LỜI CẢM ƠN Để có thể hoàn thành được đề tài “Công tác xã hội cá nhân đối với người cao tuổi tại Trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh Nam Định”, tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy giáo, cô giá
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tên đề tài luận văn: “Công tác xã hội cá nhân đối với người cao tuổi tại
Trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh Nam Định”
Học viên xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân học viên Các kết quả nghiên cứu và các kết luận trong luận văn là trung thực, không sao chép
từ bất kỳ một nguồn nào và dưới bất kỳ hình thức nào.Việc tham khảo các nguồn tài liệu đã được thực hiện trích dẫn và ghi nguồn tài liệu tham khảo đúng quy định Nếu vi phạm học viên xin hoàn toàn chịu trách nhiệm, chịu bất kỳ hình thức kỷ luật nào của Học viện
Tác giả luận văn
Hoàng Thị Khánh An
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để có thể hoàn thành được đề tài “Công tác xã hội cá nhân đối với người cao tuổi
tại Trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh Nam Định”, tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy
giáo, cô giáo Học viện Khoa học xã hội đã chu đáo trong quá trình giảng dạy, truyền đạt kiến thức; xin cảm ơn Phòng Đào tạo và Khoa Công tác xã hội của Học viện Khoa học xã hội đã tạo điều kiện thuận lợi cho học viên trong suốt quá trình nghiên cứu, học tập tại Học viện; xin cảm ơn Lãnh đạo Trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh Nam Định đã tạo điều kiện giúp tôi hoàn thiện luận văn
Đặc biệt, xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới PGS.TS Phạm Hữu Nghị, Khoa Công tác xã hội, Học viện Khoa học xã hội đã tận tình hướng dẫn, giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn cao học này
Xin trân trọng cảm ơn!
Học viên
Hoàng Thị Khánh An
Trang 5MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN 1
MỞ ĐẦU 1 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CAO TUỔI VÀ CÔNG TÁC
XÃ HỘICÁ NHÂN ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI 10
1.1 Người cao tuổi: khái niệm, đặc điểm và nhu cầu 10 1.2 Lý luận về công tác xã hội cá nhân đối với người cao tuổi 13 1.3 Một số lý thuyết ứng dụng trong công tác xã hội cá nhân đối với người cao tuổi 19 1.4 Cơ sở pháp lý chính trị- pháp lý của công tác xã hội cá nhân đối với người cao tuổi 24
Chương 2: THỰC TRẠNG NGƯỜI CAO TUỔI VÀ CÔNG TÁC XÃ HỘI
CÁ NHÂN VỚI NGƯỜI CAO TUỔI TẠI TRUNG TÂM BẢO TRỢ XÃ HỘI TỈNH NAM ĐỊNH 32
2.1 Khái quát về địa bàn nghiên cứu 32 2.2 Thực trạng người cao tuổi tại Trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh Nam Định 38 2.3 Thực trạng công tác xã hội cá nhân đối với người cao tuổi tại Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Nam Định 44
Chương 3: ỨNG DỤNG CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NÂNG CAO CÔNG TÁC
XÃ HỘI CÁ NHÂN ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI 54
3.1 Ứng dụng công tác xã hội cá nhân đối với người cao tuổi tại Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Nam Định 54 3.2 Một số kiến nghị nâng cao hiệu quả công tác xã hội cá nhân từ thực tiễn Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Nam Định 62
KẾT LUẬN 71 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Hình 1.1: Sơ đồ thuyết nhu cầu của Maslow 20
Hình 2.1: Điều kiện kinh tế gia đình NCT 38
Hình 2.2 Tần suất ốm của NCT 39
Hình 2.3: Vấn đề NCT quan tâm 40
Hình 2.4: Các nhóm bệnh thường mắc ở NCT 41
Hình 2.5: Chế độ sinh hoạt của NCT ở Trung tâm 43
Hình 2.6: Các hoạt động cần NVCTXH trợ giúp 44
Hình 2.7: NCT đánh giá hiệu quả cuả hoạt động CTXH 45
Hình 2.8: Những yếu tố từ phía NVCTXH ảnh hưởng tới quá trình trợ giúp NCT 48
Hình 2.9: Mức độ hài lòng về thái độ làm việc của NVCTXH 49
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sự phát triển của khoa học công nghệ cùng với sự tiến bộ xã hội cộng thêm nhận thức của người dân khiến tuổi thọ trung bình của con người ngày càng tăng Bên cạnh đó có rất nhiều nhân tố tác động làm giảm mức sinh dẫn đến tỷ lệ người cao tuổi tăng cao Đó chính là xu thế già hóa dân số, xu thế này có ý nghĩa quan trọng, bởi nó ảnh hưởng lớn đến tất cả các khía cạnh của
xã hội
Cũng nằm trong xu thế chung đó, nước ta đang trong thời kỳ già hóa dân số Điều này đặt ra nhiều thách thức cho phát triển kinh tế, xã hội, là gánh nặng cho cơ sở hạ tầng Những dịch vụ xã hội trong đó điển hình là công tác
xã hội chuyên nghiệp sẽ giúp Việt Nam giải quyết các vấn đề nêu trên một cách hiệu quả, khoa học nhằm thúc thẩy an sinh xã hội
Việt Nam được đánh giá là một nước có số người cao tuổi ngày càng gia tăng nhanh Điều đó tạo áp lực cho hệ thống hạ tầng cơ sở, hệ thống dịch vụ sức khỏe, hệ thống phúc lợi xã hội cho người cao tuổi, đảm bảo về quan hệ gia đình, tâm lý, lối sống, chất lượng chăm sóc sức khỏe người cao tuổi…Đó là những áp lực và có thể gây ra nhiều biến động không thể lường trước Từ đó, gây ra các khó khăn, thách thức đối với nhà nước, xã hội, gia đình và chính bản thân người cao tuổi Để thích ứng với già hóa dân số, việc chuẩn bị các điều kiện cần và đủ
để đáp ứng nhu cầu của dân số già là một thách thức rất lớn đối với các nhà lập
kế hoạch và hoạch định chính sách khi Việt Nam đẩy mạnh thực hiện xã hội hóa các dịch vụ, chính sách của nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước và định hướng xã hội chủ nghĩa Hơn nữa, những đối tượng là người cao tuổi đang được chăm sóc tại các trung tâm bảo trợ xã hội hiện nay đa phần là người già cô đơn không nơi nương tựa hoặc người có công Các nhà hoạch định chính sách sẽ làm như thế nào trước vấn đề đó?
Trang 9Ở Việt Nam, trong thời gian gần đây, dịch vụ công tác xã hội được xem là một lĩnh vực quan trọng trong việc tăng cường an sinh xã hội và hỗ trợ cho sự phát triển, tăng trưởng nhanh và bền vững Trong an sinh xã hội, công tác xã hội có vai trò đặc biệt quan trọng Những hoạt động công tác xã hội đối với người cao tuổi sẽ mang lại những ý nghĩa thực tiễn góp phần giải quyết những vấn đề đã nêu
NCT là lớp “gạo cội” có vai trò quan trọng trong việc kết nối các giá trị truyền thống về đạo đức, lịch sử và văn hoá giữa các thời đại Là lớp người đã xây dựng và phát triển quê hương Nam Định Theo Đặng Văn (2014) tỉnh Nam Định hiện có 250.164 NCT, chiếm 12,5% dân số [25].Trong những năm gần đây chính quyền, đảng bộ và nhân dân Nam Định luôn dành sự quan tâm,
cố gắng chăm lo mọi mặt đời sống vật chất cũng như tinh thần đối với người cao tuổi Do vậy, đời sống của người cao tuổi của tỉnh đã phần nào được cải thiện Song, với điều kiện kinh tế, xã hội còn nhiều khó khăn nên việc chăm sóc, giúp
đỡ mới chỉ có thể đáp ứng được những nhu cầu thiết yếu của họ mà chưa thể đáp ứng những nhu cầu đa dạng khác, cũng như chưa thể giải quyết tốt những vấn đề mang tính chất cá nhân, nhóm đối tượng đặc thù như nhóm đối tượng là NCT tại Trung tâm bảo trợ xã hội.Vì thế, cần thực hiện những dịch vụ của công tác xã hội với những phương pháp đặc thù của công tác xã hội nhằm hỗ trợ, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người cao tuổi trên mọi phương diện Bên cạnh đó, ngành CTXH là một ngành khoa học mới, vẫn đang trong quá trình hoàn thiện và phát triển tại Việt Nam nó giúp những người yếu thế xử lý vấn đề bằng chính nội lực của họ Vì những lý do trên, tôi quyết định lựa chọn đề tài:
“Công tác xã hội cá nhân đối với người cao tuổi tại Trung tâm bảo trợ xã hội
tỉnh Nam Định” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài liên quan đến đề tài
