1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn huyện Phú Binh, tỉnh Thái Nguyên

111 61 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 1,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc hiểu khu vực KTTN theo nghĩa rộng như vậy tạo cơ sở đánh giá hết tiềm năng của KTTN đối với phát triển kinh tế Việt Nam, song lại gặp khó khăn trong thống kê, khi muốn tách bạch phầ

Trang 1

Lời cam đoan

Tác giả xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và hoàn toàn chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tác giả cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ để thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Dương Đình Đức

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành được luận văn này, trước hết, tác giả xin chân thành cảm ơn PGS.TS Ngô Thị Thanh Vân - Trường Đại học Thủy Lợi Hà Nội Người đã dành nhiều thời gian tận tình hướng dẫn, chỉ bảo cho tác giả trong suốt quá trình thực hiện luận văn này Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn Ban giám hiệu Nhà trường, các thầy giáo, cô giáo, đặc biệt là các thầy, cô trong bộ môn Quản lý xây dựng, Khoa kinh tế và quản lý, Khoa sau Đại học trường Đại học Thủy Lợi Hà Nội, những người đã truyền đạt cho tác giả những kiến thức bổ ích trong quá trình học tập và rèn luyện tại trường

Tác giả xin chân thành cảm ơn các sở, ban, ngành của tỉnh Thái Nguyên, Huyện uỷ, UBND huyện Phú Bình, Chi cục Thống kê, Phòng Tài chính-Kế hoạch, Chi cục thuế, Phòng Lao động Thương binh và xã hội huyện Phú Bình và những những cơ sở KTTN

đã cung cấp những số liệu cần thiết và giúp đỡ tác giả trong quá trình tìm hiểu nghiên cứu tại địa bàn

Trong quá trình học tập và thực hiện luận văn tác giả đã được rất nhiều sự giúp đỡ của các bạn, các đồng nghiệp và gia đình Tác giả xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ và ghi nhận những tình cảm quý báu đó

Hà nội, ngày tháng năm 2018

Tác giả luận văn

Dương Đình Đức

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC BẢNG v

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN 6 1.1 Cơ sở lý luận về phát triển kinh tế tư nhân 6

1.1.1 Kinh tế tư nhân và phát triển kinh tế tư nhân 6

1.1.2 Nội dung của phát triển kinh tế tư nhân 14

1.1.3 Vai trò của KTTN 21

1.1.4 Các chỉ tiêu đánh giá về phát triển KTTN 23

1.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển KTTN 24

1.2 Cơ sở thực tiễn về phát triển KTTN 27

1.2.1 Tình hình phát triển KTTN ở các huyện lân cận 27

1.2.2 Tổng quan phát triển KTTN ở Việt Nam 30

1.2.3 Bài học kinh nghiệm về phát triển KTTN cho huyện Phú Bình 31

Kết luận chương 1 33

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KTTN TẠI HUYỆN PHÚ BÌNH 34

2.1 Điều kiện tự nhiên và dân sinh kinh tế huyện Phú Bình 34

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 34

2.1.2 Điều kiện dân sinh kinh tế 36

2.2 Thực trạng phát triển KTTN tại huyện Phú Bình 39

2.2.1 Gia tăng về số lượng doanh nghiệp KTTN 39

2.2.2 Vốn sản xuất kinh doanh của các cơ sở KTTN 48

2.2.3 Lao động trong khu vực KTTN 52

2.2.4 Giá trị sản xuất công nghiệp của khu vực KTTN 60

2.2.5 Tổng mức bán lẻ hàng hóa, dịch vụ của khu vực KTTN 61

2.2.6 Tình hình nộp ngân sách của khu vực kinh tế tư nhân: 62

2.3 Những kết quả đạt được, những hạn chế tồn tại và nguyên nhân 64

2.3.1 Những kết quả đạt được 64

Trang 4

2.3.2 Những hạn chế của kinh tế tư nhân 65

2.3.3 Những nguyên nhân ảnh hưởng 66

Kết luận chương 2 72

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KTTN TẠI HUYỆN PHÚ BÌNH 73 3.1 Định hướng và mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội của huyện Phú Bình đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 73

3.1.1 Mục tiêu tổng quát 73

3.1.2 Chỉ tiêu chủ yếu 73

3.1.3 Định hướng phát triển kinh tế, xã hội 74

3.2 Mục tiêu phát triển KTTN huyện Phú Bình giai đoạn 2017 – 2020, tầm nhìn đến năm 2030 77

3.2.1 Những thuận lợi, khó khăn trong phát triển KTTN 77

3.2.2 Mục tiêu chung 78

3.2.3 Mục tiêu cụ thể đến năm 2020 78

3.3 Các giải pháp nhằm phát triển KTTN trên địa bàn huyện Phú Bình giai đoạn 2017 – 2020, tầm nhìn đến năm 2030 79

3.3.1 Giải pháp 1: Tiếp tục triển khai thực hiện, tuyên truyền chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về KTTN 79

3.3.2 Giải pháp 2: Tổ chức triển khai thực hiện các chính sách hỗ trợ, ưu đãi từ phía các cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương 80

3.3.3 Giải pháp 3: Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, khuyến khích chủ các cơ sở KTTN học tập, nâng cao trình độ 85

3.3.4 Giải pháp 4: Nâng cao vai trò của các hiệp hội doanh nghiệp 86

3.3.5 Giải pháp 5: Làm tốt công tác thi đua, khen thưởng, nhân rộng điển hình tiên tiến 87

3.3.6 Giải pháp 6: Đầu tư cơ sở vật chất, xử lý hài hòa các nhóm lợi ích 89

3.3.7 Giải pháp 7: Tăng cường liên doanh, liên kết giữa các cơ sở KTTN, ứng dụng công nghệ hiện đại nhằm sản xuất hàng hóa theo chuỗi 91

3.3.8 Giải pháp 8: Đẩy mạnh hoạt động Marketing trong các cơ sở KTTN 92

Kết luận chương 3 95

KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 96

TÀI LIỆU THAM KHẢO 100

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Số lượng các cơ sở kinh tế tư nhân đăng ký kinh doanh 39 Bảng 2.2 Số lượng hộ cá thể trên địa bàn huyện Phú Bình qua các năm 41 Bảng 2.3 Số lượng Doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn huyện Phú Bình qua các năm 43 Bảng 2.4 Số lượng công ty TNHH trên địa bàn huyện Phú Bình qua các năm 45 Bảng 2.5 Số lượng công ty cổ phần trên địa bàn huyện Phú Bình qua các năm 46 Bảng 2.6 Số lượng các cơ sở kinh tế tư nhân thực sự hoạt động tính đến 31/12/2016 47 Bảng 2.7 Tổng hợp tình hình vốn các cơ sở kinh tế tư nhân đăng ký kinh doanh 49 Bảng 2.8 Tài sản cố định của các cơ sở kinh tế tư nhân 51 Bảng 2.9 Số lượng lao động khu vực kinh tế tư nhân qua các năm 52 Bảng 2.10 Số lượng lao động trong khu vực kinh tế tư nhân phân theo các ngành nghề sản xuất kinh doanh 53 Bảng 2.11 Lao động trong Doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn huyện Phú Bình 56 Bảng 2.12 Lao động trong công ty trách nhiệm hữu hạn trên địa bàn huyện Phú Bình 58 Bảng 2.13 Lao động trong công ty cổ phần trên địa bàn huyện Phú Bình 59 Bảng 2.14 Giá trị sản xuất công nghiệp của khu vực kinh tế tư nhân theo giá cố định

2010 trên địa bàn huyện Phú Bình 60 Bảng 2.15 Tổng mức bán lẻ hàng hóa, dịch vụ của các cơ sở kinh tế tư nhân theo giá

cố định năm 2010 61 Bảng 2.16 Nộp ngân sách Nhà nước của các cơ sở kinh tế tư nhân 62

Trang 6

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ: 2.1 Số lượng các cơ sở KTTN đăng ký kinh doanh 40 Biểu đồ: 2.2 Tổng hợp tình hình vốn các cơ sở KTTN đăng ký kinh doanh 50 Biểu đồ 2.3 Số lượng lao động trong khu vực KTTN theo các ngành nghề sản xuất kinh doanh 54 Biểu đồ 2.4 Nộp ngân sách nhà nước của các cơ sở KTTN 63

Trang 7

PTKTTCR Phát triển kinh tế theo chiều rộng

PTKTTCS Phát triển kinh tế theo chiều sâu

SAIC Ban quản lý công nghiệp và thương mại nhà nước của Trung Quốc

WTO Tổ chức thương mại thế giới

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hiện nay nước ta đang trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá Với mục tiêu cơ bản sớm đưa Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại Thực hiện phát triển kinh tế nhiều thành phần, kinh tế Nhà nước làm chủ đạo có sự điều tiết của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh có cơ hội phát triển, đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước

Qua một thời gian thực hiện, với chủ trương đúng đắn của Đảng, Nhà nước, nền kinh tế nước ta có bước phát triển vượt bậc GDP bình quân đầu người năm 2016 đạt trên 2.200 USD/năm Thu hút rất nhiều nhà đầu tư nước ngoài vào làm ăn, mở

ra cơ hội cho nhiều doanh nghiệp trong nước

Với chủ trương phát triển đa dạng hoá nền kinh tế và các thành phần kinh tế, đất nước thay đổi đi lên từng ngày Cơ sở hạ tầng liên tục được đổi mới làm thay đổi bộ mặt quốc gia Từ thành thị tới nông thôn, các nhà máy, xí nghiệp, các khu công nghiệp liên tiếp mọc ra Các khu đô thị mới, các công trình phúc lợi được hình thành chiếm lĩnh các vị trí trọng yếu, làm đầu tầu cho sự phát triển kinh tế của các vùng, các địa phương

Kinh tế phát triển, các ngành nghề phi nông nghiệp cũng phát triển theo Đặc biệt các nhà máy, doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân là nơi thu hút một lực lượng lớn lao động của đất nước

Với sự phát triển mạnh mẽ của các ngành kinh tế, thành phần kinh tế Đảng và Nhà nước đã không ngừng nghiên cứu đưa ra các chủ trương, hoàn thiện các chính sách

hỗ trợ phát triển Trong đó có chính sách đối với sự phát triển của khu vực kinh tế

tư nhân Điều này mở ra cơ hội lớn cho thành phần kinh tế tư nhân không ngừng phát triển đóng góp vào sự phát triển chung của nền kinh tế đất nước

