải bắt nguồn từ chiến lược của tổ chức, các quá trình quan trọng, các yếu tố đầu vào, đầu ra của các quá trình

đó

Nguyên tắc 8: Quan hệ mật thiết với nhà cung cấp

Nội dung: Doanh nghiệp và người cung cấp phụ thuộc lẫn nhau, và mối quan hệ tương

hỗ cùng có lợi sẽ nâng cao năng lực của cả hai bên để tạo ra giá trị

Phân tích: Các mối quan hệ với khách hàng, người cung cấp, các đối thủ cạnh tranh, các tổ chức đào tạo, các cơ quan quản lý, chính quyền địa phương… ngày càng quan trọng, nó là những mối quan hệ chiến lược, chúng có thể giúp tổ chức thâm nhập thị trường, mở rộng thương hiệu hoặc thiết kế những sản phẩm và dịch vụ mới Các bên quan hệ cần chú ý đến những yêu cầu quan trọng, đảm bảo sự thành công của quan hệ

Trang 21

hợp tác, cách thức giao lưu thường xuyên, giữ những nguyên tắc trong quan hệ với từng nhóm đối tượng

Theo tác giả, trong 8 nguyên tắc trên thì nguyên tắc định hướng khách hàng là nguyên tắc quan trọng nhất, nó là nền tảng xây dựng các khâu còn lại Tuy nhiên, muốn quản

lý chất lượng một cách hiệu quả cần thực hiện đầy đủ và nghiêm túc cả 8 nguyên tắc nêu trên

1.1.2 Chất lượng công trình xây dựng và quản lý chất lượng công trình xây dựng

1.1.2.1 Chất lượng công trình xây dựng

Chất lượng công trình xây dựng tuân thủ theo các định nghĩa và nguyên tắc chung về chất lượng sản phẩm hàng hóa Tuy nhiên, sản phẩm xây dựng có tính đặc thù vì công trình xây dựng có địa điểm cố định và dự án đầu tư xây dựng có ràng buộc về vốn và thời hạn xây dựng Nếu một công trình không đáp ứng về một trong 3 yêu cầu: địa điểm, thời hạn xây dựng hay vốn được duyệt cũng được coi là kém chất lượng Hiện nay chất lượng công trình xây dựng chính là sự thỏa mãn trên các phương diện sau: Đặc tính kỹ thuật của sản phẩm và dịch vụ đi kèm; Giá cả phù hợp; Thời hàn gia hàng; Tinh an toàn và độ tin cậy

Một số thuộc tính chất lượng sản phẩm xây dựng là:

- Các thuộc tính kỹ thuât: phản ánh công dụng, chức năng của CLXD, quy định bởi các chỉ tiêu kết cấu, thành phần cấu tạo, đặctính cơ, lý, hóa của vật liệu xây dựng Các yếu tố này được thiết kế theo những tổ hợp khác nhau đảm bảo độ bền lâu và hiệu quả của sản phẩm xây dựng

- Các yếu tố thẩm mỹ: phản ánh đặc trưng về sự truyền cảm hứng, sự hợp lý về hình thức, dáng vẻ, kết cấu, kích thước, sự hoàn mỹ, tính cân đối, màu săc, trang trí, tính hiện đại

- Tuổi thọ công trình: là yếu tố đặc trưng cho CLXD giữ được khả năng làm việc bình thường theo đúng tiêu chuẩn thiết kế trong một thời gian nhất định trên cơ sở bảo đảm đúng yêu cầu về mục đích, điều kiện sử dụng

Trang 22

- Độ tin cậy: là một trong những yếu tố quan trọng nhất phản ánh CLXD và đảm bảo cho doanh nghiệp có khả năng duy trì và phát triển thị trường

- Độ an toàn: các chỉ tiêu an toàn trong sửu dụng, vận hành, an toàn đối với sức khỏe người tiêu dùng và môi trường là yếu tố bắt buộc phải có với CLXD

- Mức độ gây ô nhiễm: cũng giống như độ an toàn, mức độ gây ô nhiểm cũng là yếu tố bắt buộc phải có ở CLXD

- Tính tiện dụng: Phản ánh những đòi hỏi về tính sẵn có tính dễ vận chuyển, bảo quản,

dễ sử dụng và khả năng thay thế khi có những bộ phận vị hỏng

- Tính kinh tế: đây là yếu tố rất quan trọng với CLXD, khi sử dụng có tiêu hao nguyên liệu, năng lượng Tiết kiệm nguyên liệu, năng lượng trong xây dựng và sử dụng trở thành một trong những yếu tố quan trọng phản ánh CLXD và khả năng cạnh tranh trên thị trường

1.1.2.2 Quản lý chất lượng công trình xây dựng

Quản lý chất lượng công trình xây dựng là tập hợp các hoạt động từ đó đề ra các yêu cầu, quy định và thực hiện các yêu cầu quy định đó bằng các biện pháp như kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng, cải tiến chất lượng Hoạt động quản lý chất lượng công trình xây dựng chủ yếu là công tác giám sát và tự giám sát của chủ đầu tư và các chủ thể khác Nói cách khác, quản lý chất lượng công trình xây dựng là tập hợp các hoạt động của cơ quan, đơn vị có chức năng quản lý thông qua kiểm tra, đảm bảo chất lượng, cải tiến chất lượng trong các giai đoạn từ chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư đến kết thúc xây dựng và đưa vào khai thác, sử dụng

Trang 23

Hình 1.1: Sơ đồ quản lý chất lượng công trình xây dựng

1.1.2.3 Tiêu chí đánh giá chất lượng công trình xây dựng

Việc đánh giá chất lượng công trình xây dựng ở nước ta hiện nay có nhiều ý kiến khác nhau, đôi khi còn trái ngược nhau Theo tác giả, quan điểm đánh giá chất lượng công trình xây dựng cần xuất phát từ các quan điểm sau:

Một là: “Công trình xây dựng là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất,

có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên

mặt nước, được xây dựng theo thiết kế ”- theo Luật Xây dựng [1] Ở đây, chất lượng

công trình phụ thuộc vào năng lực của những nguời tham gia xây dựng công trình ( lập

dự án đầu tư xây dựng, thiết kế , khảo sát, thi công xây dựng, quản lý dự án đầu tư xây dựng và giám sát thi công xây dựng công trình); phụ thuộc vào chất lượng vật liệu, vật

tư và thiết bị lắp đặt vào công trình; phụ thuộc vào chất lượng thi công xây dựng; phụ thuộc vào chất lượng khảo sát xây dựng và thiết kế xây dựng công trình; và phụ thuộc vào công tác quản lý chất lượng các khâu trong quá trình lập và thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình

Hai là: đánh giá dựa trên mức độ an toàn, bền vững của công trình Theo Luật Xây dựng, thì sự cố công trình là những hư hỏng vượt quá giới hạn an toàn cho phép làm cho công trình có nguy cơ sập đổ, đã sập đổ một phần hoặc toàn bộ công trình hoặc công trình không đạt được theo thiết kế Theo đó, có 4 loại sự cố bao gồm sự cố sập

Trang 24

đổ, sự cố về biến dạng, sự cố sai lệch vị trí và sự cố về công năng; về cấp độ có cấp I,

II, III và cấp IV tùy thuộc vào mức độ hư hỏng công trình và thiệt hại về người Vì vậy

mà mức độ an toàn, bền vững của công trình là điều cần phải được xem xét chặt chẽ và nghiêm túc

Ba là: đánh giá sự đáp ứng của công trình với các quy định về quy chuẩn xây dựng và các tiêu chuẩn kỹ thuật xây dựng được phép áp dụng cho từng dự án đã nêu trong hợp đồng xây dựng Theo Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn thì “Tiêu chuẩn do một tổ chức công bố dưới dạng văn bản để tự nguyện áp dụng”, do đó ngay tại điểm e, khoản 2, Điều 8 Nghị định 12/2009/NĐ-CP ngày 12/02/2009 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng đã quy định trong phần thuyết minh thiết kế cơ sở phải nêu “Danh mục các quy chuẩn, tiêu chuẩn chủ yếu được áp dụng” Theo khoản 8, Điều 2, Nghị định số 48/2010/NĐ-CP ngày 07/5/2010 của Chính phủ về hợp đồng trong hoạt động xây dựng thì chủ đầu tư hoặc tư vấn của chủ đầu tư dựa vào danh mục các quy chuẩn, tiêu chuẩn được Người quyết định đầu tư cho phép áp dụng để biên soạn tiêu chuẩn áp dụng cho dự án đầu tư xây dựng công trình cụ thể bao gồm các quy định về kỹ thuật, định mức kinh tế - kỹ thuật, trình tự thực hiện các công việc, các chỉ tiêu, các chỉ số kỹ thuật và các chỉ số về điều kiện tự nhiên

Bốn là: đánh giá về mỹ thuật của công trình xây dựng Ngoài yêu cầu về an toàn và bền vững thì yêu cầu về mỹ thuật đối với công trình xây dựng không thể xem nhẹ Công trình xây dựng trường tồn với thời gian mà chất lượng mỹ thuật không đảm bảo thì chủ đầu tư không được thụ hưởng từ những nguồn lợi mà một công trình đẹp đem lại và không đóng góp cảnh quan đẹp cho xã hội Công trình xây dựng cần phải thể hiện được tính sáng tạo độc đáo, bố cục hiện đại nhuần nhuyễn với truyền thống, tránh sao chép, lặp lại, đơn điệu trong nghệ thuật kiến trúc

Tóm lại, chất lượng công trình xây dựng phải được đánh giá về độ an toàn, bền vững,

kỹ thuật và mỹ thuật phù hợp với Quy chuẩn và tiêu chuẩn xây dựng, các quy định trong văn bản quy phạm pháp luật có liên quan và hợp đồng giao nhận thầu xây dựng

1.1.2.4 Các phương pháp đánh giá chất lượng công trình xây dựng

a Phương pháp tại hiện trường

Trang 25

- Công tác khảo sát thu thập số liệu bằng trực quan:xác định các điểm xung yếu (nứt, lún, võng, thấm, …),các vị trí chịu lực chính, các số liệu kích thước hình học, hình dáng… có đúng với hồ sơ thiết kế

- Tiến hành đo đạc thí nghiệm (đo ứng xuất tại một điểm, xác định chuyển vị; thí nghiệm không phá hoại bằng các thiết bị: súng bắn bật nảy xác định cường độ bê tông Máy siêu âm xác định cường độ bê tông và các khuyết tật trong kết cấu bê tông, cọc khoan nhồi và chiều dày cấu kiện .) thu thập dữ liệu để xác định trạng thái kỹ thuật công trình

- Thu thập các số liệu từ hộp đen quan trắc các thông số kỹ thuật và điều kiện làm việc của công trình (nếu có)

b Phương pháp tại phòng thí nghiệm

- Xem xét hồ sơ quản lý chất lượng công trình xây dựng gồm: nhật ký thi công, nhật

ký giám sát, hồ sơ hoàn công, các biên bản nghiệm thu công việc xây dựng, các thí nghiệm vật liệu trước khi đưa vào sử dụng; kiểm tra năng lực các nhà thầu xây dựng…

- Xử các số liệu đã thu thập, thí nghiệm được tại hiện trường;

- Thống nhất vị trí khoan lấy mẫu thí nghiệm phá hoại với Chủ đầu tư, Tư vấn thiết kế;

- Tính toán và đối chiếu với các chỉ tiêu thiết kế

1.2 Quản lý chất lượng xây dựng công trình thủy lợi

1.2.1 Vai trò của thủy lợi trong quá trình phát triển của đất nước

Với mục tiêu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ; đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm

2020, muốn vậy trước hết nông nghiệp và nông thôn phải phát triển lên một trình độ mới bằng việc đổi mới cơ cấu cây trồng, vật nuôi, tăng giá trị thu được trên một đơn vị diện tích, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, phát triển công nghiệp, dịch vụ, các làng nghề ở nông thôn, tạo nhiều việc làm mới

Để đáp ứng những mục tiêu đó, công tác thuỷ lợi phục vụ sản xuất nông-lâm-ngư- nghiệp và kinh tế nông thôn đang đứng trước những thời cơ và thách thức mới Đó là

Trang 26

việc đảm bảo nước để sản xuất lúa, giữ vững an ninh lương thực; có các giải pháp hiệu quả về thuỷ lợi để phục vụ trồng cây công nghiệp và cây ăn quả lâu năm; cung cấp nước cho các cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp, các làng nghề nông thôn, cung cấp nước sạch cho cư dân nông thôn; xây dựng các hệ thống cung cấp nước để làm muối chất lượng cao và nuôi trồng thuỷ, hải sản với qui mô lớn; xử lý nước thải từ các vùng nuôi trồng thuỷ sản tập trung, từ các làng nghề, từ các cơ sở sản xuất công nghiệp dịch

vụ ở nông thôn

Với diễn biến ngày càng phức tạp của tình trạng hạn hán, úng lụt trong những năm gần đây đòi hỏi sự quan tâm sát sao của tất cả các cấp, các ngành cũng như của mọi người dân cho ngành thủy lợi, nhất là công tác quản lý chất lượng công trình thủy lợi, đảm bảo các công trình được vận hành, khai thác sử dụng một cách hiệu quả nhất và an toàn nhất

- Tạo điều kiện thay đổi cơ cấu nông nghiệp, góp phần lai tạo, phát triển những giống cây mới, tăng năng suất cũng như chất lượng của cây trồng, vật nuôi nhờ phát triển những giống cây mới, giống vật nuôi mới

- Cải thiện môi trường sống của nhân dân nhất là những vùng khó khăn về nguồn nước, tạo ra cảnh quan mới, một số công trình thủy lợi có thể kết hợp du lịch sinh thái, tăng thu nhập cho người dân xung quanh công trình

- Thúc đẩy sự phát triển của các ngành liên quan khác như công nghiệp, thuỷ sản, du lịch

- Tạo việc làm, góp phần nâng cao thu nhập cho nhân dân, giảm thiểu các tệ nạn xã hội; từ đó góp phần nâng cao đời sống của nhân dân cũng như góp phần ổn định về

Trang 27

kinh tế và chính trị trong cả nước

- Thuỷ lợi góp phần phòng chống, giảm thiểu ảnh hưởng của lụt bão, thiên tai, đảm bảo cuộc sống ổn định của người dân trong khu vực bị ảnh hưởng

Tóm lại, Thủy lợi có vai trò thiết yếu trong công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, góp phần phòng tránh và giảm thiểu thiên tai, phát triển kinh tế - xã hội, thúc đẩy các ngành nghề khác phát triển

1.2.1.2 Những ảnh hưởng tiêu cực:

- Các công trình thủy lợi để có thể xây dựng và hoạt động cần chiếm một phần đất, từ

đó thay đổi điều kiện sinh hoạt, môi trường sống của động thực vật cũng như con người trong khu vực, lâu dần có thể ảnh hưởng đến hệ sinh thái của khu vực và sức khỏe của người dân

- Có thể gây biến đổi điều kiện địa chất, địa hình, thuỷ văn, hoặc có thể thay đổi môi trường đất, nước trong khu vực

- Làm thay đổi cảnh quan khu vực, có thể gây ảnh hưởng không ít tới lịch sử văn hoá, truyền thống của vùng nơi xây dựng công trình

1.2.2 Đặc điểm của các công trình thủy lợi

Công trình thủy lợi là công trình thuộc kết cấu hạ tầng được xây dựng nhằm khai thác mặt có lợi của tài nguyên nước; phòng, chống và ngăn chặn giảm thiểu những thiệt hại

do nước gây ra, bảo vệ môi trường, phục vụ đời sống của con người

Công trình thủy lợi có nhiệm vụ làm thay đổi trạng thái tự nhiên của dòng chảy sông,

hồ, biển, nước ngầm để sử dụng nước có lợi nhất và bảo vệ môi trường xung quanh khỏi tác hại của dòng nước gây ra phục vụ đời sống con người

Đặc điểm của các công trình thủy lợi:

- Thường xuyên chịu sự phá hoại của môi trường nước về các mặt cơ học, hóa học, vật

lý học, hiện tượng thấm và chịu ảnh hưởng xấu của của các vi sinh vật trong nước Ngoài ra công trình thủy lợi còn chịu sự phá hoại bất thường do thiên tai như bão, lũ lụt, động đất, sóng thần… gây ra

Trang 28

- Là kết quả phối hợp của nhiều lĩnh vực: quy hoạch, nghiên cứu khoa học, khảo sát, thiết kế, chế tạo, thi công và quản lý khai thác… và quan trọng là sự tham gia quyết định về chiến lược phát triển kinh tế xã hội của các cấp lãnh đạo từ Trung Ương đến địa phương

- Bao gồm nhiều lĩnh vực khoa học kỹ thuật xây dựng khác nhau

- Thường có nguồn vốn đầu tư rất lớn

- Thời gian hoàn thành công trình từ khi còn là ý tưởng đến khi hoàn thiện sản phẩm thường rất lớn Tuổi thọ của công trình từ hàng chục đến hàng trăm năm tùy theo cấp công trình

- Khi xây dựng công trình thủy lợi thường có tác động mạnh đến môi trường xung quanh (như xây hồ, đập ngăn nước và phát điện…)

- Khi công trình hư hỏng thì hậu quả thường rất lớn và có trường hợp rất nghiêm trọng,

đe dọa đến đời sống của người dân trong vùng hạ du (như xảy ra vỡ đập của hồ chứa

