Có thể khẳng định rằng, trong một thời gian dài, pháp luật về hỗ trợ DNNVV hiện hành còn khá nhiều hạn chế, bất cập: i Nhiều chính sách hỗ trợ được quy định trong nhiều Luật chuyên ngành
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu ghi trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
NGUYỄN HỒNG CƯƠNG
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA THEO PHÁP LUẬT 9
1.1 Tổng quan về doanh nghiệp nhỏ và vừa 9 1.2 Pháp luật về hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa 15 1.3 Kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật của một số quốc gia về hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 21
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY VÀ THỰC TIỄN THỰC THI TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 33
2.1 Thực trạng pháp luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam hiện nay 33 2.2 Thực trạng thực thi pháp luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng 55
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI 70
3.1 Phương hướng hoàn thiện 70 3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa 75
KẾT LUẬN 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
1 DNNVV Doanh nghiệp nhỏ và vừa
2 FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài
3 GTGT Giá trị gia tăng
4 NHNN Ngân hàng Nhà nước
5 NHTM Ngân hàng thương mại
6 R&D Nghiên cứu và phát triển
7 TCTD Tổ chức tín dụng
8 TMCP Thương mại cổ phần
9 TNDN Thu nhập doanh nghiệp
10 TPP Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương
Trang 6DANH MỤC BẢNG, BIỂU
Bảng 1.1 Phân loại DNNVV 11 Bảng 1.2 Tổng hợp tên Luật dành cho DNNVV của một số quốc gia và vùng lãnh thổ 24 Bảng 1.3 Ma trận nội dung cơ bản hỗ trợ DNNVV của Luật DNNVV một số nước 29
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trên thế giới, DNNVV đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội Tuy nhiên, DNNVV gặp phải nhiều khó khăn trong quá trình phát triển do những hạn chế về quy mô nhỏ, thiếu vốn và khó tiếp cận nguồn vốn, trình độ công nghệ còn lạc hậu, khả năng quản trị doanh nghiệp yếu, thiếu nguồn nhân lực có trình độ cao, thiếu mặt bằng để phát triển sản xuất kinh doanh, đại bộ phận chưa quan tâm đến xây dựng thương hiệu, khó liên kết để tạo thế mạnh chung Chính vì vậy, trong những thập niên gần đây, hệ thống doanh nghiệp này đang là mục tiêu trọng tâm của các chính sách
hỗ trợ phát triển kinh tế của các quốc gia Nhiều chương trình và chính sách đã được chính phủ các nước triển khai thực hiện để thúc đẩy sự phát triển của các DNNVV
Theo Tổng cục Thống kê, năm 2017, trong tổng cố 517.900 doanh nghiệp (DN) đăng ký, số DN đang hoạt động, có doanh thu, nộp thuế vào ngân sách nhà nước là 505.000 DN Số DN còn lại là mới đầu tư, chưa đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh Dù số lượng DN tăng nhưng chỉ có 10.100 DN lớn, chiếm tỷ lệ khiêm tốn 1,9% Số DNNVV chiếm tới 98,1%, trong đó, DN vừa có gần 8,5 nghìn DN, tăng 23,6% so với thời điểm 1/1/2012; DN nhỏ là 114,1 nghìn và DN siêu nhỏ là 385,3 nghìn Bình quân năm giai đoạn 2012- 2017, số DNVVN tăng 8,8% cao hơn mức tăng bình quân của DN lớn là 5,4% Trong khi đó, số lượng
DN nhà nước giảm 18,4% và lao động giảm tới 23,1% so với thời điểm 1/1/2012 Bình quân giai đoạn 2012- 2017 mỗi năm giảm 4% về số DN và 5,1%
về số lao động Điều này cho thấy, chủ trương cổ phần hóa, sắp xếp lại các DNNN đã có tiến triển Như vậy, số DNNVV là 507.860 DN, tăng 52,1% (tương đương 174.000 DN) so với thời điểm 01/01/2012, chiếm 98,1% Trong đó, DN vừa có gần 8.500 DN, tăng 23,6% (tương đương gần 1.600 DN), chiếm 1,6%;
DN nhỏ là 114.100 DN, chiếm 22,0%, tăng 21,2% (tương đương gần 20 nghìn
Trang 8DN) và DN siêu nhỏ là 385.300 DN, chiếm cao nhất với 74,4%, tăng 65,5% (tương đương 152.000 DN)1 Bình quân năm giai đoạn 2012-2017, số DNVVN tăng 8,8% cao hơn mức tăng bình quân của DN lớn là 5,3% Có thể khẳng định rằng, DNNVV là nơi tạo ra việc làm chủ yếu và tăng thu nhập cho người lao động, giúp huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển, xóa đói giảm nghèo…
Trong năm 2018, cả nước có 131,3 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký là 1.478,1 nghìn tỷ đồng, tăng 3,5% về số doanh nghiệp và tăng 14,1% về số vốn đăng ký so với năm 2017 Tại thời điểm ngày 1-7-
2018 cho thấy, cả nước hiện có 702 nghìn doanh nghiệp tồn tại dưới nhiều hình thức Từ thời điểm đó đến năm 2020 là còn 2,5 năm, với tốc độ khoảng 130 nghìn doanh nghiệp được thành lập mới mỗi năm thì con số 1 triệu doanh nghiệp hoàn toàn có thể đạt được theo Nghị quyết số 35/NQ-CP của Chính phủ ngày 16/05/2016
về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020
Tuy nhiên, bối cảnh đất nước hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng đang tạo
ra không ít thách thức đối với sự phát triển của các DNNVV trên các phương diện chính sách, pháp luật Có thể khẳng định rằng, trong một thời gian dài, pháp luật về hỗ trợ DNNVV hiện hành còn khá nhiều hạn chế, bất cập: (i) Nhiều chính sách hỗ trợ được quy định trong nhiều Luật chuyên ngành: Luật Đất đai, Luật Đầu tư, Luật các tổ chức tín dụng, Luật Đấu thầu, Luật Khoa học và Công nghệ, các Luật về thuế…; (ii) Các chính sách hỗ trợ tài chính, mặt bằng sản xuất,
hỗ trợ mua sắm công, ươm tạo doanh nghiệp còn rất nhiều bất cập, hạn chế; (iii) Việc triển khai thực hiện chính sách trợ giúp DNNVV còn rất chậm (như bảo lãnh tín dụng, hỗ trợ tài chính…); (iv) Nội dung nhiều chương trình trợ giúp DNNVV còn dàn trải, chưa tập trung hoặc chưa gắn kết với nhau làm cho các DNNVV chưa tiếp cận hay nhận được sự hỗ trợ một cách thuận lợi (v) Cơ chế điều phối hoạt động hỗ trợ DNNVV giữa các Bộ ngành, giữa Trung ương và địa
1 Nguồn: https://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=382&idmid=2&ItemID=18945
Trang 9phương chưa hiệu quả; (vi) Chưa có cơ chế thu hút sự tham gia của khu vực tư nhân, các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đối với việc xây dựng và thực hiện các chương trình hỗ trợ phát triển DNNVV trong khi nguồn ngân sách nhà nước hạn chế
Tại Kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa XIV đã thông qua Luật Hỗ trợ DNNVV số 04/2017/QH14 Sự ra đời của Luật này, lần đầu tiên hoạt động hỗ trợ đối với DNNVV Việt Nam đã được quy định tại một văn bản pháp quy ở cấp độ cao nhất Đây là cơ sở để hình thành một hệ thống quy định và chính sách hỗ trợ phát triển DNNVV trên phạm vi cả nước Để các quy định của Luật DNNVV có thể triển khai trên thực tế, Chính phủ đã ban hành một số văn bản hướng dẫn như: Nghị định số 34/2018/NĐ-CP ngày 08/3/2018 của Chính phủ về việc thành lập, tổ chức và hoạt động của Quỹ Bảo lãnh tín dụng cho DNNVV; Nghị định số 38/NĐ-CP ngày 11/3/2018 của Chính phủ quy định chi tiết đầu tư cho DNNVV khởi nghiệp sáng tạo; Nghị định số 39/2018/NĐ-CP ngày 11/3/2018 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Hỗ trợ DNNVV Chính phủ và các cơ quan liên quan cũng đang dự thảo một số các văn bản, chính sách có liên quan khác đến hoạt động trợ giúp, hỗ trợ đối với các DNNVV như vấn đề về quỹ phát triển DNNVV, về cơ chế tài chính hỗ trợ tư vấn cho DNNVV, vấn đề về miễn giảm thuế thu nhập DN, tiền sử dụng đất Tuy nhiên, nhiều văn bản quy phạm pháp luật nêu trên còn quy định nhiều vấn đề mang tính nguyên tắc, nền tảng, và
là căn cứ rất quan trọng để một số bộ, ngành tiếp tục nghiên cứu, hướng dẫn và triển khai các chính sách cụ thể đối với hoạt động hỗ trợ phát triển DNNVV
Trong bối cảnh đó, tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu cho luận văn là “Hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn thành phố