Huyện Phú Bình nằm ở phía Nam của tỉnh, trung tâm huyện cách thành phố Thái Nguyên 26 km, cách thành phố Bắc Ninh 50km Huyện Phú Bình giáp huyện Đồng

Trang 10

Hỷ về phía Bắc; giáp thành phố Thái Nguyên và thị xã Phổ Yên về phía Tây Phía Đông và Nam giáp tỉnh Bắc Giang (các huyện Hiệp Hòa, Tân Yên và Yên Thế) với diện tích tự nhiên 24.936 km2, dân số tự nhiên 142.819 người; gồm 07 dân tộc anh

em cùng sinh sống, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm khoảng 09% dân số của huyện Toàn huyện có 20 đơn vị hành chính (gốm 19 xã và 01 thị trấn)

Huyện có 02 cụm công nghiệp và 01 khu công nghiệp của tỉnh nằm trên địa bàn huyện Với vị trí thuận lợi về giao thông đó là có quốc lộ 37 nối tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang với Thái Nguyên và có đường cao tốc Hà Nội - Thái Nguyên chạy qua huyện, được sự quan tâm của Nhà nước, của tỉnh trong 10 năm trở lại đây huyện Phú Bình đã có những thay đổi nhanh chóng

Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch mạnh mẽ, theo xu hướng tăng dần tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp Các cụm công nghiệp liên tiếp được hình thành, môi trường đầu tư không ngừng được quan tâm, đặc biệt cùng với chính sách chung của cả nước, của tỉnh Thái Nguyên Huyện Phú Bình cũng hết sức quan tâm tới sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân và các loại hình doanh nghiệp thuộc khu vực này

Trước đây khi chưa có chính sách khuyến khích sự phát triển đối với kinh tế tư nhân và các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân, chỉ có loại hình kinh tế tập thể, kinh tế nhà nước tồn tại Một lượng lớn nguồn lực đã bị lãng phí, không được huy động vào sản xuất kinh doanh

Từ những năm 2010 trở lại đây, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khu vực KTTN được tạo điều kiện phát triển song hành cùng với nhiều khu vực kinh tế khác Thực

tế đã khẳng định vai trò, cũng như những đóng góp to lớn của KTTN vào sự phát triển chung của cả nước, của huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên nói riêng

Hiện nay, khi nước ta đã ra nhập WTO, hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, đứng trước nhiều cơ hội và thách thức cho sự phát triển kinh tế đất nước, trong đó có sự tác động tới khu vực kinh tế tư nhân

Việc nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng phát triển, cũng như tác động của KTTN tới sự

Trang 11

phát triển kinh tế là rất cần thiết, từ đó kịp thời có các giải pháp phát huy những mặt mạnh, hạn chế những tác động tiêu cực, có các cơ chế thúc đẩy khu vực KTTN tiếp tục phát triển, đóng góp nhiều hơn nữa cho kinh tế địa phương và cả nước

Xuất phát từ các lý do trên tác giả chọn đề tài: "Giải pháp phát triển kinh tế tư

nhân trên địa bàn huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên"

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển KTTN nói chung, hộ

cá thể, doanh nghiệp thuộc thành phần KTTN nói riêng ở huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên

- Đánh giá tình hình và kết quả phát triển kinh tế tư nhân, đặc biệt là hộ cá thể, doanh nghiệp thuộc khu vực KTTN ở huyện Phú Bình, nguyên nhân ảnh hưởng đến

sự phát triển thành phần kinh tế này tại huyện Phú Bình trong thời gian qua

- Đề xuất các giải pháp phát triển KTTN trên địa bàn huyện Phú Bình trong những năm tới

3 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

3.1 Phương pháp thống kê mô tả, thu thập số liệu

Thu thập số liệu là việc làm cần thiết trong nghiên cứu kinh tế, việc thu thập tốt các

số liệu sẽ cung cấp đầy đủ các thông tin về lý luận và thực tiễn, tạo điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu và xử lý số liệu, từ đó có những đánh giá chính xác về thực trạng của vấn đề nghiên cứu và đề xuất các giải pháp hữu ích giúp cho đề tài nghiên

Trang 12

cứu được hoàn thiện

Thu thập số liệu: Tổng hợp số liệu về hộ, doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân: Nguồn Sở kế hoạch - Đầu tư, Cục thống kê Thái Nguyên, phòng Tài chính-

kế hoạch, Chi cục thống kê, chi cục thuế huyện Phú Bình

Là những số liệu đã có sẵn, được tổng hợp từ trước đã được công bố Trong đề tài,

số liệu bao gồm các số liệu về các cơ sở kinh tế tư nhân, các vấn đề liên quan đến doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân, số liệu phục vụ cho đề tài được tiến hành thu thập trên sách báo, các báo cáo tổng kết kinh doanh của các doanh nghiệp, internet…Các số liệu này có vai trò quan trọng cung cấp thông tin cơ bản làm cơ sở phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài

3.2 Phương pháp xử lý số liệu

Các số liệu được thu thập thường là các số liệu tổng hợp chưa đồng nhất, chưa được

xử lý theo đúng quy trình, hệ thống Do vậy để tiện cho việc phân tích, xử lý số liệu, chúng tôi tiến hành tính toán trên chương trình Excel, sắp xếp các bảng biểu, hệ thống các chỉ tiêu một cách khoa học hợp lý, đồng nhất về đơn vị, thời gian

3.3 Phương pháp phân tích kinh tế

Thông qua việc điều tra khảo sát từ đó phân tích, đánh giá

3.4 Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo

- Thông qua việc tham khảo ý kiến các chuyên gia:

+ Trong lĩnh vực kinh tế, chính sách, doanh nghiệp

+ Lãnh đạo UBND huyện, các Sở ban ngành liên quan, giám đốc các doanh nghiệp, các chủ hộ

+ Nghiên cứu các công trình có liên quan đã được công bố

+ Tiếp thu, phân tích và vận dụng có chọn lọc vào việc thực hiện đề tài

Trang 13

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Các loại hình thuộc khu vực kinh tế tư nhân: Hộ cá thể, Doanh nghiệp tư nhân, công ty Trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần không có vốn nhà nước, không có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn huyện Phú Bình

Trang 14

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN

1.1 Cơ sở lý luận về phát triển kinh tế tư nhân

1.1.1 Kinh tế tư nhân và phát triển kinh tế tư nhân

a) Kinh tế tư nhân:

* Khái niệm về kinh tế tư nhân:

KTTN là một loại hình kinh tế phát triển dựa trên sở hữu tư nhân về toàn bộ các yếu

tố sản xuất (cả hữu hình và vô hình) được đưa vào sản xuất kinh doanh Nó hoàn toàn tự chủ, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ,

cụ thể là: tự chủ về vốn, tự chủ về quản lý, tự chủ về phân phối sản phẩm, tự chủ lựa chọn hình thức tổ chức, quy mô, phương hướng sản xuất kinh doanh, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trước pháp luật của nhà nước Khu vực kinh tế tư nhân: là khu vực kinh tế bao gồm những đơn vị được tổ chức dựa trên sở hữu tư nhân

Hiện nay ở các quốc gia có rất nhiều cách hiểu khác nhau về kinh tế tư nhân Ở các quốc gia phát triển thì mọi hoạt động kinh tế không thuộc khu vực kinh tế nhà nước thì đều được coi là khu vực kinh tế tư nhân Các công ty tư nhân hay các hợp tác xã, các công ty hợp danh của một nhóm người hay các công ty CP xuyên quốc gia cũng đều có đặc điểm chung là những đơn vị sản xuất kinh doanh không phải của Nhà nước, các quyết định cho hoạt động của doanh nghiệp luôn do cá nhân, hay đại diện của một nhóm cá nhân đề ra Việc nhìn nhận này không chỉ thấy hết tiềm lực KTTN của một quốc gia, mà còn là cơ sở cho phương thức quản lý thống nhất, bình đẳng đối với các loại hình sản xuất kinh doanh trong xã hội

Ở Việt Nam cũng có những cách hiểu khác nhau về phạm vi của kinh tế tư nhân:

* Cách hiểu thứ nhất: Khu vực KTTN gồm các DNTN trong nước và các doanh

nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài dưới dạng liên doanh hay 100% vốn nước ngoài Các DNTN trong nước bao hàm cả các hợp tác xã nông nghiệp và các doanh

Trang 15

nghiệp phi nông nghiệp Việc hiểu khu vực KTTN theo nghĩa rộng như vậy tạo

cơ sở đánh giá hết tiềm năng của KTTN đối với phát triển kinh tế Việt Nam, song lại gặp khó khăn trong thống kê, khi muốn tách bạch phần góp vốn của Nhà nước trong các công ty cổ phần, cũng như trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Hơn nữa, theo cách phân biệt này, việc phân tích đôi khi sẽ gặp khó khăn, bởi không phải tất cả các bộ phận trong khu vực KTTN đều được Nhà nước đối xử như nhau Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nhìn chung luôn nhận được những điều kiện thuận lợi hơn các DNTN trong nước, cũng như công ty trách nhiệm hữu hạn, hộ kinh doanh cá thể

* Cách hiểu thứ hai: Khu vực KTTN cũng có thể được hiểu là khu vực kinh tế

ngoài quốc doanh Cách nhìn này dựa trên việc chia nền kinh tế thành ba khu vực kinh tế: Khu vực kinh tế quốc doanh, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Một số chuyên gia cho rằng việc đưa khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ra khỏi khu vực KTTN trong nước sẽ không đánh giá đúng tiềm năng, cũng như vai trò của khu vực này cho sự phát triển kinh tế Việt Nam đặc biệt trong điều kiện kinh tế mở, từng bước hội nhập sâu vào nền kinh tế hiện nay

* Cách hiểu thứ ba: Khu vực KTTN bao gồm các loại hình DNTN trong nước,

nhưng không bao hàm hộ kinh doanh cá thể Cách hiểu này bộc lộ nhiều hạn chế Tuy nhiên, các số liệu thống kê của Việt Nam thường theo cách phân loại này

* Theo quan điểm của Đảng ta thể hiện trong Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX: Việc hiểu KTTN gắn liền với khái niệm thành phần kinh tế Trong nền kinh tế

của nước ta theo quan niệm lúc đó có 6 thành phần kinh tế: kinh tế Nhà nước; kinh

tế tập thể; kinh tế cá thể, tiểu chủ; kinh tế tư bản tư nhân; kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Trong Nghị Quyết Hội nghị lần thứ năm của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX đã chỉ rõ: “…KTTN gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân hoạt động dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể và các loại hình doanh nghiệp tư nhân…”

