Nhận thức được vấn đề nêu trên, một trong những nhiệm vụ mà Đại hội Đảng bộ Đường sắt Việt Nam lần thứ XI - nhiệm kì 2015 - 2020, đề ra là: "Quan tâm đến công tác đào tạo nguồn nhân lực
Trang 1HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
PHẠM THỊ THƯƠNG
PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
CHẤT LƯỢNG CAO NGÀNH ĐƯỜNG SẮT
VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
HÀ NỘI - 2019
Trang 2HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
PHẠM THỊ THƯƠNG
PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
CHẤT LƯỢNG CAO NGÀNH ĐƯỜNG SẮT
VIỆT NAM HIỆN NAY
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của PGS TS Phan Thanh Khôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận
án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định
Tác giả luận án
Phạm Thị Thương
Trang 4vấn đề đặt ra luận án cần tiếp tục nghiên cứu 22
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN
NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO NGÀNH ĐƯỜNG SẮT VIỆT NAM 30 2.1 Quan niệm về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực chất
2.2 Quan niệm, nội dung và nhân tố tác động đến phát triển nguồn
nhân lực chất lượng cao ngành Đường sắt Việt Nam 48
Chương 3: PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO
NGÀNH ĐƯỜNG SẮT VIỆT NAM HIỆN NAY - THỰC TRẠNG,
NGUYÊN NHÂN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA 71 3.1 Thành tựu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành
3.2 Hạn chế về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành
3.3 Những vấn đề đặt ra trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng
Chương 4: QUAN ĐIỂM CƠ BẢN VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU PHÁT
TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO NGÀNH ĐƯỜNG SẮT
4.1 Quan điểm cơ bản phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
4.2 Giải pháp chủ yếu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ 150
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 151
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lí do lựa chọn đề tài
Trước tác động của toàn cầu hóa kinh tế và kinh tế tri thức, đặc biệt khi thế giới đang bước vào cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, nền kinh tế nước ta tất yếu phải chuyển từ kinh tế sử dụng nhiều tài nguyên là chính sang kinh tế tri thức mà trọng tâm là phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao Với tốc độ thay đổi công nghệ đang diễn ra "thần tốc" như hiện nay, cần phải tiếp cận nhanh hơn nữa với những tiến bộ khoa học công nghệ thế giới Vì vậy, nguồn nhân lực chất lượng cao trở thành vấn đề chiếm vị trí trung tâm trong
hệ thống chính sách liên quan đến nguồn lực phát triển, nguồn lực quyết định
sự tăng trưởng kinh tế Đầu tư phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao, là yếu tố quyết định sự phồn vinh, thịnh vượng của tất cả các quốc gia, đảm bảo cho sự phát triển nhanh và bền vững
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI (2011) đã đề ra ba đột phá chiến lược, đó là:
"Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trọng tâm là tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng và cải cách hành chính; phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; tập trung vào việc đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục quốc dân, gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với ứng dụng khoa học - công nghệ; xây dựng kết cấu hạ tầng đồng
bộ, với một số công trình hiện đại, tập trung vào hệ thống giao thông và hạ tầng đô thị lớn"[17]
Như vậy, các khâu trong đột phá chiến lược này đều gắn liền với sự phát triển của ngành đường sắt, nhất là phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII (2016) một lần nữa nhấn mạnh: Tập trung thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng tăng
Trang 6trưởng, năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế Tiếp tục thực hiện có hiệu quả ba đột phá chiến lược, trong đó có chiến lược phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao
Vừa qua, Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương khóa XII (2018) xác định một trong những mục tiêu tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ là để: "…đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước công nghiệp hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh" [20, tr.57] Để đạt được mục tiêu này, cần sự phối hợp của nhiều ngành, trong đó có sự đóng góp của ngành giao thông vận tải nói chung và ngành Đường sắt Việt Nam nói riêng
Nhận thức được vấn đề nêu trên, một trong những nhiệm vụ mà Đại hội Đảng bộ Đường sắt Việt Nam lần thứ XI - nhiệm kì 2015 - 2020, đề ra là:
"Quan tâm đến công tác đào tạo nguồn nhân lực cho cán bộ công nhân viên trong Ngành về trình độ chuyên môn và ngoại ngữ để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp hội nhập quốc tế và yêu cầu phát triển của Ngành"[11, tr.44]
Đường sắt Việt Nam là một ngành kinh tế, kỹ thuật đặc thù trong nền kinh tế quốc dân có trình độ kỹ thuật cao Với bề dày lịch sử gần 140 năm xây dựng và phát triển, trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc
Mỹ và trong công cuộc đổi mới hiện nay, ngành đường sắt đã có những đóng góp cho sự phát triển của đất nước Có mạng lưới 3143 km trải dài từ Đồng Đăng tới Thành phố Hồ Chí Minh, Đường sắt Việt Nam đã và đang trở thành
"xương sống" trong hệ thống giao thông nước ta, vận tải đường sắt góp phần hoàn thành các mục tiêu kinh tế - xã hội, đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân
Tuy nhiên, những năm gần đây, vận tải đường sắt đã bộc lộ nhiều hạn chế, yếu kém, chưa cập nhật được với nhu cầu xã hội, chưa cạnh tranh được với các loại hình vận tải khác như: đường bộ, đường thủy và hàng không giá
Trang 7rẻ Đồng thời, với yêu cầu của sự phát triển đất nước trong giai đoạn mới, Đường sắt Việt Nam chưa phát huy được thế mạnh của một ngành kinh tế mũi nhọn Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, song nguyên nhân căn bản nhất là ngành đang thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao Vì vậy, bên cạnh việc đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, ngành đường sắt cần phải phát triển nguồn lực con người, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ tái cơ cấu Đường sắt Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Từ những lý do nêu trên, tác giả lựa chọn vấn đề Phát triển nguồn nhân
lực chất lượng cao ngành Đường sắt Việt Nam hiện nay làm đề tài nghiên cứu
luận án tiến sĩ Triết học, chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích làm rõ những vấn đề lý luận, thực trạng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành Đường sắt Việt Nam, luận án đề xuất những quan điểm cơ bản và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành Đường sắt Việt Nam hiện nay
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Luận án tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
- Làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành Đường sắt Việt Nam hiện nay
- Phân tích, đánh giá thực trạng và xác định những vấn đề đặt ra trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành Đường sắt Việt Nam hiện nay
- Đề xuất một số quan điểm cơ bản và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành Đường sắt Việt Nam hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu sự phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành
Đường sắt Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Trang 83.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: Luận án đặt trọng tâm nghiên cứu sự phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành Đường sắt Việt Nam ở các bộ phận chủ yếu là: Đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý; đội ngũ cán bộ khoa học, công nghệ; đội ngũ doanh nhân; đội ngũ công nhân lành nghề ngành Đường sắt Việt Nam hiện nay
- Phạm vi về không gian: Luận án nghiên cứu, khảo sát số liệu thực tiễn qua báo cáo ở một số đơn vị sản xuất - kinh doanh; Công ty Cổ phần xe lửa Gia Lâm; Công ty Cổ phần vận tải đường sắt Hà Nội; điều tra xã hội học ở Trường Đại học Công nghệ Giao thông vận tải và Trường Cao đẳng Đường sắt Việt Nam
- Phạm vi thời gian: Các số liệu sử dụng trong luận án từ 2003 đến nay,
đề xuất giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của ngành đến
2030 (Năm 2003 là năm Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Tổng Công ty Đường sắt Việt Nam trên cơ sở Liên hiệp Đường sắt Việt Nam theo quyết định số 34/2003 QĐ - TTg ngày 04 tháng 3 năm 2003)
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1 Cơ sở lý luận
Luận án dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, chính sách của Nhà nước Việt Nam về con người, nguồn lực con người, phát triển nguồn nhân lực, về phát triển nguồn nhân lực ngành giao thông vận tải nói chung và nguồn nhân lực chất lượng cao ngành đường sắt trong giai đoạn hiện nay và những vấn đề liên quan
