Mặc dù bệnh tật và tử vong sơ sinh để lại hậu quả rất nặng nề nhưnghầu hết trẻ sơ sinh có thể được cứu sống và phát triển khỏe mạnh nhờ cáccan thiệp sẵn có trong các chương trình chăm só
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm qua, tỷ lệ tử vong trẻ em nói chung đã giảm mạnhnhưng tỷ lệ tử vong sơ sinh không giảm hoặc giảm không đáng kể Ước tínhhàng năm trên thế giới có khoảng 130 triệu trẻ sơ sinh được sinh ra và 4 triệutrẻ sơ sinh tử vong do nhiều nguyên nhân khác nhau [1],[2] Tại Việt Nam,theo Bộ Y tế, tỷ lệ tử vong trẻ em dưới 1 tuổi đã giảm gần 3 lần từ 44,4‰ vàonăm 1990 xuống còn 14,9‰ năm 2014 Tuy nhiên tỷ lệ tử vong sơ sinh vẫncòn cao, chiếm 70% tử vong trẻ dưới 1 tuổi [3]
Mặc dù bệnh tật và tử vong sơ sinh để lại hậu quả rất nặng nề nhưnghầu hết trẻ sơ sinh có thể được cứu sống và phát triển khỏe mạnh nhờ cáccan thiệp sẵn có trong các chương trình chăm sóc sức khoẻ bà mẹ - trẻ em.Trong đó, nuôi con bằng sữa mẹ, đặc biệt là cho trẻ bú sớm trong 1 giờ đầu
là một trong những biện pháp thiết thực, đơn giản, an toàn mà mang lại hiệuquả vô cùng to lớn, góp phần nâng cao sức khỏe và giảm tỉ lệ tử vong ở trẻnhỏ, đồng thời còn giúp bà mẹ tiết nhiều sữa hơn và giảm nguy cơ băng huyếtsau sinh [4]
Tuy nhiên trên thực tế, một thách thức lớn là tỷ lệ bú mẹ hoàn toàn rấtthấp Theo báo cáo của Viện dinh dưỡng quốc gia năm 2010, chỉ có19,6% trẻ bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu, trẻ bú sớm trong giờ đầusau sinh là 61,7% [1].Thực trạng trên có thể do nhiều nguyên nhân trong đómột phần là do hệ thống y tế của chúng ta chưa thực hiện các biện pháp thúcđẩy NCBSM một cách hiệu quả
Năm 2013, Bộ Y tế ban hành Quyết định số 4858/QĐ-BYT về việcban hành thí điểm Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện Sau 3 năm triểnkhai thí điểm, năm 2016, Bộ trưởng Bộ Y tế ký Quyết định số 6858/QĐ-BYTban hành Bộ tiêu chí chất lượng bệnh viện Việt Nam, phiên bản 2.0, gồm 83
Trang 2tiêu chí chính thức Trong đó, tiêu chí số 82 (E1.3) dành riêng cho các bệnhviện chuyên khoa sản hoặc có sinh trong cả nước với nội dung là: thực hànhtốt NCBSM theo hướng dẫn của Bộ Y tế và UNICEF, bao gồm 29 tiểu mục
bao gồm hầu hết các vấn đề về NCBSM
Bệnh viện Sản Nhi Bắc Ninh là bệnh viện chuyên khoa sản nhi tuyếntỉnh mới thành lập từ năm 2015 Việc áp dụng Bộ tiêu chí, đặc biệt là tiêu chí
số 83, trong quá trình xây dựng và hoạt động của bệnh viện là yếu tố thứ yếu
mà bệnh viện cần chú trọng để nâng cao chất lượng bệnh viện Với mongmuốn góp phần cung cấp thông tin nhằm nâng cao thực hành tốt nuôi conbằng sữa mẹ, đồng thời đánh giá hiệu quả của áp dụng Bộ tiêu chí trong cải
tiến chất lượng bệnh viện, đề tài: “Thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ và một số yếu tố liên quan tại Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Bắc Ninh năm 2017”
được thực hiện với mục tiêu nghiên cứu như sau:
1 Xác định tỷ lệ bà mẹ nuôi con bằng sữa mẹ tại Bệnh viện Sản Nhitỉnh Bắc Ninh năm 2017
2 Mô tả kiến thức và thực hành nuôi con bằng sữa mẹ của các bà mẹtại Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Bắc Ninh năm 2017
3 Mô tả một số yếu tố ảnh hưởng đến việc nuôi con bằng sữa mẹ củacác bà mẹ tại Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Bắc Ninh năm 2017
Trang 3Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số khái niệm
- Nuôi con bằng sữa mẹ: là trẻ được nuôi dưỡng trực tiếp bằng bú mẹ
hoặc gián tiếp do sữa mẹ vắt ra [6],[7]
- Nuôi con bằng sữa mẹ sớm: là trẻ được bú mẹ trong vòng 1 giờ đầu sau
khi sinh [7]
- Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn: là trẻ chỉ bú sữa từ vú mẹ hoặc vú
nuôi hoặc từ vú mẹ vắt ra Ngoài ra không ăn bất kỳ một loại thức ăn dạnglỏng hay rắn khác trừ các dạng giọt, siro có chứa các vitamin, chất khoáng bổsung, hoặc thuốc [6],[7]
1.2 Nuôi con bằng sữa mẹ và cho trẻ bú sớm
1.2.1 Thành phần của sữa mẹ
Sữa mẹ gồm có hai loại: sữa non và sữa ổn định
- Sữa non: là sữa được tiết ra trong 2 đến 3 ngày đầu sau sinh Sữanon đặc sánh và thường có màu vàng nhạt hoặc trong Sữa non giàu nănglượng, có rất nhiều chất đạm, Vitamin A và nhiều kháng thể giúp tăng cường
+ Sữa cuối được tiết ra ở cuối bữa bú có màu trắng hơn vì có nhiềuchất béo Nên cho trẻ bú hết một bên vú rồi mới chuyển sang vú khác đểtrẻ nhận được sữa cuối giàu năng lượng [8]
