Cũng như các phương pháp dạy học tích cực khác, phương pháp dạy học “Bàntay nặn bột” coi học sinh là trung tâm của quá trình nhận thức, chính các em làngười phán đoán , thực hành thí n
Trang 1(BTNB) trong dạy học môn TNXH lớp 1;2;3 và môn khoa học lớp 4;5 còn rất mới
mẻ với cả giáo viên và học sinh Khi thực hành dạy - học theo phương pháp này, cảthầy và trò đều gặp rất nhiều khó khăn Với thực trạng đó tôi đã tiến hành thực hiện
đề tài: “Góp phần khắc phục một số khó khăn trong dạy học môn khoa học lớp
4 theo phương pháp “Bàn tay nặn bột” ở đơn vị tôi đang công tác.
Cũng như các phương pháp dạy học tích cực khác, phương pháp dạy học “Bàntay nặn bột” coi học sinh là trung tâm của quá trình nhận thức, chính các em làngười phán đoán , thực hành thí nghiệm để tìm ra câu trả lời và lĩnh hội kiến thức
đó dưới sự giúp đỡ của giáo viên
Mục tiêu của phương pháp “Bàn tay nặn bột ” là tạo nên tính tò mò, ham muốn
khám phá, yêu và say mê khoa học của học sinh Ngoài việc chú trọng đến kiến
thức khoa học, phương pháp “Bàn tay nặn bột ” còn chú ý nhiều đến việc rènluyện kỹ năng diễn đạt thông qua ngôn ngữ nói và viết cho học sinh
Để đạt được mục tiêu của phương pháp “Bàn tay nặn bột ” phải xây dựng chocác em một số kĩ năng nhất định (kỷ năng phán đoán ,kĩ năng đặt câu hỏi, kĩ năngxây dựng giả thuyết khoa học- Đây là bước quan trọng nhất và đặc trưng chophương pháp dạy học này Đồng thời giúp các em xây dựng phương án thựcnghiệm) Đây cũng chính là bước 2 và bước 3 của phương pháp“Bàn tay nặn bột ”
và cũng là hai bước học sinh gặp khó khăn nhất Mục tiêu bài học đạt hay khôngphụ thuộc vào các tổ chức và thực hiện chủ yếu ở hai bước này Khi dạy bằngphương pháp “Bàn tay nặn bột học sinh vui ,tính hợp tác trong học tập rất cao học
Trang 2sinh nhớ lâu và tạo ra thói quen tự khám phá tri thức mới trong học tập khôngnhững ở môn Khoa hoc mà ở tất cả cá môn khác nữa.
2, Mục đích,nhiệm vụ của đề tài :
Nghiên cứu ,vận dụng đề tài, rút ra bài học kinh nghiệm trong dạy học cácmôn khoa học tự nhiên đặc biệt là môn Khoa học lớp 4 góp phần nâng cao chấtlượng trong công tác giảng dạy và giáo dục toàn diện tại trường Tiểu học
3, Đối tượng ,thời gian nghiên cứu ,phương pháp nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là học sinh lớp 4 tại trường Tiểu học X nơibản thân tôi đang công tác
Thời gian nghiên cứu và áp dụng đề tài này bắt đầu từ tháng 10 năm 2018 ( sau khi đã chuyên đề tại Phòng GD-ĐT Hương Sơn ) đến tháng 3 năm 2019
Phương pháp nghiên cứu : Phương thực nghiệm ,điều tra ,tổng hợp và quynạp,trong đó chủ đạo sử dụng phương pháp thực nghiệm đối với học sinh hai lớp4A, 4B, kết hợp tham khảo đồng nghiệp các trường bạn dạy cùng khối
II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1 Cơ sở khoa học.
