Nhận thức rõ vấn đề trên, nhiều chương trình tập huấn chocán bộ YTCS nhằm nâng cao kiến thức của các bác sĩ về chẩn đoán, xử trí một số bệnh thường gặp tại cộng đồng đã được xây dựng [5]
Trang 1Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo Đại học, Bộ môn Y học gia đình Trường Đại học Y Hà Nội đã quan tâm giúp đỡ em trong suốt quá trình học
tập 6 năm tại trường cũng như thời gian làm khóa luận tốt nghiệp.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS TS Nguyễn Phương Hoa – Phó Trưởng Bộ môn Y học gia đình, Th.S Thành Ngọc Tiến – giảng viên Bộ
môn Y học gia đình, đã hết lòng dạy dỗ, hướng dẫn, truyền thụ những kiến thức và kinh nghiệm quý báu, dìu dắt em trên con đường nghiên cứu khoa học
và trực tiếp hướng dẫn em hoàn thành khóa luận này.
Em xin cảm ơn các thầy, các cô trong Bộ môn Y học gia đình đã tận tâm chỉ bảo, giúp đỡ, động viên em trong những ngày đầu tiếp cận nghiên cứu khoa học.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các bác sĩ đã tham gia nghiên cứu này.
Cuối cùng em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè, những người đã luôn bên cạnh động viên em trong những lúc khó khăn nhất, giúp đỡ
em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu khoa học.
Khóa luận này không tránh khỏi có những sai sót, em kính mong nhận được những đóng góp ý kiến để khóa luận được hoàn thiện hơn.
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Phạm Khắc Khiêm
Trang 2Hội đồng chấm khóa luận tốt nghiệp
Bộ môn Y học gia đình Trường Đại học Y Hà Nội
Em là Phạm Khắc Khiêm, sinh viên tổ 6 lớp Y6B, hệ Bác sĩ đa khoa,khóa 2011 – 2017
Em xin cam đoan rằng đây là nghiên cứu của em, thực hiện dưới sựhướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Phương Hoa và Th.S Thành NgọcTiến Các số liệu, kết quả nêu trong khóa luận là trung thực, chính xác vàchưa được đăng tải trên bất kỳ một tạp chí khoa học nào
Nếu có gì sai sót em xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Phạm Khắc Khiêm
Trang 3BN Bệnh nhân
BSGĐ Bác sĩ gia đình
CSSKBĐ Chăm sóc sức khỏe ban đầu
DALY Disablity-Adjusted Life Year
(số năm sống điều chỉnh theo bệnh tật)
PKĐK Phòng khám đa khoa
TTYT Trung tâm y tế
WHO World Health Organization (Tổ chức Y tế Thế giới)YHGĐ Y học gia đình
Trang 4CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Chăm sóc sức khỏe ban đầu 3
1.1.1 Các khái niệm 3
1.1.2 Nội dung chăm sóc sức khỏe ban đầu 3
1.2 Hệ thống y tế Việt Nam 5
1.2.1 Cấu trúc hệ thống y tế 5
1.2.2 Mạng lưới y tế cơ sở 6
1.3 Thay đổi mô hình bệnh tật 9
1.3.1 Trên thế giới 9
1.3.2 Tại Việt Nam 11
1.4 Chăm sóc sức khỏe ban đầu theo nguyên lý Y học gia đình 12
1.4.1 Định nghĩa Y học gia đình 12
1.4.2 Các nguyên lý cơ bản của YHGĐ 12
1.4.3 Vai trò của BSGĐ trong thực hiện CSSKBĐ 14
1.5 Tình hình kiến thức về một số bệnh thường gặp của BSĐK 15
1.5.1 Trên thế giới 15
1.5.2 Tại Việt Nam 16
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 17
2.2 Đối tượng nghiên cứu 17
Trang 52.5 Nội dung nghiên cứu 17
2.6 Thu thập số liệu 17
2.7 Các biến số và chỉ số nghiên cứu 18
2.8 Sai số nghiên cứu 19
2.9 Phân tích số liệu 19
2.10 Đạo đức trong nghiên cứu 20
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 21
3.1 Đặc điểm chung của đối tượng tham gia nghiên cứu 21
3.2 Kiến thức đúng trước và sau tập huấn về một số bệnh thường gặp 23
3.3 Mức độ kiến thức đúng về một số bệnh thường gặp theo khu vực 26
3.4 Mức độ kiến thức đúng về một số bệnh thường gặp theo đơn vị công tác 29
3.5 Mức độ kiến thức đúng về một số bệnh thường gặp theo giới 31
CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 34
4.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 34
4.2 Kiến thức đúng trước và sau tập huấn về một số bệnh thường gặp 35
4.2.1 Kiến thức về bệnh tim mạch – chuyển hóa 35
4.2.2 Kiến thức về một số vấn đề sức khỏe ở trẻ em 36
4.2.3 Kiến thức về một số cấp cứu thường gặp 37
4.3 Mức độ kiến thức trước và sau tập huấn về một số bệnh thường gặp theo một số đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 39
Trang 64.3.2 Mức độ kiến thức trước và sau tập huấn về một số bệnh thường
gặp theo đơn vị công tác 404.3.3 Mức độ kiến thức trước và sau tập huấn về một số bệnh thường
gặp theo giới tính 41
