1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

PHÂN TÍCH đặc điểm bộ NHIỄM sắc THỂ của các cặp vợ CHỒNG vô SINH

67 140 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 626,05 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các nguyên nhân gây vô sinh liên quan đến di truyền đặc biệt là các bấtthường liên quan đến nhiễm sắc thể NST là một trong số các nguyên nhân vô sinh thường gặp ở các cặp vợ chồng [10]..

Trang 1

NGUYỄN THỊ HUYỀN TRANG

PHÂN TÍCH ĐẶC ĐIỂM BỘ NHIỄM SẮC THỂ

CỦA CÁC CẶP VỢ CHỒNG VÔ SINH

Ngành đào tạo : Y sinh học di truyền

Trang 2

(Đảo đoạn quanh tâm)

qh+ Tăng kích thước vùng dị nhiễm sắc ở nhánh dài nhiễm sắc thể

qh- Giảm kích thước vùng dị nhiễm sắc ở nhánh dài nhiễm sắc thể

ph+ Tăng kích thước vùng dị nhiễm sắc ở nhánh ngắn nhiễm sắc thể

ph- Giảm kích thước vùng dị nhiễm sắc ở nhánh ngắn nhiễm sắc thể

ps+ Tăng chiều dài vùng vệ tinh

pstk+ Tăng chiều dài vùng cuống

cenh+ Tăng chiều dài vùng tâm động

rob Robertsonian translocation

Chuyển đoạn hòa hợp tâm)

t Balanced translocation

(Chuyển đoạn tương hỗ)

IVF In vitro fertilization

(Thụ tinh trong ống nghiệm)

ICSI Intra-cytoplasmic Sperm Injection

(Tiêm tinh trùng vào bào tương noãn)

Micro-TESE

microscopic testicular extraction of sperm

(Vi phẫu tìm tinh trùng trong mô tinh hoàn)

MỤC LỤC

Trang 4

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Trang 7

ĐẶT VẤN ĐỀ

Vô sinh là một vấn đề sức khỏe phổ biến và ảnh hưởng nhiều đến chấtlượng cuộc sống của các cặp vợ chồng Theo tổ chức y tế thế giới (WHO), vôsinh ảnh hưởng đến 5% – 8% các cặp vợ chồng ở các nước đang phát triển và

tỷ lệ này có thể lên đến 10% - 20% ở các nước phát triển [1], [2] Cùng với sựphát triển nhanh chóng của nền kinh tế, xã hội thì tỷ lệ vô sinh trên thế giớicũng đang có xu hướng tăng lên Theo nghiên cứu của Mascarenhas năm

2012, vô sinh ảnh hưởng đến 48,5 triệu cặp vợ chồng trên toàn thế giới, còntheo số liệu được công bố của viện sức khỏe quốc gia Anh thì vô sinh ảnhhưởng đến 1 trong 7 cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ sống tại Anh [3], [4]

Vô sinh có thể là nguyên nhân dẫn đến đổ vỡ trong hôn nhân [5], [6], gây tốnkém chi phí để điều trị [7] và trong một số hoàn cảnh có thể dẫn đến sự kì thị

và xa lánh của xã hội [8] Chính vì những lí do trên vô sinh được xem là vấn

đề quan trọng hàng đầu trong chăm sóc sức khỏe sinh sản trên toàn thế giới

Vô sinh có thể do nguyên nhân từ vợ hoặc chồng hoặc xuất phát từ cả vợ

và chồng Theo nghiên cứu của Osama và cộng sự về nguyên nhân vô sinh ở

800 cặp vợ chồng cho thấy: 35,5% nguyên nhân vô sinh xuất phát từ chồng,42,8% nguyên nhân vô sinh do vợ, 18,4% do cả vợ và chồng và 3,4% khôngxác định được nguyên nhân gây vô sinh [9] Các nguyên nhân gây vô sinh ở

cả 2 giới có thể gồm cả các nguyên nhân di truyền và các nguyên nhân không

di truyền Trong những năm gần đây các nhà khoa học cũng đang cố gắng làm

rõ các nguyên nhân gây vô sinh ở cả 2 giới đặc biệt là các nguyên nhân liênquan đến di truyền

Các nguyên nhân gây vô sinh liên quan đến di truyền đặc biệt là các bấtthường liên quan đến nhiễm sắc thể (NST) là một trong số các nguyên nhân

vô sinh thường gặp ở các cặp vợ chồng [10] Các dạng NST thường gặp nhất

Trang 8

ở các cặp vợ chồng vô sinh bao gồm: Đa hình của nhiễm sắc thể (đa hình củaNST có thể gặp ở 1,3% - 15% các cặp vợ chồng vô sinh tùy theo từng nghiêncứu) [11], các bất thường về số lượng NST, về cấu trúc NST như chuyển đoạntương hỗ, đảo đoạn, nhân đoạn, ngoài ra còn có dạng khảm của NST giới Chuyển đoạn tương hỗ là một trong số các dạng bất thường NST thường gặpnhất ở người Trong trạng thái này, người mang NST có kiểu hình bình thườngnhưng có nguy cơ cao sinh con có bất thường về NST [12] Những người mangNST chuyển đoạn hòa hợp tâm cũng có nguy cơ cao bị sẩy thai hoặc sinh conmang các dị tật bẩm sinh và chậm phát triển trí tuệ do mất NST Các bất thườngNST và đột biến gen có thể là nguyên nhân của vô sinh, vì vậy nghiên cứu gen

và bộ NST đóng một vai trò quan trọng trong nghiên cứu vô sinh

Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài

“Phân tích đặc điểm bộ nhiễm sắc thể của các cặp vợ chồng vô sinh” với

Trang 9

Chương 1 TỔNG QUAN

1.1 Vô sinh

1.1.1 Khái niệm vô sinh

Theo tổ chức y tế thế giới (WHO), một cặp vợ chồng trong độ tuổi sinhsản, có sức khỏe bình thường, sau 12 tháng chung sống, quan hệ tình dục đềuđặn mà không sử dụng bất kỳ một biện pháp tránh thai nào mà không có thaiđược gọi là vô sinh [13]

Vô sinh được chia thành 2 nhóm: Vô sinh nguyên phát (vô sinh I) và vôsinh thứ phát (vô sinh II):

- Vô sinh nguyên phát được xác định khi người phụ nữ chưa từng có thailần nào [13]

- Vô sinh thứ phát được xác định khi người phụ nữ đã từng có thai trướcđây kể cả sẩy thai nhưng hiện tại không thể có thai được nữa [13]

1.1.2 Dịch tễ học vô sinh trên thế giới và Việt Nam

Vô sinh là một bệnh lý chiếm tỷ lệ cao trên toàn thế giới Theo mộtnghiên cứu tổng quan có hệ thống lấy dữ liệu từ 277 nghiên cứu về tỷ lệ vôsinh của 190 quốc gia trên toàn thế giới trong giai đoạn từ năm 1990 đến 2010cho thấy: Trong năm 1990, tỷ lệ vô sinh nguyên phát trung bình của phụ nữtrong độ tuổi sinh đẻ (20 – 44 tuổi) trên toàn thế giới là 2% (thay đổi từ 1,9%đến 2,2% tùy vùng) còn tỷ lệ vô sinh thứ phát trung bình là 10,2% (thay đổi từ9,3% đến 11% tùy vùng) Đến năm 2010, tỷ lệ vô sinh nguyên phát ở của phụ

nữ trong độ tuổi sinh đẻ là 1,9% (thay đổi từ 1,7% đến 2,2%) còn tỷ lệ vô sinhthứ phát là 10,5% (thay đổi từ 9,5% đến 11,7%) Như vậy, vô sinh chiếm một

tỷ lệ cao trong số các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ trên toàn thế giới

Trang 10

trong giai đoạn từ 1990 đến 2010 [3] Chính vì vậy vô sinh được xem là mộtvấn đề quan trọng trong lĩnh vực y tế trên toàn thế giới.

