1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng, giải pháp phát triển nguồn nhân lực ngành công nghệ thông tin ở Việt Nam hiện nay

12 567 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 39,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) đã và đang mở ra động lực mới, thời cơ mới cho sự phát triển toàn diện, sâu rộng ngành Công nghệ Thông tin (CNTT), trong đó nguồn nhân lực CNTT là nhân tố quyết định sự phát triển CMCN 4.0 và kinh tế xã hội của mỗi quốc gia, dân tộc. Việt Nam đã và đang là điểm đến của các công ty đa quốc gia lớn như Samsung, LG, Intel.... bên cạnh đó, Nhà nước ta bắt đầu triển khai xây dựng Chính phủ điện tử, các bộ, ngành, địa phương đang hướng đến ứng dụng công nghệ thông minh phục vụ phát triển kinh tế xã hội, quốc phòng, an ninh xây dựng, bảo vệ Tổ quốc; đây là nhân tố thúc đẩy ngành CNTT, nguồn nhân lực CNTT chất lượng cao phát triển trong thời gian tới

Trang 1

Thực trạng, giải pháp phát triển nguồn nhân lực

ngành công nghệ thông tin ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt : Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) đã và đang mở

ra động lực mới, thời cơ mới cho sự phát triển toàn diện, sâu rộng ngành Công

nghệ Thông tin (CNTT), trong đó nguồn nhân lực CNTT là nhân tố quyết định

sự phát triển CMCN 4.0 và kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, dân tộc Việt Nam đã và đang là điểm đến của các công ty đa quốc gia lớn như Samsung,

LG, Intel bên cạnh đó, Nhà nước ta bắt đầu triển khai xây dựng Chính phủ điện tử, các bộ, ngành, địa phương đang hướng đến ứng dụng công nghệ thông minh phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh xây dựng, bảo vệ

Tổ quốc; đây là nhân tố thúc đẩy ngành CNTT, nguồn nhân lực CNTT chất lượng cao phát triển trong thời gian tới Tuy nhiên, thực trạng nguồn nhân lực CNTT ở Việt Nam hiện nay còn nhiều bất cập, từ đào tạo, tuyển dụng, bồi dưỡng, sử dụng, đãi ngộ cán bộ; số, chất lượng nhân lực ngành CNTT còn hạn chế, chưa tương xứng với yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước… Thực trạng đó, đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực CNTT ở Việt Nam Bài viết tập trung phân tích làm rõ thực trạng, chỉ

ra một số nguyên nhân, trên cơ sở đó đề xuất hệ thống giải pháp xây dựng nguồn nhân lực CNTT đáp ứng yêu cầu CMCN 4.0 ở Việt Nam hiện nay

Từ khoá: Nhân lực CNTT, thực trạng.

Tổng quan một số công trình nghiên cứu trong và ngoài nước:

Khi nghiên cứu về nguồn nhân lực, nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội, có nhiều công trình của các nhà khoa học trong và ngoài nước, trong đó một số công có trình liên quan đến bài viết như sau:

- Một số công trình ở nước ngoài: Kristine Sydhagen và Peter

Cunningham (2007) với công trình “Human Resource Development

International” (1); Julia Storberg và Walker Claire Gubbins (2007) trong công

trình “Social Networks as a Conceptual and Empirical Tool to Understand and

Trang 2

‘Do’ HRD” (2); Greg G.Wang và Judy Y.Sun (2009) với công trình

“Perspectives on Theory Clarifying the Boundaries of Human Resource

Development” (3); Abdullsh Haslinda (2009) với “Definition of HRD: Key

Concepts from a National and International Context” (4); Frederick W.Kagan

(2011) với công trình “The US Military's Manpower Crisis” (5)…

- Một số công trình trong nước: Trần Khánh Đức (2010), “Giáo dục và

phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI” (6); Nguyễn Ngọc Phú (2010),

“Nguồn nhân lực và nhân tài cho phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở

Việt Nam trong tiến trình đổi mới” (7); Lê Thị Hồng Điệp (2011) với luận án kinh tế“Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao để hình thành nền kinh tế tri

thức ở Việt Nam” (8); Phạm Đức Tiến (2014) “Kinh tế tri thức trong thế giới

đương đại” (9);Hoàng Chí Bảo, Phạm Đức Tiến (2016), “Phát triển nguồn nhân

lực chất lượng cao trong bối cảnh hội nhập quốc tế” (10)…

Nhìn chung, các công trình khoa học của các tác giả trong và ngoài nước nêu trên đã tập trung xác định, luận giải khá sâu sắc về khái niệm, mục đích, nội dung và chức năng của phát triển nguồn nhân lực Tổng hợp lý luận và thực tiễn

về phát triển nguồn nhân lực ở các phạm vi, góc độ khác nhau trên thế giới… Mặc dù đã luận giải khá sâu sắc những mối liên hệ toàn diện trong phát triển nguồn nhân lực, song chưa có công trình đề cập đến nguồn nhân lực CNTT và các nhân tố tác động đến quá trình phát triển bộ phận nhân lực này trong bối cảnh hiện nay

Nội dung: Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Muốn xây dựng

chủ nghĩa xã hội phải có con người xã hội chủ nghĩa” (11) Nhận thức sâu sắc vấn đề đó, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta đã xác định lấy sự phát triển con người toàn diện làm mục tiêu phấn đấu cao nhất, làm nền tảng để xây dựng chế độ xã hội mới Hiện nay, thế giới đã bước vào giai đoạn đầu của cuộc CMCN 4.0 Trong bối cảnh của cuộc CMCN 4.0, Việt Nam có cơ hội để rút ngắn khoảng cách tụt hậu so với các nước khác Tuy nhiên, để áp dụng khoa

Trang 3

học công nghệ vào nền kinh tế một cách hiệu quả, cần phải có nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là nhân lực CNTT

Trong bối cảnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xu thế hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế tri thức ngày càng cao như hiện nay, vấn

đề phát triển con người toàn diện, đặc biệt xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, nhân lực ngành CNTT ở Việt Nam càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết Đúng như Giáo sư Trần văn Giàu đã nhận định: “Nếu thế kỷ XX, Việt Nam cần

và đã có con người cách mạng kiên cường, con người chiến binh thượng đẳng, thì với thế kỷ XXI, Việt Nam cần và phải có những con người xây dựng tài ba, rất mực cần mẫn, lao động có kỹ thuật, có kỷ luật, có năng suất cao, đồng thời là con người được trang bị tư tưởng vững vàng, lý tưởng tốt đẹp” (12)

Đối với ngành CNTT, những năm gần đây nhu cầu nhân lực chất lượng cao đã tăng đáng kể Theo thống kê, số doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp CNTT (ngành công nghiệp phần mềm, nội dung số, phần cứng điện

tử và dịch vụ CNTT) năm 2019 tăng 21,01% so với năm 2018 Ước tính trong năm 2019, tổng số lao động của ngành công nghiệp CNTT khoảng trên 1 triệu lao động (tăng 23,6% so với năm 2018) Lao động ngành CNTT Việt Nam được đánh giá cao và tiềm năng, lập trình viên Việt Nam xếp hạng thứ 23 trên thế giới

- theo HackerRank, năm 2017, sinh viên Việt Nam xếp thứ 34/128 tại kỳ thi lập trình quốc tế ACM/ICPC

Tuy nhiên, nguồn nhân lực CNTT Việt Nam chưa đáp ứng được nhu cầu của xã hội, nhu cầu của CMCN 4.0 Thực trạng nguồn nhân lực CNTT ở Việt Nam hiện nay như thế nào? Việt Nam cần có những giải pháp gì để thúc đẩy phát triển nguồn nhân lực CNTT hiện nay?

1 Về thực trạng nguồn và chất lượng nguồn nhân lực CNTT ở Việt Nam hiện nay

Theo số liệu của Bộ Giáo dục và Đào tạo, cả nước hiện có 235 trường đại học, trong đó có 153 trường đào tạo CNTT, hàng năm có khoảng 50.000 sinh

viên CNTT ra trường (13) Số lượng này là rất thiếu so với nhu cầu phát triển

doanh nghiệp CNTT, nhất là theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ là đến năm

