1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ luật học tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong quyết định hình phạt theo pháp luật hình sự việt nam từ thực tiễn tỉnh hà tĩnh

94 67 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 907,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TIẾP TỤC HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM 2015 VỀ TÌNH TIẾT TĂNG NẶNG, GIẢM NHẸ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ TRONG QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ÁP DỤNG ...

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là hoàn toàn trung thực, không trùng lặp với các đề tài khác trong cùng lĩnh vực Các thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn đã được tôi ghi rõ nguồn gốc Luận văn này là công trình của cá nhân tôi nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của TS Trịnh Tiến Việt

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này

Hà Nội, ngày tháng năm 2018

Tác giả luận văn

HỒ CÔNG PHÚC

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1 Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÌNH TIẾT TĂNG NẶNG VÀ GIẢM NHẸ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ TRONG QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 8

1.1 Khái niệm, ý nghĩa và phân loại tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự 8 1.2 Vai trò của tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong quyết định hình phạt 19 1.3 Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của quy định về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt Nam từ sau Cách mạng tháng tám 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 2015 23

Chương 2 QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM

1999 VỀ TÌNH TIẾT TĂNG NẶNG, GIẢM NHẸ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ TRONG QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ TỈNH 31

2.1 Quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trong quyết định hình phạt 31 2.3 Thực tiễn áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, trách nhiệm hình sự trong quyết định hình phạt trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh 48

Chương 3 TIẾP TỤC HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM 2015 VỀ TÌNH TIẾT TĂNG NẶNG, GIẢM NHẸ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ TRONG QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ÁP DỤNG 71

Trang 5

3.1 Sự cần thiết tiếp tục hoàn thiện quy định của Bộ luật hình sự năm

2015 về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong quyết định hình phạt 71 3.2 Một số giải pháp bảo đảm áp dụng quy định của Bộ luật hình sự năm

2015 về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong quyết định hình phạt 79

KẾT LUẬN 83 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 85

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLHS HĐXX TAND TNHS VKSND PLHS

: BLHS : Hội đồng xét xử : Tòa án nhân dân : TNHS

: Viện kiểm sát nhân dân : PLHS

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Bảng thống kê số liệu xét xử các vụ án hình sự từ năm

2012-2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh 49 Bảng 2.2: Bảng tổng hợp thực tiễn áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 của Tòa

án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh từ năm 2012-2017 52 Bảng 2.3: Bảng tổng hợp thực tiễn áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 của Tòa

án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh từ năm 2012- 2017 626 Bảng 2.4: Bảng tổng hợp thực tiễn áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 của tòa

án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh từ năm 2012-2017 62

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việc nghiên cứu tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ khi áp dụng hình phạt có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc xét sử tội phạm Một mặt, giúp cho Tòa

án không bỏ sót tội phạm, đồng thời xử lý đúng người, đúng tội, có tính giáo dục, có sự răn đe kịp thời, ngăn ngừa tội phạm Mặt khác, thể hiện được tính nghiêm minh của pháp luật, tránh được hiện tượng lợi dụng xét xử mà Tòa án

áp dụng pháp luật không đúng với tội phạm gây ra, làm bức xúc trong dư luận

xã hội Do vậy, việc áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt có ý nghĩa quan trọng và được pháp luật quy định trong Bộ luật hình sự

Quyết định hình phạt là một trong những hoạt động quan trọng trong giai đoạn xét xử các vụ án hình sự đã xảy ra Quyết định hình phạt theo đúng quy định của pháp luật là yếu tố quan trọng để đạt được mục đích giáo dục và ngăn ngừa tội phạm, hơn nữa nó còn có ý nghĩa giáo dục từ xa, phòng ngừa từ

xa Việc áp dụng hình phạt một cách chính xác, khách quan sẽ giúp người phạm tội nhận thức được lỗi lầm của mình, cũng như các cơ quan chức năng thể hiện sự công bằng trong xét xử, tránh hiện tượng đi sân sau, bỏ lọt tội phạm Nếu Tòa án áp dụng pháp luật trong xét xử quá nhẹ thì sẽ gây ra hiện tượng coi thường pháp luật, không đủ sức răn đe người phạm tội và sự giáo dục người phạm tội coi như vô nghĩa, gây mất thời gian của Tòa án, của cơ quan điều tra và công sức của Viện kiểm sát, v.v hoặc hình phạt quá nặng sẽ gây tâm lý hoang mang, gây hận thù, phản tác dụng giáo dục, người phạm tội cảm thấy bị gét bỏ, xa lánh xã hội, đây là điều không giúp ích nhiều cho nhận thức của người phạm tội

Nghiên cứu đề tài “Tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ TNHS trong quyết

định hình phạt theo PLHS Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Hà Tĩnh” có ý nghĩa

quan trọng trong việc đưa ra những luận giải khoa học cho các quy định thế chế hóa chính sách khoan hồng của Nhà nước về TNHS Đây chính là một những vấn đề lập pháp đặt ra cho lý luận về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ

Trang 9

TNHS cần phải giải quyết Việc quy định tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS trong PLHS là một bước cụ thể hóa góp phần giải quyết vụ án hình

sự được khách quan, chính xác, công bằng đúng pháp luật, đồng thời cũng thể hiện chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước ta về xử lý tội phạm Trong thực tiễn công tác xét xử những năm qua cho thấy, vấn đề áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS được quy định tại Điều 51 và Điều

52 BLHS năm 2015 tại TAND tỉnh Hà Tĩnh về cơ bản là chính xác và thống nhất Tuy nhiên, vẫn đang còn một số vướng mắc, sai sót cần được giải quyết vì cũng còn có không ít các trường hợp Tòa án áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS chưa đầy đủ hoặc chưa chính xác; cùng một tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS nhưng mỗi Tòa án lại vận dụng ở mức độ khác nhau dẫn đến việc quyết định hình phạt quá nặng hoặc quá nhẹ Ngoài ra, cũng trong Điều 51, Điều 52 BLHS năm 2015 các quy định về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS cũng còn một số hạn chế nhất định, chưa quy định rõ ràng các mức độ vi phạm dẫn đến việc hiểu và vận dụng khó khăn cho người thực thi pháp luật

BLHS năm 2015 đã có sự sửa đổi về quy định tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS Việc nghiên cứu tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS trên cơ sở

lý luận khoa học, khách quan, và từ tổng kết thực tiễn, kinh nghiệm đúc kết được qua các vụ án là nhằm hiểu rõ cũng như áp dụng chính xác các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS để nâng cao chất lượng xét xử các vụ án, đồng thời chỉ ra những vấn đề còn vướng mắc khi áp dụng vào thực tiễn Từ đó đưa ra giải pháp bảo đảm áp dụng đúng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS trong thực tiễn xét xử là một yêu có ý nghĩa lý luận và thực tiễn hiện nay

Do đó, việc tiếp tục nghiên cứu đề tài “Tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ

TNHS trong quyết định hình phạt theo PLHS Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Hà Tĩnh” rõ ràng có tính cấp thiết

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trang 10

Nghiên cứu về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS nói chung đã được nhiều công trình nghiên cứu, đề cập với tư cách là một trong những căn cứ quyết định hình phạt, còn nghiên cứu riêng rẽ về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS trong quyết định hình phạt chưa có nhiều mà mới đề cập chung, chẳng hạn như:

(1) Sách chuyên khảo, sách tham khảo, giáo trình

- GS.TS Võ Khánh Vinh, Nguyên tắc công bằng trong Luật hình sự Việt

Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 1994, [35];

- TS Võ Khánh Vinh, Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Nxb Khoa học

Xã hội, Hà Nội, 2005, [36];

- TS Trần Thị Quang Vinh (2005) Các tình tiết giảm nhẹ TNHS trong

Luật hình sự Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội [33];

- TS Lê Văn Đệ, Định tội danh và quyết định hình phạt trong luật hình

sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2005, [12];

- TS Dương Tuyết Miên (2007), Định tội danh và quyết định hình phạt,

Nxb Lao động Xã hội, Hà Nội [15];

- Th.s Đinh Văn Quế (2000), Tìm hiểu hình phạt và quyết định hình phạt

trong luật hình sự Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội [22];

- Th.s Đinh Văn Quế (2000), Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS

trong luật hình sự Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội [25];

(2) Luận án, luận văn thạc sĩ luật học:

- Dương Tuyết Miên (2004), Quyết định hình phạt trong luật hình sự

Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội;

- Phạm Mạnh Toàn (2012), Các tình tiết tăng nặng TNHS đối với người

chưa thành niên phạm tội, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật, Đại học quốc

gia Hà Nội;

- Trần Văn Sơn (1996), Quyết định hình phạt trong Luật hình sự Việt

Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học luật Hà Nội

Trang 11

- TS Trần Thị Quang Vinh (2002), Các tình tiết giảm nhẹ TNHS trong

luật hình sự Việt Nam, Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật, Hà Nội

(3) Các bài viết trên các tạp chí chuyên ngành:

- Bùi Kiến Quốc (2000), Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS trong

BLHS Việt Nam, Tạp chí Luật học, số 6;