…)

- Các công trình thủy lợi thường là có khối lượng thi công lớn, điều kiện thi công khó khăn, thời gian thi công hạn chế, cường độ thi công cao, trong khi đó lại đòi hỏi chất lượng thi công của công trình lại rất cao

Những đặc điểm trên có tác động trực tiếp đến chất chất lượng công trình, vì vậy nếu ở công đoạn nào đó hay thời điểm nào đó để xảy ra kém chất lượng công trình thì có thể dẫn đến sự cố lớn nhỏ trong quá trình thi công, quản lý và khai thác

1.2.3 Tình hình chất lượng xây dựng công trình thủy lợi nói chung hiện nay ở nước ta

Trong những năm vừa qua, các nguồn lực dành cho đầu tư xây dựng công trình thủy lợi đã được chú trọng và tăng cao Mỗi năm, ngành thủy lợi đưa vào khai thác sử dụng hàng ngàn công trình như kênh mương, đê biển, đê sông, các đập, hồ chứa, cống thoát nước, cống tưới tiêu nước đã phần nào đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế, an sinh xã hội Nhìn chung chất lượng công trình tại các dự án đầu tư khi đưa vào khai thác đã đáp ứng được yêu cầu, tuy nhiên cũng có không ít dự án khi vừa mới đưa vào

Trang 29

sử dụng đã xuất hiện những hư hỏng tại một số hạng mục hoặc bộ phận công trình, kể

cả trong quá trình xây dựng, gây bức xúc cho xã hội cũng như lãng phí, thất thoát ngân sách của nhà nước

Theo ý kiến chuyên môn của những nhà nghiên cứu xây dựng, kết hợp cùng với kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới và trong khu vực, vấn đề đảm bảo chất lượng xây dựng có liên quan chặt chẽ với vấn đề an toàn trong thi công xây dựng Tuy vậy, ở nước ta hiện nay, hai lĩnh vực này vẫn chưa có sự thống nhất một cách hoàn chỉnh Do đó,việc xem xét trách nhiệm cũng như xử phạt đối với các chủ thể liên quan khi có vấn

đề về chất lượng cũng chưa được rõ ràng, hay như chưa có chế tài xử phát nghiêm khác đối với những cá nhân cố tình làm trái với yêu cầu về chất lượng công trình Bản thân Luật Xây dựng những năm gần đây đã có sửa đổi nhưng một số điểm vẫn chưa thể giải quyết hết được Ví dụ như trong công tác tuyển chọn nhà thầu thi công xây lắp, đơn vị có trách nhiệm là chủ đầu tư không đủ thông tin để đánh giá năng lực, kinh nghiệm nhà thầu khi tham gia hoạt động xây dựng các công trình Cách thức lựa chọn nhà thầu chưa hợp lý, nhất là quy định việc lựa chọn đơn vị trúng thầu chủ yếu căn cứ vào giá dự thầu thấp nhất mà chưa coi trọng đến năng lực quản lý chất lượng công trình xây dựng của Nhà thầu Lực lượng quản lý xây dựng nói chung và quản lý chất lượng công trình xây dựng nói riêng ở địa phương còn mỏng, chưa đáp ứng được yêu cầu Còn có sự chồng chéo và thiếu sự phối hợp trong thực hiện quản lý chất lượng công trình xây dựng giữa tổ chức thanh tra và cơ quan quản lý nhà nước.Bên cạnh đó, năng lực của chủ đầu tư cũng bị xem nhẹ Quy định về chủ đầu tư cũng vậy, dù không đảm bảo năng lực vẫn được giao làm chủ đầu tư công trình xây dựng, tất sẽ dẫn đến công tác quản lý dự án, quản lý chất lượng không đảm bảo Muốn công tác kiểm tra, giám sát chất lượng công trình xây dựng có hiệu lực, hiệu quả phải phân giao trách nhiệm, quyền hạn rõ ràng cho các đơn vị chức năng ở các cấp Bên cạnh đó, chế tài chưa đủ mạnh, chưa mang tính răn đe, phòng ngừa cao và chưa xử lý nghiêm đối với các hành vi vi phạm về chất lượng công trình xây dựng nên chưa đảm bảo tính khả thi trong việc tuân thủ và đưa các quy định về quản lý chất lượng công trình xây dựng vào

nề nếp Đó chính là những vấn đề mà Luật Xây dựng và các văn bản, nghị định ban hành kèm theo quy định chưa cụ thể hoặc chưa đáp ứng được Một mặt khác cũng đáng bàn, với tốc độ tăng nhanh của vốn đầu tư xây dựng hàng năm, hàng vạn dự án

Trang 30

vốn của Nhà nước, và của các thành phần kinh tế, của nhân dân được triển khai xây dựng, do vậy các đơn vị tư vấn lập dự án, giám sát, thiết kế tăng rất nhanh lên đến hàng nghìn đơn vị Bên cạnh một số đơn vị tư vấn, khảo sát thiết kế truyền thống, lâu năm, có đủ năng lực, trình độ, uy tín, còn nhiều tổ chức tư vấn khảo sát, thiết kế năng lực còn hạn chế, thiếu hệ thống quản lý chất lượng nội bộ

Theo báo cáo đánh giá hiện trạng của Tổng Cục thuỷ lợi – Bộ Nông nghiệp và PTNT: Thời gian qua, Chính phủ đã phê duyệt Chương trình bảo đảm an toàn hồ chứa nước và nâng cao hiệu quả khai thác các hồ chứa (tại Văn bản số 1749/CP-NN ngày 30/10/2003 và số 1734/TTg-KTN ngày 21/9/2009) Đến nay, cả nước đã sửa chữa được 663 hồ; còn khoảng 1.150 hồ đang bị hư hỏng nặng cần được sửa chữa, nâng cấp trong giai đoạn 2016 – 2020

 Các hồ chứa lớn (dung tích trữ >3,0 triệu m3 hoặc đập cao >15m):