KẾT LUẬN 42 KHUYẾN NGHỊ 44 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7Bảng 3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 21Bảng 3.2 Mức độ kiến thức đúng về một số bệnh thường gặp của các bác sĩ tại
Hà Nội 26Bảng 3.3 Mức độ kiến thức đúng về một số bệnh thường gặp của các bác sĩ tại
Phú Thọ 27Bảng 3.4 Mức độ kiến thức đúng trước tập huấn về một số bệnh thường gặp
theo khu vực 28Bảng 3.5 Mức độ kiến thức đúng sau tập huấn về một số bệnh thường gặp
theo khu vực 28Bảng 3.6 Mức độ kiến thức đúng về một số bệnh thường gặp của bác sĩ tại
trạm y tế 29Bảng 3.7 Mức độ kiến thức đúng về một số bệnh thường gặp của các bác sĩ tại
PK, TTYT 29Bảng 3.8 Mức độ kiến thức đúng trước tập huấn về một số bệnh thường gặp
theo đơn vị công tác 30Bảng 3.9 Mức độ kiến thức đúng sau tập huấn về một số bệnh thường gặp
theo đơn vị công tác 31Bảng 3.10 Mức độ kiến thức đúng của nam bác sĩ về một số bệnh thường gặp 31Bảng 3.11 Mức độ kiến thức đúng của nữ bác sĩ về một số bệnh thường gặp 32Bảng 3.12 Mức độ kiến thức đúng trước tập huấn về một số bệnh thường gặp
theo giới 32Bảng 3.13 Mức độ kiến thức đúng sau tập huấn về một số bệnh thường gặp
theo giới 33
Trang 8Biểu đồ 3.2 Kiến thức đúng về một số bệnh tim mạch và chuyển hóa 23 Biểu đồ 3.3 Kiến thức đúng về một số vấn đề sức khỏe ở trẻ em 24 Biểu đồ 3.4 Kiến thức đúng về một số cấp cứu thường gặp 25
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm gần đây, trên thế giới cũng như tại Việt Nam, mô hìnhbệnh tật có sự thay đổi rõ rệt, cụ thể là mô hình bệnh tật với các bệnh không lâynhiễm, hàng đầu là những bệnh như bệnh cơ tim thiếu máu, đột quỵ, đái tháođường, … ngày một trở nên phổ biến Điều này đã đặt ra thách thức mới chongành y tế nói chung cũng như các cán bộ làm công tác chăm sóc sức khỏe nóiriêng cần phải có mục tiêu, chiến lược chăm sóc sức khỏe cho người dân phùhợp với tình hình mới Bên cạnh đó, sự cải thiện rõ rệt về điều kiện kinh tế - xãhội, trình độ nhận thức cũng như mối quan tâm đến sức khỏe đã tác động khôngnhỏ tới sự thay đổi nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân khi đến với thầythuốc, người bệnh không chỉ đơn thuần muốn được chữa khỏi bệnh họ đang mắc
mà còn có nhu cầu chính đáng được chăm sóc sức khỏe liên tục, lâu dài cũngnhư giáo dục sức khỏe, dự phòng và nâng cao sức khỏe Những vấn đề trênmuốn được giải quyết thỏa đáng thì cần phải chú trọng phát triển công tác chămsóc sức khỏe ban đầu (CSSKBĐ) cho người dân
Y tế tuyến cơ sở là đơn vị đầu tiên tiếp xúc với bệnh nhân, nơi đảm nhậntrách nhiệm xử lý ban đầu các vấn đề sức khỏe của người dân và của cộng đồng
Ở các nước phát triển, bác sĩ gia đình (BSGĐ) là người đảm nhận trách nhiệmchính trong công tác CSSKBĐ [1],[2] và mô hình này đã thực sự đem lại nhiềuhiệu quả tích cực [3] Ở Việt Nam, mô hình BSGĐ thực hiện CSSKBĐ mớiđược triển khai ở một số cơ sở y tế Hiện nay, bác sĩ tại tuyến YTCS chủ yếu làcác bác sĩ đa khoa, tuy nhiên, trình độ chuyên môn của nhiều bác sĩ còn chưa đápứng được nhu cầu CSSK của người dân Kiến thức về chẩn đoán, xử trí một sốbệnh thường gặp của các bác sĩ tuyến YTCS còn thiếu và chưa đúng [4]
Trang 10Trong các giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả CSSK của y tế cơ sở, việc
ưu tiên phát triển nguồn nhân lực của y tế tuyến cơ sở cần phải được đặt lên hàngđầu Ngoài việc lập kế hoạch tổ chức, phân bổ nhân lực y tế cho tuyến cơ sở mộtcách hợp lý thì việc nâng cao chất lượng chuyên môn cho nhân lực y tế cũng cầnphải được chú trọng Nhận thức rõ vấn đề trên, nhiều chương trình tập huấn chocán bộ YTCS nhằm nâng cao kiến thức của các bác sĩ về chẩn đoán, xử trí một
số bệnh thường gặp tại cộng đồng đã được xây dựng [5] Tuy nhiên, hiện nayvẫn chưa có nhiều nghiên cứu về kiến thức của các bác sĩ tuyến YTCS về một sốbệnh thường gặp trước và sau các khóa tập huấn Vì những lý do trên, chúng tôi
tiến hành nghiên cứu “Kiến thức về một số bệnh thường gặp của bác sĩ tuyến
y tế cơ sở tại Hà Nội và Phú Thọ sau khi tham gia lớp tập huấn Y học gia
đình năm 2015” với mục tiêu:
So sánh kiến thức về một số bệnh thường gặp của bác sĩ tuyến y tế cơ sở tại Hà Nội và Phú Thọ trước và sau khi tham gia lớp tập huấn Y học gia đình năm 2015.