Đà Nẵng” nhằm nghiên cứu, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận; tổng kết đánh
giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thực thi pháp luật về hỗ trợ DNVVN của thành phố Đà Nẵng để từ đó đề xuất các phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về hỗ trợ DNVVN trong thời gian tới
Trang 102 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Hỗ trợ DNNVV thông qua các cơ cấu thể chế đã có sự thay đổi dần mang tính chất toàn cầu, trong đó nội dung khác biệt cơ bản được thể hiện qua vai trò của Nhà nước trong sự can thiệp vào thị trường để phát triển khu vực doanh nghiệp này Các mô hình đầu tiên, xuất hiện từ đầu thập niên 1950 trên thế giới, nhìn nhận khu vực DNNVV như một thực thể yếu đuối cần bảo vệ, do vậy, chính phủ các nước theo trường phái này đã xây dựng các chính sách phát triển DNNVV theo chiều rộng nhằm chủ yếu thực hiện các mục tiêu chính trị, xã hội như giải quyết công ăn việc làm hay phát triển cân đối vùng
Ở Việt Nam, các nghiên cứu về DNNVV mới chỉ xuất hiện trong vài thập niên gần đây khi Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) và hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới Trong
số đó, phải kể đến các công trình khoa học tiêu biểu sau:
- Vũ Quốc Tuấn/Hoàng Thu Hoà, “Phát triển DNNVV, kinh nghiệm nước ngoài và phát triển DNNVV ở Việt Nam”, NXB Thống kê, Hà Nội 2001 Công
trình nghiên cứu này đã giới thiệu kinh nghiệm xây dựng chính sách phát triển DNNVV, mô hình điều chỉnh pháp luật về hỗ trợ DNNVV ở một số quốc gia trên thế giới và giới thiệu những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam;
- Hồ Xuân Phương/Đỗ Minh Tuấn/ Chu Minh Phương, “Tài chính hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ”, NXB Tài Chính, Hà Nội năm 2002 Từ
cách tiếp cận của kinh tế học, các tác giả đã chỉ rõ các mô hình hỗ trợ tài chính cho DNNVV ở một số quốc gia trên thế giới và giới thiệu những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
- Viện nghiên cứu Thương Mại, “Xúc tiến xuất khẩu của Chính phủ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ”, NXB Lao động – Xã hội, Hà Nội, 2003 Từ
thực tiễn khảo sát hoạt động thương mại ở các nước trên thế giới và ở Việt Nam, công trình này đã chỉ rõ các phương thức xúc tiến xuất khẩu của Chính phủ cho các DNVVN hoạt động xuất khẩu trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế;
- Phạm Thị Minh Nghĩa, “Thực trạng và các giải pháp thúc đẩy sự phát
Trang 11triển DNNVV trên địa bàn thành phố Hà Nội trong điều kiện gia nhập WTO”,
Đề tài cấp Bộ 2008; Phạm Quang Trung, “Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các DNNVV trên địa bàn thành phố Hà Nội sau khi Việt Nam gia nhập WTO (giai đoạn 2006-2010)” Đề tài cấp Bộ 2008 của thành phố Hà Nội;
Cả hai đề tài đều nhằm đánh giá thực trạng và xây dựng các giải pháp thúc đẩy
sự phát triển và tăng cường năng lực cạnh tranh của các DNVVN trên địa bàn thành phố Hà Nội;
- Thái Văn Rê, “DNNVV ở Thành phố Hồ Chí Minh sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO”, 2011, Luận án TS tại Học viện
Chính trị - Hành chính quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh Từ bối cảnh Việt Nam
là thành viên của Tổ chức thương mại thế giới WTO, tác giả khảo sát, đánh giá
và chỉ rõ lộ trình hỗ trợ cho các DNVVN phát triển trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh;
- Có thể khẳng định rằng, từ khi có Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa và các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành được ban hành chưa có công trình nghiên cứu nào đánh giá hệ thống pháp luật về hỗ trợ DNVVN, đặc biệt là các quy định hỗ trợ việc khởi nghiệp của DNVVN trên địa bàn các địa phương nói chung, và thành phố Đà Nẵng nói riêng
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của Luận văn là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về
hỗ trợ DNNVV theo pháp luật; phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về hỗ trợ DNNVV ở Việt Nam hiện nay và thực tiễn thực thi tại thành phố Đà Nẵng; và để
từ đó đề xuất các phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về hỗ trợ DNNVV trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nghiên cứu trên, Luận văn có các nhiệm vụ cụ thể sau đây:
- Nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về hỗ trợ DNNVV theo
Trang 12pháp luật;
- Nghiên cứu so sánh về kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật hỗ trợ DNNVV của một số quốc gia trên thế giới: Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, một số nước ASEAN và đề xuất cho Việt Nam;
- Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật hỗ trợ DNNVV ở Việt Nam hiện nay và thực tiễn thực thi tại thành phố Đà Nẵng;
- Đề xuất các phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật hỗ trợ DNNVV trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Các quy định pháp luật về hỗ trợ phát triển DNNVV tại Việt Nam và thành phố Đà Nẵng
4.2 Phạm vi nghiên cứu
+ Về không gian, luận văn nghiên cứu các quy định pháp luật về hỗ trợ phát triển DNNVV tại Việt Nam và thành phố Đà Nẵng
+ Về thời gian, giới hạn trong khoảng thời gian từ năm 2017 đến nay
+ Về nội dung, tập trung vào các quy định pháp luật về hỗ trợ cho DNNVV của Việt Nam và thực tiễn thực hiện tại thành phố Đà Nẵng
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Đề tài nghiên cứu chủ yếu dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng, trong đó vận dụng các quan điểm khách quan, toàn diện, lịch sử khi xem xét, đánh giá từng vấn đề trong thời điểm cụ thể Đồng thời dựa trên quan điểm, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của nhà nước về những vấn đề liên
quan
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp cụ thể sử dụng trong quá trình nghiên cứu là phương pháp thu thập dữ liệu kết hợp với phương pháp phân tích và tổng hợp
Phương pháp thu thập số liệu: Dữ liệu được thu thập từ các văn bản quy
Trang 13phạm pháp luật, sách, giáo trình, các công trình khoa học, tạp chí chuyên ngành liên quan đến DNNVV, báo cáo hàng năm của Hiệp hội DNNVV, số liệu từ Tổng cục Thống kê và Cục Phát triển doanh nghiệp – Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam… có giá trị trong việc đưa ra những dẫn chứng rõ ràng, đảm bảo tính logic, thuyết phục cho luận văn cũng như đáp ứng tính thực tiễn;
Phương pháp luật so sánh: được Luận văn sử dụng để làm rõ kinh nghiệm
điều chỉnh pháp luật về hỗ trợ DNNVV của một số quốc gia trên thế giới: Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, một số nước ASEAN và đề xuất cho Việt Nam;
Phương pháp phân tích: Dựa trên những số liệu và thông tin đã thu thập
được trong phương pháp thu thập số liệu, tác giả tiến hành hệ thống hóa những
dữ liệu nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu đặt ra, phân tích, đánh giá các nội dung của quy định pháp luật hỗ trợ phát triển DNNVV hiện nay ở Việt Nam;
Phương pháp tổng hợp: Từ những kết quả nghiên cứu, Luận văn đã sử dụng
phương pháp này để đánh giá thực trạng pháp luật về hỗ trợ DNNVV ở Việt Nam hiện nay và thực tiễn thực thi tại thành phố Đà Nẵng và qua đó đề xuất các phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Trang 14+ Kết quả nghiên cứu của luận văn nhằm tiếp tục hoàn thiệnpháp luật về hỗ trợ DNNVV trong thời gian tới
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn được chia thành 3 chương, như sau:
Chương 1 Những vấn đề lý luận về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa theo pháp luật