- TS Trịnh Tiến Việt (2004), Với tác phẩm, Về ảnh hưởng các tình tiết

giảm nhẹ và tăng nặng TNHS năm 1999 đăng tại Tạp chí Tòa án nhân dân,

số 13; đã nói lên các yếu tố ảnh hưởng đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

- TS Trịnh Tiến Việt (2006), Các tình tiết tăng nặng TNHS: Một số vấn

đề lý luận và thực tiễn, Tạp chí Nghề luật, số 4;

- PGS.TS Dương Tuyết Miên (2003), Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng

theo BLHS năm 1999, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 1 [14];

- TS Trịnh Tiến Việt (2004), Về ảnh hưởng của các tình tiết giảm nhẹ

trong việc quyết định hình phạt, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 1 [30];

- TS Trần Thị Quang Vinh (2001), Ảnh hưởng của các tình tiết giảm nhẹ TNHS trong chế định quyết định hình phạt theo BLHS năm 1999, Tạp chí

Nhà nước và pháp luật, số 7;

- Vũ Thành Long (2006), Áp dụng các quy định của BLHS năm 1999 về

tình tiết tăng nặng "phạm tội có tổ chức" và phạm tội nhiều lần, Tạp chí Kiểm

sát, số 21;

- Vũ Thành Long (2006), Bàn về việc áp dụng tình tiết tăng nặng “Xâm phạm tài sản của nhà nước” đối với người phạm tội tham ô tài sản, Tạp chí

Kiểm sát, số 6;

- Th.s Đinh Văn Quế (2009), Một số vấn đề về tình tiết giảm nhẹ “ Phạm

tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” Tạp chí Tòa án nhân dân, số

9 [23];

- Nguyễn Đức Mai (2008), "Giết trẻ em" hay "Phạm tội đối với trẻ em?",

Tạp chí Toà án nhân dân, số 16;

Trang 12

- TS Phạm Thị Thanh Nga (2008), Những tình tiết giảm nhẹ TNHS thể hiện sự ăn năn, hối cải của người phạm tội – những tồn tại, vướng mắc và

kiến nghị, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 7;

- Nam Phương (2011), Áp dụng tình tiết định khung tăng nặng hay tình

tiết tăng nặng TNHS, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 10;

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

Luận văn nghiên cứu tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS trong quyết định hình phạt, quy định của BLHS Việt Nam năm 1999 về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS trong sự so sánh BLHS năm 2015, trong quyết định hình phạt

và thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh Từ đó đưa ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả bảo đảm áp dụng tình tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS trong quyết định hình phạt

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, luận văn tập trung nghiên cứu những nội dung cơ bản sau:

- Một số vấn đề lý luận về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS trong quyết định hình phạt theo PLHS Việt Nam

- Tình hình áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS trong quyết định hình phạt của TAND tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 06 năm (2012 – 2017)

- Đưa ra kiến nghị hoàn thiện pháp luật và đề xuất các giải pháp bảo đảm nội dung của tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS trong quyết định hình phạt

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu một số vấn đề lý luận tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS theo PLHS Việt Nam, quy định của BLHS Việt Nam năm 1999 trong

sự so sánh BLHS 2015 về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS trong quyết định hình phạt và thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh Trên cơ sở đó

đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật và bảo đảm áp dụng quy định của

Trang 13

BLHS Việt Nam về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS trong quyết định hình phạt

5 Phương pháp luận và phương nghiên cứu

Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, các quan điểm khoa học của các nhà khoa học về Nhà nước và pháp luật, về chính sách hình sự, về vấn đề cải cách tư pháp được thể hiện trong các Nghị quyết Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam

Ngoài ra, luận văn còn dùng các các phương pháp như: phân tích, tổng hợp; so sánh, đối chiếu; thống kê; điều tra, v.v để vận dụng vào giải quyết các vấn đề thực tiễn đang đặt ra nhằm đạt được mục đích của luận văn

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng của luận văn là ở chỗ tác giả đã làm rõ khái niệm, ý nghĩa và phân loại của tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ TNHS, vai trò của tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ TNHS trong quyết định hình phạt; phân tích, đánh giá nội dung quy định của PLHS Việt Nam hiện hành về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS trong quyết định hình phạt, đồng thời đưa ra các kiến nghị hoàn thiện các quy định này ở khía cạnh lập pháp và các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng từ khía cạnh thực tiễn

7 Kết cấu của luận văn

Trang 14

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu của luận văn gồm 3 chương như sau:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS

trong quyết định hình phạt

Chương 2: Quy định của BLHS Việt Nam năm 1999 về tình tiết tăng

nặng, giảm nhẹ TNHS trong quyết định hình phạt và thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh

Chương 3: Tiếp tục hoàn thiện quy định của BLHS Việt Nam năm 2015

về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS trong quyết định hình phạt và một số giải pháp bảo đảm áp dụng

Trang 15

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÌNH TIẾT TĂNG NẶNG

VÀ GIẢM NHẸ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ TRONG QUYẾT ĐỊNH

HÌNH PHẠT THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

1.1 Khái niệm, ý nghĩa và phân loại tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

1.1.1 Khái niệm, ý nghĩa và phân loại tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

a Khái niệm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

Theo quy định tại Điều 45 BLHS năm 1999 (nay là Điều 50 BLHS 2015), khi quyết định hình phạt, Tòa án nhân dân ngoài việc căn cứ vào các quy định của BLHS hiện hành và căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho

xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, còn phải căn cứ vào các quy định của tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ TNHS Do đó, pháp luật quy định các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ TNHS là một trong những yếu tố không thể thiếu nhằm giúp tòa án có căn cứ khi đưa ra các quyết định hình phạt tương ứng Do đó, việc nghiên cứu vai trò các tình tiết tăng nặng TNHS trong quyết định hình phạt đối với người phạm tội có vai trò rất quan trọng trong việc bổ sung làm rõ những vấn đề lý luận cần cập nhật, và thực tiễn áp dụng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự Bên cạnh đó, nó thể hiện tính nhân đạo của Đảng và Nhà nước đối với người phạm tội, vừa trừng trị nhưng vừa mang tính nhân văn sâu sắc, kết hợp giáo dục với hòa nhập cộng đồng Giúp cho người phạm tội nhận thức được cái sai của mình, chấp nhận hình phạt theo quy định của pháp luật, đồng thời sau khi hoàn thành án phạt trở về với xã hội thành công dân tốt, có ích cho cộng đồng

Khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội, các thẩm phán cũng như xã hội cần nhận thức được sự thống nhất các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình, và được quy định cụ thể bằng văn bản để khi xử lý được

Trang 16

thống nhất, trách gây tranh cãi khi cùng xử lý một vụ việc Điều này có vai trò quan trọng để thống nhất khi xét xử hình sự các cấp của Tòa án Do vậy, để

có sự thống nhất trong các khái niệm, cách hiểu nghĩa của các khái niệm thì chúng ta cần phải đưa ra định nghĩa thống nhất về “tình tiết tăng nặng TNHS” Hiện nay, trong PLHS thực định (BLHS năm 2015) các nhà làm luật nước ta không ghi nhận định nghĩa pháp lý của khái niệm này, đồng thời trong khoa học luật hình sự Việt Nam cũng còn nhiều quan điểm khác nhau xung quanh nó, mà cụ thể là:

- Các tình tiết tăng nặng TNHS là những tình tiết được quy định trong BLHS phản ánh mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, khả năng cải tạo giáo dục của người phạm tội Các tình tiết tăng nặng TNHS có vai trò trong thực hiện các quyết định hình phạt, làm tăng mức độ cao nhất của hình phạt trong giới hạn một khung hình phạt đã được quy định theo pháp luật hiện hành

- “Tình tiết tăng nặng TNHS là tình tiết làm cho mức độ nguy hiểm của trường hợp phạm tội cụ thể của một loại tội phạm tăng lên so với trường hợp bình thường và do đó được coi là căn cứ để tăng nặng TNHS đối với trường hợp phạm tội đó” [20, tr.116]

Tổng hợp những quan điểm đã nêu, đồng thời căn cứ vào các quy định của PLHS liên quan đến các tình tiết tăng nặng TNHS, theo quan điểm của

chúng tôi khái niệm này có thể được hiểu như sau: Tình tiết tăng TNHS là

tình tiết được quy định trong BLHS với tính chất là tình tiết tăng nặng chung

và là một trong những căn cứ để Tòa án quyết định hình phạt đối với người phạm tội theo hướng nghiêm khắc hơn trong phạm vi một khung hình phạt nếu trong vụ án hình sự có tình tiết này

b Ý nghĩa tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

- Ý nghĩa về mặt pháp lý

Tình tiết tăng nặng là tình tiết làm tăng mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm đã được thực hiện, do đó, tình tiết này có ý nghĩa làm tăng

