1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ luật kinh tế quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước theo pháp luật việt nam hiện nay

84 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 809,2 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận án đã đưa ra một số quan điểm và giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp như hoàn thiện hình thức đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước đầu tư tại doanh

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ QUỲNH MAI

QUẢN LÝ, SỬ DỤNG VỐN NHÀ NƯỚC TẠI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên chưa được công bố ở bất cứ đâu Các số liệu, các nguồn trích dẫn trong luận văn được chú thích nguồn gốc rõ ràng, minh bạch

Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Quỳnh Mai

Trang 3

MỤC LỤC

CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP

LUẬT VỀ QUẢN LÝ, SỬ DỤNG VỐN NHÀ NƯỚC TẠI DOANH NGHIỆP

1.1 Khái quát chung về quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước

6 1.2 Pháp luật về quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC HIỆN PHÁP

LUẬT VỀ QUẢN LÝ, SỬ DỤNG VỐN NHÀ NƯỚC TẠI DOANH NGHIỆP

2.1Thực trạng pháp luật về quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh

2.2 Thực trạng thực hiện pháp luật về quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại

CHƯƠNG III: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN

PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ SỬ DỤNG VỐN NHÀ NƯỚC TẠI DOANH

3.1 Phương hướng hoàn thiện pháp luật về quản lý, sử dụng vốn nhà nước

3.2 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản lý, sử dụng vốn nhà

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Theo Điều 51 Hiến pháp 2013, “Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế; kinh

tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo” Doanh nghiệp nhà nước (trong luận văn gọi tắt là DNNN) là một lực lượng vật chất quan trọng của kinh tế nhà nước, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội Tuy nhiên trên thực tế, vai trò của DNNN là lực lượng nòng cốt của kinh tế nhà nước, dẫn dắt, tạo động lực phát triển đối với nền kinh tế còn hạn chế Các sai phạm về quản lý vốn nhà nước tại các DNNN còn khá phổ biến Thời gian qua phát sinh nhiều vụ án lớn, gây thiệt hại hàng ngàn tỷ cho đất nước Một số tập đoàn, tổng công ty đã thành lập các công ty con và đầu tư vào những lĩnh vực ngoài nhiệm vụ chính được giao nhưng kiểm soát thiếu chặt chẽ làm phân tán nguồn lực, ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do pháp luật về quản lý hoạt động nói chung và quản lý vốn nói riêng của DNNN còn hạn chế, kém hiệu quả, tạo kẻ hở để phát sinh tiêu cực Việc tổ chức thực hiện quyền, trách nhiệm của chủ sở hữu nhà nước đối với DNNN tuy đã rõ hơn nhưng vẫn còn nhiều lúng túng và quản lý kém hiệu quả Công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá hiệu quả hoạt động DNNN còn mang tính hình thức, chưa thực sự là công cụ để cảnh báo, ngăn ngừa hạn chế rủi ro Do đó, để hạn chế tình trạng thất thoát vốn nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp, nâng cao hơn nữa năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong cơ chế thị trường, Nhà nước cần hoàn thiện hơn hành lang pháp luật về quản lý vốn của DNNN cũng như nâng cao hiệu quả thực thi công tác này Xuất phát từ các yêu cầu trên, tác giả đã mạnh dạn lựa chọn đề tài “Quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại DNNN theo pháp luật Việt Nam hiện nay” để làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ

Trang 5

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại DNNN theo pháp luật Việt Nam đã được nghiên cứu trên nhiều phương diện khác nhau Một số công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài tác giả đã lựa chọn là:

Luận án tiến sĩ của Phạm Thị Thanh Hòa về đề tài “Cơ chế quản lý vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp ở Việt Nam”, năm 2012 Luận án đã làm rõ cơ chế quản lý vốn

nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp Luận án đã đánh giá thực trạng về vốn nhà nước đầu

tư tại doanh nghiệp và cơ chế quản lý vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp từ góc độ quản lý của chủ sở hữu Nhà nước bao gồm: cơ chế đầu tư, cơ chế quản lý sử dụng, cơ chế phân phối lợi nhuận sau thuế, cơ chế kiểm tra giám sát, hình thức thực hiện quyền chủ sở hữu Luận án đã đưa ra một số quan điểm và giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp như hoàn thiện hình thức đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp, xác định rõ vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp và vốn của doanh nghiệp, hoàn thiện cơ chế đầu tư vốn vào doanh nghiệp trong đó xác định

rõ mục tiêu, phương thức và những lĩnh vực cần ưu tiên đầu tư vốn nhà nước, … Tuy nhiên luận án vẫn chưa nêu được tác động của công tác quản lý, sử dụng vốn đến hiệu

quả hoạt động của DNNN

Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Kim Đoan về đề tài “Quản lý vốn nhà nước tại các DNNN trên địa bàn thành phố Đà Nẵng”, 2016 Luận án giới hạn việc quản lý vốn

nhà nước trong 04 nội dung: thực hiện đầu tư vốn, quản lý quá trình sử dụng vốn trong giới hạn thẩm quyền tác động của chủ sở hữu doanh nghiệp, quản lý phân phối kết quả

sử dụng vốn và giám sát vốn nhà nước tại DNNN Luận án đã phân tích các yếu tố ảnh hưởng và đánh giá quá trình quản lý vốn nhà nước tại các DNNN trên địa bàn thành phố

Đà Nẵng giai đoạn 2010-2014, từ đó đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác quản

lý vốn nhà nước tại các DNNN trên địa bàn như đổi mới chính sách tuyển dụng cán bộ quản lý, bổ sung các tiêu chí đánh giá hiệu quả kinh doanh của DNNN, đề xuất cơ chế

Trang 6

kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả hoạt động của cơ quan thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu nhà nước và chú trọng hoạt động giám sát tài chính DNNN

Luận án tiến sĩ của Phạm Phú Quốc về đề tài “Quản lý hiệu quả vốn tại các Doanh nghiệp nhà nước – từ thực tiễn Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên của Thành phố Hồ Chí Minh”, 2015 Luận án đã khảo sát, phân tích đánh giá nguyên nhân dẫn đến

hiệu quả hoặc hạn chế hiệu quả trong quản lý vốn nhà nước tại các Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên trực thuộc Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh; sau đó đưa ra các kiến nghị theo bốn nhóm vấn đề: Chủ thể quản lý vốn; Nội dung quản lý vốn; Hình thức quản lý vốn và Cơ chế kiểm tra, giám sát vốn nhà nước đối với các công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên trực thuộc Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh

Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Minh Phương về đề tài Cơ chế đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước trong các doanh nghiệp ở Việt Nam, (2018) Sau khi nghiên cứu kinh

nghiệm của một số nước trên thế giới, luận văn đã đưa ra 4 nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước trong các doanh nghiệp ở Việt Nam gồm: Nhóm giải pháp về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong các doanh nghiệp có vốn nhà nước, thiết lập mô hình cơ quan đại diện CSH vốn nhà nước trong các doanh nghiệp và thực hiện quyền, trách nhiệm đại diện CSH vốn nhà nước); Nhóm giải pháp về tổ chức

bộ máy, con người; nhóm giải pháp về kiểm tra, giám sát, kỷ luật; và nhóm giải pháp về

cổ phần hóa, tái cơ cấu DNNN

Luận văn thạc sĩ luật học của Đỗ Mạnh Hà về đề tài “Pháp luật điều chỉnh hoạt động quản lý và sử dụng vốn nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp và thực tiễn áp dụng pháp luật trên địa bàn tỉnh Sơn La”, 2016 Nhằm hoàn thiện pháp luật điều chỉnh

hoạt động quản lý và sử dụng vốn nhà nước tại các doanh nghiệp Luận văn đề xuất

3 nhóm giải pháp: Hoàn thiện quy định về quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của đại diện chủ

sở nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư của nhà nước; Hoàn thiện quy định về

Trang 7

hoạt động đầu tư vốn, bán vốn và quản lý tài chính; Hoàn thiện quy định về giám sát và đánh giá hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư của nhà nước

Các nghiên cứu về quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại các DNNN đã được thực hiện trong thời gian qua Tuy nhiên, các nghiên cứu điển hình nêu trên mới chỉ tiếp cận dưới góc độ kinh tế về quản lý vốn Vì vậy, chưa khái quát được một bức tranh toàn cảnh về pháp luật Việt Nam về quản lý vốn nhà nước đầu tư vào DNNN Nhằm bổ sung các căn cứ quan trọng để các cơ quan chức năng hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả công tác quản lý vốn đầu tư tại các DNNN, tác giả đã chọn đề tài " Quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại DNNN theo pháp luật Việt Nam hiện nay” là đề tài nghiên cứu

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích nghiên cứu của Luận văn là nhằm làm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật về quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại DNNN Từ đó đưa ra định hướng, các luận cứ khoa học nhằm kiến nghị các giải pháp hoàn thiện pháp luật

và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật trong hoạt động này ở nước ta

- Nhiệm vụ nghiên cứu:

o Làm rõ những vấn đề lý luận pháp luật về quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại DNNN

o Phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật hiện hành về quản lý, sử dụng vốn tại DNNN

o Phân tích đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về quản lý, sử dụng vốn tại DNNN

o Đưa ra một số kiến nghị về định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật

và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại DNNN theo pháp luật ở Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trang 8

- Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật về quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại DNNN

5 Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở vận dụng những quan điểm, phương pháp lý luận của triết học và lý luận chung về nhà nước và pháp luật, luận văn thực hiện phương pháp nghiên cứu khoa học kết hợp lý luận và thực tiễn, bằng việc sử dụng tổng hợp các phương pháp như phân tích, tổng hợp, so sánh, diễn dịch, quy nạp, thống kê, nhằm đánh giá tính đúng đắn và khách quan các hiện tượng và các quá trình kinh tế, những chính sách và biện pháp đã

và đang thực hiện làm cơ sở đề xuất các định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật

và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về quản lý sử dụng vốn nhà nước tại DNNN ở Việt Nam

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Về ý nghĩa khoa học, luận văn đóng góp về phương diện lý luận cho việc nghiên cứu pháp luật, quá trình xây dựng, hoàn thiện và thực thi pháp luật về quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại DNNN tại Việt Nam

