1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ luật học trách nhiệm do vi phạm hợp đồng tín dụng từ thực tiễn ngân hàng ngoại thương việt nam (vietcombank) – chi nhánh quảng ngãi

70 57 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 1,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Mục đích nghiên cứu của luận văn: Mục đích của đề tài là nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng tín dụng, đán

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

MAI NGỌC HÀO

TRÁCH NHIỆM DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG TỪ THỰC TIỄN NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM (VIETCOMBANK)

– CHI NHÁNH QUẢNG NGÃI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2019

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

MAI NGỌC HÀO

TRÁCH NHIỆM DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG TỪ THỰC TIỄN NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM (VIETCOMBANK)

– CHI NHÁNH QUẢNG NGÃI

Chuyên ngành : Luật kinh tế

Mã số : 8 38 01 07

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS NGUYỄN ĐỨC MINH

HÀ NỘI, năm 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là đề tài luận văn nghiên cứu của riêng tôi dưới

sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Đức Minh Các luận điểm, dẫn chứng, số liệu, ví dụ nêu trong luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực

Kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ đề tài, công trình nghiên cứu nào khác

Mai Ngọc Hào

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VI PHẠM HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG VÀ TRÁCH NHIỆM DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG 9

1.1 Khái niệm và đặc điểm vi phạm hợp đồng tín dụng 9 1.2 Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng tín dụng 15

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG QUA THỰC TIỄN TẠI NGÂN HÀNG VIETCOMBANK QUẢNG NGÃI 27

2.1 Thực trạng pháp luật về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng tín dụng 27 2.2 Thực trạng thực hiện pháp luật về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng tín dụng qua thực tiễn ngân hàng Vietcombank Quảng Ngãi 39

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG 51

3.1 Quan điểm, yêu cầu hoàn thiện và thực hiện pháp luật về trách nhiệm do

vi phạm hợp đồng tín dụng 51 3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng tín dụng 53 3.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng tín dụng 56

KẾT LUẬN 60 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT

STT Từ viết tắt Cụm từ tiếng việt

2 HĐTD Hợp đồng tín dụng

4 Vietcombank Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam

5 WTO Tổ chức Thương mại thế giới

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Kể từ khi Đổi mới đất nước theo nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI, nền kinh tế nước ta đã có nhiều biến chuyển sâu sắc Các thành phần kinh tế

đa dạng Khu vực kinh doanh tư nhân, khu vực đầu tư nước ngoài ngày càng đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của đất nước Để duy trì và phát triển hoạt động kinh doanh, các chủ thể kinh doanh cần có một nguồn vốn dồi dào và tín dụng là một kênh cung cấp quan trọng, tại đó, các tổ chức tín dụng mà nổi bật là các ngân hàng thương mại chính là những tổ chức tạo điều kiện thuận lợi để các chủ thể kinh doanh tiếp xúc với nguồn vốn tốt nhất Tín dụng ngân hàng là nhân tố vừa giúp cho doanh nghiệp nhanh chóng đầu tư mở rộng sản xuất, vừa góp phần đẩy nhanh tốc độ tích lũy vốn cho nền kinh tế Cho vay, cấp tín dụng luôn chiếm vị trí quan trọng trong lĩnh vực tín dụng mà nền tảng pháp lý của nó chính là hợp đồng tín dụng (HĐTD) Cùng với hội nhập kinh tế quốc tế, hoạt động thương mại nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng giữa các tổ chức tín dụng với các cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức vay vốn không ngừng tăng lên từ số lượng cho tới giá trị thương mại Nhưng điều đó cũng là nguyên nhân dẫn tới một thực

tế là ngày càng có nhiều vi phạm về HĐTD xảy ra và diễn biến phức tạp

Cho nên, để đảm bảo cho các chủ thể tham gia quan hệ trong HĐTD không bị xâm phạm quyền và lợi ích chính đáng, các cơ quan có thẩm quyền

đã xây dựng cũng như hình thành hệ thống các quy phạm pháp luật về trách nhiệm do vi phạm HĐTD Tuân thủ các cam kết trong Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) với tư cách quốc gia thành viên, nước ta đã không những sửa đổi, bổ sung các quy định về trách nhiệm do vi phạm HĐTD nhằm tạo cơ sở pháp lý phù hợp để các bên tuân thủ trong HĐTD Nhưng trên thực tế không

Trang 8

phải mọi chủ thể tham gia HĐTD đều có thể nắm bắt được mọi thay đổi của pháp luật và việc ký kết, thực hiện HĐTD cũng như giải quyết các tranh chấp

về HĐTD đang gặp nhiều khó khăn vì những hiểu biết chưa đầy đủ, thống nhất trách nhiệm do vi phạm HĐTD Tình trạng này cũng diễn ra phổ biến tại Vietcombank Quảng Ngãi, là một trong những ngân hàng hàng đầu có tác động nhất định tới sự phát triển của nền kinh tế cũng như hoạt động đầu tư của địa phương

Từ những vấn đề trên, tác giả chọn đề tài “Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng tín dụng từ thực tiễn Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) – Chi nhánh Quảng Ngãi” làm đề tài luận văn thạc sĩ của

mình

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Pháp luật về HĐTD nói chung cũng như trách nhiệm do vi phạm HĐTD nói riêng là một chế định quan trọng của pháp luật ngân hàng Từ khi hình thành có rất ít công trình nghiên cứu về vấn đề này Một số công trình tiêu biểu như:

- Tác giả Trần Thu Thuỷ với đề tài “Chế định bảo đảm thực hiện hợp

đồng tín dụng ngân hàng - Thực trạng và giải pháp”, Luận văn Thạc sĩ Luật

học, Đại học luật Hà Nội, 2010 Luận văn khái quát về chế định bảo đảm thực hiện HĐTD Nghiên cứu thực trạng một số sai sót trong quá trình bảo đảm thực hiện HĐTD, chỉ ra nguyên nhân dẫn đến sai sót và đưa ra các giải pháp

để phòng ngừa, hạn chế sai sót trong hoạt động này

- Tác giả Trương Thị Kim Dung với đề tài “Các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng tín dụng ngân hàng”, luận văn thạc sĩ luật học, Đại học

luật Hà Nội, 2014 Luận văn trình bày những vấn đề lý luận về Các biện pháp bảo đảm thực hiện HĐTD ngân hàng Phân tích thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về các biện pháp bảo đảm thực hiện HĐTD ngân hàng

Trang 9

Đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về vấn đề này

- Tác giả Vũ Thị Hồng Yến với đề tài “Lý luận và thực tiễn về biện

pháp thế chấp tài sản để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả tiền vay trong các hợp đồng tín dụng”, đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường, Trường Đại học

Luật Hà Nội, 2010

Hoặc dưới dạng các bài báo, bài viết trên các tạp chí luật học như:

- Tác giả Trần Ngọc Sơn với bài viết “Giải quyết các tranh chấp về

hợp đồng tín dụng liên quan đến thế chấp tại Nghệ An”, tạp chí Dân chủ và Pháp luật Số 8/2017, tr 37 - 41 Trên cơ sở phần tích một số trường hợp điển

hình trong giải quyết các tranh chấp về HĐTD liên quan đến thế chấp tại Nghệ An, bài viết đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về HĐTD liên quan đến thế chấp