Trang 17

TNHS và hình phạt đối với người đã thực hiện tội phạm cụ thể đó Do vậy, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự có vai trò quan trọng trong việc cụ thể hoá hình phạt, và được biểu hiện là cho phép đánh giá mức độ nguy hiểm đối với xã hội, của hành vi phạm tội đã thực hiện Đây là một trong những yếu tố quan trọng để xác định mức độ TNHS đối với người phạm tội Chúng ta biết rằng, đối với mỗi tình tiết tăng nặng TNHS với các loại tội khác nhau thì khung hình phạt cũng phải khác nhau Có những tình tiết làm tăng mức độ nguy hiểm cho xã hội nói chung nhưng cũng có những tình tiết thì làm giảm mức độ nguy hiểm cho xã hội mà tội phạm đã thực hiện Các tình tiết tăng nặng TNHS giúp cho Tòa án xác định các loại tội phạm đúng với bản chất của

nó và sẽ có những khung hình phạt tương ứng, không làm giảm nhẹ hay tăng nặng trách nhiệm hình sự Với tình tiết tăng nặng TNHS định khung sẽ giúp Tòa án đưa ra mức hình phạt đúng với bản chất, thực tế khách quan của người phạm tội

Trong khung hình phạt này, tình tiết tăng nặng TNHS chung giúp xác định hình phạt cụ thể của tội phạm cụ thể, tuy nhiên, từng tình tiết tăng TNHS

có mức độ thay đổi TNHS theo hướng tăng lên của tội phạm khác nhau Sự đánh giá mức độ thay đổi này, PLHS không quy định khoảng biến thiên mà do người áp dụng pháp luật tự đánh giá và xác định phù hợp với từng trường hợp

- Ý nghĩa về mặt chính trị

Tình tiết tăng nặng TNHS được thể hiện trong đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước Chẳng hạn tại Khoản 2 Điều 3 BLHS năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 Đảng và Nhà nước ta đã thể hiện kết hợp giữa xứ lý nghiêm trị với chế độ khoan hồng đối với người phạm tội,

“Nghiêm trị người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, lưu manh, côn đồ, tái phạm nguy hiểm, lợi dụng chức vụ quyền hạn để phạm tội, người phạm tội xảo quyệt, có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả nghiêm trọng Khoan hồng đối với người tự thú thành khẩn khai báo,

Trang 18

tố giác người đồng phạm, lập công chuộc tội, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại đã gây ra" [4, tr.3]

Quy định các tình tiết tăng nặng TNHS trong BLHS là sự thể hiện việc

xử lý trong khi xác định TNHS, cùng với đó là những hình phạt đối với người phạm tội, giáo dục khuyến khích những người phạm tội hòa nhập cộng đồng sống có trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội, sống có ích và lương thiện

Ngoài ra, tăng nặng TNHS được quy định trong BLHS còn có ý nghĩa tạo ra sự thống nhất trong xét xử của Tòa án của cả nước, trách trường hợp mỗi địa phương áp dụng một kiểu, dẫn đến khiếu kiện do áp dụng không thống nhất, tùy tiện áp dụng các tình tiết trăng nặng, trái với quan điểm của Đảng và Nhà nước trong lĩnh vực hình sự

c Phân loại tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

Có 3 loại tình tiết tăng nặng TNHS, đó là: Tình tiết tăng nặng định tội; tình tiết tăng nặng định khung và tình tiết tăng nặng chung

- Tình tiết tăng nặng định tội

Tình tiết tăng nặng định tội là tình tiết làm tăng tính chất nguy hiểm của tội phạm cho xã hội theo hướng ngày càng tăng lên Tội phạm bị xử lý

về tội danh cùng loại nặng hơn Do vậy, nó là tình tiết tăng nặng TNHS định tội, thế nên nếu như không có tình tiết tăng nặng TNHS này thì hành

vi phạm tội cũng đã cấu thành phạm tội cùng loại nhưng nhẹ hơn Tình tiết tăng nặng định tội chỉ có ý nghĩa tăng thêm tính chất nguy hiểm cho xã hội

mà sự tăng thêm đó sẽ làm cho tội phạm thay đổi về mức độ và tính chất vi phạm Nhưng cũng cần lưu ý rằng, trên đây chỉ là các loại tội phạm mang tính chất đặc biệt, do vậy, mặc dù cùng một loại tội phạm có tính chất như nhau nhưng chúng ta cũng cần phải tách thành các điểm, các khoản, và các điều luật và tội danh khác nhau vì yếu tố đặc biệt khác so với các loại tội thông thường và cần được pháp luật bảo vệ trong hệ thống pháp luật

- Tình tình tiết tăng nặng định khung

Trang 19

Tình tiết tăng nặng định khung là tình tiết phạm tội mà làm tăng mức

độ nguy hiểm cho xã hội nói chung, được xem xét trong cùng một tội phạm TNHS đối với loại tội phạm này cũng phải cao hơn, điều đó được biểu thị qua chế tài và được quy định ở mức hình phạt cao nhất đối với khung hình phạt

Với nguyên tắc cá thể hóa TNHS, nhưng không được tùy tiện ra các quyết định hình phạt, và chúng được chia thành từng mức độ nhất định của các khung hình phạt tưng ứng với các loại tội danh khác nhau hoảng cách khung hình phạt giữa các mức độ càng cao thì các nhà làm luật càng chia thành nhiều khung hình phạt tương ứng Từ đó, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự mà tương ứng với các khung hình phạt nào thì sẽ áp dụng vào khung hình phạt đó, điều này trách được việc áp dụng một cách tùy tiện, thậm chí lợi dụng pháp luật quy định không rõ ràng, còn nhiều kẽ hỡ để bỏ lọt tội phạm, hay bỏ sót tội phạm

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự chung

Tình tiết tăng nặng TNHS chung là tình tiết gây nguy hiểm cho xã hội với mức độ phạm tội của tội phạm nhỏ hơn các tình tiết TNHS định tội và TNHS định khung Tình tiết TNHS chung đối với một người cụ thể phạm tội

cụ thể sẽ được quy định trong mỗi khung hình phạt cụ thể Nó có vai trò và ý nghĩa pháp lý cho những tình tiết trên để bảo đảm rằng các cá nhân phạm tội

sẽ có khung hình phạt chính xác và triệt để

Song, điều chúng ta cần phải lưu tâm là các loại tình tiết tăng nặng TNHS này sẽ được loại trừ lẫn nhau khi áp dụng, chẳng hạn, khi áp dụng các khung hình phạt thì cần thực hiện theo nguyên tắc thứ tự: một là, tình tiết tăng nặng TNHS định tội; hai là, tình tiết tăng nặng TNHS định khung; ba là, tình tiết tăng nặng TNHS chung

Quy định về tình tiết tăng nặng TNHS nếu thuộc về mặt chủ quan của người phạm tội, đó là các lỗi mà người phạm tội do chủ quan mắc phải tội hình sự như động cơ, mục đích phạm tội… Trong đó, lỗi được phản ánh

Trang 20

trong tất cả cấu thành tội phạm và là dấu hiệu phạm tội Ngoài ra còn có các yếu tố khác của mặt chủ quan cũng gây ra phạm tội như một số động cơ, mục đích phạm tội xuất hiện ở một số tội phạm cụ thể Chẳng hạn, có thể với tư cách có dấu hiệu định tội, cũng có trường hợp là với tư cách tình tiết tăng nặng TNHS định khung, nhưng cũng trường hợp là tình tiết tăng nặng TNHS chung, v.v

Tình tiết tăng nặng TNHS thuộc về chủ thể của tội phạm Biểu hiện của chủ thể phạm tội có thể là dấu hiệu định tội đã được quy định đó là các tình tiết tăng nặng TNHS định khung hay các tình tiết tăng nặng TNHS chung

Chẳng hạn như việc lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong thực thi pháp luật là

tình tiết tăng nặng TNHS định khung đã được quy định trong hệ thống pháp luật của nước ta

Tình tiết tăng nặng TNHS thuộc về khách thể của tội phạm Trong phần

khách thể tội phạm, khách thể tác động của tội phạm là một trong những lý do làm tăng TNHS nặng hơn đối với người phạm tội Đó có thể là tình tiết tăng nặng TNHS định tội như phân loại ở trên Đó cũng có thể là tình tiết tăng nặng định khung Đối với tình tiết tăng nặng TNHS chung, theo quy định tại Điều 48 BLHS 1999 thì những tình tiết sau gắn với khách thể của tội phạm nhưng sẽ làm tăng TNHS đối với người phạm tội: Tình tiết tăng nặng TNHS

thuộc về nhân thân người phạm tội

1.1.2 Khái niệm, ý nghĩa và phân loại tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm

hình sự

a Khái niệm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Hiện nay về khái niệm tình tiết giảm nhẹ TNHS thì BLHS cũng như khoa học pháp lý ở nước ta chưa đưa ra định nghĩa về tình tiết giảm nhẹ TNHS một cách thống nhất, còn nhiều quan điểm khác nhau Tuy nhiên, phần lớn các nhà nghiên cứu đều nhận định rằng, “tình tiết giảm nhẹ TNHS là tình tiết được quy định trong BLHS với tính chất là tình tiết giảm nhẹ chung hoặc

là tình tiết được ghi nhận trong văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật hay do

Trang 21

Tòa án tự xem xét, cân nhắc và ghi rõ trong bản án, đồng thời là một trong những căn cứ để Tòa án cá thể hóa TNHS và hình phạt đối với người phạm tội theo hướng giảm nhẹ hơn trong phạm vi một khung hình phạt” [25, tr.240] NHư vậy, chúng ta có thế thấy rằng, tình tiết giảm nhẹ TNHS là những yếu tố về các vấn đề hoàn cảnh, điều kiện xảy ra sự việc mà ảnh hưởng đến việc thực hiện tội phạm, từ đó nó làm giảm mức độ nguy hiểm cho xã hội, giảm thiệt hại tài sản của nhà nước và nhân dân, do vậy, làm giảm TNHS cho người phạm tội

