1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Những thành tựu nghiên cứu trước c mác về quy luật điều tiết thu nhập ý nghĩa lý luận và thực tiễn

20 100 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 90,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây là một môn khoa học xã hội nghiên cứu hệ thống các quan điểm về kinh tế của các giai cấp, các trường phái trong các hình thái kinh tế - xã hội trong lịch sử.. Kinh tế chính trị cổ đi

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

Nghiên cứu về lịch sử các học thuyết kinh tế luôn là một trong những công việc đầu tiên đối với những ai muốn tìm hiểu về kinh tế học Cũng như vậy, “Lịch

sử các học thuyết kinh tế nâng cao” là môn học chuyên ngành đầu tiên của các học viên cao học Kinh tế chính trị K25 chúng tôi, sau khi học xong 2 môn chung là Triết học Mác – Lênin và Ngoại ngữ Đây là một môn khoa học xã hội nghiên cứu

hệ thống các quan điểm về kinh tế của các giai cấp, các trường phái trong các hình thái kinh tế - xã hội trong lịch sử

Như các môn học khác, sau khi học xong môn học, chúng tôi sẽ có một bài

tiểu luận môn học, với môn học này, đề tài tiểu luận của tôi là: “Những thành tựu

nghiên cứu trước C Mác về quy luật điều tiết thu nhập Ý nghĩa lý luận và thực tiễn”.

Với đề tài tiểu luận này, tôi tìm hiểu với cấu trúc mục lục như sau:

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

PHẦN NỘI DUNG 3

I KHÁI NIỆM ĐIỀU TIẾT THU NHẬP VÀ HOÀN CẢNH RA ĐỜI, ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁC HỌC THUYẾT TRƯỚC CÁC MÁC: 3

1 Khái niệm “điều tiết thu nhập”: 3

2 Hoàn cảnh ra đời và đặc điểm của các học thuyết trước C Mác: 4

2.1 Kinh tế chính trị học cổ điển: 4

2.1.1 Lịch sử ra đời: 4

2.1.2 Đặc điểm của kinh tế chính trị học cổ điển: 5

2.2 Kinh tế chính trị học tầm thường: 6

2.2.1 Lịch sử ra đời: 6

2.2.2 Đặc điểm của kinh tế chính trị học tầm thường: 6

2.3 Kinh tế chính trị tiểu tư sản: 6

2.3.1 Lịch sử ra đời: 6

2.3.2 Đặc điểm lý luận: 7

II NHỮNG THÀNH TỰU CỦA CÁC HỌC THUYẾT TRƯỚC CÁC MÁC VỀ QUY LUẬT ĐIỀU TIẾT THU NHẬP: 7

1 Lý luận về tiền công: 7

1.1 Kinh tế chính trị học cổ điển: 7

1.1.1 William Petty (1623 – 1687): 7

Trang 2

1.1.2 Adam Smith (1723 – 1790): 8

1.1.3 David Ricardo (1772 – 1823): 9

1.2 Kinh tế chính trị học tầm thường: 10

1.2.1 Thomas Robert Malthus (1766 – 1844): 10

1.2.2 Jean Baptiste Say (1767 – 1832): 11

1.3 Kinh tế chính trị tiểu tư sản – Đại biểu là Sismondi (1773 – 1842): 11

2 Lý luận về lợi nhuận: 11

2.1 Kinh tế chính trị học cổ điển: 11

2.1.1 Adam Smith (1723 – 1790): 11

2.1.2 David Ricardo (1772 – 1823): 12

2.2 Kinh tế chính trị tầm thường: 13

2.2.1 Thomas Robert Malthus (1766 – 1844): 13

2.2.2 Jean Baptiste Say (1767 – 1832): 13

2.3 Kinh tế chính trị tiểu tư sản - Đại biểu là Sismondi (1773 – 1842): 14

3 Lý luận về địa tô: 14

3.1 Kinh tế chính trị học cổ điển: 14

3.1.1 William Petty (1623 – 1687): 14

3.1.2 Adam Smith (1723 – 1790): 14

3.1.3 David Ricardo (1772 – 1823): 15

3.2 Kinh tế chính trị học tầm thường - Jean Baptiste Say (1767 – 1832): 16

3.3 Kinh tế chính trị tiểu tư sản - Đại biểu là Sismondi (1773 – 1842): 16

III Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN: 16

1 Ý nghĩa lý luận: 16

2 Liên hệ thực tiễn: 17

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 20

Trang 3

PHẦN NỘI DUNG

I KHÁI NIỆM ĐIỀU TIẾT THU NHẬP VÀ HOÀN CẢNH RA ĐỜI, ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁC HỌC THUYẾT TRƯỚC CÁC MÁC:

1 Khái niệm “điều tiết thu nhập”:

Ngày nay, chúng ta có thể hiểu “điều tiết thu nhập” là một bộ phận của hệ thống thuế, thuế thu nhập cá nhân cũng có tác dụng điều tiết vĩ mô đối với nền kinh

tế Thuế thu nhập cá nhân điều tiết trực tiếp thu nhập nên một mặt tác động trực tiếp đến tiết kiệm, mặt khác làm cho khả năng thanh toán của cá nhân bị giảm, làm cho cầu hàng hóa, dịch vụ giảm và sẽ tác động đến sản xuất Đối với nước ta, trong tương lai, khi mà diện đánh thuế được mở rộng, vai trò điều tiết thu nhập của thuế thu nhập cá nhân sẽ được phát huy có hiệu quả hơn

Ta có thể hiểu khái niệm “điều tiết thu nhập” như sau: “Điều tiết thu nhập là một dạng phân phối lại, khi quá trình phân phối không mang lại lợi ích cho đời sống của nhân dân thì việc điều tiết là điều đương nhiên Điều tiết giúp cho quá trình phân phối được hoàn thiện hơn, tuy nhiên, các vấn đề trong xã hội luôn biến động không ngừng, chính vì vậy, việc điều tiết lại rất quan trọng và cần có nhiều thời gian để việc điều tiết được toàn dân chấp nhận, bởi khi một luật ra đời thì có rất nhiều ý kiến khác nhau xung quanh vấn đề được đặt ra và cần có thời gian để giải quyết Vì thế ta phải tìm hiểu về phân phối khi đó ta mới biết được rằng phân phối đã làm được những gì và điều tiết mang lại những ích lợi gì khi mà việc phân phối không đạt hiệu quả

Phân phối thu nhập trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một vấn đề

vô cùng quan trọng để tạo ra động lực mạnh mẽ góp phần tích cực thúc đẩy sản xuất phát triển, ổn định tình hình kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh

Ở góc độ vấn đề tiểu luận này, chúng ta sẽ chỉ ra những thành tựu của các học thuyết trước C Mác về quy luật điều tiết thu nhập Như vậy, vấn đề điều tiết thu nhập của các học thuyết trước C Mác được thể hiện rõ ở các trường phái: kinh

tế chính trị học cổ điển, kinh tế chính trị tầm thường và kinh tế chính trị tiểu tư sản

Ta sẽ lần lượt tìm hiểu về các trường phái này

2 Hoàn cảnh ra đời và đặc điểm của các học thuyết trước C Mác:

2.1 Kinh tế chính trị học cổ điển:

2.1.1 Lịch sử ra đời:

Trang 4

Kinh tế chính trị cổ điển (hay trường phái kinh tế học cổ điển) là một trong những xu hướng tư tưởng kinh tế tiến bộ, đã để lại dấu ấn sâu sắc trong lịch sử phát triển các học thuyết kinh tế Nhiều quan điểm chủ đạo của trường phái này vẫn còn lưu giữ ý nghĩa đến tận ngày nay Xu hướng tư tưởng của trường phái cổ điển bắt đầu xuất hiện từ giữa thế kỷ XVII và phát triển mạnh mẽ vào thế kỷ XVIII đến nửa cuối thế kỷ XIX

Kinh tế chính trị cổ điển ra đời trong bối cảnh:

Về kinh tế, sự phát triển của công trường thủ công, đặc biệt là ngành dệt, sau

đó là ngành công nghiệp khai thác, sự trỗi dậy của lực lượng doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất, đẩy hoạt động buôn bán và cho vay xuống hàng thứ yếu Khi trọng tâm của kinh tế được chuyển từ lĩnh vực lưu thông sang sản xuất trực tiếp, thì các luận thuyết của chủ nghĩa trọng thương cũng bị mất sức thuyết phục Giai cấp

tư sản ngày càng nhận thấy muốn làm giàu, phải sử dụng lao động làm thuê, lao động làm thuê là nguồn gốc thật sự của sự giàu có Từ đó, có nhiều vấn đề kinh tế mới nảy sinh đòi hỏi phải được giải thích