Trang 31

1.3 Thực trạng công tác quản lý chất lượng xây dựng công trình tại Việt Nam trong thời gian qua

1.3.1 Thực trạng công tác quản lý chất lượng xây dựng của các công trình sửa chữa, nâng cấp

Các công trình sửa chữa, nâng cấp thường là những công trình đã được xây dựng và sử dụng trong thời gian dài và hiện tại xuất hiện hư hỏng, không đảm bảo an toàn, hiệu suất khi vận hành Trên địa bàn Thành phố Hà Nội, các công trình sửa chữa, nâng cấp vừa và nhỏ bằng nguồn vốn SCTX có đặc điểm như sau:

- Vốn đầu tư thường thấp, nên không được đầu tư một cách triệt để, đồng bộ, dẫn tới các hạng mục của hệ thống công trình không thống nhất, thường xuyên xảy ra hư hỏng cục bộ

- Các công trình thủy lợi trên địa bàn thường phải phục vụ tưới tiêu nông nghiệp thường xuyên cả 3 vụ trong 1 năm , thời gian tu sửa có hạn nên công trình nhanh bị xuống cấp, điển hình là các trạm bơm

- Một công trình thủy lợi có thể nằm trên địa bàn nhiều xã khác nhau (kênh, mương) dẫn tới tình trạng đùn đẩy trách nhiệm trong công tác quản lý, xử lý vi phạm gây ảnh hưởng tới chất lượng công trình Khi cần phối hợp sửa chữa còn nhiều vướng mắc Do nằm trên nhiều địa bàn khác nhau nên tập quán dân sinh, sử dụng khác nhau ảnh hưởng tới chất lượng phục vụ của công trình

- Hiện nay tại các công ty thủy lợi trên địa bàn xảy ra tình trạng thiếu công nhân trong công tác vận hành, duy tu, bảo dưỡng công trình thủy lợi Vì vậy không thể kịp thời sửa chữa các hỏng hóc của công trình

- Trình tự thủ tục phê duyệt công tác SCTX còn cồng kềnh, thiếu sự đồng nhất giữa các đơn vị liên quan làm cho chất lượng công trình bị ảnh hưởng do không được sửa chữa kịp thời

Trang 32

Hình 1.2: Một đoạn kênh tưới bị đổ của Công ty thủy lợi Sông Tích

1.3.2 Những bất cập trong công tác quản lý chất lượng

Theo Nghị định 59/NĐ-CP về quản lý chất lượng xây dựng công trình , có giai đoạn của dự án ĐTXD công trình là: Giai đoạn chuẩn bị dự án; Giai đoạn thực hiện dự án;

Giai đoạn kết thúc xây dựng đưa công trình của dự án vào khai thác sử dụng [2] Ta

phân tích 3 giai đoạn của dự án đầu tư xây dựng công trình như sau:

1.3.2.1 Giai đoạn chuẩn bị dự án

Giai đoạn này gồm các công việc: Tổ chức lập, thẩm định, phê duyệt Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi (nếu có); lập, thẩm định, phê duyệt Báo cáo nghiên cứu khả thi hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng để xem xét, quyết định đầu tư xây dựng và thực hiện các công việc cần thiết khác liên quan đến chuẩn bị dự án

Ở giai đoạn này, ý tưởng vẫn còn mang tính cá nhân, một số dự án do chưa được nghiên cứu kỹ càng nên khi vào thực tế xây dựng gặp nhiều khó khăn, không phát huy

Trang 33

được hiệu quả Nghiêm trọng hơn là những dự án treo, gây lãng phí lớn cả về tài nguyên đất đai lẫn tiền của, sức lực của cộng đồng

1.3.2.2 Giai đoạn thực hiện dự án

Giai đoạn thực hiện dự án gồm các công việc: Thực hiện việc giao đất hoặc thuê đất (nếu có); chuẩn bị mặt bằng xây dựng, rà phá bom mìn (nếu có); khảo sát xây dựng; lập, thẩm định, phê duyệt thiết kế, dự toán xây dựng; cấp giấy phép xây dựng (đối với công trình theo quy định phải có giấy phép xây dựng); tổ chức lựa chọn nhà thầu và ký kết hợp đồng xây dựng; thi công xây dựng công trình; giám sát thi công xây dựng; tạm ứng, thanh toán khối lượng hoàn thành; nghiệm thu công trình xây dựng hoàn thành; bàn giao công trình hoàn thành đưa vào sử dụng; vận hành, chạy thử và thực hiện các công việc cần thiết khác.Theo tác giá, trong giai đoạn này, quá trình thiết kế và thi công là quan trọng nhất

Đối với các công trình sửa chữa, nâng cấp do thường có quy mô vừa và nhỏ vơi số vốn đầu tư ít nên chi phí giành cho tư vấn thiết kế thường không cao (6,2% đối với công

trình Nông nghiệp và PTNT [3]) Dẫn tới quá trình khảo sát, thiết kế thường bị thiếu

xót, cắt bớt các yêu cầu kỹ thuật Ví dụ khi nâng cấp sửa chữa trạm bơm, trong quá trình khảo sát còn bỏ sót khâu khảo sát địa chất Bên cạnh đó, một số đơn vị tư vấn khảo sát thiết kế còn hợp thức hóa năng lực hoạt động để kết hợp hoàn thành các hợp đồng tư vấn

Quá trình thi công là quá trình quan trọng nhất của dự án xây dựng Yếu tố con người

là yếu tố chủ chốt trong giai đoạn này, sau đó đến yếu tố nguyên, vật liệu, máy móc và công nghệ kĩ thuật Cũng chính vì thế, quá này cũng là giai đoạn tồn tại nhiều bất cập nhất trong tất cả các quá trình Công trình có đạt được các tiêu chí về chất lượng hay không đòi hỏi trong giai đoạn này công trình đáp ứng được các yêu cầu về tiến độ, chi phí và an toàn trong lao động Một số bất cập trong giai đoạn thi công xây lắp đối với các dự án nói chung và dự án nâng cấp, sửa chữa nói riêng như sau:

- Khâu lựa chọn nhà thầu thi công của Chủ đầu tư nhiều lúc còn mang tính chủ quan Đối với các công trình sửa chữa, nâng cấp thường áp dụng phương thức Chỉ định thầu Chính vị vậy đôi khi còn phụ thuộc vào yếu tố lợi ích nhóm mà bỏ qua nhiều nhà thầu

Trang 34

có năng lực cũng như kinh nghiệm

- Đối với các công trình sửa chữa, nâng cấp nói chung và các đơn vị thủy lợi trên địa bàn Hà Nội nói riêng: Lực lượng thẩm định còn mỏng, kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ, hạn chế về năng lực nên khi có sai sót trong khâu thiết kế thì chưa được phát hiện kịp thời, dẫn đến thi công gặp khó khăn

- Trong quá trình thi công, xảy ra bất cấp từ cả phía đơn vị giám sát của chủ đầu tư và đơn vị thi công Trình độ của đội ngũ giám sát còn chưa cao, hoặc có thể cùng một lúc phải kiêm nhiệm nhiều công việc nên công việc giám sát đôi khi chỉ mang tính đối phó, trên giấy tờ, chưa thật sự sâu sát thực tế Sự phối kết hợp giữa giám sát và các đơn vị liên quan chưa thật sự chặt chẽ, có khoa học và kịp thời

Công tác nghiệm thu, thanh kiểm tra của cơ quan có chức năng quyền hạn còn chưa đúng mức Nghiệm thu nhiều khi chỉ trên giấy tờ và tại một thời điểm nhất định chứ chưa đi sâu vào phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến công trình trong thời gian sử dụng lâu dài Khi công trình có vấn đề thì xử lý chưa đến nơi đến chốn, không phân rõ trách nhiệm cho các bên liên quan để xử lý nghiêm

1.3.2.3 Giai đoạn kết thúc xây dựng đưa công trình của dự án vào khai thác sử dụng

Giai đoạn kết thúc xây dựng đưa công trình của dự án vào khai thác sử dụng gồm các công việc: Quyết toán hợp đồng xây dựng, bảo hành công trình xây dựng

Trong quá trình quyết toán các công trình sửa chữa, nâng cấp trên địa bàn TP Hà Nội các thủ tục còn máy móc, rườm rà, chồng chéo dẫn tới nhiều công trình sau khi hoàn thành đưa vào sử dụng nhưng vẫn chưa quyết toán được

1.3.3 Quản lý chất lượng công trình thủy lợi của các chủ thể trực tiếp tham gia xây dựng công trình

1.3.3.1 Người có thấm quyền quyết định đầu tư

Theo quy định tại Điều 60 Luật xây dựng năm 2014 quy định về thẩm quyền quyết định đầu tư xây dựng như sau:

Đối với dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước, vốn công trái quốc gia, vốn trái phiếu Chính phủ, vốn trái phiếu chính quyền địa phương, vốn hỗ trợ phát triển chính thức,

Trang 35

vốn vay ưu đãi của nhà tài trợ nước ngoài, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, vốn đầu tư từ nguồn thu để lại cho đầu tư nhưng chưa đưa vào cân đối ngân sách nhà nước, các khoản vốn vay khác của ngân sách địa phương để đầu tư thì thẩm quyền quyết định đầu tư xây dựng được thực hiện theo quy định của pháp luật về đầu tư công

Đối với dự án sử dụng vốn tín dụng do Chính phủ bảo lãnh, vốn vay được bảo đảm bằng tài sản nhà nước, vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước, vốn từ quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, giá trị quyền sử dụng đất của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp nhà nước góp vốn để đầu tư xây dựng thì thẩm quyền quyết định đầu tư xây dựng được quy định như sau:

- Thủ tướng Chính phủ quyết định đầu tư dự án quan trọng quốc gia

- Người đại diện có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp theo quy định của pháp luật quyết định đầu tư dự án

- Đình chỉ thực hiện dự án đầu tư xây dựng đã được phê duyệt hoặc đang triển khai thực hiện khi thấy cần thiết phù hợp với quy định của pháp luật

- Thay đổi, điều chỉnh dự án đầu tư xây dựng khi thấy cần thiết phù hợp với quy định tại Điều 61 của Luật xây dựng năm 2014

- Người quyết định đầu tư xây dựng có các trách nhiệm sau:

- Tổ chức thẩm định dự án và quyết định đầu tư xây dựng

- Bảo đảm nguồn vốn để thực hiện dự án đầu tư xây dựng

- Kiểm tra việc thực hiện dự án đầu tư xây dựng của chủ đầu tư; tổ chức giám sát, đánh giá dự án đầu tư xây dựng theo quy định tại Điều 8 của Luật xây dựng năm 2014

- Phê duyệt quyết toán vốn đầu tư xây dựng hoàn thành

- Chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình

1.3.3.2 Chủ đầu tư

Chủ đầu tư xây dựng công trình là người (hoặc tổ chức) sở hữu vốn hoặc là người

Trang 36

được giao quản lý và sử dụng vốn để đầu tư xây dựng công trình.Chủ đầu tư là người phải chịu trách nhiệm toàn diện trước người quyết định đầu tư và pháp luật về các mặt chất lượng, tiến độ, chi phí vốn đầu tư và các quy định khác của pháp luật Chủ đầu tư được quyền dừng thi công xây dựng công trình và yêu cầu khắc phục hậu quả khi nhà thầu thi công xây dựng công trình vi phạm các quy định về chất lượng công trình, an toàn và vệ sinh môi trường

Nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ đầu tư được thể hiện như sau:

- Tổ chức thẩm định và phê duyệt các bước thiết kế, dự toán xây dựng công trình sau khi dự án được phê duyệt

