Từ những vấn đề, điều kiện ảnh hưởng nêu trên, với những kiến thức đã được học tập và nghiên cứu ở Nhà trường, với kinh nghiệm thực tiễn trong quá trình công tác trong ngành xây dựng hạ
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tác giả Các kết quả nghiên cứu và các kết luận trong Luận văn là trung thực, không sao chép từ bất kỳ một nguồn nào và dưới bất kỳ hình thức nào Việc tham khảo các nguồn tài liệu đã được thực hiện trích dẫn và ghi nguồn tài liệu tham khảo đúng quy định
Tác giả Luận văn
Lê Đức Dũng
Trang 2LỜI CÁM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn này, tác giả đã nhận được
sự hướng dẫn tận tình của TS Trần Văn Toản và nhiều ý kiến về chuyên môn, nghiệp
vụ quý báu của các thầy, cô trong khoa Công trình, bộ môn Công nghệ và Quản lý xây dựng Đồng thời, tác giả cũng nhận được nhiều góp ý và giúp đỡ về công việc của các chuyên gia và đồng nghiệp ở Tổng cục KTTV; đặc biệt là sự quan tâm, động viên từ phía gia đình Đến nay, tác giả đã hoàn thành luận văn thạc sĩ với đề tài luận văn: “Đề xuất giải pháp tăng cường quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình Trạm KTTV cho Trung tâm KTTV quốc gia”, thuộc chuyên ngành Quản lý xây dựng
Trước hết, tác giả xin cảm ơn gia đình đã luôn ở bên tác giả trong mọi hoàn cảnh và tạo mọi điều kiện về cả thời gian và vật chất để tác giả hoàn thành chương trình học tập Sau đó, tác giả xin cảm ơn các thầy giáo, cô giáo đã giảng dạy trong quá trình học Cuối cùng, tác giả xin cảm ơn anh em bạn bè, đồng nghiệp trong cơ quan đã cung cấp
số liệu, giúp đỡ để có đầy đủ tài liệu thực hiện luận văn
Xong do thời gian nghiên cứu của tác giả còn hạn chế, kinh nghiệm nghiên cứu còn non nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, tác giả mong muốn nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô, chuyên gia, bạn bè và đồng nghiệp để tiếp tục hoàn thiện bản thân trong thời gian tiếp theo
Tác giả xin trân trọng cảm ơn!
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC HÌNH ẢNH vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU vii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Phương pháp nghiên cứu 2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4.1 Đối tượng nghiên cứu 2
4.2 Phạm vi nghiên cứu 2
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn đề tài 2
5.1 Ý nghĩa khoa học 2
5.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
6 Kết quả dự kiến đạt được 3
7 Nội dung của luận văn 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG 4
1.1 Tổng quan về chất lượng thi công công trình xây dựng 4
1.1.1 Công trình và phân loại công trình xây dựng 4
1.1.2 Chất lượng sản phẩm xây dựng 8
1.2 Tổng quan về quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình 9
1.2.1 Tổng quan về quản lý chất lượng công trình xây dựng 9
1.2.2 Các nguyên tắc trong quản lý chất lượng thi công công trình xây dựng 10
1.2.3 Các nội dung quản lý chất lượng thi công công trình xây dựng 13
1.3 Thực trạng quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình 13
1.3.1 Trên thế giới 13
1.3.2 Tại Việt Nam 15
1.4 Kết luận chương 1 23
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ PHÁP LÝ VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG 24
Trang 42.1 Cơ sở khoa học về quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình 24
2.1.1 Cơ sở lý thuyết 24
2.1.2 Cơ sở pháp lý 24
2.1.3 Cơ sở thực tiễn 25
2.2 Các mô hình quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình 30
2.2.1 Kiểm tra chất lượng 30
2.2.2 Kiểm soát chất lượng 30
2.2.3 Kiểm soát chất lượng toàn diện (Total Quality Control – TQC) 31
2.2.4 Quản lý chất lượng toàn diện (Total Quality Management - TQM) 31
2.2.5 Mô hình quản lý chất lượng của chủ đầu tư 32
2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình 36
2.3.1 Nhóm các nhân tố chủ quan 36
2.3.2 Nhóm nhân tố khách quan 37
2.3.3 Điều kiện đặc thù của công trình ngành KTTV 37
2.4 Kết luận chương 2 39
CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG THI CÔNG XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH CHO BAN QUẢN LÝ CÁC DỰ ÁN KTTV 40
3.1 Giới thiệu khái quát về Ban Quản lý các dự án KTTV 40
3.1.1 Lịch sử hình thành và nhiệm vụ chính 40
3.1.2 Kinh nghiệm thực hiện công tác quản lý chất lượng thi công công trình xây dựng 41
3.1.3 Sơ đồ và trình tự tổ chức quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình 42 3.1.4 Quy trình quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình 42
3.1.5 Giới thiện tổng quan dự án đầu tư xây dựng 43 trạm KTTV khu vực đồng bằng sông Cửu Long 44
3.2 Thực trạng công tác quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình tại Ban Quản lý các dự án KTTV 47
3.2.1 Thực trạng từng nội dung quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình 47
3.2.2 Các tồn tại và nguyên nhân chính 52
3.3 Đề xuất một số giải pháp tăng cường công tác quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình tại Ban Quản lý các dự án khí tượng thủy văn 53
Trang 53.3.1 Hoàn thiện bộ máy tổ chức 53
3.3.2 Ứng dụng khoa học công nghệ để thực hiện quản lý, giám sát chất lượng thi công xây dựng công trình 61
3.3.3 Nâng cao công tác quản lý chất lượng vật liệu, sản phẩm, cấu kiện, thiết bị sử dụng cho công trình xây dựng 62
3.3.4 Nâng cao công tác quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình của nhà thầu 64
3.3.5 Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý giám sát 67
3.3.6 Nâng cao chất lượng nghiệm thu công việc, nghiệm thu giai đoạn và nghiệm thu hoàn thành 68
3.3.7 Tăng cường công tác kiểm định chất lượng sản phẩm thi công 72
3.4 Kết luận chương 3 73
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
Trang 6DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1.1 Công trình đường cao tốc Hà Nội – Lào Cai 5
Hình 1.2 Công trình tòa nhà Quốc hội 7
Hình 1.3 Trạm ra đa thời tiết Vinh 7
Hình 1.4 Trạm ra đa thời tiết Phù Liễn - Hải Phòng 8
Hình 1.5 Trạm đo mưa và đo mực nước tự động 9
Hình 2.1 Mô hình quản lý chất lượng của chủ đầu tư quản lý trực tiếp dự 35
Hình 2.2 Mô hình quản lý chất lượng của chủ đầu tư thuê TV QLDA 35
Hình 3.1 Sơ đồ tổ chức của Ban Quản lý các dự án KTTV 40
Hình 3.2 Sơ đồ bộ máy quản lý chất lượng của Ban Quản lý các dự án KTTV 42
Hình 3.3 Sơ đồ quy trình quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình 43
Hình 3.4 Sơ đồ tổ chức bộ máy đề xuất 55
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1 Dự án lớn do Ban QLCDA đã và đang quản lý 41Bảng 3.2 Khối lượng công việc xây dựng chính cho 1 trạm KTTV 45Bảng 3.3 Khối lượng thiết bị chính cho 1 trạm KTTV 46
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BĐKH Biến đổi khí hậu
CTGT Công trình giao thông
CTXD Công trình xây dựng
ĐHTL Đại học Thủy lợi
GTVT Giao thông vận tải
KTTV Khí tượng thủy văn
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Biến đổi khí hậu là mối quan tâm của Liên hợp quốc, của các tổ chức quốc tế và cả của Chính phủ các nước trên thế giới Việt Nam là một trong 10 nước chịu ảnh hưởng nặng nề bởi Biến đổi khí hậu gây ra như nước biển dâng, xâm nhập mặn, mưa, bão, lũ lụt gây ra nhiều thiệt hại đến nền kinh tế đất nước, ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống của hàng triệu người dân [1]
Trong phạm vi dự án Quản lý thiên tai Việt Nam (WB5) có hợp phần 2 “Tăng cường
hệ thống dự báo thời tiết và cảnh báo sớm” Mục tiêu chủ yếu của dự án thành phần này nhằm nâng cao chất lượng các bản tin dự báo KTTV
Việc đầu tư xây dựng các công trình ngành KTTV là cần thiết và có những bước phát triển đáng ghi nhận Nhưng trong quá trình đầu tư xây dựng công trình, với tốc độ đầu
tư xây dựng mạnh mẽ, hiểu biết của các cán bộ quản lý và các văn bản hướng dẫn còn hạn chế, chưa thích ứng kịp thời hoặc chưa đồng bộ nên chất lượng xây dựng các công trình còn nhiều bất cập, các khiếm khuyết, sự cố đã xảy ra tuy chưa gây thiệt hại về người và thiệt hại lớn về kinh tế, nhưng đã là ảnh hưởng đến môi trường đầu tư ngành KTTV và uy tín, cũng như không đưa công trình vào khai thác được Trước các vấn đề