1.1- Cơ sở lí luận:
Phương pháp "Bàn tay nặn bột" là một phương pháp dạy học mới đây làphương dạy học tích cực áp dụng cho việc giảng dạy các môn khoa học tự nhiênđặc biệt là môn TNXH lớp 1;2;3 và Khoa học lớp 4;5.Phương pháp "Bàn tay nặn
bột" chú trọng đến việc hình thành kiến thức cho học sinh bằng các thí nghiệm,
tìm tòi, nghiên cứu tài liệu, quan sát thông qua 5 bước dạy ( Tình huống xuất
phát; Bộc lộ biểu tượng ban đầu;Đề xuất câu hỏi và phương pháp tìm tòi nghiêncứu; Tiến hành thí nghiệm tìm tòi nghiên cứu ; Kết luận hợp thức hoá kiến thức )
để chính các em tìm ra câu trả lời cho các vấn đề được đặt ra trong cuộc sốngthông qua tiến hành thí nghiệm, quan sát, nghiên cứu tài liệu hay điều tra…
Với một vấn đề khoa học đặt ra, học sinh có thể đặt ra các câu hỏi, các giả
thuyết từ những hiểu biết ban đầu, tiến hành các thí nghiệm, tìm tòi, nghiên cứu
tài liệu, quan sát … để kiểm chứng và đưa ra những kết luận phù hợp thông qua
thảo luận, so sánh, phân tích, tổng hợp kiến thức
1.2- Cơ sở thực tiễn:
Thực tế ở các trường Tiểu học môn khoa học là môn học thực nghiệm, nếu
giáo viên dạy học bằng các thí nghiệm, tìm tòi, nghiên cứu tài liệu, quan sát ….,
học sinh rất hứng thú học tập vì vậy mục tiêu bài học được giải quyết và tiết học
Trang 3đạt chất lượng cao Như vậy Dạy học môn khoa học lớp 4 theo phương pháp bàn
tay nặn bột sẽ đáp ứng được yêu cầu của cả giáo viên và học sinh
Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm nói trên, việc dạy học môn khoa họclớp 4 theo phương pháp bàn tay nặn bột còn có những hạn chế nhất định làm ảnhhưởng không nhỏ tới chất lượng dạy học môn học này Khó khăn lớn nhất của giáoviên trong dạy học đó là việc vận dụng các phương pháp và hình thức tổ chức dạyhọc Đặc biệt là về mặt phương pháp, nhiều giáo viên còn lúng túng trong việc sửdụng các phương pháp dạy học Trong khi cần chú trọng việc hình thành cho họcsinh phương pháp học tập, rèn kỹ năng và thói quen tự tìm tòi nghiên cứu trước các
sự vật, hiện tượng tự nhiên thì không ít giáo viên lại yêu cầu học sinh đọc thuộclòng, nhồi nhét kiến thức, bắt học sinh phải công nhận một cách miễn cưỡng khôngphát huy được tính tò mò ham hiểu biết của học sinh
Qua thực tế dạy học tôi thấy học sinh đã biết làm việc tập thể, hợp tác, traođổi, trình bày các ý kiến cá nhân, biết làm một số thí nghiệm thực hành đơn giản.Tuy nhiên, các em ít tò mò, ít đặt ra những câu hỏi thắc mắc và hầu như mơ hồ vềbiểu tượng của những sự vật hiện tượng mà các em được tìm hiểu, sự lập luận cònkém, các kỹ năng kỹ xảo thực hành còn vụng về, lúng túng Việc vận dụng nhữngkiến thức mà các em thu thập được vào thực tiễn là khoảng cách khá xa, bởi vì các
em thiếu hẳn kỹ năng thực hành Các em chưa có thói quen ghi lại những gì mà các
em quan sát được Việc xác lập mục đích quan sát và mục đích của thí nghiệm cònkém.