Trang 4

2020 có một triệu doanh nghiệp khởi nghiệp, trong đó ưu tiên khởi nghiệp CNTT Việt Nam hiện nay đang trở thành một điểm đến của các tập đoàn công nghệ lớn trên thế giới như Samsung, LG, Intel… và đang thúc đẩy mạnh mẽ quá trình chuyển đổi số, thực hiện cuộc CMCN 4.0, hướng tới mục tiêu 1 triệu doanh nghiệp vào năm 2020 Năm 2019 - 2020, thị trường Việt Nam thiếu 350.000 - 400.000 nhân lực CNTT Trong đó, nhu cầu tuyển dụng sẽ tập trung vào các lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo (AI), lưu trữ đám mây, thực tế ảo (VR), thực tế tăng cường (AR) và blockchain Các lĩnh vực quan trọng khác như Internet vạn vật (IoT), thương mại điện tử, quy trình kinh doanh và gia công phần mềm CNTT… cũng đã và đang được các doanh nghiệp trong nước, liên doanh nước ngoài chuẩn bị tích cực

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chỉ ra, trong số 50.000 cử nhân CNTT ra trường, chỉ có 30% làm việc được ngay, 70% phải đào tạo bổ sung (13) Thực trạng đó phản ánh chất lượng nguồn nhân lực lĩnh vực CNTT được đào tạo từ nhà trường đã chưa thể đáp ứng được nhu cầu từ doanh nghiệp, lãng phí, tốn kém, thiệt thòi cho cả doanh nghiệp lẫn người lao động Nhiều nhà trường, cơ sở đào tạo vẫn chưa có tư duy về những gì mình tạo ra, tức là các kỹ sư, cử nhân chính là một sản phẩm để phục vụ thị trường, mà vẫn xem đào tạo là việc của nhà trường, còn đáp ứng nhu cầu việc làm xã hội là chuyện của xã hội, của các kỹ sư, cử nhân Một số trường đào tạo cái mình có chứ chưa đào tạo những cái mà xã hội cần Hay nói cách khác, không ít trường đại học đã bằng nhiều cách cố gắng để tuyển sinh cho đủ, dù biết rằng chất lượng đầu vào thấp, như vậy chất lượng đầu

ra sẽ hạn chế

Trong những năm đầu của thế kỷ XXI, lĩnh vực CNTT bắt đầu phát triển mạnh mẽ, và bùng nổ trong thời gian hiện nay, dẫn đến sự bùng phát về nhu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao Nhu cầu tuyển dụng nhân lực ngành CNTT ngày càng cao trong kỷ nguyên số dẫn đến việc thu hút, giữ chân, đãi ngộ nhân tài còn nhiều khó khăn, thách thức Bên cạnh đó, sự khan hiếm nhân lực có chuyên môn công nghệ mới (như Blockchain và AI) dẫn đến sự mất cân đối về

Trang 5

mức lương trên thị trường và tiềm ẩn nguy cơ nhóm nhân lực có chuyên môn không còn là xu hướng sẽ thất nghiệp hoặc được trả mức lương thấp hơn…

2 Nguyên nhân của thực trạng trên

Một là, đào tạo của các trường chưa sát thực tiễn, không đáp ứng tiêu chuẩn của doanh nghiệp

CNTT vẫn tiếp tục phát triển mạnh mẽ trong những năm tới, đặc biệt là công nghiệp phần mềm, xuất khẩu phần mềm Nhưng hệ thống đào tạo cơ bản ở một số nhà trường vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu về số lượng và chất lượng Chuẩn đầu ra của các trường còn lệch nhiều so với chuẩn đầu vào của thi trường

và nhu cầu của các doanh nghiệp Cụ thể, doanh nghiệp cần người biết làm việc,

có khả năng làm việc độc lập trong dự án, biết các yêu cầu của dự án, biết sử dụng các công cụ, ngôn ngữ, công nghệ, có khả năng giao tiếp, phối hợp làm việc trong các nhóm Sinh viên thiếu thực hành dự án nghiêm túc, chưa được hướng dẫn nên không thể có kỹ năng Chưa kể rất nhiều thầy cô cũng chưa từng được đào tạo cơ bản hoặc chưa có chuyên môn sâu về CNTT nên không thể hướng dẫn cho sinh viên, không thể tạo ra sản phẩm có chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động công nghệ cao