2.1 Nghiên cứu trên thế giới
Ở Châu Âu, ngay từ những năm 1800 đã có những nghiên cứu về người
Trang 10của M.J.Tenon (1815) và “Bàn về tuổi thọ loài người và về chất lượng sống trên thế giới” của P.Flourons (1960); “Tuổi già xanh tươi’ của Alexando Iacatxanho (1919) Những nghiên cứu này tìm hiểu về thực trạng cuộc sống, tình trạng sức khỏe của người cao tuổi từ đó đưa ra những liệu pháp chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi để người cao tuổi kéo dài tuổi thọ và có cuộc sống thoải mái [18]
Ấn phẩm “Già hóa trong thế kỷ 21: Thành tựu và thách thức’’ do Quỹ dân số Liên Hợp Quốc và Tổ chức hỗ trợ Người cao tuổi Quốc tế xuất bản năm 2012 Báo cáo phân tích thực trạng của người cao tuổi, rà soát tiến độ thực hiện các chính sách, hành động của chính phủ và các cơ quan liên quan
kể từ khi Hội nghị thế giới lần thứ hai về người cao tuổi về thực hiện kế hoạch hành động quốc tế Madrid về người cao tuổi nhằm đáp ứng cơ hội và thách thức của một thế giới đang già hóa Báo cáo đưa ra nhiều ví dụ minh họa về các chương trình đổi mới đã đáp ứng được các mối quan tâm của người cao tuổi, đồng thời báo cáo đưa ra khuyến nghị về định hướng tương lai nhằm đảm bảo mọi lứa tuổi trong xã hội đều có cơ hội xây dựng và hưởng thụ phúc lợi xã hội [10]
Một nghiên cứu khác với tên gọi “Barraiers to Health Care Access Among the Elderly and Who Perceives Them’’ (Những rào cản trong chăm sóc sức khỏe người cao tuổi và nhận thức về chúng” của Annette L.Fitzatrick, Neil R Pewe, Lawton S Cooper, Diane G.Ives và John A Robbins (Đại học Wasington, đại học Jojns Hopkins, Đại học Pittsburgh, Đại học California-Davis, và đại học Wake Forsest) Nghiên cứu này từ 1993-1994 tại viện nghiên cứu sức khỏe tim mạch bằng phương pháp nghiên cứu với 5888 người
từ 65 tuổi trở lên bao gồm gồm cả nam và nữ bằng phương pháp định tính Mẫu được chọn ngẫu nhiên trong bốn quận cho kết quả các rào cản chủ yếu là
sự thiếu đáp ứng của bác sỹ đối với bệnh nhân, không có bảo hiểm y tế… Nghiên cứu này khái quát thực trạng chăm sóc sức khỏe đối với người cao
Trang 11tuổi, những rào cản tác động tới việc chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi Không chỉ riêng nước Mỹ, những rào cản nói trên cũng xuất hiện tại Việt Nam Đã có nhiều cố gắng hoàn thiện nhưng hệ thống an sinh của đất nước ta còn nhiều bất cập, cơ sở vật chất ngành y tế còn thiếu thốn đặc biệt ở cấp cơ
sở Điều này mang lại khó khăn trong việc tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe người dân nói chung và người cao tuổi nói riêng[18]
2.2 Nghiên cứu tại Việt Nam
Hiện nay, tại Việt Nam nói riêng và trên thế giới nói chung đã có công trình nghiên cứu, nhiều ấn phẩm được thể hiện trong các báo cáo, luận án, luận văn thạc sĩ, khóa luận tốt nghiệp đề cập vấn đề trợ giúp người cao tuổi, trong
đó đáng lưu ý như:
“Báo cáo tổng quan về chính sách chăm sóc người già thích ứng với thay đổi
cơ cấu tuổi tại Việt Nam” (UNFPA, 2010) đã khẳng định già hóa dân số là
vấn đề toàn cầu trong thế kỷ XXI và tại Việt Nam, xu hướng già hóa là một thách thức lớn mà Việt Nam sẽ phải đối mặt trong thời gian tới Như vậy dân
số của Việt Nam đang ở ngưỡng dân số già Theo Điều tra biến động dân số
và kế hoạch hóa gia đình thời điểm 1/4/2013 của Tổng cục thống kê: Tỉ trọng dân số từ 60 tuổi trở lên chiếm 10,2% tổng số dân cả nước năm 2014 và 11,3% tổng số dân cả nước năm 2015 Điều tra biến động dân số kế hoạch hóa gia đình năm 2010 cho thấy tổng số dân Việt Nam là 86,93 triệu người, trong đó người cao tuổi là 8,15 triệu người chiếm 9,4% dân số cả nước Như vậy có thể thấy, tỉ trọng dân số từ 60 tuổi trở lên đang có xu hướng tăng nhanh và tăng liên tục [22]
An sinh xã hội và phúc lợi xã hội cho NCT là chủ đề được rất nhiều tác giả hướng đến để khai thác, bài viết “Nghiên cứu phúc lợi xã hội: Nhìn lại một chặng đường” của tác giả Bùi Thế Cường (2005) thuộc Chương trình nghiên cứu phúc lợi xã hội của Viện Xã hội học là một nghiên cứu đáng lưu ý Bài viết
Trang 12nghiên cứu từ 1991 và tổng kết lại những nghiên cứu về NCT trong suốt thời gian dài Từ kết quả của những nghiên cứu đó, tác giả bài viết cũng có những đề xuất, khuyến nghị nhằm nâng cao hơn nữa về việc chăm sóc sức khỏe cho NCT tại nước ta [3]
Nghiên cứu “Thực trạng đời sống của người cao tuổi dân tộc và già làng trong phát triển bền vững Tây Nguyên” của tác giả Nguyễn Thế Huệ được triển khai nhằm điều tra về thực trạng đời sống vật chất, tinh thần và vai trò của NCT, già làng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, an ninh chính trị ở Tây Nguyên Kết quả nghiên cứu cho thấy được vai trò to lớn của NCT, già làng trong tất cả các hoạt động tại cộng đồng Điều đó góp phần khẳng định
vị trí quan trọng của NCT trong cuộc sống [7]
Nghiên cứu “Người cao tuổi và các mô hình chăm sóc người cao tuổi ở Việt Nam” được phối hợp thực hiện giữa Ủy ban dân số, Gia đình và Trẻ em với Viện nghiên cứu Truyền thống và phát triển được thực hiện trong năm
2008 – 2009 Với các nhóm đối tượng như: nhóm người cung cấp dịch vụ chăm sóc người cao tuổi, người sử dụng dịch vụ chăm sóc người cao tuổi, cán
bộ địa phương và cộng đồng nghiên cứu được thực hiện trên 3 thành phố Hà Nội, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh Bên cạnh đó viện tiếp tục nghiên cứu tại thủ đô Hà Nội và thành phố Huế thông qua các mô hình chăm sóc NCT Nghiên cứu không chỉ tìm hiểu về quan hệ gia đình, quan hệ xã hội, các mô hình đang cung cấp dịch vụ cho NCT mà còn mô tả kỹ về thực trạng sức khỏe, sinh hoạt thường ngày của NCT[23]
Về vai trò của NCT, Lê Ngọc Lân (2017) trong cuốn “Người cao tuổi trong gia đình Việt Nam trong bối cảnh già hóa dân số và biến đổi xã hội” cho rằng, sự hỗ trợ đối với con cháu vừa thể hiện trách nhiệm của cha mẹ đối với con cái, vừa khiến người được hỏi cảm nhận được bản thân mình vẫn có ích
dù đã nhiều tuổi Sự hỗ trợ, mối tương tác qua lại giữa cha mẹ với con cháu hay giữa con cháu với cha mẹ là thể hiện sự yêu thương, đạo lý từ xưa Việc
Trang 13phát huy tinh thần này trong cuộc sống hằng ngày sẽ giúp cho người cao tuổi
có cuộc sống tốt hơn cả về tinh thần và vật chất Mối quan hệ tình cảm, tinh thần giữa người cao tuổi và con cháu: “Kính trên nhường dưới”, kính lão, là truyền thống đạo đức bao đời nay Tuy nhiên với sự phát triển của kinh tế, xã hội, sự thay đổi của mô hình gia đình, nhiều người cao tuổi sống riêng với con cái, khoảng cách về không gian sống, lối sống đã tác động đến tình cảm giữa người cao tuổi với con cháu và ngược lại[9]
Trong nghiên cứu “Dịch vụ xã hội trợ giúp người cao tuổiHà Nội hiện nay’’ tác giả Mai Tuyết Hạnh đã đề cập về dịch chăm sóc đời sống vật chất, dịch vụ chăm sóc đời sống tinh thần và các dịch vụ xã hội khác mà đối tượng thụ hưởng là NCT Trên cơ sở đánh giá thực trạng, nhu cầu sử dụng dịch vụ của NCT và khả năng cung cấp các dịch vụ của hệ thống an sinh tại thành phố
Hà Nội, tác giả chỉ ra vai trò của nhà nước, tổ chức tư nhân, tổ chức xã hội trong việc phát triển các dịch vụ xã hội trợ giúp NCT theo hướng dịch vụ công và cơ chế thị trường theo nhu cầu của người cao tuổi Từ đó tác giả đề xuất một số giải pháp khuyến nghị nhằm thúc đẩy sự hoàn thiện trong mối quan hệ giữa chủ thể cung cấp dịch vụ và người cao tuổi Đặc biệt như khuyến nghị đối với tìm kiếm việc làm, ổn định thu nhập cho NCT[6]
Những kết quả nghiên cứu về lĩnh vực NCT, CTXH đối với NCT đã có nhưng chưa nhiều Nghiên cứu tập trung chủ yếu là NCT tại cộng đồng về đặc điểm của NCT hoặc chất lượng chăm sóc NCT tại cộng đồng.Các đề tài về NCT tại các trung tâm bảo trợ xã hội còn rất ít Vì vậy, việc nghiên cứu công tác xã hội