TS Trần Thị Quang Vinh đã nhận định rằng, “tình tiết giảm nhẹ TNHS là tình tiết có ý nghĩa giảm mức độ nguy hiểm cho cộng đồng xã hội và các cá nhân, cũng như tài sản của nhân dân và của nhà nước của hành vi phạm tội, phản ánh mức độ cải tạo tốt hoặc trong điều kiện hoàn cảnh bất khả kháng của người phạm tội nên đáng được khoan hồng và giảm nhẹ TNHS khi chưa được ghi nhận trong chế tài” [Xem: 33, tr.245]

Việc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phản ánh chính sách khoan hồng của Đảng và nhà nước ta đối với các loại hình phạm tội, mức độ giảm nhẹ TNHS như thế nào thì còn căn cứ vào các quy định của pháp luật được thể hiện trong BLHS cũng như các chế tài hoặc Tòa án căn nhắc xem xét các yếu tố hoàn cảnh của thân nhân phạm tội để quyết định mức độ giảm nhẹ TNHS

Từ những phân tích trên về khái niệm, bản chất pháp lý và phạm vi của các tình tiết giảm nhẹ TNHS, và theo nhiều cách tiếp cận khác nhau ta có thể đưa ra khái niệm:

Tình tiết giảm nhẹ TNHS là tình tiết được quy định trong BLHS với tính chất là tình tiết giảm nhẹ và là một trong những căn cứ để Tòa án quyết định hình phạt đối với người phạm tội theo hướng nhẹ hơn trong phạm vi một khung hình phạt nếu trong vụ án hình sự có tình tiết này

b Ý nghĩa của các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

- Ý nghĩa về mặt pháp lý

Giảm nhẹ TNHS có ý nghĩa quan trọng trong xét xử vi phạm hình sự của các loại tội phạm, nó thể hiện tính khoan hồng, nhân đạo của Đảng và Nhà

Trang 22

nước Làm cho người phạm tội nhận thấy được sự chia sẻ, tạo điều kiện để vươn lên, sống có ích cho xã hội

Khi áp dụng các tình tiết giảm nhẹ TNHS đối với người phạm tội còn hạn chế được sự gắt gao của pháp luật nhưng vẫn đảm bảo tính nghiêm minh, xét xử đúng người, đúng tội, làm cho người phạm tội tâm phục, khẩu phục đối với tội mà mình đã vi phạm

Bên cạnh đó, khi áp dụng các tình tiết giảm nhẹ TNHS nó còn có vai trò

và ý nghĩa to lớn về mặt chính trị cũng như về mặt pháp luật đối với người phạm tội Một mặt, các quy định giảm nhẹ TNHS là căn cứ quan trọng, không thế thiếu khi xử lý hình sự, thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật, nhưng mặt khác, nó thể hiện tính chính trị đó là sự cảm hóa người phạm tội, xét xử mang tính giáo dục, tuyên truyền không chỉ người phạm tội nhận thấy được hành vi của mình và còn giáo dục những người khác nhận thức được tính nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước Vì vậy, tạo tâm lý tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước

Ngoài ra, khi Tòa án áp dụng các tình tiết giảm nhẹ TNHS trong PLHS cũng có nghĩa là thể hiện sự khoan hồng, cũng như chính sách của Đảng và Nhà nước về cách nhìn nhận người phạm tội có sự bao dung, đùm bọc, thương yêu nhưng đảm bảo xét xử công bằng Đồng thời nó là cơ sở để cảm hóa người phạm tội đúng với tâm lý phát triển của con người Do vậy, giảm nhẹ TNHS có vai trò và ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với người phạm tội, nên khi xét xử thực tiễn luôn đặt ra yêu cầu cần phải áp dụng một cách toàn diện các quy định của pháp luật đối với người phạm tội, đặc biệt là áp dụng các tình tiết giảm nhẹ TNHS theo đúng quy định của pháp luật Tuy nhiên ở đây chúng ta cũng cần nhận thức được rằng, không được giảm nhẹ vượt quá mức pháp luật cho phép để người phạm tội thấy được sự nghiêm minh của pháp luật cũng như có ý nghĩa giáo dục, tuyên truyền phòng ngừa tội phạm

- Ý nghĩa về mặt chính trị

Trang 23

Việc thực hiện các tình tiết giảm nhẹ TNHS bảo đảm cho việc thực hiện công bằng xã hội trong việc xét xử của pháp luật hình sự Việt Nam

Mặt khác, khi quy định tình tiết giảm nhẹ TNHS còn có ý nghĩa chính trị quan trọng đối với việc thực hiện chính sách hình sự pháp luật của Đảng và Nhà nước ta về các loại tội phạm hình sự Đây là một phương thức đưa nội dung của chính sách pháp luật hình sự đi vào thực tiễn đời sống xã hội hiện thực Khi áp dụng các tình tiết giảm nhẹ TNHS là yếu tố cần thiết thể hiện chính sách của Đảng và Nhà nước ta về pháp luật hình sự

c Phân lại các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Phân loại là hoạt động hệ thống hóa hiểu biết về sự vật, hiện tượng tạo thuận lợi cho quá trình nghiên cứu, nhận thức quy luật phát triển và thay đổi của sự vật, hiện tượng Phân loại các tình tiết giảm nhẹ TNHS không thể nằm ngoài quy luật đó Mục đích khoa học của phân loại tình tiết giảm nhẹ TNHS trước hết nhằm làm rõ cơ chế giảm nhẹ TNHS trong từng nhóm Mục đích thực tiễn là khai thác tối đa khả năng vận dụng tình tiết giảm nhẹ TNHS Phân loại sự vật, hiện tượng được tiến hành theo những căn cứ nhất định Mỗi căn

cứ cho một cách phân loại nhất định cùng với ý nghĩa ứng dụng của nó

Tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS thường được phân loại theo các yếu

tố của tội phạm và được phân thành ba nhóm:

• Tình tiết thuộc mặt khách quan của tội phạm

• Tình tiết thuộc mặt chủ quan của tội phạm

• Tình tiết thuộc nhân thân người phạm tội

Như vậy, có 3 nhóm về tình tiết giảm nhẹ TNHS có ý nghĩa giảm nhẹ mức độ nguy hiểm cho xã hội cũng như hạn chế được những tốn thất về tài sản và con người của hành vi phạm tội

Các yếu tố khách quan và chủ quan ảnh hưởng đến mức độ nguy hiểm cho xã hội quá trình phạm tội của tội phạm là căn cứ không thể thiếu trong quá trình xét xử tội phạm Những yếu tố khách quan và chủ quan cần được xem xét một cách thấu đáo, trách bỏ sót sẽ gây bất lợi cho người phạm tội

Trang 24

Khi xét xử hình sự cần được xem xét kỹ lưỡng những nhân tố trên đây để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật Điều đó được biểu hiện ở các mặt sau

Thứ nhất, tình tiết thuộc những biểu hiện khách quan của tội phạm có ý

nghĩa giảm bớt mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi thường gắn liền với

sự hạn chế về mức độ nguy hiểm của các dấu hiệu thuộc mặt khách quan và hậu quả của tội phạm Liên quan đến hành vi khách quan thì các tình tiết giảm nhẹ thường là biểu hiện của mức độ thực hiện tội phạm, tội phạm chưa đạt, tính chất nghiêm trọng của hành vi phạm tội hoặc do chuyến biến của tình hình hành vi phạm tội không còn hoặc giảm mức độ nguy hiểm cho xã hội Liên quan đến hậu quả, tác hại do tội phạm gây ra, tình tiết giảm nhẹ TNHS thường là biểu hiện về mức độ thiệt hại không lớn, mức độ khắc phục thiệt hại sau khi tội phạm được thực hiện Ngoài ra, một số tình tiết giảm nhẹ còn là biểu hiện của hoàn cảnh phạm tội đặc biệt do khách quan đưa lại Phân tích trên cho thấy cơ chế giảm nhẹ TNHS dưới sự ảnh hưởng của các tình tiết thuộc biểu hiện khách quan của tội phạm

Thứ hai, tình tiết giảm nhẹ TNHS mà do những yếu tố chủ quan của con

người gây ra thì vận dụng việc giảm nhẹ TNHS phải gắn liền với những dấu hiệu của lỗi gây ra, như mục đích của phạm tội và động cơ gây ra phạm tội Trong vấn đề này, tình tiết giảm nhẹ TNHS thường biểu hiện về mức độ hạn chế về lỗi của người phạm tội như bị kích động về tinh thần vì hành vi trái pháp luật của người khác, sự hạn chế về nhận thức do bệnh tật, tuổi chưa thành niên, lỗi của người bị hại hoặc của người thứ ba, tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội

Thứ ba, tình tiết phán ánh hoàn cảnh đặc biệt của người phạm tội đáng

được khoan hồng hay thuộc thân nhân người phạm tội

BLHS quy định một số tình tiết có ý nghĩa giảm nhẹ TNHS vì lý do nhân đạo như người phạm tội là người già, là phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, người phạm tội bị mắc bệnh hiểm nghèo và không còn nguy hiểm cho xã hội, người phạm tội là lao động duy nhất trong gia đình,

Trang 25

nếu phải chấp hành hình phạt tù thì gia đình sẽ gặp khó khăn đặc biệt, nên giảm nhẹ TNHS dựa trên các căn cứ này là sự thể hiện chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước ta trong xử lý tội phạm Mặt khác, quyết định về TNHS cũng cần được tính tới yêu cầu hạn chế tối đa trong khả năng phát sinh những hệ quả tiêu cực cho những người thân thích của người phạm tội do biện pháp cưỡng chế hình sự, sao cho phán quyết của Tòa án về TNHS phải đạt lý thấu tình

Việc chia nhóm theo cách phân loại trên cho thấy tính chất tương đối trong phân loại các tình tiết giảm nhẹ TNHS Có một số tình tiết có tác dụng giảm nhẹ TNHS theo nhiều căn cứ

Về mặt lý luận: cách phân giải này đã lý giải được cơ chế tình tiết giảm

nhẹ TNHS, việc miễn, giảm TNHS được đặt ra khi có căn cứ để khẳng định

về sự giảm bớt mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, của nhân thân người phạm tội hoạc vì lý do nhân đạo Đây là cách tiếp cận hợp lý cho phép làm rõ những nét đặc thù trong cơ chế giảm nhẹ TNHS của từng nhóm tình tiết, góp phần hoàn thiện những hiểu biết về các tình tiết giảm nhẹ TNHS, lý giải sâu sắc vì sao một tình tiết được coi là giảm nhẹ TNHS

Ý nghĩa về mặt thực tiễn: Phân tích cơ chế giảm nhẹ TNHS của các nhóm

tình tiết cho thấy những đặc điểm đặc thù của cơ chế này đối với từng nhóm Việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ TNHS có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động lập pháp của nước ta Nhà làm luật sử dụng lý luận về căn cứ giảm nhẹ TNHS, quy định đầy đủ và toàn diện các tình tiết giảm nhẹ TNHS Hơn nữa, những quy định của pháp luật cho phép sử dụng những tình tiết giảm nhẹ TNHS ngoài các quy định của PLHS để làm giảm nhẹ TNHS nói đòi hỏi người xét xử phải trang bị đầy đủ kiến thức, và sự hiểu biết cần thiết về các nguyên tắc giảm nhẹ TNHS nói chung, nó là sự biểu hiện đặc thù của việc áp dụng có lợi cho người phạm tội nhằm giảm nhẹ TNHS

Trang 26

1.2 Vai trò của tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong quyết định hình phạt

1.2.1 Vai trò tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trong việc quyết định hình phạt

Phân tích các quy định của BLHS năm 1999 có liên quan đến các tình tiết tăng nặng TNHS, cũng như việc áp dụng tình tiết tăng nặng này trong thực tiễn xét xử, chúng ta có thể nhận thấy vai trò của chúng đối với việc quyết định hình phạt ở một số bình diện dưới đây

- Trong xây dựng điều luật thì cấu trúc của bất kỳ điều luật cụ thể nào thể hiện trong Phần các tội phạm BLHS, thì các nhà nghiên cứu về luật của

ta cũng đều có các quy định về khung hình phạt không giống nhau Đối với mỗi khung hình phạt sẽ có các quy định về mức hình phạt tối đa và tối thiếu, điều đó còn tuỳ thuộc vào tính chất, mức độ gây ra sự nguy hiểm cho cộng đồng xã hội đối với hành vi phạm tội tương ứng Do vậy, khi Tòa án xác định bị cáo phạm tội ở khung hình phạt nào, thì Tòa án cũng không được xét xử phạt bị cáo cao hơn mức cao nhất của khung hình phạt đã quy định mặc dù bị cáo phạm tối với nhiều tình tiết tăng nặng khác nhau Nhìn chung, quy định này là để tránh

sự cho bị cáo không bị tăng mức hình phạt vượt khung như đã quy định theo pháp luật, và nó cũng chỉ làm thay đổi mức độ phạm tội mà không làm thay đổi tính chất tội phạm của người phạm tội

Việc áp dụng các tình tiết tăng nặng TNHS một cách chính xác là nhằm đảm bảo việc xử phạt một cách nghiêm minh theo đúng pháp luật đối với các loại tội phạm theo đúng tính chất và hành vi của người phạm tội Người phạm tội gây ra tội nào có khung hình phạt nào thì đều phải chịu mức hình phạt tương ứng theo điều luật đã được quy định trong BLHS Bên cạnh đó, việc các tội phạm phạm tội còn được xem xét với từng điều kiện hoàn cảnh cụ thể như địa điểm, hoàn cảnh gây ra phạm tội, không gian, thời gian và các công cụ, phương tiện gây án, tính chất tội phạm và hành vi phạm tội, cũng như hậu quả gây ra ảnh

Trang 27

hưởng đến cộng đồng xã hội, tài sản của nhà nước và nhân dân như thế nào thì việc áp dụng các tình tiết tăng nặng TNHS mới được xem xét một cách thấu đáo

- Khi có đồng phạm cùng phạm tội thì Tòa án cần xem xét, cân nhắc nhằm áp dụng tình tiết tăng nặng TNHS một cách chính xác đối với người phạm tội, Người nào phạm tội thì Tòa án chỉ được phép áp dụng tình tiết tăng nặng TNHS đối với bản thân người ấy, mà không được áp dụng tình tiết tăng nặng TNHS đối với những người đồng phạm khác

Chúng ta cũng nên nhớ rằng, không phải mọi tình tiết tăng nặng TNHS đều

có thể áp dụng cho tất cả mọi người và tất cả các loại tội phạm, mà chúng còn tùy thuộc và tính chất và mức độ phạm tội của tội phạm, phụ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh khác nhau thì chúng ta phải áp dụng các tình tiết tăng nặng TNHS khác nhau

Ngoài ra các loại tội phạm khác nhau thì tình tiết tăng nặng TNHS cũng khác nhau nên ý nghĩa của của tăng nặng khác nhau đối với mỗi loại tội phạm Điều này có nghĩa là đối với mỗi loại tội phạm, tùy theo tính chất và mức độ mà có các tình tiết phạm tội khác nhau thì chúng ta áp dụng khác nhau, chứ không áp dụng chung một khung hình phạt đối với mọi người phạm tội Có như vậy, mới tăng được tính nghiêm minh và công bằng của pháp luật,

và có ý nghĩa giáo dục, cảm hóa người phạm tội

- Trường hợp người phạm tội vừa có tình tiết tăng nặng, vừa có tình tiết giảm nhẹ TNHS, Tòa án phải có quan điểm toàn diện, đánh giá khách quan ý nghĩa của từng tình tiết và nhất là không được thiên lệch, có khuynh hướng nghiêng về tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ TNHS Liên quan đến nội dung này tại điểm 4 mục B phần II trước đây Nghị quyết số 01/HĐTP của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao ngày 19/01/1989 đã hướng dẫn cụ

thể với nghĩa sau: “Với trường hợp một vụ án có cả tình tiết tăng nặng và

giảm nhẹ TNHS thì Tòa án phải xem xét, đánh giá một cách toàn diện các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ, không coi trọng tình tiết này mà giảm nhẹ tình tiết khác, trách nhìn nhận một cách chủ quan, duy ý chí, tránh nhìn nhận

Trang 28

một cách phiến diện, một chiều đã vội kết án gây thiệt hại về vật chất và tinh thần cho người phạm tội cũng như dễ dàng bỏ lọt tội phạm Nếu tình tiết tăng nặng tương đương với tình tiết giảm nhẹ thì Tòa án cũng không được áp dụng khoản 3 Điều 38 BLHS năm 1985 Ngược lại, nếu các tình tiết giảm nhẹ nhiều hơn tình tiết tăng nặng thì Tòa án có thể áp dụng khoản 3 của Điều 38 quy định trong BLHS năm 1985” Ngược lại, nếu tình tiết tăng nặng có ý nghĩa

tăng nặng đáng kể, tình tiết giảm nhẹ không đáng kể thì đây là trường hợp tăng nặng và phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc

- Như vậy, khi chúng ta xem xét, xử lý áp dụng một cách chính xác “tình

tiết tăng nặng TNHS của mỗi vụ án hình sự điều đó có nghĩa là chúng ta tôn trọng của các cơ quan tư pháp hình sự đối với các nguyên tắc của luật hình

sự Việt Nam đã quy định, tôn trong luật pháp, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật; mặt khác trong thực tiễn áp dụng PLHS, cũng như việc Tòa án áp dụng đối với các nguyên tắc quyết định hình phạt thể hiện tính nguyên tắc của pháp luật” [Xem: 8, tr.12]