- Tác giả Vũ Gia Trưởng với bài viết “Những vướng mắc khi giải quyết

tranh chấp hợp đồng tín dụng trong kinh doanh thương mại tại tòa án”, tạp

chí Nghề Luật Số 2/2016, tr 34 - 38 Bài viết trình bày những vướng mắc khi giải quyết tranh chấp HĐTD trong kinh doanh thương mại tại tòa án, gồm các vấn đề về: tài sản thế chấp; xác định lãi suất trong HĐTD; thời hạn chuẩn bị xét xử; nghĩa vụ chứng minh, cung cấp chứng cứ Đề xuất một số ý kiến nhằm giải quyết những vướng mắc này

- Tác giả Hoàng Thị Liên với bài viết “Trao đổi về tình trạng vượt trần

lãi suất trong các hợp đồng tín dụng”, tạp chí Kiểm sát Số Xuân/2015, tr 53

- 55 Bài viết phân tích thực trạng vấn đề vượt trần lãi suất - HĐTD cho vay lãi năng và việc kiểm sát; phân tích việc vận dụng hướng dẫn để lách luật, không bảo vệ bên yếu thế và một số đề nghị

- Tác giả Đoàn Đức Lương với bài viết “Vướng mắc trong áp dụng pháp

luật tính lãi suất trong hợp đồng tín dụng”, tạp chí Kiểm sát Số 23/2016, tr

Trang 10

56 - 58 Bài viết nêu thực tiễn giải quyết tranh chấp lãi suất vay và lãi suất nợ quá hạn trong HĐTD; quy định của BLDS 2015 về lãi suất và lãi suất quá hạn trong hợp đồng vay Kiến nghị về việc ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng các quy định về tính lãi suất trong HĐTD

- Tác giả Nguyễn Thị Thuỷ với bài viết “Các biện pháp bảo đảm hợp

đồng tín dụng ngân hàng theo Quyết định 27 QĐ/NH ngày 17-8-1996 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam”, tạp chí Khoa học pháp lý, Số

1/2000, tr 27

- Tác giả Lê Thị Thu Thuỷ với bài viết “Bản chất pháp lý của hợp đồng

tín dụng ngân hàng”, tạp chí Dân chủ và Pháp luật Số 12/2002, tr 10 - 15

- Tác giả Phạm Vũ Ngọc Quang với bài viết “Cần áp dụng đúng quy

định của pháp luật trong việc giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng về lãi suất”, tạp chí Kiểm sát Số 9/2014, tr 33 - 41

- Tác giả Nguyễn Văn Phương với bài viết “Cần quy định rõ điều kiện

có hiệu lực của hợp đồng tín dụng”, tạp chí Dân chủ và Pháp luật Số

12/2002, tr 37 - 38

- Tác giả Tưởng Duy Lượng với bài viết “Có được thỏa thuận phạt

nhiều lần về một vi phạm, thỏa thuận lãi chồng lãi trong hợp đồng vay tài sản, hợp đồng tín dụng không? (kỳ I)”, tạp chí Tòa án nhân dân Số 24/2013,

tr 27 - 33

- Tác giả Nguyễn Văn Vân với bài viết “Mấy suy nghĩ về bản chất pháp

lý của hợp đồng tín dụng ngân hàng”, tạp chí Khoa học pháp lý Số 3/2000, tr 22

- Tác giả Lâm Thị Minh Hạnh với bài viết “Về các đặc điểm của hợp

đồng tín dụng ngân hàng”, tạp chí Nhà nước và Pháp luật Số 4/2002, tr 52 - 56

Các công trình nghiên cứu nói trên mới chỉ dừng lại ở việc phân tích, đánh giá hay gợi mở một vài khía cạnh của các vấn đề pháp lý về HĐTD mà không đi sâu nghiên cứu cụ thể, chi tiết vấn đề trách nhiệm do vi phạm

Trang 11

HĐTD dù là ở trên cả nước hay ở bất cứ địa phương nào Vì vậy với đề tài

“Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng tín dụng từ thực tiễn Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) – Chi nhánh Quảng Ngãi” tác giả mong

muốn góp phần làm giàu thêm nguồn tài liệu mang tính chất khảo cứu có giá trị

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn:

Mục đích của đề tài là nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam

về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng tín dụng, đánh giá thực trạng áp dụng các quy định này từ thực tiễn tại Vietcombank Chi nhánh Quảng Ngãi Qua

đó, tìm ra những hạn chế, bất cập của các quy định pháp luật và khó khăn, vướng mắc trong việc áp dụng pháp luật nhằm đưa ra quan điểm, giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về trách nhiệm do vi phạm HĐTD

Nhiệm vụ của luận văn:

Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn có các nhiệm vụ

Ba là, nghiên cứu đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm xây dựng,

hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng tín dụng

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là vấn đề trách nhiệm do vi phạm

hợp đồng tín dụng và thực tiễn áp dụng tại ngân hàng Vietcombank Quảng Ngãi

Phạm vi nghiên cứu

Trang 12

- Về mặt nội dung: Hợp đồng tín dụng là một vấn đề rất rộng và đã được nhiều công trình nghiên cứu nên luận văn không đi nghiên cứu mọi vấn

đề liên quan đến HĐTD mà chỉ tập trung nghiên cứu những vấn đề cơ bản về: Khái niệm trách nhiệm do vi phạm HĐTD; các yếu tố cấu thành trách nhiệm

do vi phạm HĐTD, các căn cứ miễn trách nhiệm và các chế tài do vi phạm theo quy định của pháp luật Việt Nam

- Về phạm vi không gian luận văn nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy định áp dụng về trách nhiệm do vi phạm HĐTD trên phạm vi hệ thống ngân hàng Vietcombanh tỉnh Quảng Ngãi trong thời gian gần đây

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn được tiếp cận, nghiên cứu trên nền tảng các nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử theo quan điểm khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin: Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, đồng thời giữa chúng có mối liên hệ biện chứng Pháp luật là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng xã hội, được hình thành từ một cơ sở hạ tầng phù hợp Pháp luật được coi là tấm gương phản chiếu xã hội, còn về phần mình, xã hội được coi

là cơ sở thực tiễn của pháp luật Về lý thuyết và thực tiễn cho thấy, các qui định của pháp luật phù hợp với sự phát triển của các điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội thì mới có tính khả thi trong quá trình thực hiện và áp dụng pháp luật; từ đó tạo cơ sở cho xã hội ổn định và phát triển

Ngoài ra, trong quá trình thực hiện đề tài này, học viên đã sử dụng một

số phương pháp nghiên cứu:

+ Phương pháp phân tích, Phương pháp phân tích được sử dụng trong

toàn bộ luận văn Phương pháp này được áp dụng để làm rõ những quy định

cụ thể liên quan đến trách nhiệm do vi phạm HĐTD

+ Phương pháp tổng hợp cũng được sử dụng trong toàn bộ luận văn

Trên cơ sở các tài liệu đã phân tích, so sánh, tác giả sử dụng phương pháp này

Trang 13

để tổng hợp những vấn đề đã nêu ra, từ đó rút ra những nhận định, kiến nghị, những bổ sung cần thiết nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về trách nhiệm do vi phạm HĐTD

+ Phương pháp thống kê được thực hiện trong quá trình khảo sát thực

tiễn hoạt áp dụng pháp luật, với các số liệu cụ thể giải quyết các vấn đề từ trách nhiệm do vi phạm HĐTD tại ngân hàng Vietcombank Quảng Ngãi Tìm

ra mối liên hệ giữa các qui định của pháp luật với thực tiễn áp dụng đã phù hợp hay chưa? Các lý do? Từ đó mà xem xét nội dung qui định của pháp luật

về trách nhiệm do vi phạm HĐTD, với thực tiễn của đời sống xã hội nhằm nâng cao hiệu quả điều chỉnh của pháp luật về vấn đề này

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Đây là một công trình nghiên cứu riêng của cá nhân tác giả liên quan đến những vấn đề lý luận cơ bản về vi phạm HĐTD và trách nhiệm do vi phạm HĐTD, thực tiễn áp dụng pháp luật xử lý vi phạm HĐTD tại ngân hàng Vietcombank Quảng Ngãi

Trên cơ sở lý luận về vi phạm hợp đồng tín dụng và trách nhiệm do vi phạm HĐTD ngân hàng, kết hợp đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật giải quyết vi phạm HĐTD tại Vietcombank Quảng Ngãi, luận văn đã đánh giá khái quát về thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật về vấn đề trách nhiệm

do vi phạm HĐTD Qua đó, đề xuất giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật

và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về trách nhiệm do vi phạm HĐTD tại Việt Nam

Luận văn có thể được sử dụng như một tài liệu phục vụ cho việc học tập và giảng dạy, cũng như tham khảo để hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm

do vi phạm hợp đồng tín dụng

Trang 14

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được cấu trúc gồm 3 chương như sau:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về vi phạm hợp đồng tín dụng và trách nhiệm do vi phạm hợp đồng tín dụng

Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật về trách nhiệm

do vi phạm hợp đồng tín dụng qua thực tiễn tại Ngân hàng Vietcombank Quảng Ngãi

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng tín dụng

Trang 15

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VI PHẠM HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Hợp đồng tín dụng về bản chất là hợp đồng vay tài sản Hợp đồng vay tài sản theo quy định của Bộ luật dân sự (BLDS) năm 2015 là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định Tuy nhiên, chỉ được gọi là hợp đồng tín dụng ngân hàng trong trường hợp bên cho vay là các tổ chức tín dụng, hiện nay chủ yếu là các ngân hàng Hợp đồng tín dụng ngân hàng là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa các tổ chức tín dụng (bên cho vay) với pháp nhân, cá nhân có đủ những điều kiện do luật định (bên vay) Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả

Trang 16

gốc và lãi Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay, chưa có một văn bản pháp luật nào đưa ra định nghĩa, khái niệm rõ ràng về hợp đồng tín dụng ngân hàng Do đó, có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm của hợp đồng tín dụng Theo quan điểm của tác giả, hợp đồng tín dụng ngân hàng được định nghĩa như sau:

Hợp đồng tín dụng ngân hàng là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa các

tổ chức tín dụng (bên cho vay) với pháp nhân, cá nhân có đủ những điều kiện

do luật định (bên vay), theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi

Ngoài những đặc điểm chung giống như mọi hợp đồng thương mại, hợp đồng dân sự thì HĐTD còn thể hiện những đặc trưng pháp lý sau đây:

Một là, trong HĐTD, một chủ thể phải là ngân hàng thương mại với

chức năng kinh doanh tiền tệ Chính sự đặc thù này khiến cho bên chủ nợ là ngân hàng thương mại phải có những giải pháp khác để hỗ trợ cho quá trình quản lý nợ vay và phòng tránh rủi ro tín dụng khi khách hàng vay không trả được nợ, trong khi tài sản bảo đảm lại rất khó kiểm soát

Hai là, trong HĐTD có bảo đảm nói chung và bảo đảm bằng thế chấp

tài sản nói riêng, luôn tồn tại mối quan hệ về hiệu lực giữa HĐTD với hợp đồng thế chấp tài sản (hợp đồng bảo đảm tiền vay) Mối quan hệ này là khá phức tạp và do đó đòi hỏi các bên phải có nhận thức đúng đắn để tự vệ và phòng ngừa các rủi ro tổn thất cho mình

Về hình thức, HĐTD phải được lập thành văn bản, trong đó có nội dung về điều kiện vay, mục đích sử dụng tiền vay, hình thức vay, số tiền vay, lãi suất, thời hạn vay, hình thức bảo đảm, giá trị tài sản bảo đảm, phương thức trả nợ và những cam kết khác được các bên thoả thuận

Trang 17

Mẫu hợp đồng mà các ngân hàng đưa ra không phải là hợp đồng mẫu theo quy định của BLDS, mà chỉ là bản thảo để thuận tiện trong quá trình đàm phán ký kết hợp đồng Bên vay hoàn toàn có thể thoả thuận với ngân hàng thay đổi bất kỳ nội dung nào Tuy nhiên, trên thực tế thì bên vay thường phải chấp nhận những điều khoản thiên về ràng buộc chặt chẽ đối với bên vay và

có lợi hơn cho ngân hàng

So với hợp đồng thương mại, HĐTD thường có điểm khác là thường rất nhiều văn bản có các yếu tố như một hợp đồng, như đơn đề nghị vay vốn, HĐTD, khế ước nhận nợ (giấy nhận nợ), Chẳng hạn trong đơn đề nghị vay vốn có nhiều nội dung cơ bản của HĐTD như số tiền vay, mục đích vay, thời hạn vay, lãi suất vay và cam kết của bên vay Trường hợp ngân hàng ký chấp thuận những nội dung đó, thì hoàn toàn có thể thay thế cho một bản HĐTD

Do HĐTD được làm kỹ như vậy, nên rất ít khi xảy ra tranh chấp về chính HĐTD, mà thường là tranh chấp liên quan đến việc xử lý tài sản bảo đảm để trả nợ

1.1.2 Khái niệm vi phạm hợp đồng tín dụng

Khi hợp đồng đã được thiết lập thì các bên trong quan hệ hợp đồng phải

có nghĩa vụ thực hiện hợp đồng Tất nhiên, các bên không chỉ thực hiện các nghĩa vụ đã thỏa thuận trong hợp đồng mà còn phải thực hiện cả những nghĩa

vụ theo quy định của pháp luật (nội dung thường lệ của hợp đồng) Vi phạm hợp đồng là xử sự của các chủ thể hợp đồng không phù hợp với các nghĩa vụ

đã cam kết trong hợp đồng Biểu hiện cụ thể của vi phạm hợp đồng là không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ các nghĩa vụ theo hợp đồng Vậy nên, khi xem xét một hành vi có là hành vi vi phạm hợp đồng hay không phải căn cứ vào các điều khoản đã thỏa thuận trong hợp đồng và cả quy định pháp luật có liên quan Tuy nhiên, để xác định được hành vi vi phạm hợp đồng thì cần phân biệt nghĩa vụ theo hợp đồng và nghĩa vụ theo pháp

Trang 18

luật Vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng bị chế tài theo chế độ trách nhiệm trong hợp đồng Vi phạm nghĩa vụ theo pháp luật làm phát sinh trách nhiệm ngoài hợp đồng

Trong thực tiễn để xác định việc có hay không một vi phạm hợp đồng thương mại phải chứng minh được hai vấn đề Đó là, quan hệ hợp đồng hợp pháp giữa các bên hay không và có hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ các nghĩa vụ theo hợp đồng Hợp đồng hợp pháp

là cơ sở phát sinh nghĩa vụ giữa các bên và là căn cứ quan trọng để xác định hành vi vi phạm Cần đối chiếu giữa thực tế thực hiện hợp đồng với các cam kết trong hợp đồng hoặc các quy định pháp luật có liên quan để xác định

chính xác vi phạm hợp đồng

Vi phạm hợp đồng là cơ sở pháp lý quan trọng để áp dụng các biện pháp xử lý vi phạm hợp đồng như tạm ngừng thực hiện hợp đồng hoặc đình chỉ thực hiện hợp đồng hoặc hủy bỏ hợp đồng khi các bên trong hợp đồng không có thỏa thuận về điều kiện áp dụng ba chế tài này Tuy nhiên, Luật Thương mại (LTM) năm 2005 còn thiếu nhiều quy định có tính hướng dẫn để làm rõ hơn về khái niệm này Bên cạnh đó, theo Điều 4 của LTM năm 2005 thì trong trường hợp LTM hoặc luật chuyên ngành không quy định thì áp dụng quy định của Bộ luật dân sự Song, BLDS 1995 cũng như BLDS 2015 cũng không quy định về vi phạm hợp đồng và các văn bản dưới luật của Việt Nam hiện hành cũng không có quy định hướng dẫn về vấn đề này Đây là những bất cập của pháp luật Việt Nam về vi phạm hợp đồng Những bất cập này nếu không được loại bỏ hay sửa đổi thì việc áp dụng các biện pháp xử lý vi phạm hợp đồng khó có tính khả thi

Thông qua khái niệm về vi phạm hợp đồng cũng như khái niệm HĐTD

đã được nêu ở trên ta có thể rút ra được khái niệm của vi phạm hợp đồng tín

Trang 19

dụng: là việc chủ thể giao kết hợp đồng tín dụng không thực hiện hoặc thực

hiện không đúng, không đầy đủ các nghĩa vụ của hợp đồng tín dụng

Còn vi phạm nghĩa vụ theo pháp luật là việc bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ theo quy định của pháp luật Sự khác nhau giữa hai loại vi phạm này chính là căn cứ xác định vi phạm Đối với vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng chính là thỏa thuận giữa các bên còn đối với vi phạm theo pháp luật thì chỉ là những quy định pháp luật có liên quan Thỏa thuận của các bên trong hợp đồng được thực hiện theo nguyên tắc tự do với điều kiện không trái với pháp luật hiện hành có liên quan Ví dụ, các vi phạm của các bên trong quan hệ tiền hợp đồng tín dụng (trước thời điểm bên được đề nghị đưa ra lời tiếp nhận giao kết hợp đồng) là vi phạm nghĩa vụ theo luật, bởi các nghĩa vụ

đó được quy trong trong Bộ luật dân sự; vi phạm các nghĩa vụ do pháp luật quy định được phân biệt với vi phạm các nghĩa vụ được các bên thỏa thuận trong hợp đồng

1.1.4 Dấu hiệu vi phạm hợp đồng tín dụng

Dấu hiệu vi phạm HĐTD bao gồm:

- Là hành vi (hành động hoặc không hành động) của một trong hai chủ thể ký kết HĐTD Ý nghĩ, tư tưởng chưa thể hiện thành hành vi bị pháp luật cấm thì chưa thể gọi là vi phạm pháp luật

Trang 20

- Có tính chất trái pháp luật liên quan đến HĐTD, tức là trái với yêu cầu cụ thể của các quy phạm pháp luật hay trái với tinh thần của pháp luật

- Có lỗi có nghĩa là vi phạm HĐTD là hành vi trái pháp luật và thỏa thuận của hai bên được thực hiện bởi chính những chủ thể có khả năng nhận thức được hành vi trái pháp luật của mình và hậu quả thiệt hại mà hành vi đó

có thể gây ra cho xã hội, nhưng vẫn thực hiện hành vi đó Do đó, lỗi chính là dấu hiệu thể hiện quan hệ, thái độ tâm lý tiêu cực của chủ thể đối với hành vi trái pháp luật của mình và đối với hậu quả của hành vi đó

Cần lưu ý rằng phải đủ cả ba dấu hiệu nêu trên thì mới tồn tại vi phạm HĐTD, trong đó hành vi đóng vai trò dấu hiệu hình thức, dấu hiệu chung, còn tính trái pháp luật và lỗi là tính chất của hành vi

1.1.5 Biểu hiện vi phạm hợp đồng tín dụng

Biểu hiện vi phạm HĐTD thường được thể hiện qua các trường hợp và nguyên nhân sau:

- Không chịu thực hiện hợp đồng hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng

mà không giải thích rõ lý do cho bên kia (hợp đồng chưa được bên nào thực hiện)

Trường hợp này xảy ra khi một bên phát hiện nội dung bất lợi đối với mình sau khi ký kết hợp đồng, có thể là một điều kiện không có khả năng thực hiện hoặc biết rõ là nếu thực hiện thì sẽ bị bất lợi… Cụ thể, ngân hàng không đồng ý giải ngân hợp đồng đã ký kết hoặc bên vay không đồng ý nhận nợ

- Không thực hiện nghĩa vụ hợp đồng mặc dù đã hưởng các quyền lợi

từ hợp đồng Chẳng hạn như vay tiền sau khi nhận được tiền vay thì sau đó không thực hiện nghĩa vụ trả tiền

Trường hợp này xảy ra có nhiều nguyên do như bên thực hiện nghĩa vụ mất khả năng thanh toán (bị thua lỗ, phá sản), cố ý gian lận kéo dài thời gian thực hiện nghĩa vụ để có lợi cho mình, nhiều trường hợp ký kết hợp đồng là

để giải quyết một khó khăn trước mắt nào đó chứ thực sự không có khả năng thực hiện nghĩa vụ (như vay của người này để trả cho người khác )

Trang 21

- Không thực hiện đúng, đầy đủ các thỏa thuận ghi trong hợp đồng (mặc dù có thực hiện hợp đồng)

Trường hợp này thường xảy ra trong quá trình thực hiện hợp đồng do lỗi của một hoặc cả hai bên tìm cách thực hiện theo hướng có lợi cho mình hoặc do hiểu sai nội dung của hợp đồng Ví dụ, trong HĐTD thường có các điều khoản như bên vay phải cam kết chuyển doanh thu về tài khoản mở tại ngân hàng, mua bảo hiểm cho tài sản bảo đảm đối với những tài sản bắt buộc phải mua bảo hiểm theo quy định của pháp luật nhưng sau khi nhận được tiền vay, bên vay đã không thực hiện các điều khoản này

1.2 Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng tín dụng

1.2.1 Khái niệm trách nhiệm do vi phạm hợp đồng tín dụng

Theo giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật của Trường Đại học

Luật Hà Nội năm 2009 thì: "Trách nhiệm pháp lý là trách nhiệm của các chủ

thể vi phạm pháp luật trước nhà nước (thông qua các cơ quan hoặc nhà chức trách có thẩm quyền) với chủ thể vi phạm pháp luật, được các quy phạm pháp luật xác lập và điều chỉnh" [26 , tr 496]

Trong thực tế, trách nhiệm pháp lý chỉ được áp dụng khi xảy ra hành vi

vi phạm pháp luật, hay nói cách khác, trách nhiệm pháp lý là hậu quả của hành vi vi phạm pháp luật Việc truy cứu trách nhiệm pháp lý chỉ do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền (cơ quan quản lý nhà nước, Tòa án,…) thực hiện đối với các chủ thể vi phạm pháp luật Truy cứu trách nhiệm pháp lý về thực chất là áp dụng những biện pháp cưỡng chế nhà nước đã được quy định trong bộ phận chế tài của các quy phạm pháp luật đối với các chủ thể vi phạm pháp luật Tuy nhiên, bản thân trách nhiệm pháp lý không phải là sự cưỡng chế nhà nước mà chỉ là nghĩa vụ mà người vi phạm phải gánh chịu những biện pháp cưỡng chế nhà nước do pháp luật quy định Như vậy, về nội dung thì trách nhiệm pháp lý là sự áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước đối

Trang 22

với chủ thể vi phạm pháp luật; về hình thức thì đó là việc Nhà nước tổ chức cho chủ thể vi phạm pháp luật thực hiện bộ phận chế tài của quy phạm pháp luật Dựa trên những phân tích ở trên, có thể đưa ra khái niệm về trách nhiệm

pháp lý ở nghĩa chủ quan như sau: trách nhiệm pháp lý là hậu quả bất lợi mà

chủ thể vi phạm pháp luật (vì có hành vi xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác) phải gánh chịu với tính chất là biện pháp cưỡng chế được pháp luật quy định nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể bị vi phạm

Trách nhiệm do vi phạm HĐTD thực chất là trách nhiệm do vi phạm hợp đồng dân sự và là một dạng của trách nhiệm pháp lý - trách nhiệm dân sự Trong quan hệ HĐTD, trách nhiệm do vi phạm HĐTD được hiểu là việc bên

vi phạm phải gánh chịu những hậu quả bất lợi mang tính vật chất do hành vi

vi phạm nghĩa vụ HĐTD của mình Chính vì vậy, thuật ngữ "trách nhiệm vật chất do vi phạm hợp đồng tín dụng" được sử dụng rộng rãi

Như vậy, có thể hiểu trách nhiệm do vi phạm HĐTD là hậu quả bất lợi

về vật chất mà bên vi phạm nghĩa vụ HĐTD phải gánh chịu Vi phạm nghĩa

vụ HĐTD chính là việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ HĐTD

Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng nói chung và trách nhiệm do vi phạm HĐTD nói riêng đều thuộc trách nhiệm pháp lý, vì vậy, chúng đều mang đầy đủ các đặc điểm cơ bản của trách nhiệm pháp lý Tuy nhiên, do những đặc thù của quan hệ hợp đồng nói chung và các lọai HĐTD nói riêng, trách nhiệm do vi phạm HĐTD có những đặc điểm riêng như sau:

Thứ nhất, về thẩm quyền áp dụng: Khác với trách nhiệm pháp lý chỉ

được áp dụng bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền, thì trách nhiệm do vi phạm HĐTD còn có thể được áp dụng bởi chính các bên trong quan hệ hợp đồng, bởi tòa án, tổ chức trọng tài thương mại Do nhiều HĐTD chịu sự chi

Trang 23

phối của các hệ thống pháp luật khác nhau nên khi các cơ quan này áp dụng các hình thức trách nhiệm cụ thể do vi phạm HĐTD, cần phải căn cứ vào sự thỏa thuận của các bên trong HĐTD hoặc nếu HĐTD không quy định thì phải căn cứ vào các quy định của luật áp dụng

Thứ hai, về lĩnh vực áp dụng: Trách nhiệm do vi phạm HĐTD được áp

dụng trong lĩnh vực ký kết và thực hiện HĐTD khi có hành vi vi phạm HĐTD Nếu HĐTD chưa được ký kết thì sẽ không đặt ra vấn đề hiệu lực của HĐTD, không có căn cứ để xác định hành vi vi phạm HĐTD Hợp đồng tín dụng không hợp pháp cũng có thể làm phát sinh trách nhiệm nhưng đó là trách nhiệm ngoài HĐTD vì nó không phát sinh từ các nghĩa vụ do các bên thỏa thuận với nhau

Thứ ba, về tính chất của trách nhiệm: Trong quan hệ HĐTD, yếu tố lợi

ích vật chất là yếu tố hàng đầu, vì mục đích của HĐTD là mục đích kinh doanh, thương mại tức là để thu lợi nhuận cho các bên ký kết Vì vậy, trách nhiệm do vi phạm HĐTD cũng mang tính vật chất hay tính tài sản Bên vi phạm HĐTD phải gánh chịu hậu quả vật chất bất lợi, tức phải dùng tài sản thuộc quyền sở hữu của mình để bồi hoàn tổn thất vật chất cho bên bị vi phạm dưới hình thức tiền phạt vi phạm hoặc tiền bồi thường thiệt hại; hay phải gánh chịu những tổn thất về vật chất như chi phí để thực hiện đúng HĐTD, các tổn thất không thu hồi được do HĐTD bị hủy bỏ hoặc đình chỉ,… Bên vi phạm HĐTD sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự hoặc trách nhiệm hành chính trước đối tác ký kết HĐTD với mình

Thứ tư, về mục đích áp dụng các chế tài: Các chế tài do vi phạm

HĐTD được áp dụng không chỉ nhằm mục đích giáo dục và phòng ngừa vi phạm pháp luật như trách nhiệm pháp lý nói chung mà mục đích chính của việc áp dụng các chế tài này là khôi phục lợi ích vật chất, bù đắp những tổn thất cho bên bị vi phạm Việc áp dụng các chế tài này không chỉ mang tính

Trang 24

trừng phạt đối với bên vi phạm mà còn tính toán để đảm bảo lợi ích chính đáng của bên họ Điều này thể hiện ở các quy định về miễn giảm trách nhiệm;

về nghĩa vụ chứng minh tổn thất, nghĩa vụ hạn chế thiệt hại của bên bị vi phạm Đặc điểm này xuất phát từ bản chất của quan hệ HĐTD là quan hệ mang tính chất đền bù ngang giá; khi HĐTD bị vi phạm, điều mà các bên quan tâm đến nhiều chính là lợi ích vật chất của mình sẽ được đáp ứng ra sao thông qua việc thực hiện các chế tài do vi phạm HĐTD

Từ sự phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm về trách nhiệm do vi

phạm HĐTD như sau: Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng tín dụng ở nghĩa khách quan là hệ thống các quy định liên quan đến trách nhiệm dân sự, trách

nhiệm về tài sản, được quy định với các chế định, chế tài cụ thể và được bảo đảm thực hiện bằng cơ chế do pháp luật quy định, nhằm một mặt là phục hồi lại quyền lợi cho bên bị vi phạm và mặt khác là răn đe, giáo dục bên vi phạm

1.2.2 Những nội dung cơ bản của chế độ trách nhiệm do vi phạm hợp đồng tín dụng

Chủ thể vi phạm

Trong HĐTD, một bên tham gia hợp đồng bao giờ cũng là tổ chức tín dụng đủ điều kiện hoạt động theo quy định của pháp luật với tư cách là bên cho vay Chủ thể bên kia của hợp đồng (bên đi vay) có thể là tổ chức, cá nhân,

hộ gia đình Thỏa mãn các điều kiện theo quy định của pháp luật hiện hành

về quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với mọi khách hàng vay Còn đối với các loại hợp đồng dân sự thông thường giữa các cá nhân hay tổ chức với nhau như hợp đồng vay mượn tiền thì hai bên chủ thể không có một sự ràng buộc nào Như vậy, chủ thể vi phạm có thể là tổ chức tín dụng cho vay hoặc bên đi vay là tổ chức, cá nhân, hộ gia đình… có nhu cầu vay tín dụng cần xác lập HĐTD

Trang 25

Hình thức vi phạm

Hình thức của vi phạm bao gồm hành động hoặc không hành động Hành động là hình thức của hành vi khách quan, chủ động, tích cực làm biến đổi tình trạng bình thường của quan hệ HĐTD, gây thiệt hại cho bên bị vi phạm qua việc chủ thể làm một việc bị pháp luật cấm Còn không hành động cũng là hình thức của hành vi khách quan mang tính thụ động làm biến đổi tình trạng bình thường của quan hệ HĐTD, gây thiệt hại thông qua việc chủ thể không làm một việc mà pháp luật yêu cầu mặc dù có đủ điều kiện để làm

Các yếu tố cấu thành trách nhiệm do vi phạm hợp đồng tín dụng

Để một người vi phạm hợp đồng tín dung chịu trách nhiệm về vi phạm của mình cần căn cứ vào 4 yếu tố sau:

- Có hành vi trái pháp luật của bên vi phạm: đây là yếu tố đầu tiên cấu thành trách nhiệm do vi phạm HĐTD Hành vi này có thể được thể hiện dưới dạng hành động (thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ HĐTD) hoặc không hành động (không thực hiện nghĩa vụ HĐTD) Như vậy chỉ được coi là hành vi vi phạm HĐTD nếu hành vi đó xảy ra kể từ khi HĐTD có hiệu lực pháp luật Việc chứng minh có hành vi vi phạm HĐTD của bên vi phạm là nghĩa vụ của bên bị vi phạm

- Bên bị vi phạm có thiệt hại thực tế về tài sản: đây là những thiệt hại

về vật chất của bên bị vi phạm, là những thiệt hại có thể tính toán được chứ không phải do suy diễn mà có Việc xác định có thiệt hại xảy ra và thiệt hại bao nhiêu là việc làm hết sức quan trọng và cần thiết vì nó liên quan trực tiếp đến việc gánh chịu trách nhiệm của bên vi phạm

- Bên vi phạm có lỗi: lỗi được hiểu là thái độ chủ quan của một chủ thể đối với hành vi của mình và hậu quả do hành vi đó gây ra Bên vi phạm HĐTD khi thực hiện hành vi của mình có khả năng nhận thức trước những hậu quả do hành vi đó gây ra nhưng cố ý hoặc vô ý thực hiện hành vi đó

Trang 26

- Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm HĐTD của bên vi phạm và thiệt hại thực tế về tài sản của bên bị vi phạm: Sau khi đã xác định được có hành vi vi phạm HĐTD của bên vi phạm và thiệt hại về tài sản của bên bị vi phạm thì phải xác định giữa chúng có mối quan hệ nhân quả, nếu không chứng minh được mối quan hệ này thì không đủ căn cứ áp dụng trách nhiệm do vi phạm HĐTD Mối quan hệ này được hiểu là hành vi vi phạm HĐTD là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại thực tế, thiệt hại thực tế phát sinh là kết quả tất yếu của hành vi vi phạm

Các căn cứ miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng tín dụng

Như trên đã phân tích, khi một bên có hành vi vi phạm HĐTD thì họ mặc nhiên bị suy đoán là có lỗi và phải chịu trách nhiệm trước bên bị vi phạm Nhưng nếu bên vi phạm chứng minh được mình không có lỗi trong việc vi phạm đó thì không phải chịu trách nhiệm Để chứng minh mình không

có lỗi, bên vi phạm phải chứng minh được một trong các căn cứ miễn trách nhiệm được quy định trong luật hoặc trong HĐTD Theo quy định của pháp luật nhiều nước và của pháp luật Việt Nam hiện hành thì có 4 căn cứ miễn trách nhiệm là: i) xảy ra trường hợp miễn trách nhiệm mà các bên đã thỏa thuận, ii) xảy ra sự kiện bất khả kháng, iii) hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia và iv) hành vi vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng [19, Điều 294 khoản 1] Ngoài bốn căn

cứ miễn trừ trách nhiệm do vi phạm HĐTD đã phân tích ở trên còn quy định một căn cứ miễn trách nhiệm nữa, đó là "Do lỗi của người thứ ba", mà người thứ ba không thực hiện nghĩa vụ của mình do gặp phải các trường hợp bất khả kháng

Chế tài do vi phạm hợp đồng tín dụng

Trách nhiệm do vi phạm HĐTD được truy cứu thông qua các chế tài cụ

Trang 27

thể Đây là các chế tài mang tính tài sản Luật Dân sự và Luật Thương mại

1997 quy định 4 chế tài, đó là chế tài buộc thực hiện đúng HĐTD, chế tài phạt

vi phạm, chế tài buộc bồi thường thiệt hại và chế tài hủy bỏ HĐTD Ngoài 4 chế tài trên, LTM 2005 còn quy định thêm có 2 chế tài mới được bổ sung, đó là: chế tài tạm ngừng thực hiện HĐTD và chế tài đình chỉ thực hiện HĐTD

1.2.3 Các hình thức trách nhiệm

Như đã đề cập, các hình thức trách nhiệm chính là các hình thức chế tài

do vi phạm HĐTD gồm có:

- Buộc thực hiện đúng hợp đồng là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi

phạm thực hiện đúng HĐTD hoặc dùng các biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện và bên vi phạm phải chịu chi phí phát sinh

- Tạm ngừng thực hiện hợp đồng là việc một bên yêu cầu bên kia tạm

thời không thực hiện nghĩa vụ của mình trong HĐTD Khi HĐTD bị tạm ngừng thực hiện thì HĐTD vẫn có hiệu lực, bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định pháp luật

- Phạt vi phạm hợp đồng là một trong những hình thức chế tài trong

LTM Mặc dù hệ thống luật Anh - Mỹ hay Công ước Viên về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 1980 đã không có bất cứ đề cập nào đến chế tài phạt vi phạm hợp đồng nhưng pháp luật Việt Nam đã sớm có các quy định về vấn đề này trong các văn bản như LTM 1997, Pháp lệnh hợp đồng kinh tế năm 1989, LTM 2005, BLDS 2005, BLDS 2015 và các văn bản dưới luật khác

Điều 266 LTM 1997 định nghĩa rằng: “Phạt vi phạm là việc bên có

quyền lợi bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả một khoản tiền phạt nhất định

do vi phạm hợp đồng, nếu trong hợp đồng có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định” Khoản 1 Điều 422 BLDS 2005 và Khoản 1 Điều 418 BLDS 2015

quy định rằng: “Phạt vi phạm là sự thoả thuận giữa các bên trong hợp đồng,

theo đó bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm.”

Trang 28

Theo Điều 300 LTM 2005: “Phạt vi phạm là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên

vi phạm trả một khoản tiền phạt do vi phạm hợp đồng nếu trong hợp đồng có thoả thuận, trừ các trường hợp miễn trách nhiệm quy định tại Điều 294 của Luật này.” Từ đây, có thể thấy rằng chế tài phạt vi phạm được điều chỉnh ngày

một hoàn thiện và chặt chẽ hơn do mức độ được sử dụng phổ biến trong các quan hệ hợp đồng thương mại Với giới hạn đề tài này, tôi sẽ trình bày chế tài phạt vi phạm theo như định nghĩa của LTM 2005 Theo quy định này, chủ thể

có quyền đòi tiền phạt vi phạm là bên bị vi phạm, chủ thể có nghĩa vụ trả tiền phạt vi phạm là bên vi phạm và khách thể các bên hướng đến là một khoản tiền phạt nhất định

- Bồi thường thiệt hại

Luật Thương mại 2005 định nghĩa bồi thường thiệt hại tại Khoản 1

Điều 302 như sau: “Bồi thường thiệt hại là việc bên vi phạm bồi thường

những tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm.”

Việc bồi thường thiệt hại là nghĩa vụ bắt buộc đối với bên vi phạm hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác Tại Điều 360 BLDS 2015 không định nghĩa thế nào là bồi thường thiệt hại nhưng quy định khi bên nào có hành vi

vi phạm nghĩa vụ và hành vi này là nguyên nhân gây ra tổn thất, thiệt hại cho bên kia (hoặc bất kỳ ai khác - kể cả người không tham gia, ký kết hợp đồng) đều có nghĩa vụ phải bồi thường thiệt hại Nhưng đối với pháp luật thương mại thì chế tài bồi thường thiệt hại chỉ hướng đến những chủ tham gia vào quan hệ hợp đồng thương mại Nếu như hình thức phạt hợp đồng có chức năng chủ yếu là trừng phạt, giáo dục và phòng ngừa thì bồi thường thiệt hại

có chức năng chủ yếu là bồi hoàn, bù đắp và khôi phục lợi ích bị mất đi cho bên bị vi phạm Với mục đích này, bồi thường thiệt hại chỉ được áp dụng khi

có thiệt hại xảy ra BLDS 2015 xem bồi thường thiệt hại là một trong các phương pháp bảo vệ quyền dân sự (22, Khoản 5 Điều 11)

Trang 29

- Đình chỉ thực hiện hợp đồng là việc một bên yêu cầu bên kia chấm

dứt thực hiện nghĩa vụ của mình theo hợp đồng Khi đình chỉ hợp đồng thì: Hợp đồng chấm dứt từ thời điểm một bên nhận được thông báo đình chỉ; Các bên không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ hợp đồng; Bên đã thực hiện nghĩa

vụ có quyền yêu cầu bên kia thanh toán hoặc thực hiện nghĩa vụ đối ứng; Bên

bị vi phạm có quyền đồi bồi thường thiệt hại [21, Điều 311, Điều 312]

- Hủy bỏ hợp đồng bao gồm hủy bỏ toàn bộ hợp đồng và hủy bỏ một

phần hợp đồng, là việc bãi bỏ hoàn toàn việc thực hiện tất cả các nghĩa vụ theo hợp đồng hoặc bãi bỏ thực hiện một phần nghĩa vụ hợp đồng, các phần còn lại trong hợp đồng vẫn còn hiệu lực

Sau khi huỷ bỏ hợp đồng, hợp đồng không có hiệu lực từ thời điểm giao kết, các bên không phải tiếp tục thực hiện các nghĩa vụ đã thoả thuận trong hợp đồng, trừ thỏa thuận về các quyền và nghĩa vụ sau khi huỷ bỏ hợp đồng và về giải quyết tranh chấp Các bên có quyền đòi lại lợi ích do việc đã thực hiện phần nghĩa vụ của mình theo hợp đồng; nếu các bên đều có nghĩa

vụ hoàn trả thì nghĩa vụ của họ phải được thực hiện đồng thời; trường hợp không thể hoàn trả bằng chính lợi ích đã nhận thì bên có nghĩa vụ phải hoàn trả bằng tiền Bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bên vi phạm bồi thường thiệt hại [20, Điều 312, Điều 314]

1.2.4 Căn cứ, cơ sở để xác định trách nhiệm do vi phạm hợp đồng tín dụng

Yếu tố thứ nhất: có hành vi vi phạm hợp đồng tín dụng

Như đã trình bày, hành vi vi phạm HĐTD của bên vi phạm được coi là yếu tố đầu tiên cấu thành trách nhiệm do vi phạm HĐTD Các bên khi ký kết HĐTD đều hướng tới những quyền lợi nhất định, nhưng đồng thời việc ký kết HĐTD này cũng là sự ràng buộc các bên bởi những nghĩa vụ nhất định Bộ

luật dân sự Pháp có quy định: "Hợp đồng tín dụng giao kết hợp pháp có giá

Trang 30

trị như luật đối với các bên giao kết" (Điều 1134) Theo Bộ nguyên tắc của

UNIDROIT về HĐTD thì "Hợp đồng tín dụng được hình thành hợp pháp

ràng buộc các bên giao kết" (Điều 1.3) Từ đó có thể thấy HĐTD tuy là sự

thỏa thuận giữa các bên, là sự thể hiện ý chí thống nhất giữa các bên, song một khi đã được xác lập, ký kết thì việc thực hiện các nghĩa vụ HĐTD là bắt buộc

Vi phạm HĐTD là việc không thực hiện hay thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ HĐTD, là hành vi trái pháp luật và chủ thể thực hiện hành vi đó phải chịu trách nhiệm đối với bên bị vi phạm Pháp luật các nước đều coi vi phạm HĐTD là yếu tố cấu thành trách nhiệm do vi phạm HĐTD

Bộ Luật Dân sự 2015 và LTM 2005 quy định một trong những căn cứ để áp dụng trách nhiệm do vi phạm HĐTD là phải có hành vi vi phạm HĐTD Khi xem xét hành vi vi phạm HĐTD, ngoài việc xác định thế nào là hành vi vi phạm HĐTD thì còn cần thiết phải làm rõ thế nào là vi phạm cơ bản, vi phạm không cơ bản và vi phạm trước thời hạn vì hậu quả pháp lý của các hành vi vi phạm này là khác nhau

Yếu tố thứ hai: có thiệt hại về tài sản

Có thiệt hại về tài sản mới có cơ sở để áp dụng trách nhiệm do vi phạm HĐTD Đây là những thiệt hại vật chất thực tế tính được thành tiền do bên vi

phạm gây ra, bao gồm: "tổn thất về tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn

chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút" [19, Điều

307 khoản 2] Theo quy định của LTM 2005 thì thiệt hại này bao gồm: giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên vi phạm phải chịu và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng [19, Điều 302 khoản 2]

Yếu tố thứ ba: có lỗi của bên vi phạm

Lỗi là một trong những căn cứ quan trọng trong việc xác định trách nhiệm do vi phạm nghĩa vụ HĐTD Về nguyên tắc, pháp luật dân sự quy định người có hành vi trái pháp luật, gây thiệt hại thì phải chịu trách nhiệm dân sự

Trang 31

bất luận hành vi đó được thực hiện với lỗi vô ý hay lỗi cố ý Khi tham gia giao kết HĐTD, các bên đã biết và buộc phải biết rằng mục đích của HĐTD cũng như quyền lợi của một bên chỉ có thể đạt được thông qua việc thực hiện đúng nghĩa vụ của bên kia Điều đó cũng có nghĩa các bên nhận thức rõ rằng việc vi phạm nghĩa vụ của mình sẽ đem lại thiệt hại vật chất cho phía bên kia

Yếu tố thứ tư: hành vi vi phạm hợp đồng tín dụng của bên vi phạm là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại về tài sản của bên bị vi phạm

Theo quy định tại Điều 303 khoản 3 LTM 2015 thì mối liên hệ giữa hành vi vi phạm HĐTD và thiệt hại vật chất phải là mối liên hệ trực tiếp Một

sự thiệt hại có thể do nhiều nguyên nhân gây ra, để buộc bên vi phạm phải chịu trách nhiệm về thiệt hại đó thì phải chứng minh rằng thiệt hại là hậu quả trực tiếp của hành vi vi phạm mà không phải là hậu quả của các nguyên nhân khác

Một bên muốn đòi bồi thường thiệt hại thì phải chứng minh được mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm HĐTD và thiệt hại tài sản phát sinh Tuy nhiên, các chủ thể trong HĐTD có thể có quốc tịch khác nhau, trụ sở thương mại đóng ở các nước khác nhau cho nên việc chứng minh mối quan hệ trên cũng không hề đơn giản, nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: nguồn luật điều chỉnh, tập quán lĩnh vực tín dụng ngân hàng, điều ước quốc tế về thương

mại, sự bất đồng về ngôn ngữ,…

Trang 32

Tiểu kết chương 1

Trong chương 1, luận văn đã tập trung nghiên cứu và làm rõ một số vấn

đề lý luận về vi phạm hợp đồng tín dụng như khái niệm, đặc điểm, dấu hiệu vi phạm hợp đồng tín dụng và trách nhiệm do vi phạm hợp đồng tín dụng, căn

cứ, cơ sở để xác định trách nhiệm do vi phạm hợp đồng tín dụng

Những phân tích trên cho ta thấy trách nhiệm do vi phạm HĐTD là hậu quả bất lợi về vật chất mà bên vi phạm nghĩa vụ HĐTD phải gánh chịu Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng nói chung và trách nhiệm do vi phạm HĐTD nói riêng đều thuộc trách nhiệm pháp lý, vì vậy, chúng đều mang đầy đủ các đặc điểm cơ bản của trách nhiệm pháp lý cũng như những đặc điểm đặc thù liên quan đến lĩnh vực tín dụng ngân hàng Pháp luật về trách nhiệm do vi phạm HĐTD bao gồm những quy định chủ yếu về: các yếu tố cấu thành trách nhiệm

do vi phạm HĐTD; miễn trách nhiệm do vi phạm HĐTD; chế tài do vi phạm HĐTD Ngoài ra để tìm hiểu rõ hơn những quy định pháp luật hiện hành về trách nhiệm do vi phạm HĐTD và thực trạng áp dụng các quy định này, chúng ta sẽ cùng làm rõ qua chương 2 của đề tài với thực tiễn thực hiện pháp luật về trách nhiệm do vi phạm HĐTD tại ngân hàngVietcombank Quảng Ngãi

Trang 33

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG QUA THỰC TIỄN TẠI NGÂN HÀNG VIETCOMBANK QUẢNG NGÃI

2.1 Thực trạng pháp luật về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng tín dụng

2.1.1 Thực trạng pháp luật về căn cứ miễn trách nhiệm

Các căn cứ miễn trách nhiệm do thỏa thuận của các bên

Các bên có thể thỏa thuận đưa vào HĐTD những trường hợp cho phép các bên không phải chịu trách nhiệm về hành vi vi phạm HĐTD Cơ sở của việc thừa nhận căn cứ này là dựa trên quyền tự do thỏa thuận HĐTD giữa các bên, điều khoản thỏa thuận về căn cứ miễn trách nhiệm này có giá trị như mọi điều khoản khác của HĐTD Điều này được thể hiện qua quy định tại điểm e Khoản 2 Điều 398 BLDS 2015 (về nội dung của HĐTD) và điểm a khoản 1 Điều 294 LTM 2005 (về các trường hợp miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng)

Như vậy, pháp luật cho phép các bên tự do thỏa thuận về trách nhiệm

do vi phạm HĐTD cũng tức là cho phép các bên được quyền thỏa thuận về việc miễn trừ trách nhiệm nếu có vi phạm HĐTD Điều đó có nghĩa, các bên

có quyền thỏa thuận về các trường hợp miễn trách nhiệm và các căn cứ miễn trách nhiệm áp dụng riêng cho HĐTD đó và hoàn toàn phụ thuộc vào sự thỏa thuận của các bên dựa trên hoàn cảnh cụ thể của từng HĐTD Những trường hợp và những căn cứ này không phải là các trường hợp miễn trách nhiệm do pháp luật quy định như đã phân tích ở trên Khi điều kiện là căn cứ để miễn trừ trách nhiệm do các bên thỏa thuận xảy ra, bên vi phạm đương nhiên được

miễn trách nhiệm, mặc dù trên thực tế cả hai bên không hề có lỗi và việc xảy

ra thiệt hại các bên vẫn có thể ngăn chặn và lường trước được, song để thực

Trang 34

hiện được việc đó là điều không phải dễ Thực tiễn ở Việt Nam trong các HĐTD không có thỏa thuận này hoặc có thì cũng sơ sài và không thực hiện

trong thực tế

Căn cứ miễn trách nhiệm do gặp bất khả kháng

Bên vi phạm HĐTD sẽ được miễn trách nhiệm về việc không thực hiện một phần hay toàn bộ nghĩa vụ HĐTD nếu việc không thực hiện này vì họ gặp bất khả kháng

Theo quy định tại Điều 156 khoản 1 BLDS 2015 thì: "Sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khánh quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép" Tuy nhiên, pháp luật lại không có quy định một cách rõ ràng

những sự kiện nào là sự kiện bất khả kháng Trong thực tế các sự kiện này rất

đa dạng, ví dụ: những hiện tượng thiên nhiên như bão lũ, động đất, …; chiến tranh; bạo loạn của dân chúng; đình công; … Theo quy định tại khoản 2 Điều

351 BLDS 2015 thì trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thể thực hiện

được nghĩa vụ dân sự do sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác Điều 294 khoản 1 điểm b LTM 2005 cũng quy định khi xảy ra sự kiện bất khả kháng, bên vi phạm HĐTD được miễn trách nhiệm

Về nguyên tắc chung thì một bên không chịu trách nhiệm về việc

không thực hiện bất kỳ một nghĩa vụ nào đó của họ nếu chứng minh được rằng việc không thực hiện ấy là do một cản trở nằm ngoài sự sự kiểm soát của

họ và người ta không thể chờ đợi một cách hợp lý rằng họ phải tính tới trở

ngại đó vào lúc ký kết HĐTD Như vậy, bất khả kháng là căn cứ miễn trách nhiệm do vi phạm HĐTD nhưng từ nội dung trên có thể suy ra đây là trường

hợp bất khả kháng vì theo pháp luật và thực tiễn giải quyết tranh chấp thì bất khả kháng được hiểu là hiện tượng khách quan mà các bên không lường trước

Trang 35

được, không khắc phục được LTM 2005 có quy định về nghĩa vụ thông báo của bên bị vi phạm Theo đó, bên vi phạm HĐTD phải thông báo ngay bằng văn bản cho bên kia về trường hợp được miễn trách nhiệm và những hậu quả

có thể xảy ra (Điều 295 LTM 2005) Tuy nhiên, BLDS 2015 lại không có quy định về nghĩa vụ thông báo của người vi phạm HĐTD Sự thiếu sót này có thể dẫn đến việc bên bị vi phạm HĐTD sẽ gặp phải những thiệt hại lớn hơn, trong khi đó bên vi phạm lại được miễn trách nhiệm, điều đó sẽ là không công bằng đối với bên bị vi phạm Ngoài ra, việc miễn trách nhiệm do sự kiện bất khả kháng sẽ không được đặt ra nếu như các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác Ví dụ như trong HĐTD các bên đã thỏa thuận rõ ràng rằng, bên vi phạm HĐTD sẽ vẫn phải chịu trách nhiệm đối với hành vi vi phạm HĐTD của mình cả trong trường hợp bất khả kháng Tuy vậy, những thỏa thuận như vậy là rất ít hoặc gần như không có bởi bản thân sự thỏa thuận

đã cho thấy rõ tình thế bất lợi của một bên giao kết HĐTD, hoặc có thỏa

thuận như vậy và khi có tranh chấp thì thỏa thuận này vẫn có nguy cơ bị tuyên

vô hiệu- do thỏa thuận trái quy định của pháp luật Thực tiễn ở Việt Nam trong các HĐTD đều quy định về căn cứ này, tuy nhiên cũng chỉ quy định

chung chung theo quy định của pháp luật

Căn cứ miễn trách nhiệm do lỗi của bên vi phạm

Việc không thực hiện hay thực hiện không đúng nghĩa vụ HĐTD là do hành vi hay sơ suất của bên bị vi phạm thì bên vi phạm sẽ được miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm đó Hay nói cách khác bên vi phạm HĐTD sẽ không phải chịu trách nhiệm nếu như việc vi phạm đó hoàn toàn do lỗi của bên có quyền

Luật Thương mại không quy định lỗi của bên bị thiệt hại là căn cứ miễn trừ trách nhiệm do không thực hiện hay thực hiện không đúng HĐTD Tuy nhiên, nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề không trách nhiệm này, các

Ngày đăng: 29/06/2020, 22:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w