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử, các phương pháp phân tích và tổng hợp; so sánh, khái quát hóa, thống nhất lịch sử - lôgic; điều tra xã hội học, phương pháp điền dã (khảo sát thực địa, trực quan) và phương pháp chuyên gia , để thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 95 Những đóng góp về khoa học của luận án
- Luận án góp phần làm rõ thêm quan niệm, đặc điểm, nội dung, các nhân tố tác động và thực trạng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành Đường sắt Việt Nam hiện nay
- Đề xuất một số quan điểm cơ bản và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành Đường sắt Việt Nam hiện nay
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Kết quả của luận án có thể góp phần làm luận cứ khoa học cho các cấp ủy đảng, chính quyền, cơ quan và tổ chức tham khảo xây dựng chính sách, giải pháp đào tạo, sử dụng, phát huy nguồn nhân lực chất lượng cao của ngành Đường sắt Việt Nam hiện nay
- Luận án có thể làm tài liệu tham khảo cho cá nhân, tổ chức trong nghiên cứu, giảng dạy những vấn đề liên quan đến đề tài luận án
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu; Kết luận; Danh mục các công trình khoa học của tác giả; Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục; luận án được kết cấu 4 chương với 9 tiết
Trang 10Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1.1 Các công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao
1.1.1.1 Các công trình trong nước nghiên cứu về nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao
- Các công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực:
Trần Văn Tùng, Lê Ái Lâm trong công trình: "Phát triển nguồn nhân lực - kinh nghiệm thế giới và thực tiễn nước ta" [96] đã đề cập đến vai trò của
nguồn nhân lực trong nền kinh tế đổi mới và kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực ở khía cạnh phát triển giáo dục ở một số nước trên thế giới Vận dụng tốt những kinh nghiệm quý báu đó vào việc phát triển nguồn nhân lực ở nước ta sẽ góp phần tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao, tạo ra động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội
Nguyễn Hữu Dũng trong công trình: "Sử dụng hiệu quả nguồn lực con người ở Việt Nam" [8] đã trình bày hệ thống một số vấn đề lý luận và thực
tiễn có liên quan đến phát triển, phân bố và sử dụng nguồn lực con người trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam,t tác giả đã đánh giá thực trạng 15 năm đổi mới lĩnh vực nguồn nhân lực; đồng thời giới thiệu kinh nghiệm sử dụng nguồn lực con người ở một số nước như
Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc; từ đó tác giả đề xuất các giải pháp nhằm phát triển, phân bố hợp lý và sử dụng hiệu quả nguồn lực con người trong quá trình phát triển kinh tế nước ta đến năm 2010
Đoàn Văn Khái trong công trình: "Nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam [38] đã làm rõ một số vấn
Trang 11đề chung về công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên thế giới; nội dung, bản chất, tính tất yếu và đặc điểm của công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay; đồng thời làm rõ vai trò quyết định của nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa; tác giả đã đánh giá thực trạng và những vấn đề đặt ra về nguồn lực con người ở Việt Nam hiện nay Trên cơ sở đó, tác giả chỉ rõ phương hướng, quan điểm và những giải pháp
cơ bản phát triển hiệu quả nguồn lực con người đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam
Các tác giả trong công trình nghiên cứu: "Nâng cao hiệu quả quản lý nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước" do
Phạm Thành Nghị chủ biên [58] đã trình bày những vấn đề lý luận cơ bản, nhận thức mới và hiện đại về quản lý nguồn nhân lực như vấn đề về con người
và phát triển nguồn vốn con người; các mô hình quản lý nguồn nhân lực; các yếu tố tác động đến quản lý nguồn nhân lực và các chính sách vĩ mô tác động đến quản lý nguồn nhân lực; những kinh nghiệm quản lý nguồn nhân lực ở một số quốc gia phát triển như Hoa Kỳ và Thụy Điển, các nước Đông Á và các nước có nền kinh tế chuyển đổi Các tác giả đã phân tích những nét đặc thù trong quản lý nguồn nhân lực ở một số ngành và lĩnh vực như: các cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp và đơn vị sản xuất kinh doanh qua các số liệu điều tra xã hội học; đề xuất những quan điểm và giải pháp cơ bản quản lý nguồn nhân lực phù hợp, thay thế cho cách quản lý nguồn nhân lực truyền thống trước đây
"Báo cáo tổng hợp Quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011- 2020" của Bộ Kế hoạch và đầu tư [3] đã tập trung làm rõ các nội dung
quan trọng về: Hiện trạng phát triển nguồn nhân lực Việt Nam với những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân; phương hướng phát triển nguồn nhân lực Việt Nam đến năm 2020 và những vấn đề đặt ra; từ đó chỉ ra các giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện quy hoạch phát triển nguồn nhân lực Việt Nam giai
Trang 12đoạn 2011 - 2010; tổ chức thực hiện quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020
Đặng Tú Oanh trong công trình: "Phát huy nguồn lực thanh niên trong
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước" [63] đã làm rõ vai trò của
nguồn lực thanh niên trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trên cơ sở phân tích đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi thanh niên và đưa ra quan niệm về nguồn lực thanh niên; đánh giá thực trạng, nguyên nhân của những hạn chế nguồn lực thanh niên,; từ đó tác giả đề ra phương hướng, giải pháp chủ yếu để phát huy nguồn lực thanh niên trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Vũ Văn Phúc, Nguyễn Duy Hùng trong cuốn sách: "Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa hiện đại hóa và hội nhập quốc tế"
[64] đã đề cập đến quan điểm của Hồ Chí Minh và Đảng ta về phát triển nguồn nhân lực; những vấn đề lý luận chung về cách tiếp cận nguồn nhân lực,
từ lý luận đến thực tiễn phát triển nguồn nhân lực, những kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực của một số ngành như Dầu khí, Ngân hàng ở Việt Nam
và kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực của một số nước và vùng lãnh thổ Cuốn sách phân tích thực trạng và đề xuất các giải pháp phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay
Nguyễn Minh Thắng trong công trình: "Phát huy nguồn lực cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự trẻ trong xây dựng quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay" [79] đã đánh giá thực trạng, xác định xu hướng phát huy nguồn
lực cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự trẻ trong xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam trên cơ sở luận giải một số vấn đề lý luận và thực tiễn của việc phát huy nguồn lực cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự trẻ Qua đó, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy nguồn lực cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự trẻ trong xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay
Trung tâm Nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực trong cuốn sách: "Từ chiến lược phát triển giáo dục đến chính sách phát triển nguồn nhân lực" [92]
Trang 13đã khẳng định rằng, muốn tiến hành nghiên cứu và xây dựng hệ thống chính sách phát triển giáo dục, trong đó có chính sách đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trước hết cần từng bước triển khai chiến lược phát triển giáo dục Cuốn sách là công trình có giá trị, kết quả nghiên cứu của nhiều nhà khoa học và quản lý ở nhiều lĩnh vực khoa học và kinh tế khác nhau nhằm góp phần phổ biến
và chia sẻ những thông tin về chiến lược, chính sách đào tạo và phát triển nguồn nhân lực
- Các công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực chất lượng cao
Bùi Thị Ngọc Lan trong cuốn sách: "Nguồn lực trí tuệ trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam" [42] đã làm rõ được tầm quan trọng và vai trò
của nguồn lực trí tuệ con người đối với sự phát triển của xã hội Tác giả chỉ
ra những đặc điểm cơ bản, thực trạng và xu hướng phát triển nguồn lực trí tuệ Việt Nam; trên cơ sở đó đã đề xuất một số quan điểm cơ bản và các giải pháp chủ yếu để phát triển đội ngũ tinh hoa trong nguồn lực đất nước
Đỗ Thị Thạch trong công trình: "Phát triển nguồn lực nữ trí thức Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa" [76] đã tập trung làm rõ
một số nội dung về trí thức, trí thức nữ; phân tích đặc điểm, luận giải vai trò của đội ngũ trí thức nữ Việt Nam đối với sự phát triển của đất nước và những vấn đề đặt ra Đồng thời, tác giả đã đề ra một số phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm phát huy nguồn lực trí thức nữ Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa như: phát triển giáo dục và đào tạo; xây dựng chính sách đào tạo và sử dụng đội ngũ trí thức nữ hợp lý; xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc bền vững