Trang 9

Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu của Luận văn sẽ là cơ sở để đóng góp ý kiến cho các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước và các DNNN trong quá trình ban hành, sửa đổi bổ sung các văn bản quy phạm phạm luật, quy trình, quy chế giúp hoạt động quản lý, sử dụng vốn tại DNNN tại Việt Nam ngày càng hiệu quả

7 Kết cấu luận văn

Mở đầu

Chương 1 Những vấn đề lý luận và quy định pháp luật về quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước

1.1 Khái quát chung về quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước:

1.2 Pháp luật về quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước

Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật về quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam

2.1 Thực trạng pháp luật về quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước

ở Việt Nam

2.2 Thực trạng thực hiện pháp luật về quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp

nhà nước ở Việt Nam

Chương 3 Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản lý sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam

3.1 Phương hướng hoàn thiện pháp luật về quản lý sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam

3.2 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam

Kết luận

Tài liệu tham khảo

Trang 10

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ,

SỬ DỤNG VỐN NHÀ NƯỚC TẠI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

1.1 Khái quát chung về quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước:

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của doanh nghiệp nhà nước:

Doanh nghiệp về nguyên tắc, phải là một tổ chức có tên riêng, có tài sản, trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh và có phần vốn góp chi phối của nhà nước Theo Điều 4 Luật Doanh nghiệp

2014, Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ

Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp phát triển trong mối quan hệ kinh

tế đa dạng về hình thức sở hữu, về vốn và tài sản, về cơ chế tổ chức quản lý DNNN vẫn mang các đặc điểm chung so với các loại hình doanh nghiệp khác, cụ thể: là tổ chức kinh

tế được thành lập theo quy định của pháp luật, có các quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh; có tên riêng, trụ sở giao dịch, có tài sản và có sử dụng lao động làm thuê

Mục đích hoạt động chủ yếu của doanh nghiệp là nhằm mục đích kinh doanh Tuy nhiên, mỗi loại hình doanh nghiệp vẫn có sự khác biệt nhất định và do đó, chúng cũng

có một số điểm đặc thù So với các doanh nghiệp khác, DNNN có các đặc điểm riêng biệt sau:

Thứ nhất, DNNN là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn và trực tiếp thành lập Việc thành lập DNNN dựa trên nguyên tắc chỉ thành lập trong những ngành, lĩnh vực then chốt, xương sống của nền kinh tế với những đòi hỏi thực tiễn của nền kinh tế thời điểm đó

Thứ hai, DNNN do Nhà nước đầu tư vốn nên nó thuộc sở hữu Nhà nước DNNN sau khi được thành lập là một chủ thể kinh doanh độc lập Nhà nước giao vốn cho doanh

Trang 11

nghiệp, người quản lý doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm trước Nhà nước về việc bảo toàn và phát triển vốn mà Nhà nước giao

Thứ ba, DNNN không chỉ được thành lập để thực hiện các mục tiêu kinh tế mà còn để thực hiện các mục tiêu xã hội Đây là một đặc điểm khác biệt so với các doanh nghiệp nói chung Nếu đa phần các doanh nghiệp thành lập với mục đích thuần túy là kinh doanh để kiếm lợi nhuận thì DNNN có khi được thành lập nhằm mục đích thực hiện các nhiệm vụ công ích, phục vụ lợi ích công cộng, cung ứng dịch vụ công cộng theo các chính sách của Nhà nước để trực tiếp thực hiện nhiệm vụ an sinh xã hội, nhiệm vụ quốc phòng an ninh Hoạt động của doanh nghiệp chịu sự chi phối của nhà nước về mục tiêu kinh tế xã hội do nhà nước giao

Cuối cùng, Nhà nước quản lý DNNN thông qua cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền theo phân cấp của Chính phủ Nhà nước quy định mô hình cơ cấu tổ chức quản lý trong từng loại DNNN phù hợp với quy mô của nó; quy định chức năng nhiệm

vụ quyền hạn của các cơ cấu tổ chức trong DNNN như Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc cũng như quy định thẩm quyền trình tự thủ tục của việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật các chức vụ quan trọng của doanh nghiệp

1.1.2 Khái niệm, đặc điểm vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước:

Theo khoản 8, điều 3, Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất,

kinh doanh tại doanh nghiệp năm 2014 thì “Vốn nhà nước tại doanh nghiệp” bao gồm

vốn từ ngân sách nhà nước, vốn tiếp nhận có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước; vốn từ quỹ đầu tư phát triển tại doanh nghiệp, quỹ hỗ trợ sắp xếp doanh nghiệp; vốn tín dụng

do Chính phủ bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước và vốn khác được Nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp

Theo khoản 3,điều 2, Nghị định số 09/2009/NĐ-CP (đã hết hiệu lực) thì “Vốn do

Nhà nước đầu tư tại công ty nhà nước” là vốn cấp trực tiếp từ ngân sách nhà nước cho

công ty nhà nước khi thành lập, trong quá trình hoạt động kinh doanh; vốn nhà nước được tiếp nhận từ nơi khác chuyển đến theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền; giá

Trang 12

trị các khoản viện trợ, quà biếu, quà tặng; tài sản vô chủ, tài sản dôi thừa khi kiểm kê công ty nhà nước được hạch toán tăng vốn nhà nước tại công ty nhà nước; vốn bổ sung

từ lợi nhuận sau thuế; giá trị quyền sử dụng đất và các khoản khác được tính vào vốn nhà nước theo quy định của pháp Luật

Như vậy vốn nhà nước tại DNNN ngoài nguồn vốn có nguồn gốc ngân sách cấp cho doanh nghiệp thì còn gồm cả vốn hình thành trong quá trình hoạt động kinh doanh

của doanh nghiệp, không bao gồm vốn doanh nghiệp tự huy động

1.1.2.1 Đặc điểm vốn nhà nước tại DNNN được xét theo các phương diện sau đây:

Về chủ sở hữu của vốn nhà nước tại DNNN:

Chủ sở hữu vốn trong các doanh nghiệp là những người đầu tư vốn để hình thành hoặc phát triển mở rộng doanh nghiệp Sự khác biệt giữa vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp với vốn đầu tư của các chủ sở hữu khác hình là ở đặc điểm sở hữu nhà nước của vốn So với các chủ thể sở hữu khác, chủ thể sở hữu nhà nước có những đặc điểm khác biệt như sau:

Thứ nhất, chủ thể nhà nước Khi nói nhà nước như một chủ thể sở hữu thì chủ thể này khó xác định cụ thể, nhà nước là một hệ thống bao gồm nhiều cơ quan và bộ máy quản lý khác nhau Đa phần các quốc gia trên thế giới quan niệm và quy định Chính phủ thống nhất thực hiện các chức năng chủ sở hữu đối với vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp Tuy nhiên về bản chất, Chính phủ cũng chỉ là chủ sở hữu được ủy quyền, chủ sở hữu đó không có đầy đủ các đặc điểm và quyền của chủ sở hữu đích thực

Thứ hai, do chủ thể sở hữu nhà nước có nhiều cấp quản lý nên việc thực hiện quyền quản lý, giám sát sử dụng vốn nhà nước thông thường được thực hiện thông qua

bộ máy hành chính Cơ chế trách nhiệm các nhân, động cơ đạt được mục tiêu và áp lực kiểm tra, giám sát không rõ ràng như đối với các chủ thể sở hữu khác, vì vậy thường có

sự buông lỏng việc quản lý vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp

Trang 13

Thứ ba, Nhà nước đầu tư vốn không chỉ có mục tiêu kinh tế mà còn có mục tiêu chính trị, an ninh, văn hóa, xã hội nên việc đầu tư, sử dụng vốn nhà nước của chủ sở hữu nhà nước khó phân định rõ ràng, dẫn tới tình trạng hoạt động kém hiệu quả

DNNN hoạt động theo hai mục tiêu xác định là mục tiêu kinh doanh và mục tiêu công ích Với hai mục tiêu cơ bản này, DNNN đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh

tế của đất nước, nhất là trong việc tạo ra tổng sản phẩm trong nước (GDP), góp phần tăng trưởng kinh tế, tăng ngân sách Bên cạnh đó, DNNN cũng có vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện trách nhiệm với xã hội thông qua các hoạt động công ích, hoạt động mang tính xã hội, xóa đói giảm nghèo và lợi ích quốc gia Gần như DNNN hiện diện trên hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội và nền kinh tế quốc gia

Nhà nước sử dụng nhiều biện pháp can thiệp vào kinh tế nhằm hạn chế những khuyết tật của kinh tế thị trường, tạo môi trường kinh doanh lành mạnh, phân bổ nguồn lực tối ưu và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội một cách hài hoà phù hợp với giá trị truyền thống và văn hoá đất nước Doanh nghiệp Nhà nước được coi là một công cụ kinh tế, một lực lượng vật chất trong tay nhà nước để nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế theo các chương trình, kế hoạch, chiến lược phát triển kinh tế

xã hội

Xét về mặt bản chất, nhà nước ta luôn quan tâm đến việc phát triển kinh tế và xã hội một cách toàn diện, trong đó bao gồm cả mục tiêu xóa dần những cách biệt về mọi mặt giữa thành thị và nông thôn, vùng đồng bằng và vùng cao, giữa dân tộc đa số và các dân tộc thiểu số… DNNN xét từ khía cạnh vai trò xã hội, đã đóng vai trò rất đặc biệt trong việc thực hiện những mục tiêu phát triển và cân bằng xã hội Sự khác biệt giữa DNNN và các loại hình doanh nghiệp khác là sự phát triển của DNNN không phải đơn thuần vì bản thân nó mà quan trọng hơn cả là tạo điều kiện cho sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế quốc dân Bởi vậy, DNNN được bố trí xây dựng ở những khu vực ngành nghề cần thiết tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển đồng đều giữa các vùng của đất nước Vai trò xã hội của DNNN còn thể hiện qua việc giải quyết việc làm, nâng cao thu

Trang 14

nhập, cải thiện đời sống của người lao động; tích cực trong việc giải quyết các vấn đề xã hội

Quy mô vốn nhà nước tại DNNN lớn, mang tính ổn định cao, có khả năng chi phối lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội

Theo quy định tại Khoản 1, Điều 51, Hiến pháp 2013 thì nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế; kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo Với tư cách là một bộ phận cấu thành của kinh tế nhà nước, DNNN đóng vai trò quyết định trong cơ cấu các thành phần kinh tế, thực hiện nhiệm vụ mà nhà nước và xã hội giao phó Vai trò chủ đạo của DNNN thể hiện ở các mặt như tạo ra của cải cho xã hội cũng như tạo động lực phát triển kinh tế; mở đường và hỗ trợ các thành phần kinh tế khác, bảo đảm tăng trưởng đồng bộ nền kinh tế; vai trò xung kích trong việc thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước những lĩnh vực mà nhà nước đầu tư vốn đều là những lĩnh vực đòi hỏi mức vốn đầu tư lớn, yêu cầu tính ổn định cao mà ít nhà đầu tư tư nhân nào có thể đáp ứng được Chính

vì vậy, khác với vốn đầu tư của các nhà đầu tư khác, vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp có quy mô lớn và mang tính ổn định cao hơn

Ngoài tính chất chủ đạo, các DNNN còn thực hiện vai trò mang tính chiến lược DNNN được xác định là đi đầu trong các chính sách phát triển kinh tế và xã hội của đất nước Vai trò này thể hiện ở chỗ DNNN phải đi tiên phong trong các lĩnh vực chiến lược theo đường lối phát triển của nhà nước tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế khác tham gia; DNNN phải là mẫu mực về trình độ quản lý, về hiệu quả kinh doanh để các doanh nghiệp khác noi theo Với tính ưu thế trong vai trò chủ đạo, DNNN ngoài việc mang tính chiến lược trong việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội còn mang tính chiến lược trong chuyển giao công nghệ, điều tiết vốn, phân phối sản phẩm và phân bố lao động

Thuế đóng vai trò rất quan trọng trong việc bảo đảm nguồn thu Ngân sách Nhà nước và thực hiện các chức năng quản lý, điều tiết vĩ mô của Nhà nước đối với các hoạt

Trang 15

động kinh tế, xã hội trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân Với quy mô tài sản, doanh thu

và lợi nhuận hiện có, DNNN đóng góp một nguồn tài chính hết sức to lớn cho ngân sách nhà nước thông qua việc nộp thuế thu nhập doanh nghiệp và đặc biệt là phần lợi nhuận sau thuế nộp về cho chủ sở hữu

1.1.3 Khái niệm, tính tất yếu và các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động quản lý vốn nhà

nước tại doanh nghiệp nhà nước

Quản lý vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp có thể hiểu là một hệ thống các hình thức, phương pháp và các công cụ quản lý do nhà nước ban hành để định hướng đầu tư, sử dụng và giám sát việc sử dụng có hiệu quả, bảo toàn và phát triển số vốn nhà nước đầu tư vào các doanh nghiệp

Nhà nước phải quản lý vốn nhà nước tại DNNN vì:

Thứ nhất, DNNN thuộc sở hữu nhà nước nhưng nhà nước giao cho một số cá nhân, đơn vị sử dụng Như vậy có sự tách biệt giữa người sở hữu vốn và người sử dụng vốn, hai đối tượng này có thể có mục tiêu không phù hợp nhau Các DNNN không phải đương đầu với nguy cơ bị đối thủ cạnh tranh mua lại như các doanh nghiệp trong khu vực tư nhân Do đó người sử dụng vốn có thể sử dụng vào những động cơ cá nhân, những động cơ có thể làm cho những nhà lãnh đạo các DNNN hành động không nhất quán với các mục tiêu của doanh nghiệp Vì thế đòi hỏi phải có sự quản lý chặt chẽ của nhà nước nhằm đảm bảo vốn và tài sản của nhà nước không bị xâm phạm trong quá trình kinh doanh cũng như doanh nghiệp hoạt động theo đúng mục tiêu nhà nước đề ra

Thứ hai, nhà nước quản lý vốn nhà nước tại các DNNN cũng là thực hiện vai trò quản lý nhà nước của mình Nhà nước ban hành các chế độ tài chính đối với DNNN, theo dõi và kiểm tra việc chấp hành các chế độ đó Việc theo dõi, kiểm tra tình hình sử dụng vốn tại các DNNN giúp cơ quan quản lý nắm bắt được tình hình thực tế tại các doanh nghiệp, theo dõi tiến trình thực hiện các văn bản Từ đó thu thập thông tin để chỉnh sửa, bổ sung, hoàn thiện các chính sách cho kịp thời, phù hợp với thực tế Đồng thời thông qua công tác quản lý vốn, nhà nước mới có những thông tin chính xác để đánh giá

Trang 16

đúng chất lượng kinh doanh ở các DNNN Trên cơ sở các thông tin đánh giá này, nhà nước có kế hoạch sắp xếp, bố trí lại các doanh nghiệp, vốn và lao động, hoàn thiện các khâu quản lý nhằm đạt hiệu quả kinh doanh và thực hiện các mục tiêu xã hội

Thứ ba, đối với các DNNN hoạt động kinh doanh, phần lợi nhuận sau thuế thuộc

về nhà nước Nhà nước sử dụng lợi nhuận đó để duy trì và tái sản xuất mở rộng doanh nghiệp hoặc đáp ứng một lợi ích nào đó của nhà nước Do đó, để lợi nhuận sau thuế được tối đa hoá, nhà nước phải quản lý phần vốn đầu tư của mình để nó được sử dụng một cách có hiệu quả, trên cở sở đó tăng lợi ích nhà nước

Tóm lại, việc nhà nước quản lý vốn nhà nước tại DNNN là một đòi hỏi khách quan để bảo vệ lợi ích của chủ sở hữu trong việc bảo toàn vốn và tài sản cũng như để thực hiện vai trò quản lý của mình

Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động quản lý vốn nhà nước tại DNNN được xem xét ở các phương diện sau đây:

Quan điểm của nhà nước về quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp: Quan điểm của nhà nước về quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp là nhân tố đầu tiên, có ảnh hưởng quyết định tới hoạt động quản lý vốn nhà nước tại DNNN Sở dĩ như vậy là vì nhân tố này sẽ quyết định tổ chức bộ máy quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp như thế nào? Nội dung các văn bản pháp luật phục vụ cho công tác quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp phải như thế nào? Trình độ của cán bộ quản lý? Chẳng hạn: Nếu một nhà nước quan niệm nên tạo sự chủ động cao cho doanh nghiệp thì việc xây dựng văn bản pháp luật, tổ chức bộ máy quản lý cũng được thực hiện theo hướng tạo sự chủ động cho doanh nghiệp, bộ máy quản lý gọn nhẹ, chấm dứt sự can thiệp sâu vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Tổ chức bộ máy quản lý: Hoạt động quản lý vốn nhà nước tại DNNN tiếp đó phụ thuộc vào tổ chức bộ máy quản lý, vốn nhà nước sẽ không thể được quản lý tốt nếu tổ chức bộ máy quản lý không hợp lý Hiện nay ở nhiều nước, cơ quan trực tiếp tiến hành công tác quản lý tài chính nói chung và quản lý vốn nhà nước nói riêng đối với doanh

Trang 17

nghiệp cũng là cơ quan trực tiếp hoặc gián tiếp ban hành các chính sách, chế độ quản lý vốn tại doanh nghiệp (thông qua việc dự thảo các chính sách trình cơ quan có thẩm quyền

ký ban hành) Bộ máy quản lý gồm một cơ quan trung ương và các cơ quan địa phương Việc quản vốn nhà nước không chỉ là nhiệm vụ của một cơ quan duy nhất, nó đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ của các cơ quan quản lý khác như đơn vị chủ quản, cơ quan thuế Các

cơ quan này cũng thực hiện việc giám sát tại chỗ đối với các doanh nghiệp Doanh nghiệp rất nhạy cảm đối với hoạt động giám sát tại chỗ này Việc giám sát tại chỗ có thực sự phát huy hiệu quả, nghĩa là thấy và phản ánh được kịp thời những khó khăn mà doanh nghiệp đang gặp phải để tìm cách tháo gỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho các dự án đầu tư doanh nghiệp đang thực hiện Đồng thời các cơ quan quản lý phải tổ chức việc giám sát tại chỗ cho phù hợp, không gây cản trở đối với hoạt động của doanh nghiệp và không để cho một số cán bộ lợi dụng việc giám sát ngay tại doanh nghiệp để làm lợi cho riêng mình

Sự phù hợp của các văn bản pháp luật liên quan: Để tối đa hoá lợi nhuận, các doanh nghiệp có thể bất chấp những lợi ích chung của toàn xã hội Để hạn chế mặt tiêu cực đó, bên cạnh “bàn tay vô hình”- các quy luật của thị trường còn có “bàn tay hữu hình”-sự can thiệp của nhà nước Sự can thiệp của nhà nước thể hiện qua những chính sách quản lý vĩ mô đối với nền kinh tế, qua hệ thống pháp luật Các chính sách quản lý của nhà nước vừa trực tiếp, vừa gián tiếp tác động tới hoạt động quản lý vốn nhà nước tại DNNN Sự tác động trực tiếp thể hiện qua những chính sách trực tiếp liên quan tới hoạt động quản lý vốn nhà nước tại DNNN Đó là những chính sách quy định về nội dung quản lý vốn, phương pháp quản lý vốn, bộ máy quản lý vốn Các chính sách này được thực hiện bởi cơ quan quản lý nhà nước cũng như hệ thống các DNNN Một hệ thống chính sách quản lý đúng đắn, đầy đủ, đồng bộ sẽ đem lại hiệu quả quản lý cao và ngược lại Sự tác động gián tiếp của chính sách quản lý của nhà nước tới hoạt động quản

lý vốn nhà nước thể hiện ở chỗ: các chính sách quản lý của nhà nước tạo ra được một môi trường thuận lợi hay khó khăn cho công tác quản lý Ví dụ như: chính sách về sắp

Trang 18

xếp lại DNNN có tạo điều kiện cho công tác quản lý vốn nhà nước hay không? Ở nước

ta, tác động của yếu tố này tới hoạt động quản lý vốn nhà nước tại DNNN thể hiện rất

rõ Cùng với việc không ngừng hoàn thiện hệ thống văn bản chính sách về quản lý vốn nhà nước tại DNNN (căn cứ để quản lý), việc tổ chức thực hiện đã cho thấy những dấu hiệu tích cực rõ rệt Tuy vậy vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế trong hệ thống chính sách đòi hỏi phải tiếp tục hoàn thiện để quản lý vốn nhà nước tại DNNN tốt hơn

Trình độ, năng lực và phẩm chất đạo đức của cán bộ quản lý: Trình độ, năng lực của cán bộ quản lý trực tiếp tác động tới hoạt động quản lý vốn nhà nước tại DNNN Bộ máy quản lý các DNNN là cơ quan trực tiếp tiến hành hoạt động quản lý tài chính nói chung và quản lý vốn nhà nước tại DNNN nói riêng Không những thế ở nhiều nước đây còn là cơ quan trực tiếp hay gián tiếp ban hành các chính sách, chế độ về quản lý vốn tại các doanh nghiệp Bởi vậy, sự am hiểu của cán bộ quản lý về ngành nghề lĩnh vực mình quản lý sẽ ảnh hưởng tới khả năng nắm bắt tình hình, phân tích, kết luận và ban hành những chính sách quản lý đúng đắn, hiệu quả Thêm vào đó, phẩm chất đạo đức của cán

bộ quản lý sẽ quyết định việc họ có thực hiện quản lý đúng theo lương tâm trách nhiệm hay không?