Hai là, chưa có sự liên kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp với nhà trường và

cơ quan quản lý

Trên thực tế, CMCN 4.0 là cơ hội rút ngắn khoảng cách phát triển cho các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam; giúp các nước đang phát triển nâng cao vị thế khi tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu Trong cuộc đua này, Việt Nam đang chú trọng phát triển các sản phẩm CNTT thương hiệu Việt, đẩy mạnh thị trường CNTT nội địa, khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào nghiên cứu phát triển và xây dựng nguồn nhân lực với năng lực sáng tạo, trí tuệ cao, hướng chuẩn quốc tế Để nguồn nhân lực đáp ứng được các yêu cầu của CMCN 4.0, cần phải có sự liên kết, hợp tác chặt chẽ giữa 3 bên: doanh nghiệp với nhà trường và cơ quan quản lý Tuy nhiên, trên thực tế sự liên kết, phối hợp đó còn

mờ nhạt, nhất là ở những nhà trường “tốp dưới” Bên cạnh đó, cơ quan quản lý

Trang 6

các cấp cũng chưa có cơ chế quản lý chặt chẽ, chưa có cơ chế, quy định cụ thể

để phát triển nhân tài, xây dựng nguồn nhân lực CNTT chất lượng cao cho tương lai…

Ba là, mức lương có sự phân hóa

Báo cáo năm 2018 của Tổ chức Nghiên cứu khoa học và công nghiệp của Khối thịnh vượng chung về nền kinh tế kỹ thuật số tương lai của Việt Nam cho thấy trong năm 2020, Việt Nam cần 1 triệu nhân lực CNTT Tuy nhiên trên thực

tế, không chỉ ở Việt Nam mà hầu như các nhà tuyển dụng trên toàn châu Á đều gặp khó khăn trong việc tìm kiếm nhân viên CNTT đủ điều kiện để lấp đầy các

vị trí tuyển dụng Nguyên nhân do mức lương các doanh nghiệp trả cho ứng viên không như họ mong đợi Điều này thể hiện rõ qua khảo sát về mức lương đang được nhận và mức lương mong đợi theo cấp bậc của nhân viên CNTT do Navigos Group thực hiện Kết quả cho thấy hầu hết người tham gia khảo sát đều cho rằng họ đang nhận được mức lương không đúng như mong đợi Mức chênh lệch thấp nhất vào khoảng 300 USD và cao nhất vào khoảng 1.000 USD Cụ thể như nhóm kỹ sư cấp quản lý tại TP HCM mong đợi mức lương 2.625 USD nhưng thực nhận là 1.550 USD, tức đang chênh lệch khoảng 1.075 USD; nhóm

kỹ sư Front-end tại Hà Nội mong đợi mức lương 1.385 USD nhưng đang nhận mức lương 635 USD, tức chưa bằng 1/2 so với mong đợi và chênh đến 750 USD; tương tự trường hợp chỉ nhận lương chưa bằng 1/2 so với mong đợi là nhóm kỹ sư ngôn ngữ JavaScript với mong đợi là 1.555 USD và thực tế đang nhận 725 USD

3 Giải pháp phát triển nguồn nhân lực CNTT thời gian tới

Một là, đổi mới, nâng cao chất lương đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực CNTT.

Đây là giải pháp hàng đầu, giữ vai trò then chốt, chi phối, quyết định nhất đối với việc xây dựng nguồn nhân lực CNTT chất lượng cao trong tương lai Đặc biệt, từ trung ương đến cơ sở cần quán triệt nghiêm chủ trương, đường lối của Đảng về giáo dục, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài: “Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo; phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; tăng

Trang 7

cường tiềm lực và đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ” (14) Tại Diễn đàn

kinh tế thế giới về ASEAN diễn ra ở Việt Nam tháng 9/2018, Bà Vivian Lau, Chủ

tịch JA châu Á - Thái Bình Dương cho rằng, bản chất của cuộc CMCN 4.0 là cuộc cách mạng về con người và trọng tâm của cuộc cách mạng về con người là cuộc cách mạng về giáo dục, đào tạo Vì vậy, các nhà trường, cơ sở đào tạo cần

có chính sách tuyển sinh, đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cụ thể, sát điều kiện thị trường lao động; chú trọng liên kết, hợp tác với các doanh nghiệp trong và ngoài nước đào tạo, bồi dưỡng có trọng tâm, trọng điểm, sát điều kiện thực tiễn, tạo nên đội ngũ kỹ sư có chất lượng ở các cấp học, bậc học khác nhau Đồng thời tăng cường bồi dưỡng, rèn luyện thực hành, thực tập, kỹ năng tin học, ngoại ngữ, kiến thức quản lý nhà nước, lý luận chính trị - hành chính, văn hoá, đạo đức, lối sống…