Trang 11CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Chăm sóc sức khỏe ban đầu
1.1.1 Các khái niệm
1.1.1.1 Sức khỏe
Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO): “Sức khỏe là trạng tháithoải mái toàn diện về thể chất, tinh thần và xã hội và không chỉ bao gồm tìnhtrạng không có bệnh hay thương tật”[6],[7],[8]
1.1.1.2 Chăm sóc sức khỏe ban đầu
Theo Tuyên ngôn của Hội nghị quốc tế về Chăm sóc sức khỏe ban đầu tổchức tại Alma-Ata năm 1978, chăm sóc sức khỏe ban đầu (CSSKBĐ) là “nhữngchăm sóc sức khỏe thiết yếu, dựa trên những phương pháp và kỹ thuật thực hành,đưa đến tận cá nhân và từng gia đình trong cộng đồng, được mọi người chấpnhận thông qua sự tham gia đầy đủ của họ, với giá thành mà họ có thể chấp nhậnđược nhằm đạt được mức sức khỏe cao nhất có thể được Chăm sóc sức khỏeban đầu nhấn mạnh đến những vấn đề sức khỏe chủ yếu của cộng đồng, đến tăngcường sức khỏe, phòng bệnh, chữa bệnh và phục hồi sức khỏe” [9]
1.1.2 Nội dung chăm sóc sức khỏe ban đầu
Theo tuyên ngôn của Hội nghị Alma-Ata 1978, nội dung CSSKBĐ gồm 8mục sau:
- Giáo dục sức khỏe nhằm thay đổi lối sống và thói quen không lành mạnh
- Cung cấp đầy đủ thực phẩm và dinh dưỡng hợp lý, đây là yếu tố cơ bảnảnh hưởng đến sức khỏe
Trang 12- Cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường.
- Chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em trong đó có kế hoạch hóa gia đình
- Tiêm chủng phòng chống 6 bệnh nhiễm trùng phổi biến ở trẻ em
- Phòng chống các bệnh dịch lưu hành phổ biến tại địa phương
- Điều trị hợp lý các bệnh và các vết thương thông thường
- Cung cấp các loại thuốc thiết yếu
Tổng kết 30 năm thực hiện Tuyên ngôn Alma Ata, năm 2008, Tổ chức Y tếthế giới đã khuyến cáo các quốc gia tiến hành cải cách CSSKBĐ với 4 nội dungchính hội tụ các giá trị cốt lõi của CSSKBĐ đó là:
- Cải cách bao phủ CSSK toàn dân nhằm nâng cao công bằng trong CSSK
- Cải cách cung ứng dịch vụ y tế làm cho HTYT hướng tới con người và lấycon người làm trung tâm
- Cải cách chính sách công cộng nhằm bảo vệ và nâng cao sức khỏe củacộng đồng, bảo đảm cộng đồng khỏe mạnh hơn thông qua việc lồng ghépcác hoạt động y tế công cộng với CSSKBĐ và hướng tới các chính sáchcông cộng có lợp cho sức khỏe mang tính liên ngành
- Cải cách sự lãnh đạo: Thay vì sử dụng quá mức phương pháp hành chínhmệnh lệnh, hoặc phó mặc thị trường bằng hình thức lãnh đạo toàn diện, có
sự tham gia của cộng đồng và các bên liên quan, thì làm cho cơ quan y tếđáng tin cậy hơn
Việc xây dựng hệ thống y tế lấy CSSKBĐ làm nền tảng đang được tiếnhành ở nhiều nước trên thế giới [10],[11],[12],[13] và là một xu hướng chung đểnâng cao tính hiệu quả, khả năng tiếp cận, chất lượng của dịch vụ với mức chi trả
có thể chấp nhận, hướng tới bao phủ CSSK toàn dân
Trang 131.2 Hệ thống y tế Việt Nam
1.2.1 Cấu trúc hệ thống y tế
Theo định nghĩa của Tổ chức Y Tế Thế giới đưa ra năm 2007: “Hệ thống y
tế (HTYT) là một phức hợp bao gồm con người, các tổ chức và nguồn lực đượcsắp xếp và liên kết với nhau bởi các chính sách nhằm thúc đẩ, phục hồi và duy trìsức khỏe Nó còn bao gồm các nỗ lực để tác động tới các yếu tố liên quan đếnsức khỏe và các hoạt động cải thiện sức khỏe HTYT bao gồm các cơ sở y tếcông lập, y tế tư nhân, chương trình y tế, các chiến dịch kiểm soát véc-tơ truyềnbệnh, bảo hiểm y tế, các quy định pháp luật về sức khỏe và an toàn nghề nghiệp,
và các hoạt động liên ngành giữa ngành y tế và các ngành khác [14] ,[15]
Hình 1.1 Sơ đồ hệ thống y tế Việt Nam
Y tế cơ sở
• BYT
• BVĐK và chuyên khoa TƯ
Trang 14Theo cách phân chia địa lý hành chính, hệ thống y tế ở Việt Nam được chiathành 4 cấp:
Tuyến trung ương: Bộ Y tế là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng
quản lý nhà nước về y tế
Tuyến tỉnh: Sở Y tế là cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương có chức năng tham mưu, giúp đỡ UBND cấp tỉnh thựchiện chức năng quản lý nhà nước về chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân
Tuyến huyện: Phòng Y tế là cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện
có chức năng tham mưu giúp UBND cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhànước về y tế trên địa bàn huyện
Tuyến xã: Trạm Y tế có nhiệm vụ thực hiện các dịch vụ chăm sóc sức khỏe
ban đầu, phát hiện dịch sớm và phòng chống dịch bệnh, chăm sóc sức khỏe banđầu và đỡ đẻ thông thường, cung ứng thuốc thiết yếu, vận động nhân dân thựchiện các biện pháp kế hoạch hóa gia đình, tăng cường sức khỏe
1.2.2 Mạng lưới y tế cơ sở