Trang 41.2.2 Những lợi ích của nuôi con bằng sữa mẹ
Các nhà khoa học đã chứng minh sữa mẹ có những lợi ích thiết thực
mà các loại sữa công thức không thể mang lại Cho đến nay, khoa học đãchứng minh NCBSM giúp trẻ giảm nguy cơ viêm dạ dày ruột, nhiễm trùngđường hô hấp, tiết niệu và tai, giảm nguy cơ hội chứng tử vong đột ngột tronggiai đoạn đầu đời, giảm nguy cơ béo phì, tiểu đường và bệnh tim mạch khilớn lên, giúp trẻ phát triển khoẻ mạnh cả về thể lực lẫn trí lực [9]
Theo WHO, NCBSM và cho trẻ ăn bổ sung hợp lý là biện pháp đơngiản nhất để cải thiện sức khoẻ và sự sống còn của trẻ em trên toàn cầu.Người ta tính rằng, chỉ riêng việc cải thiện thực hành nuôi con bằng sữa mẹ
có thể cứu sống được hơn 3.500 trẻ em/ngày, nhiều hơn bất kỳ sự can thiệpnào khác nhằm giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ Việc cho trẻ bú sữa mẹ trong vòngmột giờ đầu sau sinh cũng làm giảm 2/3 tỷ lệ tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi Khicho trẻ bú mẹ, người phụ nữ còn được “lợi kép” khi giảm được nguy cơ ungthư vú, ung thư buồng trứng và gãy xương đùi giai đoạn tiền mãn kinh [10]
1.2.2.1 Sữa mẹ là chất dinh dưỡng hoàn hảo dễ tiêu hoá và hấp thụ với trẻ em
Sữa mẹ là thức ăn tự nhiên hoàn chỉnh nhất, thích hợp nhất đối với trẻ
vì trong sữa mẹ có đầy đủ năng lượng và chất dinh dưỡng cần thiết nhưprotein, glucid, lipid và mỡ, vitamin và muối khoáng với tỷ lệ thích hợp cho
sự hấp thu và phát triển của cơ thể trẻ [8]
1.2.2.2 Sữa mẹ giúp trẻ chống lại các bệnh nhiễm khuẩn nhờ các yếu tố kháng khuẩn
Một số kháng thể từ người mẹ truyền qua rau đến bào thai giúp cho trẻmới sinh có được sức đề kháng và miễn dịch với một số bệnh đặc biệt trong4-6 tháng đầu như sởi, cúm, ho gà [11]
Sữa mẹ vô khuẩn, trẻ bú trực tiếp sữa mẹ, vi khuẩn không có điềukiện phát triển nên trẻ ít bị tiêu chảy Globulin miễn dịch IgA có nhiều
Trang 5trong sữa non và giảm dần trong những tuần sau IgA hoạt động ngay tạiruột để chống lại một số vi khuẩn như E.coli và virus Lactoferin là mộtprotein gắn sắt có tác dụng kìm khuẩn không cho vi khuẩn cần sắt phát triển.Lympho bào sản xuất IgA và interferon, có tác dụng ức chế hoạt động củamột số virus Đại thực bào có thể thực bào Candida và vi khuẩn đặc biệt lànhững vi khuẩn Gram âm, nguyên nhân gây viêm ruột hoại tử ở trẻ sơ sinh.Một số lactose khi vào ruột chuyển thành acid lactic, tạo môi trường thuậnlợi cho vi khuẩn Bifidus phát triển, lấn át vi khuẩn gây bệnh như E.coli [11].
1.2.2.5 Nuôi con bằng sữa mẹ giúp bảo vệ sức khoẻ bà mẹ
- Cho con bú góp phần giúp người mẹ tránh thai vì động tác bú mẹ củatrẻ làm kích thích tuyến yên tiết ra prolactin, chất này có tác dụng ức chếrụng trứng, làm giảm khả nǎng mang thai Đối với phụ nữ ngay sau khi sinh,động tác bú của trẻ có tác dụng làm co hồi tử cung và cầm máu cho người
mẹ Lượng máu mà bà mẹ dùng để tạo sữa ít hơn so với lượng sắt mất đi dohành kinh Điều này cũng giúp hạn chế thiếu máu do thiếu sắt [9]
- Cho con bú thường xuyên giúp người mẹ nhanh chóng lấy lại vócdáng và làm giảm tỉ lệ ung thư vú Cho con bú tiêu hao năng lượng của bà mẹ
từ 200 đến 500 Kcal/ngày, tương đương với đạp xe trong vòng một giờ [4]
Trang 61.2.2.6 Hiệu quả kinh tế của nuôi con bằng sữa mẹ
Cho trẻ bú sữa mẹ rất thuận lợi vì sữa mẹ luôn có sẵn và ở nhiệt độthích hợp, không phụ thuộc vào giờ giấc, không cần phải đun nấu, dụng cụpha chế Trẻ bú sữa mẹ sẽ kinh tế hơn nhiều so với nuôi nhân tạo bằng sữa
bò hoặc bất cứ loại thức ǎn nào khác [4] Khi người mẹ ǎn uống đầy đủ, tinhthần thoải mái thì sẽ đủ sữa cho con bú
1.2.3 Lợi ích của việc cho trẻ bú sớm
- Chỉ từ đầu năm 1980 người ta mới biết rõ tác dụng và cơ chế của việcnuôi con bằng sữa mẹ Nuôi con bằng sữa mẹ là một khâu quan trọng trongcông tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu Cho đến nay sữa mẹ đã được công nhận
là loại thức ăn tốt nhất cho trẻ dưới một tuổi
- Theo kết quả nghiên cứu của nhiều nghiên cứu trên thế giới, cho trẻ
bú sớm trong vòng một giờ đầu sau sinh và bú mẹ hoàn toàn trong vòng 6tháng đầu có thể cứu sống trên 1 triệu trẻ em hàng năm, là can thiệp có hiệuquả nhất trong tất cả các can thiệp cứu sống trẻ em [12]