Chương 2 Thực trạng pháp luật hỗ trợ DNNVV ở Việt Nam hiện nay và thực tiễn thực thi tại thành phố Đà Nẵng
Chương 3 Phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật hỗ trợ DNNVV trong thời gian tới
Trang 15CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ
VỪA THEO PHÁP LUẬT
1.1 Tổng quan về doanh nghiệp nhỏ và vừa
1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa
DNNVV là những doanh nghiệp có quy mô vốn, lao động hay doanh thu ở dưới ngưỡng do pháp luật quy định Theo thông lệ quốc tế, DNNVV có thể chia thành ba loại cũng căn cứ vào quy mô đó là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa
Qua khảo sát pháp luật của các quốc gia trên thế giới đã cho thấy, pháp luật
về hỗ trợ DNVVN sử dụng 2 nhóm tiêu chí phổ biến để phân loại DNNVV: tiêu chí định tính và tiêu chí định lượng
Tiêu chí định tính: được xác định dựa trên những đặc điểm cơ bản của DNVVN như: không có vị thế độc quyền hoặc có vị trí thống lĩnh trên thị trường, kỹ năng chuyên môn hoá thấp, chưa thiết lập mạng lưới phân phối… và
do đó thường khó xác định trên thực tế Do đó, nó chỉ được làm cơ sở để tham khảo mà ít được sử dụng trên thực tế để phân loại
Tiêu chí định lượng: được xác định dựa trên những chỉ tiêu định lượng của doanh nghiệp như: (i) Số lao động thường xuyên và không thường xuyên trong doanh nghiệp; (ii) Giá trị tài sản hay vốn, doanh thu, lợi nhuận Trong đó: - Số lao động có thể là lao động trung bình trong danh sách, lao động thường xuyên, lao động thực tế - Tài sản hoặc vốn có thể dùng tổng giá trị tài sản (hay vốn), tài sản hay vốn cố định, giá trị tài sản còn lại - Doanh thu có thể là tổng doanh thu trong một năm, tổng giá trị gia tăng trong một năm (hiện nay có xu hướng sử dụng chỉ tiêu này)
Ở mỗi quốc gia, người ta có tiêu chí riêng để xác định DNNVV ở nước mình Ở Đức, DNNVV được định nghĩa có số lao động dưới 500 người, ở Bỉ là dưới 100 người Trong khi đó tại Mỹ lại phân loại chi tiết hơn, những doanh
Trang 16nghiệp có số lao động dưới 100 người được coi là doanh nghiệp nhỏ, dưới 500 người là doanh nghiệp vừa…
Theo tiêu chí của Nhóm Ngân hàng Thế giới, doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 10 người, doanh nghiệp nhỏ có số lượng lao động từ 10 đến dưới 200 người và nguồn vốn 20 tỷ trở xuống, còn
doanh nghiệp vừa có từ 200 đến 300 lao động và nguồn vốn 20 đến 100 tỷ [2,
tr 30]
Theo Điều 4, Luật số 04/2017/QH14 hỗ trợ DNNVV ngày 12/06/2017 hiện hành thì không đưa ra quy phạm định nghĩa về DNVVN mà chỉ khái quát các loại DNNVV bao gồm: doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa được xác định theo lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; công nghiệp và xây dựng; thương mại và dịch vụ, có số lao động tham gia bảo hiểm
xã hội bình quân năm không quá 200 người và đáp ứng một trong hai tiêu chí (i) tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng; (ii) tổng doanh thu của năm trước liền
kề không quá 300 tỷ đồng
Theo Điều 6, Nghị định 39/2018/NĐ-CP ngày 11 tháng 03 năm 2018 quy định chi tiết hướng dẫn thi hành Luật hỗ trợ DNVVN, tiêu chí xác định DNVVN
cụ thể như sau:
“Doanh nghiệp nhỏ và vừa được phân theo quy mô bao gồm doanh nghiệp
siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa
1 Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản
và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 3 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng
Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 10 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng
2 Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình
Trang 17quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 50 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 20 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1 Điều này
Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 50 người và tổng doanh thu của năm không quá 100 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 50 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1 Điều này
3 Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và tổng doanh thu của năm không quá 200 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 300 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ theo quy định tại khoản
1, khoản 2 Điều này”
Bảng 1.1 Phân loại DNNVV Quy
Số lao động bình quân năm
Tổng doanh thu năm/Tổng nguồn vốn
Số lao động bình quân năm
Tổng doanh thu năm/Tổng nguồn vốn
Số lao động bình quân năm
3 tỷ đồng
10 người trở xuống
Dưới 50 tỷ đồng/Dưới
20 tỷ đồng
Từ trên 10 người đến dưới 100 người
Dưới 200 tỷ đồng/Dưới
100 tỷ đồng
Từ trên
100 người đến dưới
200 người
Trang 182 Thương
mại, dịch vụ
Dưới 10 tỷ đồng/Dưới
3 tỷ đồng
10 người trở xuống
Dưới 100 tỷ đồng/Dưới
50 tỷ đồng
Từ trên 10 người đến dưới 50 người
Dưới 300 tỷ đồng/Dưới
100 tỷ đồng
Từ trên 50 người đến dưới 100 người
Nguồn: Điều 6, Nghị định 39/2018/NĐ-CP
1.1.2 Đặc điểm pháp lý của doanh nghiệp nhỏ và vừa
Qua khảo sát hệ thống pháp luật trên thế giới và của Việt Nam có thể cho phép rút ra những đặc điểm pháp lý của DNVVN như sau:
Thứ nhất, DNNVV là một chủ thể kinh doanh, có đầy đủ các đặc điểm của
một doanh nghiệp theo hệ thống pháp luật quốc gia
Theo khoản 1, Điều 4, Luật số 04/2017/QH14 hỗ trợ DNNVV ngày 12/06/2017 DNNVV là một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; công nghiệp và xây dựng; thương mại và dịch vụ, có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và đáp ứng một trong hai tiêu chí (i) tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng; (ii) tổng doanh thu của năm trước liền kề không quá 300 tỷ đồng
Theo số liệu được Ủy ban châu Âu công bố 8/2014, hơn 20 triệu doanh nghiệp nhỏ và vừa ở châu Âu chiếm 99% tổng số doanh nghiệp Theo báo cáo mới nhất vào tháng 1/2014 của Tradeup về tình hình tài chính của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Mỹ, nhóm doanh nghiệp này chiếm tới 99% tổng số doanh nghiệp, sử dụng trên 50% tổng số lao động xã hội, tạo công ăn việc làm cho 65% lượng lao động ở khu vực tư nhân
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê năm 2017, trong tổng cố 517.900 doanh nghiệp (DN) đăng ký, số DNNVV chiếm tới 98,1%, trong đó, DN vừa có gần 8,5 nghìn DN, tăng 23,6% so với thời điểm 1/1/2012; DN nhỏ là 114,1 nghìn
và DN siêu nhỏ là 385,3 nghìn Bình quân năm giai đoạn 2012- 2017, số DNVVN tăng 8,8% cao hơn mức tăng bình quân của DN lớn là 5,4%
Thứ hai, DNNVV gặp phải nhiều khó khăn trong quá trình phát triển do những
hạn chế về quy mô nhỏ, thiếu vốn và khó tiếp cận nguồn vốn, trình độ công nghệ còn
Trang 19lạc hậu, khả năng quản trị doanh nghiệp yếu, thiếu nguồn nhân lực có trình độ cao, thiếu mặt bằng để phát triển sản xuất kinh doanh, đại bộ phận chưa quan tâm đến xây dựng thương hiệu, khó liên kết để tạo thế mạnh chung
Các mô hình đầu tiên, xuất hiện từ đầu thập niên 1950 trên thế giới, nhìn nhận khu vực DNNVV như một thực thể yếu đuối cần bảo vệ, do vậy, chính phủ các nước theo trường phái này đã xây dựng các chính sách phát triển DNNVV theo chiều rộng nhằm chủ yếu thực hiện các mục tiêu chính trị, xã hội như giải quyết công ăn việc làm hay phát triển cân đối vùng Do vậy, các chính sách phát triển DNNVV được đặt ra vào thời điểm đó thường không mang các yếu tố khách quan mà chủ yếu là để thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch đã được đặt ra, nhằm thực hiện các mục tiêu chính trị Các DNNVV được xem là những cứu cánh để tạo ra công ăn việc làm, hay là động lực chính để phát triển cân đối vùng
và đồng thời cũng được xem là lực lượng đối trọng đối với sự tập trung quyền
lực kinh tế của các doanh nghiệp lớn