Lê Thị Hồng Điệp trong công trình: "Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao để hình thành nền kinh tế tri thức ở Việt Nam" [21] đã góp phần
làm phong phú thêm những luận điểm mới về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao để hình thành nền kinh tế tri thức thông qua sự phân tích nội dung, tiêu chí và những yếu tố tác động đến quá trình phát triển lực lượng này; thực
Trang 14trạng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao để hình thành nền kinh tế tri thức giai đoạn 2001 - 2007 gắn với những nội dung, tiêu chí và những yếu tố tác động nêu trên; tác giả cũng đề xuất những giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao để hình thành nền kinh tế tri thức ở Việt Nam trong tương lai Những đề xuất đó, góp phần tìm ra con đường và cách thức hiệu quả để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao thực sự trở thành lực lượng tiên phong trên hành trình hiện thực hóa nền kinh tế tri thức ở Việt Nam
Trần Văn Tùng trong cuốn sách: "Đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nguồn nhân lực tài năng" [97] đã trình bày những kinh nghiệm phát hiện, đào
tạo và sử dụng tài năng khoa học và công nghệ sản xuất kinh doanh, quản lý của Mỹ và một số quốc gia châu Âu, châu Á Tác giả cho rằng, một trong những thành công của đào tạo tài năng khoa học và công nghệ ở Mỹ là việc chú trọng đến việc kết hợp chặt chẽ hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học trong các trường đại học; coi trọng đổi mới phương pháp giảng dạy; khuyến khích phát triển tài năng khoa học và công nghệ bằng các hình thức phong tặng chức danh khoa học và chế độ đãi ngộ hợp lý Tác giả đã đưa ra khuyến nghị, ở Việt Nam cần đổi mới các chính sách đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nguồn tài năng hiện có
Viện Chiến lược của Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã chủ trì, triển khai nghiên
cứu đề tài khoa học cấp Bộ với chủ đề: "Nguồn nhân lực chất lượng cao: hiện trạng phát triển, sử dụng và các giải pháp tăng cường" [98] Trong đề tài này,
các tác giả đã nêu ra quan điểm của mình về nguồn nhân lực chất lượng cao và tìm hiểu những yếu tố tác động đến việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao Đề tài cũng bước đầu đánh giá thực trạng một số nhóm nguồn nhân lực chất lượng cao của nước ta và đề xuất những phương hướng, giải pháp để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của Việt Nam trong những năm tiếp theo
Công trình: "Xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam" của
Nguyễn Văn Khánh [35] là kết quả nghiên cứu, hội thảo của các nhà khoa học
Trang 15thuộc các lĩnh vực khác nhau trong khuôn khổ đề tài khoa học cấp Nhà nước
KX.03.22/06-10: "Xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam phục vụ
sự nghiệp chấn hưng đất nước trong thế kỷ XXI" Các bài viết trong công
trình đã lý giải một số vấn đề cơ bản về trí tuệ, nguồn lực trí tuệ; tổ chức và phát huy nguồn lực trí tuệ phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước
Trong công trình: "Lược khảo về kinh nghiệm phát hiện, đào tạo và sử dụng nhân tài trong lịch sử Việt Nam" của Phạm Hồng Tung [94] đã chỉ ra
những mặt tích cực và hạn chế trong thực tiễn đào tạo và sử dụng nhân tài của ông cha ta qua các thời kỳ lịch sử, từ thời kỳ dựng nước, đến thời kỳ Bắc thuộc, thời kỳ đầu xây dựng nhà nước phong kiến trung ương tập quyền đầu tiên sang đầu thế kỷ thứ X và đến những năm cuối của thế kỷ XIV, những quan niệm về người hiền tài trong lịch sử trung đại của Việt Nam; bên cạnh
đó, là quan niệm mới về nhân tài ở Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ
XX và sự xuất hiện của đội ngũ trí thức Tây học Tác giả cũng đã phân tích một cách sâu sắc quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về chăm lo, bồi dưỡng người tài cho đất nước Tác giả rút ra bài học kinh nghiệm hữu ích góp phần xây dựng luận cứ khoa học cho việc hoạch định chiến lược giáo dục, đào tạo bồi dưỡng, phát hiện và sử dụng người tài trong sự nghiệp xây dựng đất nước trong giai đoạn đổi mới và hội nhập hiện nay
Công trình: "Chiến lược phát triển nhân tài của Trung Quốc từ 1978 đến nay" của Nguyễn Thị Thu Phương [66] đã chỉ ra những vấn đề thực tiễn
trong việc thu hút, đãi ngộ và sử dụng nhân tài của Trung Quốc, làm sáng tỏ
cơ sở hình thành chiến lược nhân tài của Trung Quốc từ năm 1978 đến nay Thông qua quá trình thực tiễn đó, các tác giả đã có những đánh giá về thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế đó trong chiến lược nhân tài của Trung Quốc, đồng thời các tác giả cũng rút ra một số bài học kinh nghiệm quý báu để có thể vận dụng vào chiến lược phát triển nhân tài của Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay
Trang 16Các tác giả thuộc Viện Khoa học giáo dục Việt Nam trong công trình:
"Kinh nghiệm một số nước về phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ gắn với xây dựng đội ngũ trí thức" [98] đã phân tích chính sách
phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ đối với xây dựng đội ngũ trí thức của từng nước, từ đó rút ra kinh nghiệm cho Việt Nam
Đề tài khoa học cấp cơ sở: "Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với kinh tế tri thức" của Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Chủ
nghĩa xã hội khoa học [32] đã làm rõ lý luận về nguồn nhân lực chất lượng cao và công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với kinh tế tri thức; tìm hiểu kinh nghiệm thế giới về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thực trạng nguồn nhân lực chất lượng cao của Việt Nam hiện nay và những vấn đề đặt
ra Đề tài chỉ ra xu hướng nguồn nhân lực chất lượng cao; đề xuất những giải pháp cơ bản để phát triển nguồn lực này đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với kinh tế tri thức của Việt Nam
Nguyễn Thị Thanh Dung trong cuốn sách: "Phong cách tư duy Hồ Chí Minh với việc xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở nước ta hiện nay"
[7] đã phân tích một cách sâu sắc và có hệ thống về những nội dung cơ bản của phong cách tư duy Hồ Chí Minh về cán bộ lãnh đạo, quản lý Thông qua
đó, tác giả đề ra những giải pháp cơ bản nhằm góp phần xây dựng đội ngũ cán
bộ lãnh đạo, quản lý nước ta hiện nay có phong cách tư duy của nhà lãnh đạo, quản lý hiện đại
Vũ Thị Phương Mai trong công trình: "Nguồn lực chất lượng cao trong
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay" [55] đã làm rõ
khái niệm nguồn nhân lực chất lượng cao và mối quan hệ giữa nguồn lực này với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa; phân tích thực trạng nguồn nhân lực chất lượng cao trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và những vấn đề đặt ra ở Việt Nam hiện nay; từ đó, tác giả đề cập những quan điểm cơ
Trang 17bản và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Đỗ Văn Dạo trong cuốn sách: "Phát triển nguồn nhân lực quân sự chất lượng cao đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa quân đội nhân dân Việt Nam" [6] đã
phân tích những kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực quân sự chất lượng cao trong lịch sử dân tộc và ở một số nước, khái quát tình hình phát triển nguồn nhân lực quân sự chất lượng cao ở Việt Nam từ 1994 đến nay trên cơ
sở luận giải một số vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển nguồn nhân lực quân sự chất lượng cao; tác giả đã tập trung phân tích thực trạng, nguyên nhân và những vấn đề đặt ra trong phát triển nguồn nhân lực quân sự chất lượng cao; đồng thời dự báo xu hướng đến năm 2020 và đề xuất những quan điểm, giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực quân sự chất lượng cao ở Việt Nam đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa Quân đội nhân dân Việt Nam
Phạm Văn Quý trong công trình: "Các giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nhân lực khoa học công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa" [67] đã đánh giá thực trạng phát triển nhân lực khoa học và công
nghệ ở nước ta giai đoạn 1986 -2003, đề xuất giải pháp chủ yếu để phát triển nguồn lực khoa học và công nghệ giai đoạn 2004 - 2010, tầm nhìn đến 2020 trên cơ sở luận giải quan niệm về nguồn nhân lực khoa học công nghệ ở nước
ta hiện nay với bộ phận nòng cốt của nó là nhân lực có trình độ từ cao đẳng trở lên, làm việc trong các lĩnh vực nghiên cứu, quản lý, giảng dạy các chuyên ngành khoa học và công nghệ, và nhân lực được đào tạo để khai thác, sử dụng công nghệ, thực hành chuyên môn kỹ thuật Đóng góp có giá trị của tác giả là các giải pháp có ý nghĩa đối với việc phát triển nguồn nhân lực ở các ngành khác nhau, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước hiện nay
Ngoài ra còn một số bài báo khoa học có liên quan đến vấn đề nghiên cứu đó là:
Các tác giả Phan Thanh Khôi, Nguyễn Văn Sơn trong bài: "Xây dựng đội ngũ trí thức lớn mạnh, chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất
Trang 18nước" [41] đã phân tích làm rõ tầm quan trọng của trí thức trong tình hình mới, đây chính là lực lượng sáng tạo đặc biệt quan trọng, có vai trò to lớn trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Trong bài viết, các tác giả đã đề ra nội dung phương hướng phát triển và quan điểm mang tính giải pháp cơ bản để xây dựng đội ngũ lao động trí thức, đặc biệt là xây dựng đội ngũ trí thức trên tinh thần Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
XI đã thông qua
Phan Thanh Khôi trong bài: "Đóng góp của đội ngũ trí thức vào chủ trương, đường lối hội nhập kinh tế quốc tế" [40] đã chỉ ra ý nghĩa của việc
phát triển đội ngũ trí thức Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc
tế của đất nước, đồng thời tác giả chỉ ra những luận cứ khoa học, bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật, đào tạo nguồn nhân lực, góp phần vào quá trình hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn trong bối cảnh hội nhập quốc tế của Việt Nam, tác giả cũng đã kiến nghị một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của đội ngũ trí thức trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay
Đỗ Thị Thạch trong bài viết: "Chiến lược phát triển nguồn nhân lực trong Văn kiện Đại hội XI của Đảng" [75] đã phân tích làm rõ chiến lược phát
triển nguồn nhân lực trong văn kiện Đại hội XI của Đảng ta; những quan điểm mới trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực, từ đó làm rõ quan điểm của Đảng về những giải pháp để phát triển nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao
Phạm Quốc Trung, Trần Đăng Thịnh trong bài viết: "Một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở nước ta hiện nay" [91] đã chỉ ra
những bất cập trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, chỉ ra nguyên nhân khách quan, chủ quan của những bất cập đó, từ đó đề xuất năm giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
Phạm Công Nhất trong bài: "Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu đổi mới và hội nhập quốc tế" [61] đã phân tích thực trạng nguồn
Trang 19nhân lực nước ta trong giai đoạn hiện nay, trong đó tác giả nhấn mạnh đến những hạn chế, yếu kém về chất lượng nguồn nhân lực nước ta, nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém, qua đó, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực nước ta đáp ứng yêu cầu đổi mới và hội nhập quốc tế
Văn Tất Thu trong bài: "Nhân tài và những vấn đề cơ bản trong sử dụng, trọng dụng nhân tài" [82] đã đưa ra phân tích và làm rõ những đặc
điểm của nhân tài, vị trí, vai trò của nhân tài trong việc phát triển đất nước hiện nay Tác giả cũng lưu ý một số vấn đề cơ bản trong thu hút và sử dụng nhân tài, phát hiện nhân tài, có những chính sách đãi ngộ và thu hút nhân tài
và những vấn đề liên quan tới đào tạo, bồi dưỡng nhân tài trong sự nghiệp phát triển của đất nước qua các thời kỳ lịch sử
Nguyễn Văn Khánh, Hoàng Thu Hương trong bài: "Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay: Thực trạng và triển vọng"
[36] đã đưa ra quan niệm về nguồn nhân lực chất lượng cao, thực trạng nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay Trên cơ sở đó, bài viết chỉ ra triển vọng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và một số khuyến nghị để phát triển nguồn lực này phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Nguyễn Đình Bắc trong bài: "Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
ở nước ta trước tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư" [1] đã
chỉ rõ thực chất của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và vấn đề đặt ra đối với thị trường lao động Từ đó, tác giả chỉ rõ ba giải pháp cần tập trung nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở nước ta: Một là, xây dựng
và hoàn thiện chiến lược tổng thể phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong thời kỳ mới Hai là, tích cực đổi mới, hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách về xây dựng, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao Ba là, đẩy mạnh đổi mới căn bản, toàn diện, đồng bộ giáo dục - đào tạo
Trang 201.1.1.2 Các công trình nước ngoài nghiên cứu về nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao
Thẩm Vinh Hoa, Ngô Quốc Diện trong cuốn sách: "Tôn trọng trí thức, tôn trọng nhân tài kế lớn trăm năm trấn hưng đất nước" [30] đã đề cập đến
vai trò của nhân tài kiệt xuất đối với sự phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc
Vì vậy, coi trọng việc bồi dưỡng và giáo dục nhân tài là một vấn đề quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến lợi ích lâu dài và sự tồn vong của Đảng và Nhà nước Trung Quốc Các tác giả còn đề cập đến phương phương pháp tuyển chọn, bố trí và sử dụng nhân tài sao cho hiệu quả nhất Đặc biệt, nhân tài mà các tác giả đề cập không chỉ là những thiên tài bẩm sinh, trở thành kiệt xuất, mà chính là những con người trưởng thành trong môi trường học tập, công tác Do đó, nông dân tiên tiến, công nhân tiên tiến, những nhà chuyên môn tiên tiến đều được coi là nhân tài Đây là cách tiếp cận giúp tác giả luận
án thấy được tầm quan trọng của nguồn nhân lực chất lượng cao đối với sự
phát triển kinh tế - xã hội
David McGuire và nhóm tác giả trong công trình: "Framing Human Resource Development: An Exploration Of Definitional Perspectives Utilising Discourse Analysis" (Cơ cấu phát triển nguồn nhân lực: Một cuộc thăm dò
các quan điểm xác định bằng cách sử dụng phân tích diễn ngôn) [109] đã đề cập khái niệm nguồn nhân lực, trên cơ sở khái quát sự phát triển của hai trường phái Mỹ và châu Âu về quan niệm này Nhóm tác giả khẳng định: nguồn nhân lực đang trải quan một quá trình biến đổi, phát triển dần dần Trong đó, trường phái Mỹ sử dụng quan niệm "quản lý nguồn nhân lực", trường phái châu Âu quan tâm đến vấn đề liên kết nguồn nhân lực cũng như tiềm năng nguồn lao động Nhóm tác giả đã sử dụng 3 cách để tiếp cận nguồn nhân lực đó là: chủ nghĩa kiến tạo xã hội, quản trị nguồn nhân lực và thuyết phản diện
Các tác giả Priyanka Rani, M S Khan trong công trình: "Impact of
Trang 21Human Resource Development on Organisational Performance" (Tác động
của phát triển nguồn nhân lực đến hiệu năng của tổ chức) [119] đã tập trung phân tích làm rõ mối quan hệ giữa sự tác động của phát triển nguồn nhân lực
ở các góc độ: kỹ năng, thái độ, hành vi với hiệu năng của tổ chức Nghiên cứu khẳng định tác động của nguồn nhân lực lên hiệu năng tổ chức có mặt tích cực và chỉ ra tác động của nó lên kỹ năng, thái độ, hành vi được tiết chế bởi nguồn lực, bối cảnh tổ chức và các tình huống ngẫu nhiên khác Mặt khác, hạn chế của nghiên cứu này là các dữ liệu và tài liệu được thu thập từ nhiều cuốn sách, tạp chí liên quan đến phát triển nguồn nhân lực và hiệu suất tổ chức tức là từ các tài liệu nghiên cứu có sẵn, không có một công cụ thống kê
cụ thể nào được sử dụng để phân tích Các dữ liệu đã được biên soạn và phân tích theo cách để cung cấp kết quả nên có tác dụng đáng kể đối với luận án này
Anastasia A Katou trong bài viết: "The Impact of Human Resource Development on Organisational Performance: Test of a Causal Model" (Tác
động của phát triển nguồn nhân lực đến hiệu suất của tổ chức: Thử nghiệm
mô hình nhân quả) [104] đã phân tích làm rõ các mối liên hệ từ nguồn nhân lực đến hiệu năng tổ chức bằng cách sử dụng mô hình cấu trúc tuyến tính Cụ thể, tác giả sử dụng công cụ phân tích này để kiểm nghiệm một khung nghiên cứu được hợp thành bởi một tập hợp các mối quan hệ nhân quả giữa các tổ chức và các biến ngẫu sinh, nguồn lực và phát triển nguồn nhân lực, kỹ năng, thái độ, hành vi và hiệu năng tổ chức Sử dụng dữ liệu từ các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực sản xuất ở Hy Lạp Nghiên cứu cho thấy, tác động của nguồn nhân lực lên hiệu năng tổ chức là tích cực và nối tiếp qua trung gian là kỹ năng, thái độ và hành vi, và được điều tiết bởi nguồn lực, bối cảnh tổ chức và các biến ngẫu sinh khác Do đó, tác giả không chỉ ủng hộ quan điểm cho rằng nguồn nhân lực có một tác động tích cực đến hiệu năng tổ chức mà còn giải thích cơ chế mà qua đó nguồn nhân lực cải thiện hiệu năng của tổ chức
Trang 22P.V.C Okoye và Raymond A Ezejiofor trong công trình: "The Effect of Human Resources Development on Organizational Productivity" (Tác động của phát triển nguồn nhân lực lên năng suất của tổ chức) [120] đã nghiên cứu nhằm
xác định mức độ, mà tại đó, nguồn nhân lực có thể nâng cao năng suất lao động, lợi nhuận của tổ chức, xác định các yếu tố ảnh hưởng đến nguồn nhân lực Dựa trên những phát hiện của nghiên cứu này, các nhà nghiên cứu khuyến cáo rằng các tổ chức cần khắc sâu những thói quen tham dự các cuộc hội thảo và hội nghị, các công ty nên chắc chắn rằng, nỗ lực của người tuyển dụng được đánh giá theo thời gian để biết được bằng cách nào họ đóng góp vào việc đạt được mục tiêu của tổ chức, cũng như chất lượng giáo dục phải là điều kiện tiên quyết cho việc tuyển dụng, đề bạt và sắp xếp nhân sự