cá nhân đối với người cao tuổi tại Trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh Nam Định có giá trị tham khảo đối với các cơ quan, tổ chức của Tỉnh Nam Định trong quá trình xây dựng, phát triển nghề CTXH nói chung, CTXH đối với NCT nói riêng
Trang 143 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực thực tiễn về CTXH cá nhân đối với NCT, từ đó đề xuất các giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động công tác xã hội cá nhân với người cao tuổi tại các trung tâm bảo trợ
xã hội nói chung và tại Trung tâm bảo trợ tỉnh Nam Định nói riêng
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về người cao tuổi, về công tác xã hội
cá nhân đối đối với người cao tuổi
- Nghiên cứu thực trạng về hoạt động công tác xã hội cá nhân đối với người cao tuổi tại Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Nam Định đã thực hiện
- Tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động công tác xã hội
cá nhân đối với người cao tuổi tại Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Nam Định
- Đề xuất các giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác xã hội cá nhân đối với người cao tuổi tại Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Nam Định
4 Đối tượng, phạm vi và khách thể nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Công tác xã hội cá nhân đối với người cao tuổi và công tác xã hội cá nhân đối với người cao tuổi tại Trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh Nam Định
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Địa bàn: Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Nam Định
- Thời gian: từ tháng 2 năm 2019 tới tháng 2 năm 2020
- Phạm vi đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu về cuộc sống của NCT và các hoạt động của CTXH cá nhân đối với NCT tại TTBTXH Tỉnh Nam Định
4.3 Phạm vi khách thể nghiên cứu
- 35 người cao tuổi tại Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Nam Định (đây là tất
cả NCT tại Trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh Nam Định)
- 03 lãnh đạo quản lý Trung tâm bảo trợ Tỉnh Nam Định
Trang 15- 03 cán bộ nhân viên công tác xã hội, 07 nhân viên y tế tại Trung tâm Bảo
trợ giúp cho người cao tuổi tại Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Nam Định
Nghiên cứu vấn đề trên theo cách tiếp cận hệ thống: hệ thống các yếu tố
có liên quan: dịch vụ trợ giúp, hệ thống chính sách về người cao tuổi …
5.2 Phương pháp nghiên cứu
5.2.1 Phương pháp phân tích tài liệu
Tham khảo các văn bản pháp luật: Luật Người cao tuổi, các chính sách, các tài liệu có liên quan đến công tác xã hội, công tác xã hội cá nhân, người cao tuổi tại trung tâm bảo trợ xã hội
Phân tích các thông tin đã thu thập được từ nhiều nguồn khác nhau, từ
đó tổng hợp và đưa ra các nhận xét, đánh giá Đồng thời, sử dụng phương pháp này nhằm thu thập, tổng hợp, phân tích tài liệu từ sách, báo, tạp chí, các báo cáo khoa học để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài
5.2.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Đề tài xây dựng bộ công cụ bảng hỏi dành cho khách thể là 35 người cao tuổi tại Trung tâm bảo trợ tỉnh Nam Định với các câu hỏi nhằm khai thác thông tin phục vụ cho việc tổng hợp số liệu nghiên cứu Những thông tin thu thập liên quan đến tiến trình trợ giúp công tác xã hội cá nhân, nhu cầu của NCT trong quá trình làm việc với NVCTXH
5.2.3 Phương pháp phỏng vấn sâu
Phương pháp này sử dụng trên các nhóm đối tượng là NCT, NVCTXH tại Trung tâm bảo trợ, nhân viên y tế và lãnh đạo trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh Nam
Trang 16Định Bằng phương pháp này tác giả nhằm thu thập thông tin cơ bản về trung tâm, đời sống của NCT tại đây, những khó khăn, tồn tại và nhu cầu của NCT
6 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu của đề tài tiếp tục làm sáng tỏ những vấn đề lý luận
về CTXH, CTXH cá nhân với người cao tuổi trên cơ sở của những khảo sát thực tiễn; từ đó cung cấp thông tin có giá trị tham khảo cho các nhà nghiên cứu, các cơ sở đào tạo, các nhà xây dựng chính sách về các nội dung liên quan
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của đề tài được thể hiện trong 3 chương sau:
Chương 1:Cơ sở lý luận về công tác xã hội cá nhân với người cao tuổi Chương 2: Thực trạng công tác xã hội cá nhân đốivới người cao tuổi tại
Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Nam Định
Chương 3:Ứng dụng công tác xã hội cá nhân đối với người cao tuổi và
một số kiến nghị nâng cao hiệu quả công tác xã hội cá nhân đối với người cao tuổi từ thực tiễn tại Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Nam Định
Trang 17Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN
ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI 1.1 Người cao tuổi: khái niệm, đặc điểm và nhu cầu
1.1.1 Khái niệm người cao tuổi
Có nhiều cách tiếp cận khi xác định“người cao tuổi”.Trước đây, người ta thường dùng thuật ngữ “người già” để chỉ những người có tuổi Thời gian gần đây, thuật ngữ “người cao tuổi” ngày càng được sử dụng nhiều hơn Cả hai cách gọi không khác nhau về bản chất, tuy nhiên, cách gọi “người cao tuổi”
tích cực hơn về mặt tâm lý và tôn trọng hơn về mặt thái độ
Liên Hợp Quốc chấp nhận mốc để xác định dân số già là từ 60 tuổi trở lên trong đó phân ra làm ba nhóm: Sơ lão (60-69 tuổi); trung lão (70-79 tuổi)
và đại lão (từ 80 tuổi trở lên)
Ở hầu hết các nước phát triển như Đức, Hoa Kỳ hay Nhật đều quy định, người cao tuổi là người 65 tuổi trở lên
Ở Việt Nam, theo Luật Người cao tuổi năm 2010 “Người cao tuổi là công dân Việt Nam từ 60 tuổi trở lên” [14]
Khái niệm về NCT theo Luật NCT năm 2010 sẽ được tác giả sử dụng trong nghiên cứu này
Với đặc thù là một nghề trợ giúp xã hội, CTXH nhìn nhận NCT như sau: NCT với những thay đổi về tâm sinh lý, lao động - thu nhập, quan hệ xã hội
sẽ gặp nhiều khó khăn, vấn đề trong cuộc sống Do đó, NCT là một đối tượng yếu thế, đối tượng dễ bị tổn thương cần sự trợ giúp của CTXH
1.1.2 Đặc điểm tâm sinh lý và nhu cầu của người cao tuổi
1.1.2.1 Đặc điểm sinh lý của người cao tuổi
Cùng với sự phát triển của nhận thức, cơ thể con người cũng luôn có những biến đổi về sinh lý cơ thể Ngoài 60 tuổi sự phát triển của cơ thể đã có
Trang 18những giảm sút theo thời gian, chức năng của não suy giảm dần và gây ra những cản trở bước đầu trong nhận thức[24,tr.27]
Các chức năng của thị giác và thính giác ở giai đoạn đầu từ 60-70 tuổi vẫn còn tốt nhưng từ 70 tuổi trở đi các chức năng này suy giảm mạnh Các bệnh thường gặp về thị giác của NCT như đục thuỷ tinh thể, viễn thị… Với thính giác biểu hiện của việc nghe không rõ là NCT thường xuyên yêu cầu người xung quanh nhắc lại và nói to hơn với họ Bên cạnh đó sự nhạy cảm của khứu giác và vị giác cũng suy giảm mạnh, đó cũng là một phần dẫn đến việc ăn ít, kém ăn ở NCT
Giai đoạn đầu của tuổi già sức làm việc của người cao tuổi vẫn còn, năng lực sáng tạo còn cao bởi những kinh nghiệm và vốn sống được tích luỹ trong quá trình làm việc trước đây Tính ham hiểu biết của người cao tuổi giai đoạn này thể hiện qua việc họ hứng thú theo dõi các bản tin thời sự, khoa học kỹ thuật, xã hội; đọc báo, đọc tin tức sau đó đưa ra những bình luận, đánh giá Trí nhớ giảm sút rõ rệt khiến NCT thường nhắc lại một vấn đề nhiều lần, nhất là các vấn đề thuộc trí nhớ ngắn hạn, trí nhớ dài hạn vẫn ở mức cao Các
kí ức về thời trẻ cũng được nhắc lại rất chính xác Ở người cao tuổi tư duy đã