Hộ kinh doanh cá thể là hình thức tồn tại của thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ,

Trang 16

dựa trên sở hữu tư nhân nhỏ về tư liệu sản xuất Hình thức này chủ yếu sử dụng lao động trong gia đình, việc sử dụng lao động làm thuê không thường xuyên Hộ kinh doanh cá thể là đơn vị kinh tế độc lập tự chủ trong sản xuất kinh doanh, là chủ thể trong mọi quan hệ sản xuất và tự chịu trách nhiệm về kết quả tài chính của mình Các loại hình doanh nghiệp thuộc khu vực KTTN là doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh Các loại doanh nghiệp này

là hình thức tồn tại của thành phần kinh tế tư bản tư nhân, dựa trên sở hữu tư nhân lớn về tư liệu sản xuất

* Theo quan điểm của Đảng tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X: việc hiểu

KTTN tiếp tục gắn liền với khái niệm thành phần kinh tế

Đảng ta xác định có 5 thành phần kinh tế: Kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, KTTN (cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân), kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài

KTTN gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân, được xác định có vai trò quan trọng, là động lực của nền kinh tế

* Theo quan điểm của Đảng tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII: không nêu

cụ thể từng thành phần kinh tế, mà khẳng định nền kinh tế nước ta có nhiều hình thức sở hữu và nhiều thành phần kinh tế đó là: Doanh nghiệp nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác xã, kinh tế tư nhân, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài

Đối với kinh tế tư nhân: Hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích, tạo thuận lợi phát triển mạnh kinh tế tư nhân ở hầu hết các ngành và lĩnh vực kinh tế, trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế Khuyến khích hình thành các tập đoàn kinh tế tư nhân đa sở hữu và tư nhân góp vốn vào các tập đoàn kinh tế nhà nước Từ chỗ chúng ta không thừa nhận sự tồn tại của kinh tế tư nhân, coi đó là nguồn gốc dẫn đến sự hình thành chủ nghĩa tư bản, đến nay chúng ta coi kinh tế tư nhân là động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN

* Theo nhà kinh tế Hunggary J Kornai, khu vực KTTN gồm các đơn vị sau:

Trang 17

Hộ gia đình như một đơn vị kinh tế Sản xuất và dịch vụ trong nội bộ gia đình nhằm đáp ứng nhu cầu của bản thân họ

Xí nghiệp tư nhân chính thức, hoạt động theo các quy định của luật pháp, bất kể

ở mức độ nào, từ việc kinh doanh của một cá nhân đến xí nghiệp lớn

Xí nghiệp tư nhân phi chính thức, tức là một đơn vị của “kinh tế ẩn” Loại này bao gồm mọi hoạt động sản xuất và dịch vụ do các cá nhân thực hiện, không có giấy phép riêng của chính quyền, phục vụ cho nhau, hay cho xí nghiệp tư nhân chính thức Bất kể việc sử dụng hữu ích nào của tài sản tư nhân hay tiết kiệm tư nhân, kể từ việc cho thuê sở hữu tư nhân đến việc vay mượn giữa các tư nhân với nhau

Từ những ý kiến trên có thể thấy rằng, quan niệm về KTTN ở nước ta chưa thống nhất và được hiểu theo nhiều cách khác nhau Tiêu thức phân loại chưa rõ ràng và thiếu nhất quán: Nếu lấy tiêu thức sở hữu làm cơ sở để phân loại thì tại sao lại có sự khác biệt giữa tư nhân với cá thể Nếu tính đến tiêu thức có bóc lột người lao động

để phân biệt giữa tư nhân và cá thể thì không ai dám chắc các cơ sở cá thể có hàng chục lao động là không có bóc lột Hơn nữa trên thực tế, khó có thể xác định một cách chính xác khu vực KTTN do hiện tượng tư nhân núp bóng quốc doanh, mượn tên quốc doanh xây dựng các sân sau bên cạnh các doanh nghiệp Nhà nước, trốn tránh đăng ký kinh doanh, tư nhân đội lốt tập thể dưới dạng các tổ hợp và đội lốt hộ kinh doanh gia đình…Trong tất cả các công ty liên doanh với nước ngoài ở Việt Nam, số vốn cộng gộp của Nhà nước ta chỉ chiếm 14% tổng số vốn thực hiện, phía

tư nhân nước ngoài sở hữu 44%, còn lại vốn vay là 42% [9]

Trên thế giới, trước khi hình thành khu vực kinh tế Nhà nước, KTTN giữ vị trí độc tôn trên thị trường và thường đồng nhất với kinh tế thị trường Chính vì vậy, nói đến kinh tế thị trường bao giờ cũng nói đến KTTN và trong các tài liệu, sách báo thường chỉ đề cập tới bản chất của KTTN đó là sở hữu tư nhân Khu vực kinh tế nhà nước

do nhà nước sở hữu (hoặc có CP khống chế) nên nhà nước có thể chi phối và kiểm soát trực tiếp hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Khu vực KTTN là phần còn lại, ngoài khu vực Nhà nước Sự phân chia như vậy chủ yếu dựa trên tiêu chí sở hữu tư liệu sản xuất hoặc vốn Trong nền kinh tế hỗn hợp hiện nay, sự đan

Trang 18

xen sở hữu giữa khu vực kinh tế nhà nước và khu vực KTTN hiện nay làm cho sự phân loại thêm phức tạp Trong các công ty sở hữu hỗn hợp, khu vực KTTN được xác định dựa vào tỷ lệ vốn khống chế thuộc về tư nhân Tỷ lệ vốn khống chế này tùy vào điều kiện mỗi nước và có thể dao động từ 18-40%, không nhất thiết phải trên 50% Ví dụ, ở Trung Quốc, trong quá trình CP hóa doanh nghiệp Nhà nước và theo luật công ty của nước này, Nhà nước chỉ nắm 35% cổ phiếu của các công ty là

có thể khống chế được hoạt động của công ty [10]

* Theo chúng tôi để đánh giá đúng tiềm năng của khu vực KTTN Việt Nam, thì

khu vực KTTN bao gồm các hộ kinh doanh cá thể và các loại hình doanh nghiệp tư nhân Tách riêng khu vực KTTN Việt Nam ra khỏi khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài sẽ giúp chúng ta đánh giá được đúng hơn vai trò của từng loại hình với

sự phát triển chung của nền kinh tế

Trong phạm vi đề tài nghiên cứu của mình chúng tôi tập trung vào nghiên cứu về hộ

cá thể và các loại hình doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân

b) Đặc điểm của kinh tế tư nhân:

* Đặc điểm của KTTN trong các nền kinh tế khác nhau:

- Sự giống nhau: Đó là chúng đều tồn tại và phát triển dựa trên “Quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất” Đặc điểm này chỉ ra rằng các hình thức sở hữu, nói rộng ra là quan hệ sản xuất đều ra đời, phát triển và tiêu vong có tính khách quan Mặt khác các hình thức sở hữu hay các quan hệ sản xuất mang tính chất lịch sử, chúng tồn tại trong những điều kiện nhất định của lực lượng sản xuất

- Sự khác nhau: KTTN trong nền kinh tế thị trường khác với KTTN trong nền kinh

tế tự cung tự cấp:

+ KTTN trong nền kinh tế thị trường dựa trên lực lượng sản xuất xã hội hóa, do đó

nó tồn tại và phát triển không thể tách rời các hình thức sở hữu và các thành phần kinh tế khác Đặc điểm này đưa đến mâu thuẫn nội tại trong KTTN của kinh tế thị trường, đó là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hóa hoạt động sản xuất kinh doanh

Trang 19

với tính chất tư nhân hóa về chiếm hữu, mâu thuẫn này không có trong nền kinh tế

+ Chỉ có KTTN trong nền kinh tế thị trường mới có khả năng phát triển dẫn đến

sở hữu xã hội thông qua sự biến đổi và phát triển của lực lượng sản xuất

- KTTN trong các chế độ chính trị khác nhau thì bản chất có khác nhau

+ Trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa KTTN giữ vai trò thống trị, nó phù hợp với trình độ xã hội hóa của lực lượng sản xuất

+ Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa do Đảng cộng sản lãnh đạo thì KTTN là một bộ phận trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần Nó chịu tác động qua lại giữa các thành phần khác và sự định hướng của Nhà nước do Đảng cộng sản lãnh đạo Ở đây KTTN vẫn còn bóc lột, nhưng mức độ bóc lột đã được điều chỉnh phù hợp với lợi ích của xã hội, vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”

* Đặc điểm KTTN trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta + KTTN trong nền kinh tế nước ta phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa Là một bộ phận trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nó chịu sự tác động; phát triển trong khuôn khổ chiến lược của đất nước và theo định hướng các chính sách của Nhà nước

+ KTTN của nước ta đại bộ phận mới được tái lập và xây dựng từ khi có đường lối đổi mới của Đảng, chủ yếu từ 1990 trở lại đây Phần lớn quy mô của các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế nước ta có quy mô vừa và nhỏ, trình độ công nghệ còn lạc hậu, khả năng đầu tư mở rộng và đầu tư chiều sâu còn hạn chế

+ Xu hướng đầu tư của các DNTN là đầu tư vào những lĩnh vực có hiệu quả

Trang 20

ngay, có thể “Đánh nhanh rút gọn khi có bất trắc xảy ra” Tuy số lượng các loại hình DNTN ở nước ta rất đông tuy nhiên chưa có doanh nghiệp nào tầm cỡ, có khả năng cạnh tranh được với nước ngoài

+ Một bộ phận lớn chủ DNTN là cán bộ nhà nước đã nghỉ hưu, con em các gia đình cán bộ…nên mang đến nguy cơ làm tha hóa bộ máy Nhà nước

+ KTTN của nước ta ít có quan hệ rộng rãi và thiếu kinh nghiệm thương trường cũng là một đặc điểm và cũng là nhược điểm cần khắc phục

+ KTTN phân bố không đều, chủ yếu tập trung vào những vùng mà cơ sở hạ tầng thuận lợi, dân cư đông đúc, trong một số ngành có suất sinh lời cao Trình độ phát triển KTTN giữa các vùng còn chênh lệch: giữa miền núi và miền xuôi, giữa nông thôn và thành thị, giữa miền Nam và miền Bắc