Thứ ba, DNNVV chịu sự cạnh tranh khốc liệt của các công ty, tập đoàn lớn
và từ chính các doanh nghiệp với nhau
Khu vực doanh nghiệp lớn với công nghệ sử dụng nhiều vốn thì cung cấp hàng hoá cho thị trường bậc cao, trong khi đó khu vực doanh nghiệp nhỏ với công nghệ lạc hậu thì cung cấp hàng hoá kém chất lượng cho thị trường thấp cấp Kết quả là các biện pháp chính sách đã tạo ra một môi trường biệt lập giữa hai khu vực doanh nghiệp, luôn xem phía bên kia như là đối thủ và điều này ngăn cản nghiêm trọng mối quan hệ sản xuất kinh doanh giữa các doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp lớn
Thứ tư, do sự hạn chế về quy môn vốn và lao động, các DNVVN chủ yếu
hoạt động trong các lĩnh vực vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực
công nghiệp, xây dựng, thương mại và dịch vụ
DNNVV là loại hình có quy mô vốn và lao động nhỏ nên nó có nhiều ưu điểm, lợi thế, cụ thể:
Một là: Dễ dàng khởi sự kinh doanh, khởi nghiệp với bộ máy gọn nhẹ và
Trang 20năng động, nhạy bén và dễ dàng sử dụng các công nghệ cao Với một số vốn hạn
chế song có thể tạo ra hiệu quả rất cao từ việc tận dụng các thành tựu của cuộc cách mạng khoa học công nghệ 4.0 Bộ máy tổ chức gọn nhẹ linh hoạt, dễ quản
lý, dễ quyết định
Hai là: Sẵn sàng đầu tư vào các lĩnh vực mạo hiểm, lĩnh vực có độ rủi ro
cao, đặc biệt là các doanh nghiệp khởi nghiệp Do các doanh nghiệp loại này có
vốn đầu tư nhỏ, sử dụng ít lao động nên sẵn sàng tiên phong tham gia vào cung cấp các dịch vụ mới, có giá trị gia tăng cao;
Ba là: Do có sử dụng công nghệ cao nên luôn có động lực đổi mới công
nghệ, hoạt động hiệu quả với chi phí cố định thấp, có thể đạt được hiệu quả kinh
tế - xã hội cao, cũng như có thể sản xuất được hàng hoá có chất lượng tốt và có sức cạnh tranh trên thị trường;
Bốn là: trên thực tế hầu như không tồn tại tranh chấp và giải quyết tranh
chấp giữa người thuê lao động với người lao động Nếu xảy ra xung đột, mâu thuẫn thì dễ dàn xếp
Tuy có vai trò như vậy, nhưng DNNVV lại thường gặp phải những vấn đề sau:
Thứ nhất, thiếu vốn, thiếu nguồn lực nội sinh và ngoại sinh để thúc đẩy các
ý tưởng kinh doanh lớn, hay tham gia các dự án đầu tư có quy mô lớn
Thứ hai, do dễ khởi nghiệp, các DNNVV cũng có nguy cơ phải gánh chịu
nhiều loại rủi ro trong kinh doanh, thậm chí phá sản Trong môi trường cạnh tranh khốc liệt, nếu DNNVV không thích ứng linh hoạt sẽ nhanh chóng bị bỏ xa
về khoảng cách
Thứ ba, doanh nghiệp gặp khó khăn khi hoạt động trong môi trường không
tạo điều kiện thuận lợi về hệ thống pháp lý
Thứ tư, trình độ công nghệ lạc hậu, khả năng quản trị doanh nghiệp yếu,
thiếu nhân lực có trình độ cao, thiếu mặt bằng để phát triển sản xuất, kinh doanh, đại bộ phận chưa quan tâm đến xây dựng thương hiệu, khó liên kết để tạo thế mạnh chung…
Trang 211.2 Pháp luật về hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa
1.2.1 Khái niệm pháp luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa
Kết quả không thành công của mô hình phát triển DNNVV theo định hướng chính trị cùng với các tiến bộ đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu và các chương trình tự do hoá các nền kinh tế đã góp phần chuyển dịch mô hình trên sang dạng “phát triển DNNVV có lựa chọn” Theo cách tiếp cận này, trọng tâm của chiến lược phát triển DNNVV ở các nước là chương trình hỗ trợ DNNVV trong một số ngành sản xuất kỹ thuật cao hoặc dịch
vụ mới với những khoản trợ cấp lớn từ ngân sách nhà nước Ở Hàn Quốc từ cuối những năm 1970, phát triển DNNVV được coi là một quốc sách quan trọng nhằm đạt được những mục tiêu xã hội là tăng trưởng và phát triển kinh tế Hàn Quốc có một hệ thống hỗ trợ DNNVV rộng lớn bao gồm nhiều tổ chức quan trọng như Quỹ Bảo lãnh tín dụng (thành lập năm 1976) chức năng chủ yếu là cung cấp vốn chuyển giao công nghệ cho các DNNVV; Viện Phát triển công nghiệp Hàn Quốc (thành lập năm 1970) chức năng chính là đào tạo, tư vấn cho DNNVV; Trung tâm năng suất Hàn Quốc (thành lập năm 1957), có chức năng đào tạo, cung cấp và chuyển giao công nghệ, tư vấn cho DNNVV Chính sách phát triển DNNVV của Hàn Quốc tập trung chủ yếu vào các nội dung nhằm đáp ứng những thay đổi về môi trường trong nước và quốc tế thông qua sự điều chỉnh cơ cấu kinh tế với các biện pháp hỗ trợ DNNVV có lựa chọn theo các chương trình:
(i) hiện đại hoá máy móc thiết bị và công nghệ sản xuất nhằm phát triển sản phẩm mới, nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm chi phí sản xuất;
(ii) chính sách ổn định hoá và nâng cao năng lực quản lý DNNVV với các chương trình thúc đẩy các hợp tác công nghiệp như Quỹ mua chung bán chung, Quỹ tương hỗ (thành lập năm 1984) với sự tài trợ lớn từ ngân sách nhà nước với mục đích để giúp DNNVV phát triển kỹ năng quản lý cho chủ doanh nghiệp; (iii) Hỗ trợ về tài chính cho DNNVV: Chính phủ đã thiết lập mạng lưới các ngân hàng có sự đầu tư của Chính phủ chỉ để phục vụ riêng cho các DNNVV
Trang 22Các ngân hàng thương mại cũng phải cam kết dành cho DNNVV vay ở mức 40% tổng mức cho vay với lãi suất ưu đãi do chính phủ quy định Mô hình xúc tiến DNNVV này đã giúp cho DNNVV của một số nước như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đức đã có những bước phát triển đáng kể
35-Tuy nhiên, theo quan điểm của nhiều nhà kinh tế theo trường phái thị trường tự do thì sự hỗ trợ thái quá của Chính phủ trong nhiều trường hợp sẽ dẫn đến việc bóp méo thị trường để ưu tiên phát triển DNNVV, làm giảm tính cạnh tranh của các ngành nghề nói chung, đồng thời hạn chế lợi thế đầu tư quy mô lớn nói riêng Quan điểm này phù hợp với quan điểm phát triển kinh tế của một số nước như Mỹ, Anh, Hồng Kông, Thái Lan (những năm 1980) Các nước này cho rằng, Chính phủ tham dự càng ít vào nền kinh tế càng tốt Vai trò của chính phủ
là duy trì luật pháp và trật tự xã hội, cung cấp một số cơ sở hạ tầng như đường
xá, điện nước, nhà ở Thậm chí một số dịch vụ công cộng khác như cung cấp năng lượng, giao thông công cộng cũng được giao cho khu vực tư nhân Các nước theo trường phái này cho rằng, phương thức tiếp cận theo hướng thị trường
tự do sẽ giảm thiểu việc ban hành các chính sách một cách tuỳ tiện và việc thu lợi bất chính bằng hối lộ và tham nhũng Do đó, xu hướng hỗ trợ DNNVV đã có những thay đổi Từ năm 1991 Ngân hàng Thế giới đã chấm dứt toàn bộ các khoản cho vay trực tiếp đối với DNNVV, phản ánh một xu thế chuyển dịch quan điểm từ bỏ việc hỗ trợ trực tiếp DNNVV sang các biện pháp hỗ trợ gián tiếp Trong nền kinh tế thị trường hoàn toàn tự do, các DNNVV được bảo trợ bởi pháp luật về chống độc quyền, cũng tự tìm được các thị trường ngách thích hợp với lợi thế của sản xuất quy mô nhỏ Đồng thời, với cơ chế này, các doanh nghiệp được tự do phát huy các thế mạnh của mình trong việc lựa chọn các loại hàng hoá và dịch vụ cung cấp Do vậy, khu vực DNNVV ở nhiều nước theo trường phái thị trường tự do cũng đạt được những thành tựu phát triển nhất định, đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế của các nước đó Tuy nhiên, mô hình phát triển DNNVV theo trường phái này thường chỉ đạt được kết quả khả quan tại các nước phát triển, sự phân bổ các nguồn lực đã được thị trường điều
Trang 23tiết khá hiệu quả Ngược lại, đối với các nước đang phát triển, việc áp dụng mô hình trên không thu đựoc kết quả đáng kể nào như trường hợp của nhiều quốc gia châu Phi trong nhiều thập kỷ qua
Đến cuối thập niên 1980 và đầu những năm 1990, với xu hướng toàn cầu hoá và khu vực hoá một cách phổ biến, một mô hình mới với cách tiếp cận là