“Mạng lưới y tế cơ sở (YTCS) bao gồm y tế thôn, bản, xã, phường, quận,huyện, thị xã; bao gồm cả y tế công lập và y tế tư nhân Đó là hệ thống các tổchức, thiết chế y tế trên địa bàn huyện, có sự kết nối hữu cơ giữa các cơ sở y tếtuyến xã với tuyến huyện, để thực hiện CSSK dựa trên những nguyên tắc và giátrị của CSSKBĐ” [16]
Khái niệm này tương đương với khái niệm “hệ thống y tế huyện” đangđược sử dụng ở nhiều quốc gia [17]
Trang 151.2.2.1 Thực trạng tổ chức mạng lưới YTCS ở Việt Nam
Mạng lưới YTCS bao phủ rộng khắp với 460 trên tổng số 693 huyện, quận
có mô hình chia tách riêng bệnh viện đa khoa (BVĐK) huyện và trung tâm y tế(TTYT) huyện chỉ thực hiện chức năng y tế dự phòng và quản lý trực tiếp trạm y
tế (TYT) xã Có 233 TTYT huyện ở 19 tỉnh, thành phố thực hiện 2 chức năng y
tế dự phòng và KCB 668/693 huyện ở 62/63 tỉnh có Trung tâm Dân số - Kếhoạch hóa gia đình, chiếm 96,4%; 24/693 huyện ở 4/63 tỉnh đã thành lập chi cục
vệ sinh an toàn thực phẩm, chiếm 3,5% Trên toàn quốc, có 99% xã, phường, thịtrấn đã có nhà trạm; 78% TYT xã có bác sĩ làm việc (bao gồm cả các xã có bác
sĩ làm việc từ 3 ngày/tuần trở lên); 96% TYT xã có nữ hộ sinh hoặc y sĩ sản nhi;78% thôn, bản, tổ dân phố trong cả nước đã có nhân viên y tế hoạt động, trong
đó tỷ lệ này là 95,9% số thôn bản ở khu vực nông thôn, miền núi [18]
Mô hình phòng khám BSGĐ đang được phát triển ở nhiều địa phương trên
cả nước Đến tháng 12/2015, đã thành lập được 240 phòng khám BSGĐ tại 6tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Đến năm 2017, chỉ riêng Hà Nội đã có
103 phòng khám BSGĐ
Số lượng cán bộ y tế đã tăng rõ rệt từ 364.876 người (năm 2009) lên424.237 người (2013), trong đó có cán bộ y tế làm việc tại tuyến cơ sở tăng từ271.196 cán bộ lên 360.174 cán bộ Số bác sĩ trên 10.000 dân tăng từ 7,2 lên7,61 Bên cạnh đó, chất lượng của đội ngũ y tế tuyến cơ sở cũng được nâng cao,
số bác sĩ có trình độ đại học tăng từ 7.439 người lên 8.090 người [19],[20] Sựgia tăng về số lượng nhân lực y tế tại tuyến huyện đạt mức cao nhất trong giaiđoạn 5 năm gần đây gắn liền với quá trình thực thi chủ trương đưa bác sĩ về xã,
Trang 16nâng cấp, xây dựng các bệnh viện đa khoa huyện và sắp xếp lại mô hình tổ chứccủa các đơn vị y tế tuyến huyện.
1.2.2.2 Vai trò của y tế cơ sở trong CSSKBĐ
Trong những năm qua, YTCS luôn thể hiện rõ vai trò then chốt của mìnhtrong công CSSK người dân nói chung và CSSKBĐ nói riêng Trên cả nước, cácdịch vụ CSSKBĐ được mở rộng tại các cơ sở y tế tuyến xã và huyện Cácchương trình YTDP và các chương trình mục tiêu y tế quốc gia được triển khai
và đạt những kết quả nhất định Cụ thể là:
- Chương trình phòng chống các dịch, bệnh lây nhiễm đã duy trì và kiểmsoát tốt các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, không để các vụ dịch lớn xảy ra[21]
- Đã triển khai một số hoạt động phòng chống và quản lý các bệnh khônglây nhiễm, như bệnh tim mạch, tiểu đường, ung thư, tâm thần trong mạnglưới YTCS, đạt được kết quả ban đầu [16] Các hoạt động triển khai thựchiện luật phòng chống tác hại của thuốc lá cũng đã bước đầu được thựchiện ở tuyến YTCS ở một số địa phương
- Công tác Dân số - kế hoạch hóa gia đình và CSSK sinh sản: Tính đến năm
2014, đã hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch giao về số bà mẹ được sàng lọctrước sinh, số trẻ sơ sinh được sàng lọc, số mới sử dụng các biện pháptránh thai như đặt vòng tránh thai, cấy thuốc tránh thai, dùng viên uốngtránh thai và sử dụng bao cao su Các chỉ tiêu CSSK bà mẹ trẻ em đượccải thiện và đạt mức kế hoạch đề ra vào năm 2014 [16]
- Công tác vệ sinh môi trường và nâng cao sức khỏe cũng đã được đưa vàocác chương trình mục tiêu quốc gia như Chương trình nước sạch và vệ
Trang 17sinh môi trường nông thôn giai đoạn 2012 – 2015; Chương trình Quốc gia
và Kế hoạch chương trình quốc gia về an toàn vệ sinh lao động giai đoạn
2011 – 2015; Dự án vệ sinh nông thôn thuộc Chương trình mục tiêu quốcgia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn giai đoạn 2012 – 2015
Về dịch vụ khám chữa bệnh, người dân đã tiếp cận và sử dụng nhiều hơncác dịch vụ khám chữa bệnh tại mạng lưới YTCS, nhờ việc thực hiện một số giảipháp nâng cấp và cải thiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị, tài chính Một số dịch
vụ kỹ thuật, thuốc thuộc tuyến trên cũng đã dần được triển khai tới tận tuyếnhuyện, xã Kết quả là có sự gia tăng đáng kể việc sử dụng dịch vụ KCB tại bệnhviện đa khoa huyện, phòng khám đa khoa khu vực và TYT xã [22],[23],[18].Trên địa bàn Hà Nội, về công tác khám chữa bệnh, trong 9 tháng đầu năm