Ở Việt Nam, vô sinh cũng chiếm một tỷ lệ cao trong số các cặp vợ chồngtrong độ tuổi sinh đẻ Theo kết quả điều tra dân số năm 1962, tỷ lệ vô sinhtrong nhóm tuổi sinh đẻ là 13% [14] Còn theo các tác giả Trần Thị PhươngMai và Phạm Văn Quyền, tỷ lệ vô sinh ở Việt Nam lần lượt là 10% và 10% -15% [15], [16] Theo tác giả Âu Nhật Luân (1995), tỷ lệ vô sinh ở Việt Nam

là 7% - 10% [17]

1.2 Đặc điểm của bộ nhiễm sắc thể người bình thường và các dạng bất thường nhiễm sắc thể

1.2.1 Đặc điểm của bộ nhiễm sắc thể người bình thường

Ở người bình thường, mỗi tế bào lưỡng bội (2n) mang 46 NST chia làm

23 cặp trong đó có 22 cặp NST thường và 1 cặp NST giới tính Ở kỳ giữa, cácNST ở dạng sợi kép và đi thành từng cặp tương đồng Tinh trùng và trứngđược hình thành qua quá trình giảm phân và mang bộ NST đơn bội (n) với 23NST [18]

Hình 1.1: Bộ NST bình thường của nam và nữ [19]

Trang 11

Tại hội nghị ở Chicago – Mỹ (1966), các nhà di truyền học đã thống nhấtxếp bộ NST người thành 7 nhóm kí hiệu lần lượt là A, B, C, D, E, F và G dựatrên 3 tiêu chuẩn: Kích thước của NST, chỉ số tâm NST và chiều dài tương đốicủa NST [18] Trong đó:

- Nhóm A gồm 3 cặp NST số 1, 2, 3 là những NST có kích thước lớnnhất

- Nhóm B gồm 2 cặp NST số 4 và 5

- Nhóm C gồm 7 cặp NST từ cặp số 6 đến cặp số 12, NST X cũng đượcxếp vào nhóm này

- Nhóm D gồm 3 cặp NST là 13, 14 và 15 là các NST tâm đầu

- Nhóm E gồm 3 cặp NST số 16, 17 và 18

- Nhóm F gồm 2 cặp NST số 19 và 20

- Nhóm G gồm NST số 21, 22 và NST Y

Các NST có thể được nhuộm thường hoặc nhuộm băng Từ năm 1968,

kỹ thuật nhuộm băng được ra đời và ngày càng hoàn thiện Nhuộm băng gồmcác kỹ thuật thông dụng như băng C, R, T, Q, G Tùy từng mục đích phân tíchNST mà người ta sử dụng các kỹ thuật nhuộm băng khác nhau, trong đóphương pháp nhuộm băng phổ biến nhất hiện nay là nhuộm băng G [18]

1.2.2 Các loại bất thường nhiễm sắc thể

1.2.2.1 Bất thường về số lượng nhiễm sắc thể

Đột biến số lượng NST gồm 2 dạng: Đa bội (polyploidy) và lệch bội(aneuploidy) [20]

* Đa bội nhiễm sắc thể:

Trong các tế bào sinh dưỡng của thể đa bội, bộ NST lớn hơn 2n do bộNST được tăng một số chẵn hoặc lẻ lần, ví dụ 3n, 4n, …

Trang 12

Có 3 cơ chế có thể dẫn đến hiện tượng đa bội:

- Sự thụ tinh của các giao tử bất thường

- Sự phân chia bất thường của hợp tử

- Sự thụ tinh kép hoặc sự xâm nhập của tế bào cực

* Lệch bội nhiễm sắc thể:

Lệch bội là hiện tượng số lượng NST của tế bào tăng lên hoặc giảm đi mộthoặc một vài NST so với bộ NST lưỡng bội Các dạng lệch bội NST gồm:

- Thể không (2n – 2): Thiếu cả 2 NST của một loại NST nào đó

- Thể đơn (2n – 1): Thiếu một NST của một loại NST nào đó

- Thể ba (2n + 1): Thừa 1 NST của một loại NST nào đó

- Thể đa (2n + 2, 2n + 3, …): Thừa 2 hoặc 3 NST của một loại NST nào đó

- Thể khảm: Trong cùng một cơ thể có hai hoặc ba dòng tế bào chứa haihoặc ba loại karyotype khác nhau

1.2.2.2 Bất thường cấu trúc nhiễm sắc thể

- Nhiễm sắc thể đều: Bình thường hai chromatid sẽ tách dọc nốt phầntâm để tạo thành 2 NST, nhưng trong trường hợp này phần tâm lại tách theochiều thẳng góc với chiều dọc của chromatid Nó tạo ra hai NST bất thường,mỗi NST có hai nhánh đối xứng hoàn toàn với nhau về kích thước cũng nhưnội dung gọi là NST đều [21]

Trang 13

1.2.2.3 Tính đa hình nhiễm sắc thể

* Chất dị nhiễm sắc và chất nhiễm sắc thực:

Chuỗi Chromatin gồm có 2 dạng: Chất nhiễm sắc thực và chất dị nhiễmsắc [22] Ban đầu hai dạng này được phân biệt bằng cách nhuộm màu, trong

đó chất dị nhiễm sắc bắt màu nhiều hơn và cuộn chặt hơn

Chất nhiễm sắc thực là dạng đóng gói lỏng lẻo hơn của DNA, khi nhuộmbăng vùng này bắt màu nhạt, đây là vùng thường xảy ra hoạt động phiên mã.Mặc dù trên vùng này có thể có 1 số đoạn DNA không hoạt động phiên mãsong tất cả đoạn DNA trên NST có hoạt động phiên mã thì đều phải ở trạngthái nhiễm sắc thực [23]

Ngược lại, chất dị nhiễm sắc là một dạng cuộn rất chặt của DNA và gồmnhiều thể khác nhau Vì cuộn chặt nên enzyme polymerase không thể tiếpcận, do đó chúng không được sao chép Theo Heitz, chất nhiễm sắc điển hìnhchứa vùng gen hoạt động, chất dị nhiễm sắc là vùng gen thụ động Ông cũng chorằng tính chất dị nhiễm sắc là vùng không chứa gen hoặc chứa những gen khônghoạt động [23] Chất dị nhiễm sắc bao gồm những chuỗi vệ tinh không hoạtđộng gen, cả vùng đầu mút và vùng tâm động đều là chất dị nhiễm sắc [24].Chất dị nhiễm sắc gồm có chất dị nhiễm sắc ổn định và chất dị nhiễm sắcngẫu nhiên Chất dị nhiễm sắc ổn định có thể ảnh hưởng tới các gen gần nó,thường có tính chất lặp lại, không mã hóa protein và tạo thành những cấu trúc

có chức năng như vùng tâm động hay vùng đầu mút Nó không chứa bất kìtrình tự đơn độc nào và không có chức năng mã hóa rõ rệt [25] Ở người, NST

1, 9, 16 và Y chứa những vùng dị nhiễm sắc ổn định lớn Và ở hầu hết cácsinh vật, chất dị nhiễm sắc ổn định tồn tại xung quanh vùng tâm động NST vàgần đầu mút Các vùng trên DNA chứa chất dị nhiễm sắc ngẫu nhiên thìkhông giống nhau giữa các tế bào cũng như ở các loài, do đó một đoạn DNA

có thể được gói trong chất dị nhiễm sắc ngẫu nhiên ở tế bào này có thể lại

Trang 14

được gói trong chất dị nhiễm sắc ổn định ở các tế bào khác Tuy nhiên sự hìnhthành của chất dị nhiễm sắc ngẫu nhiên có sự điều chỉnh và thường liên quantới hình thái hay sự biệt hóa [26].