Bên cạnh đó, đặc biệt ưu tiên đào tạo các chuyên gia, viên chức khoa học

và công nghệ có trình độ cao, nhà quản lý giỏi, coi đây là giải pháp có tính đột phá trong chiến lược phát triển ngành CNTT Ưu tiên đào tạo, bồi dưỡng cán bộ CNTT chất lượng cao của Đảng và Nhà nước đã xác định, phù hợp với kế hoạch phát triển ngành CNTT Bên cạnh đó, đảm bảo sự tự do sáng tạo trong nghiên cứu học thuật khoa học và công nghệ, nhất là CNTT Đầu tư, liên doanh, liên kết, nâng cấp, mở rộng hệ thống cơ sở đào tạo, bồi dưỡng nhân lực chất lượng cao với trình độ phù hợp Khuyến khích mở các cơ sở đào tạo trình độ trên đại học của các trường đại học danh tiếng trong nước và quốc tế, các viện nghiên cứu đầu ngành của quốc gia, nhất là trong các lĩnh vực công nghệ cao Chú trọng gắn kết nghiên cứu khoa học với ứng dụng thực tế; đẩy mạnh việc xây dựng và phát triển các nhóm nghiên cứu thế mạnh về các lĩnh vực khoa học quan trọng, mũi nhọn, đáp ứng yêu cầu của CMCN 4.0

Hai là, tiếp tục bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển nhân lực CNTT chất lượng cao.

Luật Khoa học và công nghệ năm 2013 được Quốc hội thông qua có nhiều nội dung đổi mới trong hoạt động khoa học công nghệ Đây là một dấu

Trang 8

mốc quan trọng mở đường và tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc đẩy mạnh tổ chức và hoạt động của khoa học công nghệ nói chung, ngành CNTT nói riêng

Vì vậy, việc cần làm trong thời gian tới là tiếp tục thực hiện có hiệu quả các nghị quyết, chỉ thị, quy định, đồng thời nghiên cứu bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển nhân lực CNTT chất lượng cao để đáp ứng yêu của cuộc CMCN4.0 Trong đó, đặc biệt chú trọng thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 36-NQ/TW, ngày 01/7/2014 của Bộ Chính trị khóa XI về “Đẩy mạnh ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế”; Nghị quyết số 36a/NQ-CP của Chính phủ, ngày 14/10/2015 về “Chính phủ điện tử”; Quyết định số 153/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, ngày 30/01/2018, “Về việc phê duyệt chương trình, mục tiêu công nghệ thông tin giai đoạn 2016-2020”… gần đây nhất là Nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương (Khóa XII) “Xề xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ” đã xác định quan điểm, chủ trương xây dựng đội ngũ cán bộ toàn diện, trong đó có nhấn mạnh yêu cầu về trình độ, năng lực CNTT trong điều kiện mới: Cán bộ đào tạo các chức danh phải được đào tạo toàn diện cả về lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng và nghệ thuật lãnh đạo, quán lý, công nghệ thông tin, ngoại ngữ

Các bộ, ngành cần có kế hoạch rà soát các văn bản quy phạm pháp luật về đào tạo, quản lý, sử dụng nguồn nhân lực CNTT để đánh giá một cách toàn diện nhằm phát hiện kịp thời phát hiện những hạn chế, khiếm khuyết, từ đó đề xuất các giải pháp khắc phục tồn tại, hạn chế, sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý nhà nước về xây dựng nguồn nhân lực CNTT, phù hợp yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đặc biệt, cần chú ý bổ sung, hoàn thiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng, trọng dụng, đãi ngộ, tôn vinh các nhà trường, cơ sở đào tạo, đội ngũ cán bộ đi đầu, có nhiều đóng góp tiêu biểu, quan trọng trong ngành CNTT; xây dựng, hoàn thiện cơ chế liên kết, phối hợp chặt chẽ giữa doanh nghiệp với nhà trường và cơ quan quản lý trong đào tạo, bồi

Trang 9

dưỡng, sử dụng nguồn nhân lực CNTT chất lượng cao Đồng thời có cơ chế, chính sách đổi mới công tác tuyển dụng, bố trí, đánh giá và bổ nhiệm cán bộ khoa học và công nghệ, CNTT trong cơ quan quản lý nhà nước; chính sách áp dụng nâng lương, thưởng trước thời hạn để khuyến khích người lao động của các doanh nghiệp

Ba là, bảo đảm tiền lương và các chế độ đãi ngộ tốt nhất đối với nhân lực ngành CNTT.