“tạo điều kiện thuận lợi để DNNVV phát triển”, với trọng tâm nhấn mạnh vào năng lực cạnh tranh của DNNVV được hình thành và trở lên phổ biến ở nhiều nước, đặc biệt là các nước đang tham gia sâu rộng và quá trình hội nhập quốc
tế Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, trong việc can thiệp vào thị trường dịch vụ phát triển cho DNNVV, nhà nước chỉ lên đóng vai trò là người tạo ra các điều kiện thuận lợi (facilitator) để thị trường cung cấp những dịch vụ phát triển tốt nhất cho các DNNVV Điều đó có nghĩa là, nhà nước chỉ nên dừng lại ở việc xây dựng năng lực cho các nhà cung ứng tư nhân, thay vì thành lập ra các tổ chức cung ứng dịch vụ của nhà nước với các công chức quan liêu và cách thức hoạt động không theo cơ chế thị trường của các tổ chức đó Đồng thời, các nước theo trường phái này cũng không hoàn toàn theo mô hình thị trường tự do vì cho rằng, quá trình giải quyết mọi vấn đề kinh tế chỉ dựa trên cơ sở thị trường là quan điểm quá đơn giản2 Như vậy, phương thức can thiệp của chính phủ các nước vào thị trường để thúc đẩy sự phát triển DNNVV đã trải qua rất nhiều mô hình khác nhau Mỗi mô hình đều đã đạt được những kết quả nhất định
Tuy nhiên, trong điều kiện nước ta hiện nay, qua xem xét những hạn chế của từng mô hình, có thể nói rằng, phương thức tiếp cận của mô hình “tạo điều kiện thuận lợi để DNNVV phát triển” có lẽ là phù hợp hơn cả
Theo đó, vai trò của Nhà nước trong phát triển DNNVV thông qua công cụ pháp luật chỉ nên tập trung vào việc sửa chữa và bù đắp khiếm khuyết của thị
2 Đài Loan là một trong những nền kinh tế theo đuổi trường phái này Vai trò của Chính phủ trong nền kinh
tế Đài Loan rất lớn nhưng chính phủ không can thiệp vào thị trường tiêu thụ vì cho rằng, lĩnh vực đó khu vực
tư nhân làm tốt hơn Chính phủ Đặc điểm quan trọng của chính sách phát triển DNNVV của Đài Loan là sự gắn kết chặt chẽ của chính sách phát triển DNNVV với chiến lược phát triển kinh tế của toàn xã hội Vai trò của chính quyền Đài Loan tập trung chủ yếu vào 3 nhóm: Xây dựng môi trường kinh doanh tối ưu; Thúc đẩy hợp tác giữa DNNVV và doanh nghiệp lớn và; thúc đẩy sự tăng trưởng độc lập của các DNNVV
Trang 24trường, với các nhiệm vụ chủ yếu là xây dựng các chính sách tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho DNNVV, thiết kế và áp dụng các biện pháp nâng cao khả năng tiếp cận tài chính để tạo điều kiện về vốn kinh doanh cho DNNVV và tăng cường các dịch vụ phát triển doanh nghiệp mà DNNVV cần để bù đắp những kỹ năng thiếu hụt do nguồn nhân lực trong DNNVV không có Và cuối cùng, cần phải khẳng định rằng, Nhà nước không phải là nhà cung cấp trực tiếp dịch vụ hỗ trợ cho DNNVV, mà việc này thị trường đảm nhiệm sẽ có hiệu quả hơn
Với cách tiếp cận trên, đã cho thấy, pháp luật về hỗ trợ DNVVN được hiểu
là tổng thể các quy phạm pháp luật quy định về nguyên tắc, nội dung, nguồn lực, phương thức, trình tự, thủ tục và trách nhiệm của các chủ thể có liên quan đến hỗ trợ doanh nghiệp
1.2.2 Nguyên tắc, nội dung pháp luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa
Qua khảo sát hệ thống pháp luật trên thế giới và của Việt Nam có thể cho phép rút ra các nguyên tắc, nội dung pháp luật hỗ trợ DNVVN như sau
- Việc hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa sử dụng nguồn lực ngoài Nhà nước
do các tổ chức, cá nhân tài trợ được thực hiện theo quy định của tổ chức, cá nhân
đó nhưng không được trái quy định của pháp luật;
- Trường hợp doanh nghiệp nhỏ và vừa đồng thời đáp ứng điều kiện của các mức hỗ trợ khác nhau trong cùng một nội dung hỗ trợ thì doanh nghiệp được lựa chọn mức hỗ trợ có lợi nhất;
- Ưu tiên lựa chọn doanh nghiệp nhỏ và vừa do phụ nữ làm chủ, doanh nghiệp nhỏ và vừa sử dụng nhiều lao động nữ;
Trang 25- Nguồn vốn hỗ trợ DNVVN phải là những nguồn vốn hợp pháp theo quy định của pháp luật
Nội dung pháp luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa
Nhận thấy vai trò to lớn của DNNVV và tầm quan trọng của việc hỗ trợ DNNVV phát triển, nhiều quốc gia đã xây dựng pháp luật hỗ trợ phát triển DNNVV Các quy định pháp luật ở các quốc gia rất đa dạng tuỳ thuộc vào đặc điểm phát triển kinh tể của từng quốc gia, tuy nhiên, tựu chung lại có thể thấy các pháp luật hỗ trợ phát triển DNNVV quy định các phương thức hỗ trợ sau:
- Hỗ trợ về tài chính bao gồm: hỗ trợ tiếp cận tín dụng; hỗ trợ thuế, kế toán; thuế
Các DNNVV có ít tài sản và nền tảng kinh tế còn yếu nên họ khó có thể thu hút vốn trên thị trường chứng khoán Việc đảm bảo cung ứng đủ vốn cho doanh nghiệp là yêu cầu thường xuyên và là thách thức lớn đối với họ
Vốn tín dụng sẽ là một nguồn bổ sung quan trọng cho các DNNVV trong quá trình phát triển Nếu coi DNNVV là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế quốc dân, cần tạo môi trường thuận lợi trong quan hệ tín dụng ngân hàng thương mại đối với loại hình kinh tế này Sự hỗ trợ tín dụng đó, trước tiên phải thông qua các biện pháp để các ngân hàng thương mại nới lỏng việc cho vay vốn trong giới hạn cho phép, đặc biệt trong khâu lập dự án đầu tư và mở rộng đầu tư có tính khả thi
Ngoài ra, việc khuyến khích thành lập các tổ chức, các quỹ, các chương trình hỗ trợ các DNNVV sẽ tạo điều kiện và môi trường thông thoáng cho sự hoạt động của DNNVV Bên cạnh đó, có thể mở rộng cả hình thức cho thuê tài chính (trung hạn, dài hạn) đối với DNNVV, thông qua việc cho thuê máy móc, thiết bị và các bất động sản cần thiết khác cũng là một biện pháp hiệu quả khắc phục hạn chế về vốn của DNNVV
Việc hỗ trợ thuế cho DNNVV bằng cách áp dụng các biện pháp ưu đãi như miễn, giảm thuế sẽ hỗ trợ các hoạt động thúc đẩy kinh doanh của các DNNVV Thông qua pháp luật về thuế và đặc biệt là chế độ ưu đãi về thuế đối với các sản
Trang 26phẩm, dịch vụ cần thiết sẽ trở thành công cụ đắc lực trong việc hướng dẫn, điều tiết các hoạt động kinh doanh, cũng như khuyến khích hiện đại hóa công nghệ đối với các DNNVV Như vậy, việc áp dụng sắc thuế hợp lý, phù hợp với đặc điểm kinh tế sẽ là nhân tố tác động tích cực để DNNVV phát triển, tăng cường tích tụ,
mở rộng quy mô, góp phần tăng trưởng và phát triển kinh tế của quốc gia
- Hỗ trợ về mặt bằng sản xuất
Để sản xuất kinh doanh các DNNVV cũng cần có mặt bằng để hoạt động, đặc biệt là trong điều kiện nhà nước khuyến khích các hoạt động sản xuất kinh doanh vào các khu công nghiệp Sự áp dụng bình đẳng tiếp mặt bằng sản xuất đối với DNNVV bảo đảm cho sự phát triển bền vững của toàn bộ nền kinh tế quốc dân Tuy nhiên, theo nguyên tắc chung, các quy định về hỗ trợ mặt bằng sản xuất không áp dụng đối với DNNVVcó vốn đầu tư nước ngoài, DNNVVcó vốn nhà nước
- Hỗ trợ về mở rộng thị trường
Thiết lập các quy định pháp luật nhằm bảo đảm sự bình đẳng đối với mọi thành phần kinh tế thông qua cung cấp thông tin, các hình thức quảng bá, triển lãm trong tiếp cận thị trường có ý nghĩa quan trọng Đặc biệt trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, tác động của chính sách xúc tiến thương mại sẽ giúp DNNVV dễ dàng hơn trong tham gia xuất khẩu trực tiếp hàng hóa, không qua khâu trung gian, tạo thị trường quốc tế bền vững cho các hàng hóa có thế mạnh của một quốc gia
- Hỗ trợ về phát triển nguồn nhân lực
Nhân lực và trình độ phát triển của nguồn nhân lực là yếu tố quyết định nhất đối với sự phát triển của mỗi quốc gia Vì vậy, các quốc gia trên thế giới đều rất coi trọng việc phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh
tế, vấn đề về nguồn nhân lực luôn được đặt lên hàng đầu
Nguồn nhân lực, suy cho cùng cũng là yếu tố có tính quyết định đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Các DNNVV muốn phát triển mạnh mẽ cũng cần thu hút đông đảo và thường xuyên nguồn nhân lực ở mọi