đó, Ban Quản lý các dự án KTTV đã có những quan tâm tăng cường quản lý chất lượng xây dựng ở nhiều khâu đầu tư xây dựng, đặc biệt là giai đoạn thi công xây dựng công trình (thông qua công tác giám sát thi công xây dựng công trình) Việc kịp thời ban hành các văn bản quản lý chất lượng của nhà nước nhằm bắt nhịp được công tác quản lý chất lượng, phù hợp và kịp thời với thực tiễn phát triển của ngành xây dựng Mục tiêu quan trọng đối với Ban Quản lý các dự án KTTV là tăng cường công tác quản lý chất lượng xây dựng nói chung và giám sát thi công xây dựng công trình nói riêng
Từ những vấn đề, điều kiện ảnh hưởng nêu trên, với những kiến thức đã được học tập
và nghiên cứu ở Nhà trường, với kinh nghiệm thực tiễn trong quá trình công tác trong ngành xây dựng hạ tầng giao thông và tại Ban Quản lý các dự án KTTV, tác giả chọn
đề tài luận văn với tên gọi: “Đề xuất giải pháp tăng cường quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình Trạm KTTV cho Trung tâm KTTV quốc gia”
Trang 102 Mục đích nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu đề xuất một số giải pháp có tính khả thi, có cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm tăng cường hơn nữa công tác quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình tại Ban Quản lý các dự án KTTV
3 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện những nội dung nghiên cứu, tác giả sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu sau: Phân tích, tổng hợp và hệ thống hóa lý thuyết; điều tra thu thập thông tin; thống kê, so sánh kinh nghiệm; đối chiếu với hệ thống văn bản pháp quy; tham vấn
ý kiến chuyên gia và một số phương pháp kết hợp khác
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác quản lý chất lượng thi công xây dựng các công trình Trạm KTTV trong giai đoạn thực hiện đầu tư tại Ban Quản lý các dự án KTTV, những nhân tố ảnh hưởng đến thành quả và chất lượng của công tác này
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về mặt nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu chủ yếu về công tác quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình Trạm KTTV tại các dự án đầu tư xây dựng do Ban Quản lý các dự án KTTV quản lý thực hiện;
Phạm vi về mặt thời gian: Luận văn sẽ tập trung nghiên cứu, phân tích thực trạng công tác quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình của Ban Quản lý các dự án KTTV
từ năm 2011 đến năm 2018 và đề xuất giải pháp tăng cường quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình Trạm KTTV cho giai đoạn tới
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn đề tài
5.1 Ý nghĩa khoa học
Đề tài góp phần hệ thống hoá, cập nhật và hoàn thiện cơ sở lý luận về quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình, các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình Những kết quả nghiên cứu của luận văn là những tài liệu tham khảo cần thiết cho công tác quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình cho các cán bộ kỹ thuật của Ban Quản lý các dự án KTTV
Trang 115.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả phân tích đánh giá thực trạng, cùng với đề xuất các giải pháp của đề tài sẽ là những gợi ý có giá trị tham khảo trong việc tăng cường hơn nữa hiệu quả công tác quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình cho Ban Quản lý các dự án KTTV
6 Kết quả dự kiến đạt được
Luận văn nghiên cứu, giải quyết được những vấn đề sau:
• Tổng quan về chất lượng thi công xây dựng, các mô hình quản lý chất lượng thi công xây dựng và hệ thống được các nhân tố có ảnh hưởng đến chất lượng công trình xây dựng;
• Hệ thống cơ sở khoa học về quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình;
• Đánh giá được các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng xây dựng công trình trong giai đoạn thi công;
• Các nội dung cần phải thực hiện quản lý chất lượng để đảm bảo chất lượng sản phẩm xây dựng trong giai đoạn thi công;
• Phân tích, đánh giá được thực trạng công tác quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình của Ban Quản lý các dự án KTTV;
• Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường chất lượng công tác quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình của Ban Quản lý các dự án KTTV Ứng dụng cho công tác quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình: Xây dựng 43 trạm khí tượng thuỷ văn khu vực đồng bằng sông Cửu Long
7 Nội dung của luận văn
Ngoài Phần mở đầu, kết luận kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được cấu trúc thành 3 chương chính như sau:
Chương 1: Tổng quan về quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình;
Chương 2: Cơ sở lý luận về quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình;
Chương 3: Thực trạng và giải pháp tăng cường công tác quản lý chất lượng xây dựng công trình tại Ban Quản lý các dự án KTTV
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG
1.1 Tổng quan về chất lượng thi công công trình xây dựng
1.1.1 Công trình và phân loại công trình xây dựng
1.1.1.1 Công trình hạ tầng và dân dụng
Sự phát triển của đất nước trong những năm qua đã là nguồn lực thúc đẩy sự phát triển
hạ tầng giao thông, kỹ thuật, các cao ốc, nhà ở và các công trình dân dụng, công nghiệp khác nhau với tốc độ xây dựng phát triển nhanh như vậy cũng tạo đà phát triển kinh tế cho đất nước (đặc biệt là các khu vực kinh tế trọng điểm được chú trọng phát triển kinh
tế như Hà Nội, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh ), tạo thuận lợi cho giao thông, lưu thông hàng hóa, các khu công nghiệp, đô thị phát triển Song song với sự phát triển như vậy thì chất lượng công trình xây dựng là một yếu tố quan trọng mang tính quyết định
và cần được quan tâm, chú trọng một cách kịp thời, sâu sắc Theo thống kê về công tác kiểm soát chất lượng công trình trong những năm gần đây Chúng ta đã xây dựng được nhiều công trình xây dựng công nghiệp, giao thông, thuỷ lợi đạt chất lượng cao, góp phần quan trọng vào hiệu quả tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân [2]
1.1.1.2 Công trình ngành KTTV
Công trình của ngành KTTV trong những năm gần đây đã được nhà nước quan tâm và
bố trí nhiều nguồn lực để đáp ứng được yêu cầu phát triển và đuổi kịp với tiến bộ của các nước phát triển như Australia, Newzeland và để đối phó với biến đổi khí hậu gây
ra các hiện tượng thời tiết cực đoan Mạng lưới hệ thống quan trắc, trạm KTTV đã được bổ sung thêm tại các vùng bị ảnh hưởng nhiều của biến đổi khí hậu như khu vực ven biển, hải đảo, khu vực nam bộ, khu vực tây nguyên các hệ thống rada thời tiết đã được xây dựng bổ sung, phân bổ trên các địa bàn như khu vực tây bắc là rada Pha Đin-Sơn La, khu vực đông bắc là rada Phù Liễn-Hải Phòng, bắc trung bộ là rada Núi Quyết-Nghệ An, trung trung bộ là rada Đông Hà-Quảng trị, nam trung bộ là rada Tam Kỳ-Quảng nam, tây nguyên là rada Pleiku-Gia Lai, nam bộ là rada Nhà Bè- Thành phố
Hồ Chí Minh
Trang 13Công trình khí tượng thuỷ văn chính là hạ tầng, cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật
để quan trắc, thu thập số liệu khí tượng thuỷ văn (Số liệu về mưa, gió, mực nước, chất lượng môi trường không khí, môi trường nước, số liệu về Ozon, bức xạ )
Các công trình khí tượng thuỷ văn đã được đầu tư vừa qua đã mang lại hiệu quả trong việc cung cấp được các bản tin dự báo thời tiết chính xác hơn, giúp phần cho công tác phòng chống thiên tai được điều hành chính xác hơn, tạo điều kiện cho công tác điều hành giảm nhẹ thiên tai, góp phần phát triển kinh tế của đất nước
1.1.1.3 Một số công trình tiêu biểu
Hình 1.1 Công trình đường cao tốc Hà Nội – Lào Cai Đường cao tốc Hà Nội – Lào Cai: Được mệnh danh là tuyến cao tốc dài và hiện đại bậc nhất tại Việt Nam, ngay khi còn đang là một dự án nằm trên bản vẽ, tuyến đường này đã đập tan mọi kỷ lục về hạng mục công trình giao thông trong nước
Đây chính là tuyến cao tốc duy nhất chạy liên tục hơn 245 km qua 5 tỉnh, thành phố là
Hà Nội, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Yên Bái, Lào Cai Để hoàn thành cung đường này, 25 nghìn hộ dân thuộc diện ảnh hưởng, phải di dời Chưa kể, đây là dự án đi qua địa hình,
Trang 14địa chất phức tạp nhất, xuyên từ khu vực đồng bằng lên vùng Tây Bắc, với nhiều đồi núi, vượt qua hai con sông lớn là sông Hồng và sông Lô
Với chiều dài 245 km cao tốc, 120 cầu lớn nhỏ, một hầm xuyên núi, một hầm chui, đào đắp hơn 100 triệu m3 đất đá,… Hà Nội - Lào Cai là dự án thuộc loại lớn nhất trong số các tuyến cao tốc đã triển khai ở Việt Nam [3]