có phần kém linh hoạt, tư duy để đưa ra quyết định thường chậm hơn so với lớp trẻ Tuy nhiên, với sự trải nghiệm và kho kiến thức sâu rộng của bản thân những quyết định được người cao tuổi đưa ra luôn có sự cân nhắc kỹ lưỡng và chín chắn
Tuổi già đến, thay đổi về hình dáng là những thay đổi đầu tiên
Hệ da, lông, móng, tóc NCT có nhiều thay đổi Da của người cao tuổi mỏng
dễ bị tổn thương, khô và có nhiều nếp nhăn, sự đàn hồi kém, da xuất hiện những vết đồi mồi
Vầng trán nhăn nheo, mạch máu lộ trên da, mí mắt sệ, quầng mắt thâm sậm đen, vành tai chảy xuống.Tóc của người cao tuổi rụng nhiều, khiến tóc thưa hơn, sắc tố của tóc giảm làm cho tóc người cao tuổi không có màu (bạc
Trang 19tóc) Trong suốt quá trình lão hóa, móng tay và móng chân trở nên dày,giòn
và dễ gãy
Có rất nhiều thay đổi diễn ra trong hệ cơ xương khớp NCT thường bị giảm tổng khối lượng xương và cơ, giảm khối lượng xương diễn ra dưới dạng mất calci xương làm xương trở nên giòn và yếu, loãng xương và tăng nguy cơ gãy xương ở người già Chiều cao của NCT giảm từ 1-2cm, cân nặng cũng có dấu hiệu giảm, mỡ nhiều hơn ở vùng bụng và mông [24]
1.1.2.2 Đặc điểm tâm lý của người cao tuổi
Cả cuộc đời làm việc và cống hiến khi tuổi cao đây chính là lúc NCT nghỉ ngơi và an dưỡng, tuy vậy, không phải ai cũng có cuộc sống êm đẹp đủ đầy Có nhiều NCT khó khăn, tuổi cao nhưng vẫn phải làm việc, thậm chí làm việc vất
vả để phục vụ cuộc sống điều đó có phần ảnh hưởng tới đời sống tình cảm của họ[24,tr.27]
NCT sống thiên về tình cảm vì thế cảm xúc của họ vô cùng nhạy cảm dễ vui vẻ cũng rất dễ bực bội và hờn dỗi Mặc cảm về sức yếu tuổi cao nên NCT
có tâm lý bi quan, nghĩ mình là người thừa là gánh nặng cho con cái, không còn có ích nhiều cho gia đình và xã hội Từ đó cảm giác u uất, hoài nghi, tinh thần nặng nề Bên cạnh đó NCT cũng nhận thức được về tình trạng sức khoẻ,
có cảm giác sợ bệnh tật, sợ ốm đau, sợ không ai chăm sóc và sợ sẽ làm phiền con cháu
Các mối quan hệ của NCT cũng thu hẹp lại so với thời kỳ trẻ khiến họ cảm thấy sự mất mát Với những NCT còn sức khoẻ thì quan hệ giao tiếp thường có gia đình, người thân, hàng xóm và bạn bè ở các câu lạc bộ (hưu trí, hội NCT, cựu chiến binh, hội ngâm thơ cây cảnh…) NCT có sức khoẻ kém đi lại khó khăn thì giao tiếp cũng thu hẹp lại Đối với không ít người, chỉ còn gia đình, hàng xóm thân cận và người thân Quá trình giao tiếp của NCT cũng xảy
ra những rào cản như tốc độ nói chậm, thính giác suy giảm, trí nhớ ngắn hạn
Trang 20Bởi đặc điểm sinh lý nên người cao tuổi rất nhạy cảm với âm thanh và tiếng động NCT thích nghỉ ngơi yên tĩnh vào buổi trưa, không thích tiếp chuyện vào buổi tối
1.1.2.3 Nhu cầu của người cao tuổi
Nhu cầu về vật chất: Tuổi lao động đã hết nhưng NCT vẫn tham gia lao động vì một số lý do như: rèn luyện sức khỏe, với kiến thức tích lũy và kinh nghiệm sống nên việc thực hiện công việc có tính chắc chắn cao, đối với những NCT khó khăn về kinh tế, lao động khiến họ có thêm thu nhập để trang trải cuộc sống Trên hết thì làm một công việc phù hợp với sức khỏe và khả năng của bản thân giúp NCT vui vẻ và cảm thấy mình vẫn có ích trong cuộc sống Nhu cầu về tinh thần: Với NCT thì nhu cầu quan trọng nhất chính là sống quây quần bên gia đình được con cháu sẻ chia, chăm sóc, yêu thương, kính trọng
Ở NCT nói chung có 5 nhu cầu chính :
Nhu cầu được chăm sóc yêu thương
Nhu cầu được khoẻ mạnh chăm sóc khi ốm đau
Nhu cầu thấy mình có ích cho xã hội
Nhu cầu vui hưởng tuổi thọ
Nhu cầu được học hỏi
Qua đó có hai nhu cầu quan trọng nhất cần đáp ứng đó là nhu cầu được chăm sóc yêu thương và nhu cầu được khoẻ mạnh chăm sóc khi ốm đau
1.2 Lý luận về công tác xã hội cá nhân đối với người cao tuổi
1.2.1 Khái niệm công tác xã hội cá nhân đối với người cao tuổi
Khái niệm công tác xã hội cá nhân
Công tác xã hội cá nhân là phương pháp của công tác xã hội thông qua tiến trình giúp đỡ khoa học và chuyên nghiệp nhằm hỗ trợ cá nhân tăng cường năng lực tự giải quyết vấn đề của mình.Trong tiến trình này nhân viên xã hội vận dụng nền tảng kiến thức khoa học tâm lý học xã hội học và khoa học xã hội
Trang 21liên quan khác, đồng thời sử dụng kỹ năng tuân thủ đạo đức nghề nghiệp sát cánh cùng đối tượng, hỗ trợ họ tự giải quyết vấn đề của bản thân và có thể vượt qua các vấn đề khác có thể xảy ra trong tương lai[21,tr.27]
Khái niệm công tác xã hội cá nhân với người cao tuổi
Công tác xã hội cá nhân với NCT là phương pháp của CTXH nhằm giúp
đỡ hỗ trợ NCT vượt qua khó khăn giúp họ đánh giá xác định vấn đề tìm hiểu tiềm năng điểm mạnh từ đó nâng cao năng lực tự giải quyết vấn đề Quá trình giúp đỡ là quá trình khoa học và chuyên nghiệp trong đó NVXH vận dụng nền tảng kiến thức khoa học tâm lý học, xã hội học các khoa học liên quan khác và các kỹ năng , đạo đức nghề nghiệp sát cánh cùng NCT hỗ trợ họ tự giải quyết vấn đề của mình và hướng đến vượt qua những vấn đề khác có thể xảy ra trong tương lai
1.2.2 Nguyên tắc của công tác xã hội cá nhân với người cao tuổi; các hoạt động của công tác xã hội cá nhân với người cao tuổi;tiến trình công tác xã hội cá nhân với người cao tuổi
1.2.2.1.Nguyên tắc của công tác xã hội cá nhân với người cao tuổi
Nguyên tắc chấp nhận
NCT phải được chấp nhận với mọi phẩm chất những điểm mạnh và yếu
mà không có sự phán xét đến các hành vi của họ là đúng hay sai Điều này thể hiện sự tôn trọng những giá trị bản thân NCT bất kể địa vị xã hội, thành phần xuất thân hoặc hành vi của họ là như thế nào Tuy nhiên, việc chấp nhận NCT không đồng nghĩa với việc tha thứ cho những hành vi mà xã hội không chấp nhận Sự chấp nhận này chỉ có nghĩa là thể hiện sự quan tâm và thiện chí muốn giúp đỡ NCT với tư cách là một con người cần được giúp đỡ chứ không phải vì hành vi của họ
Sự chấp nhận thể hiện qua những cử chỉ thân thiện, sự lắng nghe, chia sẻ cùng NCT cho dù do đặc điểm của tuổi già họ có hay quên, nhắc đi nhắc lại
Trang 22NCT trước hết NVCTXH cần nắm được các đạo đức nghề nghiệp, hiểu được các đặc điểm tâm sinh lý của NCT để có thể đồng hành cùng NCT và mang lại hiệu quả làm việc cao
Nguyên tắc tôn trọng quyền tự quyết
NVCTXH đóng vai trò trợ giúp, đồng hành, trợ giúp cùng NCT để NCT
tự đưa ra quyết định đúng đắn phù hợp cho vấn đề của mình NCT là người hiểu hơn ai hết về vấn đề, mong muốn và khả năng của bản thân Hơn nữa với kho kinh nghiệm sống tích luỹ nhiều năm họ hoàn toàn có thể đưa ra quyết định cho vấn đề của mình Khi NCT tự đưa ra quyết định cho vấn đề của mình,
họ sẽ cảm thấy tự tin hơn, có trách nhiệm trong vấn đề đó và hơn thế nữa còn là động lực cho bản thân NCT rằng cho dù tuổi cao, vấn đề khó khăn nhưng bản thân mình vẫn có ích Có những trường hợp đặc biệt do đặc điểm sức khoẻ không cho phép NCT bị lẫn hoặc NCT bị bệnh tâm thần thì NVCTXH cần lấy
ý kiến từ người giám hộ của họ
Nguyên tắc tạo điều kiện tích cực để NCT tham gia giải quyết vấn đề
NCT sẽ cảm thấy tự tin để tham gia giải quyết vấn đề của họ khi được khuyến khích hoặc hướng dẫn để đưa ra những quyết định liên quan đến quá trình giải quyết vấn đề NVCTXH không hiểu được rõ ràng vấn đề như NCT
vì chính họ ở trong vấn đề đó Việc khuyến khích NCT tham gia vào quá trình giải quyết vấn đề của họ cũng sẽ giúp NVCTXH có những cái nhìn thấu đáo
về vấn đề của NCT, về những khả năng của NCT để có thể giúp đưa ra những biện pháp giải quyết phù hợp với nhu cầu và hoàn cảnh của họ