Trang 27trình độ Thiết lập các quy định pháp luật hỗ trợ thiết thực của nhà nước sẽ là nhân tố tích cực trong đào tạo và cung cấp nguồn nhân lực cho hoạt động kinh doanh đối với các DNNVV
- Hỗ trợ về công nghệ; hỗ trợ cơ sở ươm tạo, cơ sở kỹ thuật, khu làm việc chung
Trong điều kiện của cuộc cách mạng khoa học công nghệ 4.0, công nghệ sẽ
là điểm then chốt, quyết định sự thành công của DNVVN Theo đó, các quy định pháp luật về hỗ trợ công nghệ sẽ tập trung hỗ trợ cho DNVVN ở các nội dung: nghiên cứu, đổi mới công nghệ, tiếp nhận, cải tiến, hoàn thiện, làm chủ công nghệ thông qua các hoạt động nghiên cứu, đào tạo, tư vấn, tìm kiếm, giải mã, chuyển giao công nghệ; xác lập, khai thác, quản lý, bảo vệ và phát triển tài sản trí tuệ của doanh nghiệp Đồng thời, thiết lập các biện pháp hỗ trợ thúc đẩy sự phát triển của cơ sở ươm tạo, cơ sở kỹ thuật, khu làm việc chung của các DNVVN qua các biện pháp ưu đãi về thuế, tiếp cận về đất đai như đã nêu trên;
- Hỗ trợ về thông tin, tư vấn và pháp lý
Hỗ trợ thông tin, tư vấn pháp luật là những nội dung hỗ trợ rất căn bản để phát triển DNVVN trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường hiện đại, minh bạch và hội nhập Đây là phần hỗ trợ chính của mô hình “tạo điều kiện thuận lợi để DNNVV phát triển” như đã đề cập trên
1.3 Kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật của một số quốc gia về hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
1.3.1 Kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật của một số quốc gia về hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa
Quốc gia khởi đầu về luật hóa chính sách hỗ trợ DNNVV có thể kể đến
Mỹ Luật Hỗ trợ DNNVV của Mỹ (The Small Business Act) lần đầu tiên được ban hành vào năm 1953 với mục đích hỗ trợ và bảo hộ mức cao nhất có thể quyền lợi của các DNNVV và đảm bảo đối xử công bằng với các doanh nghiệp lớn trong việc tiếp cận các nguồn lực của Chính phủ Luật này cũng qui định thành lập cơ quan hỗ trợ DNNVV của Mỹ (Small Business Administration) để
Trang 28thực hiện các hoạt động hỗ trợ DNNVV Hoạt động chủ yếu của SBA là thực hiện các chương trình hỗ trợ tài chính, cung cấp các khoản vay SBA không cung cấp các khoản vay trực tiếp cho DNNVV mà thông qua cơ chế bảo lãnh một phần các khoản vay thông qua hệ thống ngân hàng theo qui định Ngoài ra, các khoản vay của DNNVV có thể được SBA gia hạn theo chương trình hỗ trợ cho vay dài hạn SBA còn thực hiện các chương trình cho vay mua tài sản cố định, cho vay tài chính vi mô, chương trình hỗ trợ tài chính do thảm họa SBA cũng thực hiện các chương trình phát triển DNNVV như tạo kênh thông tin tương tác DNNVV và chính phủ, thông qua mạng lưới 900 trung tâm hỗ trợ phát triển DNNVV để kết nối khách hàng có nhu cầu tiếp cận hỗ trợ tài chính
Nhật Bản ban hành Luật cơ bản về các chính sách hỗ trợ DNNVV (Small and Medium-sized Enterprise Basic Act) vào năm 1963 Trong giai đoạn tăng trưởng nhanh của kinh tế Nhật bản và những năm 1960 đã làm xuất hiện khoảng cách lớn về năng suất và tiền lương giữa DNNVV và các doanh nghiệp lớn Quá trình hiện đại hóa tạo ra nguy cơ đẩy DNNVV tụt hậu Luật cơ bản về DNNVV năm 1963 đã được ban hành để giải quyết vấn đề này Các chính sách hỗ trợ tập trung cải thiện môi trường thuận lợi cho DNNVV phát triển và là một phần quan trọng trong chính sách phát triển kinh tế quốc gia thông qua các chương trình hiện đại hóa thiết bị, hỗ trợ tài chính, nâng cao hiện quả quản trị và đào tạo nguồn nhân lực Các giai đoạn phát triển về sau, Nhật Bản đều điều chỉnh và xây dựng các chính sách hỗ trợ DNNVV mới cho phù hợp với vị trí, năng lực phát triển của DNNVV để tạo động lực tối đa cho tăng trưởng
Sau thành công về hỗ trợ DNNVV phát triển của Nhật Bản tạo nên sự phát triển kinh tế thần kỳ, Hàn Quốc đã học tập và kết quả là Luật khung về hỗ trợ DNNVV (Framework act on small and medium enterprises) đã được Chính phủ ban hành vào năm 1966 nhằm hỗ trợ và bảo vệ DNNVV trong bối cảnh các doanh nghiệp lớn phát triển mạnh, lấn át khu vực DNNVV do kết quả của chính sách hướng về xuất khẩu Cũng giống như Nhật Bản, các chính sách hỗ trợ DNNVV của Hàn Quốc được qui định tại các Luật cụ thể và đặc thù cho tường
Trang 29hoạt động và mục đích khác nhau trên cơ sở định hướng và mục tiêu lớn của Luật khung về hỗ trợ DNNVV ban hành năm 1966
Các nước Châu Âu cũng dành nhiều sự quan tâm cho các chính sách và chương trình hỗ trợ phát triển DNNVV Ở mức độ cao nhất, năm 2008, Châu Âu
đã nhất thể đưa ra các quy định hỗ trợ DNNVV cho toàn khối với Luật Hỗ trợ DNNVV (The Small Business Act) qui định các khung pháp lý để các nước thành viên làm cơ sở xây dựng các chương trình và chính sách thúc đẩy DNNVV phát triển, tạo động lực tăng trưởng để thoát khỏi tình trạng trì trệ về kinh tế Gần đây, các quốc gia đang phát triển cũng dành nhiều sự quan tâm để Luật hóa các chính sách hỗ trợ phát triển DNNVV nhằm nâng tầm DNNVV và nâng cao hiệu quả thực thi chính sách Chính phủ các nước này ngày càng dành nhiều nguồn lực để thực hiện các biện pháp, chương trình nhằm giúp hệ thống DNNVV khắc phục những hạn chế tồn tài của mình trong quá trình phát triển, tạo động lực mới và giải phóng tiềm năng phát triển của khu vực DNNVV Một
số nước ASEAN đã có Luật về DNNVV như Philippin (1991), Indonesia (1995), Malaysia (1995), Thái Lan (2000) Trung Quốc đã ban hành Luật về DNNVV vào năm 2003
Do tầm quan trọng và vài trò đặc thù của DNNVV trong phát triển kinh tế, các quốc gia đều có xu hướng hình thành và xây dựng các qui định pháp lý hỗ trợ DNNVV phát triển Nhiều nước đã Luật hóa vấn đề này để đảm bảo tính thực thi đạt được hiệu quả và thể hiện mối quan tâm phát triển DNNVV
- Cách sử dụng thuật ngữ để đặt tên cho Luật DNNVV của một số quốc gia, vùng lãnh thổ
Nhìn chung, cách thức đặt tên cho Luật DNNVV ở các quốc gia không không giống nhau Tiền tố quan trọng nhất và có tính chung nhất dùng để đặt tên cho Luật liên quan đến việc xác định quy mô đối tượng của Luật (doanh nghiệp qui mô nhỏ và quy mô vừa) Một số quốc gia thêm tiền tố như: xúc tiến, phát triển (DNNVV) với mục đích làm rõ hơn mục tiêu của Luật Nội hàm “xúc tiến”,
“phát triển” ở Luật DNNVV của các nước đều hướng đến mục tiêu hỗ trợ
Trang 30Năm ban hành
Tên Luật Tiếng Việt
(tạm dịch)
1 Châu Âu The Small Business Act 2008 Luật DNNVV
2 Armenia The Law on Small and
Medium Entrepreneurship State Support
2000 Luật Hỗ trợ của
nhà nước dành cho DNNVV
3 Belarus Law on Support Small and
Medium Enterprise
2010 Luật Hỗ trợ
DNNVV
4 Ucraina Law on development and
state support to Small and Medium Enterprise
2012 Luật Hỗ trợ của
nhà nước để phát triển DNNVV
5 Mỹ The Small Business Act 1953 Luật DNNVV
6 Hàn Quốc Framework act on small
and medium enterprises
1966 Luật khung
DNNVV
7 Nhật Bản Small and Medium-sized
Enterprise Basic Act
10 Indonesia Small Enterprise Act 1995 Luật DNNVV
11 Malaysia Small and Medium
Industries Development Corporation Act
1995 Luật Phát triển
DNNVV
Trang 3112 Thái Lan SME Promotion act 2000 Luật Xúc tiến
DNNVV
13 Myanma Small and Medium
Enterprises Development Law
2015 Luật Phát triển
DNNVV
- Kết cấu Luật DNNVV của một số nước
Các nước trên thế giới có nhiều cách tiếp cận khác nhau trong xây dựng kết cấu Luật cho DNNVV Kết cấu của Luật phụ thuộc vào cách thức xây dựng, triển khai chính sách của từng quốc gia
Hệ thống chính sách hỗ trợ DNNVV của Hàn Quốc gồm một hệ thống nhiều luật bên cạnh Luật khung về DNNVV (Framework act on small and medium enterprises) qui định các định hướng và mục tiêu lớn về chính sách phát triển DNNVV Một số Luật điển hình liên quan đến hỗ trợ và phát triển DNNVV