+ Trình độ văn minh trong kinh doanh của khu vực KTTN còn nhiều hạn chế: làm

ăn chụp giật, gian lận thương mại, trốn thuế vẫn thường xuyên xảy ra…

Với những đặc điểm trên đây KTTN của nước ta không còn thuần túy là tư nhân như ở các nước tư bản mà đã có những thay đổi trong bản chất của nó Tuy nhiên đó không phải là thay đổi căn bản Đồng thời những đặc điểm trên cũng cho thấy KTTN nước ta mới được tái lập trở lại chưa lâu nên thời gian qua mới là thời kỳ tích lũy nguyên thủy, nên cần tạo điều kiện để nó có thể đạt tới đỉnh cao trong phát triển, phát huy tối đa vai trò với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, bắt kịp với trình độ các nước trong khu vực và trên thế giới

c) Các loại hình sản xuất, kinh doanh trong khu vực kinh tế tư nhân:

+ Hộ cá thể: Loại hình hộ cá thể thực chất là KTTN có quy mô nhỏ, là đơn vị trực tiếp sản xuất kinh doanh, có thuê mướn lao động nhưng chưa thành lập doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp Hộ cá thể tồn tại như một tất yếu và mang tính đặc thù của nền kinh tế nhỏ lẻ, đang phát triển ở trình độ thấp bắt nguồn từ nông nghiệp như nước ta Loại hình hộ cá thể đang tồn tại phổ biến ở nước ta hiện nay như các trang trại, chủ thầu xây dựng nhỏ, chủ cửa hàng, xưởng sản xuất

Trang 21

+ Doanh nghiệp tư nhân: một loại hình doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp Theo Luật doanh nghiệp, chủ DNTN là người đại diện của doanh nghiệp có toàn quyền quyết định đối với tất cả các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, sử dụng lợi nhuận sau khi nộp thuế và thực hiện các nghiệp vụ tài chính khác theo pháp luật quy định; có thể trực tiếp hoặc giao cho người khác quản lý điều hành hoạt động kinh doanh Nếu giao cho người khác quản lý phải khai báo với cơ quan đăng kí kinh doanh và phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

DNTN có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh + Công ty trách nhiệm hữu hạn: Là doanh nghiệp trong đó thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm

vi số vốn đã cam kết góp vào doanh nghiệp Thành viên của công ty có thể là tổ chức, cá nhân; tối đa không vượt quá năm mươi người Công ty TNHH có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Tuy nhiên, công ty TNHH không được phát hành cổ phiếu để huy động vốn

Công ty TNHH có từ hai thành viên trở lên phải có Hội đồng thành viên, Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc Công ty TNHH có trên mười một thành viên phải

có ban kiểm soát

Công ty TNHH là loại hình doanh nghiệp phổ biến nhất ở Việt Nam hiện nay Hoạt động kinh doanh dưới hình thức công ty TNHH đem lại cho nhà đầu tư nhiều lợi thế

+ Công ty cổ phần: những công ty được hình thành trên cơ sở liên hợp nhiều tư bản

cá nhân bằng cách phát hành và bán cổ phiếu, lợi nhuận của công ty được phân phối giữa các cổ đông theo số lượng cổ phần Tuỳ theo luật pháp của từng nước mà công

ty CP được tổ chức dưới các hình thức khác nhau Ở Anh, có hai loại công ty CP: công ty công cộng và công ty riêng Công ty công cộng là công ty CP mà cổ phiếu được phát hành rộng rãi trong công chúng; các cổ phiếu có thể được tự do chuyển nhượng hay được mua bán trên thị trường chứng khoán; số cổ đông sáng lập ít nhất

Trang 22

là bảy người Công ty riêng là công ty mà số cổ đông bị hạn chế (không quá 50 người và cổ đông sáng lập không dưới hai người), số cổ phiếu không được bán cho công chúng và không được chuyển nhượng Ở Pháp, tương đương với công ty công cộng là công ty vô danh, trong đó ban quản trị có quyền hạn rất lớn; tương đương với công ty riêng là công ty trách nhiệm hữu hạn

Theo quy định của pháp luật Việt Nam:

Công ty CP là doanh nghiệp có Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các khoản nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp; Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết; Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế tối đa

Công ty CP có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Được phát hành cổ phiếu để huy động vốn

1.1.2 Nội dung của phát triển kinh tế tư nhân

1.1.2.1 Sự phát triển số lượng, quy mô

Hộ cá thể, Doanh nghiệp là một bộ phận cấu thành của kinh tế tư nhân, do vậy số lượng hộ cá thể và các doanh nghiệp ngày càng nhiều chứng tỏ KTTN ngày càng phát triển Phát triển KTTN là phải có sự tăng trưởng nghĩa là sự gia tăng về số lượng, quy mô hộ cá thể và các doanh nghiệp trong khu vực kinh tế tư nhân Sự phát triển về quy mô, số lượng hộ cá thể, các doanh nghiệp là một trong những tiêu chí quan trọng để nghiên cứu đánh giá sự phát triển kinh tế tư nhân

Quy mô của hộ cá thể, doanh nghiệp có thể hiểu là độ lớn của từng cơ sở về vốn, lao động, mặt bằng sản xuất kinh doanh…Phát triển quy mô chính là làm cho các yếu tố này của từng hộ, doanh nghiệp lớn lên, phù hợp hơn Quy mô hộ, doanh nghiệp hợp lý là sự đầu tư hợp lý về vốn, lao động, mặt bằng sản xuất kinh doanh…nhằm tạo ra sản phẩm hàng hóa, dịch vụ phù hợp yêu cầu, mục tiêu kinh tế

xã hội, với nhu cầu thị trường, đem lại lợi nhuận cho hộ, doanh nghiệp

Trang 23

Phát triển về số lượng hộ cá thể, doanh nghiệp không chỉ là sự tăng lên về số lượng đăng ký kinh doanh, mà là sự tăng lên về số lượng hộ cá thể, doanh nghiệp hoạt động thực chất và ổn định; mặt khác sự tăng lên về số lượng đó phải phù hợp với xu hướng phát triển kinh tế xã hội

Phát triển vế số lượng, quy mô hộ cá thể, doanh nghiệp cần được xem xét đánh giá cơ cấu ngành nghề, khu vực hợp lý đáp ứng nhu cầu của thị trường trong nước và xuất khẩu cũng như cơ cấu về trình độ công nghệ phù hợp với sự phát triển nhanh chóng của khoa học- công nghệ trong nước và thế giới

Sự phát triển về số lượng, quy mô hộ cá thể, doanh nghiệp phải được kiểm chứng thông qua cạnh tranh, uy tín thương hiệu, nói cách khác chỉ tăng thêm số lượng những doanh nghiệp đứng vững và phát triển trong điều kiện cạnh tranh, hội nhập mới đánh giá đúng sự phát triển của kinh tế tư nhân

1.1.2.2 Vấn đề mở rộng thị trường

Mục đích sống còn của cơ sở kinh doanh là tồn tại phát triển đi lên và tìm kiếm lợi nhuận Để làm được điều đó doanh nghiệp cần có chiến lược tìm kiếm thị trường cho riêng mình Thị trường ở đây bao hàm hai yếu tố:

Thứ nhất: Thị trường đầu vào của hộ, doanh nghiệp là thị trường ở đó cung cấp các nguyên liệu phục vụ cho quá trình sản xuất, kinh doanh của hộ, doanh nghiệp như thị trường nguyên liệu, lao động, vốn, máy móc thiết bị…

Thứ hai: Thị trường đầu ra của hộ, doanh nghiệp hay là thị trường tiêu thụ sản phẩm dịch vụ do hộ, doanh nghiệp sản xuất ra hay cung cấp trên thị trường

Để nghiên cứu, nắm bắt sự phát triển của hộ cá thể hoặc một loại hình doanh nghiệp thì ngoài việc nghiên cứu xem sự phát triển về quy mô, số lượng của nó phát triển ra sao, thì việc nghiên cứu xu hướng biến động thị trường và khả năng tìm kiếm mở rộng thị trường của hộ cá thể, doanh nghiệp cũng là một vấn đề quan trọng Khả năng tiếp cận thị trường, đặc biệt là khả năng tiếp cận thị trường nước ngoài, tiếp cận với các thông tin về sản phẩm, thị trường, công nghệ, xu hướng phát triển sản phẩm…cũng tác động đến doanh nghiệp Doanh nghiệp đã được tiếp cận với các

Trang 24

nguồn thông tin đáng tin cậy hay chưa, việc cập nhật về thị trường trong nước cũng như thị trường thế giới ra sao, vấn đề hỗ trợ thông tin, cung cấp các thông tin chất lượng cao về thị trường xuất khẩu cho doanh nghiệp của các tổ chức, hiệp hội, các cơ quan chức năng, chính quyền địa phương các cấp như thế nào…đó là những câu hỏi đặt ra hiện nay

Phát triển thị trường là nói đến việc tìm kiếm thêm thị trường tiêu thụ cho hộ, doanh nghiệp Muốn phát triển thị trường hộ, doanh nghiệp phải tăng khả năng sản xuất, cung cấp hàng hóa, sản phẩm cho thị trường, cho xã hội Cần có sự hiểu biết, nghiên cứu rõ ràng về các loại thị trường cả trong và ngoài nước, về cơ hội và thách thức đặc biệt trong điều kiện hiện nay nước ta đã ra nhập WTO, hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới

Cùng với việc phát triển thị trường, cũng cần nghiên cứu về thị phần của hộ, doanh nghiệp Thị phần của hộ, doanh nghiệp bao gồm cả thị phần hàng hóa, dịch vụ và thị phần kết hợp Việc phát triển tăng thị phần của hộ, doanh nghiệp chính là sự thể hiện sự nhạy bén của hộ, doanh nghiệp trong việc xây dựng chiến lược kinh doanh, tìm kiếm hướng đi, tìm đầu ra cho sản phẩm của mình Từ việc nghiên cứu một cách đầy đủ, dự báo được thị phần của mình trong tương lai, hộ, doanh nghiệp sẽ có

sự đầu tư đúng đắn và phù hợp, tránh được các lãng phí không cần thiết, nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực

Khi nghiên cứu sự phát triển của khu vực KTTN nói chung và sự phát triển của hộ

cá thể và các doanh nghiệp thuộc khu vực KTTN nói riêng, một tiêu chí thể hiện hiệu quả hoạt động của hộ, doanh nghiệp là việc mở rộng thị trường mới và khả năng tăng thêm thị phần ở thị trường hiện tại của hộ, doanh nghiệp Phân tích tiêu chí này ta có thể đánh giá được xu thế phát triển của hộ cá thể hay một loại hình doanh nghiệp

Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, xã hội ngày càng văn minh hiện đại, nhu cầu của con người ngày càng cao và đa dạng, nghiên cứu nhu cầu của khách hàng, tìm đầu ra cho sản phẩm là vấn đề sống còn đối với sự tồn tại của hộ, doanh nghiệp Hộ, Doanh nghiệp nào có thể thỏa mãn đầy đủ được nhu cầu của khách

Trang 25

hàng sẽ chiếm được thị trường và mở rộng được thị phần, có chiến lược đầu tư đúng hướng, phù hợp với thị phần dự báo trong tương lai sẽ phát triển đi lên

1.1.2.3 Vấn đề tăng quy mô vốn, mặt bằng sản xuất kinh doanh

Ngoài những chỉ tiêu về số lượng đơn vị được cấp phép, số đơn vị thực tế hoạt động, một yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp thuộc khu vực KTTN trong thời gian vừa qua đó là yếu tố về vốn kinh doanh và mặt bằng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Sự phát triển của kinh tế tư nhân, các hộ cá thể và loại hình doanh nghiệp thuộc khu vực này tỷ lệ thuận với việc huy động vốn đưa vào sản xuất kinh doanh, nó được thể hiện qua sự tăng lên về vốn đăng ký hoạt động sản xuất kinh doanh qua các năm, sự tăng lên về tổng nguồn vốn cũng phản ánh quy mô và năng lực tài chính của doanh nghiệp tại mỗi giai đoạn phát triển

Vốn đầu tư của Hộ, doanh nghiệp chính là vốn cho xây dựng, vốn đầu tư cho máy móc thiết bị, vốn dự phòng…và vốn lưu động Sự tăng lên về vốn đầu tư của mỗi

hộ, doanh nghiệp phản ánh sự một phần quan trọng sự phát triển của doanh nghiệp, tuy nhiên ngoài việc đánh giá sự tăng lên về quy mô của vốn điều cần quan tâm vẫn

là hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp đó ra sao, tức là nghiên cứu chỉ tiêu lợi nhuận mang lại trên một đồng vốn bỏ ra

Việc tiếp cận các nguồn vốn của doanh nghiệp có thể từ Ngân hàng Nhà nước, các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng, các quỹ đầu tư…

Khi nghiên cứu xem xét tiềm lực vốn tài chính của hộ, doanh nghiệp, giá trị tài sản

là một chỉ tiêu rất đáng chú ý, việc nghiên cứu, đánh giá tỷ lệ tài sản cố định so với tổng tài sản của từng hộ và từng loại hình doanh nghiệp sẽ đánh giá được tình hình vốn lưu động phục vụ cho sản xuất của hộ, doanh nghiệp đó Tình hình huy động và

sử dụng vốn lưu động phản ánh khả năng tiếp cận các nguồn vốn từ các tổ chức tín dụng của hộ, doanh nghiệp là dễ dàng hay khó khăn

Để có cơ sở thuận lợi cho sản xuất kinh doanh ngoài khả năng huy động vốn và sử dụng nguồn vốn một yếu tố cũng rất quan trọng đó là mặt bằng sản xuất kinh doanh

Trang 26

Ngay từ khi đăng ký thành lập, bất kỳ hộ, doanh nghiệp nào cũng phải nghĩ tới việc chọn cho mình một mặt bằng sản xuất kinh doanh cho phù hợp Khi có mặt bằng sản xuất kinh doanh thuận lợi sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất, giảm được chi phí vận chuyển và các chi phí trung gian khác cho doanh nghiệp

Khi nghiên cứu về mặt bằng sản xuất không nên chỉ quan tâm tới vị trí hay diện tích của mặt bằng đất đai mà cần chú ý tất cả các yếu tố về cơ sở vật chất kỹ thuật được đầu tư trên đó như nhà xưởng, máy móc, hệ thống giao thông, hạ tầng phục vụ cho tất cả các hoạt động của hộ, doanh nghiệp Tiêu chí mở rộng mặt bằng sản xuất kinh doanh, tăng lên về quy mô cơ sở vật chất của doanh nghiệp cũng thể hiện sự phát triển của hộ, doanh nghiệp đó Khi doanh nghiệp phát triển đi lên, làm ăn có lãi, thị trường đầu ra luôn được mở rộng thì việc mở rộng sản xuất kinh doanh là điều tất yếu, khả năng chọn vị trí, bố trí mặt bằng sản xuất kinh doanh một cách hợp lý sẽ mang lại hiệu quả cho hộ, doanh nghiệp

Bất kỳ một hộ hoặc doanh nghiệp nào khi làm ăn có lãi đều cần mở rộng cũng như

bố trí một cách hợp lý mặt bằng sản xuất kinh doanh của mình, việc đảm bảo mặt bằng sản xuất kinh doanh thuận lợi hợp lý là sự thể hiện sự phát triển của mỗi hộ, doanh nghiệp đó

Hiện nay, với chủ trương của Đảng, Nhà nước, các địa phương đề ra các chính sách khuyến khích đầu tư, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế phát triển Thể hiện điều đó là việc xây dựng cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật ban đầu thuận lợi cho các doanh nghiệp có nhu cầu thuê đất xây dựng nhà xưởng sản xuất kinh doanh Đây là điều kiện hết sức quan trọng vì giai đoạn khó khăn nhất chính là giai đoạn đầu tư ban đầu

1.1.2.4 Đầu tư công nghệ, máy móc thiết bị phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh

Trang thiết bị khoa học công nghệ là yếu tố quan trọng trong việc tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng của sản phẩm, giúp doanh nghiệp tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trường Điều quan trọng đối với các cơ sở KTTN là khu vực có các hộ, doanh nghiệp có quy mô sản xuất kinh doanh nhỏ, tiềm lực tài chính có hạn

là việc lựa chọn và ứng dụng công nghệ thích hợp với khả năng về vốn, trình độ

Trang 27

công nhân cũng như trình độ quản lý của chủ hộ, doanh nghiệp, chứ không nhất thiết phải là công nghệ hiện đại

Vấn đề trang thiết bị và trình độ công nghệ hiện nay là một trong những điểm yếu cần được lưu tâm đối với các cơ sở KTTN

Khả năng đầu tư máy móc thiết bị của cơ sở KTTN có liên hệ tỷ lệ thuận với tiềm lực tài chính và khả năng huy động vốn của hộ, doanh nghiệp Hiện nay so với các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế nhà nước thì các cơ sở thuộc khu vực KTTN về phần lớn có trình độ khoa học công nghệ và trang thiết bị thấp hơn, chủ yếu đang sử dụng các công nghệ truyền thống, số các DNTN trang bị máy móc hiện đại tiên tiến chưa nhiều, thiết bị chủ yếu được mua trong nước, hoặc tìm kiếm sản phẩm trung bình từ các nước phát triển đã loại ra

Việc đầu tư máy móc thiết bị sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp, gắn với nó là khả năng bảo vệ môi trường và đảm bảo các điều kiện

về vệ sinh an toàn thực phẩm và an toàn lao động Phát triển máy móc thiết bị sẽ giúp hộ, doanh nghiệp tăng năng suất lao động, chất lượng sản phẩm sản xuất được nâng cao, đáp ứng được đòi hỏi của thị trường, giảm bớt chi phí sản xuất kinh doanh cho hộ, doanh nghiệp từ đó mang lại lợi nhuận tối đa cho hộ, doanh nghiệp Khi nói tới sức mạnh của hộ, doanh nghiệp, trước hết phải nói tới trình độ công nghệ, máy móc thiết bị phục vụ cho sản xuất, dịch vụ Để thành công trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh của mình Hộ, doanh nghiệp phải thường xuyên thay đổi, cải tiến công nghệ, máy móc thiết bị của mình Sự phát triển về công nghệ, máy móc thiết bị là biểu hiện khả năng nâng cao sức cạnh tranh của hộ, doanh nghiệp trên thị trường nói riêng và trình độ trang bị máy móc thiết bị biểu hiện bộ mặt phát triển của một khu vực kinh tế nói chung

1.1.2.5 Vấn đề năng lực, trình độ quản lý hộ, doanh nghiệp

Bất kỳ một loại hình kinh tế, một tổ chức kinh doanh nào dù là tập thể hay cá nhân khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh nào đó đều cần phải có một bộ máy quản lý và điều hành mọi hoạt động của đơn vị

Trang 28

Sự phát triển của KTTN mạnh hay yếu, nhanh hay chậm được thể hiện rất rõ thông qua năng lực và trình độ quản lý của bộ máy điều hành các cơ sở thuộc khu vực kinh tế này

Đối với đội ngũ các nhà quản lý doanh nghiệp nói chung và các nhà quản lý doanh nghiệp thuộc khu vực KTTN nói riêng trong cơ chế mới hiện nay cần có

sự năng động, sáng tạo, thể hiện sự nhạy bén trong quản lý điều hành, tăng cường trình độ, thường xuyên cập nhật kiến thức chuyên môn thích ứng kịp thời với những biến động của nền kinh tế thị trường cạnh tranh khốc liệt

Trình độ quản lý hộ, doanh nghiệp của người đứng đầu được thể hiện không chỉ thông qua bằng cấp, chứng chỉ hành nghề được các tổ chức có chức năng đào tạo công nhận mà còn được thể hiện thông qua kinh nghiệm thực tế, xử lý các thông tin, điều hành công việc, xây dựng các phương án, đề ra các kế hoạch, xây dựng các chiến lược kinh doanh một cách phù hợp với điều kiện thị trường và phù hợp với nội lực của doanh nghiệp Muốn đưa một doanh nghiệp phát triển đi lên hay nói một cách rộng ra để góp phần thúc đẩy sự phát triển của KTTN thì ngoài việc quan tâm tới cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng, vốn, các yếu tố nguồn lực phục vụ cho sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp thì rất quan tâm tới sự phát triển và đầu tư cho đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý, điều hành của doanh nghiệp

KTTN phát triển phụ thuộc rất lớn vào khả năng nhạy bén, thích nghi với cơ chế mới của đội ngũ cán bộ quản lý, điều hành Đây cũng là một tiêu chí đánh giá, nhận biết sự phát triển của doanh nghiệp