Dự án cũng thuộc diện có nhiều nhà thầu ngoại và nội cùng tham gia xây dựng nhất tính tới thời điểm này
Cao tốc Hà Nội - Lào Cai là một trong những dự án nhận được sự chỉ đạo điều hành quyết liệt nhất của lãnh đạo Bộ GTVT Rất nhiều kỹ sư tư vấn, kỹ sư thường trú của tư vấn giám sát, giám đốc điều hành của các nhà thầu, các nhà thầu thi công bị thay thế, điều chuyển công việc
Công trình này đã và đang đem lại những hiệu quả vô cùng to lớn Nó trở thành cầu nối quan trọng, kéo gần khoảng cách giữa Hà Nội và Lào Cai, tạo điều kiện để vùng đất du lịch nổi tiếng này có cơ hội phát triển tốt hơn
Tuyến đường này cũng góp phần kết nối các tỉnh vùng núi phía Bắc với thị trường hơn
300 triệu dân của vùng Vân Nam (Trung Quốc)
Cao tốc Hà Nội - Lào Cai còn có tác động trực tiếp đến phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương Tiêu biểu nhất là việc mở rộng các loại hình kinh doanh dịch vụ, thu hút các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào các khu công nghiệp tại các địa phương có tuyến đường chạy qua, giảm được cước phí vận tải hàng hóa, góp phần thúc đẩy hoạt động sản xuất của doanh nghiệp ngày càng hiệu quả hơn
Tòa nhà Quốc hội: Sau 5 năm xây dựng, công trình Nhà Quốc hội toạ lạc tại khu trung tâm chính trị Ba Đình, Hà Nội đã được đưa vào sử dụng từ cuối năm 2014 [4]
Với quy mô lớn và phức tạp, các nhà thầu Việt Nam đã hoàn thành xây dựng công trình
có kiến trúc mang biểu tượng “Trời tròn Đất vuông” cao 39 mét, gồm 2 tầng hầm và 5 tầng nổi, trên diện tích sàn hơn 60.000 m2 Nhiều trang thiết bị hiện đại trong toà nhà được nhập khẩu từ nước ngoài Hệ thống điện được vận hành tương đương một nhà máy
Trang 15Hình 1.2 Công trình tòa nhà Quốc hội
Công trình xây dựng tháp rada thời tiết Phù Liễn-Hải phòng, rada thời tiết Núi Quyết- Nghệ An đã góp phần nâng cao chất lượng dự báo thời tiết cho 2 khu vực có số lượng cơn bão đi vào chiếm tới 90% số lượng cơn bão hàng năm đi vào đất liền Việt Nam, làm giảm nhẹ thiệt hại do mưa bão gây ra
Hình 1.3 Trạm ra đa thời tiết Vinh
Trang 16Hệ thống mạng lưới quan trắc tự động: Đo mưa và đo mực nước tại khu vực nam bộ
đã góp phần rất lớn để điều hành trong sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, điều hành trong việc phòng chống và hạn chế xâm nhập mặn
1.1.2 Chất lượng sản phẩm xây dựng
Tuy nhiên, bên cạnh những công trình đạt chất lượng, chất lượng cao cũng còn không
ít các công trình không đáp ứng được yêu cầu sử dụng, gây tốn kém cả về kinh phí lẫn thời gian cho việc sửa chữa, khắc phục như:
Hình 1.4 Trạm ra đa thời tiết Phù Liễn - Hải Phòng
Hàng loạt công trình giao thông trọng điểm, điển hình như đường Láng - Hòa Lạc, cao tốc Cầu Giẽ - Ninh Bình, cao tốc TP Hồ Chí Minh - Trung Lương,… sau khi đưa vào khai thác đã xuất hiện hiện tượng lún, xuống cấp, phá vỡ kết cấu mặt đường, một loạt sự
cố xảy ra tại các công trình xây dựng như vụ sập cầu Chu Va, hiện tượng lún nứt đường
ở 2 đầu vào hầm đường bộ Ðèo Ngang và đặc biệt là vụ đường ống nước sông Ðà… Một số công trình ngành KTTV cũng có những vấn đề về chất lượng như mới đưa vào vận hành đã xuống cấp, ảnh hưởng đến chất lượng khai thác công trình, độ bền vững
Trang 17của công trình và thiết bị chuyên nghành sâu như ra đa, thiết bị công nghệ thông tin ảnh hưởng đến độ chính xác của số liệu quan trắc
Hình 1.5 Trạm đo mưa và đo mực nước tự động
1.2 Tổng quan về quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình
1.2.1 Tổng quan về quản lý chất lượng công trình xây dựng
Công trình xây dựng là một sản phẩm hàng hoá đặc biệt phục vụ cho sản xuất và các yêu cầu của đời sống con người Hàng năm vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước, của doanh nghiệp của người dân dành cho xây dựng rất lớn, chiếm từ (25 – 30)% GDP Vì vậy chất lượng công trình xây dựng là vấn đề cần được hết sức quan tâm, nó có tác động trực tiếp đến sự phát triển bền vững, hiệu quả kinh tế, đời sống của con người [5]
Trong thời gian qua công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng - yếu tố quan trọng quyết định đến chất lượng công trình xây dựng - đã có nhiều tiến bộ Với sự tăng nhanh và trình độ được nâng cao của đội ngũ cán bộ quản lý, sự lớn mạnh đội ngũ công nhân các ngành xây dựng, với việc sử dụng vật liệu mới có chất lượng cao, việc đầu tư thiết bị thi công hiện đại, sự hợp tác học tập kinh nghiệm của các nước có nền công nghiệp xây dựng phát triển cùng với việc ban hành các chính sách, các văn bản pháp quy tăng cường công tác quản lý chất lượng xây dựng, chúng ta đã xây dựng
Trang 18được nhiều công trình xây dựng công nghiệp, giao thông, thuỷ lợi… góp phần vào hiệu quả tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân; xây dựng hàng chục triệu m2 nhà ở, hàng vạn trường học, công trình văn hoá, thể thao… thiết thực phục vụ và nâng cao đời sống của nhân dân
Tuy nhiên bên cạnh những công trình đạt chất lượng, cũng còn không ít các công trình
có chất lượng kém, không đáp ứng yêu cầu sử dụng, công trình nứt, vỡ, lún sụt, thấm dột, bong bộp đưa vào sử dụng thời gian ngắn đã hư hỏng gây tốn kém, phải sửa chữa, phá đi làm lại Đã thế nhiều công trình không tiến hành bảo trì hoặc bảo trì không đúng định kỳ làm giảm tuổi thọ công trình Cá biệt ở một số công trình gây sự cố làm thiệt hại rất lớn đến tiền của và tính mạng, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả đầu tư [2]
Nguồn vốn dành để đầu tư các công trình ngành KTTV là rất đa dạng, được nhà nước phân bổ từ nguồn ngân sách hàng năm, từ các nguồn vốn ODA ưu đãi hoặc không hoàn lại, hiện nay trong ngành KTTV thì nguồn vốn ODA chiếm chủ yếu, nguồn vốn
từ ngân sách là dùng để đối ứng [6] Với số liệu từ báo cáo tình hình đầu tư năm 2017 của Tổng cục KTTV cho thấy, số lượng vốn giải ngân trong năm 2017 dành cho các
dự án là khoảng 500 tỷ đồng Việt Nam, điều này cho thấy tốc độ phát triển trong công tác đầu tư xây dựng của ngành KTTV đã có những bước tiến vượt bậc trong việc hiện đại hóa, tự động hóa, trong công tác thu thập số liệu KTTV Các công trình đã xây dựng hoàn thành đều cơ bản đảm bảo tốt chất lượng, tiến độ đảm bảo và giá thành hợp
lý, đã được các cơ quan cấp trên, cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng các cấp đánh giá cao Dựa trên cơ sở quyết định Số: 90/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, ngày 12 tháng 01 năm 2016 Về việc phê duyệt Quy hoạch mạng lưới quan trắc tài nguyên và môi trường quốc gia giai đoạn 2016 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030 và số liệu mới nhất được cập nhật (6/2018) hiện có 194 trạm khí tượng, 354 trạm thủy văn, 23 trạm hải văn, 755 trạm đo mưa, 91 trạm đo mặn [7]
1.2.2 Các nguyên tắc trong quản lý chất lượng thi công công trình xây dựng
(1) Quản lý nhà nước về chất lượng thi công công trình xây dựng
Chất lượng công trình xây dựng là vấn đề hết sức quan trọng, nó có tác động trực tiếp đến hiệu quả kinh tế dự án đầu tư, đời sống của con người và sự phát triển bền vững
Trang 19Đặc biệt ở nước ta vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, doanh nghiệp và nhân dân chiếm
tỷ trọng rất lớn trong thu nhập quốc dân, cả nước là một công trình xây dựng Vì vậy
để tăng cường quản lý dự án, chất lượng công trình xây dựng, các cơ quan quản lý nhà nước ở Trung ương và địa phương đã:
Luật, Nghị định, Thông tư, các tiêu chuẩn, quy phạm xây dựng, các văn bản pháp quy
đã được ban hành như nhằm tạo ra môi trường pháp lý thuận lợi cho việc tổ chức thực hiện quản lý chất lượng công trình xây dựng
Đề ra các chủ trương chính sách khuyến khích đầu tư thiết bị hiện đại, sản xuất vật liệu mới, nghiên cứu và ứng dụng thành tựu khoa học trong xây dựng, đào tạo cán bộ, công nhân nhằm nâng cao năng lực đáp ứng yêu cầu quản lý đầu tư xây dựng nói chung và quản lý chất lượng công trình xây dựng nói riêng
Tăng cường quản lý chất lượng thông qua các tổ chức chuyên ngành về chất lượng tại các Hội đồng nghiệm thu các cấp, các cục giám định chất lượng, phòng giám định
Có chính sách khuyến khích các đơn vị, tổ chức thực hiện theo tiêu chuẩn ISO 9001 -