2 Kết quả khảo sát.
3 Ý nghĩa và tác dụng của giải pháp mới:
Những sáng kiến đề cập trong đề tài góp phần phát huy năng lực cho họcsinh (năng lực tư duy, năng lực diễn đạt bằng ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết), pháthuy hơn nữa khả năng làm việc theo nhóm, khả năng tư duy độc lập và diễn đạt ýkiến trước tập thể cho các em
4 Các biện pháp tiến hành, thời gian tạo ra giải pháp.
Trong quá trình vận dụng đề tài, tôi đã suy nghĩ tìm tòi, học hỏi và áp dụngnhiều biện pháp Ví dụ như : Trò chuyện cùng học sinh, thể nghiệm đề tài (thựchiện giảng dạy theo giáo án được thiết kế theo phương pháp BTNB), kiểm tra vàđánh giá kết quả dạy và học những nội dung trong đề tài
Câu hỏi điều tra: Tập trung các nội dung xoay quanh việc dạy - học môn
khoa học lớp 4 theo phương pháp bàng tay nặn bột, điều tra tình cảm thái độ của
Trang 4học sinh đối với việc học theo phương pháp này.
Phiếu điều tra: Họ và tên học sinh……… Lớp : ……
Đánh dấu Ѵ vào một trong các ô □ trả lới các câu hỏi sau.
1 Em có hứng thú không khi học tập
khoa học theo phương pháp BTNB? □ Không hứng thú □ Hứng thú.□ Rất hứng thú.
2 Khi học tập khoa học theo phương
pháp BTNB em nắm kĩ nội dung bài học
không?
□ Không nắm được bài □ Ít hiểu bài.
□ Hiểu bài.
3 Khi học tập khoa học theo phương
pháp BTNB em gặp khó khăn ở bước nào
nhất?
□ Bước 1 □ Bước 2 □ Bước 3.
□ Bước 4 □ Bước 5
a Thuyết minh tính mới:
- Thực tế dạy học với phương pháp bàn tay nặn bột, học sinh tiếp thu chủđộng, vận dụng kiến thức vào cuộc sống, phát triển kỹ năng thực hành, thí nghiệm,khả năng quan sát, sáng tạo, tính độc lập khoa học, khả năng tự học và hợp tácnhóm Bài học với phương pháp này giúp học sinh chủ động, hứng thú, tự tin hơn
- Thay vào việc giáo viên làm thí nghiệm cho học sinh xem, thay vào việchọc sinh xem bài thí nghiệm và kết quả trong sách giáo khoa, các em phải tự tìmcách giải quyết vấn đề với các thiết bị thí nghiệm hoặc vật dụng có trong thực tếđời sống Với cách này, mỗi nhóm có thể tìm một hướng đi khác nhau, có nhữnggiả thuyết khác nhau và dĩ nhiên có em đi sai đường, có em tìm ra kết quả đúng Nhưng dù thế nào thì các em cũng đi tới được cái đích là nắm bài sâu hơn, chắcchắn hơn khi được tự nghĩ, tự quan sát, tự tìm tòi
- Với những tiết học dạy theo phương pháp Bàn tay nặn bột, nhiều câu hỏi
HS đưa ra có thể giáo viên không lường trước được Và giáo viên cần giải quyếttình huống sư phạm tốt, cần chuẩn bị kiến thức đầy đủ để trả lời cho HS Do đó vớiphương pháp này, không chỉ tạo sự hứng thú, kích thích tự tìm hiểu của HS mà còngiúp thầy cô cũng hứng thú Có thể khẳng định dạy và học theo phương pháp này,
cả thầy (cô) và trò đều giỏi và cùng tiến
- Đặc biệt thông qua việc thiết kế một số giáo án đề cập trong đề tài có thểgóp phần khắc phục tình trạng bế tắc của học sinh khi thực hiện bước 2 và bước 3trong tiến tình nghiên cứu (vì chính 2 này bước gây khó khăn cho học sinh và thờigian tiêu tốn cho 2 bước này là nhiều nhất, nếu không giải quyết tốt mục tiêu bài
học sẽ không đạt)
Trang 5b Kinh nghiệm vận dụng đề tài vào thực tiễn:
Vận dụng phương pháp BTNB trong dạy học Khoa học lớp 4 góp phần rènluyện cho học sinh kĩ năng thực hành, kĩ năng làm chủ ngôn ngữ, từ ngôn ngữ nóiđến ngôn ngữ viết
- Làm chủ ngôn ngữ: Việc thực hành các hoạt động khoa học ở lớp góp
phần hình thành cho học sinh phát triển các dạng ngôn ngữ Trong bối cảnh đó HS
có thể học cách tìm kiếm một từ, dạng động từ hay những dạng ngôn ngữ cho phépchúng trình bày tốt nhất những quan sát của mình Bắt buộc HS phải học đọc hiểu,học xây dựng các biểu đồ, các bảng kết quả thu được, các sơ đồ,…(các dạng trìnhbày kết quả nghiên cứu khoa học)
- Nói: Bàn tay nặn bột khuyến khích trao đổi bằng ngôn ngữ nói về những
quan sát, những giả thuyết, những thí nghiệm và những giải thích HS học cách bảo
vệ quan điểm của mình, biết lắng nghe người khác, biết thừa nhận trên cơ sở của lí
lẽ, biết làm việc cho mục đích chung trong một khuôn khổ nhất định.