Chất dị nhiễm sắc có liên quan tới một số chức năng như điều chỉnh gen

để bảo vệ sự toàn vẹn NST [26] hoặc một số khác có vai trò quyết định cho sựđóng gói dày đặc của DNA, làm nó khó tiếp cận với các yếu tố protein (là cácyếu tố thường gắn với DNA hoặc các yếu tố liên quan của nó) Chất dị nhiễmsắc có thể di truyền được qua sự phân chia tế bào Khi vùng dị nhiễm sắc biếnđổi có thể lan tới các vùng gen khác hoặc lùi ra xa vùng cực

* Tính đa hình của NST:

- Đa hình ở các vùng dị nhiễm sắc, vùng cuống và vùng vệ tinh: Tính

đa hình ở các vùng dị nhiễm sắc là thuật ngữ chỉ những biến đổi của chất dịnhiễm sắc trong NST, là dạng biến thể bình thường được quan sát bằng kỹthuật nhuộm băng Tuy nhiên những biến đổi về hình thái trong nhữngvùng nhất định của bộ gen người đã được ghi nhận từ rất sớm, ngay cảtrước khi có sự ra đời của kỹ thuật nhuộm băng [27] Đây được xem làdạng biến thể bình thường trong bộ NST người và có thể di truyền được[27] Các biến đổi này của NST được cho là không gây bất thường về kiểuhình, được quan sát thấy thường xuyên và duy trì trong quần thể Vùng dịnhiễm sắc trên NST được nhận định là có sự biến đổi khi vùng NST quantâm có sự thay đổi khác biệt so với NST tương ứng trên NST tương đồngcủa nó [27] Dạng đa hình này thường được sát thấy ở NST 1, 9, 16, Y,nhóm D và nhóm G [27] Tại hội nghị ở London 1963 đã xác định cấu trúcnổi bật ở vùng quanh tâm động của NST 1, 9, 16 Tiếp theo đến năm 1966,tại hội nghị ở Chicago cũng đã công bố về những vùng nói trên của NST 1,

9, 16, đồng thời nhận thấy những biến đổi về chiều dài NST Y, biến đổi vềhình thái trên nhánh ngắn NST nhóm D và G [27]

Trang 15

 Biến đổi ở nhóm D, G: Các biển đổi đầu tiên được ghi nhận trong bộ NSTngười liên quan đến nhánh ngắn NST tâm đầu Các nghiên cứu về thay đổichiều dài và hình thái nhánh ngắn, vùng vệ tinh của NST tâm đầu ngày càngđược báo cáo rộng rãi [28] Ở các NST nhóm D, G bao gồm biến đổi ở vùngtâm động, vùng vệ tinh hay vùng cuống Tăng chiều dài vùng vệ tinh được kíhiệu là ps+, ở vùng tâm động kí hiệu là cenh+, ở vùng cuống kí hiệu là pstk+.Khi tăng chiều dài người ta kí hiệu bằng dấu (+), ngược lại nếu giảm chiềudài vùng dị nhiễm sắc sẽ được kí hiệu bằng dấu (-) [29].

 Biến đổi ở nhánh dài NST 1, 9, 16: Đối với các NST 1, 9, 16, ở các nhánh dài,vùng dị nhiễm sắc có thể tăng lên hoặc mất đi Các biến thể của NST số 9 baogồm 9qh+, 9qh-, 9cenh+ [30] Trong đó qh+ là tăng chiều dài vùng dị nhiễm sắccòn qh- là giảm chiều dài vùng dị nhiễm sắc trên nhánh dài NST, cenh+ là tăngkích thước ở vùng tâm động Ngoài ra còn có dạng biến đổi vùng dị nhiễm sắctrên nhánh ngắn được kí hiệu là 9ph+ và 9ph- Cũng tương tự như vậy với cácNST 1, 16 có các dạng 1 qh+, 1qh-, 16qh+ và 16qh- [29]

 Biến đổi NST Y: Các biến đổi trên NST Y cũng bao gồm tăng hay giảm vùng

dị nhiễm sắc kí hiệu là Yqh+ và Yqh- Được nhận định là Yqh+ khi quan sátthấy NST Y lớn hơn NST 18, Yqh- khi nó nhỏ hơn các NST trong nhóm G[29]

Hình 1.2: Một số ví dụ về tính đa hình NST [31]

Trang 16

- Các điểm dễ gãy trên NST: Các điểm dễ gãy trên NST cũng được xem

là những biến đổi của NST nhưng không gây ra các biến đổi ở kiểu hình.Dạng đa hình này của NST được mô tả lần đầu tiên bởi Dekeban vào năm

1965 và cho đến ngày nay có hơn 100 điểm dễ gãy trên các NST đã được xácđịnh [32] Các điểm dễ gãy này thường ổn định trong các tế bào được nuôicấy nhưng có thể tạo thành các khoảng trống hoặc các đứt gãy có thể nhìnthấy ở kỳ giữa nếu được nuôi cấy trong các môi trường đặc biệt hoặc dưới tácđộng của các hóa chất đặc hiệu [32] Các điểm dễ gãy được phân thành 2 loại

là loại thường gặp và loại hiếm gặp dựa trên tần suất xuất hiện của chúngtrong quần thể [32] Loại hiếm gặp của các điểm dễ gãy trên NST được quansát thấy ở dưới 5% số cá thể và tình trạng dễ gãy ở loại này thường do sự độtbiến ở các trình tự lặp lại Còn loại thường gặp được quan sát thấy ở tất cả các

cá thể, khác với loại hiếm gặp loại này xuất hiện trong cấu trúc của các NSTbình thường và không liên quan đến đột biến ở các trình tự lặp lại [32]

Hình 1.3: Ví dụ về điểm dễ gãy thường gặp trên NST [32]

1.3 Các nguyên nhân gây vô sinh

1.3.1 Các nguyên nhân gây vô sinh không do bất thường di truyền

1.3.1.1 Các nguyên nhân gây vô sinh không do bất thường di truyền ở nam [33]

- Các bệnh ảnh hưởng đến vùng dưới đồi, tuyến yên

- Giãn tĩnh mạch thừng tinh

- Lỗ tiểu lệch thấp khiến tinh trùng xuất ra khó đi vào lỗ cổ tử cung

Trang 17

- Nhiễm trùng: Một số bệnh nhiễm trùng như quai bị, viêm tinh hoàn, …

có thể gây teo tinh hoàn

- Viêm tuyến tiền liệt, viêm ống dẫn tinh, mào tinh hoàn, niệu đạo, baoquy đầu, … có thể hình thành các tổ chức sẹo ngăn cản quá trình xuất tinh