2000, tuyên dương các đơn vị đăng ký và đạt công trình huy chương vàng chất lượng cao của ngành, công trình chất lượng tiêu biểu của liên ngành
Phải thấy rằng với những văn bản pháp quy, các chủ trương chính sách, biện pháp quản lý đó về cơ bản đã đủ điều kiện để tổ chức quản lý chất lượng công trình xây dựng Chỉ cần các tổ chức từ cơ quan chủ quản đầu tư, chủ đầu tư, ban quản lý dự án, các nhà thầu (khảo sát, tư vấn lập dự án đầu tư, xây lắp) thực hiện đầy đủ các chức năng của mình một cách có trách nhiệm theo đúng trình tự quản lý, quy phạm nghiệm thu công trình xây dựng
(2) Quản lý chất lượng của các chủ thể trực tiếp tham gia xây dựng công trình về chất lượng thi công công trình xây dựng [8]
Chủ đầu tư, tổ chức tư vấn (giám sát, thiết kế, khảo sát, thẩm định), nhà thầu xây lắp là 3 chủ thể trực tiếp quản lý chất lượng công trình xây dựng Thực tế đã chứng minh rằng
dự án, công trình nào mà 3 chủ thể này có đủ trình độ năng lực quản lý, thực hiện đầy đủ các quy định hiện này của nhà nước tổ chức triển khai thực hiện đầy đủ các quy định về
Trang 20quản lý chất lượng trong các hợp đồng kinh tế, đặc biệt trong trường hợp các tổ chức này độc lập, chuyên nghiệp thì tại đó công tác quản lý chất lượng tốt và hiệu quả
Chủ đầu tư - Ban quản lý dự án
Chủ đầu tư là bên có tiền vốn bỏ ra để đặt hàng với sản phẩm là công trình xây dựng,
họ là người đưa ra các yêu cầu kỹ thuật, yêu cầu chất lượng sản phẩm cho các nhà thầu (bên cung cấp) trong quá trình lập dự án đầu tư, khảo sát, thiết kế, cho đến giai đoạn thi công xây lắp, vận hành bảo trì, vì vậy họ là chủ thể, là bên quan trọng nhất quyết định chất lượng công trình xây dựng
Đơn vị tư vấn lập dự án, khảo sát, thiết kế
Với tốc độ phát triển mạnh mẽ của quá trình đầu tư xây dựng hàng năm, hàng vạn dự
án cỏ sử dụng nguồn vốn của nhà nước và của các thành phần kinh tế, của nhân dân được triển khai xây dựng, do vậy các công ty chuyên về tư vấn lập dự án, khảo sát, thiết kế cũng phát triển theo tỷ lệ thuận, lên đến hàng nghìn đơn vị Bên cạnh một số các đơn vị tư vấn, khảo sát thiết kế truyền thống lâu năm, có đủ năng lực trình độ, uy tín, còn nhiều tổ chức tư vấn khảo sát thiết kế năng lực trình độ còn hạn chế, thiếu hệ thống quản lý chất lượng nội bộ
Đơn vị tư vấn giám sát (thuộc chủ đầu tư, nhà thầu tư vấn giám sát độc lập)
Là người thay mặt cho chủ đầu tư trực tiếp giám sát, nghiệm thu các công việc trong suốt quá trình xây dựng thông qua việc kiểm tra công việc hàng ngày, ký các biên bản nghiệm thu từng phần, từng bộ phận công trình
Nhà thầu thi công
Đây là một trong những chủ thể quan trọng, có ảnh hưởng và quyết định đến việc đảm bảo chất lượng thi công công trình xây dựng
Thời gian qua các nhà thầu đã có những bước phát triển rất nhanh cả về số lượng và chất lượng Nhận rõ tầm quan trọng của công tác quản lý chất lượng và thương hiệu, là
uy tín của đơn vị mình, là vấn đề sống còn trong cơ chế thị trường, nên nhiều nhà thầu
đã xây dựng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế
Trang 211.2.3 Các nội dung quản lý chất lượng thi công công trình xây dựng
Quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình bao gồm các nội dung chính sau đây [8]
Quản lý chất lượng đối với vật liệu, cấu kiện, sản phẩm, thiết bị sử dụng cho công trình xây dựng;
Quản lý chất lượng của nhà thầu trong quá trình thi công xây dựng công trình, đây chính là hệ thống quản lý chất lượng của nhà thầu;
Giám sát thi công xây dựng công trình của chủ đầu tư (có thể là nhà thầu Tư vấn giám sát do chủ đầu tư lựa chọn theo quy định của pháp luật), kiểm tra và nghiệm thu công việc xây dựng trong quá trình thi công xây dựng công trình;
Giám sát tác giả của nhà thầu thiết kế trong thi công xây dựng công trình, đảm bảo thi công theo đúng thiết kế;
Các thí nghiệm đối chứng, thí nghiệm thử tải và kiểm định xây dựng trong quá trình thi công xây dựng công trình
Nghiệm thu giai đoạn thi công xây dựng, bộ phận (hạng mục) công trình xây dựng (nếu có)
Nghiệm thu hạng mục công trình, công trình hoàn thành để đưa vào khai thác, sử dụng
Kiểm tra công tác nghiệm thu công trình xây dựng của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (trong trường hợp có yêu cầu)
Lập hồ sơ hoàn thành công trình xây dựng, lưu trữ hồ sơ của công trình và bàn giao công trình xây dựng [8]
1.3 Thực trạng quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình
1.3.1 Trên thế giới
(1) Quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình tại Mỹ [9]:
Chính quyền địa phương trực tiếp quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình theo mô hình 3 bên:
Trang 22Bên thứ nhất: Nhà thầu, người làm ra sản phẩm (SP) tự chứng nhận chất lượng SP của mình;
Bên thứ hai: Bên mua, người sử dụng SP chứng nhận SP có phù hợp hay không với các tiêu chuẩn, quy định kỹ thuật đã đề ra thông qua giám sát;
Bên thứ ba: Đánh giá độc lập về chất lượng sản phẩm
(2) Quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình tại Pháp [9]:
Thực hiện chế độ bảo hiểm bắt buộc với công trình xây dựng;
Bảo hành công trình 10 năm;
Tiền bảo hiểm phụ thuộc vào mức độ rủi ro và uy tín của mọi tổ chức liên quan đến CTXD:
- Chủ đầu tư
- Thiết kế kiến trúc , kết cấu, M&E, …
- Nhà thầu thi công
- Tư vấn
- Phòng thí nghiệm độc lập
(3) Quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình tại Trung Quốc [9]:
Chính phủ Trung quốc chủ động thúc đẩy và khuyến khích các ngành công nghiệp áp dụng tiêu chuẩn ISO 9000
Cục giám sát kỹ thuật nhà nước đã thành lập tiêu chuẩn ISO 9000 quốc gia và quy định trách nhiệm đảm bảo chất lượng đối với các chủ thể tham gia vào quá trình xây dựng
Cục giám sát kỹ thuật nhà nước quản lý kỹ sư tư vấn giám sát , cấp chứng chỉ hành nghề kỹ sư tư vấn giám sát , chủ đầu tư chỉ định kỹ sư tư vấn giám sát xây dựng công trình phải được sự chấp thuận của Cục giám sát kỹ thuật nhà nước
Trang 23Nhiều công ty xây dựng, nhà máy đã được cấp chứng chỉ ISO 9001:2000
Những công trình quan trọng bắt buộc phải được các phòng thí nghiệm độc lập thẩm định
1.3.2 Tại Việt Nam
Luật xây dựng đã nêu rõ trong nội dung về công tác quản lý chất lượng xây dựng công trình [10]
Nghị định 46/2015/NĐ-CP của Chính Phủ hướng dẫn về quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng cho các chủ thể liên quan trong công tác khảo sát, thiết kế, thi công xây dựng, bảo hành và bảo trì, quản lý và sử dụng công trình xây dựng trên lãnh thổ Việt Nam [11]
Bộ Xây dựng và các Sở Xây dựng địa phương cấp chứng chỉ hành nghề kỹ sư tư vấn giám sát
Trong ngành xây dựng, đa số các doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng đạt được chứng chỉ ISO 9001: 2000, trong khi đó thực trạng là ngược lại đối với các doanh nghiệp thi công xây lắp cũng như doanh nghiệp tư vấn và thiết kế xây dựng Đặc biệt
là hầu như chưa có một Ban Quản lý dự án (QLDA) nào có được chứng chỉ ISO 9001:2000 trong hoạt động quản lý dự án xây dựng, mặc dù các Ban QLDA đó vẫn đã
và đang trực tiếp hàng ngàn tỷ đồng mỗi năm
Quản lý chất lượng công trình xây dựng là nội dung quan trọng đã được các cơ quan chuyên môn về xây dựng của quản lý nhà nước, các chủ đầu tư, nhà thầu, các đơn vị liên quan quan tâm chỉ đạo thực hiện Nhiều công trình xây dựng hoàn thành, đảm bảo các yêu cầu về chất lượng đã phát huy hiệu quả đầu tư, tạo động lực cho phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Tuy nhiên, vẫn còn nhiều công trình xây dựng chất lượng thấp, cá biệt có công trình vừa xây dựng xong đã xuống cấp, hư hỏng làm ảnh hưởng đến chất lượng khai thác, gây ra bức xúc của nhân dân, hiệu quả đầu tư rất thấp Nguyên nhân chính do các Ban QLDA- chủ đầu tư, tổ chức tư vấn (lập dự án, khảo sát, thiết kế, TVGS), các nhà thầu thi công… tham gia quản lý về xây dựng công trình chưa thực hiện nghiêm túc các quy định của pháp luật về xây dựng trong công tác khảo sát địa hình, khảo sát địa chất, tổ chức lập dự án đầu tư đến thi công xây dựng
Trang 24công trình, công việc kiểm tra chấp thuận để nghiệm thu của cơ quan chuyên môn về xây dựng, công tác nghiệm thu, bảo hành, bảo trì công trình xây dựng Bộ máy, hệ thống quản lý chất lượng công trình xây dựng từ trung ương đến địa phương còn nhiều hạn chế, chưa đồng bộ, chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành Năng lực của các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động xây dựng chưa đáp ứng yêu cầu