Môi trường kinh tế-chính trị-xã hội: Sự ổn định về kinh tế-chính trị-xã hội là nhân

tố quan trọng, có tác động lớn tới hiệu quả sử dụng vốn tại doanh nghiệp và do đó tác động tới hoạt động quản lý vốn nhà nước tại DNNN Môi trường chính trị-xã hội ổn định, nền kinh tế tăng trưởng ổn định, ít lạm phát và ít biến động sẽ tạo ra cho các nhà đầu tư một tâm lý yên tâm phát triển sản xuất kinh doanh Bởi vậy việc nghiên cứu tác động của từng nhân tố cũng như tác động tổng hợp của các nhân tố tới hoạt động quản

lý vốn nhà nước là hết sức cần thiết Từ đó tìm ra được các nguyên nhân dẫn đến những bất hợp lý trong hoạt động quản lý vốn nhà nước, rồi đưa ra những đề xuất để hoàn thiện công tác quản lý vốn nhà nước tại DNNN

1.1.4 Nội dung công tác quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại DNNN gồm:

Công tác quản lý vốn nhà nước tại DNNN gồm các nội dung như sau [32,tr.1]:

Trang 19

Một là, xây dựng chính sách về quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước

Chính sách quản lý vốn nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước là một bộ phận quan trọng trong hệ thống các chính sách tài chính của nhà nước Các Chính phủ thường ban hành chính sách quản lý vốn và tài sản theo hướng: Tăng cường quyền tự chủ về mặt tài chính của các doanh nghiệp nhà nước trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc biệt là trong lĩnh vực quản lý vốn và tài sản; Nâng cao trách nhiệm của các doanh nghiệp trong việc quản lý và sử dụng các nguồn lực nhà nước giao Thiết lập các cơ chế thích hợp để hướng sự quan tâm và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp bảo toàn và phát triển vốn như: cơ chế trích lập dự phòng, cơ chế bù lỗ ; Quy định các chính sách ưu đãi

về mặt tài chính đối với các doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích như: hỗ trợ vốn,

bù chênh lệch khi thực hiện các nhiệm vụ nhà nước giao, bảo đảm thoả đáng lợi ích vật chất cho người lao động trong các doanh nghiệp nhà nước này Đồng thời thiết lập cơ chế quản lý hợp lý đối với doanh nghiệp trong lĩnh vực quản lý và sử dụng các nguồn lực nhà nước giao [32,tr.1]

Hai là, Quản lý việc hình thành vốn của doanh nghiệp nhà nước:

Doanh nghiệp nhà nước có thể được đầu tư vốn khi mới thành lập hoặc đầu tư bổ sung trong quá trình hoạt động Ngoại trừ các doanh nghiệp hình thành do kết quả quốc hữu hoá, các doanh nghiệp nhà nước đều được hình thành trên cơ sở nguồn vốn cấp phát ban đầu của nhà nước Tuy nhiên căn cứ vào tình hình thực tế mà nhà nước quyết định cấp dưới hình thức trực tiếp (cấp thẳng từ ngân sách nhà nước) hay gián tiếp (qua các hình thức ghi thu-ghi chi như: chuyển vốn từ doanh nghiệp nhà nước này sang doanh nghiệp nhà nước khác hoặc cho doanh nghiệp nhà nước nhận trực tiếp các khoản viện trợ để đầu tư ) [32,tr.2]

Ba là, Quản lý việc sử dụng vốn của doanh nghiệp nhà nước: Việc quản lý sử

dụng vốn của DNNN gồm 3 nội dung chính là:

Quản lý sử dụng vốn và tài sản trong phạm vi doanh nghiệp: Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp nhà nước là một đơn vị sản xuất kinh doanh độc lập, được tự

Trang 20

chủ trong hoạt động kinh tế và tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh Nhà nước thực hiện việc giao quyền sử dụng vốn và tài sản cho doanh nghiệp nhằm tạo ra sự độc lập tương đối trong việc tổ chức sản xuất kinh doanh Mục tiêu cuối cùng của chính sách quản lý sử dụng vốn và tài sản là bảo toàn và phát triển vốn tại doanh nghiệp Vì thế, doanh nghiệp có nghĩa vụ theo dõi chặt chẽ sự biến động của vốn

và tài sản, đảm bảo theo đúng các nguyên tắc kế toán hiện hành, tránh thất thoát tài sản, mất vốn của nhà nước Đồng thời doanh nghiệp cũng phải được trao quyền lựa chọn cơ cấu tài sản và các loại vốn cho hợp lý nhằm phát triển kinh doanh có hiệu quả [31,tr.3]

Quản lý vốn đầu tư ra ngoài doanh nghiệp: Doanh nghiệp được sử dụng vốn, tài sản để đầu tư ra ngoài doanh nghiệp theo nguyên tắc có hiệu quả, bảo toàn và phát triển vốn, tăng thu nhập và đảm bảo nhiệm vụ thu nộp Ngân sách nhà nnớc; việc đầu tư phải tuân theo các quy định hiện hành của pháp luật Các hình thức đầu tư ra ngoài doanh nghiệp gồm: mua cổ phiếu, góp vốn liên doanh, góp cổ phần và các hình thức đầu tư khác Doanh nghiệp Nhà nước được phép đưa vốn và tài sản đầu tư trực tiếp ra nước ngoài theo quy định của pháp luật [32,tr.4]

Bảo toàn và phát triển vốn: Bảo toàn vốn và phát triển vốn là nghĩa vụ của doanh nghiệp để bảo vệ lợi ích của Nhà nước về vốn đã đầu tư vào doanh nghiệp Nhà nước, tạo điều kiện cho doanh nghiệp ổn định và phát triển kinh doanh có hiệu quả, tăng thu nhập cho người lao động và làm nghĩa vụ với Ngân sách Nhà nước Các biện pháp bảo toàn vốn thường được áp dụng là: Thực hiện đúng chế độ quản lý, sử dụng vốn, tài sản theo các qui định của Nhà nước; Thực hiện việc mua bảo hiểm tài sản thuộc quyền quản

lý và sử dụng của doanh nghiệp Tiền mua bảo hiểm được hạch toán vào chi phí sản xuất kinh doanh; Hạch toán vào chi phí kinh doanh, chi phí hoạt động khác một số khoản dự phòng theo quy định như: Dự phòng giảm giá hàng tồn kho, dự phòng các khoản nợ thu khó đòi, dự phòng giảm giá các loại chứng khoán trong hoạt động tài chính Việc lập

và sử dụng các khoản dự phòng nói trên thực hiện theo quy định hiện hành Ngoài các biện pháp trên, doanh nghiệp được dùng lãi năm sau (trước thuế hoặc sau thuế) để bù lỗ

Trang 21

các năm trước, được hạch toán một số thiệt hại (thiên tai, dịch bệnh ) vào chi phí hoặc kết qủa kinh doanh theo qui định của Nhà nước [31,tr.4]

Bốn là, Phân cấp trong quản lý

Để quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước, mỗi nước đều tổ chức cho mình một bộ máy quản lý khác nhau với cách thức quản lý khác nhau Bộ máy này bao gồm bản thân doanh nghiệp nhà nước (với tư cách là người trực tiếp quản lý, sử dụng vốn nhà nước giao) và các cơ quan quản lý cấp trên (giám sát việc thực hiện quản lý, sử dụng vốn nhà nước của doanh nghiệp nhà nước và ra các quyết định quản lý) Mỗi cấp quản lý được phân rõ chức năng nhiệm vụ trong việc thực hiện hoạt động quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước [32,tr.5]

Năm là, Tổ chức thực hiện

Dựa trên các căn cứ về quản lý vốn nhà nước đã được thiết lập (các văn bản pháp luật liên quan), các cơ quan quản lý (đã được phân cấp quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp) sẽ tổ chức thực hiện quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước theo phạm

vi chức năng của mỗi cấp đã được quy định [32,tr.5]

1.2 Pháp luật về quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước

1.2.1 Khái niệm, một số nguyên tắc cơ bản của pháp luật về quản lý, sử dụng vốn nhà

nước tại doanh nghiệp nhà nước

Pháp luật về quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại DNNN được hiểu là hệ thống những quy phạm pháp luật điều chỉnh những quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại DNNN Các quan hệ phát sinh trong quá trình quản

lý, sử dụng vốn nhà nước tại DNNN rất đa dạng và phức tạp, trải rộng nhiều hoạt động như hoạt động sử dụng vốn nhà nước (để kinh doanh, chi trả lương thưởng, đầu tư ra ngoài doanh nghiệp…), hoạt động chỉ đạo, kiểm tra, giám sát hoạt động của DNNN…

Các DNNN được đầu tư từ vốn của Nhà nước bao gồm cả sự đóng góp từ NSNN

và sự đóng góp của nhiều tổ chức, cá nhân trong xã hội Mục tiêu hoạt động của các

Trang 22

doanh nghiệp có vốn đầu tư của Nhà nước không chỉ dừng ở mục tiêu lợi nhuận giống như các doanh nghiệp thuộc sở hữu tư nhân mà còn giúp nhà nước khắc phục các khiếm khuyết của nền kinh tế thị trường, tạo bước đệm, tiền đề thúc đẩy sự phát triển nói chung của nền kinh tế xã hội Trong khi đó, việc quản lý và sử dụng vốn Nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp cần có sự tự chủ, linh hoạt nhất định nhằm đảm bảo phù hợp với quy luật của nền kinh tế thị trường và phù hợp với tính chất của một tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân, độc lập trong quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh Do đó, để đảm bảo quản lý và sử dụng hiệu quả vốn Nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp, hạn chế thất thoát, tiêu cực có thể xảy ra thì việc quản lý và sử dụng vốn nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp cần thiế tuân thủ theo những nguyên tắc pháp lý như sau:

Thứ nhất, cần có sự phân quyền trong quản lý vốn và tài sản của doanh nghiệp

Cơ quan đại diện chủ sở hữu, cơ quan quản lý nhà nước không can thiệp trực tiếp vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, hoạt động quản lý, điều hành của người quản lý doanh nghiệp Với tư cách là chủ sở hữu, các tổ chức và cá nhân có thể trực tiếp hoặc thông qua người đại diện để quản lý, sử dụng vốn và tài sản của doanh nghiệp nhằm đạt mục đích đề ra Sự phân quyền của các cơ quan trong quản lý, sử dụng vốn tại doanh nghiệp được phân chia thành: phân quyền giữa cơ quan chủ sở hữu và cơ quan quản lý, phân quyền giữa cơ quan quản lý và cơ quan điều hành Phân quyền giữa

cơ quan chủ sở hữu và cơ quan quản lý: Luật doanh nghiệp ở cũng như đa phần các nước đều quy định thẩm quyền của chủ sở hữu trong quyết định những vấn đề quan trọng của doanh nghiệp Luật đồng thời cho phép cơ quan chủ sở hữu quyết định phạm vi thẩm quyền cơ quan quản lý bằng ghi nhận trong điều lệ doanh nghiệp Phân quyền giữa cơ quan quản lý và cơ quan điều hành: Đây là sự phân quyền nhằm giao quyền điều hành trong doanh nghiệp cho một hoặc một số người có năng lực điều hành Luật doanh nghiệp nước ta quy định về phân tách giữa quản lý và điều hành thể hiện rõ nét qua quy định về

vị trí giám đốc - người điều hành tách bạch với vị trị thành viên Hội đồng quản trị/Hội đồng thành viên - người quản lý

Trang 23

Thứ hai, vốn và tài sản của doanh nghiệp phải được bảo toàn: Trong nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa,các DNNN hoạt động theo phương thức hạch toán kinh doanh,nhà nước không tiếp tục bao cấp về vốn như trước đây Để duy trì

và phát triển sản xất kinh doanh trong các doanh nghiệp phải bảo toàn, giữ gìn số vốn được nhà nước đầu tư, tức là kinh doanh ít nhất phải đảm bảo hoà vốn, bù đắp được số vốn bỏ ra để đầu tư sản xuất kinh doanh.Bảo toàn và phát triển vốn đối với các DNNN

là nội dung cốt lõi của cơ chế giao vốn cho doanh nghiệp Giao vốn tạo ra sự chủ động cho doanh nghiệp trong quá trình sử dụng vốn và hoạt động sản xuất kinh doanh, đồng thời gắn trách nhiệm của doanh nghiệp đối với việc bảo toàn và phát triển vốn nhà nước giao

Thứ ba, thông tin về quản lý, sử dụng vốn và tài sản phải được minh bạch: Minh bạch là kết quả và cũng là điều kiện, công cụ củng cố tính dân chủ và pháp quyền, khắc phục tệ quan liêu tham nhũng, tạo dựng mối quan hệ lành mạnh, củng cố lòng tin, uy tín

và tăng hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước, cũng như để thành công trong kinh doanh Minh bạch trong kinh doanh giúp doanh nghiệp tăng năng suất lao động và nhận được

sự tin cậy của đối tác, đồng thời người lao động sẽ gắn bó hơn với doanh nghiệp, từ đó góp phần tạo ra sự phát triển bền vững cho doanh nghiệp Trong hội nhập quốc tế, doanh nghiệp nào khi chọn đối tác vào chuỗi cung ứng cũng rà soát đối tác, nếu minh bạch thì doanh nghiệp sẽ có nhiều cơ hội hơn Đối với DNNN, vấn đề những đặc điểm về chủ sở hữu đã được trong luận văn như sự tách biệt giữa chủ sở hữu và đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp, động cơ đạt mục tiêu và áp lực kiểm tra giám sát không rõ ràng như các chủ sở hữu khác, mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp ngoài mục tiêu tài chính còn có các mục tiêu kinh tế xã hội khó định lượng… ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Vì vậy pháp luật về quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại DNNN cần đảm bảo yêu cầu công khai, minh bạch thông tin

1.2.2 Nội dung pháp luật về quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước

Trang 24

Các Chính phủ thường ban hành chính sách quản lý vốn nhà nước tại DNNN theo hướng: Tăng cường quyền tự chủ về mặt tài chính của các DNNN trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc biệt là trong lĩnh vực quản lý vốn và tài sản; Nâng cao trách nhiệm của các doanh nghiệp trong việc quản lý và sử dụng các nguồn lực nhà nước giao Thiết lập các cơ chế thích hợp để hướng sự quan tâm và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp bảo toàn và phát triển vốn như: cơ chế trích lập dự phòng, cơ chế bù lỗ ; Quy định các chính sách ưu đãi về mặt tài chính đối với các DNNN hoạt động công ích như:

hỗ trợ vốn, bù chênh lệch khi thực hiện các nhiệm vụ nhà nước giao, bảo đảm thoả đáng lợi ích vật chất cho người lao động trong các DNNN này Đồng thời thiết lập cơ chế quản lý hợp lý đối với doanh nghiệp trong lĩnh vực quản lý và sử dụng các nguồn lực nhà nước giao

Chính sách quản lý vốn, sử dụng nhà nước tại các DNNN thường bao trùm các nội dung quản lý sau:

Một là mô hình quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước:

Để quản lý vốn nhà nước tại DNNN, mỗi nước đều tổ chức cho mình một bộ máy quản lý khác nhau với cách thức quản lý khác nhau Bộ máy này bao gồm bản thân DNNN (với tư cách là người trực tiếp quản lý, sử dụng vốn nhà nước giao) và các cơ quan quản lý cấp trên (giám sát việc thực hiện quản lý, sử dụng vốn nhà nước của DNNN

và ra các quyết định quản lý) Mỗi cấp quản lý được phân rõ chức năng nhiệm vụ trong việc thực hiện hoạt động quản lý vốn nhà nước tại DNNN

Ở Pháp và Malaysia, nhà nước trực tiếp cử nhân viên của mình làm công tác kiểm tra tại doanh nghiệp, nhân viên đó thuộc biên chế Bộ tài chính; ngoài ra mỗi doanh nghiệp còn chịu sự điều tra của một nhân viên do toá án chỉ định, có chức năng kiểm tra tài chính đối với DNNN Bên cạnh đó, ở các doanh nghiệp còn có Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng này là đại diện của nhà nước, đại diện cho doanh nghiệp và đại diện của công nhân

Trang 25

Ở một số nước khác như Trung Quốc thì việc quản lý vốn nhà nước tại DNNN lại

do các Công ty đầu tư tài chính nhà nước đảm nhận Hoạt động của Công ty tài chính là hoạt động kinh doanh, khác với việc cử đại diện của Bộ tài chính làm công việc kiểm tra trực tiếp tại doanh nghiệp Đây là một tổ chức tài chính do Chính phủ thành lập giúp Chính phủ thành lập chức năng kinh doanh các nguồn vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp

Ở Việt Nam, Chính phủ thống nhất thực hiện quyền, trách nhiệm của đại diện chủ

sở hữu nhà nước trong việc đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp và quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp Chính phủ là đại diện chủ sở hữu đối với vốn nhà nước đầu tư vào các doanh nghiệp Chính phủ phân cấp, ủy quyền cho các cơ quan nhà nước, cá nhân thực hiện quyền, trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu vốn đầu tư tại các doanh nghiệp bao gồm Thủ tướng, Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp, Bộ, cơ quan ngang

bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Hội đồng quản trị công ty nhà nước, Tổng Công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước

Hai là nội dung quản lý việc sử dụng vốn của doanh nghiệp nhà nước

Nội dung quản lý việc sử dụng vốn của doanh nghiệp nhà nước thường gồm các quy định việc quản lý sử dụng vốn và tài sản trong phạm vi doanh nghiệp, việc đầu tư ra ngoài doanh nghiệp, việc bảo toàn và phát triển vốn nhà nước tại doanh nghiệp

Về quản lý sử dụng vốn và tài sản trong phạm vi doanh nghiệp:

Mục tiêu cuối cùng của chính sách quản lý sử dụng vốn và tài sản là bảo toàn và phát triển vốn tại doanh nghiệp Vì thế, doanh nghiệp có nghĩa vụ theo dõi chặt chẽ sự biến động của vốn và tài sản, đảm bảo theo đúng các nguyên tắc kế toán hiện hành, tránh thất thoát tài sản, mất vốn của nhà nước Đồng thời doanh nghiệp cũng phải được trao quyền lựa chọn cơ cấu tài sản và các loại vốn cho hợp lý nhằm phát triển kinh doanh có hiệu quả

Doanh nghiệp có trách nhiệm mở sổ và ghi sổ kế toán theo dõi chính xác toàn bộ tài sản và vốn hiện có theo đúng chế độ hạch toán kế toán, thống kê hiện hành; phản ánh

Trang 26

trung thực, kịp thời tình hình sử dụng, biến động của tài sản và vốn trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp

Doanh nghiệp được quyền sử dụng vốn và quỹ để kinh doanh theo nguyên tắc có hiệu qủa, bảo toàn và phát triển vốn Trường hợp sử dụng các loại vốn và qũy khác với mục đích sử dụng đã quy định cho các loại vốn và qũy đó thì phải theo nguyên tắc hoàn trả, như: dùng các qũy dự phòng, qũy khen thưởng, qũy phúc lợi để kinh doanh thì phải hoàn trả qũy đó khi có nhu cầu sử dụng Doanh nghiệp được quyền thay đổi cơ cấu tài sản và các loại vốn cho việc phát triển kinh doanh có hiệu qủa, bảo toàn và phát triển vốn

Doanh nghiệp Nhà nước phải xây dựng quy chế quản lý, bảo quản, sử dụng tài sản của doanh nghiệp; quy định rõ trách nhiệm của từng bộ phận, cá nhân đối với các trường hợp làm hư hỏng, mất mát tài sản