- Sử dụng một số thuốc như: các nội tiết tố, cimetidin, … có thể ảnhhưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến quá trình sinh tinh

- Một số nguyên nhân khác như các bệnh lí toàn thân, tiếp xúc với bức

xạ, hóa chất độc hại, hút thuốc lá, sử dụng các chất kích thích …

1.3.1.2 Các nguyên nhân gây vô sinh không do bất thường di truyền ở nữ

Các nguyên nhân gây vô sinh ở nữ thường gặp là [34]:

- Tắc nghẽn ống dẫn trứng do dị vật, viêm nhiễm, sẹo xơ …

- Giảm hoặc mất khả năng rụng trứng

- Bất thường về tử cung: Nhiễm trùng, dính buồng tử cung …

- Một số bệnh lý toàn thân hoặc tuổi cao

1.3.2 Các nguyên nhân gây vô sinh do bất thường di truyền

Trong những năm gần đây, ngày càng có nhiều nghiên cứu chỉ ra mốiquan hệ giữa bất thường NST với các cặp vợ chồng vô sinh Theo nghiên cứu

D Mierla và cộng sự cho thấy các dạng bất thường NST thường gặp ở cả 2giới với các tỷ lệ như bảng 1.1 [11]

Bảng 1.1: Các loại bất thường NST thường gặp ở bệnh nhân vô sinh [35] Loại bất thường

NST

Nam vô sinh (%) (n = 1231)

Nữ vô sinh (%) (n = 964) χ² p-value

Đảo đoạn NST 4(0,32%) 6(0,62%) 1,040 0,30Nhân đoạn NST 0(0,00%) 2(0,21%) 2,556 0,10Mất đoạn NST 2(0,16%) 0(0,00%) 1,568 0,21Chuyển đoạn NST 13(1,06%) 10(1,04%) 0,020 0,96Bất thường về số

Trang 18

Các bất thường NST là một trong số các nguyên nhân thường gặp nhất ởnam giới vô sinh, bất thường NST có thể gặp ở 20% nam giới vô sinh có bấtthường về tinh dịch đồ như không có tinh trùng hoặc giảm số lượng tinh trùng[35] Các bất thường này bao gồm các bất thường về số lượng NST như tronghội chứng Klinefelter (karyotype 47,XXY), các bất thường về cấu trúc NST, cácchuyển đoạn hòa hợp tâm, các chuyển đoạn tương hỗ và đảo đoạn NST Rấthiếm gặp các trường hợp nam giới vô sinh có karyotype bình thường mà lại cótinh trùng có bộ NST bất thường [31] Gần đây, các báo cáo về bất thường NSTcủa tinh trùng liên quan đến các NST 21, 22, X và Y ngày càng nhiều [35].

Hội chứng Klinefelter (karyotype 47,XXY): Đây là một dạng bất thườngNST thường gặp nhất ở nam giới vô sinh, hội chứng này gặp ở 14% nam giớikhông có tinh trùng [35] Các bệnh nhân mắc hội chứng này thường bị chậmphát triển ngôn ngữ, học hành và hành vi Nghiên cứu đặc điểm mô học củacác bệnh nhân này người ta nhận thấy rằng, các bệnh nhân mắc hội chứngKlinefelter có sự suy thoái về chất lượng tinh trùng và kèm theo sự bất thường

về nồng độ của một số hormone (nồng độ Testosteron giảm còn nồng độ FSH

và LH tăng) Hơn 90% bệnh nhân mắc hội chứng này có karyotype là47,XXY và 10% còn lại mang thể khảm 47,XXY/46,XY [35] Nguyên nhân

có thêm 1 NST trong bộ NST của các bệnh nhân này là do sự không phân lycủa NST trong quá trình phát sinh giao tử ở bố hoặc mẹ Mặc dù, tinh trùngcủa người mắc hội chứng này thường bình thường 23,X hoặc 23,Y tuy nhiêncon cái của người mang hội chứng này có nguy cơ cao mang bộ NST có tínhbội không hoàn chỉnh ở cả NST thường và NST giới tính [35]

Hội chứng 47,XYY: Hội chứng này gặp với tần suất 1/1000 nam giớinhưng tỷ lệ này có thể cao hơn ở nam giới vô sinh [35] Nam giới mangkaryotype 47,XYY thường rất khỏe mạnh trái lại những người mắc hội chứngnày thường bị giảm về số lượng tinh trùng hoặc không có tinh trùng Điều này

Trang 19

chỉ ra rằng, tinh trùng có thêm 1 NST Y từ những người mang bộ NST 47,XYY

có sự bất thường trong ghép cặp khi phân bào giảm nhiễm, phân bào giảm nhiễm

bị gián đoạn, cuối cùng là tinh trùng bị chết theo chương trình và điều nàythường dẫn đến không có tinh trùng hoặc giảm số lượng tinh trùng [35]

Các bất thường về cấu trúc NST: Bất thường về cấu trúc NST bao gồmmất đoạn, nhân đoạn, chuyển đoạn (tương hỗ, không tương hỗ và hòa hợptâm) và đảo đoạn Nhìn chung, các bất thường về cấu trúc NST gặp ở 5% namgiới vô sinh và 0,5% nam giới nói chung [35] Hầu hết các bất thường cấutrúc NST gặp ở các trường hợp không có tinh trùng hoặc giảm số lượng tinhtrùng Đặc biệt, các bất thường NST thường hay gặp ở các bệnh nhân giảm sốlượng tinh trùng (3%) còn các bất thường về cấu trúc NST bao gồm NST giớichủ yếu gặp ở bệnh nhân không có tinh trùng (12,6%) [35]

Các mất đoạn nhỏ của NST Y: Có 3 dạng thường gặp của mất đoạn nhỏtrên NST Y ở vùng yếu tố không có tinh trùng (AZF) Sự mất đoạn ở vùngliên quan đến không có tinh trùng gặp ở 15% bệnh nhân không có tinh trùng

và 5% bệnh nhân giảm số lượng tinh trùng [35] Sự mất đoạn có thể xảy ra ở

ba vùng riêng biệt là AZFa, AZFb và AZFc AZFa dài xấp xỉ 0.8Mb nằm ởđầu gần Yq11.21, AZFb và AZFc nằm lần lượt ở các vùng Yq11.22 vàYq11.23 Nhìn chung, mất đoạn NST ở vùng yếu tố không có tinh trùng liênquan đến 27 gen đơn độc hoặc nhóm gen [35]

Chuyển đoạn hòa hợp tâm: Là dạng bất thường về cấu trúc NST thườnggặp nhất ở người, nguyên nhân là do sự hợp nhất của nhánh dài của 2 NSTtâm đầu (nhóm 13, 14, 15, 21 và 22) để tạo thành một NST mới Thôngthường, người mang NST chuyển đoạn hòa hợp tâm có kiểu hình bình thườngnhưng lại có nguy cơ cao vô sinh, sinh con có bất thường NST hoặc sẩy thai.Dạng bất thường này của NST gặp ở 1,6% nam giới vô sinh Các dạng chuyểnđoạn hòa hợp tâm thường gặp nhất là rob(13;14) và rob(14;21) với tỷ lệ lần

Trang 20

lượt là 1/1000 và 1/5000 Có gần 20% nam giới mang chuyển đoạn hòa hợptâm rob(13;14) bị vô sinh [35]