Thực tế những vấn đề còn tồn tại của các chủ thể trực tiếp tham gia hoạt động quản
lý chất lượng công trình xây dựng trong các bước chuẩn bị đầu tư dự án (lập dự án, lập nhiệm vụ, đề cương ), thiết kế công trình, thi công và nghiệm thu đưa công trình vào sử dụng
Về phía chủ đầu tư: Đôi khi còn buông lỏng, chưa chấp hành đúng trình tự thủ tục xây dựng cơ bản, buông lỏng công tác này cho tư vấn, nhà thầu thi công; Với việc thực thi pháp luật trong thực tế còn hạn chế, đặc biệt đối với dự án sử dụng vốn ngân sách, chủ đầu tư vẫn còn dễ bị chỉ đạo bởi các mối quan hệ phức tạp Chưa có ràng buộc về pháp luật về chịu trách nhiệm nếu vấn đề chất lượng chưa đảm bảo, công trình xảy ra sự cố; chưa thực hiện nghiêm túc chế độ quản lý chất lượng; trong vấn đề lựa chọn nhà thầu vẫn có còn có sự ưu ái lựa một số đơn vị tư vấn không đủ điều kiện năng lực hành nghề hoạt động xây dựng để ký kết hợp đồng, nhà thầu thi công yếu về năng lực con người, thiết bị, không đảm bảo điều kiện năng lực tài chính
Vốn đầu tư vào các dự án xây dựng là vốn ngân sách nên nhà nước đưa ra luật để quản
lý vốn đầu tư Nhưng quản lý vốn và quản lý chi phí đầu tư xây dựng còn nhiều khe hở Luật Xây dựng được Quốc hội khóa XIII thông qua vào tháng 6/2014 và chính thức có hiệu thi hành Luật Xây dựng có phạm vi bao quát rộng, có vai trò rất quan trọng và đã đóng góp có hiệu quả vào việc tạo lập môi trường pháp lý và tăng cường năng lực quản
lý của Nhà nước trong một giai đoạn tương đối dài Tuy nhiên xét một cách tổng thể, hiện nay Luật xây dựng chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý của Nhà nước vì các lý do chủ yếu như: Nhiều phần nội dung của luật được xây dựng dựa trên tư duy quản lý có từ thời kinh tế tập trung, bao cấp và không còn thích hợp cho một nền kinh tế đang phát triển nhanh chóng theo định hướng thị trường Tình trạng trùng lặp, chồng chéo hoặc mâu thuẫn giữa các quy định của Luật xây dựng với các văn bản pháp luật được ban hành về sau là rất nhiều Có nhiều quy định không hợp lý hoặc ít tính khả thi; Nội dung
Trang 25của luật chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý Nhà nước đối với một nền kinh tế đang trong tiến trình hội nhập quốc tế và khu vực với tốc độ nhanh chóng
Thực tế trong quá trình quản lý vốn và đầu tư xây dựng bộc lộ khá nhiều bất cập mà bản thân Luật Xây dựng chưa bao quát hết được dẫn đến tình trạng đầu tư một cách tràn lan, thiếu định hướng gây thất thoát và khó kiểm soát Nguyên nhân từ khâu quản
lý yếu kém là một phần, nhưng một phần khác cũng xuất phát từ yếu tố khách quan khi chuyển đổi nền kinh tế kế hoạch hóa sang kinh thế thị trường thì bản thân nhà nước cũng thiếu kinh nghiệm trong quản lý Xác định vai trò quan trọng của việc quản lý vốn và chi phí đầu tư trong xây dựng, Chính phủ đã cho ra đời Nghị định 37/2015/NĐ-
CP Nghị định ra đời đánh dấu bước tiến mới về thiết lập nền tảng pháp lý cho lĩnh vực hợp đồng trong hoạt động xây dựng ở Việt Nam và phù hợp với thông lệ quốc tế Những quy định của Nghị định này đã giải quyết được phần nào những vướng mắc, chồng chéo về hợp đồng giữa các văn bản quy phạm pháp luật trước đây Nhưng ngay
cả Nghị định này cũng bộc lộ không ít hạn chế
Về mặt quản lý vốn, chính việc cởi trói cho doanh nghiệp phát triển mà không có định hướng, quy hoạch cụ thể, không ít doanh nghiệp lợi dụng danh nghĩa nhà nước trong vấn đề xin cơ chế chính sách, sử dụng vốn đầu tư vào các lĩnh vực khác Chưa xét đến hiệu quả nếu thu được từ việc đầu tư này sẽ chảy vào túi ai, chỉ riêng cơ chế về quản
lý, sử dụng nguồn vốn ở đây cũng đã thiếu rõ ràng và khi kinh tế thế giới lâm vào tình trạng khó khăn, vốn đầu tư nợ đọng, thất thoát thì việc quy trách nhiệm cụ thể cho từng cá nhân, đơn vị cụ thể lại tiến hành một cách chung chung Với cách quản lý như thế, nguồn vốn nhà nước hay nói chính xác hơn là tài sản của nhân dân bị sử dụng một cách thiếu chặt chẽ, thiếu trách nhiệm của một bộ phận lãnh đạo mà bản thân người dân cũng chưa chắc đã được hưởng lợi nếu các khoản đầu tư đó mang lại hiệu quả Hiện nay công tác quản lý đầu tư xây dựng cơ bản cũng được cho là khá lỏng lẻo khi
mà Nghị định của Chính phủ về Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình đã thực hiện phân cấp mạnh hơn về thẩm quyền quyết định đầu tư cho cấp huyện, xã thì việc quản lý và giám sát lại thiếu chặt chẽ [12] Nghị định 113/2009/NĐ-CP về giám sát và đánh giá đầu tư đang chủ yếu giám sát về quy trình thủ tục nhiều hơn là quản lý chất lượng đầu tư, theo đó, vốn sau khi được phân bổ cho chủ đầu tư đang được các đơn vị
Trang 26này coi như vốn của mình, cũng chính chủ đầu tư sẽ thực hiện các công đoạn chuẩn bị đầu tư, phê duyệt dự án, bản vẽ…thậm chí, việc phê duyệt đấu thầu, mời thầu cũng do chủ đầu tư thực hiện khiến xảy ra tình trạng thông đồng để đấu thầu thành công dự án
Với những vướng mắc như trên có thể thấy, nếu Luật Xây dựng và các văn bản dưới luật không nhanh chóng được sửa đổi, bổ sung thì sẽ rất khó nói đến hiệu quả trong quản lý vốn và quản lý đầu tư xây dựng khi mà tình hình kinh tế vẫn chưa có gì sáng sủa
Để đánh giá các tồn tại về chất lượng dự án xây dựng CTGT ta có thể xem xét ảnh hưởng của các chủ thể thông qua một số dự án lớn mà ngành giao thông thành phố
Hồ Chí Minh được Ủy Ban nhân dân (UBND) thành phố Hồ Chí Minh ủy quyền làm chủ đầu tư:
Dự án đại lộ Đông Tây: Có đoạn hầm dài 400m, là hạng mục quan trọng, được thiết kế xuyên qua sông Sài Gòn nhưng cả 4 đốt hầm đều có vấn đề chất lượng bê tông, chất lượng vật liệu mà chủ đầu tư phải mời tư vấn nước ngoài thẩm định và đưa ra biện pháp xử lý
Dự án cầu Văn Thánh, đường Lê Thánh Tông nối dài: Khi chưa đưa vào khai thác hầm chui đã lún, sụt, không sử dụng được phải xử lý, phần cầu sau 2 năm sử dụng đã phải sửa chữa lại do một số đầu dầm và mặt cầu nứt vỡ, dự án có vòng đời qua ngắn, điều
đó chứng tỏ chất lượng công trình không đảm bảo Nguyên nhân là do:
+ Nhà thầu chưa đủ năng lực về thiế bị về tài chính;
+ Biện pháp tổ chức thi công không hợp lý do thiếu các số liệu về địa chất yếu và phức tạp của khu vực dự án bị
Dự án kéo dài, ngoài việc làm tăng giá thành công trình mà còn làm nhiều hạng mục phải
xử lý các vấn đề về kỹ thuật, về vật liệu, về thiết bị, do vậy chất lượng rất khó đảm bảo
Thông qua các dự án trên có thể đánh giá năng lực hệ thống quản lý của chủ đầu tư chưa tốt, dẫn đến không kiểm soát được quá trình thực hiện dự án Hậu quả là dự án nào cũng có các sai sót về chất lượng, về tiến độ, nhưng việc phân định trách nhiệm để
xử lý hầu như bị lãng quên
Trang 27Về phía các tổ chức tư vấn, khảo sát: Hiện nay thiếu các tư vấn chất lượng cao ở tầm
vĩ mô trong việc đề xuất các chủ trương đầu tư xây dựng, quy hoạch, lập dự án, đề xuất các giải pháp kỹ thuật công nghệ chính xác, hợp lý, khả thi; Trong nhiều trường hợp đã để xảy ra các sai sót, phải điều chỉnh cho quá trình xây dựng gây tốn kém, lãng phí, ảnh hưởng lớn đến chất lượng công trình
Nhiều tổ chức tư vấn do đòi hỏi bức bách của công việc mà hình thành, chưa có những định hướng, chiến lược phát triển rõ rệt Các Công ty tư vấn xuất hiện tràn lan, đã bắt đầu có hiện tượng một số doanh nghiệp tư vấn về việc thực hiện dịch vụ theo kiểu môi giới hoặc thuê mượn, thiếu thực lực gây hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động tư vấn
Trong những năm gần đây số lượng các công ty tư vấn phát triển tràn lan nhưng năng lực thì lại yếu kém, còn nhiều hạn chế và chưa làm tròn trách nhiệm, còn vi phạm nguyên tắc quản lý đầu tư xây dựng Tất cả các đơn vị tư vấn trên địa bàn đều không
có hệ thống quản lý chất lượng; Trên thực tế cho thấy hầu hết các sai sót, khiếm khuyết trong xây dựng đều có liên quan đến tư vấn xây dựng, nhất là trong thiết kế Sai sót của tư vấn thiết kế có trường hợp dẫn đến hậu quả lâu dài khó khắc phục Tuy rằng kinh phí cho công tác tư vấn xây dựng không nhiều nhưng lại có ảnh hưởng rất lớn Những thiếu sót, sai lầm của công tác tư vấn xây dựng thuộc phạm trù chất xám nên khó phát hiện nhưng điểm lại các nguyên nhân dễ nhận thấy nhất đó là:
Với tư vấn thiết kế: Phần lớn các đơn vị tư vấn thiếu các cá nhân chủ trì thiết kế theo đúng các chuyên ngành phù hợp, điều kiện năng lực hành nghề hoạt động xây dựng còn hạn chế (vẫn còn tình trạng mượn chứng chỉ: 01 ông kiến trúc sư có chứng chỉ thiết kế có trong hồ sơ năng lực của nhiều công ty tư vấn); do thiếu về năng lực hành nghề chuyên môn vì vậy thiết kế không đảm bảo yêu cầu kỹ thuật, dẫn đến chất lượng sản phẩm hồ sơ rất kém (vì không có sự đầu tư nghiên cứu, chủ yếu là copy từ các công trình tưng tự, điển hình; tác giả chủ yếu là những kỹ sư mới ra trường, chưa có kinh nghiệm ); đa số các đơn vị tư vấn thiết kế không có bộ phận kiểm tra KCS; các đơn vị tư vấn thiết kế thường không có sự giám sát tác giả và từ trước tới nay chưa có công trình nào được thiết kế lập quy trình bảo trì hoặc biệm pháp thi công chỉ đạo
Trang 28Trong bước thiết kế kỹ thuật (Thiết kế bản vẽ thi công): Công tác khảo sát điều tra địa chất, thủy văn không chính xác (Trong công tác này hầu hết lại không được Ban QLDA nghiệm thu tại hiện trường mà chỉ nghiệm thu trên hồ sơ) Các giải pháp thiết kế đưa ra
ở một số dự án không phù hợp, các công trình đang thi công dở dang phải thay đổi giải pháp kỹ thuật, phải tạm dừng để điều chỉnh thiết kế hoặc thiết kế bổ sung…
Các biểu hiện về chất lượng khi công trình thi công xong đưa vào sử dụng đã xảy ra hiện tượng nứt, lún, sụt trượt, xử lý nước ngầm… như các dự án nêu trên Không thể nói chỉ do sai sót của đơn vị thi công mà còn là do sai sót của thiết kế gây ra
Với tư vấn khảo sát: còn nhiều bất cập vẫn mang tính hình thức; có nhiều Kết quả khảo sát không phản ánh đúng thực tế; phương án khảo sát hầu như không có nhiệm
vụ khảo sát được phê duyệt; quá trình khảo sát không được nghiệm thu; có đơn vị khảo sát lợi dụng báo cáo khảo sát của công trình lân cận để đưa ra kết quả khảo sát hoặc chỉ khảo sát một hai vị trí sau đó nội suy cho các vị trí còn lại, Nhiều đơn vị chưa thực hiện đúng nhiệm vụ khảo sát thiết kế; khi thiết kế, chưa đi sâu nghiên cứu so sánh lựa chọn phương án tối ưu, không kiểm tra tính toán kết cấu, thiếu thiết kế chi tiết; dự toán lập còn nhiều sai sót; đặc biệt là các hồ sơ thiết kế sau thiết kế cơ sở Do
đó, khi thi công thường phải sửa đổi, bổ sung thiết kế - dự toán, gây lãng phí từ khâu lập hồ sơ thiết kế
Với tư vấn giám sát: Đây là khâu quan trọng trong hoạt động quản lý chất lượng, chất lượng công trình có được bảo đảm phụ thuộc nhiều vào đội ngũ TVGS Tư vấn giám sát thay mặt Chủ đầu tư (Ban QLDA) để giám sát thi công; chấp nhận khối lượng, chất lượng của nhà thầu thi công; chấp thuận biện pháp thi công để nhà thầu thực hiện; thay mặt chủ đầu tư đề xuất quyết định việc xử lý kỹ thuật ở hiện trường Do vậy, ở những
dự án có chất lượng cao, thi công an toàn là những dự án Tư vấn giám sát đã làm đúng chức trách của mình và ngược lại
Đánh giá về lực lượng TVGS: Lực lượng TVGS tuy đông về số lượng nhưng còn thiếu nhiều chuyên gia giỏi Nguyên nhân chủ yếu do năng lực của các kỹ sư tư vấn giám sát
và chế độ chính sách của Nhà nước đối với công tác TVGS chưa được coi trọng, chưa
có cơ chế thu hút và chế độ đãi ngộ phù hợp với trách nhiệm và quyền hạn của TVGS;
Trang 29Chưa có biện pháp quản lý chứng chỉ hành nghề tư vấn giám sát, kiểm soát năng lực hành nghề và đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ tư vấn giám sát
Hoạt động giám sát chất lượng của Tư vấn được thực hiện chưa đầy đủ, TVGS chưa thực hiện nghiêm túc chức trách, nhiệm vụ của mình, không kiểm soát được chất lượng công trình trong quá trình thi công của nhà thầu; không bám sát hiện trường để kịp thời xử lý các phát sinh bất hợp lý, chưa kiên quyết xử ký các vi phạm về chất lượng trong quá trình thực hiện dự án
Một số dự án minh họa: Dự án nâng cấp tuyến đường Rừng Sác, huyện Cần Giờ: Phần cầu do Công ty Tư vấn Giao thông Sài Gòn thiết kế một loạt sự cố xảy ra như: trụ T4, T5 cầu Rạch Lá, trụ T5 cầu Lôi Giang đều có sự cố trụ bị trôi về hướng sông sau khi
đã cơ bản hoàn thành hạng mục đóng cọc Công trình phải dừng lại để xác định nguyên nhân Sau khi kết luận nguyên nhân sự cố do địa chất khu vực quá yếu, lớp bùn bề mặt quá dày và hệ cọc lại nằm trên cung trượt, do vậy phải thay đổi thiết kế bằng hệ móng cọc khoan nhồi, gây lãng phí, dự án lại kéo dài
Dự án cầu Văn Thánh: Do Công ty tư vấn thiết kế GTVT phía Nam (TEDISOUTH) thiết kế Hầm chui được đặt trên hệ cọc có chiều dài 5m ÷ 5,5m, mật độ 25 cọc/m2, nhưng chiều dày lớp bùn quá lớn, hệ cọc không đủ tải, gây lún, sụt, nứt hầm khi chưa đưa vào khai thác + Dự án cầu Bình Lợi: Do liên doanh KOREACONSULANTS INTERNATIONAL và Công ty Cổ phần Tư vấn thiết kế GTVT phía Nam thiết kế; Phần đường dẫn cầu phía ThủĐức dài hơn 8km thì có 3km nằm trên tuyến cấp nước
φ 1500 của nhà máy nước Thủ Đức cấp cho TPHCM Thiết kế không có phương án bảo vệ cho hệ thống đường ống nước Hiện tại hạng mục thi công đường phải dừng chờ phương án xử lý Dự án kéo dài, cho dù bất cứ phương án xử lý nào khi muốn giảm rủi ro về chất lượng thì cũng gây lãng phí nhiều tỷ đồng [13]
Qua các ví dụ trên chứng tỏ năng lực của nhà thầu thiết kế còn yếu, chưa tuân thủ quy trình thiết kế, chưa thực hiện hết trách nhiệm, tạo nên nhiều sai sót, gây ảnh hưởng tới chất lượng công trình Các ví dụ chứng tỏ chất lượng của công tác khảo sát - thiết kế còn thấp, nhà thầu không tuân thủ đầy đủ quy trình khảo sát - thiết kế gây sự cố công trình, do vậy còn nhiều tồn tại ở góc độ thiết kế cần được điều chỉnh lại
Trang 30Về phía nhà thầu thi công: Sự cố đội thi công thuộc Công ty CTGT 621 ăn bớt vật liệu khi thi công công trình cầu Văn Thánh bị phát hiện Về mặt pháp luật thì đội trưởng thi công và cán bộ kỹ thuật đã bị truy tố, nhưng về mặt chất lượng thì chắc chắn không đảm bảo do việc cố tình ăn bớt nguyên vật liệu
Sự cố đưa vật liệu kém chất lượng của Công ty Công trình Thuỷ Miền Nam vào thi công lớp bề mặt của tuyến đường vào trung tâm huyện Bình Chánh, khi mới đưa vào
sử dụng đã gây hỏng lớp bề mặt, phải bóc đi thi công lại
Tổng công ty Bạch Đằng trúng thầu thi công một số hạng mục của dự án cải tạo môi trường nước thuộc khu vực quận 3, thành phố Hồ Chí Minh quá trình thi công - nhiều hạng mục không đảm bảo chất lượng phải thi công lại, gây kéo dài tiến độ Tháng 10/2008 UBND TPHCM phải đưa ra quyết định đình chỉ thi công thay đổi lại nhà thầu
và cấm thi công các công trình trên địa bàn thành phố v.v
Một số ví dụ trên cho thấy hệ thống đảm bảo chất lượng của nhà thầu không có hoặc chưa phát huy tác dụng Mặt khác, nhà thầu cũng chưa quan tâm, chú trọng đến việc đào tạo, giáo dục chuyên môn và đạo đức nghềnghiệp cho đội ngũ cán bộ và công nhân kỹthuật nâng cao ý thức trách nhiệm đối với chất lượng công trình xây dựng
Đánh giá chung: Những năm gần đây sản phẩm XDCT đã phần nào đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế, song về mặt chất lượng như đã nêu trên vẫn tồn tại nhiều vấn đề phải giải quyết Chất lượng lúc này không chỉ là độ bền chắc, công năng sử dụng mà còn là các vấn đề khác như cảnh quan môi trường, tính thẩm mỹ, bản sắc văn hoá v.v Mà các cấp quản lý từ trung ương đến địa phương vẫn chưa quan tâm đúng mực Cụ thể ở TP HCM vai trò quản lý nhà nước của Sở xây dựng, Sở GTVT chưa được thực hiện tốt, thể hiện ở việc triển khai các văn bản pháp quy về quản lý chất lượng, các quy trình lựa chọn nhà thầu tham gia dự án, các quy trình kiểm tra, kiểm soát chất lượng còn thiếu chặt chẽ, các quy định về năng lực nhà thầu còn chưa đầy đủ v.v Các chủ đầu tư được uỷ quyền chưa thực hiện tốt nhiệm vụ cuả mình trong quản
lý đầu tư Chức năng quản lý nhà nước và quản lý kinh doanh của các khu quản lý giao thông đô thị, các ban Quản lý Dự án (QLDA) thuộc Sở của các nhà thầu trong hoạt động xây dựng có ảnh hưởng lớn đến chất lượng công trình xây dựng
Trang 31Giao thông không được phân định rõ ràng, đây sẽ là kẽ hở lớn trong việc kiểm soát chất lượng dự án Việc hệ thống quản lý vừa thiếu vừa yếu, phong cách làm việc không chuyên nghiệp dẫn đến các hiện tượng, quan liêu, thiếu trách nhiệm là các nguyên nhân không quản lý và kiểm soát được quá trình thực hiện chất lượng của các nhà thầu Mặt khác do hệ thống quản lý hiện tại còn bị buông lỏng cũng là tác nhân dẫn đến việc tuỳ tiện, thiếu trách nhiệm của các nhà thầu đối với chất lượng dựng CTGT mà các giải pháp hiện hữu của thành phố chưa thể khắc phục được