- Phê duyệt kế hoạch đấu thầu, hồ sơ mời dự thầu, hồ sơ mời đấu thầu và kết quả đấu thầu đối với các gói thầu không sử dụng vốn Ngân sách Nhà nước

- Ký kết hợp đồng với các nhà thầu

- Thanh toán cho nhà thầu theo tiến độ hợp đồng hoặc theo biên bản nghiệm thu

- Nghiệm thu để đưa công trình xây dựng vào khai thác, sử dụng

1.3.3.3 Tổ chức tư vấn đầu tư xây dựng

Là tổ chức nghề nghiệp có tư cách pháp nhân, có đăng ký kinh doanh về tư vấn đầu tư

và xây dựng theo quy định của pháp luật Công việc của tổ chức tư vấn đầu tư xây dựng là lập quy hoạch xây dựng, lập dự án đầu tư xây dựng công trình, khảo sát, thiết

kế xây dựng, thẩm tra, kiểm định, thí nghiệm, quản lý dự án, giám sát thi công và công việc tư vấn khác có liên quan đến hoạt động đầu tư xây dựng Tổ chức chịu sự quản lý, giám sát của Chủ đầu tư và phải báo cáo và sự cho phép của Chủ đầu tư khi thực hiện các hoạt động xây dựng liên quan

1.3.3.4 Doanh nghiệp xây dưng

Doanh nghiệp xây dựng là một tổ chức kinh tế , có tư cách pháp nhân kinh doanh các sản phẩm đặc biệt ( sản phẩm có giá trị lớn , thời gian sản xuất dài ) trên thị trường xây dựng để đạt được mục đích tối đa hoá lợi nhuận

Trang 37

Doanh nghiệp xây dựng hình thành trên cơ sở pháp lý của mỗi quốc gia, phụ thuộc vào từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội nhất định

Hoạt động xây dựng của doanh nghiệp xây dựng chịu sự kiểm soát, giám sát thường xuyên của cơ quan chủ quản quản lý nhà nước, chủ đầu tư, các đơn vị thiết kế, tư vấn giám sát

1.3.3.5 Cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng

Trách nhiệm quản lý chất lượng của cơ quan quản lý nhà nước phụ thuộc vào loại hình công trình và quy mô của công trình

- Bộ Xây dựng thống nhất quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng trong phạm vi cả nước và quản lý chất lượng các công trình xây dựng chuyên ngành, bao gồm:Công trình dân dụng; công trình công nghiệp vật liệu xây dựng; công trình công nghiệp nhẹ; công trình hạ tầng kỹ thuật; công trình giao thông trong đô thị trừ công trình đường sắt, công trình cầu vượt sông và đường quốc lộ

- Các Bộ quản lý công trình xây dựng chuyên ngành:

+ Bộ Giao thông vận tải quản lý chất lượng công trình giao thông trừ các công trình giao thông do Bộ Xây dựng quản lý;

+ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quản lý chất lượng công trình nông nghiệp

và phát triển nông thôn;

+ Bộ Công Thương quản lý chất lượng các công trình công nghiệp trừ các công trình công nghiệp do Bộ Xây dựng quản lý

- Bộ Quốc phòng, Bộ Công an quản lý chất lượng các công trình quốc phòng, an ninh

- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng trên địa bàn Sở Xây dựng và các Sở quản lý công trình xây dựng chuyên ngành giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý chất lượng công trình chuyên ngành trên địa bàn như sau:

+ Sở Xây dựng quản lý chất lượng các công trình dân dụng; công trình công nghiệp vật liệu xây dựng, công trình công nghiệp nhẹ; công trình hạ tầng kỹ thuật; công trình

Trang 38

giao thông trong đô thị trừ công trình đường sắt, công trình cầu vượt sông và đường quốc lộ;

+ Sở Giao thông vận tải quản lý chất lượng công trình giao thông trừ các công trình giao thông do Sở Xây dựng quản lý

+ Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quản lý chất lượng công trình nông nghiệp

và phát triển nông thôn;

+ Sở Công thương quản lý chất lượng công trình công nghiệp trừ các công trình công nghiệp do Sở Xây dựng quản lý

1.3.3.6 Mối quan hệ của Chủ đầu tư và các chủ thể liên quan

Chủ đầu tư là chủ thể chịu trách nhiệm từ khi hình thành dự án đến lúc kết thúc dự án đầu tư xây dựng, có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan tổ chức tham gia quản lý và chịu sự quản lý của nhiều Bộ, Ngành, các cơ quan liên quan mà trực tiếp là người quyết định đầu tư

- Quan hệ với tổ chức tư vấn xây dựng: Quan hệ giữa tổ chức tư vấn xây dựng và chủ đầu tư là quan hệ hợp đồng Tổ chức tư vấn phải thực hiện đúng nội dung trong hợp đồng đã ký và pháp luật hiện hành, đảm bảo trung thực, khách quan, không vụ lợi và

tư vấn để chủ đầu tư không đưa ra những yêu cầu bất hợp lý Chủ đầu tư không được

tự ý thay đổi phạm vi ủy quyền hoặc có những can thiệp làm ảnh hưởng đến tính trung thực khách quan, không vụ lợi của tổ chức tư vấn xây dựng

- Đối với doanh nghiệp xây dựng: Mối quan hệ giữa chủ đầu tư và doanh nghiệp xây dựng ( nhà thầu thi công) là quan hệ hợp đồng Doanh nghiệp xây dựng có trách nhiệm thực hiện đầy đủ các nội dung chủ đầu tư yêu cầu trong hợp đồng ký kết Đổi lại chủ đầu tư phải tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp xây dựng trong khi thi công công trình và thanh toán đầy đủ cho doanh nghiệp xây dựng theo nội dung đã ký trên hợp đồng Chủ đầu tư cũng có quyền giám sát, thay đổi khi cần thiết nếu như thấy doanh nghiệp xây dựng vi phạm các nội dung đã ký trong hợp đồng