Chuyển đoạn tương hỗ: Dạng bất thường này tạo thành một hình ảnh đặcbiệt gọi là chữ thập chuyển đoạn trong quá trình giảm phân tạo tinh trùng.Điều này dẫn tới một tỷ lệ cao (lên tới 80%) các tinh trùng có bộ NST mất cânbằng [35] Những người mang NST chuyển đoạn tương hỗ có kiểu hình bìnhthường tuy nhiên lại có nguy cơ cao bị vô sinh Nguyên nhân vô sinh ở cáctrường hợp này là do sự thụ tinh của các giao tử có bất thường về cấu trúcNST tạo thành các phôi có bộ NST mất cân bằng vì vậy phôi không thể pháttriển được Vì vậy, chẩn đoán gen trước khi chuyển phôi rất hữu ích ở nhữngngười mang bộ NST chuyển đoạn cân bằng giúp xác định các phôi có bộ NSTbình thường hoặc cân bằng [35]

Đảo đoạn NST: Đảo đoạn là hiện tượng một NST bị đứt ở hai chỗ, đoạn

bị đứt quay 180 độ và hai mỏm đứt nối lại theo trật tự mới Có hai kiểu đảođoạn là đảo đoạn ngoài tâm và đảo đoạn quanh tâm Để các phần tương ứngvới nhau của hai NST tương đồng khi giảm phân, NST có đoạn đảo phải tạothành vòng còn NST còn lại phải tạo thành 1 chỗ lồi để bao bọc vòng đó.Những người mang NST đảo đoạn thường có kiểu hình bình thường tuy nhiênnhững người này lại không có khả năng mang thai hoặc mang thai có bấtthường NST Nói chung, những trường hợp đảo đoạn quanh tâm lớn thườngtạo ra các giao tử bất thường về cấu trúc NST và thường được quan sát thấy ởnam giới vô sinh [35]

Bất thường về phát triển giới tính liên quan đến tinh hoàn: Hội chứngnày được biết đến như những trường hợp nam giới có bộ NST 46,XX, đây làmột bệnh lý rất hiếm gặp (gặp ở 1/25000) trẻ nam mới sinh [35] Hầu hếtngười mắc hội chứng này có 2 NST X và đoạn NST quy định giới tính củaNST Y được chuyển đoạn và nằm trên NST X Nam giới mắc hội chứng này

Trang 21

có cơ quan sinh dục ngoài có hình thái bình thường tuy nhiên tinh hoànthường teo nhỏ và không có khả năng sinh tinh trùng [35].

Bất thường cấu trúc NST phức tạp: Gọi là bất thường cấu trúc NST phứctạp khi có ít nhất 3 vùng của NST bị thay đổi Những bất thường cấu trúcNST cân bằng ít khi đơn thuần ở những người có tiền sử sẩy thai và vô sinh.Các nghiên cứu mức độ phân tử về các điểm đứt gãy của các NST bất thườngcấu trúc chỉ ra rằng số lượng và mức độ đứt gãy không thể dự đoán được khảnăng sinh sản Nguy cơ sẩy thai ở những người mang NST có bất thường cấutrúc phức tạp là 50% vì vậy phương pháp bơm tinh trùng vào tế bào chất củatrứng không được khuyến cáo cho các trường hợp nam giới mang NST bấtthường cấu trúc phức tạp [35]

Các rối loạn đơn gen liên quan đến vô sinh: Các nghiên cứu về độtbiến gen liên quan đến vô sinh đã có những bước tiến đáng kể trong nghiêncứu vô sinh Trong khoảng một thập kỷ trước chỉ có một số lượng ít cácbáo cáo chỉ ra mối liên hệ giữa đột biến gen và vô sinh, tuy nhiên hiện nay

đã có rất nhiều báo cáo chỉ ra mối liên quan giữa các rối loạn đơn gen liênquan đến vô sinh Ví dụ điển hình nhất của rối loạn đơn gen liên quan đến

vô sinh chính là sự teo bẩm sinh cả 2 bên của ống dẫn tinh ở những namgiới không có tinh trùng do tắc nghẽn có liên quan đến cặp gen CFTR vàIVS8-5T ở intron 8 và một số gen khác [35]

1.3.2.2 Các bất thường di truyền liên quan đến vô sinh nữ

Những hiểu biết về mối liên hệ giữa bất thường NST với vô sinh nữ và

sự bất thường về phát triển của ống sinh dục nữ vẫn còn hạn chế Quá trìnhphát triển giới tính và những dị tật bẩm sinh của cơ quan sinh dục nữ (baogồm các bất thường về giải phẫu của ống Muller, tử cung, niêm mạc tử cung,vòi trứng và buồng trứng) có thể ảnh hướng đến khả năng sinh sản [35] Tình

Trang 22

trạng mãn kinh sớm và xu thế mang thai muộn ở các nước phương tây cũng làmột trong số nguyên nhân góp phần dẫn tới vô sinh nữ [35].

Hội chứng 47,XXX: Hội chứng này cũng biết đến với tên gọi trisomy X,gặp ở 1/1000 trẻ nữ mới sinh và đây là một trong số các nguyên nhân thườnggặp nhất dẫn đến suy giảm chức năng buồng trứng sớm Hầu hết phụ nữ mangtrisomy X có kiểu hình bình thường tuy nhiên một số có thể bị ảnh hưởng bởitình trạng suy buồng trứng sớm hoặc các dị tật của hệ thống tiết niệu – sinhdục Nguyên nhân của hội chứng này là do bất thường của sự phân chia củaNST trong giảm phân I, II để tạo trứng [35]

Hội chứng Turner: Hội chứng này cũng được biết đên với các tên gọinhư monosomy X hoặc 45,XO, xảy ra với tỷ lệ 1/2000 trẻ nữ mới sinh.Nguyên nhân của sự thiếu một NST X ở noãn bào là do sự không phân chia ởgiảm phân Những người mắc hội chứng này thường có các bất thường về bộxương, dị tật tim bẩm sinh, chân tóc thấp, ngực và núm vú rộng, suy sinh dụcvới các biểu hiện vô kinh hoặc suy buồng trứng… Những người mắc hộichứng này ở thể khảm thường có kiểu hình khá giống với bình thường vàthường được phát hiện vì vô sinh Thể khảm 45,X/47,XXX và 45,X/46,XX làthể ít gặp, người mang thể bệnh này thường có chức năng buồng trứng suygiảm nhanh và thường dẫn tới vô sinh [35]

Các bất thường của bộ gen và sự sao chép của một số gen khác nhau:Trong thời gian gần đây có rất nhiều báo cáo về các vùng gen có liên quanđến vô sinh nữ, bao gồm các rối loạn phức tạp liên quan đến lạc nội mạc tửcung và suy buồng trứng nguyên phát Những nghiên cứu này tạo ra các cộtmốc quan trọng trong nghiên cứu bộ gen và phát hiện các gen mới mà khôngthể phát hiện được khi sử dụng các kỹ thuật truyền thống Một nghiên cứu đãxác định được 6 loại mất đoạn ngắn ảnh hưởng tới ít nhất 1 gen ở 89 phụ nữmắc hội chứng suy buồng trứng nguyên phát [35] Trong số các gen bị mất có