1.4 Kết luận chương 1
Trong hoàn cảnh biến đổi khí hậu cực kỳ phức tạp hiện nay, việc nâng cao chất lượng các bản tin dự báo thời tiết và cảnh báo sớm thiên tai là hết sức cần thiết Theo các báo cáo của Tổ chức khí tượng thế giới (WMO) gần đây cho thấy khí hậu càng biến đổi theo chiều hướng phức tạp Vì vậy, việc đầu tư xây dựng các trạm KTTV phục vụ cho ngành là thực sự cần thiết hơn bao giờ hết Nhưng bên cạnh đó việc quản lý chất lượng các dự án này gặp rất nhiều khó khăn bởi địa bàn thi công rộng lớn, dàn trải khắp các tỉnh trên cả nước, thường ở nơi xa xôi, hẻo lánh, số lượng cán bộ còn ít, nhiều hạng mục công trình phức tạp Phải quản lý chất lượng làm sao để các công trình phục vụ cho ngành được bền vững, đảm bảo cung cấp đúng, đủ số liệu để bản tin về dự báo thời tiết nhằm giảm thiểu các thiệt hại do thời tiết gây ra
Trong Chương 1 này, tác giả đã tổng quan những vấn đề cơ bản về chất lượng công trình xây dựng và quản lý chất lượng xây dựng công trình giai đoạn thi công Đồng thời, tác giả cũng đánh giá được vai trò, ý nghĩa và thực trạng đầu tư xây dựng các công trình KTTV hiện nay
Mặt khác, tác giả cũng hệ thống được các nguyên tắc và các nội dung cần thực hiện trong quản lý chất lượng thi công công trình xây dựng
Cuối cùng, tác giả cũng điểm qua công tác quản lý chất lượng các công trình xây dựng điển hình trong giai đoạn thi công ở trên thế giới và Việt Nam
Trang 32CHƯƠNG 2 CƠ SỞ PHÁP LÝ VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG
2.1 Cơ sở khoa học về quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình
tư và các chủ thể khác [14]
2.1.2 Cơ sở pháp lý
Bao gồm các luật, nghị định nhưng xuyên suốt và chính yếu ở giai đoạn thi công xây dựng công trình vẫn là Luật xây dựng; Nghị định, thông tư hướng dẫn về công tác quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng
Nghị định về quản lý chất lượng quy định:
Công trình xây dựng phải được kiểm soát chất lượng theo quy định, pháp luật có liên quan từ chuẩn bị, thực hiện đầu tư xây dựng đến quản lý, sử dụng công trình nhằm đảm bảo an toàn cho người, tài sản, thiết bị, công trình và các công trình lân cận [8] Hạng mục công trình, công trình xây dựng hoàn thành chỉ được phép đưa vào khai thác, sử dụng
Các công việc được nghiệm thu bảo đảm yêu cầu tiêu chuẩn kỹ thuật, thiết kế thi công, hợp đồng xây dựng, quy định của pháp luật về xây dựng có liên quan
Phải có đủ điều kiện năng lực theo quy định thì nhà thầu mới được tham gia hoạt động xây dựng, khi thực hiện công việc xây dựng nhà thầu phải thiết lập bộ máy, hệ thống quản lý chất lượng, biện pháp quản lý chất lượng các công việc xây dựng, Bộ máy
Trang 33quản lý chất lượng sẽ do nhà thầu chính hoặc tổng thầu đứng đầu và có trách nhiệm đôn đốc, quản lý chất lượng công việc do nhà thầu phụ thực hiện
Tùy theo hình thức đầu tư, hình thức quản lý dự án, hình thức giao thầu, quy mô và nguồn vốn đầu tư trong quá trình thực hiện đầu tư xây dựng công trình thì chủ đầu tư
có trách nhiệm tổ chức bộ máy, hệ thống quản lý chất lượng công trình phù hợp theo quy định Các hoạt động xây dựng sẽ do chủ đầu tư tự thực hiện nếu đủ điều kiện năng lực theo quy định của pháp luật
Hướng dẫn, kiểm tra công tác quản lý chất lượng của các tổ chức, cá nhân tham gia xây dựng công trình; thẩm định thiết kế, kiểm tra công tác nghiệm thu công trình xây dựng, tổ chức thực hiện giám định chất lượng công trình xây dựng; kiến nghị và xử lý các vi phạm về chất lượng công trình xây dựng theo quy định của pháp luật sẽ do cơ quan chuyên môn về xây dựng chịu trách nhiệm
2.1.3 Cơ sở thực tiễn
Quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình đó là quá trình lập kế hoạch, điều phối về thời gian, nguồn lực (vật tư, thiết bị, nhân công, tài chính) và giám sát trong suốt quá trình thi công xây dựng công trình để đảm bảo công trình đảm bảo tiến độ, chất lượng, giá thành tối ưu nhất Nội dung chính của quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình có thể được hiểu trong 3 nội dung chính sau [15]:
(1) Lập và kiểm soát kế hoạch quản lý chất lượng:
Trên cơ sở điều kiện thực tế của công trình xây dựng cần thiết lập kế hoạch phù hợp với các yêu cầu của công trình, dự án và phù hợp với quy định của Luật pháp về xây dựng như Luật xây dựng, Nghị định về quản lý chất lượng…
Kế hoạch này cần được các bên liên quan xem xét và chấp thuận để làm cơ sở thực hiện
(2) Theo dõi kế hoạch quản lý chất lượng:
Quá trình theo dõi xuyên suốt trong thời gian thi công xây dựng công trình, kiểm tra quá thực thực hiện kế hoạch quản lý chất lượng, phân tích các yếu tố liên quan đến kế
Trang 34hoạch quản lý chất lượng, thực hiện các báo cáo liên quan đến thực hiện kế hoạch quản lý chất lượng của công trình xây dựng
(3) Kiểm soát kế hoạch quản lý chất lượng:
Thiết lập hệ thống đo lường, mục tiêu để theo dõi và từ đó có thể tiên đoán những biến động của công trình liên quan đến chất lượng Mục đích nhằm kiểm soát, xác định các yếu tố không có lợi ảnh hưởng đến chất lượng công trình để kịp thời đưa ra các giải pháp điều chỉnh kịp thời nhằm ngăn chặn các yếu tố bất lợi liên quan
Mỗi giai đoạn cụ thể trong quá trình triển khai dự án sẽ có các nội dung sau đây:
(4) Quản lý chất lượng khảo sát xây dựng: Trình tự quản lý chất lượng khảo sát xây dựng bao gồm:
- Lập và phê duyệt nhiệm vụ khảo sát xây dựng;
- Lập và phê duyệt phương án kỹ thuật khảo sát xây dựng;
- Quản lý chất lượng công tác khảo sát xây dựng;
- Nghiệm thu, phê duyệt kết quả khảo sát xây dựng
Đối với chủ đầu tư:
Tổ chức lựa chọn nhà thầu khảo sát xây dựng đáp ứng đầy đủ điều kiện năng lực kinh nghiệm theo quy định của pháp luật [16]
Tổ chức lập đề cương nhiệm vụ khảo sát, phê duyệt đề cương nhiệm vụ khảo sát xây dựng và phương án kỹ thuật khảo sát xây dựng
Kiểm tra sự tuân thủ các quy định của nhà thầu khảo sát xây dựng trong quá trình thực hiện khảo sát dựa trên hợp đồng đã ký, cũng như tuân thủ đề cương nhiệm vụ và phương án đã phê duyệt
Khối lượng công việc khảo sát xây dựng đã được thực hiện sẽ được Chủ đầu tư kiểm tra, nghiệm thu sau khi xem xét đảm bảo được nội dung của báo cáo khảo sát như yêu cầu của nhiệm vụ khảo sát, phương án kỹ thuật đã chủ đầu tư phê duyệt cũng như các
Trang 35quy định của hợp đồng; đồng ý hoặc không đồng ý nghiệm thu báo cáo kết quả khảo đến nhà thầu khảo sát
Trong trường hợp Chủ đầu tư không có năng lực về công tác này thì thuê đơn vị tư vấn
để kiểm tra báo cáo kết quả khảo sát làm cơ sở cho việc quyết định nghiệm thu, thanh quyết toán [17]
Đối với nhà thầu khảo sát:
Chủ đầu tư có yêu cầu thì lập nhiệm vụ khảo sát và phương án kỹ thuật khảo sát đáp ứng với đề cương nhiệm vụ khảo sát, các tiêu chuẩn về khảo sát hiện hành để trình chủ đầu tư phê duyệt
Phải bố trí đủ người có kinh nghiệm, chuyên môn đào tạo đúng để thực hiện công việc khảo sát theo quy định của hợp đồng; Chỉ người có đủ điều kiện năng lực mới được làm chủ nhiệm khảo sát, thực hiện biện pháp kiểm soát chất lượng quy định tại phương
Báo cáo kết quả khảo sát phải đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ khảo sát, hợp đồng; có thể phải kiểm tra, khảo sát lại hoặc khảo sát bổ sung khi báo cáo kết quả khảo sát chưa phù hợp với điều kiện tự nhiên, chưa đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ
(5) Quản lý chất lượng thiết kế xây dựng công trình:
- Lập nhiệm vụ thiết kế xây dựng công trình
- Quản lý chất lượng công tác thiết kế xây dựng
- Thẩm định, thẩm tra thiết kế xây dựng
- Phê duyệt thiết kế xây dựng công trình
- Nghiệm thu thiết kế xây dựng công trình
Trang 36Đối với chủ đầu tư:
Chủ đầu tư có quyền lập hoặc thuê tổ chức, cá nhân có năng lực phù hợp lập nhiệm vụ thiết kế xây dựng công trình Nhiệm vụ thiết kế xây dựng công trình phải phù hợp với báo cáo nghiên cứu tiền khả thi hoặc báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư xây dựng công trình Nhiệm vụ thiết kế xây dựng công trình là căn cứ để lập dự án đầu tư xây dựng công trình, lập thiết kế xây dựng công trình
Lựa chọn tổ chức, cá nhân đảm bảo điều kiện năng lực để lập thiết kế và thẩm tra thiết kế xây dựng công trình khi cần thiết