Tuy vậy khi làm việc vẫn cần chú ý về tình trạng sức khoẻ,hoàn cảnh sống, tuổi tác của NCT để có sự làm việc hợp lý và khoa học Những người điều kiện sức khoẻ không đáp ứng được thì huy động sự tham gia của người giám hộ hoặc người thân, nếu là hoàn cảnh không có người giám hộ và người thân thì huy động sự tham gia của chính quyền địa phương hoặc cơ quan chức năng khác
Trang 23Nguyên tắc đảm bảo tính khác biệt của mỗi trường hợp
Mỗi NCT đều có những tính cách, đặc điểm riêng Những đặc điểm này
là khác nhau giữa người và người bởi chúng xuất phát từ hoàn cảnh xã hội, kinh nghiệm sống riêng của họ Những vấn đề và nhu cầu cần giúp đỡ của NCT cũng sẽ khác nhau bởi vì chúng xuất phát từ những hoàn cảnh khác nhau Trong quá trình làm việc với thân chủ là NCT không có một khuôn mẫu nào để giải quyết chung cho một vấn đề Cá nhân hóa trường hợp là tôn trọng những sự khác biệt của họ và cũng sẽ giúp NVCTXH có thể phát hiện ra những điểm mạnh của NCT để phát huy trong quá trình cùng NCT tham gia giải quyết vấn đề Ngoài ra, đảm bảo tính khác biệt của mỗi trường hợp sẽ nâng cao hiệu quả sự giúp đỡ, đáp ứng đúng nhu cầu và mang lại lợi ích thiết thực cho NCT
Nguyên tắc đảm bảo sự riêng tư kín đáo các thông tin về NCT
Đảm bảo bí mật thông tin của NCT là yêu cầu đạo đức đối với nghề CTXH NVCTXH có trách nhiệm bảo vệ bí mật tuyệt đối tất cả những thông tin liên quan đến NCT hoặc thông tin được NCT cung cấp trong quá trình trợ giúp Những thông tin của NCT chỉ có thể chia sẻ với những người có liên quan đến việc trợ giúp vấn đề của chính NCT đó và được họ đồng ý Tuy nhiên, trong những trường hợp khẩn cấp, thông tin của NCT vẫn có thể được chia sẻ với các cơ quan chức năng có thẩm quyền nếu NVCTXH xét thấy việc giữ bí mật thông tin đó sẽ ảnh hưởng tới sự an toàn của NCT hoặc cộng đồng
1.2.2.2 Các hoạt động của công tác xã hội cá nhân với người cao tuổi
Các hoạt động của CTXH cá nhân với NCT bao gồm:
Tham vấn: Tham vấn đối với NCT là quá trình trợ giúp tâm lý, trong đó
nhà tham vấn (ở đây là NVCTXH) sử dụng kiến thức kỹ năng chuyên môn và thái độ nghề nghiệp để thiết lập mối quan hệ tương tác tích cực với NCT nhằm giúp họ nhận thức được vấn đề để thay đổi thái độ, suy nghĩ, cảm xúc,
Trang 24Tư vấn: Tư vấn là hoạt động NVCTXH chia sẻ định hướng NCT giải
quyết vấn đề họ đang gặp phải bằng kiến thức kỹ năng mà NVCTXH có
Kết nối nguồn lực: NVCTXH có những thông tin về các dịch vụ chính
sách và tài nguyên, NVCTXH giới thiệu kết nối những thông tin chính sách
đó với NCT để họ có thêm sức mạnh để giải quyết vấn đề của mình
Biện hộ: Biện hộ là hoạt động mà NVCTXH cùng thân chủ hoặc thay mặt
thân chủ nói lên “tiếng nói” của mình để thúc đẩy hoặc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của NCT
Giáo dục: NVCTXH cung cấp những thông tin kiến thức cho NCT giúp
NCT nâng cao năng lực phòng tránh các nguy cơ hoặc tự giải quyết vấn đề của mình
Chăm sóc: NVCTXH cung cấp dịch vụ trợ giúp hoặc trực tiếp thực hiện
chăm sóc NCT trong sinh hoạt (thường là NCT tại các trung tâm bảo trợ, viện dưỡng lão, trung tâm điều dưỡng người có công.)
Quản lý trường hợp: NVCTXH có nhiệm vụ kết nối và điều phối các
dịch vụ can thiệp cần thiết để NCT có thể tiếp cận và sử dụng để vượt qua khó khăn về thể chất tâm thần, tâm lý xã hội và giúp họ phục hồi và phòng chống các vấn đề có thể xảy ra hoặc tái diễn
Cung cấp thông tin: NVCTXH trực tiếp hoặc mời chuyên gia cung cấp
cho NCT những thông tin dựa trên chính nhu cầu của họ Thông tin có thể về luật pháp, chính sách, các thông tin liên quan tới sức khỏe hoặc bất kỳ vấn đề
mà NCT quan tâm trong phạm vi cho phép của luật pháp và đạo đức nghề
1.2.2.3.Tiến trình công tác xã hội cá nhân với người cao tuổi
Tiếp cận NCT: Tiến trình CTXH cá nhân với NCT khởi đầu bằng giai
đoạn tiếp nhận NCT Việc tiếp nhận NCT tính từ lúc NVCTXH nhận hồ sơ hoặc gặp NCT buổi đầu tiên Ở bước tiếp nhận NCT, NVCTXH thường tìm hiểu những thông tin cơ bản về thân chủ như số hồ sơ, họ tên, tuổi, giới tính, tình trạng thể chất, tinh thần….Nếu trong trường hợp trợ giúp đột xuất như
Trang 25NCT bị giam giữ hay bạo hành thì hỗ trợ về sinh lý và y tế là những hỗ trợ bước đầu
Thu thập thông tin: Thu thập thông tin giúp để có cái nhìn tổng quát về
vấn đề NCT đang gặp phải, nhu cầu và năng lực của họ để xây dựng một kế hoạch trợ giúp khoa học hiệu quả cao nhất Những thông tin cần thu thập như: thông tin cá nhân, hoàn cảnh sống, mối quan hệ gia đình, mối quan hệ xã hội, khó khăn, điểm mạnh của cá nhân, vấn đề cần trợ giúp… Có nhiều nguồn thu thập thông tin như: bản thân thân chủ, qua người thân, người thường xuyên tiếp xúc, các hội nhóm NCT tham gia, chính quyền địa phương…
Đánh giá xác định vấn đề: Từ những thông tin thu thập được NVCTXH
cùng NCT vẽ cây vấn đề nhằm nhận xét đánh giá vấn đề họ gặp phải, nguyên nhân chủ quan khách quan, tiềm năng và nguồn lực có thể giải quyết vấn đề đó
Lập kế hoạch can thiệp: Đây là giai đoạn xây dựng toàn bộ kế hoạch trợ
giúp NVCTXH cần huy động tối đa sự tham gia của NCT vào việc xây dựng kế hoạch vì chính họ là người thực hiện kế hoạch và tạo ra thay đổi cho bản thân
Thực hiện kế hoạch: Trước hết NVCTXH cần chuẩn bị những điều kiện
cần thiết để thực hiện kế hoạch như tâm thế và các nguồn lực liên quan
NVCTXH luôn là người đồng hành cùng NCT để hỗ trợ, động viên NCT thực hiện kế hoạch xây dựng trước đó Bên cạnh đó NVCTXH còn có vai trò giám sát để đánh giá lại từng bước khi NCT thực hiện kế hoạch hay kịp thời góp ý với NCT khi cần thiết Tuy vậy NCT là người từng trải nên mọi góp ý hay động viên khích lệ của NVCTXH với NCT cần tế nhị, chân thành, khéo léo
Lượng giá: Là công việc để đo lường lại mức độ hoàn thành kế hoạch và
thẩm định lại các thay đổi, tiến bộ của NCT Đánh giá những thay đổi đó và điều chỉnh cho phù hợp
Trang 26Lượng giá được tiến hành trong mỗi bước và ở cuối quá trình trợ giúp Lượng giá cần có sự tham gia của NCT, NVCTXH và những người có liên quan
Kết thúc/chuyển giao: Kết thúc trong trường hợp NCT đã nhận được các
trợ giúp cần thiết và vấn đề của họ đã được giải quyết NCT giàu tình cảm, trong quá trình cộng tác tình cảm được xây dựng, khi kết thúc không tránh được những xúc động NVCTXH không nên kết thúc ca một cách đột ngột khiến NCT hụt hẫng
Chuyển giao: Chuyển giao thực hiện khi NCT cần đáp ứng những dịch vụ khác mà NVCTXH không đáp ứng được hoặc quá trình trợ giúp của NVCTXH với NCT không mang lại nhiều những thay đổi tích cực
1.3 Một số lý thuyết ứng dụng trong công tác xã hội cá nhân đối với người cao tuổi
1.3.1 Thuyết nhu cầu của Maslow
Học thuyết về nhu cầu của con người được xây dựng bởi nhà khoa học
xã hội nổi tiếng Abraham Maslow Quan điểm của lý thuyết này cho rằng mỗi con người dù ở lứa tuổi nào đều có 5 nhu cầu nhất định cần được đáp ứng để
cá nhân đó có thể hướng đến một cuộc sống lành mạnh, hạnh phúc Lý thuyết này giúp cho sự hiểu biết về những nhu cầu của con người bằng cách nhận diện một số hệ thống thứ bậc các nhu cầu Theo đó, 5 loại nhu cầu của con người được sắp xếp theo thứ tự từ thấp đến cao.Nhu cầu của con người phản ánh những mong muốn chủ quan hoặc khách quan của con người ấy và nó phụ thuộc vào yếu tố như hoàn cảnh sống, văn hóa, nhận thức hoặc vị trí xã hội của họ Maslow cho rằng con người phải được đáp ứng những nhu cầu cơ bản để tồn tại và phát triển Đó là những nhu cầu về vật chất và sinh lý, nhu cầu an toàn, nhu cầu tình cảm xã hội, nhu cầu được tôn trọng và nhu cầu hoàn thiện Các nhu cầu này được sắp xếp theo thứ tự thang bậc từ nhu cầu cơ bản
có vị trí nền tảng nhất đến nhu cầu khác cao hơn Vì vậy lý thuyết nhu cầu
Trang 27còn được gọi tên khác là bậc thang nhu cầu Trong cách tiếp cận của ông con người có nhu cầu thỏa mãn những nhu cầu quan trọng nhất ở bậc thang đầu tiên sau đó mới hướng tới những nhu cầu cao hơn
Hình 1.1: Sơ đồ thuyết nhu cầu của Maslow
Nhu cầu về quan hệ và được thừa nhận: Nhu cầu này bắt nguồn từ tình
cảm của con người đối với việc lo sợ bị cô độc, coi thường, buồn chán Con người mong muốn được hòa nhập, có lòng tin, lòng trung thành giữa con người với nhau Ở mức độ cao hơn của nhu cầu này, con người mong muốn được hòa nhập, lòng thương, tình bạn, tình thân Nhu cầu này thể hiện tầm quan trọng của tình cảm trong quá trình phát triển của nhân loại
Nhu cầu được tôn trọng: Đó là lòng tự trọng và được người khác tôn
trọng Mỗi người đều có lòng tự trọng, là mong muốn giành được lòng tin, có năng lực, độc lập, tự tin, tự do và tự hoàn thiện Nhu cầu được tôn trọng là việc giành được uy tín, được thừa nhận, được người khác coi trọng Khi được người khác tôn trọng và tin tưởng, con người ta sẽ cố gắng để làm tốt công việc của mình
Nhu cầu phát huy bản ngã: Đây là nhu cầu cao nhất, là tiềm năng của
mỗi cá nhân đạt tới mức tối đa như nhu cầu về nhận thức, thẩm mỹ… và nhu cầu hoàn thành mục tiêu bằng khả năng của cá nhân
Áp dụng lý thuyết nhu cầu đối với người cao tuổi ta thấy:
Trang 28Thang nhu cầu của Maslow thì nhu cầu trước tiên và lớn nhất của con người là nhu cầu vât chất và sinh lý (hay nhu cầu sinh học) như: ăn, mặc, ở, tình dục…Tuy nhiên, nhu cầu ăn uống sinh lý của người cao tuổi không còn cao như những lứa tuổi khác Thậm chí, có những người cao tuổi còn hạn chế ăn uống những thức ăn có chứa đạm, đường… chỉ tăng cường ăn rau xanh và hoa quả vì lý
do sức khỏe Họ cũng không cần mặc thật đẹp theo xu hướng bởi tâm lý “sợ lãng phí’’ Họ chỉ mặc những bộ quần áo cũ, còn quần áo mớido con cháu biếu, tặng mới thì cất giữ cẩn thận
Một nhu cầu được coi là rất quan trọng với người cao tuổi là nhu cầu được chăm sóc sức khỏe, bởi đây là giai đoạn các bộ phận trên cơ thể họ đã lão hóa, khả năng phục hồi rất thấp Cơ thể có những cơn đau khi thay đổi thời tiết Thêm vào đó những năm tháng phấn đấu của tuổi trẻ để lại cho cơ thể những tổn thương như: chân tay đau nhức, lưng còng, gối mỏi, mắt mờ
…Chính vì vậy, nhu cầu chăm sóc sức khỏe và nhu cầu được hỗ trợ chăm sóc sức khỏe là tất yếu
NCT luôn có nhu cầu được yêu thương kính trọng về nhũng gì mình đã cống hiến Luôn mong muốn được sum vầy với con cháu, lấy đó là niềm vui trong cuộc sống NCT luôn muốn vị trí và tiếng nói của họ trong gia đình có giá trị cao Đây là nhu cầu lớn bởi NCT dù đã rời xa các mối quan hệ xã hội, chính vì vậy nguồn vui của họ là những người thân trong gia đình, đặc biệt là con cháu Đối với NCT tại các trung tâm bảo trợ thì mối quan hệ của họ với gia đình thường lỏng lẻo hoặc không có Giao tiếp chỉ thu hẹp lại với những người sống cùng trung tâm, NVCTXH, y sỹ, bác sỹ hay những người trực tiếp chăm sóc Tuy vậy, họ vẫn có nhu cầu được những người xung quanh thường xuyên giao tiếp chia sẻ, tôn trọng và yêu thương
Ngoài ra, NCT nói chung và NCT trong TTBTXH nói riêng còn có những nhu cầu khác như được tiếp tục tài năng của mình để cống hiến cho xã
Trang 29hội, chơi những thú vui như trồng hoa, chơi cờ, nuôi chim, trồng cây cảnh…để thư thái về tinh thần và vận động để dẻo dai về sức khỏe
Như chúng ta đã biết, những nhu cầu bậc thấp là yếu tố tối thiểu cần phải
có, những nhu cầu bậc cao cũng đóng vai trò quan trọng trong việc giúp một
cá nhân phát triển tốt Song, NCT sống trong TTBTXH mới được đáp ứng những nhu cầu cơ bản như ăn, ở, mặc, chăm sóc cơ bản về y tế Những nhu cầu về chia sẻ và trợ giúp từ NVCTXH thuộc về nhu cầu xã hội đã có nhưng còn kém Dựa vào thuyết nhu cầu tác giả sẽ chỉ ra nhu cầu của NCT tại TTBTXH trong quá trình làm việc với NVCTXH
Thuyết vai trò được đánh giá là phương pháp tiếp cận hiệu quả đối với việc hiểu biết về con người và xã hội Vì thế, người ta đề cập đến một số khái niệm có liên quan như:
Mơ hồ vai trò: là hoàn cảnh một cá nhân gặp phải khó khăn khi quyết định vai trò nào mà cá nhân đó nên làm
Xung đột vai trò: xảy ra khi một cá nhân đối phó với căng thẳng vì cá nhân
đó chưa đủ khả năng để thực hiện hoặc đáp ứng các đòi hỏi của vai trò đó
Sợ hãi vai trò: nói đến những khó khăn có thể cảm nhận thấy trong việc
Trang 30Trong công tác xã hội đa phần lý thuyết vai trò thường được đề cập để các NVCTXH nhìn nhận, tìm hiểu, phân tích vấn đề của thân chủ Tuy nhiên trong nghiên cứu này, lý thuyết vai trò được vận dụng để đưa ra những đề xuất cho nhân viên công tác xã hội trong trợ giúp NCT tại Trung tâm bảo trợ
xã hội Trên lý thuyết, trợ giúp NCT, NVCTXH có những vai trò như người giáo dục, người tạo khả năng, người cung cấp thông tin…Thế nhưng, vai trò của NVCTXH trên thực tế địa bàn nghiên cứu còn rất mờ nhạt Dẫu vậy vai trò ấy đã được nhà nước thừa nhận trong các văn bản pháp luật Chính vì thế, căn cứ vào nhu cầu thực tế, kết hợp với các quy định của pháp luật về vai trò của NVCTXH, nghiên cứu sẽ đưa ra những đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện CTXH cá nhân với NCT từ thực tiễn tại Trung tâm bảo trợ
xã hội tỉnh Nam Định
1.4 Một số yếu tố ảnh hưởng tới công tác xã hội đối với người cao tuổi
1.4.1 Đặc điểm của người cao tuổi
NCT đều phải trải qua quá trình làm việc và cống hiến, hơn những NCT trong TTBTXH đều là đối tượng khó khăn chính vì vậy cả cuộc đời họ phải lao động và làm việc một cách lam lũ Sức khoẻ kém kèm theo những khó khăn
về kinh tế khiến NCT tại trung tâm hầu hết có thái độ rụt rè và tự ti Đặc trưng sinh lý khiến NCT khó khăn hơn trong giao tiếp Thiếu linh hoạt và trí nhớ kém cũng khiến NCT khép mình hơn và đây cũng là hạn chế lớn trong quá trình làm việc giữa NCT và NVCTXH
1.4.2 Năng lực, kỹ năng của nhân viên công tác xã hội
Các kỹ năng của NVCTXH đóng vai trò quan trọng trong quá trình làm việc đối với NCT NVCTXH có kiến thức tốt sẽ dễ dàng tiếp cận và đánh giá được vấn đề mà NCT đang gặp phải Khi đó sẽ dễ dàng hơn trong quá trình xây dựng tiến trình trợ giúp
NVCTXH có kỹ năng linh hoạt sẽ có những lợi thế trong thực hiện những hoạt động như tuyên truyền, kết nối nguồn lực hay tham vấn Kỹ năng tham
Trang 31vấn tốt giúp NCT tin tưởng hơn vào NVCTXH và dễ dàng chia sẻ vấn đề của mình hơn
NCT coi trọng tình cảm, hay có cảm giác cô độc, mất mát, dễ hờn dỗi tổn thương nên NVCTXH hiểu những đặc điểm này sẽ là lợi thế trong quá trình trợ giúp NCT
1.4.3 Nhận thức của cán bộ nhân viên trung tâm bảo trợ xã hội
Khi lãnh đạo trung tâm và các nhân viên trong trung tâm hiểu được các hoạt động của CTXH sẽ là một lợi thế để NVCTXH trợ giúp cho NCT Lãnh đạo trung tâm tạo điều kiện về cơ sở vật chất và kinh tế sẽ khiến quá trình trợ giúp diễn ra thuận lợi hơn Cán bộ quản lý trực tiếp NCT cũng cần tạo điều kiện về thời gian để lịch sinh hoạt và thời gian làm việc với NVCTXH không bị trùng nhau
1.5 Cơ sở pháp lý chính trị- pháp lý của công tác xã hội cá nhân đối với người cao tuổi
1.4.1 Chủ trương của Đảng
Hội người cao tuổi Việt Nam được thành lập (10/5/1995) Ban bí thư Trung ương đã ban hành Chỉ thị 59/CT-TW “Về chăm sóc người cao tuổi”, quy định: “Việc chăm sóc đời sống vật chất và tinh thần của người cao tuổi là trách nhiệm của Đảng, nhà nước và toàn xã hội”
Báo cáo chính trị tại Đại hội IX của Đảng đã nêu: “Đối với các lão thành cách mạng, những người có công với nước, các cán bộ nghỉ hưu, những người cao tuổi thực hiện chính sách đền ơn đáp nghĩa, chăm sóc sức khỏe, nâng cao đời sống tinh thần và vật chất trong điều kiện mới; đáp ứng nhu cầu thông tin, phát huy khả năng tham gia đời sống chính trị của đất nước và các hoạt động
xã hội; nêu gương tốt, giáo dục lý tưởng và truyền thống cách mạng cho thanhniên, thiếu niên…”
Trang 32Báo cáo chính trị tại Đại hội X của Đảng nêu ra vai trò của toàn dân trong việc đền ơn đáp nghĩa dối với lão thành cách mạng và người có công với nước, nhất là đối tượng NCT khó khăn không nơi nương tựa
Báo cáo chính trị tại Đại hội XII của Đảng nêu rõ: Quan tâm chăm sóc sức khỏe, tạo điều kiện để NCT hưởng thụ văn hóa, tiếp cận thông tin, sống vui, sống khỏe, sống hạnh phúc Phát huy trí tuệ, kinh nghiệm sống, lao động, lao động học tập của NCT trong xã hội và gia đình “Ông bà, cha mẹ mẫu mực, con cháu thảo hiền, vợ chồng hòa thuận, anh chị em đoàn kết thương yêu nhau”; giúp đỡ NCT cô đơn không nơi nương tựa
Nghị quyết Đại hội IV Hội NCT Việt Nam (2011) nêu: “Nâng cao hiệu quả hoạt động chăm sóc, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống người cao tuổi, giảm bớt khó khăn cho người cao tuổi nghèo, già yếu cô đơn, không để người cao tuổi phải sống lang thang cơ nhỡ’
Nghị quyết Đại hội V Hội NCT Việt Nam (2016) chỉ rõ: “Tăng cường xã hội hóa các hoạt động của Hội, xây dựng nguồn lực cả cơ sở vật chất và tài chính để chăm sóc phát huy vai trò NCT”
1.4.2 Luật pháp chính sách của Nhà nước
Nước ta có một luật hiện hành - Luật Người cao tuổi năm 2009 đã có các điều khoản về người cao tuổi và quyền của người cao tuổi
Quyền của người cao tuổi được khẳng định rõ ràng qua điều 3 của Luật Người cao tuổi
a) Được bảo đảm các nhu cầu cơ bản về ăn, mặc, ở, đi lại, chăm sóc sức khoẻ
b) Quyết định sống chung với con, cháu hoặc sống riêng theo ý muốn c) Được ưu tiên khi sử dụng các dịch vụ theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan
d) Được tạo điều kiện tham gia hoạt động văn hoá, giáo dục, thể dục, thể thao, giải trí, du lịch và nghỉ ngơi
Trang 33đ) Được tạo điều kiện làm việc phù hợp với sức khoẻ, nghề nghiệp và các điều kiện khác để phát huy vai trò người cao tuổi
e) Được miễn các khoản đóng góp cho các hoạt động xã hội, trừ trường hợp tự nguyện đóng góp
g) Được ưu tiên nhận tiền, hiện vật cứu trợ, chăm sóc sức khỏe và chỗ ở nhằm khắc phục khó khăn ban đầu khi gặp khó khăn do hậu quả thiên tai hoặc rủi ro bất khả kháng khác
h) Được tham gia Hội người cao tuổi Việt Nam theo quy định của Điều lệ Hội;
i) Các quyền khác theo quy định của pháp luật
Điều 5 trong Luật này, quy định rõ “ Gia đình người cao tuổi có trách nhiệm chủ yếu trong việc phụng dưỡng người cao tuổi” Tại điều 10 của Luật này, con, cháu của người cao tuổi có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng người cao tuổi và những người khác có nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình Việc chăm sóc người cao tuổi không chỉ là việc riêng trong mỗi gia đình mà còn được cả nhà nước quan tâm, bảo vệ
Điều 20: Cơ sở chăm sóc người cao tuổi
Cơ sở chăm sóc người cao tuổi là nơi chăm sóc, nuôi dưỡng, tư vấn hoặc
hỗ trợ những điều kiện cần thiết khác cho người cao tuổi
Cơ sở chăm sóc người cao tuổi bao gồm:
a) Cơ sở bảo trợ xã hội;
b) Cơ sở tư vấn, dịch vụ chăm sóc người cao tuổi;
c) Cơ sở chăm sóc người cao tuổi khác
Chính phủ quy định chi tiết việc thành lập và hoạt động của các cơ sở chăm sóc người cao tuổi quy định tại khoản này
Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng cơ sở chăm sóc
Trang 34chăm sóc người cao tuổi công lập; hỗ trợ kinh phí cho cơ sở chăm sóc người cao tuổi ngoài công lập nuôi dưỡng người cao tuổi quy định tại khoản 2 Điều 18 của Luật này
Tổ chức, cá nhân đóng góp, đầu tư xây dựng cơ sở chăm sóc người cao tuổi bằng nguồn kinh phí của mình được hưởng các chính sách ưu đãi theo quy định của pháp luật về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường
Luật Hôn nhân và gia đình (năm 2014), khoản 2 Điều 36 quy định: “ Con có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ, đặc biệt khi cha mẹ
ốm dau, già yếu tàn tật; trong trường hợp gia đình có nhiều con thì các con phải cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ” Và khoản 2 Điều 47 Luật này
quy định về quyền phụng dưỡng ông bà của con cháu nội, ngoại
Để có thể trợ giúp người cao tuổi khi họ gặp những khó khăn trong cuộc sống, nước ta cũng có những chính sách để quy định và nâng cao vai trò của nhân viên công tác xã hội Đề án 32 của Chính phủ phê duyệt “ Đề án phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2010 – 2020” Với mục tiêu chung là
“Phát triển công tác xã hội trở thành một nghề ở Việt Nam Nâng cao nhận thức của toàn xã hội về nghề công tác xã hội; xây dựng đội ngũ cán bộ nhân viên công tác xã hội đủ về số lượng, đạt yêu cầu về chất lượng gắn với phát triển hệ thống cơ sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội tại các cấp, góp phần xây dựng hệ thống an sinh xã hội tiên tiến.” Bên cạnh đó, mục tiêu đến năm
2015, mỗi xã, phường, thị trấn có ít nhất từ 1 đến 2 cán bộ, viên chức, nhân viên công tác xã hội thuộc chức danh không chuyên trách hoặc công tác viên công tác xã hội với mức phụ cấp hàng tháng bằng mức lương tối thiểu chung
do chính phủ quy định Nghề CTXH đang ngày càng được chính phủ quan tâm, tạo mọi điều kiện tốt nhất để CTXH trở thành một nghề chuyên biệt, trợ giúp cho những đối tượng yếu thế trong xã hội
Trang 35Thông tư số 02/2004/TT-BYT hướng dẫn về chăm sóc sức khỏe ban đầu cho NCT Ngành y tế chịu trách nhiệm về chuyên môn, kỹ thuật trong chăm sóc sức khoẻ NCT … Tổ chức mạng lưới tình nguyện viên chăm sóc sức khoẻ cho người cao tuổi tại nhà.Trạm y tế xã, phường, thị trấn có trách nhiệm quản
lý sức khoẻ và thực hiện chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho người cao tuổi tại địa phương Trường hợp người cao tuổi bị tàn tật, cô đơn không nơi nương tựa bị ốm đau nhưng không đến khám, chữa bệnh tại nơi quy định thì trưởng trạm y tế cấp xã cử cán bộ y tế đến khám, chữa bệnh tại nơi ở của người cao tuổi hoặc báo cáo Uỷ ban nhân dân địa phương tổ chức đưa người bệnh đến cơ
sở khám, chữa bệnh… thực hiện việc ưu tiên khám trước cho người bệnh cao tuổi (sau trường hợp cấp cứu), phát triển các phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc nhất là ở tuyến y tế cơ sở đối với người bệnh cao tuổi ví dụ như: NCT được ưu tiên khám bệnh trước, ưu tiên về giường nằm…
Về chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người cao tuổi tại nơi cư trú, Điều 13 Luật người cao tuổi quy định về việc giao cho trạm y tế xã, phường, thị trấn chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người cao tuổi như hướng dẫn người cao tuổi
kỹ năng phòng bệnh, chữa bệnh và tự chăm sóc sức khoẻ; khám bệnh, chữa bệnh phù hợp với chuyên môn cho người cao tuổi; phối hợp với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tuyến trên tổ chức kiểm tra sức khoẻ định kỳ cho người cao tuổi; cử cán bộ y tế đến khám bệnh, chữa bệnh tại nơi cư trú đối với người cao tuổi cô đơn bị bệnh nặng không thể đến khám bệnh, chữa bệnh tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn có trách nhiệm hỗ trợ việc đưa người bệnh tới cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo đề nghị của trạm y
tế xã, phường, thị trấn
Những quy định trong thông tư của Bộ Y tế đã tạo điều kiện thuận lợi cho người cao tuổi trong việc khám chữa bệnh Nhưng một số quy định trong Thông tư vẫn chưa được thực hiện phổ biến tại nông thôn như tổ chức mạng
Trang 36quản lý chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người cao tuổi của Trạm y tế chưa được chú trọng phát triển