Trong thực tế hiện nay, đội ngũ các nhà quản lý doanh nghiệp thuộc khu vực KTTN

dù đã có nhiều cố gắng trong cơ chế mới nhưng nhìn chung về trình độ chưa thực sự đáp ứng được đòi hỏi trong môi trường cạnh tranh của nền kinh tế thị trường với nhiều biến động Chủ doanh nghiệp chưa đủ khả năng quản lý doanh nghiệp khi đăng ký nhiều ngành nghề, kinh nghiệm và kỹ năng quản lý còn yếu Đặc biệt loại hình hộ cá thể thì chủ hộ có hầu hết không có trình độ và bằng cấp chuyên môn nào

Sự hiểu biết chuyên môn của các chủ cơ sở KTTN thường được tích lũy theo kinh nghiệm hoạt động của mỗi người, đa số chưa qua trường lớp đào tạo nghiệp vụ kinh

Trang 29

doanh do đó còn hạn chế trong việc xử lý thông tin, xây dựng phương án sản xuất kinh doanh Đây cũng là một trở ngại đối với chính bản thân các doanh nghiệp khi

có nhu cầu vay vốn từ hệ thống Ngân hàng

Đội ngũ cán bộ quản lý các cơ sở KTTN đa số chưa nhận thức được lợi ích cũng như vai trò của các hình thức chuyên môn hóa như kiểm toán, đào tạo, thiết kế, điều tra thị trường, xử lý số liệu, quảng cáo nên phần lớn các doanh nghiệp tự làm lấy các công việc trên đã làm tăng chi phí cho các dịch vụ đó và bỏ qua lợi ích của chuyên môn hóa trong xã hội Các doanh nghiệp còn thiếu các nhà quản trị chuyên nghiệp và việc tổ chức hoạch định chiến lược vẫn còn nặng về thủ tục hành chính Nhiều doanh nghiệp còn xây dựng chiến lược ở trạng thái bị động, mang tính đối phó tình thế trong ngắn hạn

Xuất phát từ các phân tích trên có thể thấy rằng để phát triển KTTN tất yếu phải nâng cao trình độ quản lý doanh nghiệp của đội ngũ cán bộ quản lý, điều hành đối với loại hình doanh nghiệp và nâng cao trình độ quản lý của chủ hộ đối với hộ cá thể

1.1.3 Vai trò của KTTN

+ KTTN khai thác và tận dụng có hiệu quả tiềm năng về vốn, các nguồn nguyên liệu ở từng địa phương Phát triển KTTN sẽ tạo ra nguồn đầu tư quan trọng đóng góp vào quá trình tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế quốc dân

+ KTTN phát triển sẽ tạo việc làm cho một lượng lớn lao động, bảo đảm đời sống

và do đó góp phần vào việc ổn định kinh tế- xã hội Trong giai đoạn 2010-2016, hằng năm khu vực KTTN cả nước thu hút khoảng 1,4 triệu việc làm và đang trở thành nơi thu hút lao động chủ yếu của cả nước Do có quy mô vừa và nhỏ, các cơ

sở và DNTN dễ thích nghi với điều kiện nông thôn, nơi có nhiều lao động nhàn rỗi, giải quyết việc làm, giảm thất nghiệp Vai trò này càng có ý nghĩa quan trọng hơn trong điều kiện nước ta đang trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn

+ KTTN tạo ra nhiều sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, góp phần bình ổn giá cả, kiềm chế lạm phát Khu vực KTTN có thế mạnh trong việc huy động vốn, khai thác các tiềm năng khác có hiệu

Trang 30

quả, đóng góp ngày càng lớn cho ngân sách Nhà nước

+ KTTN giữ vai trò hỗ trợ, bổ sung cho khu vực kinh tế thuộc sở hữu Nhà nước, tạo thành mối liên kết cùng hợp tác, cùng cạnh tranh để cùng phát triển Vai trò hỗ trợ không chỉ tạo ra hàng hoá đáp ứng nhu cầu tiêu dùng mà còn là động lực để kinh tế nhà nước thực hiện tốt vai trò chủ đạo của mình thông qua cạnh tranh Với sự xuất hiện ngày càng nhiều các chủ thể kinh tế tư nhân

+ KTTN góp phần duy trì và phát triển các ngành nghề truyền thống, qua đó sử dụng và phát huy kinh nghiệm sản xuất kinh doanh, kinh nghiệm quản lý sản xuất

đã được tích luỹ qua nhiều thế hệ, kết hợp tính truyền thống và tính hiện đại trong sản xuất Đặc điểm cơ bản nhất của ngành nghề truyền thống là gắn chặt với kinh tế

cá thể và thực tế đã chứng minh, KTTN phát triển thì các ngành nghề truyền thống phát triển Trong điều kiện hiện nay, cạnh tranh là động lực cho các chủ thể kinh tế nâng cao tay nghề, ứng dụng khoa học - công nghệ mới

+ KTTN tạo lập sự cân đối về phát triển kinh tế giữa các vùng, góp phần tích cực vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đáp ứng nhu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn Để công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, không thể không có doanh nghiệp có quy mô lớn, có nhiều vốn, kỹ thuật, công nghệ hiện đại trong một số ngành, nhằm tạo ra sức mạnh để cạnh tranh trên thị trường trong nước

và quốc tế Để làm được điều đó, cần tăng khả năng tích tụ và tập trung vốn của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tạo điều kiện để vươn lên thành doanh nghiệp lớn Điều này có thể thực hiện thông qua phát triển kinh tế tư nhân Thực tế cho thấy, quá trình phát triển KTTN đồng thời là quá trình tìm kiếm phương thức kinh doanh có hiệu quả nhằm làm giảm chi phí sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng sức cạnh tranh của hàng hoá trên thị trường Đó là quá trình các chủ doanh nghiệp phải

tự đổi mới công nghệ, kỹ thuật tại doanh nghiệp mình, chuyển hướng kinh doanh vào những sản phẩm có lợi nhất Tất cả những vấn đề đó, tự nó làm chuyển dịch

cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại hơn, hợp lý hơn Điều này càng trở lên có ý nghĩa đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn ở nước ta

Trang 31

+ KTTN góp phần nâng cao chất lượng lao động, nuôi dưỡng tiềm năng trí tuệ kinh doanh Tiềm năng, trí tuệ, kinh nghiệm quản lý, tay nghề lao động và kinh nghiệm sản xuất kinh doanh được tích luỹ, lưu truyền trong từng ngành nghề sẽ góp phần quan trọng cho tăng trưởng kinh tế bền vững

1.1.4 Các chỉ tiêu đánh giá về phát triển KTTN

Khi nghiên cứu về phát triển KTTN nói chung và đi sâu vào các loại hình doanh nghiệp thuộc khu vực này có thể kết luận rằng Tác động và những đóng góp của KTTN đối với phát triển kinh tế xã hội được thể hiện qua các khía cạnh sau:

Một là, Sự phát triển của KTTN góp phần huy động ngày càng nhiều các nguồn vốn

của các tầng lớp nhân dân đầu tư vào sản xuất Vốn đầu tư của khu vực KTTN đóng vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế địa phương

Hai là, Khu vực KTTN phát triển góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch

cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Tăng thu ngân sách cho Nhà nước, mở rộng thị trường, thúc đẩy việc thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài

Để đánh giá đúng được sự phát triển của nó một tiêu chí quan trọng không thể

bỏ qua đó là hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh mà kết quả cuối cùng là các chỉ tiêu về doanh thu, lợi nhuận doanh nghiệp và tổng sản phẩm trong nước đóng góp, nghĩa vụ về thuế của doanh nghiệp đối với Nhà nước

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh kết quả sản xuất cuối cùng của các hoạt động sản xuất kinh doanh của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định thường là 1 năm Mức độ đóng góp của khu vực KTTN xét về góc

độ kinh tế được thể hiện rõ nét nhất chính là tỷ lệ GDP của khu vực KTTN so với GDP của nền kinh tế

Giá trị sản xuất cuối cùng được thể hiện bằng doanh thu Một phần doanh nghiệp sẽ thu về cho mình, tiếp tục tái đầu tư, một phần khác doanh nghiệp đóng góp cho Nhà nước theo một tỷ lệ quy định, đó là thuế Tỷ lệ đóng thuế cho Nhà nước hằng năm phản ánh cụ thể con số thực chất trên góc độ tài chính mà doanh nghiệp đóng góp cho sự phát triển kinh tế xã hội ở địa phương Doanh nghiệp đóng thuế càng

Trang 32

nhiều chứng tỏ làm ăn có hiệu quả, thể hiện sự lớn mạnh và phát triển của KTTN trên địa bàn

Ba là, Ngoài các đóng góp trực tiếp qua các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp và các chỉ tiêu

tài chính ở trên sự phát triển của KTTN nói chung hay của các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế này nói riêng còn được thể hiện thông qua các chỉ tiêu về giải quyết việc làm, thu hút lao động địa phương vào làm việc, vấn đề nâng cao thu nhập cho người lao động, đóng góp xây dựng các công trình phúc lợi, cơ sở hạ tầng cho địa phương Góp phần tích cực thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Tất cả các yếu tố đó đều thể hiện được sự thay đổi cả về chất và lượng, thể hiện sự phát triển thực sự của kinh tế tư nhân [8]

1.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển KTTN

1.1.5.1 Thị trường

Với bất kỳ một hoạt động sản xuất kinh doanh có tạo ra sản phẩm, thị trường là yếu

tố sống còn đối với mỗi doanh nghiệp

Để phát triển một cách mạnh mẽ trên thương trường các doanh nghiệp cần phải được bình đẳng Cần vận dụng các quy luật vận động của nền kinh tế thị trường để

rà soát và sửa chữa những mặt, những điểm bất hợp lý tạo nên sự phân biệt đối xử giữa doanh nghiệp nhà nước và DNTN trên thương trường

Không riêng với thị trường tiêu thụ sản phẩm hàng hoá của doanh nghiệp, đối với loại hình DNTN việc tiếp cận các loại thị trường như: thị trường vốn, thị trường bất động sản, thị trường thiết bị công nghệ, thông tin

Việc tìm kiếm thông tin, mở rộng thị trường ra nước ngoài, bao gồm cả xuất khẩu tư bản, xuất khẩu hàng hoá, thiết bị công nghệ và nguồn nhân lực cũng là việc làm hết sức quan trọng đòi hỏi sự hỗ trợ tích cực từ phía nhà nước đối với doanh nghiệp Vấn đề chính sách khuyến khích các DNTN tham gia thị trường thương mại điện tử,

có hình thức thích hợp giúp các doanh nghiệp nhỏ trong nông nghiệp, ở các làng nghề, các trung tâm công nghiệp nhỏ có thể tiếp cận với thị trường để quảng bá hàng hoá và tiêu thụ sản phẩm