- Bú sớm giúp trẻ tận dụng được nguồn sữa non, kích thích sự bài tiếtsữa sớm và giúp cho tử cung co tốt hơn nhờ phản xạ tiết oxytocin Sữa non
có nhiều năng lượng, protein và vitamin A, có nhiều kháng thể và tế bàomiễn dịch giúp tăng cường miễn dịch cho trẻ và phòng bệnh khô mắt do thiếuvitamin A Bên cạnh đó, sữa non còn có tác dụng xổ, giúp tống phân su, giảmvàng da và có những yếu tố phát triển giúp bộ máy tiêu hoá trưởng thành,phòng chống dị ứng và chứng không dung nạp [8] Do thành phần và tínhchất ưu việt như vậy nên việc cho trẻ bú ngay trong vòng 1 giờ đầu sau sinh
là biện pháp cung cấp dinh dưỡng tối ưu cho trẻ
- Sữa non tuy ít nhưng chất lượng cao, thoả mãn nhu cầu của trẻmới sinh Cho trẻ bú sớm sau khi sinh là biện pháp rất quan trọng do tronggiờ đầu tiên của cuộc đời, trẻ sơ sinh ở trạng thái nhanh nhẹn tỉnh táo nhất
Trang 7và dễ thực hiện động tác mút vú mẹ Khi thời điểm này qua đi, trẻ sẽ buồnngủ do bắt đầu hồi phục sau quá trình thở Vì vậy trong giờ đầu tiên sausinh, điều quan trọng nhất là để trẻ gần mẹ, tránh tách mẹ con để trẻ có cơhội được bú sớm [13]
1.2.4 Phương pháp nuôi con bằng sữa mẹ
- Cho trẻ bú sữa mẹ sớm: Thời gian bắt đầu cho trẻ bú theo khuyếncáo của WHO là trong vòng một giờ sau sinh, bú càng sớm càng tốt vàkhông cần cho trẻ ăn bất kỳ thức ăn gì trước khi bú mẹ lần đầu
- Số lần cho bú: Trẻ bú càng nhiều thì sữa mẹ càng được bài tiếtnhiều Số lần cho bú tùy thuộc vào nhu cầu của trẻ, cho bú bất cứ khi nào trẻmuốn Mỗi bữa bú cho trẻ bú kiệt một bên rồi mới chuyển sang vú bên kia
để trẻ nhận được sữa cuối giàu chất béo [3]
- Cho bú hoàn toàn đến 6 tháng tuổi: Sữa mẹ hoàn toàn đáp ứng đủnhu cầu dinh dưỡng và nước cho trẻ trong 6 tháng đầu sau sinh mà khôngcần ăn hay uống bất kỳ loại thức ăn nào khác [14]
- Thời điểm cai sữa: Kéo dài đến 24 tháng hoặc hơn, không nên caisữa cho trẻ trước 12 tháng, khi cai sữa nên cai từ từ để trẻ quen dần với thức
ăn thay thế Không cai sữa khi trẻ bị ốm, bị tiêu chảy vì thức ăn thay thếhoàn toàn sữa mẹ dễ làm trẻ bị rối loạn tiêu hóa gây hậu quả trẻ bị suy dinhdưỡng [15]
Trang 81.3 Một số yếu tố liên quan đến nuôi con bằng sữa mẹ
Hình 1.1: Sơ đồ các yếu tố ảnh hưởng đến NCBSM
(Nguồn: Mai Thị Tâm (2009)[48])
Yếu tố dinh dưỡng
Kiến thức thái độ
Khả năng tiết sữa của mẹ
Bệnh tật của mẹ
Tình trạng sức khỏe của mẹ
Chăm sóc
sơ sinh thiết yếu
Nghề nghiệp
Thu nhập
Yếu tố kinh tế
Thời gian chăm sóc trẻ
NCBSM
Trang 91.3.1 Các yếu tố từ phía bà mẹ
1.3.1.1 Kiến thức và thái độ của bà mẹ
Một nghiên cứu được tiến hành ở Bangladesh về tập quán cho búsữa non cho thấy: các bà mẹ coi sữa ổn định là sữa thực sự, mang đến chođứa trẻ sức khỏe, còn sữa non không được thừa nhận là sữa thực sự và đượccho là sữa non không bổ, chỉ có 2/43 bà mẹ cho là sữa non bổ, không một bà
mẹ nào biết về tác dụng chống nhiễm khuẩn của nó, chỉ có một bà mẹ nóirằng sữa non có thể bảo vệ cho trẻ khỏi ốm Do có màu vàng đặc sánh chonên sữa non luôn được coi là sữa không tốt, bẩn và có thể làm cho trẻ bị tiêuchảy, vì vậy họ chỉ cho trẻ bú bắt đầu từ 2 – 3 ngày sau sinh [16]
Ở Việt Nam, một số nghiên cứu cho kết quả: lý do không cho trẻ búngay chủ yếu là “chờ sữa về” hoặc cho rằng “sữa đầu không tốt” hoặc “chờcăng sữa” [ 1 7 ] , [ 1 8 ]
1.3.1.2 Độ tuổi của bà mẹ
Một nghiên cứu ở Australia cho thấy những trẻ sơ sinh có mẹ dưới 30tuổi ít có xu hướng được nuôi bằng sữa mẹ [19], một nghiên cứu khác ởChile cũng chỉ ra rằng các bà mẹ không cho con bú hoàn toàn chủ yếu làcác bà mẹ còn ở độ tuổi thanh thiếu niên [20]
1.3.1.3 Tình trạng kinh tế, trình độ văn hóa của bà mẹ
Một nghiên cứu được tiến hành để xác định yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệNCBSM ở Newdelli cho thấy tỷ lệ NCBSM cao hơn ở các bà mẹ mù chữ vàcác bà mẹ có mức kinh tế xã hội thấp Trẻ em ở các gia đình nghèo được bắtđầu cho bú mẹ sau sinh sớm hơn trẻ em ở các gia đình giàu có (89% và 7%).Nghiên cứu còn cho thấy tỷ lệ NCBSM từ 3 – 6 tháng ở các gia đình nghèothấp hơn nhưng tỷ lệ trẻ được bú mẹ đến 12 tháng tuổi lại cao nhất ở các giađình nghèo [21] Một nghiên cứu ở Chile về các yếu tố liên quan đến việc cho
Trang 10trẻ bú sữa mẹ lại cho thấy những bà mẹ tiếp tục cho con bú hoàn toàn ngoài 3tháng tuổi là nhóm có trình độ học vấn cao [20].