-Viết: Là cách thức thể hiện ra ngoài những hoạt động suy nghĩ của mình.
Nó cũng cho phép giữ lại dấu vết của các thông tin đã thu nhận được, tổng hợp vàhình thức hoá để làm nảy sinh ý tưởng mới Nó cũng làm cho thông báo được dễdàng tiếp nhận dưới dạng đồ thị vì thông tin đôi khi khó phát biểu và cho phép ghi
lại các kết quả tranh luận (ảnh minh họa)
c Các bước tiến trình dạy học của phương pháp bàn tay nặn bột
Các bước Nhiệm vụ của HS Nhiệm vụ của GV Những điều giáo viên cần lưu ý
GV chủ độngđưa ra một tìnhhuống mở cóliên quan đến nộidung kiến thức
mà học sinh sẽ
được học
- Câu hỏi nêu vấn đề đảm bảongắn gọn, gần gũi, dễ hiểu,phù hợp với trình độ, gâymâu thuẫn nhận thức và kíchthích tính tò mò, thích tìm tòi,nghiên cứu học sinh nhằmchuẩn bị tâm thế cho học sinhtrước khi khám phá và lĩnhhội kiến thức
-Tùy vào từng kiến thứckhông nhất thiết phải có tìnhhuống xuất phát mới đề xuấtcâu hỏi nêu vấn đề
Bước 2: - Cá nhân nêu -GV khuyến GV nên lưu ý cho học sinh
Trang 6vở thí nghiệm-Tập hợp ý kiến
cá nhân để hoànthành biểu tượngban đầu chonhóm (viết, vẽ)trên giấy A3
khích từng cánhân viết hoặcvẽ về biểu tượngban đầu theo suynghĩ của mìnhvào vở thínghiệm
-Sau đó GV yêucầu HS trao đổinhóm cùng hoànthành biểu tượngban đầu trên giấyA3
- GV quan sátnhanh để tìm
tượng ban đầukhác nhau
không xem sách giáo khoa
-GV phải chấp nhận và tôntrọng những quan điểm saicủa học sinh khi trình bàybiểu tượng ban đầu
- Nếu một vài học sinh(nhóm) nào đó nêu ý kiếnđúng, giáo viên không nênvội vàng khen ngợi hoặc cónhững biểu hiện chứng tỏ ýkiến đó là đúng vì nếu làmnhư vậy giáo viên đã vô tìnhlàm ức chế các học sinh(nhóm) khác tiếp tục muốntrình bày biểu tượng ban đầu
- Biểu tượng ban đầu của họcsinh càng đa dạng, phongphú, càng sai lệnh với kiếnthức đúng thì tiết học càng sôinổi, thú vị, gây hứng thú chohọc sinh và ý đồ dạy học củagiáo viên càng dễ thực hiệnhơn
HS đề xuất giả thuyết liên quan đến nội dung bài học dựa trên biểu tượng ban đầu của nhóm
Gợi ý học sinh đề
xuất giả thuyết trên cơ sở của các biểu tượng ban đầu của từng nhóm mà giáo viên đã chọn
-GV chọn vị trí thích hợp để học sinh trình bày biểu tượng ban đầu, dễ nhìn không ảnh hưởng đến phần ghi chép khác.