Trang 23

2 gen liên quan đến suy buồng trứng nguyên phát đã được đề cập đến từ trướcđấy là gen SYCE1 và CPEB1 Sự vô hiệu của 2 gen này đã được chứng minh

có liên quan đến sự suy buồng trứng ở chuột cái Ở một nghiên cứu khác vềảnh hưởng của đột biến gen với suy buồng trứng nguyên phát và giảm chứcnăng buồng trứng ở 74 bệnh nhân cũng chỉ ra rằng các gen như: PLCB1,RB1CC1, MAP4K4, RBBP8, IMMP2L, FER1L6 và MEIG1 đóng vai tròtrong giảm phân, sửa chữa DNA có thể liên quan đến các bệnh lý này [35]

Hình 1.4: Một số dạng bất thường NST [36]

Một số rối loạn đơn gen liên quan đến vô sinh nữ:

• Hội chứng NST X dễ gãy: Đây là một hội chứng với các đặc điểm điển hìnhgồm: chậm phát triển trí tuệ, mặt dài, tai to và cằm nhọn Hội chứng này đượcbáo cáo lần đầu tiên năm 1969 với sự thắt lại của nhánh dài trên NST X Gengây ra tình trạng dễ gãy của NST X là gen FMR1 (gen liên quan đến chậmphát triển trí tuệ ở hội chứng NST X dễ gãy) nằm ở vùng Xq27.3 Cơ chếbệnh sinh của hội chứng này là do sự đột biến ở trình tự lặp lại của bộ ba

Trang 24

CGG ở vùng không phiên mã 5’ của gen đến vị trí tiền đột biến nằm giữatrình tự lặp lại 56 và 199 Thông thường các tiền đột biến của gen FMR1 đượctìm thấy ở 16% bệnh nhân có suy buồng trứng nguyên phát và 2% trong sốnày xảy ra ngẫu nhiên còn 14% - 21% có tính chất gia đình Sàng lọc genFMR1 được chỉ định cho các trường hợp tuổi của mẹ lớn hoặc tiền sử giađình có hội chứng NST X dễ gãy [35].

• Rối loạn chuyển hóa Galactosemia: Nhiều phụ nữ mắc hội chứng rối loạnchuyển hóa Galactosemia biểu hiện bằng suy các tuyến sinh dục với biểu hiệnlâm sàng là vô kinh và tình trạng suy buồng trứng sớm tăng lên theo tuổi Mặc

dù các kết quả của các nghiên cứu đã được công bố vẫn còn mâu thuẫn, tuynhiên các tác giả vẫn cho rằng gen liên quan giữa lạc nội mạc tử cung và rốiloạn chuyển hóa galactosemia là gen GALT Tư vấn di truyền và hỗ trợ điềutrị bởi các bác sĩ nội tiết giúp cải thiện đáng kể tình trạng suy buồng trứngsớm ở những bé gái mắc hội chứng rối loạn chuyển hóa Galactosemia Vớicác phụ nữ mắc hội chứng rối loạn chuyển hóa Galactosemia vô sinh, việcmang thai có thể đạt được khi được hiến noãn bào hoặc tiền phôi [35]

• Hội chứng suy buồng trứng nguyên phát: Hội chứng này được xác định khixảy ra tình trạng suy hoàn toàn hoặc không hoàn toàn của buồng trứng Thờigian gần đây đã phát hiện được một số gen liên quan đến tình trạng suy buồngtrứng không hoàn toàn đã dẫn đến khái niệm giảm chức năng buồng trứngnguyên phát Có rất nhiều gen liên quan đến tình trạng suy buồng trứngnguyên phát hoàn toàn hoặc không hoàn toàn gồm: Trên NST X có gen FMR1

và gen BMP15 nằm ở vùng Xp11.2, các đột biến gen ở NST thường như AR,CDKN1B, CYP19A1, GDF9, FIGLA, FOXL2, FOXO1a, FOXO3a, INHA,LHX8, NOBOX, NANOS3, FSHR và SALL4 [35]

Trang 25

Các rối loạn đa gen phức tạp liên quan đến vô sinh nữ:

• Bệnh lạc nội mạc tử cung: Đây là một bệnh lý phức tạp đặc trưng bởi tìnhtrạng viêm và chảy máu của nội mạc tử cung, thường kèm theo vô sinh và đau

do nội mạc tử cung nằm trong tiểu khung (ngoài tử cung) Bệnh lý này gặp ở5% - 10% phụ nữ Các gen liên quan đến hội chứng này bao gồm: HSD17B2,CYP19A1, STAR, SF1, vùng 10q26 và 1p36 [35]

• Hội chứng buồng trứng đa nang: Đây là một hội chứng rối loạn nội tiết phứctạp liên quan đến nhiều gen Hội chứng này gặp ở 7% phụ nữ trong độ tuổisinh đẻ Các biểu hiện của hội chứng này gồm: rối loạn vòng kinh, buồngtrứng đa nang, vô kinh thứ phát, không phóng noãn, rậm lông và giảm khảnăng sinh sản do tăng kích thước và giảm chức năng buồng trứng Các genliên quan đến bệnh lý này gồm: FBN3, FST, INS, INSR, TCF7L2, CAPN10,FTO, SHBG, PCOS1, SRD5A1, SRD5A2 và CYP11A1 [35]

1.3.2.3 Mối liên quan giữa đa hình nhiễm sắc thể và vô sinh

Như đã trình bày ở trên, tính đa hình của NST (Chrosomalpolymorphism) là sự biến thiên về hình thái của NST nhưng không gây rabiến đổi về kiểu hình Tính đa hình của NST thường là do các biến thiên vềkích thước, hình thái hay tính chất nhuộm băng của vùng dị nhiễm sắc Tính

đa hình NST của các NST không phải là NST tâm đầu thường xảy ra ở vùng

dị nhiễm sắc gần tâm trên nhánh dài của các NST 1, 9, 16 và vùng dị nhiễmsắc ở phần xa của NST Y Còn ở các NST tâm đầu như các NST nhóm D, G(các NST 13, 14, 15, 21 và 22), tính đa hình NST thường xảy ra ở nhánh ngắnhoặc vệ tinh của NST Các đảo đoạn quanh tâm xảy ra trên NST số 9 inv(9)cũng được xem là một dạng của đa hình NST [32]

Trang 26

Trong một thời gian dài, vì cho rằng tính đa hình của NST không ảnhhưởng đến kiểu hình hoặc chỉ ảnh hưởng rất nhỏ đến kiểu hình mà không thểquan sát được trên lâm sàng nên không dành được sự chú ý của các nhànghiên cứu Tuy nhiên, ngày càng có nhiều bằng chứng chỉ ra rằng tính đahình NST có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng sinh sản hoặcthậm chí có thể là nguyên nhân gây vô sinh Mặc dù vai trò của các yếu tố ditruyền đối với vấn đề vô sinh ngày càng được chú ý, tuy nhiên mối liên quangiữa tính đa hình của NST đối với vô sinh ở cả hai giới vẫn còn nhiều tranhcãi Theo nghiên cứu của Mierla và Stoian (2012) chỉ ra rằng, không có sựkhác biệt đáng kể về tỷ lệ đảo đoạn của NST số 9 của nhóm bệnh nhân nữ vôsinh so với quần thể dân số nói chung Ngược lại, theo nghiên cứu của một sốtác giả khác như Ceylan (2008), Collodel (2006) và Gekas (2001) lại cho rằng

có sự liên quan giữa đảo đoạn của NST số 9 với vô sinh nữ [32] Và trongthời gian gần đây, ngày càng có nhiều nghiên cứu cho thấy tỷ lệ cao của cácdạng đa hình của NST trong số các bệnh nhân vô sinh như nghiên cứu củaDong (2013), Madon (2005), Mierla và Stoian (2012) và Sahin (2008) [32].

