Vế thứ nhất: “Nếu coi máy móc chỉ là một phương tiện để làm cho sản phẩm rẻ đi, thì giới hạn sử dụng máy móc được quyết định bởi cái tình hình là: số lao động tiêu phí để sản xuất ra máy
Trang 1MỤC LỤC
PHẦN NỘI DUNG 3
1 Khái niệm 3
2 Việc chuyển giá trị của máy móc sang sản phẩm 5
II BÌNH LUẬN QUAN ĐIỂM CỦA C.MÁC 6
1 Vế thứ nhất: “Nếu coi máy móc chỉ là một phương tiện để làm cho sản phẩm rẻ đi, thì giới hạn sử dụng máy móc được quyết định bởi cái tình hình là: số lao động tiêu phí để sản xuất ra máy móc phải ít hơn số lao động mà việc sử dụng máy móc thay thế” 6
2 Vế thứ hai: “Song đối với nhà tư bản thì giới hạn đó lại còn hẹp hơn nữa” 9
1 Ý nghĩa của việc sử dụng máy móc 11
2 Liên hệ thực tiễn Việt Nam 13
KẾT LUẬN 16
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Khác với trước đó, nếu như việc phát minh ra cơ khí là để làm giảm nhẹ được lao động hàng ngày, thì việc phát minh ra máy móc theo kiểu tư bản chủ nghĩa là: Cũng giống như mọi sự phát triển khác của sức sản xuất của lao động, việc sử dụng máy móc theo kiểu tư bản chủ nghĩa phải làm cho hàng hóa rẻ đi, rút ngắn phần ngày lao động mà người công nhân dùng cho bản thân mình để kéo dài phần ngày lao động mà người công nhân làm không công cho nhà tư bản Máy móc là một phương tiện để sản xuất ra giá trị thặng dư
Khi bàn về sự phát triển của máy móc và đại công nghiệp, C.Mác đưa ra
quan điểm: “Nếu coi máy móc chỉ là một phương tiện để làm cho sản phẩm rẻ
đi, thì giới hạn sử dụng máy móc được quyết định bởi cái tình hình là: số lao động tiêu phí để sản xuất ra máy móc phải ít hơn số lao động mà việc sử dụng máy móc thay thế Song đối với nhà tư bản thì giới hạn đó lại còn hẹp hơn nữa” Đây là một quan điểm sâu sắc, nêu bật được ý nghĩa của việc sử dụng máy
móc
Trong phạm vi tiểu luận học phần Quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa,
học viên thực hiện đề tài với chủ đề bình luận về quan điểm trên của Mác Quan điểm đó không chỉ có ý nghĩa ở thời đại Mác mà còn có ý nghĩa thực tiễn mang tính thời sự trong bối cảnh hiện nay của thế giới và của Việt Nam
2
Trang 3PHẦN NỘI DUNG
I MÁY MÓC
1 Khái niệm
Những nhà toán học và những nhà cơ học - cho rằng “công cụ là một máy
móc đơn giản và máy móc là một công cụ phức tạp”
Mác viết: “Nhưng theo quan điểm kinh tế thì định nghĩa đó hoàn toàn không
có giá trị gì cả, vì nó thiếu mất yếu tố lịch sử Mặt khác, có người cho rằng sự khác nhau giữa công cụ và máy móc là ở chỗ, ở công cụ động lực là con người, còn ở máy móc thì động lực là những lực lượng tự nhiên khác hẳn sức người như súc vật, nước, gió, v.v.”