Trên cơ sở các quy định của nhà nước, các cơ quan, doanh nghiệp cần có chính sách xếp lương và trả lương thoả đáng cho lực lượng làm việc trong lĩnh vực CNTT, nhất là nhân lực có chất lượng cao, có cống hiến to lớn, đóng góp quan trọng cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng cơ quan, doanh nghiệp Cơ chế trả lương cần gắn với kết quả, hiệu quả thực hiện công việc, nhiệm vụ được giao Đây là điều rất quan trọng, bởi nếu thực hiện được thì không chỉ thu hút, giữ chân được nhân tài, chuyên gia đầu ngành về CNTT mà còn giúp giữ gìn phẩm chất, đạo đức nghề nghiệp của người lao động

Hiện nay, để thu hút nhân lực chất lượng cao ngành CNTT, nhiều cơ quan, doanh nghiệp đã áp dụng nhiều chính sách như xếp lương cao, thưởng Tết, thưởng theo dự án, sản phẩm công nghệ… cho cán bộ, nhân viên Tuy nhiên, trên thực tế chỉ 40% nhân lực CNTT cảm thấy hài lòng và hơn 8% trong số đó được bảo đảm tốt so với chế độ lương, thưởng hiện tại, số còn lại cảm thấy bình thường và không hài lòng ở mức độ khác nhau Nhóm không hài lòng chiếm hơn 20%, với lý do bởi mức lương, thưởng quá thấp Vì vậy, để bảo đảm, nâng cao chất lượng cuộc sống của người lao động, cần chi trả mức lương, thưởng hợp lý với từng đối tượng, theo chất lượng, hiệu quả công việc, tương xứng với trình độ

và đóng góp của họ

Bốn là, tăng cường hợp tác quốc tế về xây dựng, phát triển nguồn nhân lực CNTT đáp ứng yêu cầu CMCN 4.0.

Trước những yêu cầu, đòi hỏi cấp bách của cuộc CMCN 4.0, nhân lực ngành CNTT phải được xây dựng, phát triển toàn diện mới có thể tham gia hội

Trang 10

nhập sâu rộng vào nền kinh tế trí thức của thế giới Trong bối cảnh năng lực đào tạo, khả năng tài chính, trình độ giáo dục, đào tạo kỹ sư CNTT của một số nhà trường ở nước ta còn bất cập so với các nước trong khu vực, thì giải pháp về tăng cường hợp tác quốc tế về xây dựng, phát triển nguồn nhân lực CNTT nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là vô cùng cần thiết và quan trọng Theo đó, các chương trình hợp tác quốc tế về xây dựng, phát triển nhân lực CNTT cần được tiến hành trên những vấn đề cụ thể như: Thực hiện chính sách

hỗ trợ về tài chính từ ngân sách nhà nước và huy động các nguồn vốn xã hội hoá, kêu gọi vốn đầu tư nước ngoài nhằm xây dựng một số nhà trường đạt chuẩn quốc tế; xúc tiến, thu hút một số trường đại học có đẳng cấp quốc tế về CNTT vào Việt Nam hoạt động; tăng cường hợp tác với các nước có trình độ khoa học công nghệ, CNTT phát triển cao trong đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên ở các bậc học

Chú trong liên kết, phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường - doanh nghiệp - cơ quan quản lý trong và ngoài nước trong nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao CNTT hiện đại trên các lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo (AI), lưu trữ đám mây, thực tế ảo (VR), thực tế tăng cường (AR), blockchain, Internet vạn vật (IoT), thương mại điện tử, quy trình kinh doanh và gia công phần mềm CNTT Nhà nước cần có cơ chế, chính sách khích lệ, động viên các nhà trường, cơ sở đào tạo

và doanh nghiệp chủ động xây dựng chương trình, hợp tác với các tổ chức quốc

tế, tổ chức phi chính phủ nhằm thu hút đội ngũ giáo viên, sinh viên tình nguyện quốc tế đến Việt Nam tham gia công tác giảng dạy, thực hành, thực tập, nghiên cứu, ứng dụng, phát triển khoa học CNTT, đặc biệt là một số lĩnh vực mũi nhọn… Thông qua đó từng bước xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách trong hợp tác quốc tế về xây dựng, phát triển nguồn nhân lực CNTT đáp ứng yêu cầu CMCN 4.0, tạo động lực thúc đẩy ngành CNTT phát triển toàn diện và bền vững

4 Kết luận

Ngày đăng: 01/07/2020, 23:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w