Về xã hội, sự thắng thế của giai cấp tư sản đối với giai cấp phong kiến, cách mạng tư sản diễn ra ở Hà Lan, ở Anh rồi lan rộng ra các nước châu Âu khác, tạo ra tình hình mới về kinh tế và chính trị Cần phải luận giải cơ sở ra đời, tồn tại và phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa

Về tư tưởng, những thành tựu khoa học tiến bộ như triết học duy vật, toán học, vật lý học… có tác dụng đấu tranh phá bỏ chế độ phong kiến, mở đường cho phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ra đời, tạo điều kiện cho tư tưởng kinh tế mới của giai cấp tư sản phát triển, trong đó có tư tưởng kinh tế của trường phái cổ điển

Kinh tế chính trị học cổ điển là học thuyết kinh tế của giai cấp tư sản trong thời kỳ hình thành phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, nghiên cứu về nguồn gốc của sự giàu có và cách thức làm tăng của cải trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa

Người đại diện đầu tiên và được xem là thủy tổ của trường phái cổ điển là William Petty (1623 – 1687), người Anh với những công trình khoa học của ông chuyên về lĩnh vực thuế, hải quan và thống kê Ông là người được Các Mác đánh giá cao qua các phát minh khoa học kinh tế

Những tên tuổi lớn của trường phái này gồm Adam Smith (1723 – 1790), David Ricardo (1772 – 1823), John Stuart Mill (1806 – 1873) Quan điểm của họ,

Trang 5

giống như các nhà nghiên cứu trước đó, là khoa học về sự giàu có và cách thức nhân rộng của cải lên

2.1.2 Đặc điểm của kinh tế chính trị học cổ điển:

Lần đầu tiên trong lịch sử, các nhà kinh tế của trường phái cổ điển chuyển đối tượng nghiên cứu từ lĩnh vực lưu thông sang sản xuất, nghiên cứu các vấn đề kinh tế của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa trong giai đoạn đầu hay nghiên cứu những vấn đề của nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa trong giai đoạn tự do cạnh tranh Điểm xuất phát trong nội dung nghiên cứu của họ là phạm trù lao động Nhờ đó, các nhà kinh tế của trường phái cổ điển đã biến kinh tế chính trị thành một môn khoa học thực sự

Lần đầu tiên các nhà kinh tế của trường phái cổ điển xây dựng hệ thống phạm trù, quy luật của nền kinh tế thị trường, như: giá trị, giá cả, cung, cầu, lưu thông, cạnh tranh, tiền công, lợi nhuận, thuế, địa tô… Trong đó, phạm trù giá trị được xem là mấu chốt của phân tích kinh tế, là gốc rễ để phát sinh các phạ trù kinh

tế khác; và phạm trù giá trị trao đổi là trung tâm của nghiên cứu kinh tế

Lần đầu tiên trường phái kinh tế chính trị cổ điển áp dụng phương pháp trừu tượng hóa trong nghiên cứu các hiện tượng, quá trình kinh tế để tìm ra các mối quan hệ nhân quả, vạch ra bản chất và các quy luật vận động của quan hệ sản xuất

tư bản chủ nghĩa; đề xuất áp dụng các phương pháp: logic, trừu tượng hóa, nguyên nhân – kết quả, suy diễn, quy nạp trong nghiên cứu kinh tế Đây là những phương pháp nghiên cứu khoa học và tiến bộ Bằng hệ thống phạm trù, quy luật kinh tế đã được xây dựng, kinh tế chính trị cổ điển đã đặt nền móng cho khoa học kinh tế sau này

Các nhà kinh tế của trường phái cổ điển ủng hộ tư tưởng tự do kinh tế Tư tưởng cơ bản của họ là tự do sản xuất, tự do kinh doanh, tự do cạnh tranh, tôn trọng quy luật kinh tế và chống lại sự can thiệp của nhà nước vào kinh tế