2016, YTCS đã thu hút số lượng lớn bệnh nhân đến khám và điều trị Mô hìnhphòng khám BSGĐ vẫn tiếp tục được triển khai thực hiện tại các trạm y tế,phòng khám đa khoa, bệnh viện huyện [24]
1.3 Thay đổi mô hình bệnh tật
1.3.1 Trên thế giới
Theo các số liệu thống kê của WHO, trong giai đoạn tử 2000 đến 2015, môhình bệnh tật trên thế giới, trong đó có Việt Nam, đã có sự chuyển biến rõ rệt Cụthể, tử vong do bệnh không lây nhiễm đã tăng từ 60,2% năm 2000 lên 70% năm
2015 Trong khi đó, tử vong do bệnh lây nhiễm, bệnh của người mẹ, tử vong chusinh và các bệnh về dinh dưỡng có chiều hướng giảm từ 31% năm 2000 xuốngcòn 21,2% năm 2015 tuy nhiên vẫn còn ở mức cao tạo nên gánh nặng bệnh tậtkép cho các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam [25]
Trang 18Năm 2015, trên thế giới có hơn 56 triệu ca tử vong, trong đó tử vong do cácbệnh không lây nhiễm là trên 39,5 triệu ca, chiếm tỉ lệ 70,0%, trong khi đó, tửvong do bệnh lây nhiễm, thai sản, tử vong chu sinh và bệnh lý dinh dưỡng là gần
12 triệu ca, chiếm tỉ lệ 21,2% Trong đó, các nguyên nhân tử vong hàng đầu làbệnh cơ tim thiếu máu, đột quỵ, nhiễm trùng đường hô hấp dưới, bệnh phổi tắcnghẽn mạn tính, ung thư khí quản, phế quản, phổi, đái tháo đường, bệnhAlzheimer và các bệnh tâm thần khác …[25]
Các nước đang phát triển đang chịu gánh nặng bệnh tật kép của cả các bệnhlây nhiễm và không lây nhiễm một cách trầm trọng Tại các nước đang phát triểnnăm 2002, trong số các ca tử vong do các bệnh lây nhiễm, ba phần tư xảy ra ởcác nước châu Phi và khu vực Đông Nam Á Tại các nước châu Phi, 72% số ca
tử vong do các bệnh lây nhiễm, thai sản và dinh dưỡng, 21% số ca tử vong docác BKLN; tử vong do tai nạn thương tích chiếm 7% tổng số tử vong Trong đó,các bệnh lây nhiễm là nguyên nhân gây tử vong và tàn tật ở châu Phi gồm nhiễmkhuẩn đường hô hấp, tiêu chảy, sốt rét và lao là những nguyên nhân nhiễmkhuẩn lớn nhất gây ra 13 triệu ca tử vong mỗi năm Tại khu vực Đông Nam Á, tỷ
lệ tử vong do các bệnh lây nhiễm, thai sản và dinh dưỡng chiếm 39%, do cácBKLN chiếm 51% và do tai nạn thương tích là 10% Năm 2007, trong số 45 triệu
ca tử vong do các BKLN có 80% xảy ra tại các nước đang phát triển Gánh nặngcủa bệnh không lây nhiễm ngày càng cần được quan tâm ở các nước đang pháttriển [26]
Ở các nước phát triển, nhiều nước đã nghiên cứu mô hình bệnh tật như Hoa
Kỳ, Canada, Anh… Do nền kinh tế phát triển, mô hình bệnh tật của Hoa Kỳ làđặc trưng đại diện cho mô hình bệnh tật của các nước phát triển với tỷ lệ mắc
Trang 19cao nhất năm 2010 thuộc về các bệnh nhồi máu cơ tim, bệnh phổi tắc nghẽn mạntính, ung thư phổi, các bệnh thoái hóa khớp, đái tháo đường, đột quỵ,… Cácbệnh lây nhiễm không còn thấy xuất hiện trong 30 mặt bệnh mắc phổ biến nhấtcủa Hoa Kỳ [27].
1.3.2 Tại Việt Nam
Gánh nặng bệnh tật của Việt Nam đã có sự thay đổi rõ rệt, các bệnh khônglây nhiễm (BKLN) trở nên chiếm ưu thế và được dự báo sẽ tiếp tục tăng trongthời gian tới Tỷ trọng những người tử vong do BKLN trong tổng số tử vong đãtăng từ 56% năm 1990 lên 72% năm 2010 Trong đó, bệnh tim mạch chiếm 30%tổng số trường hợp tử vong, ung thư chiếm 21%, bệnh đường hô hấp mạn tínhchiếm 6%, bệnh đái tháo đường chiếm 3%, bệnh tâm thần – thần kinh chiếm 2%[28] Năm 2012, BKLN chiếm 72,9% tổng số tử vong, 66,2% tổng số DALY và59,7% tổng số năm sống mất đi do tử vong sớm Gánh nặng của các BKLN gây
ra bởi các nhóm bệnh chính là bệnh tim mạch, ung thư, bệnh phổi tắc nghẽn mạntính và đái tháo đường [16]
Hiện nay, Việt Nam đang phải chịu gánh nặng kép về bệnh tật: trong khinhóm bệnh lây nhiễm tuy đã giảm nhưng vẫn còn nhiều thách thức thì nhómBKLN với sự gia tăng những yếu tố nguy cơ thúc đẩy sự phát triển của nó đangtrở thành thách thức to lớn đối với hệ thống y tế Việt Nam [29] Sự gia tăng củacác BKLN không chỉ gây nên gánh nặng về bệnh tật và kinh tế cho cả bản thânbệnh nhân và gia đình của họ mà còn tạo nên gánh nặng về kinh tế cho toàn xãhội [28],[30] Tác động của gánh nặng bệnh tật do các BKLN ở Việt Nam cầnphải được đặc biệt quan tâm trong thời gian tới vì vẫn còn nhiều vấn đề cần đượcgiải quyết như việc gia tăng BKLN ở cả các vùng thành thị và nông thôn, nhận
Trang 20thức của người dân về BKLN còn hạn chế, vấn đề gánh nặng tài chính do cácBKLN gây ra cho các hộ gia đình nghèo, bên cạnh đó là sự đầu tư của Nhà nướccho công tác kiểm soát, phòng chống các BKLN chưa tương xứng với gánh nặngbệnh tật Một yếu tố nữa là năng lực của hệ thống y tế, nhất là mạng lưới YTCStrong việc quản lý bệnh và các yếu tố nguy cơ của BKLN, khả năng cung ứngcác dịch vụ khám và điều trị BKLN còn hạn chế [28].