1.3.1.4 Vấn đề thiếu sữa
Một lý do rất quan trọng ảnh hưởng đến NCBSM là sự thiếu sữa mẹ.Một nghiên cứu được tiến hành bởi Milan và cộng sự đã nhận xét: 80%các bà mẹ cho biết mình bị thiếu sữa vào thời điểm nghiên cứu Trình độhọc vấn của người mẹ, những căng thẳng trong cuộc sống và công việc, viêmđau núm vú, cho ăn sam sớm đều liên quan có ý nghĩa tới việc thiếu sữa mẹ[22] Ở Việt Nam, các nghiên cứu tương tự được tiến hành bởi Nguyễn ThuNhạn và cộng sự (1986) [23], Nguyễn Thị Nga (1986) [24] đều cho thấythiếu sữa mẹ là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến NCBSM
1.3.2 Các yếu tố kinh tế xã hội
1.3.2.1 Vấn đề đi làm sớm sau sinh
Việc phải đi làm sớm, số lần cho bú ít đó là những yếu tố gây nênviệc không đủ sữa của các bà mẹ [19],[25]
Các nghiên cứu gần đây cũng cho thấy nguyên nhân các bà mẹ cho trẻuống sữa ngoài sớm là mẹ thiếu sữa, mẹ phải đi làm sớm [17],[26]
1.3.2.2 Ảnh hưởng của các cán bộ y tế, bạn bè và các thành viên của gia đình
Các nghiên cứu cho thấy các cán bộ y tế, bạn bè và các thành viên củagia đình cũng ảnh hưởng rất lớn đến vấn đề nuôi con, bởi chính họ là nguồngốc của mọi thông tin về cách nuôi con Họ cung cấp cho các bà mẹ nhữngthông tin về khoa học và thực hành về cách nuôi con như thế nào, và họ cũng
là những người luôn động viên bà mẹ về mặt tinh thần mà mỗi người phụ nữsau sinh đều rất cần (Isabirye, 1990) [27] Hầu hết các bà mẹ đều mong muốnNCBSM, 93% những người chồng, 83% những người mẹ chồng và 81%những người bạn của bà mẹ có ảnh hưởng tích cực đối với việc cho con bú(Barros & cs 1988) [28]
Trang 11Việc thực hành của cán bộ y tế đóng vai trò quan trọng trong việc chocon bú sớm của các bà mẹ Các cán bộ y tế có thể ảnh hưởng tới hành vi nuôicon của các bà mẹ bằng cách cung cấp thông tin, hướng dẫn cách chăm sóc vàbảo vệ nguồn sữa Những việc này đều làm cho bà mẹ hiểu và bảo vệ đượcnguồn sữa (Popkin & cs, 1985) [29]
Omotola và Kingele 1985 nghiên cứu thấy rằng có 80% trẻ được bú mẹtrong vòng 48 giờ đầu sau sinh, hầu hết các bà mẹ đều vứt bỏ sữa non trongvòng 24 giờ đầu, nguyên nhân chủ yếu là do các bà mẹ không được nhậnnhững lời khuyên thích hợp và mẹ và con phải nằm tách nhau sau khi sinh[30] Morow (1992) tìm thấy rằng một số cán bộ y tế Việt Nam thậm chí ởtrong các bệnh viện lớn cũng cho các bà mẹ những lời khuyên không đúng,những điều đó làm trì hoãn việc cho trẻ bú sớm từ 1-3 ngày sau khi sinh [31]
1.3.2.3 Ảnh hưởng của các sản phẩm sữa nhân tạo
Một quan sát của các chuyên gia y tế Thụy Điển tại Hà Nội (tháng 12năm 1994) cho thấy có ít nhất 25 mặt hàng sữa khác nhau được bày bán tạicác cửa hàng bán lẻ và chủ yếu là sữa ngoại So với năm 1992 chỉ có 15 loại,tính đến đầu năm 2009, Hội tiêu chuẩn và bảo vệ người tiêu dùng cho biết,ước tính hiện nay có 120 nhãn sữa với mẫu mã, giá thành, chất lượng khácnhau được cung cấp bởi nhiều nguồn khác nhau như: công ty tư nhân, nhànước, liên doanh, trong nước, nhập khẩu [32] Với hàng loạt quảng cáo hấpdẫn, các chiến lược tiếp thị, hậu mãi chu đáo, các hãng sữa công nghiệp đãảnh hưởng không nhỏ đến tâm lý các bà mẹ khi chọn sữa nuôi con
1.4 Thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ và cho bú mẹ sớm trên thế giới
và tại Việt Nam
1.4.1 Thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ và bú mẹ sớm trên thế giới
Nuôi con bằng sữa mẹ có thành công hay không phụ thuộc nhiềuvào sự khởi đầu thành công Vào giữa những năm 80, xu hướng chung trên
Trang 12toàn thế giới là tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ giảm mạnh, đòi hỏi sự thay đổi
về chính sách và hệ thống tại các đơn vị chăm sóc sản khoa để cải thiệnthực trạng này Vào năm 1989, sáng kiến “ 10 bước nuôi con bằng sữa mẹthành công” ra đời, mô tả 10 ảnh hưởng quan trọng lên thực hành nuôi conbằng sữa mẹ của bà mẹ và trẻ Dựa trên 10 bước này, sáng kiến Bệnh việnThân thiện Trẻ em do UNICEF và TCYTTG sáng lập vào năm 1990 như mộtcan thiệp nhằm nâng cao tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ Cho trẻ bú sớm trongvòng một giờ đầu sau sinh là bước thứ 4 trong 10 bước nêu trên [33]
Về việc cho trẻ bú sớm trong vòng 1 giờ đầu sau khi sinh: mặc dù lợiích của việc thực hành này đã được chứng minh nhưng tỷ lệ trẻ được bú sớmrất khác nhau ở các nước Ví dụ: Phần Lan 77%, Thụy Sĩ 67%, Ba Lan65%, Anh 46%, Colombia 49%, Ấn Độ 16%, Indonesia 8% Ở châu Á,hơn 80% số trẻ sơ sinh không được bú sữa mẹ trong vòng 24 giờ đầu sausinh [33] Một nghiên cứu của tại Onitsha, Nigeria chỉ ra rằng có 73% các bà
mẹ cho trẻ bú trong vòng 1 giờ sau sinh [13]
1.4.2 Thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ và bú mẹ sớm ở Việt Nam
1.4.2.1 Thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ ở Việt Nam
Ở Việt Nam từ đầu năm 1980, nghiên cứu về tập quán và thực hànhnuôi con của các bà mẹ đã được triển khai bởi nhiều tác giả và ở nhiều vùngtrên cả nước Đào Ngọc Diễn, Nguyễn Trọng An và cộng sự năm 1983 đãnghiên cứu trên 500 trẻ dưới 5 tuổi tại vùng nông thôn và vùng nội thành
Hà Nội, kết quả cho thấy: hầu hết trẻ được bú mẹ sau 2-3 ngày Tỷ lệ trẻđược bú mẹ lần đầu trong vòng 24 giờ chỉ đạt 15,8% ở nội thành và 35,5% ởnông thôn ở cả 2 nhóm đủ sữa và thiếu sữa mẹ [5]
Kết quả nghiên cứu tập tính nuôi con dưới 24 tháng tuổi của các
bà mẹ tại phường Láng Hạ - Đống Đa - Hà Nội vào năm 2000 của Lê Thị
Trang 13Kim Chung cho thấy tỷ lệ trẻ được bú mẹ hoàn toàn trong 4 tháng đầu là62,7% [34].