Những quan điểm lý luận của các nhà kinh tế chính trị cổ điển chưa thật nhất quán, còn trộn lẫn giữa các xu hướng tư tưởng, một mặt là khoa học muốn đi sâu vào bản chất các hiện tượng, quá trình kinh tế, mặt khác lại tầm thường chỉ dùng ở việc liệt kê, mô tả hời hợt các hiện tượng bề ngoài rồi đưa ra kết luận thiếu căn cứ Học thuyết còn mang tính chất siêu hình, phi lịch sử

2.2 Kinh tế chính trị học tầm thường:

2.2.1 Lịch sử ra đời:

Đầu thế kỷ XIX, cuộc cách mạng công nghiệp đã hoàn thành, cuộc khủng hoảng kinh tế 1825 mở đầu cho các cuộc khủng hoảng có chu kỳ Sau nước Anh,

Trang 6

phương thức sản xuất TBCN cũng được xác lập ở các nước khác Từ năm 1830, sự thống trị về chính trị của giai cấp tư sản được xác lập ở Anh và Pháp, nhưng giai cấp vô sản cũng ngày càng lớn mạnh, phong trào công nhân chuyển từ tự phát sang

tự giác, nay mang tính chất chính trị, đe dọa sự tồn tại của CNTB

Việc xuất hiện những hình thái khác nhau của CNXH không tưởng tiêu biểu

là Saint Simon, M Fourier và R Owen đã phê phán kịch liệt chế độ tư bản gây tiếng vang trong giai cấp công nhân Giai cấp tư sản cần có một lý luận để chống lại CNXH không tưởng và bảo vệ CNTB Trước bối cảnh đó, kinh tế chính trị tầm thường xã hội đã biểu hiện sự phản ứng của giai cấp tư sản đối với phong trào cách mạng và những tư tưởng của CNXH không tưởng

2.2.2 Đặc điểm của kinh tế chính trị học tầm thường:

Thứ nhất, nếu các nhà kinh tế học tư sản cổ điển đã tìm toàn bộ hiện thực và nội tại của những quan hệ sản xuất trong xã hội tư sản thì KTCT tầm thường chỉ xem xét hệ thống hóa các hiện tượng bề ngoài, không nghiên cứu bản chất bên trong của các hiện tượng kinh tế

Thứ hai, nếu KTCT cổ điển với phương pháp duy vật (tuy còn siêu hình), xem xét khách quan các hiện tượng nghiên cứu, vạch ra quy luật vận động của nền sản xuất, thì KTCT học tầm thường lại duy tâm chủ quan Xuất phát từ chỗ bảo vệ lợi ích cho giai cấp tư sản, biện hộ cho CNTB một cách có ý thức

2.3 Kinh tế chính trị tiểu tư sản:

2.3.1 Lịch sử ra đời:

Kinh tế chính trị tiểu tư sản ra đời và tồn tại ở châu Âu vào cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX trong bối cảnh:

Cách mạng công nghiệp nổ ra, nền công nghiệp bằng máy móc ra đời Giai cấp vô sản và giai cấp tư sản trở thành hai giai cấp cơ bản trong xã hội tư bản chủ nghĩa, trong đó giai cấp vô sản ngày càng phụ thuộc vào giai cấp tư sản Sự bần cùng, thất nghiệp, tình trạng sản xuất vô chính phủ, phân hóa xã hội có xu hướng ngày càng tăng lên ở các nước công nghiệp phát triển Ở các nước mới bước vào cách mạng công nghiệp, nền sản xuất nhỏ còn chiếm ưu thế, thì những mâu thuẫn

xã hội diễn ra gay gắt hơn

Đây là miếng đất làm nảy sinh kinh tế chính trị tiểu tư sản

2.3.2 Đặc điểm lý luận:

Kinh tế chính trị tiểu tư sản là một trường phái muốn phê phán chủ nghĩa tư bản theo quan điểm tiểu tư sản Những người thuộc trường phái này cho rằng chủ

Trang 7

nghĩa tư bản là chèn ép, làm phá sản người sản xuất nhỏ, là nguyên nhân gây ra nạn bần cùng và thất nghiệp Họ đề nghị chuyển nền sản xuất tư bản chủ nghĩa về với sản xuất nhỏ