1.4 Chăm sóc sức khỏe ban đầu theo nguyên lý Y học gia đình
1.4.1 Định nghĩa Y học gia đình
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO): “BSGĐ là thầy thuốc thực hành lâm sàng cóchức năng cơ bản là cung cấp dịch vụ CSSK trực tiếp và liên tục cho các thànhviên trong hộ gia đình BSGĐ tự chịu trách nhiệm cung cấp toàn bộ các chămsóc y tế hoặc hỗ trợ cho các thành viên của hộ gia đình tiếp cận và sử dụng cácdịch vụ khác”
Hiệp hội Bác sĩ gia đình Thế giới (WONCA): “BSGĐ là những thầy thuốcchịu trách nhiệm chăm sóc sức khỏe toàn diện và liên tục cho tất cả các cá nhântrong bối cảnh gia đình, cho các gia đình trong bối cảnh cộng đồng, không phânbiệt tuổi, giới, chủng tộc, bệnh tật cũng như điều kiện văn hóa và tầng lớp xãhội”
1.4.2 Các nguyên lý cơ bản của YHGĐ
Một là, CSSK liên tục: Trong YHGĐ, các bác sĩ xây dựng được một mối
quan hệ lâu dài với từng cá nhân thay vì chỉ tập trung vào bệnh tật của họ Điềunày cho phép các bác sĩ gia đình có thể tác động một cách liên tục lên tình trạngsức khỏe của từng cá thể
Trang 21Hai là, CSSK toàn diện: Trong quá trình quản lý và CSSK cho bệnh nhân,
người bác sĩ không chỉ xem xét bệnh nhân dưới góc độ sinh học mà còn phảixem xét cả về mặt xã hội và tâm lý
Ba là, CSSK phối hợp: Việc CSSK phối hợp sẽ giúp hoàn thành tốt chứcnăng quan trọng của BSGĐ là quản lý sức khỏe của bệnh nhân theo thời gian.Bên cạnh đó, BSGĐ còn cần có mạng lưới liên kết với các bác sĩ chuyên khoa đểđảm bảo chất lượng dịch vụ chăm sóc và hạn chế thấp nhất các tai biến y khoa.Vai trò của bác sĩ gia đình trong mạng lưới này là người điều phối, xây dựng kếhoạch chăm sóc lồng ghép, cung cấp các thông tin về tình trạng sức khỏe củabệnh nhân trong quá trình chẩn đoán cũng như điều trị bệnh
Bốn là, quan tâm đến dự phòng: Công tác dự phòng là một vấn đề quantrọng trong thực hành YHGĐ đối với cá nhân và cộng đồng, đồng thời cũng làmột trong những công cụ mạnh mẽ của bác sĩ gia đình nhằm nâng cao tình trạngsức khỏe cho người dân Nó được dựa trên nguyên lý đơn giản: dự phòng bệnhtật trước khi nó thực sự diễn ra và dự phòng các biến chứng của bệnh
Năm là, hướng gia đình: Do các BSGĐ cần cung cấp một chương trìnhCSSK toàn diện cho tất cả thành viên trong gia đình nên cần nhìn nhận bệnhnhân trong bối cảnh gia đình, áp dụng cách tiếp cận gia đình trong chăm sócbệnh nhân
Sáu là, hướng cộng đồng: Sự hiểu biết về mô hình bệnh tật trong cộng đồng
sẽ ảnh hưởng đến định hướng chẩn đoán của bác sĩ và giúp đưa ra những quyếtđịnh liên quan đến việc cung ứng dịch vụ [31]
Trang 221.4.3 Vai trò của BSGĐ trong thực hiện CSSKBĐ
Ngay từ khi ra đời, vào năm 1960, chuyên ngành YHGĐ với các bác sĩ đakhoa thực hiện công tác CSSKBĐ đã khẳng định được vị trí và vai trò tích cựckhông thể thiếu trong HTYT bằng những thành tích đáng được ghi nhận trongcông tác CSSK người dân
Ở Hoa Kỳ, trong năm 2008, có 62% trong tổng số 1,1 tỷ lượt khám cấp cứuđược thực hiện bởi các nhân viên y tế CSSKBĐ trong đó BSGĐ chiếm gần 25%.Bên cạnh đó, cứ có 46 BSGĐ/100.000 dân sẽ giảm được 81 triệu đô-la/năm chiphí cho y tế, chi phí cho y tế sẽ giảm nhiều hơn nếu có 100 BSGĐ/100.000 dân
sẽ giảm được 579 triệu đô-la/năm Với những giá trị mà các bác sĩ CSSKBĐđem lại thì đầu tư cho phát triển BSGĐ là sự lựa chọn đúng đắn [2]
Tại Cu-Ba, nơi được coi là hình mẫu cho phát triển mô hình BSGĐ ở cácnước đang phát triển Liên tục trong 4 năm qua, tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh ởmức thấp nhất thế giới (6 ca tử vong sơ sinh/1000 trẻ dưới 1 tuổi, trong đó năm
2015 là 0,43%) Tuổi thọ trung bình của người dân Cu-Ba cũng không ngừngđược nâng cao và hiện đang ở mức xấp xỉ 81 tuổi với nữ giới và 79 tuổi ở namgiới [3] Điều đó cho thấy với trình độ chuyên môn tốt, BSGĐ tại Cu-Ba đãmang lại cho người dân nơi đây tình trạng sức khỏe tương đương với các nướcphát triển
Theo báo cáo của The College of Family Physicians of Canada, hơn 90%người dân Canada cho biết họ sẽ đến gặp BSGĐ đầu tiên nếu họ có vấn đề vềsức khỏe; 66% người dân Canada cho rằng, BSGĐ là người CSSK quan trọngnhất mà họ cần phải gặp Cũng theo báo cáo của trường đại học này, trung bình,
cứ có thêm 1 BSGĐ trên 10.000 dân sẽ giảm tỷ lệ tử vong 5,3% và có 88%
Trang 23người dân Canada cho biết, BSGĐ giúp họ an tâm hơn trong việc tiếp cận cácdịch vụ chăm sóc trong hệ thống y tế một cách kịp thời và nhanh chóng [1].