-GV không chỉnh sửa những giả thuyết mà học sinh đã đưa ra.
-Giữ nguyên biểu tượng ban đầu của HS để đối chiếu và so sánh sau khi hình hành kiến thức cho
HS ở bước 5
b Đề xuất phương án thực nghiệm
-Đề xuất phương
- GV đặt câu hỏi nghi vấn, đề nghị
HS đề xuất phương án thực
-Các phương án thực nghiệm
mà học sinh đề xuất không thực hiện được hoặc những ý kiến gây cười cho cả lớp thì giáo
Trang 7án thí nghiệm để kiểm chứng giả thuyết (HS có thể hình dung những phương pháp kiểm chứng như:
Quan sát mẫu vật,
mô hình, nghiên cứu tài liệu…) -Ghi phương án kiểm chứng giả thuyết vào vở thí nghiệm
nghiệm để chứng minh từng giả thuyết của các nhóm
- GV ghi lại các cách đề xuất của học sinh (nhóm) trên bảng (không lặp lại)
- GV nhận xét chung và hướng
HS tới PP thí nghiệm đã chuẩn
bị sẵn
viên không nên nhận xét tiêu cực, cần điềm tĩnh giải thích cho cả lớp để tránh cho học sinh ngại phát biểu.
-Nếu ý kiến học sinh nêu lên có
ý đúng nhưng ngôn từ chưa chuẩn xác hoặc diễn đạt chưa rõ thì giáo viên nên gợi ý và từng bước hoàn thiện diễn đạt→ rèn luyện ngôn ngữ cho HS
- HS sinh ghi chép lại vật liệu thí nghiệm, cách bố trí và thực hiện thí nghiệm
-Thu nhận các kết quả và ghi chép lại để trình bày
- GV nêu rõ yêu cầu, mục đích thí nghiệm
-GV yêu cầu HS tiến hành thí nghiệm
- GV bao quát và nhắc nhở các nhóm chưa thực hiện, hoặc thực hiện sai
- Đối với phương pháp quan sát:
GV cho học sinh kiểm chứng trên mẫu vật trước rồi sau đó mới quan sát trên tranh vẽ hay
mô hình để nhận biết được những đặc điểm không thấy được trên mẫu vật
- Sau khi xác định mục đích và yêu cầu thí nghiệm GV mới phát dụng cụ và vật liệu thí nghiệm để tránh trường hợp HS đùa nghịch, tự ý làm thí nghiệm trước hoặc HS dựa vào đó để dự đoán các thí cần phải làm
-GV phải yêu cầu các cá nhân của từng nhóm phải thực hiện độc lập các thí nghiệm
-Trong quá trình HS làm thí nghiệm GV không chỉnh sửa
tự sửa chữa
- GV yêu cầu HS đưa
ra kết luận sau khi thực hiện thí nghiệm -GV cho HS nhìn lại, đối chiếu lại với các ý kiến ban đầu (biểu tượng ban đầu) trước khi học kiến thức
- GV tổng kết kiến thức
GV hướng dẫn HS so sánh với biểu tượng ban đầu của mình,
để tìm ra chổ sai chứ không áp đặt học sinh
d Quy trình sử dụng phương pháp “ bàn tay nặn bột” vào dạy môn Khoa học lớp 4.
Trang 8Xác định mục tiêu bài học
Chuẩn bị đồ dùng dạy học
Bước 3
Đề xuất giả thuyết và phương án kiểm chứng giả thuyết
Bước 2 Hình thành biểu tượng ban đầu
Chuẩn bị đồ dùng học tập theo yêu cầu của giáo viên
Yêu cầu HS từ kết thí nghiệm
đối chiếu với BTBĐ
III
Nhận xét đánh giá
IV.
Viết bài thu hoạch
IV.