Kiểm tra sự tuân thủ các quy định trong hợp đồng của nhà thầu thiết kế trong quá trình thực hiện hợp đồng
Kiểm tra và trình thiết kế cơ sở cho người quyết định đầu tư thẩm định và phê duyệt theo quy định của pháp luật đối với công trình sử dụng nguồn vốn nhà nước
Tổ chức thẩm định, phê duyệt thiết kế - dự toán theo quy định
Tổ chức nghiệm thu hồ sơ thiết kế xây dựng công trình
Đối với nhà thầu tư vấn thiết kế:
Đơn vị thiết kế phải bố trí đủ người có kinh nghiệm và chuyên môn phù hợp để thực hiện thiết kế; cử người có đủ điều kiện năng lực để làm chủ nhiệm đồ án thiết kế, chủ trì thiết kế;
Chỉ sử dụng kết quả khảo sát đáp ứng được yêu cầu của bước thiết kế và phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn được áp dụng cho công trình;
Lựa chọn và tuân thủ quy chuẩn tiêu chuẩn kỹ thuật được áp dụng cho công trình; lập hồ sơ thiết kế đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ thiết kế, nội dung của từng bước thiết kế, quy định của hợp đồng và quy định của pháp luật có liên quan
(6) Quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình:
Đối với chủ đầu tư:
Lựa chọn các nhà thầu có đủ điều kiện năng lực theo quy định để thực hiện thi công xây dựng công trình, giám sát thi công xây dựng công trình và các công việc tư vấn xây dựng khác;
Trang 37Kiểm tra, xem xét các điều kiện khởi công công trình xây dựng theo quy định;
Kiểm tra sự phù hợp năng lực của nhà thầu thi công bao gồm: Nhân lực, thiết bị thi công, phòng thí nghiệm chuyên ngành xây dựng, hệ thống quản lý chất lượng của nhà thầu thi công xây dựng công trình;
Kiểm tra và giám sát trong quá trình thi công xây dựng công trình, bao gồm: vật tư vật liệu, thiết bị máy móc thi công, biện pháp thi công;
Chủ trì, phối hợp với các bên liên quan giải quyết những vướng mắc, phát sinh trong thi công xây dựng công trình và xử lý, khắc phục sự cố theo quy định;
Tổ chức nghiệm thu công trình xây dựng;
Tổ chức lập hồ sơ hoàn thành công trình xây dựng, nghiệm thu bàn giao đưa vào sử dụng
Đối với nhà thầu thi công:
Lập hệ thống quản lý chất lượng phù hợp với yêu cầu, tính chất, quy mô công trình xây dựng, trong đó quy định trách nhiệm của từng cá nhân, bộ phận thi công xây dựng công trình trong việc quản lý chất lượng công trình xây dựng;
Nhà thầu thi công công trình xây dựng có trách nhiệm tiếp nhận và quản lý mặt bằng xây dựng, bảo quản mốc định vị, mốc giới công trình;
Thực hiện các thí nghiệm kiểm tra vật tư, vật liệu, cấu kiện, thiết bị công trình, thiết bị công nghệ trước khi xây dựng và lắp đặt vào công trình xây dựng theo tiêu chuẩn và yêu cầu thiết kế;
Lập và kiểm tra thực hiện biện pháp thi công, tiến độ thi công;
Lập và ghi nhật ký thi công xây dựng công trình theo quy định;
Kiểm tra an toàn lao động, vệ sinh môi trường, phòng chống cháy nổ bên trong và bên ngoài công trường;
Lập bản vẽ hoàn công cho bộ phận công trình xây dựng, hạng mục công trình xây dựng và công trình xây dựng hoàn thành;
Trang 38Báo cáo chủ đầu tư về tiến độ, chất lượng, khối lượng, an toàn lao động, vệ sinh môi trường, phòng chống cháy nổ;
Thông báo kịp thời và chính xác cho tư vấn giám sát, chủ đầu tư nếu phát hiện bất kỳ sai khác nào giữa thiết kế, hồ sơ hợp đồng và điều kiện hiện trường;
Hoàn trả mặt bằng, di chuyển vật tư, máy móc, thiết bị và những tài sản khác của mình
ra khỏi công trường sau khi công trình đã được nghiệm thu, bàn giao, trừ trường hợp trong hợp đồng xây dựng có thỏa thuận khác;
Tổ chức nghiệm thu hoàn thành công trình
2.2 Các mô hình quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình [9]
2.2.1 Kiểm tra chất lượng
Để đảm bảo chất lượng sản phẩm phù hợp với qui định, phương pháp phổ biến nhất là kiểm tra chất lượng các sản phẩm và chi tiết bộ phận nhằm sàng lọc và loại ra bất cứ một bộ phận nào không đảm bảo tiêu chuẩn hay qui cách kỹ thuật
Dưới áp lực của cạnh tranh và yêu cầu khách hàng, các bên liên quan dần dần nhận ra rằng kiểm tra không phải là cách đảm bảo chất lượng tốt nhất Theo định nghĩa, kiểm tra chất lượng là những hoạt động như đo, xem xét, thử nghiệm, định cỡ một hay nhiều đặc tính của đối tượng và so sánh kết quả với yêu cầu nhằm xác định sự phù hợp của mỗi đặc tính Như vậy kiểm tra chỉ là một sự phân loại sản phẩm đã được chế tạo, một cách xử lý "chuyện đã rồi" Vào những năm 1920, người ta đã bắt đầu chú trọng đến những quá trình trước đó, hơn là đợi đến khâu cuối cùng mới tiến hành sàng lọc sản phẩm và như thế hình thành khái niệm kiểm soát chất lượng (Quality Control - QC)
2.2.2 Kiểm soát chất lượng
Kiểm soát chất lượng là các hoạt động và kỹ thuật mang tính tác nghiệp được sử dụng
để đáp ứng các yêu cầu chất lượng Việc kiểm soát này nhằm ngăn ngừa việc sản xuất
ra sản phẩm khuyết tật
Để kiểm soát chất lượng, phải kiểm soát được mọi yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tạo ra chất lượng như:
Trang 392.2.3 Kiểm soát chất lượng toàn diện (Total Quality Control – TQC)
Để đạt được mục tiêu chính của quản lý chất lượng là thỏa mãn khách hàng, thì áp dụng các phương pháp kiểm soát chất lượng chưa phải là điều kiện đủ, nó đòi hỏi không chỉ
áp dụng các phương pháp này vào các quá trình xảy ra trước quá trình sản xuất và kiểm tra, như khảo sát thị trường, nghiên cứu, lập kế hoạch, phát triển, thiết kế và mua hàng,
mà còn phải áp dụng cho các quá trình xảy ra sau đó, như dịch vụ sau khi bán hàng (hay gọi là bảo trì, bảo hành) Phương thức quản lý này được gọi là kiểm soát chất lượng toàn diện Như vậy, Kiểm soát chất lượng toàn diện là một hệ thống có hiệu quả để thống nhất hoá các nỗ lực phát triển, duy trì và cải tiến chất lượng của các nhóm khác nhau vào trong một tổ chức sao cho các hoạt động marketing, kỹ thuật, sản xuất và dịch vụ có thể tiến hành một cách kinh tế nhất, cho phép thỏa mãn hoàn toàn khách hàng
2.2.4 Quản lý chất lượng toàn diện (Total Quality Management - TQM)
TQM được định nghĩa là một phương pháp quản lý của một tổ chức, định hướng vào chất lượng, dựa trên sự tham gia của mọi thành viên và nhằm đem lại sự thành công dài hạn thông qua sự thỏa mãn khách hàng và lợi ích của mọi thành viên của công ty
đó và của xã hội Mục tiêu của TQM là cải tiến chất lượng sản phẩm và thỏa mãn khách hàng ở mức tốt nhất cho phép Đặc điểm nổi bật của TQM so với các phương pháp quản lý chất lượng trước đây là nó cung cấp một hệ thống toàn diện cho công tác quản lý và cải tiến mọi khía cạnh có liên quan đến chất lượng và huy động sự tham gia
Trang 40của mọi bộ phận và mọi cá nhân để đạt được mục tiêu chất lượng đã đặt ra Các đặc điểm chung của TQM trong quá trình triển khai thực tế hiện nay tại các công ty có thể được tóm tắt như sau:
- Chất lượng định hướng bởi khách hàng;
- Vai trò lãnh đạo trong hệ thống;
- Cải tiến chất lượng liên tục;
- Tính hệ thống;
- Sự tham gia của mọi cấp, mọi bộ phận, nhân viên;
- Sử dụng các phương pháp tư duy khoa học như kỹ thuật thống kê
2.2.5 Mô hình quản lý chất lượng của chủ đầu tư
2.2.5.1 Chủ đầu tư quản lý trực tiếp
(1) Chủ đầu tư - Ban quản lý:
Là người chủ động vốn bỏ ra để đặt hàng công trình xây dựng, đưa ra các yêu cầu kỹ thuật, đảm bảo chất lượng cho các nhà thầu trong quá trình lập dự án, khảo sát, thiết
kế, đến giai đoạn thi công xây lắp vận hành bảo trì, vì vậy họ là chủ thể quan trọng nhất quyết định chất lượng công trình xây dựng Ban quản lý là bên ra quyết định cuối cùng để đảm bảo dự án đạt được mục tiêu và nâng cao chất lượng cho công trình Trường hợp vốn đầu tư từ nguồn vốn Nhà nước thì chủ đầu tư là ai? Các chủ đầu tư hiện nay không phải là chủ đồng tiền vốn đầu tư, thực chất chủ đầu tư được Nhà nước uỷ nhiệm để quản lý vốn đầu tư xây dựng, họ không phải chủ đầu tư “thực sự”, được thành lập thông qua quyết định hành chính.Thực trạng hiện nay nhiều chủ đầu tư không có đủ năng lực, trình độ, thiếu hiểu biết về chuyên môn xây dựng, nhiều trường hợp làm kiêm nhiệm, vì vậy công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng còn rất hạn chế
(2) Tổ chức tư vấn lập dự án, khảo sát, thiết kế:
Với tốc độ tăng nhanh của vốn đầu tư xây dựng hàng năm, hàng vạn dự án vốn của nhà nước và của các thành phần kinh tế, của nhân dân được triển khai xây dựng, do vậy các đơn vị tư vấn lập dự án, khảo sát, thiết kế tăng rất nhanh, lên đến hàng nghìn