có thể kể đến là:
+ Luật xúc tiến DNNVV (Small and medium enterprises promotion act) + Luật tạo thuận lợi cho các DNNVV chế biến trong mua sắm
+ Luật về các qui định cho DNNVV trong các khu kinh tế
+ Luật các cơ chế đặc thù hỗ trợ cacd DNNVV thương mại
+ Luật các cơ chế đặc biệt phát triển đầu tư mạo hiểm
+ Luật thúc đẩy sáng tạo
+ Luật thúc đẩy liên kết giữa DNNVV và doanh nghiệp lớn
+ Luật xúc tiến đổi mới sáng tạo DNNVV
+ Luật thúc đẩy mua sắm công cho DNNVV
+ Luật hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực cho DNNVV…
Các Luật cụ thể riêng biệt được ban hành nhằm để giải quyết các vấn đề cụ thể mà DNNVV gặp phải trong quá trình phát triển Trong giai đoạn đầu tiên hỗ trợ DNNVV, Chính phủ Hàn Quốc chỉ đưa ra Luật cơ bản về DNNVV mang tính chất định hướng và tạo hành lang pháp lý để xây dựng các đạo Luật cụ thể
hỗ trợ DNNVV về sau này
Trang 32Chính sách cho DNNVV của Nhật Bản được xây dựng theo hai cấp độ rõ ràng Khởi đầu, Luật cơ bản về DNNVV mang tính chất là một Luật khung định hướng thể hiện sự quan tâm, cam kết của Chính phủ đối với việc hỗ trợ DNNVV phát triển Tiếp sau đó, nhiều Luật hỗ trợ chuyên ngành, đặc thù từng lĩnh vực được ban hành nhằm xây dựng và thực hiện các chính sách hỗ trợ cụ thể cho DNNVV để giải quyết các nhu cầu hỗ trợ của DNNVV trong từng thời kỳ phù hợp với tình trạng phát triển Luật cơ bản DNNVV của Nhật Bản nhấn mạnh các
hỗ trợ cần thiết cơ bản cho DNNVV về quản trị, tài chính và thương mại Các nội dung hỗ trợ cụ thể được thể hiện ở nhiều “đạo luật” khác như:
(i) về việc hình thành mạng lưới các cơ quan hỗ trợ có Luật về cơ quan hỗ trợ DNNVV; Luật về hệ thống cơ quan hỗ trợ DNNVV;
(ii) về các cơ chế hỗ trợ tài chính có Luật về hệ thống đảm bảo tài chính cho DNNVV; Luật về hỗ trợ tài chính giúp giảm tình trạng DNNVV bị phá sản, Luật Bảo lãnh tín dụng;
(iii) các Luật khác có: Luật xúc tiến đầu tư; Luật chống thanh toán chậm cho DNNVV; Luật đảm bảo các DNNVV tiếp cận mua sắm công; Luật xúc tiến thầu phụ cho DNNVV từ doanh nghiệp lớn; Luật hỗ trợ lắp đặt thiết bị cho DNNVV; Luật hỗ trợ DNNVV bởi các Hiệp hội công nghiệp – thương mại và Phòng Thương mại công nghiệp; Luật hỗ trợ cải thiện năng lực quản trị cho DNNVV; Luật thúc đẩy hình thành các hoạt động kinh doanh mới của DNNVV; Luật xúc tiến bán lẻ cho DNNVV…
Châu Âu đã hình thành Luật khung về DNNVV năm 2008 (SBA-Think Small First) Đạo Luật khung này tạo ra khung khổ chung để các nước trong liên minh xây dựng các chính sách cụ thể cho DNNVV tùy vào điều kiện, hoàn cảnh, trình độ phát triển Các ưu tiên chủ đạo của SBA là thúc đẩy khởi nghiệp, giảm các qui định ảnh hưởng đến DNNVV, hỗ trợ DNNVV tiếp cận tài chính, hỗ trợ phát triển thị trường và quốc tế hóa DNNVV SBA đã đề ra 10 nguyên tắc mà các nước thành viên cần tuân thủ để tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi cho DNNVV bao gồm:
Trang 33(i) tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi thúc đẩy khởi nghiệp;
(ii) cơ chế đảm bảo các DNNVV thất bại khởi nghiệp lần đầu dễ dàng quay lại khởi nghiệp lần 2;
(iii) Xây dựng các qui định theo yêu cầu nguyên tắc “Think Small First” của Đạo luật SBA;
(iv) Đảm bảo hệ thống hỗ trợ của chính phủ đáp ứng yêu cầu của DNNVV; (v) điều chỉnh các công cụ chính sách công cho phù hợp với nhu cầu của DNNVV gồm: thúc đẩy DNNVV tham gia mua sắm công và sử dụng có hiệu quả nguồn lực hỗ trợ DNNVV của các quốc gia thành viên;
(vi) hỗ trợ DNNVV tiếp cận tài chính và phát triển môi trường thanh toán đảm bảo các giao dịch được thực hiện đúng thời gian;
(vii) các hỗ trợ DNNVV hưởng lợi từ thị trường một khối chung thống nhất của Châu Âu;
(viii) thúc đẩy nâng cao năng lực cho DNNVV và thúc đẩy đổi mới;
(ix) tạo điều kiện cho các DNNVV biến đổi các thách thức thành cơ hội; (x) Khuyến khích và hỗ trợ DNNVV hưởng lợi từ các thị trường có tăng trưởng tốt
Vương quốc Anh là quốc gia Châu Âu dành nhiều sự quan tâm đến phát triển DNNVV Định nghĩa về DNNVV đã được đưa vào Luật Công ty năm
2006 Chính phủ đã thành lập Cơ quan nhà nước về DNNVV (Small Business Service) chịu trách nhiệm thực hiện các hoạt động hỗ trợ với 370 người và ngân sách khaongr 350 triệu bảng Cơ quan này quản lý chương trình hỗ trợ cho vay bảo lãnh tín dụng cho DNNVV và các chương trình cổ phần hóa được nhà nước tài trợ hoàn toàn Các chính sách về DNNVV của Anh tập trung nhiều vào các
hỗ trợ tài chính gồm nhiều chương trình được chia thành nhiều nhóm do nhiều
cơ quan, đơn vị liên quan thực hiện gồm:
(1) Nhóm các Chương trình hỗ trợ DNNVV tiếp cận tài chính thông qua cho vay: Chương trình cho vay (DNNVV), Chương trình quốc gia về bảo lãnh tín dụng, Chương trình tài chính cộng đồng, Chương trình bảo lãnh tài chính
Trang 34doanh nghiệp, Chương trình kết nối tài chính, đối tác tài chính, Chương trình cho vay khởi nghiệp;
(2) Nhóm các Chương trình hỗ trợ DNNVV tiếp cận tài chính thông qua đầu tư: Chương trình đầu tư vào các doanh nghiệp hạt nhân; Chương trình đầu tư mạo hiểm; Chương trình kết hợp đầu tư vào các nhà đầu tư thiên thần, Chương trình đầu tư đổi mới
(3) Hỗ trợ DNNVV có được hợp đồng hoặc bảo lãnh thông qua các chương trình hỗ trợ đầu tư và thương mại, Chương trình hỗ trợ tài chính để xuất khẩu
(4) Chương trình hỗ trợ khác: Chương trình thúc đẩy tăng trưởng, Chương trình tư vấn cho các doanh nghiệp sản xuất, Quỹ phát triển vùng, Ngân hàng doanh nghiệp
- Một số nội dung cơ bản của Luật DNNVV các nước
Xuất phát từ đặc điểm cố hữu của DNNVV, nội dung hỗ trợ phát triển DNNVV của nhiều nước đều tập trung vào các vấn đề như: Cải thiện môi trường kinh doanh: Hỗ trợ về tài chính, tín dụng; Hỗ trợ nâng cao năng lực công nghệ;
Hỗ trợ xúc tiến, mở rộng thị trường; Hỗ trợ thông tin và tư vấn; Hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực; Hỗ trợ ươm tạo doanh nghiệp… Trong đó, mối quan tâm trọng tâm của nhiều nước là hỗ trợ DNNVV gia tăng khả năng tiếp cận tài chính và hỗ trợ tín dụng Gần đây, do sức ép hội nhập, các nước cũng đã dành sự quan tâm đến các hỗ trợ nâng cao năng lực công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và hỗ trợ xúc tiến mở rộng thị trường cho DNNVV
Trang 35Bảng 1.3 Ma trận nội dung cơ bản hỗ trợ DNNVV của Luật DNNVV một
số nước
TT Nội dung
hỗ trợ
Thái Lan
nesia
Indo-Malay -sia
Phi- lipin
Singa -pore EU Mỹ
Nhật Bản
Hàn Quốc
1.3.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
So sánh với kinh nghiệm quốc tế, về tiếp cận xây dựng chủ trương, chính sách hỗ trợ DNNVV, Việt Nam hiện nay đã bắt cùng xu thế hiện tại với các nguyên tắc không hỗ trợ trực tiếp cho doanh nghiệp mà thông qua gián tiếp các
Trang 36chương trình, hoạt động nhằm khắc phục các điểm yếu mà DNNVV đã và đang gặp phải Tiếp cận nhà nước đóng vai trò kiến tạo, tạo điều kiện thuận lợi để DNNVV phát triển, với trọng tâm nhấn mạnh vào năng lực cạnh tranh của DNNVV trong chính sách hỗ trợ DNNVV hiện nay là phù hợp với xu thế phổ biến ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nước đang tham gia sâu rộng và quá trình hội nhập quốc tế
Qua phân tích về tên Luật DNNVV các nước, có thể thấy rằng tên Luật không thể thiếu tiền tố DNNVV để khẳng định và làm rõ phạm vi đối tượng của Luật, tránh việc hiểu lầm hỗ trợ sẽ hướng đến tất cả đối tượng là doanh nghiệp Điều này tạo ra điểm nhấn và khẳng định mối quan tâm của Chính phủ trong việc phát triển DNNVV Ngoài ra, cần bổ sung thêm tiền tố để nêu rõ mục tiêu của Luật như nhiều quốc gia trên thế giới đã thực hiện Tiền tố “hỗ trợ” có thể phù hợp