1.5 Tình hình kiến thức về một số bệnh thường gặp của BSĐK
1.5.1 Trên thế giới
Kiến thức về một số bệnh, cấp cứu thường gặp của các bác sĩ tuyến cơ sở ởnhiều nơi trên thế giới vẫn còn kém, tỷ lệ các bác sĩ có kiến thức đúng về cácbệnh thường gặp như THA, một số vấn đề về nhi khoa, … nói chung còn thấp.Sốt là một triệu chứng rất thường gặp ở trẻ em và là một trong những lý do phổbiến nhất khiến một em bé phải đến gặp bác sĩ Từ năm 1980, Schmitt đã bànluận về sự hiểu biết sai lầm và nỗi lo lắng của các bậc phụ huynh đối với sốt ởtrẻ em và ông chỉ ra rằng, các bác sĩ cũng góp phần vào việc gây nên nỗi sợ hãinày bằng việc cung câp những kiến thức không đầy đủ và rõ ràng tới cha mẹ củanhững đứa trẻ về kiến thức và xử trí sốt [32] Theo một nghiên cứu được công bốtrên Tạp chí Nhi khoa Ytalia, trong số các bác sĩ làm công tác CSSKBĐ tại cáctỉnh có dân số khoảng 600.000 người cho thấy, tỷ lệ các bác sĩ có kiến thức đúng
về chẩn đoán và điều trị sốt ở trẻ em vẫn còn thấp, chỉ 10% số bác sĩ được phỏngvấn hiểu đúng định nghĩa sốt, chỉ có một tỷ lệ rất thấp các bác sĩ (7,5%) được trảiqua đào tạo kiến thức về sốt sau khi tốt nghiệp và chỉ có 27,5% các bác sĩ khẳngđịnh rằng họ có đọc các bài viết có liên quan đến sốt trong vòng 6 tháng trở lại[33] Theo một nghiên cứu khác tại một tỉnh của Iran, tỷ lệ bác sĩ tuyến cơ sởchẩn đoán đúng THA rất thấp chỉ chiếm 12% [34]; theo một nghiên cứu khác ởTrung Quốc, chỉ có 15,2% bác sĩ nội khoa và tâm thần; 7,2% bác sĩ các chuyênkhoa khác có kiến thức đúng về chẩn đoán và điều trị THA [35] Trong mộtnghiên cứu của Maryam Peimani và các cộng sự, tỷ lệ các bác sĩ đa khoa có kiếnthức đúng về tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường chỉ đạt 50% [36]
Trang 241.5.2 Tại Việt Nam
Trong vài năm trở lại đây, ngành y tế đã đạt được những thành tựu đáng kểtrong nhiều lĩnh vực quản lý, trang thiết bị y tế cũng như hoạt động khám chữabệnh nhằm nâng cao chất lượng phục vụ nhân dân Đóng góp không nhỏ vàonhững thành tựu đó là hoạt động tích cực của tuyến YTCS Tuy nhiên, hiện naynhân lực y tế tại tuyến YTCS vừa thiếu lại vừa yếu Theo nghiên cứu đánh giáthực trạng công tác đào tạo nhân lực y tế của Cục Khoa học, Công nghệ và Đàotạo – Bộ Y tế phối hợp với Trường Đại học Y Hà Nội, trường Đại học Y tế côngcộng và trường Đại học Điều dưỡng công bố năm 2012, đánh giá sinh viên sau ratrường: 45% biết phát hiện sớm xử trí hợp lý ban đầu các dịch bệnh; 50,9% cóthể thực hiện được một số thủ thuật, kỹ thuật y khoa đơn giản; 37,6% có khảnăng theo dõi và quản lý bệnh mạn tính tại cộng đồng [4] Theo nghiên cứu củaViện Chiến lược và Chính sách y tế (2013), tỷ lệ chẩn đoán và xử trí đúng cácbệnh thường gặp của bác sĩ đa khoa tuyến y tế cơ sở còn thấp, nhiều bệnh đạtdưới 50%
Bảng 1.1 Một số kiến thức của bác sĩ đa khoa và y sỹ tại tuyến y tế cơ sở
Kiến thức và kỹ năng Bác sỹ (%) Y sỹ (%) Cộng (%)
Chẩn đoán bệnh hô hấp ở trẻ em 43,2 45.1 44,6Biết các dấu hiệu nguy hiểm ở phụ nữ mang thai 23,5 14,6 16,9
(Nguồn: Nghiên cứu của Viện Chiến lược và Chính sách Y tế - 2013)
Trang 25CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành tại 2 tỉnh/thành phố là Hà Nội và Phú Thọ
Thời gian tiến hành thu thập thông tin: năm 2015
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Các bác sĩ đa khoa công tác ở tuyến y tế cơ sở: trạm y tế (TYT), phòngkhám đa khoa (PK) và trung tâm y tế (TTYT) tại Hà Nội và Phú Thọ tham gialớp tập huấn 3 tháng về chăm sóc sức khỏe ban đầu theo nguyên lý YHGĐ trongnăm 2015
2.2 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang
2.3 Mẫu nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện trên 159 bác sĩ đa khoa công tác ở tuyến y tế cơ
sở tại Hà Nội và Phú Thọ tham gia các lớp tập huấn YHGĐ trong năm 2015
2.4 Nội dung nghiên cứu
Trong nghiên cứu này chỉ tìm hiểu một số kiến thức của bác sĩ đa khoa vềcác bệnh thường gặp tại cộng đồng