Tác giả Niveen M Al-Sayyed trong công trình: "Critical Factors affecting Human Resource Development in the Arab World" (Các yếu tố
quan trọng tác động đến phát triển nguồn nhân lực trong Thế giới Ả rập) [115] đã sử dụng khái niệm phát triển nguồn nhân lực của Thomson và Mabey, bao gồm ba thành phần là phát triển tổ chức (OD), phát triển nghề nghiệp (CD), đào tạo và phát triển (TD) Kết quả cho thấy rằng, những yếu
tố quan trọng nhất tác động đến phát triển nguồn nhân lực, bao gồm yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài đó là phong cách lãnh đạo, các cam kết của nhân viên và động lực, đặc điểm nhân khẩu học, công đoàn lao động, pháp luật và các quy định của chính phủ Ngoài ra, tác giả cũng nghiên cứu những yếu tố cản trở nguồn nhân lực trong thế giới Ả Rập Đóng góp của tác giả trong nghiên cứu này là thấy được những rào cản trong môi trường bên trong và bên ngoài cản trở phát triển nguồn nhân lực bao gồm: lãnh đạo không hiệu quả, thiếu phương pháp tiếp cận có hệ thống và lập kế hoạch cho việc sử dụng nguồn nhân lực tốt nhất có thể, ngoài ra sự thay đổi
về đặc điểm nhân khẩu học Tác giả chỉ rõ các yếu tố kìm hãm sự phát triển nguồn nhân lực trong thế giới Ả Rập là: đầu tư cho đào tạo thấp, chậm sử
Trang 23dụng công nghệ thông tin và internet hiện đại và các chính sách có liên
quan
Malihe Mohamedi và Masoud Ghorbanhosseini trong công trình:
"Identifying and Measuring Factors Affecting Human Capital Development
in Social Security Hospital of Saveh City" (Xác định và đo lường các yếu tố
tác động đến phát triển nguồn nhân lực trong Bệnh viện An sinh xã hội của thành phố Saveh) [114] đã áp dụng phương pháp luận nghiên cứu và khảo sát mô tả về mục đích và thu thập dữ liệu tương ứng Số lượng thống kê bao gồm tất cả các nhân viên của Bệnh viện An sinh xã hội của Saveh lên tới 300 người Qua thu thập dữ liệu bằng bảng câu hỏi được thiết kế bởi các nhà nghiên cứu, các dữ liệu được phân tích đi đến kết luận những tác động tích cực đến phát triển vốn nhân lực bao gồm: quy hoạch, đào tạo, các yếu tố thuộc về tổ chức, quy trình và đánh giá
1.1.2 Các công trình nghiên cứu có liên quan đến nguồn nhân lực, nguồn nhân lực chất lượng cao ngành đường sắt
1.1.2.1 Các công trình trong nước nghiên cứu về nguồn nhân lực, nguồn nhân lực chất lượng cao ngành đường sắt
Hồ Thu trong bài: "Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở Tổng Công
ty Đường sắt Việt Nam" [81] đã đề cập đến việc huy động các nguồn lực,
bao gồm: nhân lực, cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có; chủ trương, đường lối,
cơ chế chính sách của Đảng, Nhà nước; các nguồn vốn ưu đãi công nghệ tiên tiến từ nước ngoài; các nguồn lực mang lại từ chính sách xã hội hóa Từng bước hoàn thành các nhiệm vụ chiến lược, tạo ra bước đột phá về đầu
tư kết cấu hạ tầng đường sắt và chất lượng nguồn lực, hoàn thành cơ bản các mục tiêu phát triển Đường sắt Việt Nam đã được Chính phủ phê
duyệt Tác giả cũng nhấn mạnh, để tạo ra được đột phá về chất lượng
nguồn lực, vai trò của đào tạo có ý nghĩa rất lớn Tác giả cũng kiến nghị trong thời gian tới, Tổng Công ty Đường sắt Việt Nam cần xây dựng quy
Trang 24hoạch, kế hoạch và chế độ cụ thể để tuyển chọn các lao động trực tiếp có tay nghề giỏi, có khả năng phát triển để đào tạo theo hình thức vừa làm, vừa học nhằm nâng cao trình độ nghề nghiệp những chuyên ngành mà doanh nghiệp Đường sắt Việt Nam cần
Hàn Như Quỳnh trong bài: "Các giải pháp ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ, hợp tác quốc tế để tăng năng lực, thị phần vận tải đường sắt, góp phần xây dựng thương hiệu, hình ảnh đường sắt quốc gia Việt Nam" [69]
đã trình bày về vai trò của khoa học công nghệ và hợp tác quốc tế trong phát triển đường sắt Thực trạng hoạt động khoa học công nghệ và hợp tác quốc tế của Tổng Công ty Đường sắt Việt Nam, từ đó chỉ ra năm nhóm giải pháp ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ, hợp tác quốc tế để tăng năng lực, thị phần vận tải đường sắt, góp phần xây dựng thương hiệu, hình ảnh Đường sắt quốc gia Việt Nam
Các tác giả cuốn sách: "Lịch sử Đường sắt Việt Nam" [87] đã tái hiện
và khắc họa một cách chân thực, sinh động hơn 100 năm lịch sử hình thành và phát triển của ngành đường sắt Từ truyền thống của ngành đòi hỏi cán bộ, công nhân toàn ngành phải phấn đấu không ngừng để ngày càng xây dựng, phát triển và sử dụng, khai thác hiệu quả tiềm năng giao thông vận tải Đường sắt phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
1.1.2.2 Các công trình nước ngoài nghiên cứu về nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao ngành đường sắt
Nnaemeka E Ononiwu, Diana J Mosquer trong công trình: "Strategic Factors Affecting the Transformation of Business, Harvard Business Review Press" (Các yếu tố chiến lược ảnh hưởng đến sự chuyển đổi của doanh
nghiệp, Tạp chí kinh doanh của Đại học Harvard) [116] đã đề cập đến vai trò của nguồn nhân lực ngành đường sắt, nhấn mạnh chiến lược xây dựng nguồn nhân lực ngành đường sắt Coi đây chính là một trong những mắt xích quan trọng trong toàn bộ chuỗi hoạt động phát triển của doanh nghiệp đường sắt
Trang 25Rupert Murdoch trong công trình: "International strategic management, International Sociology" (Quản trị chiến lược quốc tế, Xã hội
học quốc tế) [118] khi nghiên cứu về vai trò của các yếu tố trong việc xây dựng nguồn nhân lực ngành đường sắt, cho rằng, việc xây dựng chiến lược phát triển doanh nghiệp phải đặc biệt chú ý tới tầm quan trọng của yếu tố con người Điều này được rút ra từ thực tế của ngành công nghiệp đường sắt
Halsius, Fredric, Lochen, Christoffer trong công trình: "Molecular technologies for Biodiversity Evaluation: Opporturnities and Challenges "
(Ứng dụng công nghệ phân tử trong đánh giá đa dạng sinh học: Cơ hội và thách thức) [111] đã khẳng định rằng: sự thay đổi của môi trường kinh doanh, công nghệ và xu hướng phát triển của doanh nghiệp đều có tác động đáng kể đến tổ chức cũng như chiến lược phát triển nguồn nhân lực ngành đường sắt
Dr Dimitrios Buhalis trong công trình: "Tourism Management: Strategic use ofinformation technologies in the tourism industry" (Quản lý du
lịch: Sử dụng chiến lược công nghệ thông tin trong ngành du lịch) [110] đã nghiên cứu về vai trò của Công nghệ thông tin trong việc hoạch định chiến lược của nguồn nhân lực ngành đường sắt Tác giả đã nhận định rằng, sự phát triển của công nghệ thông tin chắc chắn sẽ làm thay đổi cả chiến lược phát triển nguồn nhân lực ngành đường sắt Và điều này đã được thực tế chứng minh, sự phát triển của Internet từ cuối thập niên 1990 đã mang lại hiệu quả cao cho ngành công nghiệp này Trong công trình này, tác giả đã khẳng định: ngành đường sắt là một ngành công nghiệp quốc tế, sự tăng trưởng và phát triển nguồn nhân lực ngành đường sắt có lẽ chỉ được nhân đôi bởi sự phát triển của công nghệ thông tin Tác giả đã đánh giá cao vai trò của công nghệ thông tin trong việc hoạch định chiến lược của ngành đường sắt
Dr Oh Ji Taek trong công trình: "Policy and Planning for Rail Development Lesson Learnt from Korea for Vietnam" (Chính sách và kế hoạch phát triển đường
sắt Bài học từ Hàn Quốc cho Việt Nam) [112] đã đề cập chiến lược phát
Trang 26triển nguồn nhân lực ngành đường sắt của Hàn Quốc đến năm 2020, nhằm mục đích nhấn mạnh vào nguồn nhân lực ngành đường sắt và hệ thống giao thông liên kết để tối đa hiệu suất và cụ thể đề xuất một số giải pháp như sau: kết nối các thành phố chủ đạo bằng hệ thống đường sắt cao tốc với vận tốc trên 230km/h; xây dựng mạng lưới tàu cao tốc trong đô thị, thủ đô với thời gian di chuyển trong vòng 30 phút; xây dựng hệ thống vận tải hàng hóa đường sắt xanh; đường sắt tiện lợi cho người sử dụng
Russian Railway Joint Stock Company trong công trình: "Development strategy of Russian railways holding for the period until 2030 (general)"
(Chiến lược phát triển Đường sắt Nga đến năm 2030 (tổng quát) [117] đã phân tích, chiến lược phát triển của nguồn nhân lực ngành đường sắt Nga đến năm 2030, tập trung vào một số vấn đề sau: Đầu tư phát triển hệ thống nguồn nhân lực ngành đường sắt; phát triển cơ sở hạ tầng; xây dựng một số tuyến đường sắt mới; phát triển các trung tâm logistic; xây dựng các tuyến tới khu công nghiệp và các mỏ khoáng sản; phát triển các hành lang quá cảnh và nâng cấp đường sắt hiện tại
Zhang, Jianping trong công trình: "Intsarregtop Transport" (Giao thông
nội địa) [121] đã trình bày Chiến lược phát triển đường sắt Trung Quốc đến năm 2020 tập trung vào hai hướng chính: nâng cao năng lực, chất lượng về cơ
sở hạ tầng và cải cách ngành công nghiệp đường sắt nhằm mục tiêu đưa đường sắt Trung Quốc hướng tới phát triển bền vững và phát triển đường sắt cao tốc Chiến lược phát triển của Đường sắt Trung Quốc bao gồm: Phát triển đường sắt siêu cao tốc; xây dựng liên khu hành lang và nâng cấp đường sắt hiện tại Đây cũng là một trong những bài học có thể vận dụng phù hợp khi xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực cho ngành Đường sắt Việt Nam