Đối với các cơ quan quản lý nhà nước: Chủ đầu tư chịu sự quản lý giám sát của cơ quan nhà nước liên quan về chất lượng quản lý cũng như phân bổ nguồn vốn

Trang 39

Quản lý chất lượng công trình xây dựng theo quy định của pháp luật Mỹ rất đơn giản

vì Mỹ dùng mô hình 3 bên để quản lý chất lượng công trình xây dựng Bên thứ nhất là các nhà thầu (thiết kế, thi công…) tự chứng nhận chất lượng sản phẩm của mình Bên thứ hai là khách hàng giám sát và chấp nhận về chất lượng sản phẩm có phù hợp với tiêu chuẩn các yêu cầu đặt hàng hay không Bên thứ ba là một tổ chức tiến hành đánh giá độc lập nhằm định lượng các tiêu chuẩn về chất lượng phục vụ cho việc bảo hiểm hoặc giải quyết tranh chấp Giám sát viên phải đáp ứng tiêu chuẩn về mặt trình độ chuyên môn, có bằng cấp chuyên ngành; chứng chỉ do Chính phủ cấp; kinh nghiệm làm việc thực tế 03 năm trở lên; phải trong sạch về mặt đạo đức và không đồng thời là công chức Chính phủ

1.3.4 Những vấn đề còn tồn tại

1.3.4.1 Đối với chủ đầu tư

Trong giai đoạn lựa chọn nhà thầu, việc lựa chọn nhà thầu đôi khi vẫn phụ thuộc vào ý kiến chủ quan và lợi ích nhóm Đấu thầu đôi khi chỉ mang tính thủ tục khi mà nhà thầu

đã được ngầm lựa chọn trước khi dự án được đưa ra đấu thầu

Trong quá trình giám sát thi công xây dựng, đội ngũ giám sát còn mỏng, lại chưa sâu sát với công trình Một phần là do yếu tố chuyên môn chưa sâu, một phần là do một cán bộ giám sát của chủ đầu tư đôi lúc phải kiêm nhiệm cả những công việc khác Đôi khi có là sự thông đồng của nhà thầu với giám sát xây dựng dẫn tới nhiều lỗi sai, bất hợp lý trong xây dựng bị giám sát cố tình lờ đi, không báo cáo cho Chủ đầu tư được biết, đặc biệt là những phần mắt thường không thấy được

Trong công tác nghiệm thu, việc kiểm tra chất lượng công trình khi hoàn thành đưa vào sử dụng của Chủ đầu tư đôi khi chỉ là thủ tục trên giấy tờ, không đủ thời gian để xét đến chất lượng của công trình trong một thời gian sử dụng nhất định Từ đó gây ra một số sự cố như công trình thời điểm đưa vào sử dụng thì đạt yêu cầu, nhưng chỉ một thời gian ngắn về sau thì xuống cấp một cách nhanh chóng Đến lúc này trách nhiệm của các bên không được làm rõ ràng, dẫn đến việc không thể xử lý, quy trách nhiệm Chủ đầu tư là người chủ động vốn bỏ ra để đặt hàng công trình xây dựng, họ là người chủ đưa ra các yêu cầu kỹ thuật, đảm bảo chất lượng cho các nhà thầu trong quá trình

Trang 40

lập dự án, khảo sát, thiết kế, đến giai đoạn thi công xây lắp vận hành bảo trì, vì vậy họ

là chủ thể quan trọng nhất quyết định chất lượng công trình xây dựng Đối với các công trình sửa chữa, nâng cấp nói riêng và các công trình vốn nhà nước nói chung thì Chủ đầu tư là người chịu trách nhiệm cao nhất trước pháp luật về chất lượng của công trình xây dựng Tuy nhiên do không phải tự chủ về nguồn vốn nên đôi lúc nên các yêu cầu về quản lý chất lượng, nguồn vốn còn chưa hợp lý Bên cạnh đó nhiều chủ đầu tư không có đủ năng lực, trình độ, nhiều trường hợp làm kiêm nhiệm, vì vậy công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng còn rất hạn chế

1.3.4.2 Đối với tư vấn xây dựng

Quản lý chất lượng ở đây chính là công tác thẩm định khảo sát - thiết kế - dự toán một cách khách quan, trung thực, chính xác

a Về công tác khảo sát:

Đối với các công trình sửa chữa, nâng cấp do hay phải tu sửa nên đơn vị tư vấn thường tận dụng báo cáo khảo sát của những năm trước mà ít khảo sát lại nên nhiều khi bỏ xót những biến động của địa hình, địa chất (như các công trình kênh mương, ) Quá trình khảo sát không nghiệm thu tại hiện trường, chủ yếu ở văn phòng, lấy số liệu công trình lân cận để đưa ra kết quả khảo sát hoặc chỉ khảo sát một vài vị trí, sau đó nội suy

b Về công tác thiết kế:

Tình trạng thiết kế sai sót, công tác thẩm định mang tính hình thức, chưa kiểm soát hết được sự bất hợp lý, không đồng nhất trong hồ sơ, làm mất nhiều thời gian phải chỉnh sửa, làm chậm tiến độ chung của dự án, gây khó khăn trong công tác đấu thầu và tổ chức thi công Việc giám sát tác giả của đơn vị tư vấn chưa nghiêm túc, trách nhiệm chưa cao, chưa chịu trách nhiệm đến cùng đối với sản phẩm của mình Nhiều khi, do đảm nhận cùng một lúc nhiều dự án trong khi thời gian thì ngắn nên việc quản lý chất lượng của một số hồ sơ không cao

Cách tính định mức chi phí tư vấn đầu tư xây dựng còn nhiều bất cập mà nguyên nhân

là từ nhiều phía Việc trả tiền thiết kế theo tỷ lệ phần trăm so với giá trị dự toán được duyệt chứ không phải dựa trên hiệu quả mà dự án mang lại Nhiều đồ án thiết kế chưa

Ngày đăng: 02/07/2020, 16:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w