Trang 33

Nhà nước cần nghiên cứu hình thức để giúp cho nông dân xây dựng và quảng bá thương hiệu của sản phẩm của từng vùng sản xuất Trên cơ sở cân đối tổng cung và tổng cầu nhà nước có chính sách điều tiết có hiệu quả giúp cho DNTN tránh được rủi ro do xu hướng phát triển của KTTN gây ra

Vấn đề mấu chốt có ý nghĩa quyết định là có chính sách giúp đỡ cho DNTN nâng cao năng lực cạnh tranh, đi đôi với tạo lập thị trường tiêu thụ sản phẩm

ổn định, đặc biệt coi trọng thị trường nội địa, nhất là thị trường nông thôn Hình thành chính sách xử lý những hậu quả xấu do những biến động trên thị trường gây ra, như chống lạm phát, thiểu phát, phá sản, thất nghiệp

Triệt để xoá bỏ những hàng rào ngăn cách thị trường theo kiểu cát cứ địa phương, các trạm kiểm soát không cần thiết Đổi mới các thủ tục và phương pháp nghiệp vụ của thuế quan ở các cảng, sân bay, cửa khẩu để nhanh chóng giải phóng hàng hoá, thiết bị đưa vào lưu thông

1.1.5.2 Cơ sở hạ tầng, kỹ thuật

Cơ sở hạ tầng kỹ thuật như: Hệ thống đường sá giao thông, hệ thống điện, hạ tầng các khu công nghiệp, và các công trình phụ trợ phục vụ đời sống dân sinh ở các khu công nghiệp có ảnh hưởng rất lớn tới sự hình thành và phát triển các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp thuộc khu vực KTTN nói riêng

Một thực tế hiện nay cho thấy, ở những nơi có điều kiện cơ sở hạ tầng thuận lợi thì KTTN phát triển mạnh mẽ hơn những vùng có cơ sở hạ tầng yếu kém

Hiện nay ở nhiều địa phương trong cả nước, tiến hành xây dựng hàng loạt các khu công nghiệp tập trung, với hạ tầng kỹ thuật đồng bộ và hiện đại, với các chính sách

ưu đãi thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước đến đầu tư xây dựng các nhà máy

xí nghiệp Góp phần làm tăng tốc độ phát triển KTTN tại các địa phương đó lên

1.1.5.3 Nhân tố thông tin

Thông tin là vấn đề sống còn với mỗi doanh nghiệp Trong đó có các thông tin về tình hình biến động của thị trường tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp, thông tin về đối thủ cạnh tranh, thông tin về thị trường đầu vào, thông tin về thị trường thế giới

Trang 34

Việc cập nhật thông tin đối với doanh nghiệp phải liên tục, hàng ngày, hàng giờ Thông tin có ảnh hưởng mạnh mẽ tới việc ra các quyết định đúng đắn của doanh nghiệp, nếu

có thông tin kịp thời doanh nghiệp có thể có được những quyết định thuận lợi, ngược lại không có thông tin, hoặc thông tin không đúng dẫn tới những quyết định sai lầm có thể khiến doanh nghiệp phải trả giá, đôi khi có thể dẫn tới phá sản

1.1.5.4 Quan hệ giữa nhà nước và doanh nghiệp

Mối quan hệ giữa nhà nước và doanh nghiệp thông qua các cơ chế, chính sách như luật Doanh nghiệp, các chính sách khuyến khích, ưu đãi đầu tư có tác động rất lớn tới sự phát triển của Doanh nghiệp

Thực tế hiện nay sự hỗ trợ của nhà nước đối với khu vực KTTN tuy đã có những bước thay đổi tích cực tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của kinh tế tư nhân

Hoạt động hỗ trợ, hướng dẫn khởi nghiệp mới tập trung chủ yếu vào tuyên truyền phổ biến pháp luật, hướng dẫn các thủ tục thành lập doanh nghiệp mà cũng chỉ tập trung ở những thành phố và những vùng đô thị Còn các công việc hỗ trợ khác như: đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực, dịch vụ kế toán, xúc tiến thương mại, chuyển giao khoa học công nghệ, cung cấp thông tin, đào tạo, tư vấn quản lý còn quá ít so với yêu cầu, còn mang nặng cơ chế xin cho Thiếu sự công bằng và kém hiệu quả

1.1.5.5 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên

Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên là một trong những yếu tố khách quan tác động lớn tới quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của hộ, doanh nghiệp Nó ảnh hưởng tới chi phí vận chuyển, khả năng tiếp cận thị trường nhanh hay chậm, khả năng được hưởng các ưu đãi từ địa phương… Yếu tố vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên thuận lợi mang lại lợi thế cạnh tranh cho hộ, doanh nghiệp

Chính vì vậy, hiện nay các doanh nghiệp mới thành lập thường xin lập dự án và thuê đất tại những nơi có cơ sở hạ tầng tốt, hệ thống giao thông thuận lợi, gần các cảng hàng không và cảng biển Thường tập trung ở các vùng đồng bằng, đông dân cư…

Trang 35

Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên có những tác động tới doanh nghiệp ngay cả trong ý thức ban đầu của người quản lý doanh nghiệp, nó ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển của doanh nghiêp sau này Vì vậy để doanh nghiệp yên tâm sản xuất, góp phần hỗ trợ tối đa cho các doanh nghiệp, nâng cao lợi thế cạnh tranh cho các doanh nghiệp trong nước chúng ta tiến hành xây dựng các khu công nghiệp tập trung, ưu tiên xây dựng hạ tầng kỹ thuật tốt đi kèm sẽ tránh được hiện tượng doanh nghiệp đua nhau xây dựng các nhà máy, xí nghiệp bám mặt đường giao thông chính và quá gần các vùng, khu dân cư, gây ra nhiều bất lợi trong phát triển kinh tế xã hội sau này

1.2 Cơ sở thực tiễn về phát triển KTTN

1.2.1 Tình hình phát triển KTTN ở các huyện thuộc các tỉnh lân cận với huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên

* Tại huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bác Giang

Tính đến cuối năm 2016, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang đã có gần 1.320 cơ sở KTTN đang hoạt động, bao gồm: 1.195 Hộ các thể, 66 doanh nghiệp tư nhân, 45 Công ty TNHH và 14 Công ty Cổ phần Tổng số vốn hoạt động của các cơ sở KTTN trong toàn huyện ước đạt trên 2.000 tỷ đồng, thu hút khoảng hơn 7 ngìn lao động Nộp ngân sách cho huyện đạt trên 250 tỷ đồng

Để hỗ trợ cho KTTN và các loại hình doanh nghiệp phát triển vững chắc, có đóng góp ngày càng nhiều cho nền kinh tế Đảng bộ huyện luôn quán triệt sâu sắc và thực hiện nhất quán đường lối, chủ trương của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân (KTTN) Đại hội Đảng bộ huyện nhiệm kỳ 2005 - 2010 xác định: “Tạo điều kiện phát triển mạnh kinh tế tư nhân, biểu dương người sản xuất, kinh doanh giỏi, chấp hành tốt pháp luật; xóa bỏ mọi trở ngại, rào cản, tạo tâm lý xã hội và môi trường kinh doanh thực sự thuận lợi cho kinh tế tư nhân phát triển” Đại hội Đảng bộ huyện nhiệm kỳ 2010 - 2015 khẳng định: “Tiếp tục kiện toàn, phát triển các thành phần kinh tế và các loại hình doanh nghiệp, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế hợp tác được tiếp tục giúp đỡ phát triển, tạo môi trường và điều kiện thúc đẩy các thành phần kinh tế cùng phát triển” Đại hội Đảng bộ huyện nhiệm kỳ

2015 - 2020 tiếp tục khẳng định quan điểm: “Khuyến khích kinh tế tư nhân, kinh tế

Trang 36

có vốn đầu tư nước ngoài phát triển, tạo môi trường và điều kiện thúc đẩy các thành phần kinh tế cùng phát triển”

Ngoài việc quan tâm của Đảng bộ huyện, nhằm hỗ trợ thúc đẩy sự phát triển kinh

tế tư nhân Huyện còn thể hiện sự nhạy bén, tầm nhìn chiến lược trong việc hoạch định chính sách và xây dựng các chương trình cụ thể nhằm thu hút tối đa các nguồn lực tư nhân trong và ngoài nước vào sự nghiệp phát triển kinh tế của huyện Thực hiện chính sách kêu gọi đầu tư, hỗ trợ xuất khẩu, miễn giảm thuế đối với khu vực KTTN đặc biệt khuyến khích các DNTN tại địa phương phát triển Có chính sách

hỗ trợ về tài chính, tín dụng đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các doanh nghiệp thuộc khu vực KTTN trong việc đổi mới công nghệ, máy móc thiết bị, nâng cao năng suất lao động Không ngừng cải thiện môi trường đầu tư bằng việc tạo môi trường bình đẳng cho các doanh nghiệp và các thành phần kinh tế phát triển Cụ thể xây dựng cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật, xây dựng các khu công nghiệp tập trung, các khu chế xuất tại các vùng, miền của huyện đơn giản hóa các thủ tục hành chính, các thủ tục phê duyệt dự án đầu tư, giao quyền cho cơ sở, tạo sự tự chủ cho chính quyền địa phương trong việc thực hiện chính sách phát triển kinh tế gắn với điều kiện thực tế của từng địa phương Khuyến khích tư nhân ngoài huyện cũng như công dân của huyện ở các tỉnh, ở nước ngoài về nước thành lập công ty, đầu tư vốn vào huyện với chính sách không phân biệt, đối xử

Chính quyền huyện đã sớm nhận biết được giá trị cũng như tầm quan trọng của KTTN đối với sự phát triển kinh tế huyện, chính quyền huyện đã có những quan tâm, xây dựng các chiến lược cụ thể để thường xuyên hỗ trợ, đóng góp cho sự phát triển của kinh tế tư nhân, từ đó khai thác được tối đa các nguồn lực từ khu vục kinh

tế tư nhân cho huyện Từng bước đi, quyết sách của huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang trong vấn đề phát triển KTTN là bài học kinh nghiệm sâu sắc mà huyện Phú Bình cần quan tâm nghiên cứu, từ đó rút ra giá trị cho riêng mình