1.2 KHÁI QUÁT KẾT QUẢ CHỦ YẾU CỦA CÁC CÔNG TRÌNH TỔNG QUAN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA LUẬN ÁN CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU
1.2.1 Khái quát kết quả chủ yếu của các công trình tổng quan
Trang 27Các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án trên đây đã phân tích, đề cập nhiều khía cạnh khác nhau liên quan trực tiếp đến nội dung
mà luận án nghiên cứu như: quan niệm; vị trí, vai trò; nhân tố tác động; đánh giá thực trạng; đề xuất quan điểm, giải pháp phát triển nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực chất lượng cao trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Tác giả có nhận xét và khái quát một số kết quả chủ yếu của các công trình đã tổng quan, với một số nội dung cơ bản sau đây:
Một là, hiện đã có không ít công trình, đề tài nghiên cứu đưa ra quan
niệm về nguồn nhân lực, nguồn nhân lực chất lượng cao và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao Các công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực chất lượng cao, phần lớn các tác giả đã tiếp cận một cách có hệ thống những vấn
đề lý luận cơ bản để vận dụng vào một ngành cụ thể, mang tính đặc thù ở mỗi ngành như: khái niệm, vai trò, ý nghĩa và tầm quan trọng mang tính quyết định của vấn đề nhân lực và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, với nhiều góc độ tiếp cận của các ngành khoa học khác nhau Đồng thời luận giải, khẳng định vai trò to lớn của việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao chiếm vị trí trung tâm của các nguồn lực phát triển của mọi quốc gia và là nguồn lực quyết định đến tăng trưởng, thịnh vượng về kinh tế của mỗi nước
Vì vậy, các công trình tổng quan đã quan tâm, nghiên cứu vai trò của đội ngũ trí thức trong giai đoạn hiện nay, bởi lẽ, muốn có nguồn nhân lực chất lượng cao thì phải phụ thuộc trước hết vào chất lượng giáo dục, đào tạo và đầu tư khoa học, công nghệ hiện đại
Hai là, một số công trình đi sâu nghiên cứu các nhân tố tác động đến
phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Một số tác giả đã đưa ra bộ tiêu chí để đánh giá mức độ phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao Phân tích những yếu tố, điều kiện
có thể ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của nguồn nhân lực chất lượng cao như: các chính sách đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, thu hút, đãi ngộ, môi
Trang 28trường làm việc cho người lao động, đặc biệt lao động trí óc Phân tích mối quan hệ giữa đầu tư vào nguồn nhân lực và tăng trưởng kinh tế; xu thế mở rộng tác quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng cộng nghiệp lần thứ
tư, vừa đặt ra yêu cầu cao, vừa tạo điều kiện thuận lợi để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở mỗi quốc gia
Ba là, một số công trình phân tích, đánh giá thực trạng, vai trò của
nguồn nhân lực đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội trên thế giới, nhất
là ở các nước đang phát triển châu Á Một số tác giả đi sâu phân tích thực trạng nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực chất lượng cao nói riêng Phân tích, đánh giá thực trạng nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay, các công trình đã bám sát vào cấu trúc tiếp cận của nguồn nhân lực chất lượng cao thông qua số lượng, chất lượng, cơ cấu Các tác giả đều có chung một nhận định rằng, nguồn nhân lực chất lượng cao của Việt Nam chưa đáp ứng yêu cầu hội nhập, kinh tế tri thức và yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đồng thời, nêu ra những hạn chế và nguyên nhân hạn chế của nguồn nhân lực chất lượng cao này, trong đó nhấn mạnh đến các nguyên nhân về giáo dục và đào tạo, những bất cập và chính sách
xã hội chưa thực sự đổi mới cho phù hợp với nguồn nhân lực chất lượng cao
Bốn là, thông qua đó, các tác giả đề xuất và kiến nghị giải pháp nhằm
xây dựng và phát huy vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao trong sự phát triển bền vững của các quốc gia Các công trình nghiên cứu đã hệ thống hóa, bám sát quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao; trên cơ sở đó đã đề xuất, phân tích phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Các tác giả nhận thấy, phát triển nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao không thể đứng ngoài xu thế phát triển chung của hội nhập quốc tế, toàn cầu hóa và phát triển kinh tế tri thức Các công trình nghiên cứu
Trang 29cũng đề xuất hệ thống giải pháp để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, trước hết phải nâng cao chất lượng giáo dục ở bậc học phổ thông; phân định
rõ xu hướng phát triển theo khả năng của học sinh; định hướng nghề nghiệp, đào tạo nghề, đa dạng hoá các loại hình đào tạo, tăng cường liên kết đào tạo; đảm bảo sử dụng hợp lý các nguồn đầu tư cho giáo dục và đào tạo; quy hoạch đào tạo theo yêu cầu sử dụng nguồn nhân lực phục vụ cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đổi mới cơ chế hoạt động đào tạo nguồn nhân lực
Một số công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực trong ngành đường sắt tuy chưa nhiều, song đã phân tích cho thấy, đây là một ngành có nhiều đặc thù, đòi hỏi nguồn nhân lực phải đáp ứng những tiêu chí cụ thể so với mặt bằng nhân lực chung Bên cạnh đó, cung cầu lao động trong ngành đường sắt còn chênh lệch dẫn đến sự thiếu hụt của bộ phận nguồn nhân lực chất lượng cao Đây cũng là vấn đề phổ biến của ngành đường sắt trên thế giới đang đặt
ra cần nghiên cứu, đòi hỏi phải chú trọng đến các chính sách nhằm thu hút, cũng như phát huy tốt nhất năng lực của nguồn nhân lực chất lượng cao cho mục tiêu phát triển của ngành
Kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã tổng quan có liên quan đến luận án trên đây cho thấy, có nhiều nội dung, cách tiếp cận khác nhau về nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao Các công trình tổng quan là những nguồn tài liệu có giá trị để kế thừa, nhưng cũng là cơ sở
để tác giả tìm ra khoảng trống để lựa chọn hướng nghiên cứu của luận án đi đúng và sát với góc độ chuyên ngành Triết học chính trị - xã hội, không trùng lặp với các công trình nghiên cứu đã được công bố
1.2.2 Những vấn đề đặt ra luận án cần tiếp tục nghiên cứu
Qua tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận
án trên, đã cho thấy, đề tài phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là đề tài nhận được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học và thể hiện khá hệ thống, toàn diện về nguồn nhân lực chất lượng cao - lực lượng quyết định nhất đến sự
Trang 30hình thành nền kinh tế tri thức toàn cầu nói chung, ở nước ta nói riêng Tác giả lựa chọn đề tài luận án nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của ngành Đường sắt Việt Nam, với những vấn đề cơ bản đặt ra trong luận án sẽ giải quyết là:
Một là, tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến nguồn
lực con người, nguồn nhân lực chất lượng cao, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao Sự cần thiết phải nghiên cứu, hệ thống hóa các công trình có liên quan đến phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao nói chung và ở ngành Đường sắt nói riêng, vì từ đó kế thừa kết quả, cách tiếp cận về cách thức giải quyết vấn đề và tránh những trùng lắp đề tài luận án với các công trình đã được công bố Đến nay, các công trình khoa học nghiên cứu về nguồn lực chất lượng cao của ngành đường sắt, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành đường sắt còn khá khiêm tốn Trong khi đó, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành đường sắt đáp ứng với yêu cầu xây dựng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay là rất cơ bản và cấp bách Đây là một trong những căn cứ quan trọng giúp cho tác giả kế thừa kết quả của các công trình nghiên cứu có liên quan đã công bố, tìm ra khoảng trống và hướng giải quyết vấn đề nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành Đường sắt Việt Nam hiện nay
Hai là, nghiên cứu về quan niệm và bản chất, nội dung của phát triển
nguồn nhân lực chất lượng cao nói chung, tính đặc thù ở ngành Đường sắt Việt Nam Đây là nội dung cần thiết phải đặt ra giải quyết trong luận án, mặc
dù đã có nhiều nhà khoa học, ở nhiều công trình nghiên cứu và ở những chuyên ngành khác nhau cũng đề cấp đến nguồn nhân lực chất lượng cao; song đây là lý thuyết rất cơ bản cần nắm chắc thì mới vận dụng vào để giải quyết vấn đề cụ thể phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành Đường sắt Việt Nam hiện nay Vì vậy, việc nghiên cứu, đưa ra những luận chứng đầy
đủ về quan niệm, nội dung, tiêu chí, đặc điểm phát triển nguồn nhân lực chất
Trang 31lượng cao của nghành Đường sắt Việt Nam là nhiệm vụ quan trọng của luận
án Cho nên, trong luận án đã thiết kế một chương độc lập bàn về một số khái niệm cơ bản, cấu trúc, nội dung phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành Đường sắt Việt Nam hiện nay