Đặc điểm nổi bật trong lý luận của họ là đã áp dụng phương pháp chủ quan trong phê phán chủ nghĩa tư bản; chuyển việc nghiên cứu vào các quan hệ đạo đức, phẩm hạnh, phẩm giá con người thay cho các quy luật kinh tế khách quan đã được kinh tế chính trị cổ điển tôn trọng Họ phê phán chủ nghĩa tư bản theo quan điểm tiểu tư sản

Đại biểu của trường phái này là Sismondi (1773 – 1842) và Proudhon (1809 – 1865)

II NHỮNG THÀNH TỰU CỦA CÁC HỌC THUYẾT TRƯỚC CÁC MÁC

VỀ QUY LUẬT ĐIỀU TIẾT THU NHẬP:

1 Lý luận về tiền công:

1.1 Kinh tế chính trị học cổ điển:

1.1.1 William Petty (1623 – 1687):

Lý thuyết về tiền công của William Petty được xây dựng trên cơ sở lý thuyết giá trị - lao động Ông coi lao động là hàng hóa, tiền lương là giá cả tự nhiên của lao động

Petty lấy lý luận giá trị làm cơ sở cho lý luận về tiền công Ông không định nghĩa phạm trù tiền công mà chỉ nêu lên quan điểm về mức tiền công Ông cho rằng, tiền công không thể vượt quá những tư liệu sinh hoạt cần thiết Mức tiền công cao thì công nhân sẽ uống rượu say và không muốn làm việc Muốn bắt họ làm việc thì phải hạ mức tiền công xuống mức tối thiểu Ông kịch liệt phản đối những trường hợp tăng mức tiền công quá cao Sở dĩ như vậy bởi vì trong thời đại của Petty, nhà tư bản chưa có thể bắt công nhân lệ thuộc vào công nhân (lệ thuộc vào cung trên thị trường lao động) mà phải dựa vào sự ủng hộ của nhà nước Ông là người luận chứng cho việc đề nghị phải có đạo luật cấm tăng mức tiền công William Petty là người đầu tiên trong lịch sử đặt nền móng cho lý thuyết “Quy luật sắt về tiền lương”

Ông xem xét tiền công trong mối quan hệ với lợi nhuận, giá cả các tư liệu sinh hoạt với cung – cầu về lao động trên thị trường Theo ông, nếu mức tiền công cao thì lượng lợi nhuận giảm và ngược lại; nếu giá cả của lúa mì tăng lên thì sự bần cùng của công nhân cũng tăng lên (tức là tiền công tỷ lệ nghịch với giá lúa mì); số lượng lao động tăng lên thì mức tiền công sẽ giảm xuống

Trang 8

William Petty đã nêu được cơ sở khoa học của tiền công là giá trị các tư liệu sinh hoạt cho công nhân

1.1.2 Adam Smith (1723 – 1790):

Smith có nhiều điểm đúng đắn về lý luận Ông cho rằng trong xã hội nguyên thủy, tiền công được xác định bởi năng suất, vì ở giai đoạn khởi đầu ấy, “khi mà chưa có sự chiếm hữu đất đai và tích lũy vốn, toàn bộ sản phẩm làm ra thuộc về người lao động Họ chẳng có chủ đất mà cũng chẳng có chủ xưởng để chia sẻ phần sản phẩm” Nhưng trong xã hội tư bản chủ nghĩa, tiền công là thu nhập của công nhân làm thuê, là một phần giá trị mà lao động của công nhân tạo ra Cơ sở để xác định mức tiền công là số lượng giá trị tư liệu sinh hoạt cần thiết để nuôi nổi công nhân và gia đình họ Ông nghiên cứu mức bình thường của tiền lương và chỉ ra giới hạn tối thiểu của nó Theo ông, nếu tiền lương thấp hơn mức tối thiểu này thì thảm họa cho sự tồn tại của dân tộc