Định kỳ và khi kết thúc năm tài chính doanh nghiệp phải tiến hành kiểm kê toàn

bộ tài sản và vốn hiện có Xác định chính xác số tài sản thừa, thiếu, tài sản ứ đọng, mất phẩm chất, nguyên nhân và xử lý trách nhiệm; đồng thời để có căn cứ lập báo cáo tài chính của doanh nghiệp

Doanh nghiệp phải mở sổ theo dõi chi tiết tất cả các khoản công nợ phải thu trong

và ngoài doanh nghiệp Định kỳ (tháng, quý) doanh nghiệp phải đối chiếu, tổng hợp, phân tích tình hình công nợ phải thu; đặc biệt là các khoản nợ đến hạn, qúa hạn và các khoản nợ khó đòi Các khoản nợ không thu hồi được, cần xác định rõ mức độ, nguyên nhân, trách nhiệm và biện pháp xử lý

Doanh nghiệp được quyền cho thuê hoạt động các tài sản thuộc quyền quản lý và

sử dụng của mình, để nâng cao hiệu suất sử dụng, tăng thu nhập nhưng phải theo dõi, thu hồi tài sản khi hết hạn cho thuê Đối với tài sản cho thuê hoạt động, doanh nghiệp vẫn phải trích khấu hao theo chế độ quy định Doanh nghiệp được đem tài sản thuộc quyền quản lý và sử dụng của mình để cầm cố, thế chấp vay vốn hoặc bảo lãnh tại các

tổ chức tín dụng theo đúng trình tự, thủ tục quy định của pháp luật Doanh nghiệp không

Trang 27

đợc đem cầm cố, thế chấp, cho thuê các tài sản đi mượn, đi thuê, nhận giữ hộ, nhận cầm

cố, nhận thế chấp của doanh nghiệp khác nếu không được sự đồng ý của chủ sở hữu tài sản đó

Doanh nghiệp được nhượng bán các tài sản không cần dùng, lạc hậu về kỹ thuật

để thu hồi vốn sử dụng cho mục đích kinh doanh có hiệu qủa hơn Chênh lệch giữa số tiền thu được do thanh lý, nhượng bán tài sản với giá trị còn lại trên sổ kế toán và chi phí nhượng bán, thanh lý (nếu có) được hạch toán vào kết qủa kinh doanh của doanh nghiệp

Mọi tổn thất tài sản của doanh nghiệp phải lập biên bản xác định mức độ, nguyên nhân và trách nhiệm đưa ra biện pháp xử lý

Doanh nghiệp được đánh giá lại tài sản và hạch toán tăng giảm vốn khoản chênh lệch do đánh giá lại tài sản trong các trường hợp sau: Kiểm kê đánh giá lại tài sản theo quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền; Thực hiện cổ phần hóa, đa dạng hóa hình thức sở hữu, chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp; Dùng tài sản để liên doanh, góp vốn

cổ phần (khi đem tài sản đi góp vốn và khi nhận tài sản về)

Về quản lý vốn đầu tư ra ngoài doanh nghiệp:

Doanh nghiệp được sử dụng vốn, tài sản để đầu tư ra ngoài doanh nghiệp theo nguyên tắc có hiệu quả, bảo toàn và phát triển vốn, tăng thu nhập và đảm bảo nhiệm vụ thu nộp Ngân sách nhà nnớc; việc đầu tư phải tuân theo các quy định hiện hành của pháp luật Các hình thức đầu tư ra ngoài doanh nghiệp gồm: mua cổ phiếu, góp vốn liên doanh, góp cổ phần và các hình thức đầu tư khác

Doanh nghiệp Nhà nước được phép đưa vốn và tài sản đầu tư trực tiếp ra nước ngoài theo quy định của pháp luật

Về bảo toàn và phát triển vốn nhà nước tại doanh nghiệp:

Bảo toàn vốn và phát triển vốn là nghĩa vụ của doanh nghiệp để bảo vệ lợi ích của Nhà nước về vốn đã đầu tư vào doanh nghiệp Nhà nước, tạo điều kiện cho doanh nghiệp

ổn định và phát triển kinh doanh có hiệu quả, tăng thu nhập cho người lao động và làm nghĩa vụ với Ngân sách Nhà nước Các biện pháp bảo toàn vốn thường được áp dụng là:

Trang 28

Thực hiện đúng chế độ quản lý, sử dụng vốn, tài sản theo quy định; Thực hiện việc mua bảo hiểm tài sản thuộc quyền quản lý và sử dụng của doanh nghiệp Tiền mua bảo hiểm được hạch toán vào chi phí sản xuất kinh doanh; Doanh nghiệp Nhà nước được hạch toán vào chi phí kinh doanh, chi phí hoạt động khác một số khoản dự phòng theo quy định Ngoài các biện pháp trên, doanh nghiệp được dùng lãi năm sau (trước thuế hoặc sau thuế) để bù lỗ các năm trước, được hạch toán một số thiệt hại (thiên tai, dịch bệnh ) vào chi phí hoặc kết qủa kinh doanh theo qui định của Nhà nước

Ba là kiểm tra, giám sát, đánh giá hiệu quả hoạt động doanh nghiệp nhà nước Giám sát hoạt động của DNNN là chức năng chính của cơ quan nhà nước để đảm bảo tính minh bạch và trách nhiệm giải trình về việc sử dụng vốn và tài sản nhà nước Với vai trò là cổ đông, Chính phủ được yêu cầu quản lý các khoản đầu tư của DNNN một cách tốt nhất có thể vì lợi ích của quốc gia và những người trả thuế Theo thông lệ quốc tế, hệ thống giám sát, đánh giá hiệu quả gồm các thể chế, quy trình và văn bản mà chính phủ sử dụng để giám sát hiệu quả tài chính và phi tài chính của các DNNN gồm

ba nhân tố chính: thiết lập chiến lược, quy ước và mục tiêu cho DNNN; ký kết các hợp đồng giữa DNNN và chính phủ để giám sát mức độ thực hiện; và xây dựng những mục tiêu và chỉ tiêu

Đánh giá hiệu quả với DNNN: Là nhiệm vụ trọng tâm của chủ sở hữu nhà nước bao gồm việc thiết lập hệ thống báo cáo cho phép việc giám sát và đánh giá hiệu quả của DNNN một cách thường xuyên Quá trình đánh giá hiệu quả của DNNN bao gồm ba thành tố chính: giám sát hiệu quả hoạt động thường nhật, phát triển hệ thống đáng tin cậy để đánh giá hiệu quả thường niên của DNNN và tiêu chuẩn hóa hoạt động của DNNN

Trang 29

Tiểu kết chương 1

Trong chương 1, tác giả đã nghiên cứu những vấn đề lý luận về quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại DNNN như khái niệm và đặc điểm của DNNN, khái niệm và đặc điểm vốn nhà nước tại DNNN, tính tất yếu và các nhân tố ảnh hưởng đến việc quản lý vốn nhà nước tại DNNN DNNN là một chủ thể kinh doanh độc lập, có các quyền và nghĩa vụ như các chủ thể khác Tuy nhiên, do Nhà nước đầu tư vốn nên vốn nhà nước tại DNNN thuộc sở hữu Nhà nước Chủ sở hữu nhà nước không cụ thể, dễ dàng xác định như các

tổ chức, cá nhân khác Việc thực hiện quyền quản lý, giám sát sử dụng vốn nhà nước được thực hiện thông qua bộ máy quản lý Không nắm quyền sở hữu vốn của doanh nghiệp, động cơ của những tổ chức, cá nhân quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp có thể khác biệt so với mục tiêu của chủ sở hữu Nhà nước Nhiều yếu tố khác cũng làm hiệu quả vốn đầu tư tại doanh nghiệp nhà nước thường thấp hơn so với mặt bằng chung Đầu tiên phải kể đến là hệ thống quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp trải dài tại nhiều cấp, khó phân định rạch ròi trách nhiệm của mỗi tổ chức, cá nhân trong hệ thống đó Thứ nhì

là mục tiêu đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp không đơn thuần là hiệu quả tài chính

mà còn có các mục tiêu an sinh xã hội, định hướng phát triển nền kinh tế… Trong khi

đó, vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp nhà nước ở nước ta rất lớn Do đó việc xây dựng hệ thống những quy phạm pháp luật điều chỉnh những quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại DNNN là vô cùng cần thiết

Từ đó tác giả tìm hiểu các nguyên tắc pháp luật quản lý và sử dụng vốn nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp phải cần tuân thủ để đạt hiệu quả cao; đó là Phân quyền trong quản lý, Vốn và tài sản của doanh nghiệp phải được bảo toàn, Thông tin về quản lý, sử dụng vốn phải được minh bạch Đồng thời tác giả cũng tìm hiểu các nội dung pháp luật

về quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại DNNN theo thông lệ quốc tế, gồm: mô hình quản

lý, nội dung quản lý và cách thức kiểm tra, giám sát

Trang 30

Trên cơ sở những khái quát mang tính lý luận này, tác giả đi đến nghiên cứu Thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật về quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại DNNN ở

Việt Nam tại chương 2

Trang 31

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ, SỬ DỤNG VỐN NHÀ NƯỚC TẠI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM

Thứ nhất, Hoạt động quản lý và sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp phải đảm bảo tuân thủ quy định của pháp luật về đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp Pháp luật được xác định là kim chỉ nam, là định hướng cơ bản bảo vệ lợi ích của toàn xã hội Do đó, hoạt động quản lý và sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp thực hiện theo quy định của pháp luật sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng của vốn nhà nước, nâng cao trách nhiệm của các chủ thể liên quan - Hoạt động quản lý và sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp phải đảm bảo phải phù hợp với chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển ngành Các doanh nghiệp được nhà nước đầu

tư vốn và được giao các trọng trách quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế Để đảm bảo sự phát triển của các doanh nghiệp có vốn đầu tư của nhà nước mang tính đồng

bộ, gắn liền với quy hoạch, thực trạng phát triển kinh tế xã hội thì hoạt động quản lý và

sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp phải đảm bảo phải phù hợp với chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển ngành