Viết bài thu hoạch
Nhận xét chung
Đưa ra hệ thống câu hỏi gợi
mở
Từng nhóm báo cáo kết quả
Từ kết quả đối chiểu lại BTBĐ
Từng nhóm ghi GT trên giấy A3 dựa vào BTBĐ
Tiếp nhận tình huống
TLN trình bày biểu tượng ban đầu bằng hình
Đưa ra tình huống xuất phát
Tổ chức HS thảo luận nhóm đưa
ra BTBĐ
Hướng dẫn các nhóm đề xuất giả
thuyết dựa trên BTBĐ
Yêu cầu các nhóm đề xuất phương
án để kiểm chứng GT
Bước 4 Tiến hành thí nghiệm tìm tòi nghiên cứu
Trang 9+ Kiến thức cần đạt: ( Học sinh đưa ra được các kết luận).
1, Nước là chất lỏng trong suốt, không màu, không mùi, không vị, không cóhình dạng nhất định
+ Phương tiện : Một viên phấn trắng, một viên bi, một cốc thuỷ tinh, nước
trắng, thìa, muối, cát một cái chai
+ Giao nhiệm vụ :
*Lệnh : Hãy dùng một cốc nước để dấu đi một viên bi ?
( Học sinh tìm nhiều cách nhưng sẽ không có cách nào dấu được viên bi )
* Kết luận : Nước trong suốt.
*Lệnh : Hãy dùng một cốc nước để làm đổi màu viên phấn?
( Viên phấn không đổi màu )
Kết luận : Nước không màu.
*Lệnh : Hãy chuyển cốc nước sang chai mà vẫn giữ nguyên hình dạng ? (Hs phát hiện : Hình dạng của nước là bình chứa nó)
Kết luận : Nước không có hình dạng nhất định.
2 - Nước chảy từ cao xuống thấp, lan ra khắp mọi phía, thấm qua một số vật,
hoà tan một số chất
Trang 10 Phương tiện : - 1 tấm kính ( vẽ một vòng tròn)
- 1 ít nước trong cốc
- Bông, muối, đường, cát
* Lệnh : Dùng ít nước trong cốc , hãy giữ nguyên lượng nước trong phạm vi
vòng tròn tấm kính ?
( Học sinh sẽ không thể tìm được cách nào thoả mãn được yêu cầu trên)
* Kết luận : Nước lan ra khắp mọi phía.
* Lệnh : Làm thế nào để giữ nguyên được vị trí của giọt nước khi ta nghiêng tấm
kính ? (Đó là điều vô lí không thể xảy ra)
* Kết luận : Nước chảy từ cao xuống thấp, lan ra khắp mọi nơi.
* Lệnh : Hãy làm giảm nước trong cốc bằng bông ? ( Nước thấm qua bông )
* Kết luận : Nước thấm qua 1 số vật.
* Lệnh : Đổ 1 thìa muối (đường) nhỏ vào cốc , lấy thìa khuấy đều
- Hãy tìm những hạt muối (đường) có trong cốc ?( Không tìm thấy).
Hoặc: Điều gì sẽ xảy ra với những hạt đường khi ta bỏ chúng vào một côc nước? v.v.
Kết luận : Muối (đường) tan trong nước.
- Cho 1 ít cát vào cốc nước
Trang 11* Lệnh : Hãy giấu những hạt cát vào cốc nước ?( Không dấu được Cát không tantrong nước).
* Kết luận : Nước hoà tan 1 số chất , không hoà tan một số chất.
* Ví dụ 2: Bài 35 : Không khí cần cho sự cháy( Trang 70) Yêu cầu học sinh
không được mở sách giáo khoa
* Lệnh : Có một ngọn nến đang cháy và một cốc thuỷ tinh Hãy làm tắt ngọn
nến bằng cốc thuỷ tinh mà không được chạm cốc vào ngọn lửa ?
( Học sinh thử các phương án, phát hiện ra cách làm đúng là: Úp cốc vào ngọn nếntrong thời gian nhất định )
trì sự cháy
* Ví dụ 3: Bài 27: Một số cách lọc nước.