Adam Smith đã chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng tới tiền lương Trước hết, ông cho rằng, tiền lương phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế và phản ánh trình độ phát triển kinh tế của mỗi nước Tiền lương thấp hơn mức tối thiểu chỉ có ở những nước đang diễn ra sự suy thoái về kinh tế Chẳng hạn, ở Ấn Độ lúc bấy giờ có tiền lương thấp hơn mức tối thiểu, ở Trung Quốc tiền lương chỉ cao hơn mức tối thiểu không đáng kể, vì ở đó nền kinh tế đang bị đình trệ Còn ở các nước có nền kinh tế phát triển mạnh thì tiền lương lớn hơn mức tối thiểu Phần lớn hơn này do định mức tiêu dùng, truyền thống văn hóa, tập quán dân tộc… quy định

Trong một nước, nhân tố ảnh hưởng tới tiền lương phụ thuộc vào đặc điểm lao động của con người, điều kiện làm việc, tính chất công việc, trình độ chuyên môn, nghề nghiệp

Ông đã thấy được mâu thuẫn về lợi ích kinh tế giữa chủ và thợ, mâu thuẫn giai cấp trong vấn đề tiền công, đã phát hiện ra rằng: “Người thợ muốn có càng nhiều tiền công càng hay, nhưng người chủ lại muốn trả công càng ít càng tốt Thợ kết hợp với nhau để đòi tăng lương; chủ kết cũng hợp với nhau để hạ tiền công lao động”

Nếu Petty đề nghị trả tiền công thấp hơn mức tối thiểu, thì Smith tán thành trả tiền công cao Theo ông, tiền công không thể hạ thấp quá giới hạn nhất định, phải bảo đảm cho công nhân cuộc sống để họ lao động Phải để cho “những người nuôi xã hội nhận được một số thức ăn, quần áo và nhà ở khả dĩ có thể chịu được” Một xã hội không thể “phồn vinh và hạnh phúc nếu một bộ phận rất lớn những thành viên của nó nghèo nàn và khổ sở” Ông đã chứng minh có sức thuyết phục rằng tiền công cao là sự cổ vũ, khuyến khích sự cần cù và tính siêng năng, và theo

Trang 9

bản chất của con người, sự cần cù siêng năng lại càng cao khi khuyến khích vật chất lại càng lớn “Khi nhận được tiền công cao, người thợ làm việc tích cực, chăm chỉ và khẩn trương hơn khi nhận được tiền công thấp”

Smith nghiên cứu tiền công trong cơ chế thị trường Cho rằng, có hai yếu tố quyết định mức tiền công là cầu về lao động và giá cả trung bình của các tư liệu sinh hoạt thiết yếu Lượng cầu về lao động quyết định mức tư liệu sinh hoạt, giá cả quy định số tiền công mà công nhân nhận được Từ luận điểm này, Smith phân biệt

sự khác nhau giữa tiền công danh nghĩa với tiền công thực tế Sự khác nhau đó là

do tính chất dễ chịu hay khó chịu của công việc, mức độ khó khăn và đắt đỏ trong việc dạy nghề, tính chất thường xuyên hay không thường xuyên của công việc, mức

độ tín nhiệm, khả năng thành đạt và tình hình di chuyển lao động Ông chỉ ra mức tiền công trung bình ở mỗi nước hay mỗi địa phương là do trình độ phát triển kinh

tế, trình độ văn minh và tính chất đặc biệt của kết hợp lao động và tư bản

Smith không chỉ nghiên cứu tiền công ở tầm vi mô (sự lựa chọn quyết định giữa chủ và thợ), mà còn nghiên cứu nó cả ở tầm vĩ mô Ông cho rằng, mức tăng thu nhập và vốn của mỗi nước là điều kiện để tăng quy mô tiền công, làm tăng thêm cầu thuê mướn thêm lao động Nhu cầu này không tăng, nếu của cải quốc dân không tăng Mức tiền công cao trong những năm phồn vinh, thấp trong những năm suy thoái Tiền công tăng tất yếu làm cho giá nhiều mặt hàng cũng tăng theo bằng cách tăng phần cấu thành tiền công trong giá hàng và cho đến nay có xu hướng làm giảm mức tiêu thụ ở trong nước và ở nước ngoài Tuy vậy, việc tăng tiền công vốn

có xu hướng làm tăng năng suất lao động khiến cho một lượng lao động ít hơn có thể làm ra một lượng sản phẩm nhiều hơn Điều này lại thúc đẩy tăng trưởng sản lượng của nền kinh tế Ngoài ra, mức tiền công cao hay thấp còn phụ thuộc vào sự điều chỉnh của luật pháp

1.1.3 David Ricardo (1772 – 1823):

David Ricardo phát triển quan điểm Adam Smith về những thu nhập lần đầu của ba giai cấp cơ bản trong xã hội Lý thuyết thu nhập của ông được xây dựng trên

cơ sở lý thuyết giá trị - lao động

Ông cho rằng, lao động là hàng hóa, tiền công là giá cả của lao động Ông viết: “Lao động, giống như các hàng hóa khác có thể mua và bán, có thể tăng giảm

về số lượng, cũng như có giá tự nhiên và giá thị trường Giá cả tự nhiên của lao động là giá cần thiết cho phép người lao động tồn tại và duy trì nòi giống mà không gây nên bất cứ sự gia tăng hay suy giảm nào” Ông phân biệt giá cả tự nhiên với giá

cả của thị trường lao động Giá cả tự nhiên của lao động tăng lên khi giá cả lương thực và các tư liệu sinh hoạt khác tăng lên, và hạ xuống khi giá cả những thứ đó hạ

Trang 10

xuống Giá cả tự nhiên của lao động còn phụ thuộc vào phong tục tập quán tiêu dùng của nhân dân Theo tiến trình phát triển của xã hội, giá cả tự nhiên của lao động có chiều hướng tăng lên

“Giá thị trường của lao động là giá thực sự trả cho lao động trên cơ sở hoạt động bình thường của cung tương xứng với cầu; lao động đắt khi khan hiếm và rẻ khi dư thừa” Giá cả thị trường của lao động chịu ảnh hưởng bởi quan hệ cung – cầu về lao động Tuy có sự biến động, nhưng giá cả thị trường của lao động sẽ phù hợp với giá cả tự nhiên của lao động Nếu không kể đến sự thay đổi trong giá trị của tiền, thì mức tiền công lên xuống do hai nguyên nhân:

Một là, do sự thay đổi trong quan hệ cung và cầu về lao động;

Hai là, do những biến động trong giá cả của những hàng hóa mà người ta

dùng tiền công để mua

Theo Ricardo, việc đánh giá mức tiền công cao hay thấp phải căn cứ vào số lượng tư liệu sinh hoạt tối thiểu mà tiền công đem lại cho anh ta, chứ không phải dựa vào quy mô tiền công Nhưng ông chủ trương trả tiền công thấp, chỉ đủ những

tư liệu sinh hoạt ở mức tối thiểu và cho rằng tiền công thấp là quy luật tự nhiên trong mọi xã hội Chỉ trong điều kiện đặc biệt thuận lợi, khả năng tăng lực lượng sản xuất mới vượt khả năng tăng dân số, còn trong điều kiện bình thường, với đất đai hạn chế và sự giảm sút hiệu quả của đầu tư bổ sung, sẽ làm cho của cải tăng chậm hơn dân số Khi đó, cơ chế điều tiết tự phát sẽ hoạt động Điều đó sẽ kìm hãm tốc độ tăng dân số Ông ủng hộ quan điểm của William Petty về quy luật sắt về tiền công Mặt khác, ông cũng thừa nhận rằng công nhân nhận được mức tiền công quá

ít là một nguy cơ lớn Việc thay lao động của con người bằng máy móc đem lại những tổn thất rất lớn cho lợi ích của giai cấp công nhân

Ông ủng hộ việc nhà nước không can thiệp vào hoạt động của thị trường lao động, phê phán sự giúp đỡ đối với người nghèo, vì theo ông, làm như vậy sẽ ngăn cản hoạt động của quy luật tự nhiên

1.2 Kinh tế chính trị học tầm thường:

1.2.1 Thomas Robert Malthus (1766 – 1844):

Malthus đã sử dụng yếu tố tầm thường trong học thuyết của Adam Smith tức

là việc quy định tỷ giá lao động

Theo Malthus, tiền công là chi phí về lao động sống Tiền công giảm là do dân số tăng lên nên tăng cung về lao động

1.2.2 Jean Baptiste Say (1767 – 1832):

Ngày đăng: 30/06/2020, 16:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w