Ba là, đánh giá thực trạng, nguyên nhân và xác định vấn đề đặt ra trong
phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của ngành Đường sắt Việt Nam hiện nay Đây là vấn đề quan trọng cần giải quyết trong luận án, bởi lẽ, chỉ đánh giá đúng thực trạng và tìm ra nguyên nhân thì mới xác định đúng giải pháp cho sát thực, mang tính khả thi phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của ngành Đường sắt Việt Nam hiện nay Mỗi công trình khoa học nghiên cứu có liên quan đến đề tài đã công bố rất chú trọng đánh giá thực trạng của nguồn lực nói chung, nguồn nhân lực chất lượng cao, về cả thành tựu, hạn chế và những nguyên nhân của thực trạng của vấn đề ở nước ta hiện nay Tuy nhiên, thực trạng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong ngành Đường sắt chưa được nghiên cứu, đánh giá toàn diện, khách quan trên cơ sở lý thuyết khoa học Vì vậy, vấn đề đặt ra cho luận án tập trung giải quyết là đánh giá khách quan, toàn diện thực trạng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của ngành là rất cần thiết; trên cơ sở đó, luận chứng những vấn đề đặt ra trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành Đường sắt Việt Nam hiện nay
Bốn là, đề xuất quan điểm, giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất
lượng cao của ngành Đường sắt Việt Nam hiện nay và trong những năm tới Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành đường sắt hiện nay, phải dựa vào cơ sở lý luận và thực tiễn; từ đó luận chứng các giải pháp cơ bản, hệ thống mới, có tính khả thi Mặc dù, đã có những công trình nghiên cứu khác nhau đề cập đến hệ thống giải pháp để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, song việc nghiên cứu, đề xuất hệ thống các quan điểm, giải pháp cơ bản phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho phù hợp với điều kiện của ngành đường sắt hiện nay thì chưa được quan tâm thích đáng Đây là một
Trang 32trong những nhiệm vụ đặt ra nghiên cứu không đơn giản, không được mang tính tư biện chủ quan mà là kết quả rút ra từ các nội dung nghiên cứu đã thể hiện trong luận án Bởi lẽ, đề xuất hệ thống các giải pháp đúng sẽ có giá trị thiết thực cho phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành Đường sắt Việt Nam hiện nay và những năm tới
Tác giả xác định một số nội dung đặt ra cần giải quyết trong luận án nêu trên là những vấn đề cấp thiết cả về lý luận, thực tiễn và không bị trùng lặp với các công trình khoa học nghiên cứu đã được công bố
Tiểu kết chương 1
Nghiên cứu đề tài về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành Đường sắt Việt Nam, những vấn đề cơ bản đặt ra trong luận án là cấp thiết Đường sắt Việt Nam là một ngành kinh tế mũi nhọn, với bề dày lịch sử gần
140 năm hình thành và phát triển, Ngành đã có nhiều đóng góp cho phát triển kinh tế - xã hội của nước nhà Ở thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, sứ mệnh của Ngành đang đặt ra yêu cầu mới, cần nâng cao hiệu quả kinh doanh để góp phần phát triển kinh tế - xã hội và phục vụ ngày càng tốt hơn nhu cầu đi lại của người dân Thực tế trong những năm qua, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, ngành Đường sắt Việt Nam còn có bất cập về sức cạnh tranh về kinh tế, về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và chưa được đầu tư vốn, khoa học, công nghệ hiện đại so với một số ngành khác
Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án, ở trong nước cũng như ở nước ngoài, giúp tác giả tham chiếu, kế thừa cách tiếp cận và kết quả của các công trình nghiên cứu tiêu biểu Đó cũng là cơ sở để tác giả vận dụng, xác định hướng giải quyết vấn đề phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành Đường sắt Việt Nam hiện nay
Qua khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình có liên quan đến luận án, gợi ý cho tác giả đánh giá sát thực trạng, xác định đúng hệ giải pháp
để phát huy thế mạnh, tiềm năng của Đường sắt Việt Nam - một ngành kinh tế
Trang 33mũi nhọn, nhưng còn chưa đáp ứng được nhu cầu xã hội, chưa cạnh tranh được với loại hình phương tiện vận tải khác và yêu cầu của sự phát triển đất nước trong giai đoạn mới
Giá trị của tổng quan các công trình tiêu biểu có liên quan đến luận án,
là tìm ra những khoảng trống, xác định các vấn đề đặt ra cần tập trung giải quyết theo góc độ chính trị - xã hội và phù hợp với tính chất của đề tài luận án tiến sĩ Triết học, chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học
Trang 34Chương 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO
NGÀNH ĐƯỜNG SẮT VIỆT NAM
2.1 QUAN NIỆM VỀ NGUỒN NHÂN LỰC VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO NGÀNH ĐƯỜNG SẮT VIỆT NAM
2.1.1 Nguồn nhân lực và nguồn nhân lực ngành Đường sắt Việt Nam
2.1.1.1 Về nguồn nhân lực
Hiện nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến khái niệm nguồn nhân lực ở các góc độ khác nhau:
Nguồn nhân lực, theo nghĩa rộng, là nguồn cung cấp sức lao động cho
sản xuất xã hội, cho sự phát triển của một quốc gia, là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực
là khả năng của các nhóm dân cư, cá nhân trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội; có đủ các yếu tố về phẩm chất, về thể lực, trí lực được huy động vào quá trình lao động Ở một nghĩa nào đó, nguồn nhân lực có thể tương đồng với nguồn lực con người (Hunman Resources), nguồn lao động được sử dụng từ những năm 60 của thế kỷ XX ở nhiều nước phương tây và một số nước châu Á Theo quan niệm của Liên hợp quốc cho rằng: "Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh
xã hội Ở Việt Nam, quy định độ tuổi lao động của Luật lao động (1994), độ
Trang 35tuổi lao động đối với nam từ 15 đến 60 và nữ từ 15 đến 55 tuổi; hiện nay, đang có sự điều chỉnh theo hướng kéo dài và tùy theo tính chất ngành nghề cho phù hợp nhu cầu thực tế của cá nhân, của xã hội Sự so sánh, phân biệt giữa nguồn nhân lực với nguồn lao động là ở khả năng lao động Nguồn nhân lực của một ngành thì bao giờ cũng gắn liền với khả năng lao động, hoạt động nghề nghiệp, tay nghề, kinh nghiệm còn nguồn lao động chưa tính đến nhiều tiêu chí, yêu cầu cụ thể
Ở Việt Nam, sử dụng thuật ngữ về nguồn lực con người khá phổ biến vào những năm 90 của thế kỷ XX đến nay, dựa trên quan niệm mới về vai trò,
vị trí của con người trong sự phát triển Đây là chủ đề được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, đưa ra những tiêu chí và đặc trưng của nguồn nhân lực là rất phong phú, mỗi ngành khoa học có quan niệm không giống nhau về tính chất, đặc điểm, vai trò, nhu cầu phát triển nguồn nhân lực ở mỗi giai đoạn lịch sử, cụ thể Thực tế đã có quan niệm bàn cả về nguồn nhân lực gắn với dân số và chất lượng con người: "Nguồn lực con người là dân số và chất lượng con người, bao gồm thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực, phẩm chất đạo đức của người lao động " [24] Nguồn nhân lực là những con người phải có đủ phẩm chất, kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo trong sản xuất Nguồn nhân lực có quan hệ chặt chẽ với sự phát triển của mỗi cá nhân, của đất nước, là sản phẩm của nền giáo dục, đào tạo của một quốc gia trong một giai đoạn lịch sử và được thể hiện ở mỗi ngành, mỗi lĩnh vực cụ thể
Nguồn nhân lực của một quốc gia có vai trò quan trọng đặc biệt so với các nguồn lực khác trong quá trình thúc đẩy xã hội phát triển, được xác định
là nguồn "tài nguyên đặc biệt" và có thể đánh giá qua tiêu chí chất lượng, số lượng, cơ cấu dân cư còn trong độ tuổi lao động Nguồn nhân lực có thể hiểu thực chất là toàn bộ phẩm chất trình độ chuyên môn mà con người tích lũy được, thể hiện thông qua hiệu quả lao động của nhóm dân cư trong một quốc gia ở thời điểm hiện tại và trong tương lai Kiến thức mà con người tích lũy
Trang 36được thể hiện trong quá trình lao động sản xuất là mấu chốt, vì chính kiến thức đó, giúp họ tạo ra của cải, tài sản cho cuộc sống hiện tại và tương lai của chính mình
Từ những sự phân tích trên, có thể khái quát: Nguồn nhân lực là một khái niệm dùng để chỉ tổng hợp các yếu tố hiện hữu và khả năng tiềm ẩn của người lao động bao gồm số lượng, chất lượng và cơ cấu lao động có thể được huy động để tham gia vào quá trình sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần cho
xã hội trong hiện tại cũng như tương lai
Nguồn nhân lực cũng có thể được xem xét ở nhiều cấp độ, như là một trong những nguồn lực ở dạng dự trữ, tiềm năng, cả hiện hữu gắn với cá nhân, tập thể, một ngành nghề, cộng đồng, hay quốc gia Sự phát triển của một quốc gia trong mỗi giai đoạn lịch sử, cụ thể sẽ cần có tổng hòa những nguồn lực khác nhau như tài nguyên, vốn, khoa học - công nghệ, nhưng nguồn nhân lực hay nguồn lực con người bao giờ cũng giữ vai trò là nguồn lực quan trọng nhất
Nguồn nhân lực cung cấp sức lao động cho xã hội, đó là những con
người và những nhóm dân cư phát triển bình thường về trí lực, thể lực, có khả năng lao động và trong độ tuổi lao động mà không bị khiếm khuyết hoặc bị dị