C Mac tranh luận: “Như thế thì một cái cày do bò kéo, thuộc về những thời
kỳ sản xuất khác nhau nhất, sẽ là một cái máy, còn chiếc máy dệt kim của Clau-xen, chạy được nhờ bàn tay của một người thợ duy nhất và một phút dệt được 96.000 mũi, lại chỉ là một công cụ đơn giản Hơn thế nữa, cũng cái máy dệt đó nếu quay bằng tay thì là một công cụ, còn nếu chạy bằng hơi nước thì đó lại là một chiếc máy (Nghĩa là khái niệm đó không ổn, rất hời hợt)”1
Từ đó, C.Mác cho rằng “Tất cả máy móc đó phát triển đều gồm 3 bộ phận khác nhau một cách căn bản: động cơ, cơ cấu truyền lực và cuối cùng là máy công
cụ hay máy công tác Động cơ hoạt động với tư cách là sức đẩy của toàn thể cơ cấu
Nó tạo ra sức chuyển động của chính nó, như máy hơi nước, máy nhiệt lực, máy điện từ, v.v., hoặc nó nhận được sức đẩy của một lực tự nhiên có sẵn ở bên ngoài, như bánh xe nước chạy nhờ sức nước, hay cánh cối xay gió quay nhờ sức gió, v.v
Cơ cấu truyền lực- gồm có vô-lăng đà, trục truyền lực, bánh xe răng, đĩa lệch tâm, cần, dây truyền lực, dây cua-roa, những thiết bị và phụ tùng trung gian đủ các loại khác nhau - điều tiết sự chuyển động, nếu cần thì thay đổi hình thái chuyển động,
ví dụ từ hình thái vuông góc sang hình thái tròn, phân phối và chuyển sự chuyển
1 C.Mác và Ăngghen: toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tập 23, trang 537
Trang 4động sang máy công cụ Hai bộ phận này của cơ cấu chỉ tồn tại là để chuyển sự chuyển động sang máy công cụ, nhờ thế mà máy công cụ nắm lấy đối tượng lao động và thay đổi nó đi theo mục đích đã định”2
C Mac viết: Chính bộ phận này của máy móc, tức máy công cụ, là điểm xuất phát của cuộc cách mạng công nghiệp trong thế kỷ XVIII
Khái niệm máy công cụ: Như vậy, máy công cụ là một cơ cấu mà sau khi nhận
được một sự chuyển động thích hợp thì với những công cụ của nó, nó cũng làm những công việc giống như công việc mà người công nhân đã làm trước kia với những công cụ tương tự
“Việc sáng tạo ra máy công cụ chính là yêu cầu sáng tạo ra các máy động lực
để đáp ứng cho nó”3
Hệ thống máy móc: “từ máy công cụ kéo theo sự phát triển của máy động lực, máy truyền lực” C Mac viết: “Bây giờ, cần phải phân biệt hai điều: sự hiệp tác của nhiều máy cùng loại và hệ thống máy móc”4
Máy móc: toàn bộ công việc do cùng một máy công tác làm ra Máy này làm
tất cả những công việc khác nhau mà trước kia người thợ thủ công tiến hành với công cụ của mình, ví dụ như người thợ dệt với khung cửi của mình, hoặc do nhiều người thợ thủ công lần lượt tiến hành với những công cụ khác nhau, chẳng kể đó là những người thợ thủ công độc lập hay là những thành viên của cùng một công trường thủ công)
Hệ thống máy móc: hệ thống máy móc chính cống chỉ thay thế một cái máy
độc lập riêng lẻ ở nơi nào đối tượng lao động trải qua một loạt những quá trình bộ phận liên quan với nhau, được tiến hành bởi một chuỗi những máy công tác khác loại nhưng bổ sung cho nhau
2 C.Mác và Ăngghen: toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tập 23, trang 538, 539
3 C.Mác và Ăngghen: toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tập 23, trang 542
4 C.Mác và Ăngghen: toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tập 23, trang 545, 546
4
Trang 5Khái niệm máy tự động: Khi máy công tác đã đảm nhiệm được tất cả những chuyển động cần thiết để chế biến nguyên liệu mà không cần đến sự trợ lực của con người nữa và chỉ cần đến con người để kiểm tra công việc thì lúc đó chúng ta có một hệ thống máy móc tự động, tuy nhiên, nó cũng vẫn có thể được cải tiến thường xuyên về chi tiết
2 Việc chuyển giá trị của máy móc sang sản phẩm
C Mac đặt vấn đề: Nếu như ngay mới thoạt nhìn, người ta cũng thấy rõ được rằng, khi gắn những lực lượng tự nhiên khổng lồ và khoa học tự nhiên vào quá trình sản xuất, đại công nghiệp tất phải nâng cao năng suất lao động lên một cách khác thường, thì đối với vấn đề liệu việc nâng cao sức sản xuất đó bù lại những chi phí lao động nhiều hơn ở chỗ khác không, người ta lại hoàn toàn không biết rõ được như thế
Cũng như mọi bộ phận cấu thành khác của tư bản bất biến, máy móc không tạo ra một giá trị nào cả, nhưng nó chuyển giá trị của bản thân nó vào sản phẩm mà
nó được dùng để chế tạo ra Vì máy móc có giá trị và vì nó chuyển giá trị đó vào sản phẩm, cho nên nó là một bộ phận cấu thành của giá trị sản phẩm
Đáng lẽ làm cho sản phẩm rẻ đi thì nó lại làm cho sản phẩm đắt lên một cách
tỷ lệ với giá trị của bản thân nó Và rõ ràng là máy móc và hệ thống máy móc phát triển - tư liệu lao động đặc trưng của đại công nghiệp - đã phình lên một cách không tương xứng về mặt giá trị, so với tư liệu lao động của nền sản xuất thủ công
và công trường thủ công
“Cần chú ý rằng máy móc bao giờ cũng tham gia toàn bộ vào quá trình lao động và bao giờ cũng chỉ tham gia từng phần vào quá trình hình thành giá trị Nó không bao giờ nhập thêm một giá trị nhiều hơn là số giá trị mà trung bình nó mất đi
do việc hao mòn của nó Vì vậy, có một sự chênh lệch lớn giữa giá trị của máy móc
và phần giá trị mà máy móc chuyển sang sản phẩm trong từng thời kỳ một Có một
Trang 6sự khác nhau lớn giữa máy móc với tư cách là yếu tố hình thành giá trị và máy móc với tư cách là yếu tố hình thành sản phẩm”5
II BÌNH LUẬN QUAN ĐIỂM CỦA C.MÁC
Quan điểm: “Nếu coi máy móc chỉ là một phương tiện để làm cho sản phẩm rẻ
đi, thì giới hạn sử dụng máy móc được quyết định bởi cái tình hình là: số lao động tiêu phí để sản xuất ra máy móc phải ít hơn số lao động mà việc sử dụng máy móc
thay thế Song đối với nhà tư bản thì giới hạn đó lại còn hẹp hơn nữa” được Mác
đưa ra trong Chương XIII, Quyển I của Bộ Tư bản khi bàn về máy móc và đại công nghiệp, cụ thể là được trích trong C Mác và Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tập 23, trang 565 – 566
1 Vế thứ nhất: “Nếu coi máy móc chỉ là một phương tiện để làm cho sản phẩm rẻ đi, thì giới hạn sử dụng máy móc được quyết định bởi cái tình hình là:
số lao động tiêu phí để sản xuất ra máy móc phải ít hơn số lao động mà việc sử dụng máy móc thay thế”
Đối với xã hội nói chung, trong đó có nhà tư bản, việc áp dụng máy móc khi
mà số lao động để sản xuất ra máy móc nhỏ hơn số lao động mà máy móc thay thế Khi đó, số chi phí lao động để sản xuất ra máy móc sẽ nhỏ hơn số chi phí số lao động mà máy móc thay thế
Về mặt xã hội, mục tiêu của con người là giải phóng lao động hằng ngày để thỏa mãn nhu cầu tinh thần Để lao động hằng ngày được giải phóng, thì máy móc xuất hiện và thay thế lao động của con người
Mác viết: “nếu việc sản xuất ra một chiếc máy cũng tốn một số lao động bằng với số lao động mà việc sử dụng máy đó tiết kiệm được, thì chỉ xảy ra
có một sự chuyển dịch lao động mà thôi, nghĩa là tổng số lao động cần thiết
để sản xuất ra một hàng hóa không giảm đi, hay sức sản xuất của lao động không tăng lên Nhưng sự chênh lệch giữa lao động tiêu phí để làm ra máy
và lao động mà máy đó tiết kiệm được, hay mức năng suất của máy, rõ ràng
5 C.Mác và Ăngghen: toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tập 23, trang 568
6
Trang 7không phụ thuộc vào số chênh lệch giữa giá trị của bản thân cái máy và giá trị của công cụ mà máy đó thay thế Sự chênh lệch đó vẫn tiếp tục tồn tại chừng nào mà những chi phí lao động cho máy móc, và do đó, bộ phận giá trị do nó chuyển sang cho sản phẩm, vẫn nhỏ hơn cái giá trị mà người công nhân với công cụ của mình đã thêm vào đối tượng lao động Như vậy là năng suất của máy được đo bằng mức độ mà máy đó thay thế sức lao động của con người”6
Mác viết tiếp: “Theo ông Bây-xơ thì cần 2 công nhân rưỡi để đứng 450 cọc sợi tự động với các thiết bị có sẵn, do một mã lực hơi nước làm chuyển động; và mỗi một cọc sợi của máy kéo sợi tự động trong một ngày lao động 10 giờ kéo được 13 ôn-xơ sợi (số trung bình), tức là 2 công nhân rưỡi một tuần kéo được 365 5/8 pao sợi Do đó, trong việc chuyển thành sợi, khoảng 366 pao bông (để cho giản đơn hơn, ta không nói đến cái phần bông cặn phải bỏ đi) chỉ thu hút 150 giờ lao động, hay 15 ngày lao động mỗi ngày 10 giờ, trong khi với cái xa quay tay, người thợ kéo sợi thủ công kéo được 13 ôn-xơ trong 60 giờ, nghĩa là cũng một số lượng bông như vậy sẽ thu hút hết 2700 ngày lao động mỗi ngày 10 giờ, hay 27 000 giờ lao động Chỗ nào mà phương pháp blockprinting (in bằng bản gỗ) cũ hay phương pháp in vải hoa thủ công đã được thay thế bằng phương pháp in bằng máy, thì chỉ một cái máy với một người đàn ông hay một thiếu niên trong một giờ cũng in được một số vải hoa 4 màu, bằng số vải 200 người in trước kia Trước khi I-lai Uýt-ni phát minh ra chiếc máy cán bông năm 1873 thì trung bình phải một ngày lao động mới cán được một pao bông Nhờ có phát minh
đó, một phụ nữ da đen có thể cán 100 pao bông một ngày, và từ đó đến nay, năng suất của máy cán bông còn tăng lên nhiều nữa Trước kia phải chi phí 50 xu để sản xuất ra một pao bông sợi, nhưng về sau chỉ bán có 10 xu
6 C.Mác và Ăngghen: toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tập 23, trang 563
Trang 8cũng đã thu được nhiều lợi nhuận hơn, nghĩa là trong đó bao gồm một số lượng lao động không được trả công nhiều hơn Ở Ấn Độ, để tách xơ bông
ra khỏi hạt người ta dùng một dụng cụ nửa cơ khí gọi là churka; với dụng
cụ ấy một người đàn ông và một người đàn bà một ngày cán được 28 pao bông Với cái churka do tiến sĩ Phơ-bơ-xơ sáng chế ra mấy năm trước đây, một người đàn ông và một thiếu niên có thể cán được 250 pao bông một ngày Ở nơi nào bò, hơi nước và nước được dùng làm động lực thì chỉ cần dùng vài thiếu niên và thiếu nữ làm feeders (tức là người cung cấp nguyên liệu cho máy) Mười sáu cái máy như thế, dùng bò kéo, mỗi ngày thực hiện được công việc trước đây trung bình phải 750 người làm”7
“Như trên đã nói, cái cày máy chạy bằng hơi nước, mỗi giờ tốn 3 pen-ny hay 1/4 si-linh, thì làm được công việc bằng 66 người với tiền công mỗi giờ là
15 si-linh Tôi trở lại ví dụ ấy để tránh một quan niệm sai lầm Cụ thể là số 15 si-linh đó hoàn toàn không phải là biểu hiện của lao động mà 66 người thêm vào trong 1 giờ Nếu tỷ lệ của lao động thặng dư so với lao động cần thiết là 100%, thì trong 1 giờ, 66 công nhân ấy sản xuất ra một giá trị là 30 si-linh, mặc dù vật ngang giá mà họ nhận được, tức là 15 si-linh tiền công, chỉ đại biểu cho 33 giờ Như vậy, nếu giả định rằng một cái máy cũng trị giá bằng số tiền công hàng năm của 150 công nhân bị nó gạt ra, ví dụ 3000 p.xt chẳng hạn, thì 3000 p.xt đó cũng hoàn toàn không phải là biểu hiện bằng tiền của số lao động do 150 công nhân thực hiện và đã gộp vào đối tượng của số lao động,
mà đó chỉ là một phần trong lao động hàng năm của họ, thể hiện ra bằng tiền công cho họ Trái lại, giá trị bằng tiền của cái máy 3000 p.xt là biểu hiện của toàn bộ lao động đã chi phí để sản xuất ra cái máy đó, không kể là lao động đó
đã hình thành một tỷ lệ như thế nào giữa tiền công cho công nhân và giá trị thặng dư cho nhà tư bản Do đó, ngay nếu cái máy trị giá ngang với sức lao động mà nó thay thế, thì lao động đã vật hóa ở trong cái máy đó bao giờ cũng
7 C.Mác và Ăngghen: toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tập 23, trang 564 - 564
8
Trang 9ít hơn rất nhiều so với lao động sống mà nó thay thế”8.
2 Vế thứ hai: “Song đối với nhà tư bản thì giới hạn đó lại còn hẹp hơn nữa”
Mục tiêu của nhà tư bản là giá trị thặng dư, lợi nhuận Do đó, họ chỉ dùng máy móc khi giá trị (giá mua) máy móc phải nhỏ hơn giá mua sức lao động
Sở dĩ Mác viết “Song đối với nhà tư bản thì giới hạn đó lại còn hẹp hơn
nữa” “Vì hắn không trả cho lao động đã sử dụng, mà chỉ trả cho giá trị
sức lao động đã sử dụng, cho nên đối với hắn, việc sử dụng máy móc bị giới hạn bởi số chênh lệch giữa giá trị của chiếc máy và giá trị của sức lao động bị máy đó thay thế Vì sự phân chia ngày lao động thành lao động cần thiết và lao động thặng dư lại khác nhau trong các nước khác nhau, và trong cùng một nước thì cũng khác nhau tùy theo từng thời kỳ, còn trong cùng một thời kỳ thì lại khác tùy theo từng ngành kinh doanh; tiếp nữa vì tiền công thực tế của công nhân khi thì xuống thấp, khi thì lên cao hơn giá trị sức lao động của họ, cho nên số chênh lệch giữa giá cả của máy và giá cả sức lao động mà máy đó thay thế có thể lên xuống rất nhiều, mặc dù sự chênh lệch giữa số lượng lao động cần thiết để sản xuất ra cái máy và tổng số lượng lao động được máy đó thay thế vẫn không thay đổi Nhưng đối với bản thân nhà tư bản thì chỉ có con số chênh lệch thứ nhất mới quyết định chi phí sản xuất ra hàng hóa và ảnh hưởng đến hắn thông qua những quy luật có tính chất cưỡng chế của cạnh tranh”9
M á c d ẫ n c h ứ n g : “ Chính vì vậy mà hiện nay, những máy móc được phát minh ra ở Anh chỉ dùng ở Bắc Mỹ, cũng như vào thế kỷ XVI và XVII những máy móc phát minh ở Đức chỉ được dùng ở Hà Lan, và vào thế kỷ XVIII nhiều phát minh của Pháp lại chỉ dùng ở Anh thôi Ở những nước phát triển lâu đời hơn, bản thân máy móc đã gây nên - do việc sử dụng
8 C.Mác và Ăngghen: toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tập 23, trang 565
9 C.Mác và Ăngghen: toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tập 23, trang 566-567
Trang 10chúng trong một vài ngành công nghiệp - nạn thừa lao động (mà
Ri-các-đô gọi là redundancy of labour) trong các ngành khác, đến nỗi trong những ngành này, tiền công thấp hơn giá trị sức lao động đã ngăn cản việc
sử dụng máy móc và khiến cho việc sử dụng máy móc trở thành vô ích, lắm khi không thể thực hiện được theo quan điểm của tư bản, bởi vì lợi nhuận của nó bắt nguồn không phải từ việc giảm bớt lao động được sử dụng, mà là từ việc giảm bớt lao động được trả công
Trong một vài ngành công nghiệp dệt len ở Anh, trong những năm gần đây lao động trẻ em đã giảm đi rất nhiều, có nơi hầu như bị loại bỏ Tại sao vậy? Vì luật công xưởng bắt buộc phải sử dụng trẻ em làm hai ca, một ca 6 giờ một ca 4 giờ, hoặc mỗi ca 5 giờ thôi Nhưng bố mẹ chúng không muốn bán những half-times (những người làm việc nửa thời gian) rẻ hơn là trước kia bán cả full-half-times (những người làm việc đầy đủ thời gian) Thế là những người làm việc nửa thời gian bị máy móc thay thế "Nếu không cần thiết thì bọn chủ xí nghiệp không cần duy trì chế độ làm việc hai ca của trẻ em dưới 13 tuổi Trên thực tế có một hạng chủ xưởng, chủ xưởng kéo sợi len, bây giờ ít khi sử dụng trẻ em dưới 13 tuổi, tức là những người half-times Họ dùng những máy móc mới đã được cải tiến thuộc các loại khác nhau, khiến cho việc sử dụng trẻ em" (tức là trẻ em dưới
13 tuổi) "bị hoàn toàn xóa bỏ; ví dụ, để minh họa cho việc giảm bớt số trẻ em trong sản xuất, tôi sẽ nêu ra một quá trình sản xuất trong đó nhờ việc lắp thêm một thiết bị gọi máy xe sợi hiện có, mỗi cái máy, - có thể chỉ do một thiếu niên" (trên 13 tuổi) "làm… Chế độ half-time đã kích thích "việc phát minh ra máy xe sợi" ("Reports of Insp of Fact, for 31st October 1858")
Trước khi có lệnh cấm dùng phụ nữ và trẻ em (dưới 10 tuổi) trong các hầm mỏ, tư bản đã tìm được cách sử dụng những người đàn bà và thiếu nữ trần truồng ở các giếng mỏ than và các mỏ khác, lắm lúc cùng với đàn ông -một điều phù hợp với quy tắc đạo đức của nó và nhất là phù hợp với sổ cái kế
10