- Trong quá trình giải quyết vấn đề TNHS của người phạm tội, Tòa án cần phân biệt tình tiết tăng nặng TNHS nào là tình tiết định tội, là tình tiết định khung hay tình tiết tăng nặng TNHS chung, cũng như thấy được mối liên

hệ chặt chẽ hữu cơ giữa chúng với nhau trong một vụ án hình sự Ngoài ra, để giải quyết một cách chính xác một vụ án hình sự nào đó, thì các cơ quan tư pháp hình sự, Tòa án, Viện kiểm sát có thẩm quyền cần phải xác định rõ tội danh, khung hình phạt tương ứng và các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ đúng với quy định của BLHS đã quy định Tóm lại, các loại tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ này có mối liên hệ và vai trò bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình định tội theo khung hình phạt cũng như lượng hình phạt đối với người phạm tội hình sự

Tóm lại, đối với các một vụ án hình sự cụ thể thì sau khi xác định được tình tiết định tội tăng nặng hay giảm nhẹ TNHS thì Tòa án mới xác định được tình tiết định khung hình phạt Mặt khác, tình tiết định khung có ý nghĩa tác

Trang 29

động trở lại với tình tiết định tội Bởi vì, đó là căn cứ không thế thiếu để đánh giá mức độ gây nguy hiểm đối hành vi phạm tội của tội phạm Các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ TNHS chỉ được xác định khi đã định được tội danh và khung hình phạt cụ thể theo quy định của BLHS Do vậy, khi xem xét hành vi phạm tội đối với tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ TNHS là các bước thực hiện nhằm cụ thể hóa khi đánh giá mức độ gây nguy hiểm đối với các hành vi phạm tội, từ đó làm sáng tỏ tính chất và mức độ nguy hiểm của toàn bộ tội phạm, làm tiền đề giúp cho Tòa án đưa ra được một biện pháp xử lý đúng đắn

Từ ý kiến hoàn toàn đúng đắn, khoa học và bảo đảm sức thuyết phục của

PGS.TS Đào Trí Úc là: “Pháp luật, dù có hoàn thiện đến mấy cũng không thể

phản ánh và quy định hết được tất cả những hoàn cảnh cụ thể của cuộc sống ” [35, tr.209]

1.2.2 Vai trò tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong việc quyết định hình phạt

Giảm nhẹ TNHS có vai trò quan trọng trong quá trình xét xử đối với người phạm tội, nó không chỉ thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật mà còn thể hiện tính nhân đạo của Đảng và Nhà nước, và có ý nghĩa giáo dục Khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội thì căn cứ để giảm nhẹ hình phạt phải được thực hiện theo quy định của pháp luật, nhằm đảm bảo cho Tòa án xét xử một cách khách quan, chính xác, hợp tình, hợp lý, tránh gây tranh cãi, thiếu các dẫn chứng khách quan khoa học Việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ TNHS phải được thực hiện của khung hình phạt đã được quy định nhưng không được giảm nhẹ dưới mức độ khung hình phạt đã được quy định Nếu giảm xuống vượt mức độ thấp nhất của khung hình phạt thì phải chuyển sang khung hình phạt khác nhẹ hơn so với khung hình phạt đã quy định

- Khi áp dụng các tình tiết giảm nhẹ TNHS, điều đó có nghĩa là Đảng và Nhà nước ta trên tinh thần nhân đạo và khoan hồng đối với tội phạm tự thú, không quanh co chối tội, tìm mọi kẽ hở để trốn tội, tự giác khai báo người đồng phạm, có ý thức tự giác khai bảo thành thật, lập công chuộc tội, thấy hối

Trang 30

hận khi phạm tội, ăn năn hối cải, tự giác sữa chữa sai lầm cũng như tự giác bồi thường thiệt hại cho người bị hại hoặc tài sản của nhà nước và nhân dân; Đối với người phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội lần đầu có ý thức ăn năn hối cải thì Tòa án có thể áp dụng hình phạt nhẹ hơn khung hình phạt tù, có thể giao cho các cơ quan, đoàn thể, các tổ chức xã hội giáo dục tại địa phương, hoặc gia đình bị cáo giám sát giáo dục tại gia đình

- Tình tiết giảm nhẹ TNHS làm thay đổi mức độ nguy hiểm chứ không làm thay đổi tính chất nguy hiểm của tội phạm

- Việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ TNHS khi quyết định hình phạt có vai trò tác động tích cực tới người phạm tội trong việc giáo dục người phạm tội, hạn chế hậu quả, tác hại của tội phạm, đấu tranh phòng ngừa tội phạm, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát hiện, điều tra và xử lý tội phạm

1.3 Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của quy định về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt Nam từ sau Cách mạng tháng tám 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 2015

1.3.1 Giai đoạn từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến khi ban hành Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1985

Ngay sau khi cách mạng tháng tám thành công, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã quan tâm đặc biệt đến công tác xây dựng pháp luật, trong đó

có PLHS, nhằm bảo vệ trật tự, trị an xã hội, bảo vệ chính quyền nhân dân Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký một số sắc lệnh để làm căn cứ truy tố, xét xử các loại tội phạm, đặc biệt là tội phản quốc, phản nhân dân Tuy nhiên, phải đến khi ra đời Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản XHCN; Pháp lệnh trừng trị các tội phản cách mạng và Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân và trải qua thực tiễn xét xử hàng năm của Tòa án nhân dân tối cao được tổng kết thì PLHS mới có tính hệ thống tương đối đầy

đủ Mặc dù các văn bản pháp luật hình sức còn nằm nhiều chỗ khác nhau nhưng nhìn chung cũng thể hiện tính thống nhất và có hệ thống, đảm bảo tính

Trang 31

khoa học Như vậy, bên cạnh các tình tiết tăng nặng định khung, thì còn có các tình tiết tăng nặng chung được thể hiện trong Điều 18 về Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản của công dân và Điều 19 về Pháp lệnh trừng trị các tội phản cách mạng Mặc dù vậy, do có nhiều văn bản pháp luật khác nhau quy định về tình tiết tăng nặng nên khi vận dụng sẽ gây ra nhiều khó khăn cho Tòa án khi xét xử các vụ án cụ thể, dẫn đến thiếu tính nhất quán, dễ gây ra tranh cãi giữ Thẩm phản và các luật sư cũng như dư luận xã hội

Theo bản tổng kết thực tiễn vận dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trong công tác xét xử về hình sự của Tòa án nhân dân tối cao năm 1976 thì tình tiết tăng nặng được phân chia thành 3 nhóm:

- Những tình tiết tăng nặng thuộc về phương diện khách quan của tội phạm;

- Những tình tiết tăng nặng thuộc về nhân thân người phạm tội;

- Những tình tiết tăng nặng thuộc về phương diện chủ quan của tội phạm;

So với các tội xâm phạm tài sản khác thì xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa được coi là tội xâm phạm nặng nhất, và sẽ bị xét xử với mức tình tiết tăng nặng đặc biệt nhất, với mức khung hình phạt cao nhất Xâm phạm tài sản

xã hội chủ nghĩa được xem là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng so với các loại xâm phạm tài sản khác Mặc dù cũng là xâm phạm tài sản nhưng xâm phạm tài sản của công dân, tổ chức thì mức hình phạt có thể là 15 đến 20 năm tù nhưng nếu xâm phạm đến tài sản quốc gia, tài sản xã hội chủ nghĩa thì mức hình phạt tăng lên định khung cao nhất là có thể tử hình

Chúng ta có thể thấy rằng, mặc dù trong giai đoạn này nền kinh tế - chính trị xã hội còn nhiều khó khăn, thách thức, một mặt phải lo xây dựng đất nước, mặt khác phải lo chống thù trong giặc ngoài nhưng hệ thống pháp luật của nước ta về tình tiết tăng nặng thời kỳ này cũng tương đối có hệ thống và dần dần hoàn thiện, nó phản ánh sự quan tâm đến tình hình tội phạm xâm phạm đến tài sản của nhà nước và công dân

Trang 32

Đối với các hình vi thuộc tính chất khách quan và chủ quan khi phạm tội

đã được thể hiện một cách hợp lý và hợp pháp, thể hiện tính nguy hiểm cho

xã hội một cách đầy đủ theo chiều hướng tăng lên của tội phạm theo nhiều khía cạnh khác nhau thì việc quy định tình tiết tăng nặng là hết sức cần thiết, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật được vân dụng một cách triệt để, đảm bảo tính công khai, minh bạch, công bằng, khách quan trong xét xử và sẽ đạt được mục đích của quy định pháp luật

Với chế độ phong kiến kéo dài, cùng với sự đo hộ của thự dân Pháp, hệ thống pháp luật của nước ta trước cách mạng tháng 8 là một hệ thống pháp luật mang tính phong kiến, mang tính giai cấp, nhằm phục vụ cho mục đích của giai cấp thống trị Sau khi xóa bỏ hệ thống pháp luật của thực dân phong kiến đương thời, thì hệ thống pháp luật mới dần được xây dựng và được hình thành nó trở thành cơ sở, căn cứ quan trọng để phục vụ sự nghiệp giữ gìn độc lập tự do của đất nước, đồng thời xây dựng xã hội mới Trong thời gian đầu khi mới giành được chính quyền từ tay thực dân pháp và chế động phong kiến tay sai, thì các quy định về tình tiết giảm nhẹ TNHS mới chỉ mang tính khái quát chứ chưa có hệ thống quy định chi tiết cụ thể đối với mỗi loại tội phạm Tuy nhiên, điều đó cũng cho thấy việc mở rộng khả năng áp dụng của các tình tiết giảm nhẹ TNHS thời kỳ này trong quyết định hình phạt cung đã được áp dụng và đề cập