để lựa chọn bởi hai yếu tố thỏa mãn Về mặt ngữ nghĩa, cụm từ “hỗ trợ” trong tiếng Việt có thể đảm bảo làm rõ nghĩa mục tiêu của Luật, đồng thời bao hàm các
ý nghĩa về “phát triển” (development) hay xúc tiến (promotion) mà nhiều nước đã
sử dụng để đặt tên cho Luật Ngoài ra, việc bổ sung thêm tiền tố này cũng để nhấn mạnh Luật Hỗ trợ DNNVV sẽ qui định các biện pháp, cơ chế hỗ trợ DNNVV Đây là nội dung chính và là “trái tim” của Luật Điều này cũng là cơ sở để phân biệt Luật Hỗ trợ DNNVV có tôn chỉ và mục tiêu khác hẳn so với đại đa số các Luật của Quốc hội đã ban hành nhằm để qui định và quản lý nhà nước các đối tượng cụ thể, cần điều chỉnh
Kinh nghiệm quốc tế cũng chỉ ra rằng không có một thể thức nhất quán về kết cấu quả Luật Tùy vào điều kiện, thể chế chính trị, hệ thống pháp luật và mục tiêu của các quốc gia, mỗi quốc gia sẽ chọn cho mình một hướng phù hợp nhất định Áp dụng vào hệ thống Luật pháp Việt Nam, các qui định hiện hành và đặc thù về mục tiêu, tôn chỉ của Luật Hỗ trợ DNNVV, có thể định hình kết cấu dự kiến của Luật là sự kết hợp giữa Luật “khung” và các “Luật chuyên ngành” Kết cấu này đảm bảo cho việc đưa vào những qui định khung, sau đó cụ thể hóa ở cấp Nghị định những vấn đề lớn chưa có những giải pháp cụ thể hoặc chưa có đủ
Trang 37cơ sở kiểm chứng Ngoài ra, những qui định về các cơ chế, chương trình hỗ trợ
đã đủ cơ sở để cụ thể hóa có thể đưa ngay vào Luật để triển khai thực hiện Điều này đảm bảo tính áp dụng kịp thời, tránh được độ trễ do nếu phải đợi Luật được thông qua và sau đó phải hoàn thành xây dựng các văn bản hướng dẫn dưới luật mới triển khai được sẽ mất nhiều thời gian, giảm tính hiệu quả của Luật
Về nội dung cơ bản của Luật, cần đề cập đến các vấn đề về cải thiện môi trường kinh doanh; hỗ trợ về tài chính, tín dụng; hỗ trợ nâng cao năng lực công nghệ; hỗ trợ xúc tiến, mở rộng thị trường; hỗ trợ thông tin và tư vấn; hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực… cho DNNVV Các vấn đề này sẽ giúp cho DNNVV giải quyết được các vấn đề yếu kém cố hữu của mình, đồng thời tạo ra môi trường để giải phóng và kích thích những điểm mạnh của DNNVV như tính sáng tạo, sự phát triển nhanh, có thể khỏa lấp các thị trường ngách… để phát triển, tạo ra động lực cho tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, một số nội dung cần tập trung hỗ trợ đó là vấn đề hỗ trợ tiếp cận tài chính, tín dụng cho DNNVV vì DNNVV do hạn chế về quy mô và quản trị luôn không có hoặc rất thiếu vốn đề khởi sự và phát triển
Kinh nghiệm quốc tế cũng chỉ ra rằng hỗ trợ tài chính, tín dụng cho DNNVV
là mục tiêu và hoạt động hỗ trợ cơ bản cho DNNVV ở nhiều nước Ngoài ra, bối cảnh hiện nay có nhiều thay đổi Hội nhập kinh tế sâu rộng, sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin đã xóa nhòa khoảng cách địa lý giữa các quốc gia, kích thích đổi mới sáng tạo và tạo ra những cơ chế, luật chơi mới của thị trường kinh tế toàn cầu theo các chuỗi giá trị các chuỗi cung ứng Điều này đòi hỏi Luật Hỗ trợ DNNVV phải có những nội dung qui định mang tính đón đầu tập trung vào các nội dung hỗ trợ mới như: đổi mới sáng tạo; khởi nghiệp; hỗ trợ cho các DNNVV tăng cường khả năng tham gia các chuỗi giá trị, hình thành các liên kết mang tính chất cụm, ngành để nâng cao năng lực cạnh tranh doanh nghiệp, gia tăng hàm lượng giá trị gia tăng trong sản phẩm, tạo ra sự phát triển bền vững cho doanh nghiệp, cho nền kinh tế quốc gia
Trang 38- Phương thức can thiệp của chính phủ các nước vào thị trường để thúc đẩy
sự phát triển DNNVV đã trải qua rất nhiều mô hình khác nhau Mỗi mô hình đều
đã đạt được những kết quả nhất định Tuy nhiên, trong điều kiện nước ta hiện nay, qua xem xét những hạn chế của từng mô hình, có thể nói rằng, phương thức tiếp cận của mô hình “tạo điều kiện thuận lợi để DNNVV phát triển” có lẽ là phù hợp hơn cả;
- Pháp luật về hỗ trợ DNVVN được hiểu là tổng thể các quy phạm pháp luật quy định về nguyên tắc, nội dung, nguồn lực, phương thức, trình tự, thủ tục
và trách nhiệm của các chủ thể có liên quan đến hỗ trợ doanh nghiệp Trên cơ sở
đó, Luận văn đã làm rõ các nguyên tắc, nội dung cơ bản của pháp luật về hỗ trợ DNVVN, kinh nghiệm quốc tế và những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Trang 39CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY VÀ THỰC TIỄN THỰC THI TẠI THÀNH
Các chính sách, chương trình, dự án hỗ trợ DNNVV đã và đang từng bước
đi vào cuộc sống, góp phần nâng cao nhận thức và sự quan tâm đối với công tác
hỗ trợ phát triển DNNVV của các Bộ ngành, địa phương, tổ chức hiệp hội và cộng đồng các nhà tài trợ quốc tế Bên cạnh đó, Việt Nam cũng đã hình thành được một đầu mối chính thức về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực hỗ trợ phát triển DNNVV, tham gia tích cực vào các diễn đàn đa phương như Hợp tác Kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC), Hợp tác Á-Âu (ASEM); với các tổ chức quốc
tế và khu vực như Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), Tổ chức Phát triển công nghiệp Liên hiệp quốc (UNIDO), Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), v.v
Có thể khẳng định rằng, DNNVV đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam Vai trò này càng được khẳng định khi Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 03/6/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế Trước đó, tại Kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa XIV đã thông qua Luật Hỗ trợ DNNVV số 04/2017/QH14 Sự ra đời của Luật này, lần đầu tiên hoạt động hỗ
Trang 40trợ đối với DNNVV Việt Nam đã được quy định tại một văn bản pháp quy ở cấp
độ cao nhất Đây là cơ sở để hình thành một hệ thống quy định và chính sách hỗ trợ phát triển DNNVV trên phạm vi cả nước
Để các quy định của Luật Hỗ trợ DNNVV số 04/2017/QH14, có thể triển khai trên thực tế, Chính phủ đã ban hành một số văn bản hướng dẫn như: Nghị định số 34/2018/NĐ-CP ngày 08/3/2018 của Chính phủ về việc thành lập, tổ chức và hoạt động của Quỹ Bảo lãnh tín dụng cho DNNVV; Nghị định số 38/NĐ-CP ngày 11/3/2018 của Chính phủ quy định chi tiết đầu tư cho DNNVV khởi nghiệp sáng tạo; Nghị định số 39/2018/NĐ-CP ngày 11/3/2018 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Hỗ trợ DNNVV… đóng vai trò là cơ
sở nền tảng, cụ thể hóa một số quy định liên quan đến nhiều khía cạnh về hỗ trợ phát triển DNNVV và là căn cứ rất quan trọng để một số bộ, ngành tiếp tục hướng dẫn và triển khai các chính sách cụ thể đối với hoạt động hỗ trợ phát triển DNNVV
2.1.1 Các quy định pháp luật về hỗ trợ chung
Hỗ trợ về tài chính bao gồm: hỗ trợ tiếp cận tín dụng; hỗ trợ thuế, kế toán thuế
Theo Điều 8 Luật Hỗ trợ DNNVV số 04/2017/QH14, trong từng thời kỳ, Chính phủ quyết định chính sách hỗ trợ tổ chức tín dụng tăng dư nợ cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa; khuyến khích tổ chức tín dụng cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa dựa trên xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp và biện pháp phù hợp khác; khuyến khích thành lập tổ chức tư vấn độc lập để xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp nhỏ và vừa Doanh nghiệp nhỏ và vừa được cơ quan, tổ chức, cá nhân hỗ trợ xây dựng phương án sản xuất, kinh doanh khả thi, tăng cường năng lực quản trị, kỹ năng quản lý, minh bạch hóa tài chính của doanh nghiệp để nâng cao khả năng tiếp cận tín dụng
Đồng thời, doanh nghiệp nhỏ và vừa được cấp bảo lãnh tín dụng tại Quỹ bảo lãnh tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định của pháp luật Việc bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa dựa trên tài sản bảo đảm hoặc