* Tại huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh

Huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh là huyện cuối của tỉnh Bắc Ninh, phía Bắc giáp với huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang, Phía tây giáp với thủ đô Hà Nội, trong những

Trang 37

năm gần đây huyện Yên Phong đã thực hiện đồng bộ nhiều biện pháp nhằm khuyến khích tạo điều kiện cho các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đầu tư sản xuất, hoạt động phát triển Đến nay, KTTN huyện Yên Phong có chuyển biến tịch cực: các DNTN, Công ty TNHH, CP không chỉ tăng nhanh về số lượng mà ngày càng phát triển về chất, đóng góp một phần quan trọng vào phát triển kinh tế xã hội của huyện Năm 2016, toàn huyện Yên Phong có 1.800 doanh nghiệp đăng ký hoạt động tăng thêm 428 doanh nghiệp so với năm 2015 Các doanh nghiệp trên địa bàn huyện đã

có nhiều nổ lực, cố gắng vượt qua khủng hoảng để đẩy mạnh SXKD, phát triển doanh nghiệp, đóng góp đáng kể vào sự phát triển kinh tế xã hội của huyện, nhất là góp phần xứng đáng vào việc thực hiện các chỉ tiêu như: tăng trưởng kinh tế của huyện đạt 9,7%, thu ngân sách đạt hơn 280 tỷ đồng, giá trị xuất khẩu đạt trên 60 triệu USD Một số doanh nghiệp có sản phẩm tăng khá như: khoáng sản, bia, dệt may, dăm gỗ, thuỷ sản, Tuy vậy, chất lượng tăng trưởng, hiệu quả, sức cạnh trạng của nền kinh tế huyện nói chung và các doanh nghiệp trong huyện nói riêng còn thấp Tăng trưởng trong khu vực doanh nghiệp đạt thấp so với nhiều năm, doanh nghiệp dịch vụ, du lịch, thương mại phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của huyện Yên Phong

Quá trình phát triển KTTN ở huyện Yên Phong đã mang lại một số kinh nghiệm:

Một là, phát triển KTTN theo hướng bền vững, phát huy thế mạnh của địa phương:

Đặc biệt, huyện Yên Phong đã khoé léo kết hợp tư nhân hoá với tập thể, mở thêm hướng đi mới cho KTTN Huyện Yên Phong đã và đang xây dựng, đào tạo đội ngũ lao động chất lượng cao trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung và KTTN của huyện nói riêng

Hai là, về cải thiện môi trường tâm lý, xã hội: Do nhiều nguyên nhân chủ quan và

khách quan, đặc tính rụt rè của con người Yên Phong, huyện đã chú trọng cải thiện môi trường tâm lý xã hội như: Làm tốt công tác giáo dục, tuyên truyền, tổ chức các hoạt động giao lưu, học hỏi, chia sẽ kinh nghiệm

Ba là, phát triển KTTN là một trong những nhiệm vụ quan trọng, vì vậy huyện Yên

Phong đã chỉ đạo nghiên cứu về phát triển KTTN Từ đó có nhiều chương trình nghiên cứu về KTTN được tiến hành Để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp vừa và

Trang 38

nhỏ có mặt bằng sản xuất, hiện nay huyện Yên Phong đã triển khai xây dựng một

số cụm công nghiệp vừa và nhỏ

Bốn là, trong bối cảnh suy thoái kinh tế nói chung, huyện đã có những chính sách

hỗ trợ kịp thời về thuế, tín dụng và triển khai nhiều giải pháp để phát triển các ngành kinh tế công, nông, lâm nghiệp, dịch vụ nên hoạt động SXKD của doanh nghiệp đã có những chuyển biến tích cực hơn Đồng thời bên cạnh đó, huyện còn thực hiện nhiều chính sách nhằm thúc đẩy KTTN như: Đào tạo nhân lực, cải cách hành chính, tạo môi trường thông thoáng cho hoạt động SXKD, phối hợp tôn vinh, khen thưởng doanh nghiệp đạt thành tích tốt trong sản xuất, xây dựng thương hiệu, tạo được sản phẩm và thương hiệu tiêu biểu

1.2.2 Tổng quan phát triển KTTN ở Việt Nam

Ở Việt Nam vị trí và vai trò của KTTN ngày càng được khẳng định Sự đổi mới về nhận thức, quan điểm và chính sách của đảng từ đại hội Đảng VI đến nay đã tạo điều kiện để KTTN phát triển, quan điểm và chính sách khuyến khích phát triển KTTN ở Việt Nam được tóm lược như sau:

+ Thừa nhận khu vực tư nhân là một bộ phận quan trọng đóng góp vào sự phát triển kinh tế đất nước Cho phép đảng viên được làm KTTN là một bước đột phá trong quan điểm của Đảng ta

+ Có biện pháp xây dựng hình ảnh tốt hơn về khu vực kinh tế tư nhân, như tôn vinh các tư nhân làm kinh tế giỏi, xóa bỏ dần sự phân biệt đối xử với kinh tế tư nhân Có những biện pháp khuyến khích KTTN phát triển như xây dựng, sửa đổi Luật Doanh nghiệp, cải cách thủ tục hành chính, thủ tục thành lập doanh nghiệp, xóa bỏ các quy định gây phiền hà, kìm hãm sự phát triển của các doanh nghiệp

+ Sửa đổi luật, đơn giản hóa các thủ tục về tài chính, tạo điều kiện cho các DNTN tiếp cận các nguồn vốn Ngân hàng một cách thuận lợi Đơn giản hóa các thủ tục đi vay, loại bỏ lãi suất trần đối với việc đi vay bằng đồng Việt Nam Sửa đổi hệ thống

kế toán và kiểm toán hiện hành…Sửa đổi luật đất đai tạo điều kiện cho KTTN trong việc thực hiện quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở, tái xác nhận việc thế chấp quyền sử dụng đất để vay Ngân hàng hoặc góp vốn trong các liên doanh

Trang 39

Những chính sách trên đã làm cho KTTN Việt Nam có những bước phát triển nhanh chóng, lan rộng khắp các ngành kinh tế và các địa phương trong cả nước Kể từ khi

có Luật doanh nghiệp mới năm 1999, số lượng doanh nghiệp mới đăng ký tiếp tục tăng nhanh Năm 2016 có 76.995 doanh nghiêp mới đăng ký, đưa tổng số doanh nghiệp đăng ký của khu vực KTTN lên 126.995 doanh nghiệp Số doanh nghiệp đăng ký trung bình hằng năm hiện nay gấp 3,75 lần so với con số trung bình hằng năm của gian đoạn 2001-2010 Xét trong cơ cấu doanh nghiệp năm 2016, số DNTN chiếm tới 39,5% tổng số doanh nghiệp, công ty Trách nhiệm hữu hạn chiếm 37,5%, công ty CP chiếm 4,9%, trong khi đó doanh nghiệp Nhà nước chỉ chiếm 8% trong tổng số doanh nghiệp DNTN phát triển nhanh trong tất cả các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ, đã và đang tạo ra cơ hội phân công lại lao động và tái cơ cấu kinh tế theo chiều hướng năng động hơn, năng suất và hiệu quả hơn [30]

* Một số hạn chế của khu vực KTTN trong quá trình phát triển trong giai đoạn vừa qua

+ Số lượng doanh nghiệp thuộc khu vực KTTN nhiều nhưng chưa có khả năng góp phần vào chuyển dịch cơ cấu sở hữu của các thành phần kinh tế cũng như cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa

+ Các DNTN phát triển còn mang tính tự phát, chưa có quy hoạch, do vậy không tạo ra tính ổn định trong các lĩnh vực hoạt động và không tạo ra sức bật quan trọng cho khu vực kinh tế này

+ Năng lực cạnh tranh của khu vực KTTN nước ta còn yếu, đặc biệt là cạnh tranh trên thị trường quốc tế trong điều kiện hội nhập kinh tế hiện nay

1.2.3 Bài học kinh nghiệm về phát triển KTTN cho huyện Phú Bình

* Những kinh nghiệm

- Để phát huy vai trò cũng như những đóng góp của KTTN với nền kinh tế đất nước, các nước đang phát triển cũng như các nước phát triển trên thế giới đều xây dựng cho mình những cơ chế chính sách, những giải pháp hỗ trợ một cách phù hợp nhất đối với khu vực KTTN trong điều kiện nước mình

Trang 40

+ Miễn giảm thuế, hỗ trợ gia công xuất khẩu, cho phép các công ty tư nhân được phép xuất khẩu trực tiếp

+ Cải thiện môi trường kinh doanh

+ Thành lập các trung tâm hỗ trợ phát triển doanh nghiệp

+ Tăng cường cung cấp thông tin về thị trường

+ Có các chính sách hỗ trợ về vốn, ưu đãi đối với khu vực kinh tế tư nhân

- Hầu hết các doanh nghiệp của các nước đều đặt trọng tâm ưu tiên vào xây dựng phát triển thị trường có dung lượng lớn, sức tiêu thụ cao của các nước phát triển nhằm khai thác tối đa các lợi thế cạnh tranh của mình như tài nguyên thiên nhiên, lao động rẻ

Hệ thống xúc tiến thương mại được đặc biệt coi trọng phát triển Trong những năm gần đây, đa số các nước đều từng bước đề ra và xúc tiến một loạt các chính sách tự

do hoá thương mại, tự do hoá đầu tư, khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài Đối với các doanh nghiệp trong nước, thời gian đầu chỉ đảm nhận công việc đại lý, liên doanh, liên kết với các công ty lớn của nước ngoài Từ đó họ trưởng thành và đảm nhận các công việc phức tạp hơn có lợi nhuận cao hơn như: nhà thầu phụ, sản xuất linh kiện hoặc trở thành công ty con, rồi các công ty độc lập sản xuất các sản phẩm có thương hiệu riêng

* Bài học rút ra cho huyện Phú Bình

Từ kinh nghiệm của các nước trên thế giới và trong nước về phát triển KTTN, huyện Phú Bình cần rút ra một số bài học kinh nghiệm đó là

- Cần tiếp tục hoàn thiện nội dung và phương thức quản lý Nhà nước đối với khu vực kinh tế tư nhân

+ Tăng cường phân cấp quản lý Nhà nước về KTTN cho địa phương

+ Nhà nước quản lý gián tiếp, điều tiết vĩ mô kinh tế, không can thiệp trực tiếp vào

sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân

Ngày đăng: 02/07/2020, 16:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w