Trang 262.6 Các biến số và chỉ số nghiên cứu
STT Biến số nghiên cứu Loại biến Phương pháp thu thập
1 Thông tin chung
Địa danh Nhị phân Bộ câu hỏi tựtrả lờiTuổi Rời rạc Bộ câu hỏi tựtrả lờiThâm niên công tác Rời rạc Bộ câu hỏi tựtrả lờiĐơn vị công tác Danh mục Bộ câu hỏi tựtrả lờiGiới Nhị phân Bộ câu hỏi tựtrả lời
THA Nhị phân Bộ câu hỏi tựtrả lờiTiêu chuẩn chẩn đoán
ĐTĐ Nhị phân Bộ câu hỏi tựtrả lờiMục tiêu điều trị rối loạn
lipid máu ở BN tim mạch Nhị phân Bộ câu hỏi tựtrả lời
thở Nhị phân Bộ câu hỏi tựtrả lờiĐánh giá tuần hoàn trong
cấp cứu Nhị phân Bộ câu hỏi tựtrả lời
Cố định cột sống cổ trongcấp cứu chấn thương Nhị phân Bộ câu hỏi tựtrả lờiLựa chọn dịch truyền trong
cấp cứu chấn thương Nhị phân Bộ câu hỏi tựtrả lời
Trang 27Nguyên tắc sơ cứu gãy
xương Nhị phân Bộ câu hỏi tựtrả lời
Mức độ kiến thức của các bác sĩ về một số bệnh thường gặp:
Đánh giá mức độ kiến thức về mỗi lĩnh vực: một số bệnh tim mạch và chuyển hóa, một số vấn đề sức khỏe ở trẻ em và một số cấp cứu thường gặp, tính
điểm cho mỗi câu đúng là 1 điểm, câu sai 0 điểm Điểm cho từng lĩnh vực làtổng số điểm đạt được khi trả lời các câu hỏi thuộc lĩnh vực đó
2.7 Sai số nghiên cứu
Sai số lựa chọn: Chọn mẫu có chủ đích (các bác sĩ đa khoa tham gia khóa
học) có thể sẽ không đại diện cho toàn bộ quần thể Việc khống chế sai số đòihỏi phải được chọn mẫu ngẫu nhiên Tuy nhiên, trong khuôn khổ của một nghiêncứu tốt nghiệp của sinh viên Y6, đây là điều khó khăn
Sai số báo cáo: Đối tượng nghiên cứu được phỏng vấn bằng bộ câu hỏi tự
điền trước khi tham gia khóa học có thể tham khảo ý kiến lẫn nhau Sai số nàyđược hạn chế bằng việc giải thích rõ ràng mục đích điều tra, học viên không phảiđiền tên vào phiếu trả lời và có giảng viên giám sát trong suốt quá trình hoànthành phiếu
Đánh giá mức độ kiến thức theo các tiêu chí địa lý, vị trí công tác, giới:kiểm định T – test so sánh 2 trung bình; giá trị trung bình là số câu trả lời đúng
Trang 28trung bình trong từng nhóm kiến thức tim mạch – chuyển hóa (tổng có 5 câu),nhi khoa (tổng có 3 câu), cấp cứu (tổng có 6 câu)
2.9 Đạo đức trong nghiên cứu
Nghiên cứu được sự đồng ý của Bộ môn Y học gia đình Trường Đại học Y
Hà Nội
Các đối tượng tham gia nghiên cứu được giải thích về mục đích điều tra thuthập thông tin, nội dung thông tin cần thu thập, tự nguyện đồng ý tham gia, đượcgiữ bí mật và chỉ được sử dụng phục vụ cho mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu này chỉ sử dụng phương pháp thu thập số liệu qua bộ câu hỏithiết kế sẵn nên không gây tác hại cho các đối tượng tham gia nghiên cứu
Trang 29CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 1.1 Đặc điểm chung của đối tượng tham gia nghiên cứu
Bảng 3.2 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Trong số 159 bác sĩ tham gia nghiên cứu:
Số bác sĩ công tác tại Hà Nội là 117 người (chiếm tỷ lệ 73,6%) cao hơn sovới số bác sĩ công tác tại Phú Thọ là 42 người (chiếm tỷ lệ 26,2%)
Các bác sĩ công tác tại trạm y tế là 96 người (chiếm tỷ lệ 60,4%) cao hơn sovới các bác sĩ công tác tại phòng khám và trung tâm y tế là 63 người (chiếm tỉ lệ39,6%)
Tuổi trung bình của các bác sĩ là 43,7 ± 7,3 Trong số đó, các bác sĩ ở nhóm
từ 30 đến 49 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất 75,5%, nhóm từ 50 tuổi trở lên chiếm tỷ lệ
Trang 3019,5% đứng thứ 2, nhóm tuổi dưới 30 tuổi chiếm tỉ lệ thấp nhất 5,0% Người trẻtuổi nhất là 25 tuổi, cao tuổi nhất là 60 tuổi.
Thâm niên công tác trung bình là 18,3 năm, trong đó thấp nhất là 1 năm,cao nhất là 35 năm Số bác sĩ có thâm niên công tác 20 năm chiếm tỉ lệ cao nhất
Biểu đồ 3.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo giới tính
Số nam bác sĩ chiếm tỉ lệ 52,8%, số nữ bác sĩ chiếm tỷ lệ 47,2%
Trang 313.1 Kiến thức đúng trước và sau tập huấn về một số bệnh thường gặp
0 20 40 60 80 100