tật Nguồn nhân lực thể hiện khả năng huy động sức lao động của xã hội, bảo
đảm thúc đẩy sự phát triển xã hội; nếu một quốc gia có nguồn nhân lực lao động chiếm tỷ lệ cao trong cơ cấu dân cư thì được gọi là quốc gia có dân số vàng, ngược lại sẽ đe dọa sự phát triển của quốc gia đó Cho nên các quốc gia đều quan tâm xây dựng nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao, bởi nó được xác định là vấn đề chiến lược và là quốc sách của mọi quốc gia Đặc biệt, sự phát triển không ngừng số lượng, chất lượng nguồn nhân lực trong tổng số lao động xã hội bảo đảm cho chuyển từ nền sản xuất nông nghiệp sang nền sản xuất công nghiệp là tất yếu khách quan V.I.Lênin
đã khẳng định vị thế của nguồn nhân lực lao động đó là: "Lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, là người lao động" [45]
Trang 372.1.1.2 Về nguồn nhân lực ngành Đường sắt Việt Nam
* Ngành Đường sắt Việt Nam
Ngành Đường sắt Việt Nam là một ngành công nghiệp lâu đời, với hệ thống công nghiệp để sản xuất, quản lý, kinh doanh, kết cấu hạ tầng và dịch
vụ cho các quá trình đóng mới, sửa chữa, dịch vụ vận tải đường sắt
Ngành Đường sắt là một trong những ngành vận tải quan trọng trong
sự phát triển của đất nước, có bề dày lịch sử gần 1,5 thế kỷ Ngành Đường sắt Việt Nam ra đời gắn liền với sự xâm chiếm, đô hộ và bóc lột của thực dân Pháp, đến nay đã trải qua nhiều giai đoạn khác nhau luôn gắn liền với yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Ngày nay, trước yêu cầu của thời kỳ đổi mới, nhất là đứng trước thách thức của cơ chế thị trường, ngành đường sắt đã tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện và đang đặt ra những đòi hỏi mới về nguồn nhân lực của ngành để sản xuất, kinh doanh có hiệu quả, góp phần đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước
Ngành có nhiều chức năng nhưng trọng tâm là sản xuất, kinh doanh, là một loại hình doanh nghiệp công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, do Nhà nước làm chủ sở hữu, có tư cách pháp nhân, có điều lệ tổ chức, hoạt động riêng, có con dấu riêng, được mở tài khoản tiền đồng Việt Nam và ngoại tệ tại Kho bạc Nhà nước, các ngân hàng trong nước và ngoài nước theo quy định của pháp luật Việt Nam Nhiệm vụ chủ yếu của ngành Đường sắt Việt Nam, quy hoạch, kế hoạch dài hạn, 5 năm và hàng năm, các chương trình, dự án, đề án quốc gia về phát triển giao thông vận tải đường sắt; quản lý, sử dụng đội ngũ cán
bộ, nhân viên của ngành; tổ chức hoạt động vận tải đường sắt Tổ chức ứng dụng, nghiên cứu khoa học, công nghệ; bảo vệ môi trường; tổ chức hợp tác quốc tế; tổ chức thanh tra, kiểm tra giao thông đường sắt
Về xu hướng phát triển những năm tới, Tổng Công ty Đường sắt Việt Nam cần huy động mọi nguồn lực, nhân lực, cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có,
Trang 38các chủ trương, đường lối, cơ chế chính sách của Đảng, Nhà nước; các nguồn vốn ưu đãi, khoa học công nghệ tiên tiến, các tiềm năng mang lại từ chính sách xã hội hóa hoạt động đường sắt và mở rộng hợp tác quốc tế với những nước có ngành đường sắt phát triển, đặc biệt với Hàn Quốc Ngành đang tập trung cho quá trình cơ cấu lại sản xuất, triển khai phương châm kinh doanh phục vụ khách hàng: "An toàn - Thuận tiện - Thân thiện - Đúng giờ - Hiệu quả"; theo tiêu chí bốn xin và bốn luôn "Bốn xin: xin chào, xin cảm ơn, xin lỗi và xin phép", "Bốn luôn: luôn mỉm cười, luôn nhẹ nhàng, luôn thấu hiểu
và luôn giúp đỡ", nhằm xây dựng hình ảnh và tạo ấn tượng tốt đẹp về ngành Đường sắt Việt Nam trong nhân dân và hành khách đi tàu…Xu hướng mà ngành Đường sắt Việt Nam đang đặt ra để phát triển, hiện đại hóa, hội nhập cùng với khu vực và thế giới cần phải huy động nhiều nguồn lực; song nguồn lực có ý nghĩa quyết định trực tiếp là phải phát triển nguồn nhân lực chất lượng ngày càng cao
* Quan niệm nguồn nhân lực ngành Đường sắt Việt Nam
Nguồn nhân lực ngành Đường sắt được hình thành, phát triển qua các giai đoạn lịch sử khác nhau và là chủ thể quan trọng nhất trong sản xuất, kinh doanh của ngành Nguồn nhân lực ngành Đường sắt Việt Nam hiện nay, bao gồm cả lực lượng đang lao động và cả lực lượng dự trữ, tiềm năng, được đào tạo, có trình độ học vấn, chuyên môn lành nghề, có kinh nghiệm; có năng lực tiếp nhận, làm chủ, vận dụng sáng tạo tri thức, kỹ năng, thành tựu khoa học và công nghệ vào trong quá trình đóng mới, sửa chữa các loại toa tàu và dịch vụ kinh doanh vận tải để phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh
Nguồn nhân lực ngành đường sắt là một bộ phận của nguồn nhân lực quốc gia, thể hiện ở số lượng, chất lượng và cơ cấu lao động được huy động, khai thác, sử dụng vào hoạt động sản xuất, kinh doanh, đem lại sự phát triển của ngành góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất
nước trong hiện tại cũng như tương lai Nguồn nhân lực ngành Đường sắt
Trang 39Việt Nam là chỉ những người tham gia trực tiếp vào các lĩnh vực hoạt động sản xuất, kinh doanh của ngành đường sắt Nguồn nhân lực ngành đường sắt
là một trong những nguồn lực có ý nghĩa quyết định hiệu quả kinh doanh, sự phát triển của ngành
Như vậy, nguồn nhân lực ngành đường sắt được hiểu là một bộ phận của nguồn nhân lực quốc gia, thể hiện tiềm năng, khả năng thực tế đảm bảo yêu cầu, tiêu chí về số lượng, chất lượng và cơ cấu có thể huy động đưa vào khai thác, sử dụng trong lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ vận chuyển của ngành đường sắt
Nghiên cứu nguồn nhân lực ngành đường sắt cũng tiếp cận theo ba yếu
tố cấu thành là số lượng, chất lượng, cơ cấu, đó là một chỉnh thể và được thể
hiện nhất quán trong luận án; trong đó, "nguồn nhân lực" nói lên khả năng và mức độ sẵn sàng của nhân lực quốc gia có thể huy động theo nhu cầu phát triển của ngành Khái niệm "nhân lực ngành đường sắt" là hẹp hơn "nguồn nhân lực ngành đường sắt", vì nó dùng để chỉ những người đang trực tiếp hoạt động trong ngành đường sắt Tuy nhiên, khái niệm nguồn nhân lực ngành đường sắt còn bao hàm cả nguồn lực hiện thực và cả ở tiềm năng, thông qua
cơ chế, chính sách để sử dụng, khai thác Vì vậy, cần tiếp cận nguồn nhân lực ngành Đường sắt trong mối quan hệ biện chứng với quá trình phát triển nguồn nhân lực và những cơ chế, chính sách để sử dụng, khai thác hiệu qủa nguồn
nhân lực này của ngành trong hiện tại, tương lai
Vai trò của nguồn nhân lực ngành đường sắt là cung cấp sức lao động cho ngành, đó là những con người đang ở tuổi lao động trí lực, thể lực, thông
qua tuyển chọn và được đào tạo Là một bộ phận của nguồn lực xã hội, thể
hiện khả năng lao động của xã hội, bảo đảm thúc đẩy sự phát triển của ngành trong hiện tại cũng như tương lai
Nguồn nhân lực ngành Đường sắt gắn liền với chiến lược phát triển ngành vận tải quốc gia Sự hình thành và phát triển nguồn nhân lực ngành
Đường sắt Việt Nam phụ thuộc vào nhiều yếu tố như cơ chế chính sách, yêu
Trang 40cầu phát triển kinh tế - xã hội và chiến lược phát triển ngành vận tải quốc gia Nguồn nhân lực ngành Đường sắt vừa là sản phẩm, vừa là bộ phận quan trọng trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Tuy nhiên, bước vào thời kỳ kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, kinh tế tri thức và mở rộng hội nhập quốc tế, thì ngành Đường sắt là ngành gặp nhiều khó khăn, thách thức Nguyên nhân phải phụ thuộc vào nhiều nguồn lực, cơ chế để phát huy vai trò của các nguồn lực, trong đó có nguồn lực con người, nên sức
cạnh tranh vận tải đường sắt không cao so với một số ngành vận tải khác
Nhân lực của ngành đường sắt là lao động công nghiệp đa dạng ngành nghề và xã hội hóa cao Lao động của ngành Đường sắt Việt Nam hiện nay,
được biên chế ở nhiều bộ phận: Bộ phận ở cơ quan Tổng công ty có Ban Lãnh đạo Tổng Công ty Đường sắt Việt Nam; Văn phòng Tổng Công ty Đường sắt Việt Nam và các Ban tham mưu chuyên môn, nghiệp vụ; Công ty quản lý đường sắt; Thông tin tín hiệu đường sắt; Vận tải hàng hóa đường sắt; công ty in đường sắt; công ty Xe lửa; công ty con; công ty liên kết; với tổng quân số cán bộ, công nhân, viên chức của ngành ở năm 2018 là 31.945.000 người Tuổi trung bình của người lao động trong toàn ngành là 70% ở độ tuổi 40 đến 45; so với một ngành khác trẻ hóa đội ngũ hơn nhiều và đây là điều bất lợi cho ngành đường sắt hiện nay [Phụ lục 9.4]
Nhân lực lao động của ngành Đường sắt Việt Nam thường ở phân tán, trình độ học vấn và có thu nhập không cao Nhân lực lao động của ngành
Đường sắt Việt Nam có số lượng đông so với một số ngành khác, nhưng ở phân tán khắp các miền của đất nước, môi trường làm việc chịu sự ảnh hưởng rất lớn của khí hậu nhiệt đới gió mùa Nguồn nhân lực ngành Đường sắt Việt Nam có cơ cấu, trình độ văn hóa, chuyên môn kỹ thuật chưa cao và bố trí không đều ở các bộ phận
Lao động ngành Đường sắt Việt Nam có năng suất lao động và thu nhập chưa cao Bình quân thu nhập của người lao động năm 2018 là từ 8 triệu đến 8,4 triệu đồng trên tháng Điều này do tình hình vận tải của ngành đường sắt