Trang 32

Thứ hai, Cơ quan đại diện chủ sở hữu, cơ quan quản lý nhà nước không can thiệp trực tiếp vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, hoạt động quản lý, điều hành của người quản lý doanh nghiệp Về mặt bản chất, doanh nghiệp có vốn đầu tư của nhà nước là một chủ thể kinh doanh độc lập, có tư cách pháp nhân, hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp này chỉ có thể hiệu quả khi được phản ánh và điều hành phù hợp với quy luật phát triển của nền kinh tế thị trường, phù hợp với nhu cầu xã hội, do đó, hoạt động quản lý và sử dụng vốn nhà nước tại các doanh nghiệp phải hạn chế tối đa sự can thiệp của các cơ quan đại diện chủ sở hữu vào hoạt - Quản lý vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp phải thông qua người đại diện chủ sở hữu trực tiếp hoặc người đại diện phần vốn nhà nước; bảo đảm doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh theo cơ chế thị trường, bình, đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật

Thứ ba, Cơ quan đại diện chủ sở hữu, người đại diện chủ sở hữu trực tiếp, người đại diện phần vốn nhà nước chịu trách nhiệm quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp, bảo đảm hiệu quả, bảo toàn và gia tăng giá trị vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp; phòng, chống dàn trải, lãng phí, thất thoát vốn, tài sản của Nhà nước và doanh nghiệp

Cuối cùng, Hoạt động quản lý và sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp phải đảm bảo công khai, minh bạch trong đầu tư và phù hợp với điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên

2.1.2 Các quy định về mô hình quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp

Các quy định của pháp luật về mô hình quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp dần dần hoàn thiện theo hướng tách chức năng chủ sở hữu tài sản, vốn của Nhà nước và chức năng quản lý nhà nước, chức năng quản trị kinh doanh của DNNN; sớm xoá bỏ chức năng đại diện chủ sở hữu nhà nước của các bộ, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh Luật số 69/2014/QH13 về quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp tại Khoản 4 Điều 42 Luật quy định: Chính phủ quy định chi tiết việc thực hiện quyền, trách nhiệm của cơ quan đại diện chủ sở hữu Luật Tổ chức Chính phủ số 76/2015/QH13 và

Trang 33

Nghị định số 123/2016/NĐ-CP ngày 01/09/2016 về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ, cơ quan ngang Bộ đã không còn quy định chức năng đại diện chủ sở hữu vốn của nhà nước tại doanh nghiệp cho các bộ, cơ quan ngang bộ

Hiện nay, Chính phủ là cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất, thống nhất quản

lý và thực hiện chức năng chủ sở hữu đối với DNNN và vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp Chính phủ là đại diện chủ sở hữu đối với vốn nhà nước đầu tư vào các doanh nghiệp Tuy nhiên, về mặt thực tế Chính phủ không trực tiếp thực hiện tất cả các nội dung của công tác quản lý nhà nước và thực hiện quyền của chủ sở hữu đối với DNNN

mà ủy quyền cho các tổ chức, cá nhân khác thay mình để thực hiện chức năng quản lý vốn Theo Luật Doanh nghiệp 2014, Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp năm 2014 và Nghị định số 10/2019/NĐ-CP của Chính phủ ngày 30/01/2019 về thực hiện quyền, trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu nhà nước thì chủ thể quản lý vốn của DNNN bao gồm Thủ tướng, Bộ quản lý ngành, UBND cấp tỉnh, Ủy ban quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp, Tổng Công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước, Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị công ty nhà nước Thủ tướng Chính phủ, cơ quan đại diện chủ sở hữu thực hiện quyền, trách nhiệm của đại diện chủ

sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp do mình quyết định thành lập hoặc được giao quản lý và thực hiện quyền, trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu nhà nước đối với phần vốn nhà nước đầu tư tại công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên Người đại diện chủ sở hữu trực tiếp thực hiện quyền, trách nhiệm của đại diện chủ

sở hữu nhà nước tại doanh nghiệp

Chính phủ chịu trách nhiệm ban hành ban hành, sửa đổi, bổ sung điều lệ của doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập; ban hành quy định về chuyển doanh nghiệp do Nhà nước giữ 100% vốn điều

lệ thành công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn; quy định việc quản lý tài chính, tiêu chí đánh giá kết quả hoạt động, hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh, công khai thông tin về hoạt động của doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ; quy

Trang 34

định việc tuyển dụng, tiền lương, tiền thưởng, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật người quản lý doanh nghiệp, kiểm soát viên đối với doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ; quy định về kiểm tra, giám sát hoạt động đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp có vốn đầu tư của nhà nước

Thủ tướng chính phủ thực hiện trách nhiệm ban hành quyết định thành lập doanh nghiệp Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ sau khi có ý kiến thẩm định của các cơ quan chức năng; quyết định những nội dung quan trọng đối với doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập như tổ chức lại, chuyển đổi sở hữu và sắp xếp lại doanh nghiệp, vốn điều lệ khi thành lập và điều chỉnh sau này, chiến lược, kế hoạch sản xuất kinh doanh và kế hoạch đầu tư phát triển

05 năm của doanh nghiệp, quy hoạch, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, từ chức, miễn nhiệm, điều động, luân chuyển, khen thưởng, kỷ luật, thôi việc, nghỉ hưu đối với chủ tịch Hội đồng thành viên…; phê duyệt Đề án tổng thể sắp xếp, đổi mới các doanh nghiệp do cơ quan đại diện chủ sở hữu quyết định thành lập hoặc được giao quản lý; quyết định chủ trương chuyển giao vốn nhà nước tại doanh nghiệp giữa các cơ quan đại diện chủ sở hữu, giữa

cơ quan đại diện chủ sở hữu và doanh nghiệp có chức năng đầu tư và kinh doanh, vốn nhà nước

Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp là cơ quan đại diện chủ sở hữu của doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và phần vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là cơ quan đại diện chủ sở hữu đối với: a) Doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và phần vốn nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp do Bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập hoặc được giao quản

lý và không thuộc đối tượng chuyển giao về Ủy ban quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp và Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước theo quy định của pháp luật; b) Doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và phần vốn nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp thuộc đối tượng chuyển giao về Ủy ban quản lý vốn nhà

Trang 35

nước tại doanh nghiệp và Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước trong thời gian chưa chuyển giao Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu nhà nước tại các doanh nghiệp được chuyển giao từ các Bộ,

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo quy định của pháp luật

Cơ quan đại diện chủ sở hữu thực hiện quyền, trách nhiệm của cơ quan đại diện chủ sở hữu đối với doanh nghiệp thuộc phạm vi phụ trách: Quyết định tổ chức lại, chuyển đổi sở hữu, giải thể, phá sản; Ban hành điều lệ và điều lệ sửa đổi, bổ sung của doanh nghiệp; Phê duyệt để Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty quyết định kế hoạch 05 năm

và kế hoạch sản xuất, kinh doanh hằng năm; Quyết định bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật, tiền lương, thù lao, tiền thưởng và quyền lợi khác của Chủ tịch và thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Kiểm soát viên, người đại diện phần vốn nhà nước; quyết định quỹ tiền lương, thù lao hằng năm của người quản lý doanh nghiệp, Kiểm soát viên; Phê duyệt báo cáo tài chính, phương án phân phối lợi nhuận, trích lập các quỹ hằng năm của doanh nghiệp; Giám sát, kiểm tra, thanh tra việc quản lý, sử dụng, bảo toàn và phát triển vốn, thực hiện chiến lược, kế hoạch đầu tư phát triển, việc tuyển dụng lao động, thực hiện chế độ tiền lương, tiền thưởng của doanh nghiệp; có ý kiến về việc giám sát, kiểm tra, thanh tra của cơ quan, tổ chức khác có thẩm quyền đối với hoạt động đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp

Hội đồng thành viên la người đại diện chủ sở hữu trực tiếp tại doanh nghiệp bên cạnh trách nhiệm tham mưu cho cơ quan đại diện chủ sở hữu, quyết định một số vấn đề sau khi cơ quan đại diện chủ sở hữu phê duyệt đã nêu trên (Chiến lược, kế hoạch đầu tư phát triển 05 năm và kế hoạch sản xuất, kinh doanh hằng năm của doanh nghiệp; Bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật đối với Tổng giám đốc hoặc Giám đốc…), có quyền và trách nhiệm quyết định các vấn đề sau tại doanh nghiệp: Quy chế quản lý nội bộ của doanh nghiệp; Tiền lương, thù lao, tiền thưởng và quyền lợi khác đối với Tổng giám đốc hoặc Giám đốc, các chức danh khác do Hội đồng thành viên bổ nhiệm; Bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật, tiền lương, thù lao,

Trang 36

tiền thưởng và các quyền lợi khác đối với Phó Tổng giám đốc hoặc Phó Giám đốc, Kế toán trưởng; Quyết định hoặc ủy quyền cho Tổng giám đốc hoặc Giám đốc quyết định phương án huy động vốn, dự án đầu tư, xây dựng, mua, bán tài sản cố định thuộc thẩm quyền

2.1.3 Các quy định về nội dung quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà

nước

Nhà nước quản lý vốn đối với DNNN thông qua việc giao vốn, đầu tư vốn khi thành lập công ty và quản lý vốn trong quá trình hoạt động doanh nghiệp Các văn bản pháp luật như Luật số 69/2014/QH13, Nghị định số 91/2015/NĐ-CP của Chính phủ ngày 13/5/2015 về đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp và quản lý, sử dụng vốn, tài sản tại doanh nghiệp, nghị định số 32/2018/NĐ-CP của Chính phủ ngày 13/5/2015 về sửa đổi

bổ sung một số điều của Nghị định số 91/2015/NĐ-CP, các Thông tư hướng dẫn số 219/2015/TT-BTC, 59/2018/TT-BTC… quy định về quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước gồm các nội dung cơ bản như sau:

Về đầu tư vốn vào doanh nghiệp

Nhà nước đầu tư vốn vào doanh nghiệp khi mới thành lập hoặc đầu tư bổ sung trong quá trình hoạt động thông qua bốn hình thức: Đầu tư vốn nhà nước để thành lập doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, Đầu tư bổ sung vốn điều lệ cho doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ đang hoạt động, Đầu tư bổ sung vốn nhà nước để tiếp tục duy trì tỷ lệ cổ phần, vốn góp của Nhà nước tại công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, Đầu tư vốn nhà nước để mua lại một phần hoặc toàn bộ doanh nghiệp Về cơ bản, vốn nhà nước chỉ được đầu tư để thành lập

và bổ sung vốn điều lệ ở doanh nghiệp hoạt động trong một số ngành, lĩnh vực mà các thành phần kinh tế khác không tham gia hoặc thuộc diện Nhà nước cần nắm giữ: Doanh nghiệp cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích thiết yếu cho xã hội; Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh; Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực độc quyền tự nhiên; Doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao, đầu tư lớn,