Những nghiên cứu tương tự được triển khai ở nhiều vùng sâu, vùng
xa và vùng dân tộc thiểu số như: nghiên cứu của Phạm Văn Phú,Nguyễn Xuân Ninh và cộng sự ở 2 huyện Núi Thành và Thăng Bìnhtỉnh Quảng Nam cho thấy tỷ lệ bà mẹ cho ăn, uống trước khi bú lần đầucao (42,8%) [35]
1.4.2.2 Thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ sớm ở Việt Nam
Mặc dù lợi ích của việc cho trẻ bú sớm trong vòng một giờ sau sinh đãđược chứng minh nhưng chỉ có khoảng 57% các bà mẹ thực hiện cho con búngay trong vòng một giờ sau sinh, 30% các bà mẹ cho con bú lần đầu trongvòng 24 giờ sau sinh [8] Khi cho bú vào thời điểm này, hầu hết những lợi íchquan trọng của việc cho con bú sớm đối với cả mẹ lẫn con có thể bị mất đi
Tỷ lệ này có sự khác biệt rất lớn theo các vùng: ở miền Trung, tỷ lệ chocon bú sớm sau sinh chỉ có 39%, trong khi đó ở miền Bắc là 68% Vàonăm 2002 trên cả nước có 54 bệnh viện đáp ứng tiêu chí toàn cầu về Bệnhviện Thân thiện với Trẻ em, trong đó có một bước là cho trẻ bú sớm trongvòng một giờ sau sinh [36]
1.5 Các chiến lược, kế hoạch và hướng dẫn quốc gia thúc đẩy NCBSM
Việt Nam là một trong những nước đã cam kết đạt Mục tiêu Pháttriển Thiên niên kỷ Để thực hiện mục tiêu chiến lược này, Bộ Y tế đã xâydựng kế hoạch quốc gia về làm mẹ an toàn giai đoạn 2011-2015 với chỉ tiêu:Tăng tỷ lệ trẻ được bú mẹ trong giờ đầu sau sinh đạt 75% [37] Tháng10/2003, Bộ trưởng Bộ Y tế ra Chỉ thị 04/CT-BYT và tái khẳng định lại bằngChỉ thị 01/CT-BYT năm 2015 trong đó nhấn mạnh cam kết của Bộ Y tế trongviệc ưu tiên và tiếp tục tiến hành những cải cách về công tác chăm sóc bà mẹ,
Trang 14trẻ sơ sinh và nâng cao chất lượng chăm sóc bà mẹ, trẻ sơ sinh trên phạm vi
cả nước [3],[38]
Tháng 12 năm 2014, Bộ Y tế ra quyết định 5063/QĐ-BYT về việcphê duyệt chương trình và tài liệu đào tạo “Nuôi dưỡng trẻ nhỏ” trong đónhấn mạnh mục tiêu nâng cao kiến thức về NCBSM và thực hành tư vấnnuôi con bằng sữa mẹ theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới [39].Tháng 10 năm 2016, Bộ Y tế ban hành Thông tư 38/TT-BYT, quy định một
số biện pháp thúc đẩy NCBSM tại các cơ sở khám chữa bệnh, bao gồm việcthực hiện “Mười điều kiện nuôi con bằng sữa mẹ” và thực hiện “Bệnh việnBạn hữu trẻ em”, trong đó nêu rõ hoạt động tổ chức tư vấn, tuyên truyền chotất cả phụ nữ có thai đến khám về lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ, chotrẻ bú sớm trong vòng 1 giờ đầu, bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu và búkéo dài đến 24 tháng hoặc lâu hơn [40]
Trang 15Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Các bà mẹ mới sinh con trong vòng 7 ngày tại khoa Sản I và Sản II củabệnh viện Sản Nhi Bắc Ninh
2.1.2 Tiêu chuẩn chọn mẫu
- Những sản phụ từ 18 tuổi trở lên sinh con và đang nằm chăm sóc vàđiều trị sau sinh tại bệnh viện Sản Nhi Bắc Ninh;
- Đẻ thường;
- Mổ đẻ theo nguyện vọng (không có chỉ định mổ tuyệt đối);
- Trẻ có cân nặng trẻ sơ sinh từ 2000 gram trở lên;
- Mới sinh con trong vòng 7 ngày;
- Trẻ sinh sống: trẻ sống đến thời điểm nghiên cứu hoặc ít nhất 12 giờsau khi sinh
2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ
- Sản phụ sinh con có can thiệp (kẹp lấy thai, giác hút…);
- Sản phụ mắc các bệnh không thể cho con bú như: các bệnh mãn tính(về tim, phổi, cao huyết áp ), các bệnh lây truyền (viêm gan B, HIV…), cácbệnh nhiễm khuẩn cấp tính;
- Sản phụ sinh non và hoặc có con đang nằm điều trị tại Khoa Sơ sinh;
- Các bà mẹ quá yếu hoặc quá mệt sau sinh (do đau, mất máu…), các
bà mẹ có sang chấn tinh thần không thể tham gia nghiên cứu
2.2 Địa điểm nghiên cứu
Khoa Sản I và Sản II - Bệnh viện Sản Nhi Bắc Ninh (đây là các khoa
có sản phụ đến sinh, và sau sinh con được nằm với mẹ)
Trang 162.3 Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 12/2016 đến tháng 05/2017, trong
đó thời gian thu thập số liệu từ tháng 02/2017 đến tháng 03/2017, tại khoa Sản
I và Sản II của Bệnh viện Sản Nhi Bắc Ninh
2.4 Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang
2.5 Cỡ mẫu - kỹ thuật chọn mẫu nghiên cứu
• n: Số bà mẹ cần cho nghiên cứu
• α: Mức ý nghĩa thống kê, được lấy là 0,05 (tương ứng với độ tin cậy95%)
• Z1-α/2= 1,96 (tra từ bảng khi α = 0,05)
• p: Tỷ lệ cho con bú ngay sau sinh trong giờ đầu tiên Theo một
số nghiên cứu, tỷ lệ này tại một số vùng trên cả nước nằm trong khoảng 30%
- 70% [8] Chúng tôi ước tính trong nghiên cứu này p = 60%
• d: Khoảng sai lệch mong muốn (= 0,07)
Thay vào công thức trên ta có n = 188 bà mẹ
Trên thực tế chúng tôi đã điều tra được 200 bà mẹ từ 2 khoa Sản củabệnh viện
2.5.2 Kỹ thuật chọn mẫu
- Giai đoạn 1: Chọn chủ đích bệnh viện tham gia nghiên cứu là bệnhviện Sản Nhi Bắc Ninh
Trang 17- Giai đoạn 2: Chọn đối tượng là toàn bộ các bà mẹ sau sinh có đủtiêu chuẩn nghiên cứu tại bệnh viện Sản Nhi Bắc Ninh bắt đầu từ tháng2/2017, cho đến khi đủ cỡ mẫu thì dừng lại.