Như vậy, tính đa hình của NST có thể có sự liên quan đối với các bệnh nhân

vô sinh Các nghiên cứu trước đây cũng chỉ ra rằng, không có sự khác biệt về

tỷ lệ đa hình NST ở hai giới Tuy nhiên, tỷ lệ đa hình NST ở nam giới vô sinhcao hơn so với nữ vô sinh đã được báo cáo trong nghiên cứu của các tác giảnhư Madon (2005) và Minocherhomji (2009) [32]

Các ảnh hưởng của đa hình NST đến kết quả điều trị vô sinh vẫn chưađược hiểu rõ mặc dù đã có một vài nghiên cứu tập trung vào vấn đề này Năm

2006, Chatzimeletiou và cộng sự đã báo cáo về trường hợp bệnh nhân thất bạinhiều lần khi làm IVF Ở bệnh nhân này có sự giảm kích thước của nhánh dàiNST 16 (16qh-) và đặc điểm này là do sự di truyền từ mẹ bệnh nhân [37].Còn theo một nghiên cứu khác của Xiao và cộng sự (2012) cho thấy, ở những

Trang 27

nam giới có tăng kích thước nhánh dài NST Y (Yqh+) khi làm IVF có tỷ lệ thụthai thấp hơn, chất lượng phôi kém hơn và tỷ lệ mang thai thấp hơn so vớinhóm chứng là những bệnh nhân không mang NST đa hình [37] Hơn thế nữa,theo nghiên cứu của Guo và cộng sự (2012) cho thấy, những nam giới mangNST đa hình có tỷ lệ thụ thai cũng như tỷ lệ mang thai thấp hơn khi làm ICSI

so với nhóm chứng không mang NST đa hình Còn theo một nghiên cứu kháccủa Ji Liang và cộng sự (2013), khi nghiên cứu kết quả IVF-ICSI ở 614 cặp

vợ chồng vô sinh trong đó có 37 cặp có mang NST đa hình cũng đưa ra kếtluận tương tự: Tỷ lệ thụ thai ở các cặp vợ chồng có chồng mang NST đa hìnhthấp hơn so với những cặp vợ chồng không mang NST đa hình Còn ở các cặp

vợ chồng có vợ mang NST đa hình có sự phân chia của phôi kém hơn so vớicác cặp vợ chồng không mang NST đa hình [37] Như vậy, đa hình NSTkhông những ảnh hưởng đến nguyên nhân vô sinh mà còn có thể ảnh hưởngđến kết quả của các phương pháp hỗ trợ sinh sản

Trang 28

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là các cặp vợ chồng vô sinh, đangtrong độ tuổi sinh sản đến khám và được làm NST đồ tại trung tâm chẩn đoántrước sinh – bệnh viện Phụ Sản Trung Ương

Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu: Các bệnh nhân được lựachọn vào nghiên cứu phải đảm bảo đủ các tiêu chuẩn sau:

- Các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh sản đã được chẩn đoán là vô sinh(bao gồm cả vô sinh 1 và vô sinh 2)

- Được làm NST đồ

- Có hồ sơ ghi chép đầy đủ các thông tin cần thiết cho quá trình nghiên cứu.Tiêu chuẩn loại trừ: Các bệnh nhân sẽ bị loại trừ khỏi nghiên cứu khikhông đảm bảo một trong các yếu tố trên

2.2 Địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành tại Trung tâm chẩn đoán trước sinh - Bệnhviện phụ sản Trung Ương

2.3 Thời gian nghiên cứu

Nghiên cứu trong 2 năm 2018 và 2019

2.4 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu của chúng tôi thuộc loại nghiên cứu mô tả hồi cứu

2.5 Cỡ mẫu nghiên cứu

Chúng tôi tính toán cỡ mẫu nghiên cứu dựa trên công thức ước lượng tỷ

lệ của một nhóm nghiên cứu mô tả:

Trang 29

Trong công thức này:

- n: là cỡ mẫu nghiên cứu tối thiểu

- p là tỷ lệ mong đợi Trong nghiên cứu này chúng tôi lấy p = 0,0501(theo nghiên cứu của D Mierla 2015, tỷ lệ bất thường NST ở các bệnh nhân

vô sinh là 5,01%)

- Z1-α/2: Độ tin cậy ở mức xác suất 95% (bằng 1,96 tương ứng với mức α=0.05)

- ε: Là độ chính xác tương đối, trong nghiên cứu này chúng tôi lấy ε là 0,3.Thay các giá trị trên vào công thức chúng tôi tính được cỡ mẫu nghiêncứu tối thiểu cần đạt được là 810 bệnh nhân Trong nghiên cứu này của chúngtôi gồm 420 cặp vợ chồng vô sinh (840 bệnh nhân) thỏa mãn điều kiện về cỡmẫu nghiên cứu

2.6 Các bước nghiên cứu

- Thu thập bệnh án nghiên cứu: Chọn ra các bệnh án đủ tiêu chuẩn vàloại các bệnh án không đủ tiêu chuẩn

- Thu thập các thông tin cần thiết từ các bệnh án đã được chọn

- Tổng hợp, phân tích và xử lý các số liệu thu được

- Hoàn thiện đề tài và báo cáo kết quả thu được

2.7 Các biến số cần thu thâp và cách thu thập

- Tuổi của các cặp vợ chồng vô sinh: Thu thập từ bệnh án

- Loại vô sinh: Thu thập từ bệnh án nghiên cứu

- Đặc điểm bộ NST: Lấy từ kết quả NST đồ

Trang 30

Chương 3 KẾT QUẢ

Nghiên cứu của chúng tôi gồm 420 cặp vợ chồng (840 bệnh nhân) vôsinh I và vô sinh II được làm NST đồ tại Trung Tâm Chẩn Đoán Trước Sinh –Bệnh viện Phụ Sản Trung Ương từ năm 2018 dến hết năm 2019 Qua phântích số liệu chúng tôi thu được một số kết quả như sau

3.1 Đặc điểm chung của bệnh nhân nghiên cứu

3.1.1 Đặc điểm tuổi của bệnh nhân nghiên cứu

Bảng 3.1: Tuổi của bệnh nhân nghiên cứu

Số bệnhnhân (n) Tuổi trung bình P

Trang 31

• Tuổi trung bình của bệnh nhân vô sinh I và II lần lượt là 30,74 và 31,63.Trong khi đó tuổi bé nhất và lớn nhất ở bệnh nhân vô sinh I, II lần lượt là 24

và 41, 22 và 48

• Tuổi trung bình của nhóm bệnh nhân có NST bình thường, đa hình và bấtthường lần lượt là 31,71, 31 và 28,65 Trong đó tuổi bé nhất ở cả 3 nhóm đều

là 22 và tuổi lớn nhất ở 3 nhóm này lần lượt là 48, 45 và 37

3.1.2 Tỷ lệ các loại vô sinh

Bảng 3.2: Tỷ lệ các loại vô sinh

Loại vô sinh Số cặp vợ chồng Tỷ lệ %

• Bệnh nhân vô sinh II chiếm đa số với 395/420 cặp chiếm tỷ lệ 94%

3.1.3 Đặc điểm bộ NST của bệnh nhân nghiên cứu

Biểu đồ 3.1: Đặc điểm NST của bệnh nhân nghiên cứu Nhận xét:

• Trong số 840 bệnh nhân trong nghiên cứu có 771 bệnh nhân có bộ NST bìnhthường chiếm 91,8%

• Có 43/840 bệnh nhân có đa hình NST chiếm tỷ lệ 5,1%

• Có 26/840 bệnh nhân có bất thường NST chiểm tỷ lệ 3,1%

3.2 Các loại bất thường NST ở bệnh nhân nghiên cứu

3.2.1 Tỷ lệ bất thường NST ở bệnh nhân nghiên cứu

Bảng 3.3: Tỷ lệ bất thường NST ở bệnh nhân nghiên cứu

Trang 32

3.2.2 Tỷ lệ các loại bất thường NST ở bệnh nhân nghiên cứu

Biểu đồ 3.2: Tỷ lệ các loại bất thường NST ở bệnh nhân nghiên cứu Nhận xét:

• Chuyển đoạn tương hỗ là dạng bất thường NST thường gặp nhất với tỷ lệ69% (18/26)

• Có 3 bệnh nhân có chuyển đoạn hòa hợp tâm chiếm tỷ lệ 12% và có 5 bệnhnhân có lệch bội NST chiếm tỷ lệ 19%

Trang 33

3.2.4 Tỷ lệ các loại bất thường NST theo giới

Bảng 3.4: Tỷ lệ các loại bất thường NST theo giới

Lệch bội NST (%) Chuyển đoạn tươnghỗ (%) Chuyển đoạn hòahợp tâm (%)

Ngày đăng: 01/07/2020, 20:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. Mierla D., Malageanu M., Tulin R. et al (2015). Prevalence of chromosomal abnormalities in infertile couples in Romania . BJMG, 18(1), 23-30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: BJMG
Tác giả: Mierla D., Malageanu M., Tulin R. et al
Năm: 2015
12. Gersen S.L, Keagle M.B (2005). Human chromosome nomenclature. An overview and definition in terms. The Principles of ClinicalCytogenetics, 541-544 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Principles of Clinical "Cytogenetics
Tác giả: Gersen S.L, Keagle M.B
Năm: 2005
13. Zegers-Hochschild F., Adamson G.D, Mouzon J. et al (2009). The International Committee for Monitoring Assisted Reproductive Technology (ICMART) and the World Health Organization (WHO) Revised Glossary on ART Terminology. Human Reproduction, 24(11), 2683–2687 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Human Reproduction
Tác giả: Zegers-Hochschild F., Adamson G.D, Mouzon J. et al
Năm: 2009
14. Nguyễn Khắc Liêu (2002). Vô sinh, chẩn đoán và điều trị, NXB Y Học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vô sinh, chẩn đoán và điều trị
Tác giả: Nguyễn Khắc Liêu
Nhà XB: NXB Y Học
Năm: 2002
16. Phạm Văn Quyền (2000). Khám và làm bệnh án một cặp vợ chồng vô sinh, NXB Y Học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khám và làm bệnh án một cặp vợ chồng vôsinh
Tác giả: Phạm Văn Quyền
Nhà XB: NXB Y Học
Năm: 2000
18. Bộ môn Y Sinh Học – Di Truyền trường đại học Y Hà Nội (2010). Di truyền y học, NXB giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ditruyền y học
Tác giả: Bộ môn Y Sinh Học – Di Truyền trường đại học Y Hà Nội
Nhà XB: NXB giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
19. Lichtman L.A, Shafer J.A, Felga R.E (2016). Normal karyotype, Lichtman’s Atlas of Hematology, Mc Graw Hill Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lichtman’s Atlas of Hematology
Tác giả: Lichtman L.A, Shafer J.A, Felga R.E
Năm: 2016
20. Trịnh Văn Bảo (2010). Đột biến nhiễm sắc thể, sinh học, NXB Y học, Hà Nội, 155-166 Sách, tạp chí
Tiêu đề: sinh học
Tác giả: Trịnh Văn Bảo
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 2010
22. Elgin S.C (1996). Heterochromatin and gene regulation in Drosophila.Current opinion in genetics & development, 2, 193-202 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Current opinion in genetics & development
Tác giả: Elgin S.C
Năm: 1996
23. Trojer P., Reinberg D. (2007). Faculative heterochromatin: is there a distinctive molecular signature?. Molecular cell, 1 – 13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Molecular cell
Tác giả: Trojer P., Reinberg D
Năm: 2007
24. Lohe A.R, Hilliker A., Roberts P. et al (1993). Mapping simple repeated DNA sequences in heterochromatin of Drosophila melanogaster.Genetics, 134 (4), 1149 – 1174 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Genetics
Tác giả: Lohe A.R, Hilliker A., Roberts P. et al
Năm: 1993
25. Madon P.F, Athalye A.S and Parikh F.R (2005). Polymorphic variants on chromosomes probably play a significant role in infertility. Reproductive biomedicine onlie, 6, 726 – 732 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Reproductivebiomedicine onlie
Tác giả: Madon P.F, Athalye A.S and Parikh F.R
Năm: 2005
26. Grewal S. I, Jia S. (2007). Heterochromatin revisited. Nature reviews genetics, 35 – 46 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nature reviewsgenetics
Tác giả: Grewal S. I, Jia S
Năm: 2007
27. Wyandt H.E, Tonk V. (2012). Human chromosome variation:Heteromorphism and polymorphism, Springer Science & Business Media Sách, tạp chí
Tiêu đề: Human chromosome variation:"Heteromorphism and polymorphism
Tác giả: Wyandt H.E, Tonk V
Năm: 2012
28. Bhasin M. (2005). Human population cytogenetics: a review.International Journal of human genetics, (2), 83 Sách, tạp chí
Tiêu đề: International Journal of human genetics
Tác giả: Bhasin M
Năm: 2005
29. Hong Y., Zhou Y. W., Tao J. et al (2011). Do polymorphic variants of chromosomes affect the outcome of in vitro fertilization and embryo transfer treatment?. Human Reproducdion, (4), 933 – 940 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Human Reproducdion
Tác giả: Hong Y., Zhou Y. W., Tao J. et al
Năm: 2011
30. Kosyakova N., Grigorian A., Liehr T. et al (2013). Heteromorphic variants of chromosomes 9. Moleculer Cytogenetics, 6(1), 14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Moleculer Cytogenetics
Tác giả: Kosyakova N., Grigorian A., Liehr T. et al
Năm: 2013
31. Ran Cheng, Yaxian Ma, Ying Nie et al (2017). Chromosomal polymorphisms are associated with female infertility and adverse reproductive outcomes after infertility treatment: a 7-year retrospective study. Reproductive biomedicine online, 35(1), 72-80 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Reproductive biomedicine online
Tác giả: Ran Cheng, Yaxian Ma, Ying Nie et al
Năm: 2017
33. Mishail A. (2009). Impact of a second semen analysis on a treatment decision making in the infertile man with varicocele. 1809-1811 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Impact of a second semen analysis on a treatmentdecision making in the infertile man with varicocele
Tác giả: Mishail A
Năm: 2009
34. Lessy B. A. (2000). Medical management of endometriosis and infertility, 1089-1096 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Medical management of endometriosis andinfertility
Tác giả: Lessy B. A
Năm: 2000

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w