Sau khi cách mạng thành công, công cuộc xây dựng đất nước được hình thành một cách tương đối rõ nét, miền Bắc ra sức xây dựng chủ nghĩa xã hội đồng thời là hậu phương vững chắc cho miền nam, nên hệ thống pháp luật quy định về quyết định hình phạt được ghi nhận rõ ràng hơn và có hệ thống hơn, xem xét một cách đầy đủ và tương đối toàn diện về mức độ gây ra nguy hiểm cho xã hội, đến nhân thân bị cáo, đến tình tiết tăng nặng cung như giảm nhẹ hình phạt Với hướng dẫn Báo cáo này đã cho chúng ta thấy đây là một bước tiến bộ về mặt khoa học hình sự của nước ta trong bối cảnh đất nước còn khó khăn Đây cũng là cơ sở cho việc căn cứ quan trọng để sau này các nhà

Trang 33

làm luật ra các quyết định hình phạt, và quy định các tình tiết giảm nhẹ cụ thể hơn so với trước đây

1.3.2 Giai đoạn từ sau khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự định tội

Đến năm 1985 tình tiết tăng nặng TNHS vẫn khẳng định tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa là tình tiết tăng nặng đối với việc xâm hại tài sản của nhà nước Điều đó được thể hiện rõ trong Bộ luật về chế định Các tội xâm phạm sở hữu xã hội chủ nghĩa ở chương IV, so với quy định trước đây về các tình tiết tăng nặng TNHS thì các tội tương ứng trong chương VI về chế định Các tội xâm phạm quyền sở hữu của công dân thì có mức hình phạt sau này nặng hơn Bên cạnh đó, cũng có sự khác nhau về sở hữu tài sản bị xâm phạm

là tài sản xã hội chủ nghĩa

Tuy nhiên, trong quá trình sửa đổi, bổ sung BLHS năm 1985, một số tình tiết tăng nặng TNHS định tội đã xuất hiện, cụ thể: Tình tiết phạm tội đối với trẻ em, người chưa thành niên là tình tiết tăng nặng định tội trong các tội xâm phạm tình dục như Điều 112a, Điều 113a khi sửa đổi, bổ sung BLHS năm 1985

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự định khung

Những tình tiết tăng nặng TNHS định khung trong BLHS năm 1985 sử dụng một số tình tiết tăng nặng TNHS chung như vừa nêu làm tình tiết tăng

nặng TNHS định khung trong một số tội phạm như: tình tiết phạm tội có tổ

chức quy định tại Điều 129 BLHS

Bên cạnh đó, cũng có nhiều tình tiết khác làm tăng nặng TNHS chẳng hạn như: Phạm tội có tính chất côn đồ, phạm tội nhiều lần, phạm tội có tổ chức, tội cướp giật, công nhiên chiếm đoạt tài sản của nhà nước, v.v

Trong quá trình phát triển nền kinh tế - xã hội, với sự phát triển của nền kinh tế thì các vấn đề xã hội cũng biến đổi theo, do vậy, các điều luật cũng có những thay đổi cho phù hợp với các loại tội phạm mới Do vậy, sau khi BLHS lại tiếp tục được sửa đổi bổ sung qua các năm 1989, 1991… 1997 về các tội

Trang 34

như: tội phạm tham nhũng, tội phạm ma túy, tội phạm tình dục, v.v bởi vì các loại tội phạm này đã có những bước phát triển nhanh chống gây ảnh hưởng đến tình hình kinh tế - xã hội của đất nước cũng như xâm phạm đến tài sản của công dân Do vậy các khung hình phạt cũng được tăng lên cao hơn trước nhằm trấn áp các loại tội phạm mới nỗi lên

Về tình tiết tăng nặng trách nhiêm hình sự chung

Tình tiết tăng nặng TNHS chung được gọi là tình tiết tăng nặng TNHS được quy định tại Điều 39 BLHS năm 1985 bao gồm:

- Phạm tội có tổ chức; phạm tội nhiều lần, xúi giục trẻ em phạm tội;

- Lợi dụng đất nước có chiến tranh, hoàn cảnh thiên tai, hỏa hoạn hoặc những khó khăn đặc biệt khác của xã hội để phạm tội;

- Phạm tội trong thời gian chấp hành hình phạt;

- Dùng thủ đoạn xảo quyệt, tàn ác trong khi phạm tội hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

- Phạm tội đối với trẻ em, người trên 60 tuổi, người ốm yếu bệnh tật không thể tự vệ được, hoặc người bị lệ thuộc về mặt vật chất đối với mình, công tác hay các mặt khác; phạm tội đối với phụ nữ có thai;

- Phạm tội vì mục đích đê hèn, có ý định thực hiện tội phạm đến cùng;

- Phạm tội gây hậu những quả nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng;

- Phạm tội nhiều lần, tái phạm nhiều lần, tái phạm nguy hiểm cho xã hội

và người dân;

- Sau khi phạm tội thì tìm mọi cách trốn tránh, có những hành động xảo quyệt, che dấu tội phạm, không thành khẩn khai báo, hung hãn, nhằm trốn tránh, che giấu tội phạm

Cùng với dòng chảy của thời gian, nền kinh tế xã hội tiếp tục phát triển, đặc biệt trong nền kinh tế thị trường, nhiều cá nhân có quyền lực, có vị thế đã lợi dụng chức vụ quyền hạn của mình để chiếm đoạt tài sản của nhà nước và nhân dân về cho cá nhân mình, bất chấp mọi luân thường đạo lý của xã hội

Trang 35

Vì vậy, các nhà làm luật cũng như Chính phủ nước ta đã ban hành thêm Luật

bổ sung về tình tiết tăng nặng TNHS đối với tội danh “lợi dụng chức vụ cao

để phạm tội” được quy định tại Luật số 04/1997 Quốc Hội khóa IX đã thông qua

- Sau sửa đổi bổ sung lần thứ nhất năm 1985, BLHS ra đời đã thể hiện một sự quan tâm của Đảng và Nhà nước trong việc điều hành xã hội theo quy định của pháp luật, nó thể hiện vượt bậc trong ngành lập pháp của nước ta Các tình tiết giảm nhẹ TNHS trong Bộ luật này đã được thể hiện một cách chi tiết cụ thể thành một Điều và được tính áp dụng chung cho mọi loại tội phạm Tại Điều 38 của BLHS các tình tiết giảm nhẹ này được đặt tên là “Những tình tiết giảm nhẹ”

Tại khoản 2 và khoản 3 Điều 38 BLHS 1985 đã quy định việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ như sau:

“2 Tòa án có thể coi những tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, khi quyết định hình phạt, nhưng Tòa án phải ghi rõ trong bản án của hồ sơ

3 Khi người phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ thì Tòa án có thể áp dụng một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà đã quy định trong Điều luật, hoặc Tòa án có thể chuyển sang một hình phạt khác có khung hình phạt nhẹ hơn Tuy nhiên, việc giảm nhẹ này phải được ghi trong bản án với những lý do xác đáng

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội, BLHS lại tiếp tục được sửa đổi bổ sung và hoàn thiện hơn cho phù hợp với tình hình thực tế của đất nước Do vậy, đến năm 1999 Đảng và Nhà nước ta lại tiếp tục sửa đổi bổ sung

và hoàn thiện các điều luật một cách tương đối đầy đủ và hệ thống trên cơ sở

kể thừa những mặt tích cực của BLHS năm 1985

1.3.3 Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 2015

So với BLHS năm 1999 thì BLHS năm 2015 có 4 tình tiết giảm nhẹ được sửa đổi bổ sung thêm như: Phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả

Trang 36

năng nhận thức mà lỗi đó không phải do mình gây ra; Phạm tội trong trường hợp người thực thi công vụ vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người vi phạm; Người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng bị phạm tội; Người phạm tội là người cha, mẹ, vợ, chồng, con liệt sỹ, người có công với cách mạng Trong BLHS năm 1999 tình tiết giảm nhẹ đối với người già phạm tội như

“người phạm tội là người già” thì saunăm 2015 BLHS đã sửa đổi đổi thành

“người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên” Bởi vì, người già là khái niệm không xác định chính xác khi nào là già, khó định lượng Do vậy năm 2015 BLHS lấy mốc thời gian là tuổi từ 70 trở lên là người già

BLHS năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung so với Điều 48 của BLHS năm

1999 đó là: Sửa cụm từ „phạm tội đối với trẻ em‟ thành „phạm tội đối với người dưới 16 tuổi‟; sửa „người già‟ thành „người đủ 70 tuổi trở lên‟ (điểm i)

Bỏ các tình tiết phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng vì đây là các tình tiết định tội, định khung hình phạt mang tính chất định tính và trừu tượng Do vậy, những tình tiết trước đây mang tính trừu tượng, khó định lượng, gây ra nhiều tranh cãi trong xã hội, thì nay được quy định

rõ ràng theo độ tuổi một cách chính xác, dễ có căn cứ cho Tòa án xem xét xét xử theo khung hình phạt đã quy định