Thông tư số 21/2011/TT-BTC Quy định quản lý và sử dụng kinh phí chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho người cao tuổi tại nơi cư trú; chúc thọ, mừng thọ và biểu dương, khen thưởng người cao tuổi
Quyết định số 1781/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ : Phê duyệt Chương trình hành động quốc gia về người cao tuổi Việt Nam giai đoạn 2012 – 2020 nhấn mạnh:
- Xây đựng và phát triển mạng lưới chăm sóc sức khỏe phục hồi chức năng cho người cao tuổi dựa vào cộng đồng
Khuyến khích, duy trì mối quan hệ gia đình dòng họ cộng đồng trong việc chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi
Thông tư số 07/2013/TT-BLĐTBXH của Bộ lao động thương binh xã hội về “Quy định nghiệp vụ cộng tác viên công tác xã hội xã, phường thị trấn” quy định tại điều 3 về nhiệm vụ của NVCTXH như sau:
- Thu thập, tiếp nhận thông tin, yêu cầu trợ giúp của đối tượng trên địa bàn để báo cáo kịp thời với Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, công chức văn hóa-xã hội cấp xã có hướng giải quyết; sàng lọc, phân loại đối tượng và đề xuất với Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã giới thiệu chuyển tuyến đối tượng đến các cơ sở bảo trợ xã hội, trung tâm công tác xã hội, cơ sở y tế-phục hồi chức năng, cơ sở giáo dục -đào tạo và các cơ sở khác phù hợp
- Theo dõi, đánh giá diễn biến tình trạng sức khỏe, quan hệ gia đình, xã hội và các nhu cầu trợ giúp của đối tượng, đề xuất cấp có thẩm quyền thực hiện hoặc các biện pháp trợ giúp kịp thời, phù hợp, trực tiếp giải quyết, như:
Tư vấn, tham vấn, trị liệu, hòa giải, giáo dục thuyết phục, ngăn chặn, cách ly
Các chế độ, chính sách của tỉnh Nam Định:
Kế hoạch số 27/KH-UBND ngày 20/7/2011 của UBND tỉnh Nam Định
về việc Phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2011-2020 tỉnh Nam Định
Trang 37Mục tiêu của Kế hoạch là tuyên truyền để nâng cao nhận thức của xã hội về nghề CTXH, hình thành hệ thống cơ sở cung cấp dịch vụ CTXH; phát triển và nâng cao năng lực đội ngũ NVCTXH
Quyết định số 07/QĐ-UBND ngày 19/04/2012 của UBND tỉnh Nam Định: Theo đó điều chỉnh chế độ trợ cấp xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội đang quản lý, nuôi dưỡng tại Trung tâm bảo trợ xã hội
Quyết định số 1776/QĐ-UBND ngày 07 tháng 09 năm 2015 của UBND tỉnh Nam Định: Theo đó quy định chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng đối với đối tượng được chăm sóc, nuôi dưỡng tại trung tâm bảo trợ xã hội
Các cơ sở chính trị- pháp lý trên đã thể hiện được sự quan tâm sát sao của Đảng và Nhà nước, chính quyền và các tổ chức đoàn thể, cộng đồng đối với NCT NCT được bảo vệ, chăm sóc và được đảm bảo mọi quyền lợi về mặt pháp lý.Gia đình NCT, cộng đồng và tất cả các tổ chức đều có trách nhiệm và nghĩa vụ trong việc chăm sóc, bảo vệ quyền lợi và nghĩa vụ cho NCT
Trang 38Tiểu kết chương 1
Chương 1 tác giả dành cho việc nghiên cứu lý luận về CTXHCN với NCT
để có cái nhìn tổng quan về công tác xã hội cá nhân với NCT Tìm hiểu về hệ thống chính sách pháp luật của Đảng đối với NCT đó cũng là cơ sởđể NVCTXH sử dụng trong suốt quá trình trợ giúp NCT.Hệ thống chính sách đầy đủ, chi tiết quy định rõ ràng về quyền của NCT, nghĩa vụ chăm sóc NCT
từ gia đình và cộng đồng
Từ những khái niệm, lý thuyết ứng dụng, chúng ta hiểu được CTXH với NCT cá nhân là một quá trình trợ giúp chuyên nghiệp NVCTXH không chỉ dùng những kiến thức chuyên môn mà cần cả những kỹ năng chuyên nghiệp bởi NCT là đối tượng có tính tình nhạy cảm, dễ tổn thương
Trong quá trình làm việc với NCT bên cạnh những đặc điểm của NCT cần phải lưu ý thì NVCTXH phải luôn tuân thủ đúng những nguyên tắc (5 nguyên tắc), tiến trình (7 bước) khi thực hiện Điều đó sẽ khiến quá trình trợ giúp không chỉ hiệu quả mà còn trở nên chuyên nghiệp
Từ những vấn đề mang tính chất lý luận về công tác xã hội cá nhân với NCT tác giả bắt đầu tiến hành đánh giá thực trạng CTXH cá nhân đối với NCT tại Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Nam Định để có góc nhìn biện chứng
về vấn đề CTXHCN đối với NCT
Trang 39Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN VỚI NGƯỜI CAO TUỔI
TẠI TRUNG TÂM BẢO TRỢ XÃ HỘI TỈNH NAM ĐỊNH
2.1 Khái quát về địa bàn nghiên cứu
2.1.1.Khái quát về tình hình kinh tế- xã hội tỉnh Nam Định
Nam Định là trung tâm phía Nam của đồng bằng sông Hồng Nam Định tiếp giáp với tỉnh Thái Bình ở phía Bắc, tỉnh Ninh Bình ở phía Nam, tỉnh Hà Nam ở phía tây bắc, giáp biển (vịnh Bắc Bộ) ở phía đông Diện tích đất tự nhiên của Nam Định là 163.740,3 ha Nam Định có 10 đơn vị hành chính, trong đó có 09 huyện và thành phố Nam Định (đô thị loại I) với 16 thị trấn và
213 xã phường Dân số năm 2016 là 1.850.000 người, mật độ dân số: 1.109 người/km2 Nam Định là một trong những địa phương có mật độ dân số đông nhất nước tập trung chủ yếu là người dân tộc Kinh, ngoài ra còn có Tày, Thái, Mường[26]
2.1.2 Khái quát về Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Nam định
Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Nam Định được thành lập theo Quyết định
số 284/QĐ-UB ngày 25/03/1997 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Nam Định trên cơ
sở sáp nhập Trung tâm Bảo trợ Xã hội với Khu nuôi dưỡng xã hội thuộc Sở LĐTBXH tỉnh Nam Định và tổ chức lại thành Trung tâm Bảo trợ Xã hội tỉnh Nam Định
Năm 2013, Trung tâm được tổ chức lại theo Quyết định số 30/QĐ-UBND ngày 29/8/2013 của UBND tỉnh Nam Định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức bộ máy của Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Nam Định Trung tâm có chức năng thực hiện chính sách Bảo trợ xã hội cho đối tượng xã hội thuộc diện đặc biệt khó khăn không tự lo được cuộc sống; cung cấp dịch vụ về công tác xã hội; trợ giúp xã hội và phục hồi chức năng cho
Trang 40người tâm thần, người rối nhiễu tâm trí trên địa bàn tỉnh Nam Định theo quy định của pháp luật
Vị trí, chức năng của Trung tâm
Trung tâm là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Nam Định Trung tâm chịu sự quản lý, chỉ đạo trực tiếp và toàn diện của Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, đồng thời chịu
sự kiểm tra, hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ của Phòng Bảo trợ xã hội, Phòng Bảo vệ chăm sóc trẻ em và Bình đẳng giới (của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội) và các cục, vụ thuộc Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội; Trung tâm có tư cách pháp nhân, có con dấu, có tài khoản và trụ sở riêng; Thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn khác theo phân cấp, ủy quyền của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Nam Định và quy định của pháp luật Trung tâm có chức năng thực hiện chính sách trợ giúp xã hội tại cơ sở trợ giúp xã hội và thực hiện các hoạt động cung cấp dịch vụ trợ giúp xã hội cho người
có nhu cầu theo quy định của pháp luật; dạy nghề, phục hồi về trí tuệ, khả năng giao tiếp cho trẻ khuyết tật còn khả năng lao động, còn khả năng tiếp thu nghề để hoà nhập cộng đồng
Trung tâm hoạt động theo quy định của pháp luật về thành lập, tổ chức, hoạt động, giải thể và quản lý các cơ sở trợ giúp xã hội
Nhiệm vụ của Trung tâm:
- Cung cấp các dịch vụ khẩn cấp:
+ Tiếp nhận đối tượng cần sự bảo vệ khẩn cấp;
+ Đánh giá các nhu cầu của đối tượng; sàng lọc và phân loại đối tượng Trường hợp cần thiết thì chuyển gửi đối tượng tới các cơ sở y tế, giáo dục, cơ quan công an, tư pháp hoặc các cơ quan, tổ chức phù hợp khác;
+ Bảo đảm sự an toàn và đáp ứng các nhu cầu khẩn cấp của đối tượng như: Nơi cư trú tạm thời, thức ăn, quần áo và đi lại