2.5.3 Công cụ thu thập thông tin
- Bộ câu hỏi được các chuyên gia của Bộ Y tế và Bệnh viện Phụ sảnTrung ương xây dựng dựa trên Bộ tiêu chí chất lượng bệnh viện Việt Nam vàcác tài liệu của Tổ chức Y tế thế giới Ngoài ra có tham khảo tài liệu nghiêncứu trước có liên quan
- Bộ câu hỏi này được thử nghiệm tại khoa D3 Bệnh viện Phụ sản HàNội, chỉnh sửa và hoàn chỉnh phù hợp trước khi tiến hành thu thập số liệu
2.5.4 Kỹ thuật thu thập thông tin
Sử dụng kỹ thuật phỏng vấn: Phỏng vấn trực tiếp các bà mẹ theo mẫuphiếu được thiết kế sẵn
2.6 Nội dung, các biến số, các chỉ tiêu, phương pháp thu thập thông tin ST
T
Nội dung
nghiên cứu Biến số/Chỉ số
Công cụ thu thập
số liệu
Phương pháp thu thập số liệu
Bộ câuhỏi
Phỏng vấn
bà mẹ theomẫu phiếu
Bộ câuhỏi
Phỏng vấn
bà mẹ theomẫu phiếu
Trang 18- Thời gian cho trẻ bú
mẹ hoàn toàn
- Thời điểm cho trẻ cai sữa
- Sự hiểu biết về thời giangiữa 2 bữa bú
- Kiến thức về cách duy trìsữa mẹ
Bộ câuhỏi
Phỏng vấn
bà mẹ theomẫu phiếu
- Tỷ lệ bà mẹ cho con ăn/
uống thứ khác trước khi chotrẻ bú lần đầu
- Loại thức ăn/nước uốngtrẻ được dùng trước khi búlần đầu
Bộ câuhỏi
Phỏng vấn
bà mẹ theomẫu phiếu
5 Mục tiêu 3: - Liên quan giữa một số Bộ câu Phỏng vấn
Trang 19yếu tố với thực hành cho trẻ
bú trong vòng 1 giờ đầu sausinh
- Liên quan giữa phươngpháp sinh và kiến thức của
bà mẹ với thực hành chocon bú trong vòng 1 giờ sausinh
- Phân tích đa biến một sốyếu tố của mẹ có ảnh hưởngđến thực hành cho trẻ bútrong vòng 1 giờ đầu sausinh
hỏi bà mẹ theo
mẫu phiếu
2.7 Sai số trong nghiên cứu và cách khắc phục
- Sai số hệ thống:
Sai số do thu thập thông tin: Bỏ sót thông tin khi ghi chép các câu trả
lời của đối tượng trong quá trình phỏng vấn Cán bộ tiến hành phỏng vấn sâuchưa có đủ kinh nghiệm để khai thác thêm đối tượng phỏng vấn, quan sát cáchthực hành của đối tượng phỏng vấn Sản phụ không hợp tác hoặc cung cấp các
số liệu sai lệch do giữ thể diện, hoặc vì các yếu tố mang tính tập quán
Cách khắc phục: tập huấn kỹ bộ câu hỏi, giám sát quá trình lấy thông
tin Lựa chọn các nghiên cứu viên có kinh nghiệm và trách nhiệm Tổ chứcrút kinh nghiệm trong nhóm nghiên cứu và giám sát sau mỗi đợt điều tra
2.8 Quản lý và phân tích số liệu
- Toàn bộ số phiếu nhận từ điều tra đã được nhóm xử lý số liệu kiểmtra lại trước khi nhập vào máy tính
Trang 20- Số liệu sau đó được nhập và làm sạch bằng chương trình EPIDATA 3.1
để hạn chế những sai sót khi nhập số liệu
- Số liệu được phân tích và trình bày dưới dạng tần số và tỷ lệ % theobảng, biểu đồ, sử dụng phối hợp các chương trình STATA 12, MicrosoftExcel 2013
- Sử dụng test thống kê thích hợp để phân tích kết quả và giá trị p<0,05được coi là có ý nghía thống kê
2.9 Đạo đức trong nghiên cứu
- Đề cương nghiên cứu đã được sự phê duyệt và hội đồng đánh giá củaĐại học Y Hà Nội
- Giải thích rõ với các sản phụ về ý nghĩa và mục tiêu của cuộc điều tra
- Chỉ tiến hành phỏng vấn khi sản phụ và người thân trong gia đình tựnguyện chấp nhận
- Mọi thông tin liên quan đến đối tượng nghiên cứu sẽ được đảm bảogiữ bí mật
- Sau điều tra kịp thời giải thích, tư vấn cho sản phụ về những vấn đề
bà mẹ còn vướng mắc trong thực hành nuôi con của mình, đặc biệt là vấn
đề nuôi con bằng sữa mẹ
- Không được sử dụng bất cứ thông tin nghiên cứu cho bất cứ mụcđích nào khác và số liệu thu thập chỉ phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học
Trang 21Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Tỷ lệ bà mẹ nuôi con bằng sữa mẹ
3.1.1 Một số đặc điểm cá nhân của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1 Một số đặc điểm cá nhân của đối tượng nghiên cứu
Trang 22- Trong tổng số 200 bà mẹ tham gia nghiên cứu, bà mẹ ở nhóm tuổi 25
34 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất (67%), tiếp đến là các bà mẹ có độ tuổi từ 18
- Các bà mẹ là công nhân, thợ thủ công chiếm tỷ lệ cao nhất (41,5%),tiếp đến là lao động tự do (25%) Cán bộ công chức và nhân viên văn phòngchiếm tỷ lệ thấp hơn (12,5% và 11,5%) Nông nghiệp và buôn bán, dịch vụ
là các ngành nghề có tỷ lệ thấp nhất
Trang 23Bảng 3.2 Phân bố thứ tự sinh và phương pháp sinh của trẻ tại bệnh viện
Bảng 3.2 cho thấy trong tổng số 200 bà mẹ tham gia nghiên cứu, số bà
mẹ sinh con thứ 2 trở lên cao gấp 1,5 lần số bà mẹ sinh con lần đầu (60% sovới 40%) Về phương pháp sinh con, có 111 bà mẹ sinh mổ, chiếm 55,5% số
bà mẹ, cao hơn số bà mẹ sinh thường (89 bà mẹ, chiếm 44,5%)
3.1.2 Thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ tại bệnh viện
91.50%
8.50%
Đang cho con bú Không cho con bú
Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ
Biểu đồ 3.1 cho thấy, trong số 200 bà mẹ tham gia nghiên cứu, tỷ lệ bà
mẹ đang cho con bú là 91%, gấp 10 lần số bà mẹ không cho con bú (9%)
Trang 24Bảng 3.3 Tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ sớm theo phương pháp sinh
Phương
pháp sinh
Bảng 3.3 cho thấy có trong tổng số 200 bà mẹ tham gia nghiên cứu, số
bà mẹ cho con bú > 6 giờ chiếm tỷ lệ cao nhất (51%), tiếp đến là trong vòng 1giờ đầu sau sinh (chiếm 23,5%) Các tỷ lệ này trong nhóm sinh thường vàsinh mổ có sự chênh lệch rõ rệt Trong khi tỷ lệ cho con bú trong 1 giờ đầucủa nhóm sinh thường là cao nhất (43,8%), gấp 6 lần nhóm sinh mổ (7,2%),thì thời điểm cho bú >6 giờ là hay gặp nhất ở nhóm sinh mổ (chiếm 79,3%)
Trang 253.2 Kiến thức và thực hành của các bà mẹ về nuôi con bằng sữa mẹ
3.2.1 Kiến thức của các bà mẹ về nuôi con bằng sữa mẹ
058
013
010
000,004 017
Trong 1 giờ đầu sau sinh Khi sữa về Bú ngay trong ngày đầu sau sinh Trong lần đầu tiếp xúc giữa mẹ và con Khác
Biểu đồ 3.2 Kiến thức về thời gian cho trẻ bú lần đầu
Biểu đồ 3.2 cho thấy có 58% bà mẹ cho rằng cho con bú lần đầu trong
1 giờ đầu sau sinh là tốt nhất, cao gấp 4 – 5 lần các quan điểm khác như búkhi sữa về (12,5%) hay bú trong ngày đầu sau sinh (9,5%)
Trang 262.3% 1.8%
Biểu đồ 3.3 Kiến thức của bà mẹ về lợi ích cho con khi
cho con bú sớm trong vòng 1 giờ sau sinh
(Câu hỏi nhiều lựa chọn)
Biểu đồ 3.3 cho thấy trong số 200 bà mẹ được phỏng vấn, có 70,5% bà
mẹ biết rằng cho con bú trong vòng 1 giờ sau sinh cung cấp nhiều yếu tố miễndịch cho trẻ, 17,5% số bà mẹ biết tác dụng cung cấp năng lượng của sữa mẹ.Các lợi ích khác của sữa non ít được các bà mẹ biết đến
Biểu đồ 3.4 Kiến thức của bà mẹ về lợi ích cho mẹ khi
cho con bú trong vòng 1 giờ đầu sau sinh
Trang 27(Câu hỏi nhiều lựa chọn)
Biểu đồ 3.4 cho thấy đa số bà mẹ đều biết cho con bú trong 1 giờ đầusau sinh kích thích tiết nhiều sữa hơn (chiếm 61,5%) và giúp co hồi tử cungtốt hơn (21,5%) Các lợi ích khác như giúp giảm chất béo tích lũy trong cơthể, phòng ngừa chảy máu sau đẻ ít được các bà mẹ biết đến
Bảng 3.4 Kiến thức của bà mẹ về lợi ích của NCBSM
Giúp ích cho sự phát triển toàn diện của trẻ 95 47,5
(Câu hỏi nhiều lựa chọn)
Bảng 3.4 cho thấy 47,5% các bà mẹ biết NCBSM giúp ích cho sự pháttriển toàn diện của trẻ, chiếm tỷ lệ cao nhất Các lợi ích khác như giúp cho sựgắn bó mẹ con (18,5%), bảo vệ sức khỏe của trẻ (21,5%) hay tiết kiệm chi phí(24%) chiếm tỷ lệ khá đồng đều
Trang 2886.5 13.5
Hiểu đúng Hiểu sai
Biểu đồ 3.5 Kiến thức của bà mẹ về NCBSM hoàn toàn
Biểu đồ 3.5 cho thấy tỷ lệ các bà mẹ hiểu đúng về khái niệm NCBSMhoản toàn là chỉ cho con bú mẹ, không kèm theo bất kì thức ăn/ uống gì khác
là rất cao (chiếm 86,5%), chỉ có 13,5 % các bà mẹ hiểu sai về khái niệm này
Bảng 3.5 Kiến thức về thời gian cho con bú hoàn toàn của các bà mẹ
Trang 29Bảng 3.6 Kiến thức về thời gian cai sữa của các bà mẹ
Bảng 3.6 cho thấy số bà mẹ có kiến thức đúng về thời điểm cho cai sữa
là từ 24 tháng trở lên chiếm tỷ lệ cao nhất (44%), thời điểm từ 13 – 23 thángtuổi chiếm tỷ lệ thấp hơn với 39%, chỉ có 17% số bà mẹ cho rằng nên cho trẻcai sữa trước 12 tháng tuổi
Biểu đồ 3.6 Kiến thức của bà mẹ về thời gian cho trẻ bú
Biểu đồ trên cho thấy 2-3 giờ/lần là tần suất cho con bú được nhiều bà
mẹ cho là đúng nhất (59%), cho bú khi con quấy khóc chiếm tỷ lệ thấp hơn 2lần với 26% Các tần suất khác đều có tỷ lệ rất thấp
Trang 301 0%
Biểu đồ 3.7 Kiến thức về cách duy trì sữa mẹ
(Câu hỏi nhiều lựa chọn)
Biểu đồ 3.7 cho thấy ăn đủ dinh dưỡng và uống đủ nước là phươngpháp mà các bà mẹ nghĩ đến nhiều nhất tăng nguồn sữa mẹ (93,5%) Cácphương pháp khác có tỷ lệ thấp hơn là: cho con bú thường xuyên (chiếm23%) hay ngủ đủ giấc, vui vẻ tránh stress (17,5%)
3.2.2 Thực hành nuôi con bằng sữa mẹ của các bà mẹ
Bảng 3.7 Tỷ lệ trẻ được ăn các loại thức ăn/nước uống trước
lần bú mẹ đầu tiên và phương pháp sinh
Trang 31Bảng 3.8 Loại thức/nước uống ăn trẻ ăn trước lần bú mẹ đầu tiên
(Câu hỏi nhiều lựa chọn)
Bảng 3.8 cho thấy trong số 126 trẻ được ăn trước lần bú mẹ đầu tiên, có
113 trẻ (89,7%) được ăn sữa công thức, chiếm tỷ lệ cao nhất Mật ong và sữangười khác được lựa chọn ít hơn (3,2% và 9,5%) và nước sôi để nguội đượcdùng ít nhất (0,8%)
3.3 Các yếu tố liên quan đến việc nuôi con bằng sữa mẹ
Bảng 3.9 Liên quan giữa một số yếu tố của bà mẹ với thực hành
cho trẻ bú trong vòng 1 giờ đầu sau sinh
Cho trẻ bú trong một giờ đầu
Tỷ suất chênh OR
Khoảng tin cậy 95% CI
Trang 32kê đến việc cho trẻ bú mẹ lần đầu tiên trong vòng 1 giờ sau sinh.
- Liên quan về phương pháp sinh với thực hành cho trẻ bú 1 giờ đầusau sinh cho thấy, những bà mẹ sinh thường có tỷ lệ cho con bú trong vòng 1giờ sau sinh cao gấp 10,04 lần so với nhóm các bà mẹ sinh mổ và mối liênquan này có ý nghĩa thống kê
- Kiến thức về thời điểm cho con bú lần đầu tiên có ảnh hưởng có ýnghĩa thống kê đến việc cho trẻ bú 1 giờ đầu sau sinh Cụ thể, những bà mẹcho rằng nên cho con bú lần đầu trong 1 giờ sau sinh có tỷ lệ thực hành caogấp 3,47 lần so với những bà mẹ khác
Bảng 3.10 Phân tích đa biến một số yếu tố của bà mẹ có ảnh hưởng
đến thực hành cho trẻ bú trong vòng 1 giờ đầu sau sinh
Nhóm tuổi
Trang 33Nhóm sinh thường có tỷ lệ cho con bú trong 1 giờ đầu sau sinh cao gấp12,38 lần nhóm sinh mổ (p<0,05).
Nhóm bà mẹ cho rằng nên cho con bú trong vòng 1 giờ sau sinh có tỷ
lệ thực hành cao gấp 3,65 lần nhóm các bà mẹ còn lại (p<0,05)
Trang 34Chương 4: BÀN LUẬN 4.1 Tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ
Tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ
Tỷ lệ các bà mẹ đang cho con bú khá cao, chiếm 91% tổng số bà mẹ
Tỷ lệ này cao hơn gấp 10 lần tỷ lệ các bà mẹ không cho con bú Điều này cóthể là do các bà tham gia nghiên cứu đều hiểu rằng sữa mẹ là cung cấp nhiềuyếu tố miễn dịch cho con, kích thích vú tiết nhiều sữa hơn và giúp co hồi tửcung tốt hơn nên cố gắng cho con bú Bên cạnh đó, các bà mẹ tham gianghiên cứu đều là các bà mẹ sinh thường hoặc sinh mổ không có chỉ địnhtuyệt đối nên có thể dễ dàng cho con bú sau sinh
Ở Việt nam từ đầu những năm 1980 đã có những nghiên cứu về tậpquán và thực hành nuôi con bằng sữa mẹ và thực hành nuôi con của các bà
mẹ đã được triển khai bởi nhiều tác giả và ở nhiều vùng trên cả nước Bú mẹđược khuyến khích và chấp nhận rộng rãi ở Việt Nam, ước tính có tới 98,0%trẻ nhỏ được bú mẹ Tỷ lệ này khác nhau từng vùng địa lý, dân tộc, trình độvăn hóa của bà mẹ, nơi sinh trẻ nhưng không đáng kể, nơi ít nhất cũng có90% trẻ được bú mẹ [11]
Tỷ lệ NCBSM trong nghiên cứu của chúng tôi tương đồng với cácnghiên cứu trên, tuy nhiên, có thể chưa phản ánh đúng tỷ lệ NCBSM thực tế
do đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là các bà mẹ mới sinh trong vòng 7ngày, cần theo dõi trong thời gian lâu hơn để đánh giá tỷ lệ NCBSM sau này
Tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ sớm trong vòng một giờ đầu sau khi sinh
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ bà mẹ cho trẻ bú trong vòng mộtgiờ đầu sau khi sinh còn thấp (23,5%) Tỷ lệ trẻ được bú lần đầu tiên cao nhất
là vào thời điểm trên 6 giờ (51%) Điều này có thể là do tỷ lệ sinh mổ trongnghiên cứu của chúng tôi khá cao, mặc dù có thể gần con sớm sau sinh songcòn nhiều trở ngại do các bà mẹ cần nằm ở phòng hồi sức từ 4-6 giờ trước khi