Bổ sung đối tượng bị xâm hại là "người khuyết tật hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, người bị hạn chế khả năng nhận thức" vào tình tiết tăng nặng quy định tại điểm k khoản 1 Điều 52 BLHS năm 2015 Bỏ tình tiết xâm phạm tài sản của Nhà nước; Một số tình tiết tăng nặng TNHS quy định ghép trong một điểm của khoản 1 Điều 48 của BLHS năm 1999 được tách ra và quy định thành các điểm riêng trong khoản 1 Điều 52 của BLHS năm 2015 như các tình tiết: phạm tội 2 lần trở lên (điểm g); tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm (điểm h); dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt hoặc tàn ác để phạm tội (điểm m); dùng thủ đoạn hoặc phương tiện có khả năng gây nguy hại cho nhiều người để phạm tội (điểm n) Sửa tình tiết: “Xúi giục người chưa thành niên phạm tội” thành “Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội” (điểm o)

Trang 37

Tiểu kết chương 1

Trong chương 1 luận văn đã khái quát một số vấn đề lý luận về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong quyết định hình phạt theo luật hình sự Việt Nam

Trước hết, luận văn làm rõ một số khái niệm, ý nghĩa và phân loại về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Đối với tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự mặc dù còn nhiều quan điểm khách nhau, nhưng theo tôi,

Tình tiết tăng TNHS là tình tiết tăng nặng mà người phạm tội cố tình vi phạm nhiều lần, vi phạm đối tài sản chung của nhà nước, đối với trẻ em, người già, phụ nữ mang thai, v.v đây là căn cứ để Tòa án quyết định hình phạt đối với người phạm tội theo hướng nghiêm khắc hơn Nghiên cứu tình tiết tăng nặng

trách nhiệm hình sự có ý nghĩa về mặt pháp lý và có ý nghĩa về mặt chính trị Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự có nhiều loại, nhưng chủ yêu có 3 loại

cơ bản đó là: Tình tiết tăng nặng định tội; tình tiết tăng nặng định khung và tình tiết tăng nặng chung

Bên cạnh đó, luận văn cũng khái quát một số khái niệm, ý nghĩa và phân

loại tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Tình tiết giảm nhẹ TNHS là tình

tiết được quy định trong BLHS với tính chất là tình tiết giảm nhẹ và là một trong những căn cứ để Tòa án quyết định hình phạt đối với người phạm tội theo hướng nhẹ hơn trong phạm vi một khung hình phạt nếu trong vụ án hình

sự có tình tiết này Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng có ý nghĩa về

mặt pháp lý và có ý nghĩa về mặt chính trị Nghiên cứu tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có vai trò to lớn trong việc định tội bị can, bị cáo, là căn cứ khoa học giúp việc xử các vụ án hình sự được khách quan Như vậy, việc nghiên cứu và khái quát một số vấn đề lý luận về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có ý nghĩa quan trọng, nó là cơ sở pháp lý khoa học để luận văn làm sáng tỏ một số vấn đề thực tiễn đang diễn ra

ở Hà Tĩnh hiện nay

Trang 38

Chương 2 QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM 1999

VỀ TÌNH TIẾT TĂNG NẶNG, GIẢM NHẸ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ TRONG QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG

tổ chức được quy định rõ trong hệ thống pháp luật của nước ta, cụ thể tại

điểm a, khoản 1 điều 48 của BLHS đã quy định

Phạm tội có tổ chức khi gây nguy hiểm cho xã hội mà đến mức xử lý hình sự thì tùy thuộc vào từng người phạm tội, vai trò của từng cá nhân phạm tội, ai là người cầm đầu, người chỉ đạo thực hiện phạm tội thì mức độ người cầm đầu sẽ bị xử lý TNHS nặng hơn so với người đồng phạm là giúp sức, hoặc bị xúi dục hay bị lôi kéo, ép buộc dẫn đến đồng phạm phạm tội Do vậy, khi ra quyết định hình phạt, tùy từng vị trí vai trò của người phạm tội và sẽ có khung hình phạt tương ứng nhằm xử lý nghiêm minh trước pháp luật để ngăn ngừa, răn đe, giáo dục người cầm đầu, tổ chức vi phạm pháp luật hình sự, đồng thời cũng không xem nhẹ các đồng phạm Tùy vào tính chất khách nhau

mà có các khung hình phạt khác nhau Cùng phạm tội như nhau thì khung hình phạt phạt phải như nhau

b Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp

Trang 39

Tình tiết này đã được hướng dẫn và quy định rõ ràng tại Nghị quyết 01/2006/NQ-HĐTP, cụ thể phải có đầy đủ những điều kiện sau thì mới áp

dụng tình tiết “phạm tội có tính chất chuyên nghiệp”

Người phạm tội cố ý phạm tội nhiều hơn năm lần về cùng một loại tội phạm mà không cần phải phân biệt đã bị truy cứu TNHS hay chưa, nếu chưa hết thời gian truy cứu TNHS hay chưa được xóa án tích

Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp còn được quy định đó là người phạm tội sử dụng các lần phạm tội của mình để làm nghề nuôi sống bản thân

và xem phạm tội có được là nguồn sống chính

c Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội

Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội là người có chức vụ quyền hạn trong cơ quan nhà nước, làm chủ các doanh nghiệp có chức, có quyền, dùng chức vụ và quyền lực của mình để tìm kiếm lợi ích của chung thành của riêng

cá nhân mình mà lợi ích đó đi ngược với lợi ích chung của xã hội và của cộng đồng Việc lợi dụng chức vụ quyền hạn để phạm tội được diễn ra khi người đứng đầu có quyền lực mà quyền lực không được kiểm soát bằng hệ thống pháp luật, thậm chí người có chức có quyền lợi dụng các kẽ hỡ của pháp luật, luồn lách tránh luật pháp để phạm tội nhưng không bị phát hiện Người phạm tội lợi dụng chức vụ quyền hạn của mình để phạm tội thì được xem là tình tiết tăng nặng TNHS theo quy định Tuy nhiên, nếu người có chức vụ quyền hạn phạm tội mà không sử dụng chức vụ quyền hạn của mình để phạm tội thì không được xem là tình tiết tăng nặng TNHS theo quy định của pháp luật Lợi dụng chức vụ quyền hạn để phạm tội khi nó không phải là tình tiết định tội hoặc định khung thì được xem là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình

sự theo khung hình phạt

d Phạm tội có tính chất côn đồ

Phạm tội có tính chất côn đồ là hành vi phạm tội có tính chất coi thường pháp luật, coi thường mạnh sống của người khác, sử dụng vú khí, công cụ hỗ trợ đe dọa, ép buộc người khác làm theo ý mình, hoặc vô cớ, hay viện nguyên

Trang 40

cớ để phạm tội đối với người khác Pham tội có tính chất côn đồ đã được đề cập tại Hội nghị tổng kết công tác ngành Tòa án năm 1995 và hướng dẫn tại Công văn số 38/NCPL ngày 06/01/1976 và TAND tối cao Phạm tội có tính chất côn đồ thường là xâm phạm tài sản, sức khỏe, tính mạng và danh dự người khác, làm cho người khác mất uy tín, mất năng lực phòng vệ, phạm tội

có tính chất côn đồ thường gây gổ một cách vô cớ, coi thường pháp luật cũng

như những giá trị đạo đức xã hội

đ Phạm tội vì động cơ đê hèn

Phạm tội vì động cơ đê hèn là hành vi phạm tội được thực hiện với động

cơ, mục đích xấu xa, thấp hèn, phạm tội có tính chất đáng khinh bỉ, thiếu danh

dự, phẩm chất của một con người Phạm tội vì động cơ đê hèn thể hiện ý thức đạo đức pháp luật non kém, thiếu nhận văn nhân đạo trong cư xử giữa con người với con người, thể hiện tính bội bạc, ích kỷ, xem thường tính mạng và

tài sản của người khác

Trong phạm tội vì động cơ đê hèn thì mức độ ích kỷ, xấu xa, thấp hèn càng cao thì tình tiết tăng nặng TNHS càng cao cho mỗi hành vi phạm tội

e Cố tình thực hiện phạm tội đến cùng

Phạm tội đến cùng là phạm tội có tính chất quyết liệt, thực hiện bằng được mục đích của mình, mặc dù có người can ngăn, có người cán trở hoạt động phạm tội của mình nhưng người phạm tội vẫn quyết tâm thực hiện Phạm tội đến cùng thể hiện mức độ nguy hiểm cho xã hội, khi gây tội thường dẫn đến tội đặc biệt nghiêm trọng nên cần phải áp dụng tình tiết tăng nặng

tránh nhiệm hình sự

Phạm tội đến cùng có mức tăng nặng TNHS cao khi mức độ thể hiện phạm tội cao, phụ thuộc vào mức độ cản trở đối với người phạm tội Nếu mức cản trở càng cao mà người phạm tội vẫn cố tình thực hiện bằng được phạm tội đến mục đích cuối cùng thì mức độ tăng nặng TNHS càng cao

g Phạm tội nhiều lần, tái phạm, tái phạm nguy hiểm

Ngày đăng: 29/06/2020, 21:46

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm