Vì vậy, nhu cầu cấp thiết đặt ra là cần có nghiên cứu sâu, toàn diện về nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả của Hải quan đáp ứng nhu cầu
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ VĂN NHUẬN
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CHỐNG BUÔN LẬU, GIAN LẬN THƯƠNG MẠI VÀ HÀNG GIẢ TỪ THỰC TIỄN CỦA LỰC LƯỢNG HẢI QUAN CÁC TỈNH VÙNG TÂY NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SỸ:
LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
Hà Nội, năm 2019
Đắk Lắk, tháng 5 năm 2019
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ VĂN NHUẬN
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CHỐNG BUÔN LẬU, GIAN LẬN THƯƠNG MẠI VÀ HÀNG GIẢ TỪ THỰC TIỄN CỦA LỰC LƯỢNG HẢI QUAN CÁC TỈNH VÙNG TÂY NGUYÊN
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 8.38.01.02
LUẬN VĂN THẠC SỸ:
LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS BÙI NGUYÊN KHÁNH
Hà Nội, năm 2019
Đắk Lắk, tháng 5 năm 2019
Trang 3MỤC LỤC
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ
MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ
NƯỚC VỀ CHỐNG BUÔN LẬU, GIAN LẬN THƯƠNG MẠI VÀ
HÀNG GIẢ TRONG LĨNH VỰC HẢI QUAN
1.1 Khái niệm về quản lý Nhà nước về chống buôn lậu, gian lận thương
mại và hàng giả trong lĩnh vực Hải quan
1.2 Các biện pháp quản lý nhà nước về chống buôn lậu, gian lận
thương mại và hàng giả trong lĩnh vực Hải quan
1.3 Kinh nghiệm của một số Hải quan địa phương và quốc tế
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CHỐNG
BUÔN LÂU, GIAN LẬN THƯƠNG MẠI VÀ HÀNG GIẢ CỦA
LỰC LƯỢNG HẢI QUAN CÁC TỈNH VÙNG TÂY NGUYÊN
2.1 Chức năng nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của Cục Hải quan Đắk
Lắk, Cục Hải quan Gia Lai-Kon Tum
2.2 Kết quả công tác quản lý nhà nước về chống buôn lậu, gian lận thương
mại và hàng giả của Hải quan các tỉnh vùng Tây Nguyên
2.3 Những hạn chế và nguyên nhân chủ yếu
Trang 4CHƯƠNG 3 PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CHỐNG BUÔN LẬU, GIAN LẬN
THƯƠNG MẠI VÀ HÀNG GIẢ CỦA LỰC LƯỢNG HẢI QUAN
CÁC TỈNH VÙNG TÂY NGUYÊN
3.1 Các quan điểm về tăng cường quản lý nhà nước trong lĩnh vực hải
quan
3.2 Các nhóm giải pháp tăng cường công tác quản lý nhà nước về
chống buôn lậu, gian lân thương mại và hàng giả của hải quan các tỉnh
Trang 5Điều tra chống buôn lậu Giám sát quản lý
Tổ chức Hải quan thế giới
Tổ chức Thương mại thế giới
DANH MỤC HÌNH VẼ
Trang Hình 2.1 Mô hình tổ chức bộ máy Cục Hải quan
Đắk Lắk – Gia Lai Kon Tum 39
Trang 6Thời gian qua, các Cục Hải quan địa phương đã có nhận thức nhất định
về cải cách thủ tục hành chính, hiện đại hóa hải quan nhằm tạo thuận lợi cho thương mại quốc tế, thực hiện phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả Tuy nhiên, mức độ thực hiện của các Cục Hải quan địa phương chưa đồng đều tùy thuộc vào địa bàn và sự phối hợp giữa các cơ quan của các
bộ, ngành, cơ quan chức năng của Việt Nam, cũng như giữa Hải quan Việt Nam với Hải quan các nước có đường biên giới chung Vì vậy, nhu cầu cấp thiết đặt ra là cần có nghiên cứu sâu, toàn diện về nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả của Hải quan đáp ứng nhu cầu hiện đại hóa, hội nhập nhất là trong bối cảnh thế giới bước vào cuộc cách mạng 4.0 Cục Hải quan Đắk Lắk và Cục Hải quan Gia Lai – Kon Tum được giao nhiệm vụ quản lý nhà nước về hải quan trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên cần có những bước tiến mới để thực hiện chức năng kiểm
Trang 72
soát và quản lý hàng hoá xuất nhập khẩu, phòng, chống buôn lậu, gian lận
thương mại và hàng giả được tốt và hiệu quả hơn Luận văn “Quản lý nhà
nước về chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả từ thực tiễn của lực lượng hải quan các tỉnh vùng Tây Nguyên” được tác giả chọn nhằm đưa
ra các giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, sản phẩm nghiên cứu có tác động không chỉ đơn lẻ đối với hoạt động của Cục Hải quan Đắk Lắk, Cục Hải quan Gia Lai – Kon Tum mà có tác dụng làm cơ sở để tham mưu, đề xuất với Tổng cục Hải quan, giúp Tổng cục Hải quan hoàn thiện cơ chế quản lý nhà nước về hải quan trong phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả đáp ứng nhu cầu hiện đại hóa và hội nhập quốc tế
2 Tình hình nghiên cứu
Trong nước hiện có đề tài nghiên cứu cấp Bộ nghiên cứu về ”Nâng cao
hiệu quả quản lý hàng hóa xuất nhập khẩu qua biên giới Việt – Trung” của
TS Nguyễn Đức Nga, nguyên Cục trưởng Cục Giám sát quản lý về Hải quan,
đề tài “Phối hợp quản lý biên giới trong bối cảnh tạo thuận lợi thương mại
quốc tế - thực trạng và giải pháp” của Thạc sỹ Vũ Hồng Loan – nguyên Viện
trưởng Viện Nghiên cứu Hải quan, đề tài “Nâng cao hiệu quả quản lý trước
thông quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu” của Thạc sỹ Nguyễn Hữu Trí
– nguyên trưởng phòng Nghiên cứu khoa học, Viện Nghiên cứu Hải quan, đề tài “Giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý chuyên
ngành đối với hàng hóa xuất nhập khẩu đáp ứng yêu cầu cải cách hiện đại hóa hải quan” của TS Ngô Minh Hải, Phó cục trưởng Cục Giám sát quản lý
hải quan, và một số đề tài cấp ngành của cán bộ, công chức Hải quan như đề
tài: “Những giải pháp nâng cao hiệu quả công tác phòng chống và kiểm
soát ma túy qua biên giới đường bộ các tỉnh miền Trung của lực lượng Hải quan” do ông Trần Công Chuẩn – nguyên Cục ĐTCBL làm chủ nhiệm;
“Giải pháp nâng cao hiệu quả phòng chống buôn lậu, vận chuyển trái
Trang 83
phép hàng hóa qua biên giới ở các cửa khẩu hàng không quốc tế” do ông
Nguyễn Phi Hùng – Cục trưởng Cục ĐTCBL làm chủ nhiệm…
Với cách tiếp cận là làm sáng tỏ những vấn đề mang tính lý luận như: các phương thức, hành vi buôn bán, vận chuyển; đặc điểm địa hình nơi diễn ra hoạt động đấu tranh phòng chống buôn lậu, gian lận thương mại; những vấn
đề mang tính pháp lý của hoạt động phòng, chống buôn lậu, các giải pháp và
đề xuất kiến nghị trong tình hình buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả ngày càng gia tăng…nên các đề tài nghiên cứu trên có ý nghĩa quan trọng trong việc cung cấp thêm những thông tin, luận cứ khoa học cần thiết để tác giả thực hiện các mục tiêu nghiên cứu được đề ra của luận văn
Tuy nhiên đó là các đề tài có phạm vi nghiên cứu ở cấp toàn quốc nên
cũng chưa có những giải pháp cụ thể cho từng địa phương Đề tài “Quản lý
nhà nước về chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả từ thực tiễn của lực lượng hải quan các tỉnh vùng Tây Nguyên” là đề tài mới, trong
nước chưa có một đơn vị nào nghiên cứu
3 Mục dích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về quản lý nhà nước về chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả, phân tích đánh giá thực trạng chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả từ thực tiễn của lực lượng hải quan các tỉnh vùng Tây Nguyên và từ đó đề xuất phương hướng, giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả của lực lượng Hải quan các tỉnh vùng Tây Nguyên trong thời gian tới
Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện các mục đích nghiên cứu trên Luận văn có nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau:
Trang 9- Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả ở nước ta hiện nay;
- Phân tích, đánh giá thực tiễn chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả của lực lượng hải quan các tỉnh Tây Nguyên;
- Đề xuất các phương hướng, giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả của lực lượng hải quan các tỉnh vùng Tây Nguyên trong thời gian tới
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các văn bản pháp lý quốc tế và Việt Nam, của 5 tỉnh khu vực Tây Nguyên liên quan đến công tác quản lý nhà nước về hải quan; vai trò và hoạt động của Hải quan trong chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả; mối quan hệ giữa Hải quan với các cơ quan trong nước và quốc tế
Phạm vi nghiên cứu chủ yếu đề cập, tập trung phân tích các hoạt động của Cục Hải quan Đắk Lắk, Cục Hải quan Gia Lai – Kon Tum trong phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả từ thực tiễn của lực lượng hải quan các tỉnh khu vực Tây Nguyên trong khoảng thời gian từ 2013 đến
Trang 105
xem xét, đánh giá từng vấn đề trong thời điểm cụ thể Đồng thời dựa trên quan điểm, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của nhà nước về
những vấn đề liên quan
- Phương pháp nghiên cứu:
Các phương pháp cụ thể sử dụng trong quá trình nghiên cứu là phương pháp thu thập dữ liệu kết hợp với phương pháp phân tích và tổng hợp
Phương pháp thu thập số liệu: Dữ liệu được thu thập từ các văn bản quy
phạm pháp luật, sách, giáo trình, các công trình khoa học, tạp chí chuyên ngành liên quan đến quản lý nhà nước về chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả … có giá trị trong việc đưa ra những dẫn chứng rõ ràng, đảm bảo tính logic, thuyết phục cho luận văn cũng như đáp ứng tính thực tiễn
Phương pháp luật so sánh: được Luận văn sử dụng để làm rõ kinh
nghiệm điều chỉnh nghiệm quốc tế về quản lý nhà nước về hải quan trong chống buôn lậu và gian lận thương mại và hàng giả của một số quốc gia trên thế giới và đề xuất cho Việt Nam
Phương pháp phân tích: Dựa trên những số liệu và thông tin đã thu
thập được trong phương pháp thu thập số liệu, tác giả tiến hành hệ thống hóa những dữ liệu nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu đặt ra, phân tích, đánh giá các nội dung của quản lý nhà nước về chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả của lực lượng hải quan hiện nay ở Việt Nam
Phương pháp tổng hợp: Từ những kết quả nghiên cứu, Luận văn đã sử
dụng phương pháp này để đánh giá thực tiễn chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả của các lực lượng hải quan các tỉnh Tây Nguyên (trong thời gian từ 2013 đến 2018) và qua đó đề xuất các phương hướng, giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả của lực lượng hải quan ở Việt Nam trong thời gian tới
Trang 116
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Ý ngh̃a lý luận: Luận văn hệ thống hóa về cơ sở lý luận và pháp lý về
quản lý nhà nước trong công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả trong lĩnh vực hải quan
Ý ngh̃a thực tiễn: Đưa ra cách giải quyết nhiệm vụ thực tiễn quản lý
nhà nước về Hải quan trên địa bàn trong công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả qua biên giới một cách có hệ thống, hiệu quả và chủ động Làm lành mạnh hoá các quan hệ kinh tế trong cả đầu tư, sản xuất, kinh doanh thương mại, thu hút đầu tư nước ngoài, khuyến khích sản xuất
Hiệu quả xã hội: Tạo lên sự công bằng trong các hoạt động thương mại
quốc tế; bảo vệ lợi ích hợp pháp cho doanh nghiệp, nhà sản xuất, nhà đầu tư, doanh nghiệp, quyền lợi của người tiêu dùng, đảm bảo nguồn thu ngân sách góp phần công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
7 Bố cục của Luận văn
Ngoài mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được kết cấu thành 3 chương
Chương 1 Những vấn đề lý luận về quản lý nhà nước về chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả trong lĩnh vực Hải quan
Chương 2 Thực trạng quản lý nhà nước về chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả của lực lượng Hải quan các tỉnh vùng Tây Nguyên Chương 3 Phương hướng, giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả của lực lượng Hải quan các tỉnh vùng Tây Nguyên
Trang 127
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ CHỐNG BUÔN LẬU, GIAN LẬN THƯƠNG MẠI VÀ
HÀNG GIẢ TRONG LĨNH VỰC HẢI QUAN
1.1 Khái niệm quản lý Nhà nước về chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả trong lĩnh vực Hải quan
1.1.1 Khái niệm buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả trong lĩnh vực hải quan
1.1.1.1 Khái niệm buôn lậu, gian lận thương mại
Thuật ngữ buôn lậu hiện nay được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau Xét theo khía cạnh khoa học ngôn ngữ thì cụm từ buôn lậu có nghĩa là buôn bán hàng hóa trốn thuế và hàng cấm (từ điển tiếng Việt) Xét từ góc độ khoa học pháp lý, thuật ngữ buôn lậu được hiểu phức tạp hơn, nó không bao hàm phản ánh một thông tin rành mạch mà phải đặt vào tình huống hay ngữ cảnh cụ thể
mà nó mới được hiểu một cách chính xác phù hợp với tình huống hay ngữ cảnh đó
Buôn lậu là hành vi buôn bán trái phép qua biên giới những loại hàng hóa hoặc tiền tệ, kim khí quý và đá quý, những vật phẩm có giá trị lịch sử, văn hóa mà Nhà nước cấm xuất khẩu hay nhập khẩu hoặc buôn bán hàng hóa nói chung qua biên giới mà trốn thuế và trốn sự kiểm tra của cơ quan Hải quan Tại Việt Nam, tội buôn lậu được quy định tại Điều 188, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
Để chống buôn lậu người ta sử dụng nhiều biện pháp khác nhau, trong
đó có hàng rào thuế quan Ở mỗi quốc gia khác nhau có hàng rào thuế quan khác nhau, do vậy có những mặt hàng buôn lậu khác nhau Tuy nhiên cũng có
sự giống nhau về một số mặt hàng và thủ đoạn buôn lậu của gian thương
Trang 13Gian lận thương mại là một hiện tượng mang tính lịch sử, chỉ khi có sản xuất hàng hóa, các sản phẩm được mang ra trao đổi trên thị trường, có người mua, người bán nhằm thực hiện phần giá trị được kết tinh trong hàng hóa thì gian lận thương mại cũng mới xuất hiện Sản xuất hàng hóa ngày càng phát triển, thị trường ngày càng mở rộng, các sản phẩm đưa ra trao đổi, buôn bán trên thị trường ngày càng nhiều, tiêu chuẩn và chủng loại hàng hóa ngày càng
đa dạng, phong phú thì gian lận thương mại cũng ngày càng phức tạp và tinh
vi hơn Ngày nay, mặc dù người ta khó có thể tiến hành xã hội hóa toàn cầu nhưng toàn cầu hóa về kinh tế lại là một quá trình tất yếu khách quan dẫn đến gian lận thương mại mang tính toàn cầu trên cơ sở sự khác biệt các Nhà nước, quốc gia độc lập
Gian lận thương mại ở Việt nam không phải là vấn đề mới, từ xa xưa, ông cha ta đã đúc kết hành vi gian lận thương mại thành câu: "Buôn gian, bán lận" để chỉ những mặt trái của việc buôn bán, để mọi người cảnh giác với thủ đoạn,mánh khóe,lừa dối khách hàng của các gian thương Hiện nay chúng ta đang phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước Chấp nhận cơ chế thị trường tất yếu phải chấp nhận cạnh tranh Cạnh tranh là động lực để phát triển Nguyên nhân
Trang 149
và động cơ cuối cùng của cạnh tranh là lợi nhuận Trong cạnh tranh chắc chắn
sẽ xuất hiện hình thức và thủ đoạn gian lận thương mại phức tạp và tinh vi thể hiện ở các hành vi trốn thuế, lẩn tránh sự kiểm soát của Nhà nước, buôn lậu, lừa đảo, hối lộ, lấy cắp bí mật sản xuất, cạnh tranh tiêu cực phi kinh tế như vậy, có thể thấy mục đích hành vi gian lận trong lĩnh vực thương mại nhằm thu được lợi nhuận không chính đáng
Ở nước ta hiện nay chưa có một văn bản pháp luật nào đề cập một cách đầy đủ khái niệm về gian lận thương mại cũng như gian lận thương mại trong lĩnh vực Hải quan Tuy nhiên, từ việc khảo sát các tài liệu của Tổ chức Hải Quan thế giới (World Customs Organization-WCO) cho phép đi đến một số kết luận sau:
- Khác với gian lận thương mại nói chung, gian lận thương mại trong lĩnh vực Hải quan là những hành vi gian lận nhằm trốn tránh việc kiểm soát của cơ quan Hải quan để trốn thuế xuất nhập khẩu
- Việc xác định khái niệm gian lận thương mại trong lĩnh vực Hải quan
đã được Hội đồng hợp tác Hải quan quốc tế (nay là tổ chức Hải quan thế giới World Customs Organization-WCO) thảo luận nhiều lần Ngày 9/6/1977, các
nước thành viên họp tại Nairobi (CH Kenya) đã đưa ra định nghĩa: "gian lận
thương mại trong l̃nh vực Hải quan là hành vi vi phạm pháp luật Hải quan, lừa dối Hải quan để lẩn tránh một phần hoặc toàn bộ việc nộp thuế xuất nhập khẩu, vi phạm các biện pháp cấm hoặc hạn chế do luật pháp Hải quan quy định, để thu được một khoản lợi nào đó qua việc vi phạm pháp luật này”
Hiện nay trong xu thế toàn cầu hóa, thương mại quốc tế ngày càng phát triển, gian lận thương mại ngày càng phức tạp và tinh vi hơn Vì vậy, tại Hội nghị quốc tế lần thứ V về chống gian lận thương mại trong lĩnh vực Hải quan
do WCO triệu tập tại Brussels, Bỉ ngày 9/10/1995 đã thống nhất đưa ra một
định nghĩa mới như sau: "Gian lận thương mại trong l̃nh vực Hải quan là
Trang 1510
hành vi vi phạm các điều khoản pháp qui hoặc pháp luật Hải quan nhằm trốn tránh hoặc cố ý trốn tránh nộp thuế Hải quan, phí và các khoản thu khác đối với việc di chuyển hàng hóa thương mại hoặc nhận và có ý định nhận việc hoàn trả trợ cấp hoặc phụ cấp cho hàng hóa không thuộc đối tượng đó hoặc đạt được hoặc cố ý đạt được lợi thế thương mại bất hợp pháp gây hại cho các nguyên tắc và tập tục cạnh tranh thương mại chân chính" Hội nghị cũng đã
phân tích, tổng hợp, đúc kết và liệt kê 16 loại hành vi gian lận thương mại chủ yếu cụ thể 1:
1- Buôn lậu hàng hóa qua biên giới hoặc ra khỏi kho Hải quan
2- Khai báo sai
3- Khai tăng, giảm giá trị hàng hóa
4- Lợi dụng chế độ ưu đãi xuất xứ (kể cả chế độ hạn ngạch thuế )
5- Lợi dụng chế độ ưu đãi hàng gia công
6- Lợi dụng chế độ tạm nhập tái xuất
7- Lợi dụng yêu cầu về giấy phép xuất nhập khẩu (qua thỏa thuận lợi dụng giấy phép nhập hàng dệt cho trang bị quân đội để nhập hàng dệt nói chung)
8- Lợi dụng chế độ quá cảnh (mang hàng hóa quá cảnh để tiêu dùng ở nước hàng đi qua )
9- Khai sai về số lượng, trọng lượng, chất lượng hàng hóa
10- Lợi dụng chế độ mục đích sử dụng, kể cả buôn bán trái phép hàng được ưu đãi thuế (Lợi dụng sự ưu đãi của Chính phủ về thuế xuất khẩu dành cho những đối tượng sử dụng nhất định )
11- Vi phạm đạo luật về diễn giải thương mại hoặc quy định về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
1 Theo tài liệu số 36 623 ngày 28/5/1995 của Hội nghị Quốc tế lần thứ V về chống gian lận thương mại do WCO họp tại Brussels (Vương Quốc Bỉ)
Trang 1611
12- Sản xuất và lưu thông hàng giả, hàng ăn cắp mẫu mã
13- Hàng giao dịch buôn bán không có sổ sách
14- Yêu cầu giả, khống việc hoàn hoặc truy hoàn thuế Hải quan (kể cả làm chứng từ giả về hàng đã xuất khẩu)
15- Kinh doanh "ma", đăng ký kinh doanh lậu liễm nhằm hưởng tín dụng trái phép
16- Thanh lý có chủ đích (nghĩa là thành lập Công ty kinh doanh một thời gian ngắn, để nợ thuế, khi số tiền nợ thuế lên cao thì tuyên bố thanh lý để tránh nộp thuế, giám đốc Công ty đó thành lập Công ty mới ngay sau đó với cùng ý định Loại gian lận này còn được gọi là " Hội chứng phượng hoàng") Ngoài ra, gian lận thương mại còn biểu hiện trong việc chuyển tải hàng hóa Đó là việc thông qua một nước thứ 3 để che dấu nguồn gốc thực sự của hàng hóa nhằm che mắt Hải quan nước nhập khẩu Trong trường hợp này, nước thứ 3 là nước cung cấp tài liệu giả hoặc dùng các thủ đoạn thay đổi nguồn gốc hàng từ nước xuất khẩu sang nước quá cảnh Đến khi hàng được nhập vào nước nhập khẩu sẽ tránh được các quy định hạn chế mặt hàng của nước nhập khẩu như: hạn ngạch, chế độ ưu đãi, bản quyền sản xuất
Trên cơ sở đó với thực tiễn ở Việt Nam, khái niệm gian lận thương mại
được biết đến như sau: "Gian lận thương mại trong l̃nh vực Hải quan là hành
vi gian lận các luồng sản phẩm xuất nhập khẩu bằng cách lợi dụng sơ hở của luật pháp, chính sách và quản lý của các cơ quan Nhà nước để lẩn tránh việc kiểm tra kiểm soát của Hải quan nhằm trốn tránh ngh̃a vụ đối với Nhà nước
và thu lợi bất chính cho riêng mình"
1.1.1.2 Sự khác nhau giữa buôn lậu và gian lận thương mại
Căn cứ vào Điều 188 Bộ luật hình sự 2015 có thể, rút ra khái niệm buôn lậu là hành vi buôn bán qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa
Trang 17- Gian lận thương mại thực chất đó là tiến hành hoạt động xuất nhập khẩu có phép tắc, công khai đến cơ quan Hải quan để làm thủ tục (khai báo, kiểm tra, nộp thuế) và công khai, hợp pháp đưa hàng hóa qua cửa khẩu Nhưng lợi dụng những kẽ hở để khai báo gian dối như về mẫu mã,về số lượng, về chất lượng nhằm đạt được kết quả cuối cùng là gian lận về mức thuế phải nộp Hành vi này có khi chỉ là thủ đoạn riêng của chủ hàng khi có
sự tiếp tay của một số nhân viên Hải quan biến chất;
- Buôn lậu là hành vi lén lút đưa hàng hóa xuất nhập khẩu qua biên giới trốn tránh hoặc chống lại sự kiểm tra, kiểm soát của Hải quan bằng cách không đi qua cửa khẩu, hoặc tuy có đi qua cửa khẩu nhưng dùng thủ đoạn bí mật bất hợp pháp như trà trộn hàng lậu trong các hàng hóa khác có làm thủ tục, cấu tạo chỗ bí mật để giấu hàng lậu để che dấu hàng hóa, trốn tránh, chống lại sự kiểm tra của Hải quan, nhằm đạt được lợi ích cuối cùng là thu được lợi nhuận thặng dư siêu ngạch Hành vi buôn lậu có khi chỉ có giá trị nhỏ, nhưng hầu hết phải do những tổ chức bất hợp pháp có đường dây bất hợp pháp qua biên giới, có khi xuyên quốc gia thực hiện
Vấn đề đặt ra là ở Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới, hai khái niệm này chưa được phân định rõ ràng Nhiều nước coi buôn lậu cũng là hành
vi gian lận thương mại Tổ chức Hải quan Thế giới tại Hội nghị lần thứ 5 về chống gian lận thương mại đã xếp buôn lậu vào một trong những hình thức gian lận thương mại nhưng coi đó là loại hình gian lận thương mại đặc biệt nguy hiểm
Trang 1813
Theo pháp luật Việt Nam, gian lận thương mại không phải là một tội danh trong Bộ luật hình sự 2015, nhưng các biểu hiện đặc trưng của nó lại trùng hợp với tội buôn lậu, một bộ phận của gian lận thương mại là buôn lậu
và buôn lậu bao gồm cả gian lận thương mại Hai khái niệm này thường đi đôi, gắn liền với nhau trong tiềm thức xã hội, chúng có phần giao thoa với nhau nhưng không bao hàm tất cả Đặc biệt là gian lận thương mại, ngoài buôn lậu, gian lận thương mại còn bao gồm nhiều yếu tố khác như: buôn bán hàng giả, ăn cắp mẫu mã, khai báo sai về số lượng, chất lượng hàng hóa
Sự khác nhau cơ bản giữa gian lận thương mại và buôn lậu là buôn lậu trước hết là hành vi gian lận thương mại nhưng ở mức cao hơn, tính chất phức tạp và nghiêm trọng hơn Nó là trường hợp đặc biệt của gian lận thương mại
- Về bản chất của những kẻ buôn lậu là mạo hiểm, sử dụng "cơ bắp" và các phương tiện cần thiết để đưa hàng qua biên giới
- Bản chất của gian lận thương mại là "cơ mưu, trí não" lợi dụng sự sơ
hở, không rõ ràng, không chính xác khoa học và đầy đủ của luật pháp, chính sách của các cơ quan quản lý chức năng để thực hiện hành vi gian dối, lừa gạt qua cửa khẩu một cách công khai nhằm thu lợi bất chính Phạm vi của khái niệm gian lận thương mại rộng hơn khái niệm buôn lậu
- Nếu xếp ở mức độ nguy hiểm đối với nền kinh tế thì hành vi buôn lậu mang ảnh hưởng nghiêm trọng hơn nhiều;
- Nếu xét ở khía cạnh xử lý thì xử lý gian lận thương mại trong lĩnh vực Hải quan khó khăn hơn và khung hình phạt nhẹ hơn;
- Nếu xét ở góc độ nhận biết thì buôn lậu dễ nhận thấy hơn còn gian lận thương mại thông thường núp dưới những vỏ bọc hợp pháp
Có thể nói, buôn lậu trước hết là hành vi gian lận thương mại trong lĩnh vực Hải quan có mức độ nguy hiểm cho xã hội đáng kể Điều đó có nghĩa là hành vi khách quan và hàng hóa gian lận thương mại phải ở mức bị coi là
Trang 1914
nguy hiểm đáng kể, phải xử lý hình sự (về tội buôn lậu) Dưới mức đó thì bị coi là gian lận thương mại nguy hiểm chưa đáng kể và chỉ bị xử lý hành chính
1.1.1.3 Khái niệm hàng giả
Khái niệm hàng giả theo quy định của pháp luật Việt Nam tại Nghị định
số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của Chính phủ, hàng giả gồm các loại sau:
- Hàng hóa không có giá trị sử dụng, công dụng; có giá trị sử dụng, công dụng không đúng với nguồn gốc bản chất tự nhiên, tên gọi của hàng hóa; có giá trị sử dụng, công dụng không đúng với giá trị sử dụng, công dụng đã công
bố hoặc đăng ký;
- Hàng hóa có hàm lượng định lượng chất chính hoặc trong các chất dinh dưỡng hoặc đặc tính kỹ thuật cơ bản khác chỉ đạt mức từ 70% trở xuống so với tiêu chuẩn chất lượng hoặc quy chuẩn kỹ thuật đã đăng ký, công bố áp dụng hoặc ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa;
- Thuốc phòng bệnh, chữa bệnh cho người, vật nuôi không có dược chất;
có dược chất nhưng không đúng với hàm lượng đã đăng ký; không đủ loại dược chất đã đăng ký; có dược chất khác với dược chất ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa
- Thuốc bảo vệ thực vật không có hoạt chất; hàm lượng hoạt chất chỉ đạt
từ 70% trở xuống so với tiêu chuẩn chất lượng, quy chuẩn kỹ thuật đã đăng
ký, công bố áp dụng; không đủ loại hoạt chất đã đăng ký; có hoạt chất khác với hoạt chất ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa;
- Hàng hóa có nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa giả mạo tên thương nhân, địa chỉ của thương nhân khác; giả mạo tên thương mại hoặc tên thương phẩm hàng hóa; giả mạo mã số đăng ký lưu hành, mã vạch hoặc giả mạo bao bì hàng hóa của thương nhân khác;
Trang 20- Tem, nhãn, bao bì giả
1.1.2 Mục tiêu, nội dung quản lý Nhà nước về chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả trong lĩnh vực Hải quan
1.1.2.1 Khái niệm Hải quan
Lịch sử ghi nhận trong xã hội nguyên thuỷ khi chưa có công quyền thì
không có hải quan Trong quá trình lao động, con người dần dần tích luỹ được kinh nghiệm, cải tiến công cụ lao động và tạo ra của cải ngày càng nhiều, trở nên giàu có hơn Những người giàu có nhất thoát ly lao động chân tay, xây dựng quyền lực tạo nên “công quyền” và đặt ra các khoản thuế cho người lao động Một số người khác không tham gia lao động sản xuất trực tiếp mà thực hiện buôn bán sản phẩm từ nơi này qua nơi khác Việc buôn bán vượt quá lãnh địa của nhà nước quản lý tạo nên thương mại quốc tế và xuất hiện thuế đánh vào các sản phẩm được mua đi bán lại này Lực lượng thực hiện nhiệm
vụ kiểm soát, thu thuế đối với các sản phẩm được đưa ra, đưa vào lãnh địa do
nhà nước quản lý được gọi là Hải quan
Theo Tổ chức Hải quan Thế giới: Hải quan được hiểu là cơ quan của
Chính phủ có trách nhiệm thi hành Luật Hải quan, thu thuế hải quan và thuế khác, đồng thời cũng có trách nhiệm thi hành các luật lệ khác có liên quan đến nhập khẩu, xuất khẩu hay lưu kho hàng hóa 2
Quy trình Hiện đại hoá hải quan quốc tế (ICMP) của Mike Lane3 đặt nền móng cho hoạt động hải quan đạt hiệu quả cao nhất trên cơ sở thực hiện những nhiệm vụ cơ bản của hải quan trong nền kinh tế hiện đại và hội nhập cụ
2 Theo Công ước Kyoto sửa đổi 1999
3 Lane, Michael Hiện đại hóa hải quan và con đường thương mại quốc tế Quorum Books: Westport,
Connecticut 1998
Trang 2116
thể như sau:
- Thu thuế nhập khẩu và các loại thuế khác;
- Chống lại việc buôn lậu chất gây nghiện và các tệ nạn buôn lậu khác;
- Đóng góp vào chiến dịch chống tội phạm quốc tế;
- Ngăn cấm việc nhập khẩu các loại hàng hóa gây nguy hiểm cho sức khoẻ, sự an toàn của con người và môi trường;
- Tạo điều kiện cho các hoạt động thương mại, du lịch, từ đó thúc đẩy đầu tư và phát triển kinh tế;
- Tăng cường hệ thống xử lý hải quan đồng bộ và minh bạch trên toàn thế giới
Phù hợp với thông lệ quốc tế, Điều 12, Luật Hải quan số 54/2014/QH13
có quy định nhiệm vụ của Hải quan: “Thực hiện kiểm tra, giám sát hàng hóa,
phương tiện vận tải; phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới; tổ chức thực hiện pháp luật về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; thống kê hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan; kiến nghị chủ trương, biện pháp quản lý nhà nước về hải quan đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh và chính sách thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu”
Để quản lý một cách hiệu quả, hải quan phải xây dựng và thực hiện các mục tiêu, các phương pháp và các hệ thống thủ tục hải quan để thực hiện tốt các nhiệm vụ nêu trên, hoàn thành tốt vai trò của cơ quan hải quan hiện đại:
- Trọng tâm hàng đầu của cơ quan hải quan chuyển hướng từ vai trò quản lý đối với hàng hóa tại thời điểm nhập khẩu sang vai trò kiểm tra sau thông quan Quyết định xử lý hàng hóa xuất nhập khẩu sẽ dựa trên cơ sở kỹ thuật quản lý rủi ro căn cứ vào quá trình chấp hành pháp luật về hải quan của mỗi doanh nghiệp Điều này đòi hỏi cơ quan hải quan phải tăng cường quan
hệ với cộng đồng doanh nghiệp nhằm tăng mức độ tin cậy vào thông tin do
Trang 2217
doanh nghiệp cung cấp và các thủ tục hải quan mà doanh nghiệp tiến hành
- Xu hướng hiện nay, các quốc gia khi đổi mới hoạt động hải quan chỉ xây dựng một cơ quan duy nhất chịu trách nhiệm về toàn bộ quá trình vận động của hàng hóa xuất nhập khẩu và hành khách phương tiện vận tải xuất nhập cảnh tại cửa khẩu Do đó cần hợp nhất các cơ quan quản lý nhà nước tại cửa khẩu thành một cơ quan hành chính duy nhất Hoặc, một số quốc gia thông qua sự phối hợp về mặt chính sách và tác nghiệp của các cơ quan này cho phép các doanh nghiệp hoàn thành mọi thủ tục hải quan thông qua cơ chế
“một cửa”
- Cơ quan hải quan tại cửa khẩu giữ vai trò chủ yếu điều phối mọi hoạt động tại cửa khẩu để bảo đảm sự phối hợp hiệu quả giữa các cơ quan khác nhau cùng chịu trách nhiệm về hoạt động của hàng hóa xuất nhập khẩu và hành khách qua phương tiện vận tải xuất nhập cảnh tại cửa khẩu Để đạt được
sự phối hợp này, đòi hỏi sự quan tâm ở cấp quốc gia, khu vực và quốc tế
- Cơ quan hải quan sẽ tăng cường sử dụng công nghệ thông tin nhằm cung cấp số liệu cho tất cả các doanh nghiệp và các đối tượng có liên quan, đồng thời nhận các thông tin về hàng hóa nhập khẩu bằng đường điện tử trước khi hàng hóa đến cửa khẩu, cập nhật thông tin kê khai hàng hóa xuất nhập khẩu trực tiếp từ doanh nghiệp, thu thuế trên mạng Điều này sẽ tạo điều kiện cho công tác điều tra chống buôn lậu, kiểm tra sau thông quan, thu thập
số liệu thống kê
- Xu hướng hiện nay, các quốc gia mở cửa hội nhập với nền kinh tế thế giới đều trở thành thành viên của các tổ chức khu vực và quốc tế Các tổ chức này có vai trò thúc đẩy sự hài hòa và đơn giản hóa các thủ tục hải quan theo các tiêu chuẩn quốc tế Mặt khác, các tổ chức này cũng đưa ra các yêu cầu về các chế độ ưu đãi thương mại, do vậy gây khó khăn trong quản lý cho hải quan, thương mại và đây là cơ hội cho những sơ hở có thể bị lợi dụng
Theo khuyến nghị của Tổ chức Hải quan thế giới (WCO), những đặc
Trang 2318
trưng cơ bản của hải quan trong nền kinh tế hiện đại và hội nhập đòi hỏi các nước thành viên phải có sự thay đổi về mặt tổ chức cho phù hợp để thực hiện một cách có hiệu quả quy trình thủ tục hải quan theo chuẩn mực quốc tế Theo đó, Tiểu ban Thủ tục hải quan của APEC bắt đầu xây dựng các cam kết nhằm hài hòa thủ tục hải quan giữa các nền kinh tế dựa trên các chuẩn mực của WCO với xuất phát điểm là những mục tiêu cụ thể về thời điểm thực hiện các chương trình nghiệp vụ hải quan thể hiện trong Kế hoạch hành động Manila, tiếp đó, đã đưa ra chương trình hành động tập thể gồm 14 mục tiêu
mà các cơ quan hải quan của các nền kinh tế thành viên cần đạt tới là:
- Hài hòa cấu trúc biểu thuế quan với Công ước HS;
- Công khai hóa các thông tin về luật pháp, quy định, chỉ dẫn hành chính
và quản lý đối với doanh nghiệp;
- Đơn giản và hài hòa thủ tục hải quan trên cơ sở Công ước Kyoto;
- Áp dụng chuẩn trao đổi dữ liệu điện tử UN/EDIFACT của Liên hiệp quốc dùng trong hành chính, thương mại và vận tải;
- Áp dụng Quy tắc Phân loại trước khi hàng đến;
- Cải tiến thủ tục hải quan về tạm nhập khẩu theo các quy định của Công ước ATA và Công ước Istanbul;
- Hài hòa các dữ liệu APEC; tiến tới việc các nền kinh tế thành viên APEC có thể trao đổi dễ dàng với nhau các dữ liệu chung về hải quan, thương mại dựa trên chuẩn chung về thương mại điện tử;
- Áp dụng kỹ thuật quản lý rủi ro để tập trung các biện pháp kiểm soát một số hàng hóa có nguy cơ rủi ro cao, tạo điều kiện thông quan tuyệt đại bộ
Trang 2419
phận hàng hóa khác;
- Áp dụng các chỉ dẫn của WCO về tạo thuận lợi thông quan hàng hóa phát chuyển nhanh, xây dựng quan hệ đối tác với Hiệp hội doanh nghiệp Phát chuyển nhanh;
- Liêm chính hải quan; - Thương mại phi giấy tờ;
1.1.2.2 Mục tiêu quản lý nhà nước trong l̃nh vực hải quan
Tạo thuận lợi tối đa cho thương mại quốc tế, nhưng đảm bảo tuân thủ pháp luật về hải quan Do đó,về phương diện thể chế cần:
Hoàn thiện hệ thống pháp luật hải quan theo hướng hiện đại, đồng bộ, tuân thủ chủ trương về cải cách thủ tục hành chính và các chuẩn mực, cam kết quốc tế; xây dựng hệ thống pháp luật Hải quan hiện đại bao gồm đầy đủ các quy định về: thủ tục hải quan, chế độ quản lý hải quan và các cơ chế tạo thuận lợi cho hoạt động thương mại, các quy định về quản lý thuế, kiểm soát biên giới, chế tài, xử lý vi phạm pháp luật và giải quyết khiếu nại, quy định quyền hạn của cơ quan hải quan tương xứng với trách nhiệm thực thi pháp luật hải quan, pháp luật thuế và pháp luật khác có liên quan
1.1.2.3 Chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước về chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả trong l̃nh vực Hải quan
Hải quan Việt Nam là tổ chức trực thuộc Bộ Tài chính, thực hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tài chính quản lý nhà nước về hải quan
và tổ chức thực thi pháp luật về hải quan trong phạm vi cả nước Trên cơ sở
đó Hải quan Việt Nam thực hiện:
- Trình Bộ trưởng Bộ Tài chính để trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định các dự án Luật, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Quốc hội; dự thảo nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; dự thảo nghị quyết, nghị định của Chính phủ; dự thảo quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về hải quan; Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình
Trang 25- Ban hành theo thẩm quyền các văn bản hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ; văn bản cá biệt theo quy định của pháp luật thuộc phạm vi quản lý của Tổng cục Hải quan
- Tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình dự án, đề án về hải quan sau khi được cấp có thẩm quyền ban hành hoặc phê duyệt
- Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo; xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật đối với hành vi vi phạm pháp luật hải quan;
- Hướng dẫn việc thực hiện pháp luật về hải quan; hỗ trợ đối tượng nộp thuế hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo quy định của pháp luật
- Thực hiện hợp tác quốc tế về hải quan theo phân công, phân cấp của
Bộ trưởng Bộ Tài chính và quy định của pháp luật và một số nhiệm vụ khác theo yêu cầu của Bộ Tài chính
Trang 26(i) Hoạt động quản lý về hải quan thông qua việc thực hiện thủ tục hải quan về kiểm tra, giám sát, kiểm soát, phòng chống buôn lậu và gian lận thương mại đối với hàng hóa XNK và thực hiện thu thuế, phí và lệ phí hải quan (thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; thuế giá trị gia tăng; thuế tiêu thụ đặc biệt; thuế ưu đãi; thuế môi trường.v.v.)
(ii) Hoạt động quản lý hành chính đối với hàng hóa XNK gồm các hình thức chủ yếu như: cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu; hạn chế xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu; quản lý hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu bằng giấy phép; chỉ định thương nhân xuất khẩu, nhập khẩu; quy định cửa khẩu nơi hàng hóa được làm thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu…
(iii) Hoạt động quản lý bằng hàng rào kỹ thuật đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu (quản lý phi thuế quan): Kiểm tra tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật; chất lượng, sản phẩm hàng hóa; kiểm tra an toàn thực phẩm; kiểm dịch động vật, thực vật, kiểm dịch y tế, an toàn, an ninh, kiểm tra nội dung văn hóa
(iv) Hoạt động phòng vệ thương mại đối với một hoặc một số nhóm hàng cụ thể, trong khoảng thời gian xác định gồm: sử dụng thuế chống bán phá giá; Thuế chống trợ cấp; Thuế tự vệ; Quản lý về tỷ giá hối đoái trong thanh toán quốc tế v.v
Trong đó các hoạt động quản lý hành chính và quản lý bằng hàng rào kỹ thuật được coi là hoạt động quản lý chuyên ngành
Trang 2712, Luật Hải quan số 54/2014/QH13, được cụ thể hoá tại quyết định 65/2015/QĐ-TTg ngày 17/12/2015 của Thủ tướng Chính phủ như đã trình bày trên
Các hoạt động dưới đây là những hoạt động chính của Hải quan thể hiện vai trò của Hải quan trong chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả:
1.2.1 Áp dụng quản lý rủi ro trong hoạt động hải quan
Quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ hải quan là việc áp dụng có hệ thống các quy định pháp luật, các quy trình, biện pháp nghiệp vụ để xác định, đánh giá và phân loại các rủi ro có tác động tiêu cực đến hiệu lực, hiệu quả quản lý hải quan, quản lý thuế, làm cơ sở để cơ quan hải quan phân bổ hợp lý nguồn lực, áp dụng hiệu quả các biện pháp quản lý hải quan, quản lý thuế Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh, phương tiện vận tải, hành lý của hành khách xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh phải được đánh giá rủi ro để áp dụng các biện pháp kiểm tra, giám sát hải quan và các biện pháp nghiệp vụ cần thiết khác ở mức độ phù hợp nhằm đảm bảo tuân thủ pháp luật hải quan, pháp luật thuế Đối với việc thực thi kiểm tra giám sát hải quan, nhờ có hoạt động quản lý rủi ro nên Hải quan có thể tập trung nguồn lực nắm bắt được những hàng hóa xuất nhập khẩu có độ rủi ro cao
1.2.2 Thực thi kiểm tra, kiểm soát hải quan, kiểm tra sau thông quan
Hải quan Việt Nam có nhiệm vụ thực hiện kiểm tra, kiểm soát hàng hoá, phương tiện vận tải; phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá
Trang 2823
qua biên giới Với nhiệm vụ này, Hải quan Việt Nam đã kiểm tra, kiểm soát các mặt hàng về trị giá, mã hàng, xuất xứ, chính sách hàng hóa và cả về nhãn mác cũng như hàng hóa có thể vi phạm quyền sở hữu trí tuệ
Hoạt động kiểm tra, kiểm soát hàng hóa xuất nhập khẩu tại cửa khẩu là hoạt động đầu tiên xác định rõ bản chất của hàng hóa xuất nhập khẩu về: Trị giá hàng hóa; Mã số hàng hóa; Xuất xứ hàng hóa; Chính sách mặt hàng Các thông tin này cung cấp cho cơ quan điều tra những mặt hàng có khả năng gian lận trong thương mại
1.2.3 Chống gian lận thương mại, hàng giả
Là đơn vị tuyến đầu, Hải quan cần có cách tiếp cận nhiều hướng trong cuộc chiến chống gian lận thương mại Thực hiện thu thập thông tin tình báo hải quan, kiểm tra sau thông quan, Hải quan Việt Nam có thể cải thiện được chất lượng kiểm soát hàng hoá nhằm đối phó với sự gia tăng nguy cơ gian lận thương mại, hàng giả
Đối với công tác quản lý nhà nước về hải quan, công tác thu thập thông tin tình báo hải quan cũng là kênh thông tin quan trọng cảnh báo cũng như cung cấp chính xác trị giá, xuất xứ hàng hóa
Hoạt động thu thập, xử lý thông tin nghiệp vụ hải quan là quá trình tổ chức thực hiện các biện pháp nghiệp vụ công khai và bí mật để thu thập thông tin, tài liệu, dữ liệu liên quan đến hàng hóa, người thực hiện xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh, quá cảnh để từ đó nghiên cứu, phân tích, đánh giá và tổng hợp mức độ rủi ro của người thực hiện xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh, quá cảnh, hỗ trợ hiệu quả quá trình quán lý hải quan, quản lý thuế
Thông tin phục vụ quản lý trong hoạt động nghiệp vụ hải quan bao gồm:
- Thông tin về người thực hiện xuất nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh;
- Thông tin về hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh, phương tiện vận tải, hành lý của hành khách xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh;
Trang 2924
- Thông tin về kết quả kiểm tra trong thông quan, kiểm tra sau thông quan, giám sát hải quan, kiểm soát hải quan, thanh tra, điều tra, xử lý vi phạm trong hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh;
- Thông tin vi phạm pháp luật Hải quan, vi phạm pháp luật thuế, vi phạm trong lĩnh vực kế toán, thống kê;
- Các thông tin khác có liên quan đến hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh
Các yếu tố cơ bản trong xử lý thông tin: Con người nhận thông tin thông qua các giác quan: âm thanh qua thính giác; hình ảnh và văn bản qua thị giác; trạng thái, nhiệt độ, cảm xúc qua xúc giác; mùi vị qua khứu giác Điều đó cho phép người ta nhận ra các đối tượng mà họ nhìn thấy, hiểu được các thông báo
mà họ đọc hoặc nghe, cảm nhận được các tín hiệu nhận được qua xúc giác và
khứu giác
1.2.3.1 Nội dung hoạt động thu thập, xử lý thông tin nghiệp vụ hải quan
Công tác thu thập, xử lý thông tin nghiệp vụ được tiến hành theo năm bước: Xác định như cầu; Thu thập thông tin; Xử lý thông tin; Cung cấp thông tin và Đánh giá hiệu quả thông tin
Trong đó việc xác định nhu cầu thu thập thông tin phải được xác định dựa vào cơ sở nhu cầu của công tác quản lý nhà nước về Hải quan, dự báo và định hướng công tác quản lý hải quan hoặc theo đề nghị trao đổi, phối hợp của các cơ quan bảo vệ pháp luật trong nước, tổ chức hải quan và thực thi pháp luật quốc tế
Sau khi xác định nhu cầu thông tin, tiến hành thu thập thông tin công khai và bí mật theo từng loại phương pháp Đối với các thông tin công khai, tiến hành thu thập các thông tin do các đơn vị nghiệp vụ cung cấp, thông tin
từ cơ sở dữ liệu ngành Hải quan và các cơ quan nhà nước khác, thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng trong và ngoài nước, tổng hợp từ nội dung các công văn, báo cáo về các nội dung có liên quan, thu thập thông tin
Trang 3025
từ các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp, Hải quan các nước và Tổ chức Hải quan quốc tế…
1.2.3.2 Đối tượng thu thập và xử lý thông tin
Để công tác quản lý trước thông quan đạt hiệu quả, công tác thu thập và
xử lý thông tin cần tập trung vào các đối tượng sau:
a) Thu thập, xử lý thông tin liên quan đến các l̃nh vực hải quan
Trên cơ sở yêu cầu, nhiệm vụ, phạm vi thẩm quyền về công tác quản lý rủi ro của ngành Hải quan trong từng thời gian, lực lượng hải quan chuyên trách các cấp cần tổ chức thu thập và làm rõ những nội dung có liên quan đến từng cấp, từng thời điểm Nội dung thông tin liên quan cần thu thập, xử lý gồm:
- Chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các văn bản pháp quy Bộ Tài chính và các Bộ, Ngành có liên quan, các văn bản hướng dẫn và quy trình nghiệp vụ Hải quan còn hiệu lực;
- Tình hình xu thế phát triển thương mại trên thế giới, khu vực cũng như tại Việt Nam, các dịch vụ logistics;
- Tình hình buôn lậu, gian lận thương mại tại các nước trong khu vực, vùng lãnh thổ và trên thế giới, phương thức, thủ đoạn hoạt động của các đối tượng;
- Tình hình vi phạm pháp Hải quan của cơ quan, tổ chức và cá nhân trong hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh nhập cảnh, quá cảnh và các
vi phạm khác liên quan đến lĩnh vực Hải quan của các cơ quan, doanh nghiệp
và các cộng đồng dân cư trong địa bàn hoạt động Hải quan;
- Tình hình và kết quả thực hiện các quy chế hợp tác giữa các ngành, các cấp trong nước và nước ngoài về lĩnh vực Hải quan, đặc biệt là hiệu quả trong động phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức về phòng, chống buôn lậu
Trang 3126
b) Thu thập, xử lý thông tin về nghiệp vụ hải quan
- Thông tin về bộ hồ sơ hải quan đối với hàng hóa, phương tiện vận tải xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh;
- Thông tin về quá trình kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan đối với hàng hóa, phương tiện vận tải xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cành;
- Thông tin về doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu, quy mô hoạt động, phạm vi ngành hàng, quá trình tuân thủ pháp luật
c) Thông tin từ Bộ, Ngành có liên quan
- Thông tin về chính sách quản lý hàng hóa sản xuất xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh và phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh thuộc lĩnh vực quản lý chuyên ngành;
- Thông tin về cấp phép hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh;
- Thông tin về xử lý vi phạm đối với tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu
d) Thông tin về tổ chức, cá nhân tham gia hoặc có liên quan đến sản xuất và hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh
- Thông tin về đăng ký, thành lập, giải thể, phá sản và tình trạng tài chính của tổ chức, cá nhân;
- Thông tin về quá trình thực hiện hoạt động sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh;
- Thông tin về quá trình tuân thủ pháp luật trong lĩnh vực hải quan, thuế, kế toán, thống kê;
- Thông tin khác có liên quan đến hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh do các tổ chức, cá nhân thực hiện
1.2.3.2 Phương pháp thu thập và xử lý thông tin
a) Nguồn thông tin cần thu thập
Trang 32cơ chế hợp tác, trao đổi thông tin
b) Phương pháp thu thập thông tin
Để công tác thu thập, xử lý thông tin đạt hiệu quả, lực lượng Hải quan cần tiến hành điều tra nghiên cứu nắm tình hình theo các phương pháp cơ bản sau:
- Kiểm tra, giám sát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, hành khách, phương tiện xuất cảnh, nhập cảnh tại cửa khẩu và địa điểm làm thủ tục Hải quan;
- Tiếp nhận thông tin về hàng hóa, hành lý của hành khách trước khi đến hoặc rời biên giới; tiếp nhận thông tin khai hải quan đối với hàng hóa, phương tiện vận tải, hành lý của hành khách;
- Cập nhật kết quả thực hiện thủ tục hải quan, kiểm tra trong thông quan, kiểm tra sau thông quan, giám sát hải quan, kiểm soát hải quan, thanh tra, điều tra, xử lý vi phạm pháp luật trong hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh;
- Kết nối chia sẻ, cập nhật, quản lý hệ thống thông tin về người thực hiện xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh; quá trình hoạt động và chấp hành pháp luật Hải quan, pháp luật thuế của người thực hiện xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh;
Trang 33- Phối hợp với các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Tài chính và các cơ quan, đơn vị thuộc các Bộ, Ngành liên quan trong việc trao đổi, cung cấp thông tin phục vụ quản lý hải quan, quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh, phương tiện vận tại xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh;
- Phối hợp trao đổi thông tin với Hải quan các nước, các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan ở nước ngoài;
- Tiếp nhận thông tin của người thực hiện xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh cung cấp theo quy định của pháp luật;
- Mua tin theo chế độ quy định;
- Thiết lập đường dây nóng qua cổng thông tin điện tử của Tổng cục Hải quan, điện thoại, thư điện tử (e-mail) để tiếp nhận các thông tin ở trong và ngoài ngành, trong nước và nước ngoài liên quan đến hoạt động buôn lậu, gian lận thương mại và các hành vi khác vi phạm pháp Luật Hải quan, pháp luật thuế;
- Thu thập, xác minh thông tin, tài liệu theo các chuyên đề nghiệp vụ hoặc để phân tích các nguy cơ vi phạm pháp Luật Hải quan, pháp luật thuế trong hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh;
- Tổng hợp, phân tích thông tin trên các báo, đài, truyền hình, thông tin điện tử của tổ chức, cá nhân và thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng khác;
- Tiến hành các biện pháp nghiệp vụ cần thiết khác theo quy định của pháp luật để thu thập thông tin liên quan đến hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh
Trang 3429
c) Yêu cầu của công tác thu thập xử lý thông tin
Để góp phần thực hiện tốt các mục tiêu trên, công tác thu thập, xử lý thông tin cần đảm bảo các yêu cầu sau:
- Công tác thu thập, xử lý thông tin phải được tổ thường xuyên, liên tục;
- Thông tin thu thập phải đảm bảo tính khách quan, toàn diện, phản ảnh đúng tình hình thực tế;
- Công tác thu thập, xử lý thông tin cần phải tập trung vào các lĩnh vực, vấn đề trọng tâm, trọng điểm mà ngành Hải quan quan tâm, phù hợp với từng giai đoạn, yêu cầu quản lý hải quan;
- Thông tin thu thập được phải được xử lý và phục vụ kịp thời các nhiệm vụ quản lý, các hoạt động nghiệp vụ thông quan, kiểm tra sau thông quan và Kiểm soát chống buôn lậu
- Phân công, phân cấp thực hiện công tác thu thập, xử lý thông tin phải phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, phạm vi thẩm quyền và năng lực của từng đơn vị và của các công chức thuộc quyền
- Các đơn vị Hải quan thuộc lực lượng Kiểm soát phải thường xuyên kiểm tra, hướng dẫn và chấn chỉnh các hoạt động thu thập, xử lý thông tin đối với từng đơn vị, cá nhân trong việc triển khai thực hiện hoạt động điều tra cơ bản đối với từng địa bàn, lĩnh vực và chuyên đề
- Gắn trách nhiệm của lãnh đạo, công chức với hiệu quả công tác thu thập, xử lý thông tin
1.2.3.4 Mục đích của hoạt động thu thập, xử lý thông tin
Mục đích của hoạt động thu thập, xử lý thông tin không chỉ nhằm xác định đối tượng đấu tranh mà còn nhằm xác định những người có thể sử dụng cho các mục đích, ý đồ nghiệp vụ Do đó, người có liên quan đến hoạt động phòng, chống buôn lậu mà lực lượng Kiểm soát Hải quan cần thu thập thông tin là những người có điều kiện cư trú, nghề nghiệp, vị trí công tác thuận lợi hoặc có quan hệ mật thiết với các hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh,
Trang 3530
nhập cảnh, quá cảnh,… có dấu hiệu liên quan hoặc nghi vấn về buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới và các hành vi vi phạm khác về pháp luật Hải quan
1.3 Kinh nghiệm của một số Hải quan địa phương và quốc tế
1.3.1 Kinh nghiệm New Zealand
Tại New Zealand, Chính phủ đã thành lập Nhóm quản lý khu vực biên giới để giám sát hoạt động của Cơ quan Hải quan và Quản lý biên giới Nhóm bao gồm lãnh đạo cấp cao của một số cơ quan như Tổng cục Hải quan, Bộ Lao động, Bộ Nội vụ, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Nông nghiệp – Lâm nghiệp
và Cơ quan Vệ sinh an toàn thực phẩm Ngoài ra, để tạo khuôn khổ pháp lý cho hoạt động hợp tác và phối hợp của các cơ quan quản lý biên giới, Chính phủ đã thông qua và đưa vào thực hiện Chiến lược cho khu vực biên giới giai đoạn 2015 – 2020 Chiến lược xác định những lĩnh vực chung mà các bộ, ngành đều quan tâm, phối hợp thực hiện như: hệ thống Một cửa thương mại, tạo thuận lợi về thủ tục xuất nhập cảnh cho hành khách kết hợp nâng cao công tác quản lý rủi ro, xác định trọng điểm có sử dụng thông tin do các bộ, ngành cung cấp
1.3.2 Kinh nghiệm thu thập và xử lý thông tin nghiệp vụ của một số nước
Việc thực hiện thu thập thông tin nghiệp vụ hải quan của các nước chủ yếu được thực hiện tại Cục chống buôn lậu và gian lận thương mại Việc thu thập thông tin nghiệp vụ hải quan được thực hiện ở cả trung ương và ở địa phương
Nguồn thông tin phục vụ quản lý rủi ro được Hải quan một số nước như Nhật Bản, Pháp, Trung Quốc xác định từ 3 nguồn chính:
(i) Nguồn cung cấp thông tin chính thống (do doanh nghiệp khai báo); (ii) Nguồn thông tin từ công tác kiểm soát, giám sát hải quan đưa lại (nguồn tin từ việc không tuân thủ pháp luật hải quan của doanh nghiệp mà hải
Trang 36và được thực hiện trên toàn bộ chuỗi cung ứng, nhiều tầng, nhiều lớp của các chủ thể quản lý, cũng như công tác thu thập thông tin quản lý của hải quan
Về cơ cấu tổ chức:
(i) Hải quan Trung Quốc Cơ cấu lực lượng tình báo chống buôn lậu -
Hải quan Trung Quốc gồm 03 cấp: Phòng tình báo thuộc Cục Chống buôn lậu – Cao uỷ Hải quan Trung Quốc, Phòng tình báo thuộc Cục Chống buôn lậu - Hải quan địa phương và đơn vị tình báo thuộc phân cục Hải quan địa phương Hiện nay cán bộ chuyên trách làm công tác tình báo của Hải quan Trung Quốc hơn 600 người Hải quan Trung Quốc cũng đã có tuỳ viên Hải quan tại
Bỉ, Hoa Kỳ, Hồng Kông Trong thời gian 2015, lực lượng tình báo của Hải quan Trung Quốc đã góp phần phát hiện và xử lý 80% vụ án trong cả nước và 90% các vụ án về ma tuý
b) Hải quan Nhật Bản Lực lượng tình báo của Hải quan Nhật được cơ
cấu theo 02 cấp: Trung ương và Hải quan vùng Tại Trung ương, đơn vị tình báo và phân tích tác nghiệp được đặt tại Hải quan Tokyo với biên chế khoảng
70 nhân viên Công tác tình báo bao gồm các lĩnh vực: Phân tích thông tin tình báo về ma tuý và vũ khí; Phân tích xu hướng; Thông tin tình báo về khủng bố và ma tuý; Gian lận thương mại và sở hữu trí tuệ Hải quan Nhật Bản có văn phòng tình báo quốc tế để thực hiện thu thập, trao đổi và xử lý các thông tin tình báo với các cơ quan Hải quan và các tổ chức thực thi pháp luật nước ngoài
Trang 3732
c) Hải quan Pháp
Hệ thống tình báo được tổ chức theo hệ thống dọc gồm 02 cấp: tại cấp Tổng cục có Cục tình báo, cấp vùng (10 Hải quan vùng) có 01 phòng tình báo/1 vùng Hệ thống tình báo của Hải quan Pháp được thành lập và hoạt động từ năm 1987 và ngày càng được cải cách và hiện đại hoá theo yêu cầu của nhiệm vụ mới Nhiều chức năng, nhiệm vụ được bổ sung, cùng với việc trao thêm nhiều quyền lực cho lực lượng này để nâng cao năng lực hoạt động tình báo Hải quan Cục tình báo thực hiện hoạt động tình báo và xác định trọng điểm theo từng lĩnh vực ở mức độ chuyên sâu và đảm nhận vai trò điều phối thống nhất toàn bộ các hoạt động kiểm tra, điều tra và chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả ở phạm vi toàn ngành, nâng cao hiệu quả hoạt động Hải quan Hải quan Pháp có hệ thống tuỳ viên Hải quan rộng khắp
1.3.3 Thoả thuận hải quan cấp tỉnh và cấp cửa khẩu của Hải quan các tỉnh biên giới Việt –Trung
Dựa trên cơ sở thoả thuận giữa Tổng cục Hải quan nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Tổng cục Hải quan nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, Hải quan biên giới giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc nhất trí triển khai hợp tác về trao đổi thông tin tình báo, hợp tác điều tra
(i) Trao đổi thông tin tình báo
Việc trao đổi thông tin tình báo được thực hiện dưới hình thức văn bản, thư điện tử, fax, điện thoại…thông qua các đầu mối liên lạc tương ứng của các bên Nội dung trao đổi liên quan cụ thể đến các lĩnh vực: Luật Hải quan, các quy định pháp lý liên quan, các chính sách về thuế, thương mại, các quy định của Hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, phương tiện, hành
lý của hành khách xuất cảnh, nhập cảnh;
- Hải quan hai bên chủ động hoặc theo yêu cầu sẽ cung cấp cho nhau những thông tin về hàng hoá nhạy cảm, có thuế suất cao, các nghi vấn vi
Trang 38và các thông tin khác có liên quan
- Hỗ trợ trao đổi, cung cấp thông tin phục vụ công tác đấu tranh chống buôn lậu và vận chuyển trái phép các chất ma tuý, tiền chất, vũ khí, chất nổ, đặc biệt là tiền giả và các phế liệu rắn qua biên giới
(ii) Hợp tác điều tra
Hải quan biên giới giữa hai nước nhất trí cao trong việc tăng cường hợp tác điều tra chống buôn lậu tại khu vực biên giới chung và áp dụng các biện pháp kiểm soát hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu qua các cửa khẩu chính thức giữa hai nước Tăng cường các hoạt động đấu tranh chống buôn lậu và hàng giả, cung cấp thông tin tài liệu cho cán bộ thực thi chống buôn lậu tại khu vực cửa khẩu trong phạm vi cho phép Hợp tác đấu tranh chống buôn lậu qua biên giới các hàng cấm như vũ khí, chất nổ, tiền giả, hàng giả, lương thực, thực phẩm chưa kiểm dịch an toàn vệ sinh thực phẩm, đặc biệt là các chất thải rắn
1.3.4 Hải quan Đồng Nai chú trọng nâng cao mức độ tuân thủ của Doanh nghiệp và áp dụng công nghệ thông tin
Tại Đồng Nai, phần lớn doanh nghiệp đều thuộc các khu chế xuất, khu công nghiệp với gần 70% hàng hóa thuộc loại hình gia công, sản xuất hàng xuất khẩu Ngoài ra, do địa bàn nằm ngay gần thành phố Hồ Chí Minh nên nhu cầu tiêu thụ nội địa đối với các mặt hàng nguyên phụ liệu là rất lớn Xuất phát từ thực tế đó, Cục Hải quan Đồng Nai luôn chú trọng công tác kiểm tra chống gian lận về định mức tiêu hao nguyên phụ liệu nhập gia công, sản xuất
Trang 39Công tác đối thoại doanh nghiệp, tham vấn hải quan – doanh nghiệp và các bên đối tác cũng được tiếp tục duy trì Cục Hải quan Đồng Nai cũng thực hiện các giải pháp hiện đại hóa quản lý hành chính trong hoạt động quản lý điều hành của đơn vị Đơn vị cũng tiếp tục triển khai hiệu quả Đề án hiện đại hóa thu nộp ngân sách theo phương thức điện tử Đồng thời tiếp tục phối hợp với Ban Cải cách Hiện đại hóa-Tổng cục Hải quan triển khai thí điểm Đề án quản lý nguồn nhân lực dựa trên mô tả vị trí việc làm Bên cạnh đó, Cục Hải quan Đồng Nai cũng chú trọng đầu tư trang thiết bị hiện đại phục vụ công tác kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan
1.3.5 Bài học kinh nghiệm
Về tham gia xây dựng cơ sở pháp lý:
- Phát hiện, đề xuất những vấn đề cần nội luật hoá các quy định quốc tế vào trong hệ thống pháp luật của đất nước mình
- Các văn bản hướng dẫn về công tác xác định trước trị giá, mã số và xuất xứ hàng hóa xây dựng rõ ràng, minh bạch
- Cần cập nhật các quy định mới về chống buôn lậu, gian lận thương mạivà hàng giả, trị giá, phân loại hàng hóa, xuất xứ hàng hóa vào các văn bản hướng dẫn, công khai minh bạch các quy định này để doanh nghiệp và các cơ quan cùng thực hiện
Trang 4035
Về công tác thực thi:
- Xây dựng cơ sở dữ liệu đầy đủ và hạ tầng cơ sở công nghệ thông tin tốt phục vụ công tác xác định trước trị giá tính thuế, mã số và xuất xứ hàng hóa xuất nhập khẩu, chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả
- Xử lý kịp thời, chính xác các vụ vi phạm trong công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả
- Liên hệ chặt chẽ với bộ phận phối hợp (của TCHQ) với cơ quan cấp giấy chứng nhận xuất xứ, các cơ sở sản xuất (nếu có thể), hải quan nước xuất khẩu và các Bộ, Ngành trong việc kiểm tra, xác minh để xác định trị giá, phân loại hàng hóa và xác định xuất xứ của hàng hóa xuất nhập khẩu;
- Phối hợp trong việc thu thập thông tin, xử lý thông tin nghiệp vụ hải quan với các Ban,ngành; với cảng vụ hàng không và các doanh nghiệp khai thác cảng;
- Phối hợp với Hải quan các nước có đường biên giới chung trong việc thu thập thông tin tình báo
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Chương 1, Luận văn đã trình bày:
- Khái niệm và nội dung cơ bản về quản lý nhà nước về chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả, sự khác nhau giữa gian lận thương mại và hàng giả;
- Mục tiêu, nội dung, chức năng và các biện pháp quản lý nhà nước về chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả trong lĩnh vực Hải quan;