* Giáo viên đưa chai nước và nói: Đây là chai nước đã bị nhiễm bẩn Vậy theo
em trong chai nước này có những gì?( HS: Có cát bụi, đất, vi trùng, các chất độchại…)
* GV: Chúng ta có thể làm sạch chai nước này được không? Bằng cách nào?
Điều đó chứng tỏ các em đã rất linh hoạt, đã biết xử lý khi thí nghiệm khôngthành công và đã biết vận dụng những gì quan sát được trong đời sống hàng ngàyvào giải quyết những vấn đề trong học tập
* Ví dụ4: Bài 30: Làm thế nào để biết có không khí?
Trang 12- Giáo viên đưa ra một túi ni lông màu đen trong đó đựng đầy không khí (miệngcủa túi ni lông đã cột chặt) cho học sinh sờ nắn và bảo các em đoán xem trong túinày có gì?
* Học sinh sờ nắn và đưa ra các phương án:
- Có trong cái chai rỗng
- Trong cục đất khô…
* GV : Để biết được không khí có ở trong chai rỗng, trong miếng đất khô và có
ở khắp nơi hay không, chúng ta cần phải làm gì?
-Trong khi học bài này, có em học sinh lúc đầu lựa chọn dùng viên gạch để
bỏ xuống chậu nước Nhưng sau đó em đã gạch bỏ sự lựa chọn này thay vào đó làmẩu đất khô Sau giờ học, tôi hỏi vì sao lại có sự thay đổi dó, em nói “miếng đấtkhô có nhiều chỗ rỗng hơn nên khi bỏ vào nước thì bong bóng khí bay lên nhiều
Trang 13hơn” Có nhóm HS khác đã nghĩ ra một phương án thí nghiệm rất thuyết phục là”Nhấn chìm vỏ chai xuống một chậu nước, nước sẽ tràn vào trong chai đẩy khôngkhí ra ngoài tạo ra những bong bóng Có nhóm lại đưa ra phương án “ Vặn nắpchai thật chặt, sau đó đục một lỗ trên vỏ chai Nếu chúng ta đưa lên và hướng lỗthủng vào mặt và bóp thân chai thì sẽ cảm thấy được không khí từ trong đó bayra”
Như vậy, qua kết quả trên ta thấy, điều đáng lưu ý và ấn tượng ở chỗ HSkhông chỉ đơn thuần thực hiện thành thạo với các dụng cụ thí nghiệm mà còn thểhiện sự thông minh, sáng tạo vận dụng linh hoạt trong việc đưa ra nhiều phương án
để kiểm tra cùng một giả thuyết
6 Một số giáo án minh hoạ:
Bài 1: KHÔNG KHÍ CÓ NHỮNG TÍNH CHẤT GÌ?
I MỤC TIÊU
- Học sinh nắm được tính chất của không khí: không màu, không mùi, không
vị và không có hình dạng nhất định
- Biết thực hành thí nghiệm để tìm ra tính chất của không khí như trên
- Giáo dục học sinh say mê nghiên cứu, khám phá, tìm tòi
II ĐỒ DÙNG DẠY-HỌC:
- Giáo viên: thẻ in hình các loại quả, 1 chai nước cam, 1 chai rỗng, 1 lọ nước
hoa, bóng bay, máy trợ giảng; Học sinh: Vở ghí chép thí nghiệm
III CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY-HỌC:
HOẠT ĐỘNG 1: Đưa ra tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề
1 Đi tìm đồng đội:
Giáo viên phát thẻ in hình các loại quả cho học sinh, yêu cầu những học sinhnào có cùng thẻ quả về cùng một nhóm -> đặt tên các nhóm (dưa hấu, măng cụt,mãng cầu)
2 Thử tài đoán vật (tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề)
- Giáo viên đưa 2 chai (1 chai nước cam và 1 chai không) đưa cho 3 nhóm quansát và nhận biết trong chai chứa gì?
- Giáo viên yêu cầu học sinh báo cáo kết quả:
+ Tình huống 1: Trong chai có nước cam, vì nước có màu cam, vị chua chua
và mùi thơm của cam
+ Tình huống 2: Trong chai không có gì cả