Trang 37

tạo động lực phát triển nhanh cho các ngành, lĩnh vực khác và nền kinh tế; Thực hiện tái

cơ cấu lại nền kinh tế… Nghị định 91/2015/NĐ-CP cũng quy định rõ thẩm quyền quyết định đầu tư vốn nhà nước và trình tự, thủ tục đầu tư vốn nhà nước trong từng trường hợp

cụ thể

Về huy động vốn, quản lý nợ phải thu, phải trả

Doanh nghiệp được quyền vay vốn của tổ chức tín dụng, tổ chức tài chính; vay của tổ chức, cá nhân ngoài doanh nghiệp, của người lao động; phát hành trái phiếu doanh nghiệp và các hình thức huy động vốn khác theo quy định của pháp luật Doanh nghiệp cũng được quyền bảo lãnh cho công ty con vay vốn tại tổ chức tín dụng Về nguyên tắc, phương án huy động vốn phải căn cứ chiến lược, kế hoạch đầu tư phát triển ngắn và dài hạn của doanh nghiệp; bảo đảm khả năng thanh toán nợ và người phê duyệt phương án huy động vốn phải chịu trách nhiệm giám sát, kiểm tra bảo đảm vốn huy động được sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả… Trường hợp doanh nghiệp sử dụng vốn huy động không đúng mục đích, huy động vốn vượt mức quy định nhưng không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, cơ quan đại diện chủ sở hữu xem xét, quyết định hoặc báo cáo cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý trách nhiệm của Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty theo quy định của pháp luật

Doanh nghiệp phải xây dựng, ban hành, thực hiện quy chế quản lý nợ phải thu phải trả Quy chế quản lý nợ phải quy định trách nhiệm của tập thể, cá nhân trong việc theo dõi, thu hồi nợ; đối chiếu, xác nhận, thanh toán nợ; Theo dõi nợ phải thu, phải trả theo từng đối tượng nợ, phân loại nợ; xây dựng kế hoạch thanh toán nợ, cân đối dòng tiền bảo đảm thanh toán nợ; thanh toán các khoản nợ theo đúng thời hạn đã cam kết Trường hợp quản lý nợ dẫn đến thất thoát vốn chủ sở hữu hoặc bán nợ dẫn đến doanh nghiệp bị thua lỗ, mất vốn, mất khả năng thanh toán, giải thể, phá sản, hoặc phát sinh nợ phải trả quá hạn, nợ không có khả năng thanh toán Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty, người có liên quan phải bồi thường thiệt hại và tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý theo quy định của pháp luật và điều lệ của doanh nghiệp

Trang 38

Về đầu tư, mua sắm, quản lý, sử dụng tài sản cố định

Luật số 69/2014/QH13 quy định rõ thẩm quyền quyết định dự án đầu tư, xây dựng, mua, bán tài sản cố định của doanh nghiệp, tùy vào giá trị đầu tư so với vốn chủ

sở hữu của doanh nghiệp Hội đồng thành viên/Chủ tịch công ty được quyết định hoặc báo cáo cơ quan đại diện chủ sở hữu xem xét, phê duyệt Nghị định 91/2015/NĐ-CP cũng nêu các quy định mang tính định hướng trong việc DNNN đi thuê tài sản; cho thuê, thế chấp, cầm cố tài sản; Thanh lý, nhượng bán tài sản cố định với các nội dung về thẩm quyền quyết định, trình tự thực hiện…

Để quản lý, sử dụng tài sản cố định hiệu quả, Nghị định 91/2015/NĐ-CP cũng quy định doanh nghiệp phải xây dựng, ban hành, thực hiện quy chế quản lý, sử dụng tài sản cố định Tùy theo yêu cầu quản lý đối với từng loại tài sản cố định, quy chế quản lý tài sản cố định của doanh nghiệp ban hành phải quy định rõ việc phối hợp giữa các bộ phận và trách nhiệm của từng bộ phận, cá nhân có liên quan trong việc theo dõi, quản lý

sử dụng tài sản của doanh nghiệp

Theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp và pháp luật về đất đai thì DNNN (doanh nghiệp mà nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ) là một loại hình tổ chức kinh tế

có quyền được lựa chọn và được nhà nước giao đất hoặc cho thuê đất để sử dụng vào mục đích sản xuất kinh doanh; doanh nghiệp phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định và thực hiện quản lý, sử dụng đất theo đúng mục đích sử dụng đất được giao, được cho thuê Doanh nghiệp được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và có quyền chuyển nhượng, cho thuê hoặc góp vốn liên doanh theo quy định Trường hợp doanh nghiệp không chấp hành đúng quy định về quản lý, sử dụng đất thì phải bị xử phạt hành chính hoặc bị Nhà nước thu hồi đất

Về đầu tư ra ngoài doanh nghiệp

Việc đầu tư vốn ra ngoài doanh nghiệp được thực hiện dưới nhiều hình thức như: Góp vốn để thành lập công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn; góp vốn thông qua hợp đồng hợp tác kinh doanh không hình thành pháp nhân mới; Mua cổ phần tại công ty

Trang 39

cổ phần, mua phần vốn góp tại công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh; Mua toàn bộ doanh nghiệp khác… Cũng như đầu tư tài sản cố định, việc đầu tư ra ngoài doanh nghiệp cũng phải tuân thủ các quy định của pháp luật và phù hợp với chiến lược, kế hoạch đầu tư phát triển 05 năm và kế hoạch sản xuất, kinh doanh hằng năm của doanh nghiệp Chính phủ cũng quy định các trường hợp bị cấm đầu tư ra ngoài doanh nghiệp nhằm hạn chế các rủi ro về lạm dụng quyền hạn chức vụ như không được đầu tư vào các đơn vị có quan hệ với lãnh đạo doanh nghiệp, không được góp vốn cùng công ty con để thành lập công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thực hiện hợp đồng hợp tác kinh doanh Thẩm quyền quyết định đầu tư ra ngoài doanh nghiệp cũng tương tự thẩm quyền quyết định đầu tư tài sản cố định của doanh nghiệp

Điều 30 Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp quy định trách nhiệm của DNNN trong việc quản lý tài chính đối với công

ty con do doanh nghiệp nắm giữ 100% vốn điều lệ và quản lý phần vốn góp của doanh nghiệp tại công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên: ban hành quy chế tài chính của công ty con, hạch toán theo dõi khoản đầu tư ra ngoài doanh nghiệp,

cử người đại diện phần vốn của doanh nghiệp tại đơn vị khác… Đối với cổ tức và lợi nhuận được chia cho phần vốn nhà nước tại các công ty cổ phần do các Bộ, ngành, địa phương làm đại diện chủ sở hữu và phần lợi nhuận còn lại của DNNN sau khi trích lập các quỹ theo quy định của pháp luật, trước đây doanh nghiệp thực hiện nộp về Quỹ Hỗ trợ sắp xếp và phát triển doanh nghiệp để nộp vào Ngân sách nhà nước theo quy định Tuy nhiên, từ năm 2016 trở đi, căn cứ quy định tại Luật số 69/2014/QH13, Nghị định số 91/2015/NĐ-CP và hướng dẫn tại Thông tư số 61/2016/TT-BTC ngày 11/4/2016 của Bộ Tài chính, phần cổ tức, lợi nhuận được chia cho phần vốn nhà nước của các công ty cổ phần có vốn góp của nhà nước do bộ, ngành, địa phương đại diện chủ sở hữu và phần lợi nhuận còn lại sau khi trích lập các quỹ của DNNN thực hiện nộp thẳng về Ngân sách nhà nước theo quy định

Trang 40

Chuyển nhượng vốn đầu tư của DNNN tại các công ty cổ phần, công ty liên doanh

… đã từng được nhiều sự quan tâm của dư luận do nghi ngại về tính minh bạch, khả năng tham nhũng lớn của hoạt động này Để hạn chế, bên cạnh quy định điều chỉnh hoạt động bỏ vốn đầu tư vào doanh nghiệp, các văn bản pháp luật cũng quy định khá cụ thể các nội dung liên quan đến chuyển nhượng vốn đầu tư Về nguyên tắc, việc chuyển nhượng vốn đầu tư ra ngoài doanh nghiệp phải gắn với phương án cơ cấu lại doanh nghiệp; bảo đảm theo nguyên tắc thị trường, công khai, minh bạch, bảo toàn vốn đầu tư

ra ngoài của DNNN ở mức cao nhất, hạn chế tối đa tổn thất đầu tư trong chuyển nhượng vốn Phương thức chuyển nhượng vốn đầu tư cũng được quy định cụ thể là giao dịch trên thị trường chứng khoán nếu đã niêm yết, nếu chưa niêm yết hoặc chưa đăng ký giao dịch trên thị trường chứng khoán thì thực hiện đấu giá công khai, trường hợp đấu giá công khai không thành công thì thực hiện chào bán cạnh tranh, trường hợp chào bán cạnh tranh không thành công thì thực hiện theo phương thức thỏa thuận Việc quy định

cụ thể phương thức bán theo từng bước nhằm hạn chế trường hợp doanh nghiệp cố tình che dấu thông tin chào bán, để cuối cùng chuyển nhượng cho các đối tác của mình Việc xác định giá khởi điểm cũng được quy định rõ trên nguyên tắc Phản ánh đầy đủ giá trị thực tế doanh nghiệp, bao gồm cả giá trị quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật

về đất đai Về thẩm quyền thì Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty quyết định chuyển nhượng vốn đầu tư của doanh nghiệp tại công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn sau khi cơ quan đại diện chủ sở hữu quyết định chủ trương; Trường hợp giá trị chuyển nhượng thấp hơn giá trị ghi trên sổ sách kế toán của doanh nghiệp sau khi đã bù trừ dự phòng tổn thất vốn đầu tư thì Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty báo cáo

cơ quan đại diện chủ sở hữu xem xét, quyết định

Về việc ban hành quy chế quản lý nội bộ của doanh nghiệp:

Nhằm quy chuẩn hóa hoạt động của doanh nghiệp, xác định rõ quyền hạn trách nhiệm của các đối tượng trong doanh nghiệp, hạn chế tình trạng tùy tiện quản lý, điều hành, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, các văn bản pháp luật đã quy định

Ngày đăng: 29/06/2020, 22:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w