1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tiểu luận môn lịch sử kinh tế việt nam phân tích quá trình hình thành và phát triển của mô hình kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở việt nam ý nghĩa lý luận, thực tiễn

42 159 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 342 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những năm 1990: Dứt khoát chuyển sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa - Đại hội lần thứ VII của Đảng Cộng sản Việt Nam với sự kiên định chủ trương: “phát triển kinh tế - x

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU ………3 PHẦN NỘI DUNG……… 4

I SỰ CẦN THIẾT KHÁCH QUAN HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN Ở VIỆT NAM………….……… 4

2 Đánh giá khái quát ……… ……… 17

2.1 Nhận thức chung về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ………… …… 17

2.2 Nhận thức về vai trò và chủ trương phát triển đa dạng các hình thức sở hữu, các thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa …… 18

2.3 Nhận thức về phát triển đồng bộ các yếu tố thị trường và các loại thị trường … … 19

2.4 Nhận thức về mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ……… ………… ……….20

2.5 Nhận thức về hội nhập kinh tế quốc tế……… ……… ……… 20 2.6 Nhận thức về định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường …… …………21

2.7 Nhận thức về yêu cầu nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, hiệu lực, hiệu quả quản

lý của Nhà nước với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ……… 21

III THÀNH TỰU, HẠN CHẾ TRONG THỰC TIỄN XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA ……….…… 21

1 Những thành tựu……… 21

1.1 Thành tựu lý luận về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ………….…… 21

1.2 Những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội ………27

2 Những hạn chế, yếu kém và nguyên nhân ……….…… 32

1

Trang 2

IV BÀI HỌC KINH NGHIỆM TỪ THỰC TIỄN XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH

TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA ……… 35 KẾT LUẬN ……… 41

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… 42

2

Trang 3

MỞ ĐẦU

Năm 1986 trở về trước nền kinh tế nước ta là nền kinh tế sản xuất nhỏ, mang tính tựcung tự cấp vận hành theo cơ chế tập trung quan liêu bao cấp Mặt khác, do những sai lầmtrong nhận thức về mô hình kinh tế xã hội chủ nghĩa Nền kinh tế nước ta ngày càng tụthậu, khủng hoảng trầm trọng kéo dài, đời sống nhân dân thấp Muốn thoát khỏi tình trạng

đó con đường duy nhất là phải đổi mới kinh tế

Sau đại hôị Đảng VI năm 1986 nền kinh tế nước ta chuyển sang một hướng đi mới:phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản

lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa - đó chính là nền kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa

Việc nghiên cứu về kinh tế thị trường - sự hình thành và phát triển có ý nghĩa vôcùng to lớn cả về lý thuyết lẫn thực tế Một mặt, cho ta thấy được tính khách quan của nềnkinh tế thị trường, và sự cần thiết phải phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa có sự quản lý của nhà nước ở nước ta hiện nay, thấy được những gì đã đạt được vàchưa đạt được của Việt nam Mặt khác, giúp chúng ta có cái nhìn tổng quan về nền kinh

tế nước nhà, đồng thời thấy được vai trò to lớn của quản lý nhà nước đối với nền kinh tếthị trường, những giải pháp nhằm đưa nước ta tiến nhanh lên nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa

Ở Việt Nam, phát triển kinh tế thị trường trong thực tế không những là nội dung củacông cuộc đổi mới mà lớn hơn thế còn là công cụ, là phương thức để nước ta đi tới mụctiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội Nhưng vấn đề đặt ra là: Thực hiện mô hình này bằng cáchnào để hạn chế tiêu cực, tăng tích cực giúp cho kinh tế nước ta ngày càng phát triển sánhvai cùng các cường quốc năm châu khác?

Chính vì vậy, việc nghiên cứu, bổ sung và hoàn thiện những quan điểm, biện pháp

để nền kinh tế nước ta phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa và giữ vững địnhhướng đó là công việc vô cùng thiết thực và cần thiết, có ý nghĩa to lớn đối với mỗi nhànghiên cứu và phân tích kinh tế Xuất phát từ tầm quan trọng đó, trong phạm vi môn học

Lịch sử kinh tế Việt Nam, học viên thực hiện tiểu luận với chủ đề: “Phân tích quá trình hình thành và phát triển của mô hình kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Ý nghĩa lý luận, thực tiễn”

3

Trang 4

PHẦN NỘI DUNG

I SỰ CẦN THIẾT KHÁCH QUAN HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN KINH

TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN Ở VIỆT NAM

1 Cơ chế cũ và hạn chế của nó

Cơ chế cũ là cơ chế tập trung quan liêu bao cấp Đó là cơ chế mà ở đó Nhà nướcquản lý nền kinh tế bằng mệnh lệnh hành chính là chủ yếu, thể hiện ở sự chi tiết hoá cácnhiệm vụ do Trung ương giao bằng một hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh từ một trung tâm Cácdoanh nghiệp căn cứ vào chỉ tiêu kế hoạch của nhà nước từ đó lập kế hoạch sản xuất kinhdoanh cho mình

Trong cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, các cơ quan nhà nước can thiệp quá sâuvào các hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhưng lại không chịu tráchnhiệm gì đối với các quyết định của mình, từ đó làm cho các doanh nghiệp thụ độngkhông phát huy được tính sáng tạo, các quan hệ kinh tế bị hiện vật hoá Quan hệ hàng hoátiền tệ chỉ mang tính hình thức, bỏ qua hiệu quả kinh tế, quản lý kinh tế và kế hoạch hoábằng chế độ cấp phát, giao nộp Bộ máy quản lý cồng kềnh, nhiều khâu trung gian nhưngkém năng lực

Cơ chế tập trung bao cấp đã góp phần cho thắng lợi giải phóng đất nước, nhưng saukhi điều kiện kinh tế xã hội đã thay đổi Đặc biệt khi trình độ phát triển kinh tế đã nângcao lên rất nhiều, cơ cấu càng phức tạp thì những khuyết điểm bên trong nền kinh tế kếhoạch ngày càng bộc lộ Cuộc chạy đua theo mục tiêu chế độ quốc hữu hoá làm loại bỏhoặc hạn chế chế độ kinh tế phi quốc hữu, kiềm chế cạnh tranh nên khó làm sống độngnền kinh tế

Trên thực tế kinh tế kế hoạch lấy chủ nghĩa bình quân làm phương châm phân phốicho nên đã kìm hãm tích cực và sáng tạo của người sản xuất kinh doanh Chúng ta thựchiện phân phối theo lao động trong điều kiện chưa cho phép Trong hoạt động kinh tế,việc nhà nước quản lý hành chính bằng mệnh lệnh trực tiếp, chính quyền và xí nghiệpkhông tách riêng, đầu vào cao đầu ra thấp đã trở thành những căn bệnh cũ của nền kinh tế

kế hoạch Những điều trên đã gây trở ngại cho sự phát triển sản xuất xã hội Trước tìnhhình đó, việc chuyển đổi nền kinh nước ta sang nền kinh tế thị trường là đúng đắn phùhợp với thực tế, quy luật kinh tế và xu thế của thời đại

2 Chủ trương phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Trong khi các nước trong khu vực đã đạt được những bước phát triển nhảy vọt dựavào cơ chế kinh tế thị trường, mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, xây dựng cơ cấu kinh tếhướng bên ngoài, thì Việt Nam trong nhiều năm vẫn theo đuổi cơ chế kế hoạch hoá tậptrung bằng mệnh lệnh hành chính, quan liêu từ trung ương và cơ cấu kinh tế hướng nội làchủ yếu, đã kìm hãm khả năng hoà nhập vào trào lưu phát triển của khu vực

Sau đại hội VI (1986), do đổi mới nói chung và sự đổi mới trong nhận thức xã hội,Đảng ta nhận định rằng để phát triển theo kịp các nước trong khu vực và thế giới thì phảiphát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản

lý của nhà nước Bởi vì hiện nay ở nước ta, các điều kiện của sản xuất hàng hoá vẫn cònđang tồn tại Phân công lao động: ở nước ta đang tồn tại hệ thống phân công lao động do

4

Trang 5

lịch sử để lại với nhiều ngành nghề Với sự phát triển khoa học, kỹ thuật hiện đại, nhiềungành nghề mới xuất hiện làm cho sự phân công lao động ở nước ta trở nên phong phúhơn, nó tạo điều kiện cho hàng hoá phát triển Ở nước ta cũng đang tồn tại quan hệ sở hữu

đa dạng về tư liệu sản xuất và ứng với nó là nền kinh tế nhièu thành phần Điều đó tạo nên

sự độc lập về mặt kinh tế giữa các thành viên, doanh nghiệp Nó cũng có tác dụng làmcho hàng hoá phát triển Mặt khác, kinh tế hàng hoá phát triển, nó thúc đẩy quá trình phâncông lao động, quá trình chuyên môn hoá và hiện đại hoá Qua đó thiết lập được mối quan

hệ kinh tế giữa các vùng xoá bỏ tình trạng tự cung, tự cấp Đẩy mạnh quá trình xã hội hoásản xuất Nó thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn và lao động thể hiện ở quy mô củacác doanh nghiệp, quy mô về kinh tế ngày càng tăng

Kinh tế hàng hoá góp phần tăng năng suất lao động thực hiện dân chủ hoá đời sốngkinh tế Nó khai thác được thế mạnh từng ngành, từng địa phương để làm ra nhiều sảnphẩm cho xã hội, tạo tiền đề cho việc mở rộng liên kết, liên doanh cả trong nước và nướcngoài Mở rộng phạm vi giao lưu hàng hoá giữa nước ta và các nứơc khác Là điều kiệnthúc đẩy sự phát triển của một số ngành, lĩnh vực khác Trong bất cứ hình thái kinh tế - xãhội nào cũng có phương thức sản xuất giữ vị trí chi phối Ngoài ra, còn có phương thứcsản xuất tàn dư của xã hội trước và phương thức sản xuất mầm mống của xã hội tương lai.Các phương thức sản xuất này ở vào địa vị lệ thuộc, bị chi phối bởi phương thức sản xuấtthống trị

Trong một hình thái kinh tế xã hội có nhiều phương thức sản xuất biểu hiện thànhphần kinh tế Trong thời kỳ quá độ, chưa có thành phần kinh tế nào giữ vai trò thống trị,chi phối các thành phần kinh tế khác, mà chúng chỉ là những mảnh, những bộ phận hợpthành kết cấu kinh tế xã hội trong một hệ thống thống nhất biện chứng Mỗi thành phầnkinh tế có kiểu tổ chức sản xuất kinh doanh của nó hợp thành nền kinh tế hàng hoá nhiềuthành phần

Việc nhận thức và tổ chức thực hiện trên thực tế các thành phần kinh tế trong thời kỳquá độ có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn Hiện nay, ở nước ta đang tồn tại nhiều trình

độ khác nhau của lực lượng sản xuất (thủ công, trình độ cơ khí, tự động hoá, tin học hoá ) Vì vậy khi thiết lập quan hệ sở hữu thì cũng phải đa dạng phù hợp ở nước ta hiện

nay có thể làm xuất hiện thêm một số thành phần kinh tế khác

Ở nước ta tồn tại một nền kinh tế nhiều thành phần là một tất yếu khách quan Vìkinh tế nhiều thành phần, đây là tồn tại khách quan do lịch sử để lại trong thời kỳ quá độ

và có nhiều thành phần kinh tế mà sự tồn tại của nó vẫn có lợi cho sự phát triển đất nước.Phát triển kinh tế nhiều thành phần nhằm thực hiện cái quy luật: Quan hệ sản xuất phảiphù hợp với tính chất, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Phát triển kinh tế nhiềuthành phần nhằm để cho sản xuất nước ta phát triển liên tục không bị gián đoạn Phát triểnkinh tế nhiều thành phần nhằm tạo ra sự cạnh tranh giữa các thành phần kinh tế thị trườnghiện nay ở nước ta

II QUÁ TRÌNH NHẬN THỨC CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

1 Các giai đoạn nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

1.1 Thời kỳ cuối thập kỷ 70 đến thập kỷ 80 của thế kỷ XX: Tìm tòi và thử nghiệm cải cách cục bộ trong khuôn khổ mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung

5

Trang 6

Chúng ta đều biết rằng, việc lựa chọn mang tính khẳng định đường lối đổi mới kinh

tế, mô hình kinh tế ở Việt Nam vào cuối những năm 1980 diễn ra dưới áp lực gay gắt củathực tiễn trong nước và ngoài nước

Ở trong nước, mô hình kinh tế thị trường và đơn nhất thành phần kinh tế tỏ ra kémhiệu quả

Nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa trong hoàn cảnhmột nước nghèo, kinh tế, kỹ thuật lạc hậu, trình độ phát triển xã hội thấp, lại bị chiếntranh tàn phá nặng nề Suốt một thời gian dài, Việt Nam cũng như nhiều nước xã hội chủnghĩa khác đã áp dụng mô hình xã hội chủ nghĩa kiểu Xôviết, mô hình kinh tế kế hoạchhóa tập trung, quan liêu bao cấp, mà thực chất là mô hình kinh tế cứng nhắc phi thịtrường, quá đề cao vai trò của một thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa dưới hai hình thức:kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể, còn các thành phần kinh tế khác bằng những chínhsách, biện pháp hành chính, áp đặt nóng vội để đẩy nhanh tiến độ cải tạo xã hội chủ nghĩađối với chúng, với mục tiêu chính không phải là để huy động, phát triển, mà là hạn chế

thu hẹp, thậm chí xóa bỏ các thành phần kinh tế được gọi là “phi xã hội chủ nghĩa” Kết

cục là thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa (quốc doanh và tập thể) phát triển nhanh về sốlượng, mở rộng quy mô và phạm vi hoạt động, nhưng hiệu quả sản xuất – kinh doanh thấp

và ngày càng có xu hướng giảm sút

Mặc dù trong một thời gian tương đối dài, mô hình kinh tế này đã từng phát huy tácdụng, tích cực trong việc thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa theo kiểu cổ điển, tập trungđược các nguồn lực, sức người, sức của đáp ứng yêu cầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ,cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, nhưng càng về sau, nó càng bộc lộnhững khiếm khuyết, mà chủ yếu là các nhu cầu của xã hội vượt quá khả năng đáp ứngcủa một nền kinh tế kém hiệu quả, thiếu năng động do thực hiện cơ chế kế hoạch tậptrung, quan liêu và chế độ phân phối (về cơ bản) bình quân chủ nghĩa Chính điều đó đãkìm hãm, làm thui chột động lực và tính cạnh tranh giữa các lực lượng kinh tế, không huyđộng và sử dụng được các nguồn lực của đất nước để tạo đà cho sự phát triển Cộng vớicông tác chỉ đạo, lãnh đạo, quản lý cũng phạm phải một số sai lầm, mà nguyên nhân sâu

xa của những sai lầm ấy là bệnh giáo điều, chủ quan, duy ý chí, giản đơn, nóng vội, khôngtôn trọng quy luật kinh tế khách quan; nhận thức về chủ nghĩa xã hội không đúng với thực

tế của Việt Nam, khiến cho nền kinh tế lâm vào tình trạng trì trệ kéo dài, rồi khủng hoảngkinh tế - xã hội trầm trọng và kéo dài: sản xuất phát triển chậm, kém hiệu quả và bấpbênh, tình trạng thiếu hụt, khan hiếm hàng hóa (kể cả lương thực); lạm phát phi mã(774,7% năm 1986), đời sống nhân dân rất khó khăn Vì vậy, đoạn tuyệt với cơ chế kinh

tế cũ, lạc hậu và phát triển kinh tế đã trở thành đòi hỏi bức thiết và tất yếu đối với ViệtNam lúc bấy giờ

Trên thế giới, bắt đầu từ thập niên 80 của thế kỷ XX, nhiều sức ép đối với sự pháttriển kinh tế của Việt Nam cũng đã xuất hiện và gia tăng

Chính phủ Mỹ thi hành chính sách cấm vận kinh tế đối với Việt Nam từ cuối thậpniên 70 thế kỷ XX, nhằm đặt nền kinh tế Việt Nam vào thế cô lập, suy yếu và dẫn tới sựsụp đổ Dưới áp lực của Mỹ, nhiều chính phủ, tổ chức kinh tế - tài chính quốc tế, tập đoàn

và công ty trên thế giới cũng buộc phải hạn chế hoặc ngừng quan hệ với Việt Nam Tuychính sách này không làm cho Việt Nam bị cô lập hoàn toàn, nhưng kéo dài thời gian thihành chính sách cấm vận ấy đã gây ra hậu quả không nhỏ đối với nền kinh tế Việt Nam

6

Trang 7

Khi Việt Nam lâm vào khủng hoảng kinh tế - xã hội thì Liên Xô, các nước xã hộichủ nghĩa Đông Âu và nhiều nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa trên thế giới cũng lâmvào tình cảnh tương tự

Do khủng hoảng kinh tế, các nước xã hội chủ nghĩa cũng không thể triển khai kếhoạch hợp tác kinh tế với Việt Nam một cách bình thường Do đó, viện trợ từ các nước xãhội chủ nghĩa – nguồn lực phát triển hết sức quan trọng đối với Việt Nam – bị suy giảm,hoạt động thương mại của Việt Nam đối với khu vực thị trường truyền thống, quan trọnghàng đầu cũng bị giảm mạnh, làm trầm trọng thêm những mất cân đối lớn vốn có của nềnkinh tế

Trong khi đó, thành công của Trung Quốc trong việc “cải cách, mở cửa” (1978) nềnkinh tế theo định hướng thị trường nhưng vẫn giữ được con đường xã hội chủ nghĩa vànền kinh tế Trung Quốc có sự tăng trưởng phát triển nhanh1 Có thể nói đây là những gợi

ý và tham khảo trong chiến lược phát triển của Việt Nam trong bối cảnh mới

Hơn nữa, trên thế giới cuộc cách mạng khoa học – công nghệ đang diễn ra với quy

mô lớn chưa từng có, đem lại cho loài người những thành tựu vô cùng to lớn Dưới sự tácđộng của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ, nhiều nước trên thế giới thực hiện cơcấu lại nền kinh tế, mở cửa nền kinh tế và phát triển kinh tế thị trường có sự quản lý củanhà nước

Công cuộc tìm tòi, thử nghiệm để thoát khỏi khủng hoảng (trước năm 1986)

Để đưa đất nước ra khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội, Việt Nam đã phảitrải qua một quá trình tìm tòi, thử nghiệm, đấu tranh tư tưởng và tổng kết thực tiễn rấtgian khổ Điều này thể hiện như sau:

Bước đột phá thứ nhất,

Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa IV(8/1979), với quan điểm “làm cho sản xuất bung ra”, có thể coi là sự “đột phá đầu tiên”trong việc thay đổi chủ trương, chính sách trên lĩnh vực kinh tế, với ý nghĩa là khắc phụcnhững khuyết điểm sai lầm trong quản lý kinh tế, trong cải tạo xã hội chủ nghĩa, điềuchỉnh những chủ trương, chính sách kinh tế, phá bỏ những rào cản để cho lực lượng sảnxuất phát triển Đó là:

- Ổn định nghĩa vụ lương thực trong 5 năm, phần lương thực dôi ra được bán choNhà nước theo giá khuyến khích hay thị trường tự do

- Khuyến khích mọi người tận dụng ao hồ, đất hoang hóa…

- Đẩy mạnh chăn nuôi gia súc dưới mọi hình thức (quốc doanh, tập thể, hộ gia đình)

- Sửa lại thuế lương thực, giá lương thực để khuyến khích sản xuất phát triển

- Sửa lại chế độ phân phối trong nội bộ hợp tác xã nông nghiệp, bỏ lối phân phốitheo định suất, định lượng để khuyến khích tính tích cực của người lao động

- Điều chỉnh một số chính sách không còn phù hợp, cải tiến chính sách phân phốilưu thông…

Những chủ trương đó đã nhanh chóng được nhân dân cả nước tiếp nhận và biếnthành hành động cụ thể trong thực tiễn kinh tế:

1 Trong khoảng 22 năm, Trung Quốc đã rút ngắn mức độ chênh lệch thu nhập bình quân đầu người của mình so với mức bình quân trên thế giới 7,3 lần xuống còn 1,9 lần Theo Hồ An Cường: Trung Quốc: Những chiến lược lớn, NXB.Thông Tấn, H.2003

7

Trang 8

- Sau hơn 3 tháng thực hiện, ở Hà Nội đã có 1,529 hộ đăng ký kinh doanh sản xuấtcông nghiệp và thủ công nghiệp

- Kinh tế gia đình ở Thành phố Hồ Chí Minh phát triển nhanh

- Tỉnh Long An từ 1981 đã thực hiện thí điểm mô hình theo cơ chế “mua cao, báncao” thay cho “mua cung, bán cấp”, bù giá vào lương

- Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Nghệ An… được thí điểm hình thức khoán trong các hợptác xã nông nghiệp Trên cơ sở ấy, ngày 13/1/1981, Chỉ thị 100-CT/TW của Ban Bí thưTrung ương Đảng đã ra đời “Khoán 100” đã bước đầu tạo ra một động lực mới trong sảnxuất nông nghiệp

Trong công nghiệp: nổi lên là các Quyết định số 25/CP và 26/CP của Chính phủ.Trước tình trạng đình trệ trong sản xuất công nghiệp, lãnh đạo một số địa phương đã tìmcách khắc phục Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện giao quyền tự chủ cho các xí nghiệpđạt được những kết quả ban đầu khích lệ Thành phố Hải Phòng thực hiện giao quỹ lươngcho xí nghiệp đánh cá Cát Bà và cho phép khoán sản phẩm từng chuyến đi biển Hàngtrăm cơ sở sản xuất kinh doanh khác trong khu vực nhà nước theo tinh thần Nghị quyếtHội nghị Trung ương 6, Nghị quyết 26 của Bộ Chính trị đã làm thử việc trả lương khoán,lương sản phẩm và vận dụng linh hoạt các hình thức khoán tiền thưởng

Sau khi nghiên cứu tổng kết những điểm làm thử, ngày 21/1/1981, Hội đồng Chínhphủ đã ra Quyết định số 25/CP về một số chủ trương và biện pháp nhằm phát huy quyềnchủ động sản xuất kinh doanh và quyền tử chủ về tài chính của các xí nghiệp quốc doanh

và Quyết định số 26/CP về mở rộng hình thức trả lương khoán, lương sản phẩm và vậndụng hình thức tiền thưởng trong các đơn vị sản xuất kinh doanh của Nhà nước Trong haiquyết định này thì Quyết định số 25/CP có tác động rõ nhất đến tình hình sản xuất côngnghiệp ở Việt Nam Nội dung chính của Quyết định số 25/CP là kế hoạch ba phần:

- Phần Nhà nước giao có vật tư bảo đảm (kế hoạch A): Nhà nước sẽ cung ứng vật tư

và sản phẩm làm ra phải bán theo địa chỉ và giá do Nhà nước quy định

- Phần xí nghiệp tự làm (kế hoạch B): là phần mà xí nghiệp phải tự lo nguyên liệu,vật tư (mua trên thị trường) để sản xuất thêm sản phẩm trong nhiệm vụ thiết kế của xínghiệp

- Phần sản phẩm phụ (kế hoạch C): xí nghiệp sản xuất ra những mặt hàng khôngnằm trong diện mặt hàng Nhà nước giao từ những sản phẩm phế thải Ví dụ, xí nghiệp gỗlấy gỗ thừa làm đồ chơi trẻ em, xí nghiệp bông lấy bông thừa làm chăn tiết kiệm,…

Sau một thời gian thực hiện thì kế hoạch 3 phần bị biến dạng dần Các phần kếhoạch bị lẫn lộn Các xí nghiệp đều tìm mọi cách để có lợi cho công nhân của mình

- Trên lĩnh vực cải tạo xã hội chủ nghĩa, tư tưởng sử dụng các thành phần kinh tế đãđược đặt ra, từ hiệu quả kinh tế mà vận dụng các hình thức sản xuất kinh doanh phù hợp,chính sách đối với kinh tế cá thể từng bước được điều chỉnh cho phù hợp với thực tế…Tóm lại, những tư tưởng đột phá về kinh tế trong Nghị quyết Trung ương 6 khóa IVcủa Đảng, trong Chỉ thị 100-CT/TW và trong các quyết định của Chính phủ Việt Namtrong thời kỳ này là:

- Đây là những ý tưởng ban đầu, tuy còn sơ khai, chưa cơ bản và toàn diện, nhưng

đó là “sự mở đầu” có ý nghĩa quan trọng

- Điểm nổi bật trong những tìm tòi thử nghiệm là “giải phóng lực lượng sản xuất”

mà tư tưởng “làm cho sản xuất bung ra” là tiền đề, trên cơ sở khắc phục những sai lầm,

8

Trang 9

khuyết điểm trong quản lý kinh tế, trong cải tạo xã hội chủ nghĩa, tạo ra động lực cho sảnxuất, chú ý kết hợp ba lợi ích, quan tâm hơn đến lợi ích thiết thân của người lao động

- Tác động thực tiễn của những tìm tòi, thử nghiệm ban đầu ấy có nhiều hạn chế.Tuy vậy, nó đã đặt những cơ sở đầu tiên cho sự đổi mới toàn diện, sâu sắc này

Tuy nhiên, những tìm tòi đổi mới ban đầu đó đã phải trải qua những thử thách rấtphức tạp Trước những khó khăn về kinh tế và đời sống, cũng như khuynh hướng muốnquay lại với quan niệm và cách làm cũ Hội nghị Trung ương 5 khóa V (12/1983) vẫnxem sự chậm chạp trong cải tạo xã hội chủ nghĩa là một trong những nguyên nhân củatình trạng khó khăn về kinh tế - xã hội và chủ trương phải đẩy mạnh hơn nữa công cuộccải tạo xã hội chủ nghĩa Nhà nước phải nắm hàng, nắm tiền, xóa bỏ thị trường tự do vềlương thực và các nông, hải sản quan trọng; thống nhất quản lý giá, bảo đảm cung cấp đủ

9 mặt hàng theo đúng định lượng cho người ăn lương, lập cửa hàng cung cấp…

Trong hợp tác xã nông nghiệp thì quản lý, điều hành chặt chẽ tất cả các khâu theo kế

hoạch Hội nghị Trung ương 6 khóa V (7/1984) vẫn tiếp tục chủ trương “đẩy mạnh cải tạo xã hội chủ nghĩa”, đẩy mạnh thu mua, nắm nguồn hàng, cải tạo thị trường tự do…

Điều đó cho thấy, sự đổi mới tư duy là không đơn giản, quan niệm cũ về cải tạo xã hộichủ nghĩa còn ăn sâu, bám rễ trong nhiều người Trên thực tế khủng hoảng kinh tế - xãhội ngày một nghiêm trọng, đời sống nhân dân, nhất là người làm công ăn lương ngàycàng khó khăn”2

Bước đột phá thứ hai,

Hội nghị Trung ương 8 khóa V (6/1985) đánh dấu bước đột phá thứ hai bằng chủtrương dứt khoát xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, thực hiện cơ chế một giá,xóa bỏ chế độ cung cấp hiện vật theo giá thấp; chuyển mọi hoạt động sản xuất kinh doanhsang cơ chế hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa; chuyển ngân hàng sang nguyên tắckinh doanh Điểm quan trọng là Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương khóa V,

đã thừa nhận sản xuất hàng hóa và những quy luật của kinh tế hàng hóa

Tháng 9/1985, cuộc tổng điều chỉnh giá, lương, tiền được thực hiện

Đợt điều chỉnh giá – lương – tiền được tiến hành sau Hội nghị Trung ương 8 Điềuchỉnh giá, lương, tiền đồng thời một lúc, bắt đầu từ ngày 1/10/1985 Nhà nước thực hiệnmột giá kinh doanh, xóa bỏ hoàn toàn giá cung cấp và chế độ tem phiếu, chỉ giữ lại sổ gạocho cán bộ, công nhân, viên chức, lực lượng vũ trang, đối tượng chính sách để bảo hiểmkhi giá lương lực có đột biến Tổng điều chỉnh toàn bộ hệ thống giá nhà nước chỉ đạo, lấygiá lúa thị trường tháng 8/1985 đưa toàn bộ mặt hàng giá chỉ đạo lên khoảng 10 lần so vớitrước tháng 10/1985 Tiền lương được tính lại trên cơ sở mức giá mới, theo mức tăng giá.Quyết định đổi tiền ngày 4/9/1985 đưa mệnh giá tiền mới gấp 10 lần tiền cũ Đây là cuộctổng điều chỉnh giá – lương – tiền, tiến hành toàn diện trong một thời gian ngắn đã gây ra

cú sốc cho nền kinh tế cũng như đời sống, tâm lý xã hội Hệ quả làm cho “giá cả thịtrường có nhiều diễn biến phức tạp, ảnh hưởng không tốt đến nhiều hoạt động kinh tế - xãhội Lạm phát phi mã Sự chênh lệch giữa giá và lương, giữa lương danh nghĩa và lươngthực tế quá lớn Chính vì vậy, đầu năm 1986, lại phải lùi một bước: Thực hiện chính sáchhai giá Trên lĩnh vực phân phối lưu thông, làm phát ở mức 3 con số trong nhiều năm,

2 Đảng Cộng sản Việt Nam – Ban Chấp hành Trung ương – Ban Chỉ đạo tổng kết lý luận: Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận – thực tiễn qua 20 năm đổi mới (1986-2006), Nxb Chính trị quốc gia, H.2005, tr.45-46

9

Trang 10

đỉnh cao là 774,7% năm 1986 Lượng lưu thông tiền tệ cuối năm 1984 bằng 8,4 lần cuốinăm 1980 Nhiều vấn đề nóng bỏng, phức tạp chưa được giải quyết, có mặt ngày càngtrầm trọng hơn Đây là những sai lầm trong việc đổi tiền, muốn tăng giá trị đồng tiền khi

cơ sở đảm bảo cho việc tăng đó chưa có (quan hệ tiền – hàng mất cân đối nghiêm trọng)

Bước đột phá thứ ba,

Tháng 5/1986, Hội nghị lần thứ 10 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản ViệtNam khóa V khẳng định một lần nữa tính đúng đắn của Nghị quyết Trung ương 8(6/1985), trong quá trình chuẩn bị Dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội VI của Đảng,

Bộ Chính trị đã nêu ra những kết luận đối với một số vấn đề thuộc về quan điểm kinh tế:1/ Trong bố trí cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư, phải lấy nông nghiệp làm mặt trậnhàng đầu, ra sức phát triển công nghiệp nhẹ, công nghiệp nặng được phát triển có chọnlọc

2/ Trong cải tạo xã hội chủ nghĩa, xác định cơ cấu kinh tế nhiều thành phần là mộtđặc trưng của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta

3/ Trong cơ chế quản lý kinh tế, lấy kế hoạch làm trọng tâm, đồng thời phải vậndụng đúng đắn quan hệ hàng hóa, tiền tệ, dứt khoát xóa bỏ cơ chế tập trung, quan liêu baocấp, chính sách giá phải vận dụng quy luật giá trị, tiến tới thực hiện cơ chế một giá Đây

là bước đột phá thứ ba, có ý nghĩa lớn trong đổi mới tư duy kinh tế của Đảng Cộng sảnViệt Nam

Tóm lại, dưới áp lực của thực tiễn, thời kỳ cuối thập niên 70 đầu thập niên 80 thế kỷ

XX, trong nền kinh tế nước ta đã diễn ra những cải cách cục bộ theo hướng bước đầu thừanhận thị trường là công cụ bổ sung cho kế hoạch, chủ yếu để tổ chức hoạt động kinhdoanh ở cấp vi mô Với sự thừa nhận này, thị trường không bị coi là đối lập với chủ nghĩa

xã hội và có thể chấp nhận trong quá trình xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa

Tuy có sự chuyển biến nhận thức và thực tiễn quan trọng nhưng những cuộc thửnghiệm, tìm tòi ấy chưa đủ sức mang tính đột phá để tạo ra bước ngoặt căn bản trongquan điểm lý luận và thực tiễn về quá trình hình thành và phát triển kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa Bởi vì:

1/ Thị trường chỉ được coi là công cụ bổ sung cho kế hoạch, công cụ chủ yếu đểquản lý, tổ chức và điều hành nền kinh tế vẫn là kế hoạch pháp lệnh;

2/ Về thực chất, những cải cách cục bộ ấy vẫn trong khuôn khổ của cơ chế kế hoạchhóa tập trung và nhằm duy trì, củng cố hệ thống kinh tế vận hành theo cơ chế đó;

3/ Giá cả một số mặt hàng thiết yếu (gạo, chất đốt, thịt…) và yếu tố đầu vào của sảnxuất, như lương (giá cả sức lao động), lãi suất, tỷ giá hối đoái… vẫn là giá phi thị trường;4/ Trong nhận thức lý luận vẫn chưa thừa nhận đa sở hữu, đa thành phần, kinh tế tưnhân còn bị phân biệt đối xử, doanh nghiệp nhà nước chưa được tự chủ về tài chính, tựchủ kinh doanh; nền kinh tế vận hành không theo quy luật kinh tế thị trường, phủ nhận thịtrường, giá cả thị trường, cạnh tranh… nền kinh tế giẫm chân tại chỗ, lâm vào khủnghoảng trầm trọng Chủ trương công nghiệp hóa là đúng, nhưng đường lối và phương pháptiến hành không hợp lý Đại hội lần thứ VI của Đảng năm 1986 nhận định: “Trên thực tếchúng ta đã chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa trong khi chưa có đủ tiền đề cần thiết,mặt khác chậm đổi mới cơ chế quản lý lỗi thời” Chúng ta thiên về xây dựng công nghiệpnặng, không tập trung sức phát triển nông nghiệp, công nghiệp nhẹ, không coi trọng đúngmức việc khôi phục và tổ chức lại sản xuất công nghiệp, chủ quan nóng vội trong cải tạo

10

Trang 11

xã hội chủ nghĩa và bảo thủ, trì trệ trong quản lý kinh tế, lực lượng sản xuất bị kìm hãm;quan hệ sản xuất trở thành lực cản phát triển do chậm đổi mới3

1.2 Đại hội lần thứ VI của Đảng thực sự là đại hội của những quyết sách lớn nhằm xoay chuyển tình hình và tạo ra một bước ngoặt cho sự phát triển của đất nước

Về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, Đại hội VI đã chỉ rõ: Đó là thời kỳlâu dài, khó khăn, gồm nhiều chặng đường; một thời kỳ cải biến cách mạng sâu sắc, toàndiện và triệt để Nước ta phải xây dựng từ đầu một chế độ xã hội mới cả về lực lượng sảnxuất, quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng

Đại hội VI cũng đã khẳng định phải từ bỏ quan niệm giản đơn, tư tưởng nóng vộichủ quan, duy ý chí, muốn đốt cháy giai đoạn

Đại hội VI của Đảng đã giữ lại luận điểm về chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá

độ mà Đại hội V nêu ra và quyết định phải đi tiếp chặng đường đầu tiên, đồng thời xácđịnh nhiệm vụ bao trùm và mục tiêu tổng quát của những năm còn lại của chặng đườngđầu tiên là “ổn định mọi mặt tình hình kinh tế - xã hội, tiếp tục xây dựng những tiền đềcần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trong chặng đường tiếptheo”4

Từ nhiệm vụ bao trùm và mục tiêu tổng quát nêu trên, Đại hội VI đã xác định 5 mụctiêu cụ thể về kinh tế - xã hội

1/ Sản xuất đủ tiêu dùng và có tích lũy

2/ Bước đầu tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý nhằm phát triển sản xuất

3/ Xây dựng và hoàn thiện một bước quan hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ pháttriển của lực lượng sản xuất

4/ Tạo ra chuyển biến tốt về mặt xã hội

5/ Bảo đảm nhu cầu củng cố quốc phòng và an ninh5

Và rút kinh nghiệm của Đại hội lần thứ V, Đại hội VI đã không đề ra một thời hạnnhất định khi nào kết thúc chặng đường đầu tiên, mà “cái mốc đánh dấu chặng đường đầutiên kết thúc là đạt được năm mục tiêu nói trên Độ dài của chặng đường đầu tiên tùythuộc một phần quan trọng vào việc vận dụng những bài học đã rút ra từ thực tiễn mườinăm qua, để đẩy nhanh nhịp độ phát triển kinh tế - xã hội trong thời gian tới”6

Báo cáo chính trị tại Đại hội VI cũng chỉ rõ: để thực hiện được những nhiệm vụ,mục tiêu của những năm còn lại của chặng đường đầu tiên thì điều quan trọng hàng đầu làphải đổi mới chính sách kinh tế, đồng thời với việc đổi mới chính sách xã hội, đặt hai loạichính sách này trong mối tương quan mật thiết cùng tác động và thúc đẩy lẫn nhau Vàmuốn đổi mới chính sách kinh tế và chính sách xã hội, nhất thiết phải đổi mới nhận thức

Trang 12

- Trên cơ sở nhận thức đúng đắn hơn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủnghĩa xã hội ở Việt Nam, Đại hội VI Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra đường lối đổi mớitoàn diện đất nước nhằm thực hiện có hiệu quả hơn công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.Đại hội đưa ra những quan niệm mới: phát triển nền kinh tế nhiều thành phần với nhữnghình thức kinh doanh phù hợp, coi trọng việc kết hợp lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội;chăm lo toàn diện và phát huy nhân tố con người, có nhận thức mới về chính sách xã hội Hội nghị Trung ương 6 khóa VI (3/1989) phát triển thêm một bước đã đưa ra quanđiểm phát triển nền kinh tế hàng hóa có kế hoạch gồm nhiều thành phần đi lên chủ nghĩa

xã hội, coi “chính sách kinh tế nhiều thành phần có ý nghĩa chiến lược lâu dài, có tính quyluật từ sản xuất nhỏ đi lên chủ nghĩa xã hội” và thực hiện tinh thần dân chủ về kinh tế,đảm bảo cho mọi người được tự do làm ăn theo pháp luật

- Phát triển nền kinh tế hàng hóa có kế hoạch gồm nhiều thành phần, với nhiệm vụbao trùm và mục tiêu tổng quá của những năm còn lại của chặng đường đầu tiên là ổnđịnh mọi mặt tình hình kinh tế - xã hội, tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho việcđẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa ở giai đoạn tiếp sau Trong lúc tình hình kinh

tế - xã hội đang mất ổn định, Đại hội VI xác định nhiệm vụ ổn định là hoàn toàn đúng, có

ổn định mới phát triển được, có phát triển mới tạo ra sự ổn định cao hơn, ổn định gắn liềnvới phát triển trong quá trình đổi mới, tiến lên phía trước của nước ta

- Trên cơ sở nhiệm vụ bao trùm và mục tiêu tổng quát mà tiến hành cơ cấu lại nềnkinh tế, điều chỉnh lớn cơ cấu đầu tư Đại hội VI chỉ rõ “nền kinh tế quốc dân có một cơcấu hợp lý là nền kinh tế mà trong đó các ngành, các vùng, các thành phàn, các loại hìnhsản xuất có quy mô và trình độ kỹ thuật khác nhau phải được bố trí cân đối, liên kết vớinhau, phù hợp với điều kiện kinh tế, bảo đảm cho nền kinh tế phát triển ổn định” và “phảixây dựng được một cơ cấu kinh tế hợp lý, trước hết là cơ cấu các ngành kinh tế” Do đó,

“trong toàn bộ quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, kể cả chặng đường hiện nay, khôngđược tách rời nông nghiệp với công nghiệp, không thể coi trọng nông nghiệp hay côngnghiệp” Trong chặng đường hiện nay phải “tập trung sức phát triển nông nghiệp, coinông nghiệp là mặt trận hàng đầu, gắn công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp với sảnxuất nông nghiệp, gắn nông nghiệp với chế biến nông, lâm, thủy, hải sản Ngành dịch vụcũng được đặt ra để chú ý phát triển

- Đại hội VI xây dựng và tập trung nguồn lực cho thực hiện ba chương trình mụctiêu: lương thực – thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu Ba chương trình mụctiêu này cụ thể hóa nội dung chính của công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa Bước đầu sảnxuất có tính yếu tố đầu vào, đầu ra, thị trường và nhu cầu tiêu dùng, cũng như là tiềmnăng, thế mạnh của các ngành, vùng, tổ chức kinh tế

Như vậy, Đại hội VI của Đảng đặt ra vấn đề phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thànhphần định hướng xã hội chủ nghĩa, đồng thời hướng tới phát triển một cơ cấu kinh tế đa

sở hữu với vai trò chủ đạo của kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể, thực hiện hoạch toánkinh doanh xã hội chủ nghĩa Các khái niệm của kinh tế thị trường như: cung – cầu, lỗ,lãi, giá cả thị trường… bắt đầu được làm quen và bắt đầu được sử dụng Sự tồn tại củakinh tế tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được Nhà nước thừa nhận và có chínhsách khuyến khích phát triển Cơ chế kế hoạch hóa tập trung dần dần được thay thế bằng

cơ chế quản lý hoạch toán kinh doanh Các chỉ tiêu pháp lệnh và chế độ phân phối quatem phiếu dần dần được loại bỏ

12

Trang 13

Những thay đổi về tư duy kinh tế và những đổi mới về cơ chế kinh tế, điều hành vĩ

mô đã được nền kinh tế từng bước thoát ra khỏi khủng hoảng và giải phóng một bước lựclượng sản xuất Song trong giai đoạn này vẫn còn hạn chế cả về tư duy kinh tế và thựctiễn vận hành nền kinh tế theo cơ chế mới Đó là:

+ Nhận thức về kinh tế hàng hóa và kinh tế thị trường chưa đầy đủ, dẫn đến cácbước tiến hành cải cách trong thực tiễn chậm chạp và ngập ngừng

+ Các thị trường chưa hình thành, hoặc sơ khai, tự phát Hệ thống pháp luật cho sựphát triển một nền kinh tế hàng hóa và sự vận hành của thị trường chưa được ban hànhđầy đủ

+ Còn có sự phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế qua cơ chế, chính sách giá

cả, thuế, lãi suất… công bằng xã hội chưa được quan tâm và xử lý có hiệu quả

+ Nhà nước kiểm soát trực tiếp trên phạm vi lớn các yếu tố thị trường (giá cả, lãisuất, tỷ giá…) Mức độ cạnh tranh thấp… Nhà nước có ảnh hưởng to lớn đến thị trườngnhưng trên thực tế không có khả năng điều tiết các hoạt động kinh tế qua thị trường bằngcông cụ kinh tế do thiếu nguồn lực và thiếu năng lực quản lý kinh tế…

1.3 Những năm 1990: Dứt khoát chuyển sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

- Đại hội lần thứ VII của Đảng Cộng sản Việt Nam với sự kiên định chủ trương:

“phát triển kinh tế - xã hội theo con đường củng cố độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta là quá trình thực hiện dân giàu nước mạnh, tiến lên hiện đại trong một xã hội nhân dân làm chủ, nhân ái, có kỷ cương, có văn hóa, xóa bỏ áp bức, bất công, tạo điều kiện cho mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc”, có điều kiện phát

triển7 đã xác định mô hình kinh tế nước ta là “nền kinh tế có nhiều thành phần với nhiều dạng sở hữu và hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất, thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển có hiệu quả nền sản xuất xã hội” 8 và “nền kinh

tế vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách và các công cụ khác”, với các tiêu chí: “Mọi đơn vị kinh tế không phân biệt

quan hệ sở hữu đều hoạt động theo cơ chế tự chủ kinh doanh, hợp tác và cạnh tranh vớinhau bình đẳng trước pháp luật”

+ “Khuyến khích tính năng động sáng tạo đi đôi với thiết lập trật tự, kỷ cương tronghoạt động kinh tế”

+ “Hiệu quả kinh tế - xã hội là tiêu chuẩn quan trọng nhất của sự phát triển”

+ “Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ, công bằng xã hội, phát triển vănhóa, bảo vệ môi trường”9

Từ đó đã chỉ rõ: “Đổi mới kinh tế là chuyển nền kinh tế mang nặng tính tự cấp, tựtúc sang kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý

7 Đảng Cộng sản Việt Nam: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb.Sự thật, H.1991, tr.8

8 Đảng Cộng sản Việt Nam: Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000,

Nxb.Sự thật, H.1991, tr.8

9Đảng Cộng sản Việt Nam: Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000,

Nxb.Sự thật, H.1991, tr.8,9

13

Trang 14

của nhà nước” nhằm “vừa giải phóng và phát huy được tiềm năng sản xuất trong xã hội”,vừa khắc phục những hạn chế và tiêu cực của kinh tế thị trường10

- Đại hội lần thứ VIII của Đảng (6/1996) đã xác định rõ hơn mô hình kinh tế tổng

quát của nước ta Đó là “Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa” 11

Và đề ra mục tiêu đến năm 2020, đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theohướng hiện đại Về quan hệ sản xuất, chế độ sở hữu, cơ chế quản lý và chế độ phân phốigắn kết với nhau Về đời sống vật chất và văn hóa, nhân dân có cuộc sống no đủ, có nhà ởtương đối tốt, có điều kiện thuận lợi về học hành, đi lại, chữa bệnh, có mức hưởng thụ vănhóa khá

Đại hội VIII xác định rõ hơn mô hình kinh tế tổng quát ở nước ta là ở chỗ: Đại hộiVIII làm rõ hơn định hướng xã hội chủ nghĩa trong việc xây dựng nền kinh tế hàng hóanhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước Chúng tađều biết, vấn đề định hướng xã hội chủ nghĩa đã được nêu từ Đại hội VII của Đảng Đểlàm rõ thế nào là định hướng xã hội chủ nghĩa trong xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiềuthành phần trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đại hội VIII đã nêu ra 6điểm:

+ “Thực hiện nhất quán lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiềuthành phần Lấy việc giải phóng sức sản xuất, động viên tối đa mọi nguồn lực bên trong

và bên ngoài để công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng cao hiệu quả kinh tế và xã hội, cảithiện đời sống nhân dân, làm mục tiêu hàng đầu trong việc khuyến khích phát triển cácthành phần kinh tế và hình thức tổ chức kinh doanh

+ Chủ động đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế nhà nước, kinh tế hợptác xã, kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo cùng với kinh tế hợp tác xã dần dần trởthành nền tảng Tạo điều kiện kinh tế và pháp lý thuận lợi để các nhà kinh doanh tư nhânyên tâm đầu tư làm ăn lâu dài Mở rộng các hình thức liên doanh, liên kết giữa kinh tế nhànước với các thành phần kinh tế khác cả trong và ngoài nước Áp dụng phổ biến các hìnhthức kinh tế tư bản nhà nước

+ Xác lập, củng cố và nâng cao địa vị làm chủ của người lao động trong nền sảnxuất xã hội, thực hiện công bằng xã hội ngày càng tốt hơn

+ Thực hiện nhiều hình thức phân phối, lấy phân phối theo kết quả lao động và hiệuquả kinh tế là chủ yếu, đồng thời phân phối dựa trên mức đóng góp các nguồn lực khácvới kết quả sản xuất kinh doanh và phân phối thông qua phúc lợi xã hội Thừa nhận sự tồntại lâu dài của các hình thức thuê mướn lao động nhưng không để biến thành quan hệthống trị dẫn tới sự phân hóa xã hội hình thành hai cực đối lập Phân phối và phân phối lạihợp lý các thu nhập; khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xóa đói giảm nghèo,không để diễn ra chênh lệch quá đáng về mức sống và trình độ phát triển giữa các vùng,các tầng lớp dân cư

+Tăng cường lực lượng quản lý vĩ mô của Nhà nước, khai thác triệt để vai trò tíchcực đi đôi với khắc phục và ngăn ngừa, hạn chế những tác động tiêu cực của cơ chế thị

10 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb.Sự thật,

H.1991, tr.23-26

11 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb.Chính trị

quốc gia, H.1996, tr.82

14

Trang 15

trường Bảo đảm sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trước pháp luật của mọi doanhnghiệp và cá nhân không phân biệt thành phần kinh tế

+ Giữ vững độc lập, chủ quyền và bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc trong quan hệkinh tế với bên ngoài”12

Nắm vững sáu nội dung trên thì nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần mà chúng taxây dựng và phát triển sẽ không chệch sang quỹ đạo tư bản chủ nghĩa Dĩ nhiên, thực hiệnđược những nội dung trên hoàn toàn không đơn giản và qua thực tiễn kiểm nghiệm,những nội dung trên cần phải được cụ thể hóa, phải được điều chỉnh, bổ sung để việc địnhhướng cho nền kinh tế nước ta phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa ngày càngvững chắc

1.4 Đại hội lần thứ IX của Đảng là Đại hội khẳng định mô hình kinh tế nước ta

là mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Đại hội lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam (4/2001) đã chỉ rõ: “Thực hiện nhấtquán lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo

cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa; đó

chính là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” Với sự xác định như vậy,

Đại hội IX của Đảng đã tiến một bước dài trong việc định hình và cụ thể hóa mô hình

kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam Đại hội xác định “mục đích của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là phát triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống nhân dân”, “phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, hiệu quả, bền vững; tăng trưởng kinh tế gắn liền với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo

vệ môi trường thiên nhiên; kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng,

an ninh”; và chủ trương “sử dụng cơ chế thị trường, áp dụng các hình thức kinh tế và phương pháp quản lý của kinh tế thị trường để kích thích sản xuất, giải phóng sức sản xuất, phát huy mặt tích cực, hạn chế và khắc phục mặt tiêu cực của cơ chế thị trường” 13

Đại hội X của Đảng (2006) nêu rõ phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã

hội chủ nghĩa là để “thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” Đại hội khẳng định “Quyền sở hữu tài sản và quyền tự do kinh doanh được pháp luật bảo hộ”, mọi công dân có quyền bình đẳng trong đầu tư kinh doanh, tiếp cận

cơ hội, nguồn lực kinh doanh” và lần đầu tiên xác định “kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế Doanh nghiệp cổ phần ngày càng phát triển, trở thành hình thức tổ chức kinh tế phổ biến, thúc đẩy xã hội hóa sản xuất kinh doanh và sở hữu” Để nâng cao hiệu lực quản lý của nhà nước, Đại hôi yêu cầu “Tách chức năng quản lý hành chính nhà nước khỏi chức năng quản lý kinh doanh của doanh nghiệp, xóa bỏ “chế độ chủ quản”; tách hệ thống cơ quan hành chính công khỏi hệ thống

cơ quan sự nghiệp” 14

12 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb.Chính trị quốc gia, H.1996, tr.91-92

13 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb.Chính trị quốc

gia, H.2005, tr.635-637

15

Trang 16

Đại hội XI của Đảng (2011) xác định hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa là một trong ba đột phá chiến lược để phát triển đất nước Đại hội

chỉ rõ nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa “là một hình thức kinh tế thị trường vừa tuân theo những quy luật của kinh tế thị trường, vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội” và yêu cầu “hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường đồng bộ và hiện đại” Đối với kinh tế tư nhân, Đại hội chủ trương “Tạo điều kiện hình thành một số tập đoàn kinh tế tư nhân và tư nhân góp vốn vào các tập đoàn kinh tế nhà nước” Về hội nhập kinh tế quốc tế, Đại hội chủ trương “Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, đồng thời giữ vững, tăng cường tính độc lập, tự chủ của nền kinh tế” Tiếp tục đổi mới quản lý nhà nước về kinh tế, Đại hội yêu cầu “Phân định

rõ hơn chức năng quản lý kinh tế của nhà nước và chức năng của tổ chức kinh doanh vốn

và tài sản của nhà nước”, “nghiên cứu hình thành các tổ chức quản lý đầu tư, kinh doanh có hiệu quả các nguồn vốn, tài sản của nhà nước, khắc phục tình trạng bộ máy quản lý hành chính tham gia trực tiếp vào các hoạt động kinh doanh thông qua các mệnh lệnh hành chính” Đại hội đã đưa vào Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) quan điểm “phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” và xác định đây là một trong tám phương hướng cơ

bản của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam15

Tổng kết 30 năm đổi mới đất nước, Đại hội XII của Đảng thể hiện những nhận thứcmới nhất, đầy đủ nhất (cho đến hiện nay) về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ

nghĩa Đại hội xác định nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam “là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước, là nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền

xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”; “trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế Thị trường đóng vai trò chủ yếu trong huy động và phân bổ có hiệu quả các nguồn lực phát triển, là động lực chủ yếu

để giải phóng sức sản xuất; các nguồn lực nhà nước được phân bổ theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phù hợp với cơ chế thị trường” Đại hội yêu cầu “Hoàn thiện thể chế bảo vệ nhà đầu tư, quyền sở hữu, quyền tài sản; hoàn thiện pháp luật phá sản doanh nghiệp theo cơ chế thị trường”; đổi mới tổ chức, quản lý doanh nghiệp nhà nước phù hợp

với chuẩn mực quốc tế; chủ động lựa chọn dự án đầu tư nước ngoài có công nghệ hiệnđại, liên kết với doanh nghiệp trong nước, có vị trí trong chuỗi giá trị toàn cầu; phát triển

đồng bộ các yếu tố thị trường và các loại thị trường, “thực hiện nhất quán cơ chế giá thị trường”, “không lồng ghép các chính sách xã hội trong giá”, thực hiện cơ chế đấu thầu, đấu giá, thẩm định giá; “tách chức năng chủ sở hữu tài sản, vốn của nhà nước và chức năng quản lý nhà nước Xóa bỏ chức năng đại diện chủ sở hữu nhà nước của các bộ, ủy

14 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Hà Nội, Nxb CTQG,

2006, tr.77, 86, 83, 79

15 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Hà Nội, Nxb

CTQG, 2011, tr.107, 209, 205, 207,215

16

Trang 17

ban nhân dân đối với vốn, tài sản nhà nước tại doanh nghiệp Thành lập một cơ quan chuyên trách làm đại diện chủ sở hữu đối với doanh nghiệp nhà nước” 16

2 Đánh giá khái quát

Trong hơn 30 năm đổi mới, nhận thức, quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước

ta về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã từng bước hìnhthành, được bổ sung, phát triển ngày càng hoàn thiện, phù hợp với quy luật khách quan,thực tiễn của đất nước và xu hướng chung của thế giới, của thời đại Cụ thể là:

2.1 Nhận thức chung về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Từ nhận thức, quan điểm phủ nhận kinh tế thị trường, xem kinh tế thị trường là đặctrưng riêng có của chủ nghĩa tư sản, đối lập kinh tế thị trường với chủ nghĩa xã hội, Đảng

đã từng bước thừa nhận sự tồn tại khách quan, tất yếu, cần thiết của kinh tế thị trườngtrong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta Quá trình này kéo dài 15 năm, từ Đạihội VI đến Đại hội IX của Đảng, đi từ thừa nhận, cho phép tồn tại, phát triển nhiều hìnhthức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế đến thừa nhận phát triển nền kinh tế hàng hóa; từxác định đó là nền kinh tế hàng hóa có kế hoạch, kế hoạch là “tính thứ nhất”, hàng hóa là

“tính thứ hai” của nền kinh tế, tới xác định đó là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phầnvận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủnghĩa, thừa nhận cơ chế thị trường, nhưng chưa thừa nhận kinh tế thị trường Chỉ đến Đạihội IX của Đảng (năm 2001), 15 năm sau khi bắt đầu sự nghiệp đổi mới, Đảng mới xácđịnh nền kinh tế nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là nền kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa, cho rằng kinh tế thị trường là sản phẩm chung củavăn minh nhân loại; trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở một nước nghèo, kinh tếkém phát trển, chưa qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa như nước ta, nhất định phảiphát triển nền kinh tế thị trường, sử dụng kinh tế thị trường để xây dựng cơ sở vật chất kỹthuật của chủ nghĩa xã hội Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đượcĐảng xác định là mô hình kinh tế tổng quát ở nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa

xã hội

Những đặc trưng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cũng đượcnhận thức ngày càng rõ, được bổ sung, phát triển ngày càng hoàn thiện qua các nhiệm kỳĐại hội Đảng Đại hội XII của Đảng thể hiện rõ, đầy đủ nhất (đến thời điểm hiện nay)quan điểm của Đảng ta về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Đó là nềnkinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luậtcủa kinh tế thị trường; đồng thời, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa do Đảng Cộng sản lãnh đạo, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp vớitừng giai đoạn phát triển của đất nước, nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ,công bằng, văn minh”

2.2 Nhận thức về vai trò và chủ trương phát triển đa dạng các hình thức sở hữu, các thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Từ chỗ thừa nhận, cho phép tồn tại, phát triển hai hình thức sở hữu toàn dân (nhànước) và tập thể về tư liệu sản xuất, hai thành phần kinh tế là kinh tế nhà nước và kinh tế

16 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Hà Nội, VPTW,

2016, tr.102, 103, 105, 106, 109

17

Trang 18

tập thể, Đảng đã thừa nhận sự tồn tại, khuyến khích phát triển nhiều hình thức sở hữu,nhiều thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Quyền

sở hữu, quyền tài sản, quyền tự do kinh doanh được bảo vệ Các hình thức sở hữu, cácthành phần kinh tế được khẳng định tồn tại lâu dài, là yêu cầu khách quan, tất yếu, là đặctrưng của nền kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Doanhnghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đều tự chủ, hợp tác, cạnh tranh bình đẳng theo phápluật

Đối với kinh tế tư nhân, từ chủ trương phát triển kinh tế hộ gia đình trong nôngnghiệp, Đảng ta thừa nhận sự tồn tại lâu dài, khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân trong

các lĩnh vực, các ngành kinh tế, rồi đi tới xác định kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng, là

một động lực của nền kinh tế Hiện nay, kinh tế tư nhân được xác định là một động lựcquan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Doanh nghiệp tư nhânđược kinh doanh ở mọi ngành, lĩnh vực mà pháp luật không cấm Nhà nước tạo điều kiện,khuyến khích hình thành, phát triển các tập đoàn kinh tế tư nhân và tư nhân góp vốn, mua

cổ phần của các tập đoàn kinh tế nhà nước Cùng với phát triển kinh tế tư nhân trong

nước, Đảng chủ trương thu hút mạnh đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), thu hút vốn, công

nghệ, phương pháp quản lý hiện đại, mở rộng thị trường xuất, nhập khẩu để phát triểnkinh tế Trong những năm gần đây, việc thu hút đầu tư nước ngoài yêu cầu phải đượcchọn lọc, ưu tiên thu hút những dự án đầu tư có trình độ công nghệ cao, thân thiện vớimôi trường, có liên kết, chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp trong nước, tạo cơ hộicho doanh nghiệp trong nước tham gia vào các chuỗi giá trị toàn cầu

Kinh tế nhà nước được xác định có vai trò chủ đạo, cùng với kinh tế tập thể từng

bước trở thành nền tảng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đồngthời, Đảng yêu cầu phải tăng cường quản lý tài sản công, các nguồn lực nhà nước (đất đai,tài nguyên, vốn nhà nước); cơ cấu lại, nâng cao hiệu quả đầu tư công và đẩy mạnh sắpxếp lại, đổi mới, nâng cao hiệu quả các doanh nghiệp nhà nước Doanh nghiệp nhà nướcđược yêu cầu sắp xếp lại, đổi mới bằng việc cho giải thể, phá sản, bán lại tài sản đối vớicác doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, ở những lĩnh vực không cần thiết phải có doanh nghiệpnhà nước; thoái vốn khỏi những ngành, lĩnh vực có hiệu quả thấp, không phải là lĩnh vựckinh doanh chính của doanh nghiệp; chuyển doanh nghiệp nhà nước thành các công tytrách nhiệm hữu hạn và nhất là đẩy mạnh cổ phần hóa để trở thành các công ty cổ phần cóvốn nhà nước Doanh nghiệp nhà nước, nhất là các tập đoàn, tổng công ty nhà nước, trongnhững năm gần đây, được cơ cấu lại, định hướng tập trung vào các ngành, lĩnh vực thenchốt, thiết yếu, những địa bàn quan trọng và quốc phòng, an ninh Tổ chức bộ máy vàphương thức quản lý, quản trị doanh nghiệp được đổi mới phù hợp với cơ chế thị trường,các thông lệ, chuẩn mực quốc tế Tách bạch nhiệm vụ sản xuất kinh doanh và nhiệm vụchính trị công ích

Đối với các tổ chức kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác, Đảng chủ trương đổi mới cả về

tổ chức và phương thức hoạt động phù hợp với cơ chế thị trường Các hợp tác xã phảihình thành trên cơ sở liên kết tự nguyện của các thành viên, làm chức năng cung cấp dịch

vụ cho các thành viên, hỗ trợ cho các thành viên trong vay vốn, ứng dụng tiến bộ khoahọc-công nghệ, tiêu thụ sản phẩm… để giảm chi phí, nâng cao năng suất, chất lượng vàhiệu quả sản xuất kinh doanh Đối với các đơn vị sự nghiệp công, Đảng chủ trương đổimới tổ chức và cơ chế hoạt động, chuyển sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tổ

18

Trang 19

chức bộ máy, biên chế, về tài chính và thực hiện xã hội hóa lĩnh vực dịch vụ công, thu hútcác thành phần kinh tế tham gia vào lĩnh vực này.

2.3 Nhận thức về phát triển đồng bộ các yếu tố thị trường và các loại thị trường

Từ chỗ tất cả giá cả sản phẩm hàng hóa mua bán, lưu thông đều do Nhà nước quyếtđịnh, khi chuyển sang phát triển kinh tế hàng hóa, ban đầu, Đảng chủ trương thực hiện cơchế hai giá, một giá vẫn do Nhà nước quyết định (đối với một số hàng hóa có ảnh hưởng,tác động lớn đến sản xuất và đời sống nhân dân) và một giá do người sản xuất, kinh doanhquyết định (đối với các hàng hóa do họ sản xuất kinh doanh) Sau đó, cùng với phát triểnkinh tế thị trường, giá cả cũng được chuyển sang thực hiện theo cơ chế thị trường đối vớihầu hết các hàng hóa, chỉ trừ một số hàng hóa, dịch vụ thuộc lĩnh vực độc quyền nhà nước(điện, xăng dầu,…) và dịch vụ xã hội cơ bản như y tế, giáo dục Các quyền tự do kinhdoanh, tự do lưu thông hàng hóa, cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc mọithành phần kinh tế được thực hiện Cơ chế đấu thầu, đấu giá, thẩm định giá được mởrộng Phạm vi giá cả hàng hóa do nhà nước quy định ngày càng thu hẹp Các tổ chức sựnghiệp công lập được chuyển sang cơ chế tự chủ và việc cung cấp các dịch vụ công được

xã hội hóa; giá các dịch vụ xã hội cơ bản, như y tế, giáo dục cũng từng bước chuyển sang

cơ chế thị trường, không lồng ghép các chính sách xã hội trong giá; chuyển từ cơ chế cấpphát sang cơ chế đặt hàng, từ hỗ trợ cho đơn vị cung cấp dịch vụ sang hỗ trợ trực tiếp chođối tượng hưởng thụ

Đảng chủ trương phát triển đồng bộ, theo hướng hiện đại, vận hành thông suốt cácloại thị trường Phát triển thị trường hàng hóa, dịch vụ đa dạng, theo các phương thựcgiao dịch, mua bán ngày càng hiện đại (sàn giao dịch, siêu thị, thương mại điện tử,…),bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng, nhất là về giá cả, chất lượng hàng hóa, vệ sinh an toànthực phẩm, các dịch vụ bảo hành, bảo dưỡng sau bán hàng; bảo vệ thị trường trong nước,không để nước ngoài thâu tóm Phát triển thị trường tài chính đồng bộ, có cơ cấu hoànchỉnh, cả thị trường tài chính, thị trường tiền tệ, thị trường chứng khoán, thị trường cổphiếu, trái phiếu, các công cụ tài chính phái sinh, thị trường cho thuê tài sản, mua bán nợ,thị trường các dịch vụ kế toán, kiểm toán, thẩm định giá, tư vấn thuế… Cơ cấu lại thịtrường tài chính, bảo đảm lành mạnh hóa hệ thống tài chính, tiền tệ, ổn định kinh tế vĩ

mô, đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế Phát triển thị trường bất động sản, bao gồmquyền sử dụng đất và bất động sản gắn liền với đất, làm cho đất đai trở thành nguồn vốnquan trọng cho phát triển; yêu cầu việc phân bổ và sử dụng đất đai phải theo quy hoạch,

kế hoạch, thông qua đấu thầu, đấu giá cạnh tranh để sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả Pháttriển thị trường sức lao động; thực hiện rộng rãi chế độ hợp đồng lao động; đa dạng hóacác hình thức giao dịch việc làm, phát triển hệ thống thông tin về thị trường lao động, bảođảm quyền lợi của cả người lao động và sử dụng lao động; hoàn thiện chính sách tiềncông, tiền lương, bảo hiểm, các thiết chế hòa giải, giải quyết tranh chấp lao động Pháttriển mạnh mẽ và đồng bộ thị trường khoa học - công nghệ Chuyển các tổ chức nghiêncứu và phát triển công nghệ sang cơ chế tự chủ; có chính sách hỗ trợ để khuyến khích các

tổ chức, cá nhân, nhất là doanh nghiệp, đầu tư nghiên cứu, phát triển, chuyển giao côngnghệ, ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ vào sản xuất kinh doanh Xây dựng cơ sở

dữ liệu quốc gia về công nghệ Tăng cường thông tin về các sản phẩm khoa học công

19

Trang 20

nghệ; thành lập các tổ chức tư vấn, thẩm định, xác định giá trị để các sản phẩm khoa họccông nghệ được mua bán thuận lợi trên thị trường, gắn với bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.

2.4 Nhận thức về mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Từ chỗ không được thừa nhận, rồi được xem chỉ là yếu tố hỗ trợ cho kế hoạch, vaitrò, chức năng của thị trường được nhận thức ngày càng đầy đủ; thị trường được xác địnhđóng vai trò chủ yếu trong huy động và phân bổ các nguồn lực, xác định giá cả, điều tiếthoạt động của doanh nghiệp, lưu thông của hàng hóa, là động lực chủ yếu để giải phóngsức sản xuất; các nguồn lực của Nhà nước được phân bổ theo chiến lược, quy hoạch, kếhoạch, đồng thời phải phù hợp với cơ chế thị trường Từ chỗ Nhà nước làm tất cả, vừaquản lý kinh tế nhà nước, vừa trực tiếp quản lý sản xuất kinh doanh, nhận thức về vai trò,chức năng của Nhà nước từng bước được đổi mới, yêu cầu phát triển nền kinh tế thịtrường là xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế, tạo môi trường thuận lợi, công khai,minh bạch, thông thoáng, cạnh tranh bình đẳng, cho doanh nghiệp thuộc mọi thành phầnkinh tế đầu tư, phát triển; sử dụng các công cụ luật pháp, chính sách, chiến lược, quyhoạch, kế hoạch và các nguồn lực của nhà nước để ổn định kinh tế vĩ mô, định hướng vàđiều tiết kinh tế, thúc đẩy sản xuất kinh doanh và bảo vệ tài nguyên môi trường; phát triểncác lĩnh vực văn hóa, xã hội; củng cố quốc phòng, an ninh, mở rộng đối ngoại Quản lýkinh tế của Nhà nước tách khỏi quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Quản lýkinh tế của Nhà nước tôn trọng, tạo điều kiện cho cơ chế thị trường hoạt động, đồng thờihạn chế những tiêu cực của nó Cùng với nhận thức và giải quyết mối quan hệ Nhà nước

và thị trường, vai trò của chủ thể xã hội được coi trọng Quyền làm chủ của nhân dân, vaitrò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội đốivới lĩnh vực kinh tế được luật pháp quy định; mở rộng thu thập ý kiến đánh giá của nhândân, các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp đối với việc thực hiện đường lối,chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước Mối quan hệ giữa Nhà nước,thị trường và xã hội được nhận thức, xử lý ngày càng phù hợp hơn với yêu cầu của cácnền kinh tế thị trường hiện đại trên thế giới

2.5 Nhận thức về hội nhập kinh tế quốc tế

Nhận thức của Đảng đã phát triển từ mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế tới chủ động,

tích cực hội nhập kinh tế quốc tế; từ đẩy mạnh các hoạt động xuất nhập khẩu, thu hút đầu

tư nước ngoài tới ký kết các hiệp định thương mại, đầu tư song phương, đa phương, thamgia vào các tổ chức kinh tế quốc tế; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ kinh tế quốc tế,tránh lệ thuộc vào một thị trường, một đối tác cụ thể; kết hợp hiệu quả ngoại lực và nộilực; nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, tiềm lực của các doanh nghiệp trong nước;gắn hội nhập quốc tế với xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ Hệ thống luật pháp, chínhsách được sửa đổi, bổ sung để phù hợp với đòi hỏi và thực thi có hiệu quả các cam kếtquốc tế, tận dụng các cơ hội, phòng ngừa, giảm thiểu các tác động tiêu cực từ bên ngoài,

xử lý các tranh chấp quốc tế về thương mại, đầu tư; đồng thời tích cực tham gia vào xâydựng các quy tắc thương mại, đầu tư quốc tế

2.6 Nhận thức về định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường

20

Trang 21

Định hướng xã hội chủ nghĩa là yêu cầu được Đảng đặt ra ngay từ khi xác định nềnkinh tế nước ta là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần (Đại hội VII) và nền kinh tế thịtrường (Đại hội IX) Tuy nhiên, nhận thức về những yếu tố bảo đảm định hướng xã hộichủ nghĩa cũng chỉ được hoàn thiện từng bước Đến hiện nay (Đại hội XII), những yếu tốbảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường là: có sự quản lý của Nhànước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu

“dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”; kinh tế nhà nước giữ vai trò chủđạo, doanh nghiệp nhà nước giữ vị trí then chốt, là một lực lượng vật chất quan trọng củakinh tế nhà nước; kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảngcủa nền kinh tế; Thực hiện phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế,đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và phân phối thông qua hệthống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội Gắn kết chặt chẽ phát triển kinh tế với phát triển vănhóa, xã hội, bảo vệ môi trường, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; khuyến khích làmgiàu hợp pháp đi đôi với xóa đói, giảm nghèo; phát huy vai trò làm chủ của nhân dântrong phát triển kinh tế - xã hội

2.7 Nhận thức về yêu cầu nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Đảng cần phải nâng cao năng lực hoạch định đường lối, chủ trương phát triển kinh

tế - xã hội; đẩy mạnh, nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền, vận động, tạo sự đồngthuận trong Đảng và trong xã hội để thực hiện thắng lợi chủ trương, đường lối của Đảng;tăng cường lãnh đạo việc thể chế hóa, tổ chức thực hiện và kiểm tra, giám sát việc thựchiện; đào tạo, bồi dưỡng, bố trí đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý trong lĩnh vực kinh tế;kiên quyết đấu tranh đẩy lùi tham nhũng, suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sốngtrong đội ngũ cán bộ, công chức Nhà nước cần phải thể chế hóa và thực hiện có hiệu quảchủ trương, đường lối phát triển kinh tế của Đảng Nâng cao chất lượng ban hành các vănbản quy phạm pháp luật, xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xãhội chủ nghĩa, các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế; giữ vững ổn địnhkinh tế vĩ mô, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực kinh tế của Nhà nước Đổimới phương thức quản lý của Nhà nước phù hợp với nền kinh tế thị trường Đổi mới, cơcấu lại tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước theo hướng tinh gọn, hiệulực, hiệu quả; xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, trách nhiệm; đẩy mạnh cảicách hành chính, phát huy dân chủ đi đôi với tăng cường kỷ luật, kỷ cương Đẩy mạnh cảicách tư pháp Nâng cao năng lực, hiệu quả giải quyết tranh chấp dân sự, kinh doanh, đầu

tư, thương mại Xử lý nghiêm các vi phạm pháp luật về kinh tế Bảo đảm an ninh, trật tự,

an toàn xã hội, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế

III THÀNH TỰU, HẠN CHẾ TRONG THỰC TIỄN XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

1 Những thành tựu

1.1 Thành tựu lý luận về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Có thể nói, đây là thành quả to lớn và quan trọng trong nghiên cứu lý luận của ĐảngCộng sản Việt Nam

Tư duy lý luận và quan niệm về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa làmột quá trình lâu dài, thường xuyên và qua nhiều bước với mục tiêu không thay đổi là

21

Ngày đăng: 30/06/2020, 16:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] TS. Đinh Văn Ân, Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Nxb. Thống kê, Hà Nội, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩaở Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Thống kê
[2] PGS, TS. Vũ Văn Hà, Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa - sự sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Tạp chí Cộng sản, 14/2/2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa - sự sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam
[3] GS.TS. Lê Hữu Nghĩa, GS.TS. Chu Văn Cấp, PGS.TS. Hoàng Chí Bảo, PGS.TS.Lưu Đạt Thuyết, Những vấn đề lý luận và thực tiễn phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và Lào, Nxb.Chính trị - Hành chính, Hà Nội, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lý luận và thực tiễn phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và Lào
Nhà XB: Nxb.Chính trị - Hành chính
[4] PGS.TS Nguyễn Văn Thạo, Nhận thức về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa qua những năm đổi mới, Hội đồng lý luận Trung ương, 22/03/2019 Khác
[5] PGS.TS. Nguyễn Viết Thông, TS. Đinh Quang Ty, TS. Lê Minh Nghĩa, Một số vấn đề lý luận – thực tiễn về định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam qua 30 năm đổi mới, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016 Khác
[6] TTXVN, Những thành tựu nổi bật trong phát triển kinh tế qua 30 năm đổi mới, Tạp chí Cộng sản, 3/1/2016 Khác
[7] Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ VI,VII, VIII, IX, X, XI, XII Khác

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w