Những năm qua, các cấp, các ngành trong huyện đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, giảm nghèo; triển khai thực hiện đồng bộ các chủ trương, đường lối của
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HOÀNG ANH TUẤN
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TIÊN PHƯỚC,
TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, năm 2019
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HOÀNG ANH TUẤN
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TIÊN PHƯỚC,
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Trong quá trình thực hiện luận văn này, tác giả có tham khảo, kế thừa và
sử dụng những thông tin, số liệu từ một số tài liệu như: sách chuyên ngành, luận văn, tạp chí, bài tham luận… theo danh mục tài liệu tham khảo
Tác giả cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng mình và chịu hoàn toàn trách nhiệm về cam đoan của mình
Tác giả luận văn
Hoàng Anh Tuấn
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC THI CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG Ở NƯỚC TA 8
1.1 Lý luận chung về giảm nghèo và giảm nghèo bền vững 8 1.2 Nội dung thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững 15 1.3 Quan điểm của đảng, chính sách của nhà nước về giảm nghèo bền vững 20
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TIÊN PHƯỚC GIAI ĐOẠN 2015 – 2018 29
2.1 Tổng quan về huyện Tiên Phước – tỉnh Quảng Nam 29 2.2 Thực trạng triển khai và kết quả thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững trên đỊa bàn huyỆn tiên phưỚc, tỈnh quẢng nam 32 2.3 Đánh giá tình hình thực hiện chính sách giảm nghèo trên địa bàn huyện Tiên Phước thời gian qua 46
CHƯƠNG 3 QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TIÊN PHƯỚC, TỈNH QUẢNG NAM 56
3.1 Quan điểm và mục tiêu 56 3.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách giảm nghèo trên địa bàn huyện Tiên Phước 59 3.3 Một số kiến nghị 71
KẾT LUẬN 74 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT Ký hiệu viết tắt Giải thích
13 UNDP Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Chuẩn nghèo qua các giai đoạn 11 Bảng 2.1 Bảng thống kế giá trị sản xuất huyện Tiên Phước giai đoạn 2015 -
2018 31 Bảng 2.2: Kết quả điều tra hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2015 theo 37 chuẩn nghèo giai đoạn 2011 - 2015 trên địa bàn huyện Tiên Phước 37 Bảng 2.3: Kết quả điều tra hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2018 theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020 trên địa bàn huyện Tiên Phước 38 Bảng 2.4: Tổng hợp kết quả giảm nghèo từ năm 2015 – 2018 39
DANH MỤC SƠ ĐỒ HÌNH VẼ
Sơ đồ 2.1 Tổ chức bộ máy Ban chỉ đạo chương trình giảm nghèo 34
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Giảm nghèo và giảm nghèo bền vững là một trong những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, nhằm cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho người nghèo, thu hẹp khoảng cách và trình độ phát triển giữa các vùng, địa bàn và giữa các dân tộc, nhóm dân cư Nghị quyết số 15-NQ/TW, ngày 1/6/2012 của Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khoá XI đã khẳng định:
“Ðẩy mạnh việc triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm
nghèo, trong đó chú trọng các chính sách giảm nghèo”… “thu hẹp chênh lệch
về mức sống và an sinh xã hội so với bình quân cả nước Nghiên cứu sửa đổi,
bổ sung chính sách hỗ trợ hộ cận nghèo để giảm nghèo bền vững” Để chuyển
đổi mạnh mẽ chính sách giảm nghèo theo hướng bền vững trong bối cảnh đổi mới mô hình tăng trưởng, năm 2015, Chính phủ Việt Nam đã thông qua phương pháp tiếp cận đa chiều để đo lường nghèo đói Theo đó nghèo đa chiều được đo lường bằng mức độ thiếu hụt tiếp cận 5 dịch vụ xã hội cơ bản, bao gồm: y tế; giáo dục; nhà ở; nước sạch và vệ sinh; và thông tin, và được đo bằng
10 chỉ số Hộ được coi là nghèo đa chiều nếu thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt (trên tổng số 10 chỉ số nói trên) trở lên Kết quả phân tích số liệu của Khảo sát Mức sống dân cư cho thấy tỷ lệ nghèo dù đo lường bằng thước đo nào cũng đều giảm trong giai đoạn 2012-2016 Tỷ lệ nghèo thu nhập, chi tiêu cũng như nghèo đa chiều giảm mạnh Tỷ lệ nghèo đa chiều giảm từ 18,1% xuống 10,9% trong thời kỳ này Tỷ lệ nghèo chi tiêu giảm từ 17,2% xuống 9,8%, còn tỷ lệ nghèo thu nhập giảm từ 12,6% xuống còn 7,0% Xét toàn bộ dân số thì có 18% dân số không thiếu hụt bất kỳ chỉ số nào trong
10 chỉ số nghèo đa chiều vào năm 2012 Tỷ lệ này tăng lên đáng kể vào năm
2016, ở mức 36,1% Không có hộ gia đình nào thiếu hụt 8 chỉ số trở lên Chỉ
có 37,6% dân số thiếu hụt một chỉ số, và 15,5% dân số thiếu hụt hai chỉ số
Trang 8vào năm 2016 Nhóm thiếu hụt trầm trọng là nhóm thiếu từ 5-7 chỉ số, và nhóm này chiếm 1,3% dân số vào năm 2016.[1].Tuy nhiên, kết quả thực hiện chính sách giảm nghèo ở nhiều địa phương vẫn chưa bền vững, chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng vẫn còn những khoảng cách đáng kể Đặc biệt là những địa bàn vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa, vùng miền núi, biên giới khó khăn Tiên Phước là huyện miền núi nằm phía Tây của tỉnh, có 14 xã và 01 thị trấn; có 05 xã đặc biệt khó khăn, dân số toàn huyện trên 80.000 nhân khẩu, trong đó có trên 200 nhân khẩu là người đồng bào dân tộc Cor Những năm qua, các cấp, các ngành trong huyện đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, giảm nghèo; triển khai thực hiện đồng bộ các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước về công tác giảm nghèo;
đã lồng ghép chương trình xoá đói giảm nghèo với các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội, ban hành các chương trình, đề án kinh tế - xã hội, giảm nghèo, giải quyết việc làm Cuối năm 2015, hộ nghèo toàn huyện còn 1.830 hộ, chiếm tỷ lệ 10,21% Đến nay, toàn huyện còn 1.285 hộ nghèo, chiếm
tỷ lệ 6,99% Mặc dù tỷ lệ hộ nghèo có sự giảm dần qua các năm, tuy nhiên, công tác giảm nghèo bền vững tại huyện Tiên Phước vẫn còn một số hạn chế nhất định như: Một số hộ dân còn ỷ lại vào chính sách của nhà nước; còn mang tư tưởng không muốn thoát nghèo để được hưởng các chính sách hỗ trợ của Nhà nước; Việc nắm bắt tình hình của các hộ nghèo, hộ cận nghèo của cán bộ chưa đảm bảo chặt chẽ và mang tính hình thức Nhìn chung các hộ đã thoát nghèo song mức thu nhập còn nằm sát chuẩn nghèo chiếm tỷ trọng cao
Xuất phát từ những lý do nêu trên, tác giả chọn đề tài “Thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam”
làm đề tài luận văn thạc sỹ Chính sách công
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Thực hiện các chính sách giảm nghèo là một trong những nội dụng quan trọng và được nhiều quốc gia đặc biệt quan tâm trong quá trình phát triển kinh
Trang 9tế -xã hội Ở Việt Nam, Chính phủ ban hành Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững cho mỗi giai đoạn 5 năm trên cơ sở công bố chuẩn nghèo để đo lường sự thay đổi của tình trạng nghèo trong giai đoạn tương ứng Cho đến nay, công tác giảm nghèo đã đạt những thành quả nhất định Tuy nhiên, tốc độ giảm nghèo còn thấp và vấn đề tái nghèo đang diễn ra ở nhiều địa phương Vấn đề giảm nghèo và giảm nghèo bền vững đã được nghiên cứu dưới nhiều gốc độ khác nhau Đề thực hiện đề tài này, tác giả tham khảo các giáo trình chuyên ngành và các tài liệu có liên quan khác cụ thể như sau:
Nguyễn Thị Hoa (2010), Chính sách giảm nghèo ở Việt Nam đến năm
2015, Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông, Hà Nội Nghiên cứu này tiến hành đánh giá tác động của một số chính sách đến công tác giảm nghèo ở nước
ta hiện nay Kết quả nghiên cứu đã tập trung vào 4 chính sách chủ yếu: Chính sách tín dụng ưu đãi cho hộ nghèo; Chính sách đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng
xã nghèo; Chính sách hỗ trợ giáo dục cho người nghèo; Chính sách hỗ trợ y tế cho người nghèo Ngoài việc phân tích, đánh giá và phản ánh thực trạng thực hiện các chính sách, tác giả còn đưa ra những phương hướng nhằm hoàn thiện các chính sách xóa đói giảm nghèo chủ yếu của Việt Nam đến năm 2015.[13] Nguyễn Thành Nhân (2015) “Chính sách giảm nghèo bền vững từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh” luận văn thạc sĩ Chính sách công Luận văn đã nghiên cứu một số vấn đề lý luận về thực hiện chính sách giảm nghèo và giảm nghèo bền vững; tác giả đã phân tích đánh giá thực trạng thực hiện chính sách giảm nghèo trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh và đưa ra phương hướng và giải pháp hoàn thiện chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn Thành phố
Hồ Chí Minh.[10]
Bùi Thế Hưng (2015) ,“Chính sách giảm nghèo bền vững từ thực tiễn quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng” Đề tài luận văn thạc sĩ chính sách công Luận văn đã hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về giảm nghèo; thực trạng giảm nghèo trên địa bàn quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng; đánh giá những
Trang 10mặt được, hạn chế và các nguyên nhân của hạn chế; trên cơ sở đó, tác giả xây dựng các giải pháp tăng cường thực hiện chính sách giảm nghèo tai quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng trong thời gian đến[3]
Phan Thị Kim Phúc (2016), “Chính sách giảm nghèo bền vững từ thực tiễn Quận Tân Phú, TPHCM” luận văn thạc sĩ Chính sách công Luận văn đã nghiên cứu một số vấn đề lý luận về xóa đói giảm nghèo; thực trạng giảm nghèo trên địa bàn quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh; đánh giá những tồn tại, hạn chế, nguyên nhân trong công tác giảm nghèo; đề ra phương hướng và một số giải pháp tăng cường thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững tại địa phương trong điều kiện hiện nay.[15]
Bộ Lao động -Thương binh và Xã hội (2018), “Báo cáo giảm nghèo đa chiều ở Việt Nam Thông qua báo cáo này, tác giả hệ thống hóa được những khái niệm, tiêu chí đo lường đánh giá giảm nghèo theo hướng đa chiều và tóm lược các chính sách giảm nghèo đa chiều ở Việt Nam giai đoạn 2016 -2020 Bên cạnh đó, báo cáo đưa ra bức tranh tổng quan về giảm nghèo đa chiều ở Việt Nam, đồng thời tập trung phân tích kỹ hơn về xu hướng giảm nghèo ở nhóm đồng bào dân tộc thiểu số và người khuyết tật Báo cáo đưa ra một số khuyến nghị trong quá trình thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững và các chính sách giảm nghèo nhằm đảm bảo chất lượng cuộc sống tốt cho mọi người, không để ai bị bỏ lại phía sau và đạt được SDG “giảm nghèo ở mọi chiều cạnh và mọi nơi”.[1]
Nhìn chung các công trình nghiên cứu nêu trên đã phân tích và làm rõ một số giải pháp nhằm thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững ở nước ta, nhất là vùng miền núi Nhiều giải pháp có tính khả thi và phù hợp trong thực tiễn Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu cụ thể và sâu sắc về giải pháp thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững từ thực tiễn ở tỉnh Quảng Nam Đa số các công trình nghiên cứu trước đây tập trung chủ yếu ở tầm vĩ mô, nghiên về cơ chế, chính sách giảm nghèo Việc phân tích, đánh giá
Trang 11thực trạng hộ nghèo và thực trạng thực hiện chính sách giảm và giải pháp thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững ở các tỉnh nói trên chưa được các tác giả chưa đi sau vào phân tích cụ thể Các giải pháp đưa ra theo lối tư duy
kinh nghiệm Do đó, tác giả lựa chọn vấn đề “Thực hiện chính sách giảm
nghèo bền vững trên địa bàn huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam” làm đề tài
luận văn thạc sỹ Chính sách công
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa lại một số vấn đề lý luận chung về đói nghèo và chính sách giảm nghèo bền vững
- Phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn cấp huyện
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam
- Về thời gian: Đánh giá việc thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững
từ năm 2015 đến năm 2018 Quan điểm, mục tiêu và giải pháp thực hiện có hiệu quả chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Tiên Phước đến năm 2020 định hướng đến năm 2025
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Trang 12Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và
tư tưởng Hồ Chí Minh, kết hợp với các quan điểm, đường lối chính sách của Đảng về phát triển kinh tế - xã hội nói chung và các chính sách công liên quan đến Chương trình mục tiêu Quốc gia giảm nghèo bền vững Đồng thời, sử dụng những kiến thức chính sách công về thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững Ngoài ra, luận văn còn kế thừa có chọn lọc và vận dụng phù hợp những quan điểm lý luận, chính sách giảm nghèo và thực hiện chính sách giảm nghèo của các nhà khoa học trong nước và thế giới về những nội dung liên quan đến đề tài này
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài nghiên cứu này, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính, trong đó dựa vào nền tảng các phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:
- Phương pháp tổng hợp, thu thập dữ liệu: Rà soát văn bản chính sách về công tác giảm nghèo tại Việt Nam giai đoạn từ 2015-2018 của các cấp, các ngành có liên quan
- Phương pháp phân tích: trên cơ sở số liệu và dữ liệu thu thập được, luận văn sẽ phân tích theo ý tưởng nghiên cứu để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: thực hiện việc so sánh chính sách, kết quả thực hiện công tác giảm nghèo trên địa bàn huyện Tiên Phước giai đoạn
2015 – 2018 và đánh giá thực trạng thực hiện chính sách giảm nghèo trên địa bàn nghiên cứu
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Đề tài này có ý nghĩa về mặt lý luận, người học nghiên cứu, bổ sung kiến thức lý thuyết về chính sách giảm nghèo bền vững ở Việt Nam; đồng thời biết vận dụng các lý thuyết về chính sách công để đánh giá thực tiễn thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững ở địa phương
Trang 136.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo, phục vụ đào tạo, giảng dạy, học tập và nghiên cứu những chuyên đề thực tế liên quan đến công tác thực hiện chính sách giảm nghèo trong giai đoạn hiện nay Nguồn tài liệu sử dụng cho các cơ quan quản lý cấp huyện tham khảo để
đề xuất giải pháp hoàn thiện QLNN về đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn NSNN cấp huyện Công tác thực hiện các chính sách về giảm nghèo bền vững cấp huyện trong thời gian đến
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo; Luận văn được kết cấu thành 3 chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững ở nước ta
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Tiên Phước giai đoạn 2015 - 2018
Chương 3: Quan điểm, mục tiêu và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam
Trang 14CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC THI CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG Ở NƯỚC TA
1.1 Lý luận chung về giảm nghèo và giảm nghèo bền vững
1.1.1 Một số lý luận về nghèo và giảm nghèo
Khái niệm về nghèo
Nghèo là khái niệm thể hiện sự thiếu cơ hội để có thể sống một cuộc sống tương ứng với các tiêu chuẩn tối thiểu nhất định Các tiêu chuẩn này và các nguyên nhân dẫn đến nghèo có thước đo và các thước đo này thay đổi tùy theo địa phương và thời gian Sau đây là một số khái niệm có liên quan
- Nghèo là khái niệm chỉ tình trạng mà thu nhập thực tế của người dân chỉ dành hầu như toàn bộ cho ăn, thậm chí không đủ chi cho ăn, phần tích luỹ hầu như không có Các nhu cầu tối thiểu gồm: ăn, ở, mặc, y tế, giáo dục, đi lại, giao tiếp chỉ đáp ứng một phần rất ít ỏi không đáng kể” [12]
- Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có thể thỏa mãn một phần nhu cầu cơ bản của cuộc sống” [13]
- Theo tổ chức Liên hợp quốc cho rằng, nghèo là thiếu năng lực tối thiểu
để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội Nghèo có nghĩa là không có
đủ ăn, đủ mặc, không được đi học, không được đi khám, không có đất đai để trồng trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng Nghèo cũng có nghĩa sự không an toàn, không có quyền, và bị loại trừ của các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng Nghèo có nghĩa dễ bị bạo hành, phải sống ngoài lề xã hội hoặc trong các điều kiện rủi ro, không được tiếp cận nước sạch và công trình vệ sinh an toàn [15]
Như vậy, có thể kết luận rằng, nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế xã
Trang 15hội và phong tục tập quán của địa phương
Tiêu chuẩn xác định chuẩn nghèo
Chuẩn nghèo là một khái niệm biến động theo không gian và thời gian
Về không gian, nó biến đổi theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội của từng vùng hay từng quốc gia Về thời gian, chuẩn nghèo biến động theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và nhu cầu của con người theo từng giai đoạn khác nhau Khi kinh tế - xã hội phát triển, tất yếu đời sống con người ngày một cải thiện tốt hơn, nhu cầu tối thiểu dĩ nhiên cũng sẽ tăng lên
Ở nước ta, thu nhập là thước đo và cách thức để đánh giá nghèo Qua mức chi tiêu đáp ứng những nhu cầu tối thiểu và được quy thành tiền để xác định chuẩn nghèo Những người có thu nhập dưới chuẩn nghèo thì được đánh giá thuộc diện hộ nghèo Đây chính là chuẩn nghèo đơn chiều do Chính phủ quy định
Theo Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 08/7/2005 về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006 – 2010 Khu vực nông thôn những hộ có mức thu nhập bình quân từ 200.000 đồng/người/tháng (2.400.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo, ở khu vực thành thị những hộ có thu nhập bình quân từ 260.000 đồng/người/tháng (dưới 3.120.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo.[17]
Thủ Tướng Chính Phủ (2011), Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg ngày 30/01/2011, về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai
đoạn 2011-2015 Theo Quyết định này, hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức
thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng (từ 4,8 triệu đồng/người/năm) trở xuống Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng (từ 6 triệu đồng/người/năm) trở xuống Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng đến 520.000 đồng/người/tháng Hộ cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000 đồng đến 650.000 đồng/người/tháng Mức chuẩn nghèo
Trang 16quy định nêu trên là căn cứ để thực hiện các chính sách an sinh xã hội và chính sách kinh tế, xã hội khác [20]
Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận
đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020 Chuẩn nghèo giai đoạn 2016 -
2020 của Việt Nam được xây dựng theo hướng: sử dụng kết hợp cả chuẩn nghèo về thu nhập và mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản Theo đó, tiêu chí đo lường nghèo được xây dựng dựa trên cơ sở: (1) Các tiêu chí về thu nhập, bao gồm: chuẩn mức sống tối thiểu về thu nhập, chuẩn nghèo
về thu nhập, chuẩn mức sống trung bình về thu nhập; (2) Mức độ thiếu hụt trong tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản (05 dịch vụ), bao gồm: tiếp cận về y
tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, tiếp cận thông tin Cụ thể:
Hộ nghèo ở khu vực nông thôn là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:
có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống hoặc có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng
và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên Hộ nghèo ở khu vực thành thị là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống hoặc có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên Hộ cận nghèo ở khu vực nông thôn là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng
và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản Hộ cận nghèo ở khu vực thành thị: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.[21]
Sau đây là bảng tổng hợp chuẩn nghèo theo từng giai đoạn
Trang 17Bảng 1.1 Chuẩn nghèo qua các giai đoạn
Giai đoạn Văn bản
Chuẩn nghèo (đồng/người/tháng)
Nông thôn Thành thị
2011-2015
Quyết định 09/2011/QĐ-TTg ngày 30/01/2011
Dưới 400.000 Dưới 500.000
2016 – 2020
Quyết định 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015
Dưới 700.000 hoặc trên 700.000 đến 1.000.000 và thiếu hụt
từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hộ
cơ bản trở lên
Dưới 900.000 hoặc trên 900.000 đến 1.300.000 và thiếu hụt
từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội
Trên góc độ người nghèo: Giảm nghèo là quá trình tạo điều kiện giúp đỡ người nghèo có khả năng tiếp cận các nguồn lực của sự phát triển một cách nhanh nhất, trên cơ sở đó họ có nhiều khả năng lựa chọn tốt hơn giúp họ từng bước thoát khỏi tình trạng nghèo đói
Trang 18Trên góc độ vùng nghèo: “Giảm nghèo là quá trình thúc đẩy phát triển kinh tế, chuyển đổi trình độ sản xuất cũ, lạc hậu trong xã hội sang trình độ sản xuất mới cao hơn nhằm nâng cao thu nhập cho cộng đồng dân cư” [8]
Giảm nghèo là một trọng tâm của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội nhằm cải thiện và từng bước nâng cao điều kiện sống của người nghèo, trước hết là ở khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện ở các vùng nghèo; thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa
thành thị và nông thôn, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư [8]
Khái niệm giảm nghèo bền vững
Khái niệm này được một số nghiên cứu đề cập từ những năm 2000 Tuy nhiên, đến năm 2008 cụm từ này mới được sử dụng chính thức trong văn bản hành chính tại Nghị quyết số 30A/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo; tiếp theo là Nghị quyết số 80/NQ-CP ngày 19/5/2010 của Chính phủ về định hướng giảm nghèo bền vững giai đoạn 2011-2020; Quyết định số 1489/QĐ-TTg ngày 08/10/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình giảm nghèo bền vững giai đoạn 2012-2015, Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 01/6/2012, Hội nghị BCH trung ương khóa XI về một số vấn đề CSXH giai đoạn 2012-2020 và Quyết định số 1722/QĐ-TTg ngày 02/9/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016 - 2020 Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm hay một định nghĩa chính thức về giảm nghèo bền vững Trong các báo cáo về giảm nghèo, tình trạng tái nghèo luôn được xem là vấn đề cơ bản đối với hoạt động giảm nghèo bền vững Theo tác giả, giảm nghèo bền vững là thực hiện và duy trì các biện pháp giảm nghèo, trong đó tập trung vào các hoạt động hỗ trợ, tạo điều kiện cho người nghèo, hộ nghèo có tư liệu và phương tiện để sản xuất, dịch vụ, bảo đảm an ninh lương thực ở cấp hộ gia đình, nâng cao thu nhập để tự vượt qua nghèo đói; tạo cơ hội để người nghèo
Trang 19tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, đặc biệt là tiếp cận dịch vụ giáo dục, y tế, nước sạch; giảm thiểu rủi ro do thiên tai, bão lụt và tác động tiêu cực của quá
trình cải cách kinh tế, bảo đảm thoát nghèo bền vững hay không tái nghèo Các tiêu chí đánh giá giảm nghèo bền vững
Dựa trên các nội dung giảm nghèo bền vững và tham khảo ý kiến thông qua việc thảo luận đối với lãnh đạo và chuyên viên làm công tác giảm nghèo của sở Lao động –TB&XH tỉnh Quảng Nam, Văn phòng điều phối giảm nghèo tỉnh Quảng Nam, lãnh đạo UBND huyện, lãnh đạo và chuyên viên phụ trách công tác giảm nghèo tại phòng Lao động-TB&XH huyện Tiên Phước Căn cứ vào kết quả thảo luận nhóm, tác giả tổng hợp các tiêu chí đánh giá mức độ giảm nghèo bền vững cụ thể như sau:
Tỷ lệ hộ nghèo
Để đo lường mức độ nghèo, người ta tính toán tỷ lệ hộ nghèo, qua đó có thể hoạch định những chính sách để thực hiện mục tiêu giảm nghèo như các chương trình mục tiêu hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng, mô hình giảm nghèo, hỗ trợ chăm sóc sức khỏe, y tế…góp phần nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống cho người nghèo Tỷ lệ hộ nghèo bằng 0 là mức tối đa có thể hướng đến
và các các chính sách của Nhà nước luôn hướng đến giảm tỷ lệ hộ nghèo
Tỷ lệ tái nghèo sau khi thoát nghèo
Tỷ lệ tái nghèo sau khi thoát nghèo phản ánh rõ mức độ bền vững trong thực hiện giảm nghèo tại một địa phương Qua thời gian, với những biến động khác nhau, những nguyên nhân khác nhau như điều kiện, hoàn cảnh khó khăn, chính sách hỗ trợ chưa phát huy hiệu quả, ý chí vươn lên của hộ nghèo,…rất
có thể làm hộ đã thoát nghèo tái nghèo trở lại Lúc này ta đo lường số hộ nghèo trở lại so với hộ đã thoát nghèo trong một khoảng thời gian để đánh giá mức độ bền vững trong thực hiện giảm nghèo bền vững tại địa phương đó Giảm nghèo bền vững tức là chắc chắn đã thoát nghèo, không còn nghèo trở lại Vì vậy, đo lường mức độ giảm nghèo bền vững dựa trên số hộ nghèo đã
Trang 20thoát nghèo những không tái nghèo là một chỉ tiêu tốt, phản ánh rõ nhất thực trạng tiến triển của các hộ thoát nghèo, sau khi thoát nghèo họ đã có những việc làm tốt, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống và không còn nghèo
Thu nhập được cải thiện của người nghèo, hộ nghèo
Trên thực tế, thu nhập là một trong những tiêu chí xác định chuẩn nghèo,
vì vậy nếu chuẩn nghèo thay đổi theo sự phát triển chung của xã hội mà thu nhập không tăng lên thì khó thoát nghèo và dễ nhiều người lâm vào tình trạng nghèo, đặc biệt là các hộ cận nghèo Tăng thu nhập giúp người nghèo tránh được rủi ro nếu xảy ra ảnh hưởng đến thu nhập Vì vậy thu nhập là tiêu chí quan trọng để đo lường mức độ giảm nghèo và giảm nghèo bền vững
Mức độ tiếp cận đầy đủ với các dịch vụ hỗ trợ người nghèo
Các hoạt động hỗ trợ như chăm sóc y tế, giáo dục và được tham gia đối với các hoạt động lập kế hoạch phát triển kinh tế, giảm nghèo cho bản thân và địa phương Người nghèo cần được đảm bảo tiếp cận bình đẳng về giáo dục dạy nghề và chăm sóc sức khoẻ để về lâu dài, người nghèo, người mới thoát nghèo và con em họ có được kiến thức, kinh nghiệm làm ăn, tay nghề nhằm tạo ra thu nhập ổn định trong cuộc sống
Người nghèo cần được trang bị một số điều kiện "tối thiểu" để có khả năng tránh được tình trạng tái nghèo khi gặp phải những rủi ro khách quan như thiên tai, lũ lụt, dịch bệnh… hoặc sự thay đổi của chuẩn nghèo
Khả năng tổ chức thực hiện các chính sách giảm nghèo
Tiêu chí này là một tiêu chí tổng hợp Ta có thể sử dụng cách đánh giá định tính thông qua các nội dung liên quan đến tổ chức thực hiện các chính sách giảm nghèo Đối với giảm nghèo, vai trò của chính sách rất quan trọng
Để thực hiện được mục tiêu của chính sách đề ra, cần thiết phải có cách thức
tổ chức thực hiện khoa học, phù hợp với điều kiện ở địa phương Cách thức tổ chức thực hiện gồm bộ máy tổ chức, công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách, công tác tập huấn, hỗ trợ việc làm để nâng cao thu nhập…
Trang 21Bên cạnh đó, chính quyền địa phương cần chú trọng công tác huy động các nguồn lực để thực hiện công tác giảm nghèo Nguồn lực là điều kiện đảm bảo cho chính sách có thể tồn tại và phát huy tác dụng trên thực tế, nếu thiếu nguồn lực thì quá trình tổ chức triển khai thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững sẽ khó có thể đạt được mục tiêu mà chính sách đề ra Huy động được nhiều nguồn lực để đảm bảo thực hiện chính sách cũng là một nội dung quan trọng đánh giá khả năng tổ chức thực hiện này
Mức độ tham gia của các đối tượng hưởng lợi và cộng đồng trong chương trình giảm nghèo
Trên thực tế, các chương trình giảm nghèo được thiết kế để phục vụ cho các đối tượng nghèo Tuy nhiên không phải lúc nào người nghèo, hộ nghèo cũng tích cực tham gia các chính sách, chương trình, hoạt động có lợi cho mình và gia đình Vì vậy, người nghèo tích cực tham gia các chương trình tại địa phương sẽ phát huy tính hiệu quả trong giảm nghèo bền vững
Bên cạnh đó, vai trò của các tổ chức đoàn thể nhân dân, các doanh nghiệp, các nhà khoa học và toàn xã hội vào quá trình thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững là hết sức quan trọng Quá trình này cần có sự phối hợp, đồng lòng của các cấp chính quyền, các tổ chức đoàn thể, cơ quan, doanh nghiệp,…và của các đối tượng nghèo mới đạt được mục tiêu đề ra Bởi vậy sự tích cực tham gia của cộng động xã hội vào quá trình tổ chức thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững sẽ là tiền đề để tạo ra kết quả và hiệu quả cho quá trình chính sách Căn cứ, so sánh với những chỉ tiêu này, có thể thấy được công tác giảm nghèo, kết quả giảm nghèo bền vững ở mức độ nào, trên cơ sở
đó có những biện pháp để tăng tính bền vững của giảm nghèo
1.2 Nội dung thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững
1.2.1 Thực hiện chính sách trong chu trình chính sách công
Thuật ngữ “Chính sách công” được sử dụng rất phổ biến Có thể nêu ra một số quan niệm sau:
Trang 22Chính sách công là một quá trình hành động hoặc không hành động của chính quyền để đáp lại một vấn đề công cộng Nó được kết hợp với các cách thức và mục tiêu chính sách đã được chấp thuận một cách chính thức, cũng như các quy định và thông lệ của các cơ quan chức năng thực hiện những chương trình (Kraft and Furlong, 2004)
Chính sách công là một trong những công cụ được Nhà nước sử dụng để quản lý, điều hành nền kinh tế - xã hội theo định hướng, được Nhà nước ban hành để giải quyết một hoặc một số vấn đề liên quan lẫn nhau đang đặt ra trong đời sống kinh tế - xã hội theo những mục tiêu xác định Được Nhà nước
sử dụng để khuyến khích việc sản xuất, đảm bảo hàng hóa, dịch vụ công cho nền kinh tế, khuyến khích cả với khu vực công và khu vực tư; quản lý nguồn lực công một cách hiệu quả, hiệu lực, thiết thực đối với cả kinh tế, chính trị,
xã hội, môi trường Khi nói tới chính sách công là bao gồm những dự định của nhà hoạch định chính sách và các hành vi thực hiện những dự định đưa lại kết quả thực tế
Vì vậy, chính sách công được hiểu là “những hành động ứng xử của Nhà nước với các vấn đề phát sinh trong đời sống cộng đồng, được thể hiện bằng nhiều hình thức khác nhau, nhằm thúc đẩy xã hội phát triển”
Thực hiện chính sách là một khâu hợp thành chu trình chính sách, là toàn bộ quá trình chuyển hoá ý chí của chủ thể trong chính sách thành hiện thực với các đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu định hướng
Tổ chức thực hiện chính sách là trung tâm kết nối các bước trong chu trình chính sách thành một hệ thống, nhất là với hoạch định chính sách So với các khâu khác trong chu trình chính sách, tổ chức thực hiện chính sách có vị trí đặc biệt quan trọng, vì đây là bước hiện thực hoá chính sách trong đời sống xã hội Nếu đưa vào thực hiện một chính sách tốt không những mang lại lợi ích
to lớn cho các nhóm đối tượng thụ hưởng mà còn góp phần làm tăng uy tín của Nhà nước trong quá trình quản lý xã hội Tuy nhiên, để có được một
Trang 23chính sách tốt các nhà quản lý phải trải qua một quá trình nghiên cứu, tìm kiếm rất công phu Nhưng dù tốt đến đâu nó cũng trở thành vô nghĩa nếu nó không được đưa vào thực hiện hoặc thực hiện không tốt Vì vậy, những luận giải trên đây cho chúng ta nhận thức đầy đủ về vị trí tầm quan trọng của thực hiện chính sách, từ đó có ý thức tự giác trong thực hiện chính sách công
Để điều hành có hiệu quả công tác thực hiện chính sách, cần tuân thủ các bước cơ bản, bao gồm: Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện; phổ biến tuyên truyền chính sách; phân công, phối hợp thực hiện chính sách; duy trì chính sách (đây là những hoạt động nhằm đảm bảo cho chính sách tồn tại được và phát huy tác dụng trong thực tế); điều chỉnh chính sách (được thực hiện bởi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nhằm để cho chính sách ngày càng phù hợp với yêu cầu quản lý và tình hình thực tế); theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc triển khai thực hiện chính sách; đánh giá tổng kết, rút kinh nghiệm
1.2.2 Thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững
Chính sách giảm nghèo bền vững là những quyết định, quy định của Nhà nước nhằm cụ thể hoá các chương trình, dự án cùng với nguồn lực, vật lực, các thể thức, quy trình hay cơ chế thực hiện nhằm tác động đối tượng cụ thể như người nghèo, hộ nghèo hay xã nghèo với mục đích cuối cùng là xoá đói giảm nghèo
Mục tiêu của chính sách giảm nghèo là hỗ trợ và giúp đỡ người nghèo cả dưới góc độ nghèo về vật chất và nghèo về con người và nghèo về xã hội Các chính sách giảm nghèo đều hướng tới mục tiêu là nâng cao phúc lợi cho người nghèo, tăng cường các khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản cho người nghèo từ đó nâng cao vốn con người và tiếng nói của người nghèo Mỗi một chính sách cụ thể sẽ có những mục tiêu cụ thể và rõ ràng hơn Như vậy,
có thể thấy xoá đói, giảm nghèo là một trong những vấn đề xã hội được đặt vào vị trí ưu tiên cần được giải quyết trong phát triển xã hội và là một trong những chính sách quan trọng trong hệ thống an sinh xã hội của nước ta Để
Trang 24thực hiện mục tiêu này thì chính sách giảm nghèo giữ một vị trí hết sức quan trọng trong hệ thống chính sách xã hội; bởi vì, muốn nâng cao phúc lợi cho người dân, trước hết người dân phải thoát khỏi đói nghèo; chính sách giảm nghèo sẽ tạo cơ hội tối thiểu nhất cho bộ phận người dân yếu thế thoát khỏi nghèo đói kinh niên, có được cơ hội về thu nhập, cơ hội tiêu dùng với tư cách như là con người sống trong xã hội Thực hiện chính sách giảm nghèo được thực hiện thông qua các công cụ sau:
Hỗ trợ về giáo dục và đào tạo: Thực hiện có hiệu quả chính sách miễn, giảm học phí, hỗ trợ học bổng, trợ cấp xã hội và hỗ trợ chi phí học tập đối với học sinh nghèo ở các cấp học, nhất là bậc mầm non…;
Hỗ trợ sản xuất, dạy nghề, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người nghèo: Tạo điều kiện thuận lợi cho người nghèo tiếp cận các nguồn vốn, gắn với việc hướng dẫn cách làm ăn, khuyến nông, khuyến công và chuyển giao kỹ thuật, công nghệ vào sản xuất; thực hiện có hiệu quả chính sách tín dụng ưu đãi đối với hộ nghèo, nhất là hộ có người khuyết tật, chủ hộ là phụ nữ
Hỗ trợ về nhà ở: Tiếp tục thực hiện chính sách hỗ trợ về nhà ở cho hộ nghèo khu vực nông thôn, miền núi để cải thiện nhà ở, ưu tiên hộ nghèo ở người cao tuổi, người khuyết tật
Hỗ trợ về y tế và dinh dưỡng: Thực hiện có hiệu quả chính sách cấp thẻ bảo hiểm y tế cho người nghèo, hỗ trợ mua thẻ bảo hiểm y tế đối với người thuộc hộ cận nghèo; xây dựng chính sách hỗ trợ người nghèo mắc bệnh nặng, bệnh hiểm nghèo Ưu đãi đầu tư trước để đạt chuẩn cơ sở bệnh viện, trạm y tế
ở các huyện, xã nghèo
Hỗ trợ người nghèo hưởng thụ văn hóa, thông tin: Tổ chức thực hiện tốt chương trình đưa văn hóa, thông tin về cơ sở; đa dạng hóa các hoạt động truyền thông, giúp người nghèo tiếp cận các chính sách giảm nghèo, phổ biến các mô hình giảm nghèo có hiệu quả, gương thoát nghèo
Hỗ trợ người nghèo tiếp cận các dịch vụ trợ giúp pháp lý: Thực hiện có
Trang 25hiệu quả chính sách trợ giúp pháp lý miễn phí cho người nghèo, tạo điều kiện cho người nghèo hiểu biết quyền, nghĩa vụ của mình, chủ động tiếp cận các chính sách trợ giúp của Nhà nước, vươn lên thoát nghèo
1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững
Qua nghiên cứu, nhận thấy, ở nước ta hiện nay, chính sách xóa đói giảm nghèo chịu tác động của những nhân tố sau đây:
- Tác động của tăng trưởng kinh tế phiến diện: Vấn đề đói nghèo là sản
phẩm tất yếu của một mô hình kinh tế bất cập Khi một mô hình kinh tế đã cạn kiệt tiềm năng phát triển, thì dù có cố gắng của chính quyền cũng không thể giải quyết tốt vấn đề đói nghèo
- Tàn phá môi trường: Việt Nam là một trong số ít quốc gia chịu ảnh
hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu toàn cầu, làm cho mực nước biển dâng cao, xâm chiếm nhiều diện tích đất đai sản xuất và sinh sống của người dân, gây nên những trận hạn hán, lũ lụt trầm trọng, bất thường, xói mòn, sạt lở bờ biển, bờ sông Cùng với đó là mức độ tàn phá môi trường ngày càng nghiêm trọng, đây là một nhân tố trực tiếp làm tăng mức độ và phạm vi của đói nghèo Tình trạng ô nhiễm môi trường các khu công nghiệp, các công ty, cơ
sở sản xuất đã làm bệnh tật gia tăng đối với công nhân và dân cư trong vùng, chi phí cho sức khỏe và bệnh tật khiến người lao động nghèo thêm
- Sự hạn chế về năng lực tổ chức, quản lý của bộ máy nhà nước các cấp:
Đây là nhân tố tác động đến mức độ đói nghèo không nhỏ, nhưng thường bị
bỏ qua và chậm đổi mới Tính chất và mức độ “hành chính quan liêu” của các cấp, các ngành đã ảnh hưởng đến việc giải quyết vấn đề đói nghèo và thực hiện những chủ trương, chính sách xóa đói giảm nghèo trong thời gian qua, như cứu trợ dân nghèo trong các đợt thiên tai bão lụt ở một số nơi còn chậm trễ; việc xác định diện hộ nghèo theo tiêu chí quy định có những lệch lạc; chất lượng xây dựng các luật kinh tế, xã hội còn thấp so với thực tiễn nên dễ thông
Trang 26qua nhưng khó thi hành; tình trạng lãng phí ngày càng tăng trong quá trình triển khai các dự án kinh tế, xã hội; tình trạng tham nhũng nặng nề và phổ biến không chỉ tác động đến chất lượng và hiệu quả phát triển, mà còn tác động trực tiếp đến đời sống nhân dân
1.3 Quan điểm của đảng, chính sách của nhà nước về giảm nghèo bền vững
1.3.1 Những quan điểm, chủ trương của Đảng
Đại hội VIII của Đảng, đất nước bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, vấn đề xoá đói giảm nghèo chính thức được đặt thành một trong những chương trình mục tiêu quốc gia và đã trở thành phong trào sâu rộng của toàn xã hội Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII của Đảng xác định:
“Xóa đói giảm nghèo là một trong những chương trình phát triển kinh tế - xã hội vừa cấp bách trước mắt, vừa cơ bản lâu dài” “Dành nguồn lực thích đáng cho việc giải quyết những nhu cầu cấp bách, đặc biệt là kết cấu hạ tầng kinh
tế - xã hội, để vùng còn kém phát triển như vùng cao, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc ít người giảm bớt sự chênh lệch quá lớn về trình độ phát triển kinh tế - xã hội giữa các vùng, coi đây là trọng tâm chỉ đạo của các cấp, các ngành”
Đại hội IX của Đảng khẳng định: “Tiếp tục thực hiện có hiệu quả chương trình xóa đói giảm nghèo Quan tâm xây dựng kết cấu hạ tầng cho các vùng nghèo, xã nghèo; đồng thời nâng cấp, cải tạo các tuyến trục giao thông nối vùng nghèo, xã nghèo với nơi khác, tạo điều kiện thuận lợi cho vùng nghèo, vùng khó khăn phát triển Đi đôi với việc xây dựng kết cấu hạ tầng, phải rất coi trọng việc tạo nguồn lực cần thiết để dân cư ở các vùng nghèo, xã nghèo đẩy mạnh sản xuất, phát triển ngành nghề, tăng nhanh thu nhập… Nâng dần mức sống của các hộ đã thoát nghèo, tránh tình trạng tái nghèo; “… Nhà nước tạo môi trường thuận lợi, khuyến khích mọi người dân vươn lên làm giàu chính đáng và giúp đỡ người nghèo… Phấn đấu đến năm 2010 về cơ bản
Trang 27không còn hộ nghèo Thường xuyên củng cố thành quả xóa đói giảm nghèo”
Đại hội lần thứ X của Đảng nhấn mạnh: “Đa dạng hóa các nguồn lực và phương thức thực hiện xóa đói giảm nghèo theo hướng phát huy cao độ nội lực và kết hợp sử dụng có hiệu quả sự trợ giúp của quốc tế”
Đại hội lần thứ XI của Đảng, tiếp tục khẳng định: “Thực hiện có hiệu quả hơn chính sách giảm nghèo phù hợp với từng thời kỳ; đa dạng hóa các nguồn lực và phương thức để bảo đảm giảm nghèo bền vững…khuyến khích làm giàu theo pháp luật, tăng nhanh số hộ có có thu nhập trung bình khá trở lên”; “Tập trung triển khai có hiệu quả các chương trình xoá đói, giảm nghèo, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn Đa dạng hóa các nguồn lực và phương thức xóa đói giảm nghèo gắn với phát triển nông nghiệp, nông thôn, phát triển giáo dục, dạy nghề và giải quyết việc làm để xóa đói giảm nghèo bền vững; tạo điều kiện và khuyến khích người đã thoát nghèo vươn lên làm giàu
và giúp đỡ người khác thoát nghèo”
Đại hội lần thứ XII của Đảng, nhìn lại 30 năm đổi mới (1986 - 2016) bên cạnh việc khẳng định “đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử”, Đảng ta đã chỉ ra những hạn chế, yếu kém, trong đó có cả vấn
đề về xã hội, vấn đề giảm nghèo: “Trên một số mặt, một số lĩnh vực, một bộ phận nhân dân chưa được thụ hưởng đầy đủ, công bằng thành quả của công cuộc đổi mới” [6]
Trong bối cảnh đất nước hội nhập ngày càng sâu rộng; từ thực hiễn đất nước và xu hướng phát triển của thời đại, nhất là việc tiếp cận chuẩn nghèo quốc tế; kế thừa những thành tựu đạt được cả về phương diện lý luận lẫn thực tiễn, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng khẳng định: “Trong xây dựng và thực hiện các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, quan tâm thích đáng đến các tầng lớp, bộ phận yếu thế trong xã hội, đồng bào các dân tộc thiểu
số ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, khắc phục xu hướng gia tăng phân hoá giàu - nghèo” “Gắn kết chặt chẽ chính sách kinh tế với chính sách xã hội, phát triển
Trang 28kinh tế với nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, bảo đảm để nhân dân được hưởng thụ ngày một tốt hơn thành quả công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước” “Đổi mới chính sách giảm nghèo theo hướng tập trung, hiệu quả và tiếp cận phương pháp đo lường nghèo đa chiều nhằm bảo đảm an sinh xã hội cơ bản và tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản” [6] “Đẩy mạnh giảm nghèo bền vững, nhất là các vùng đặc biệt khó khăn và có chính sách đặc thù
để giảm nghèo nhanh hơn trong đồng bào dân tộc thiểu số Chú trọng và có giải pháp tạo điều kiện và khuyến khích hộ nghèo, hộ cần nghèo phấn đấu tự vươn lên thoát nghèo bền vững”; “Thực hiện chuẩn nghèo theo phương pháp đa chiều, bảo đảm mức tối thiểu về thu nhập và các dịch vụ xã hội cơ bản cho người dân như: giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch, thông tin” [6]
1.3.2 Những chính sách của Nhà nước
Quán triệt quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Đảng, vấn đề xóa đói giảm nghèo luôn được cụ thể hoá thành các chính sách của Nhà nước, là mục tiêu xuyên suốt quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Ngay từ những năm đầu của công cuộc đổi mới đất nước, nhiều chương trình, kế hoạch công tác xoá đói giảm nghèo được xúc tiến
Năm 1992, Hội nghị Trung ương lần thứ 5, khóa VII đã đề ra chủ trương xoá đói giảm nghèo, sau đó Quốc hội và Chính phủ đã cụ thể hóa thành kế hoạch, chương trình và giải pháp xoá đói giảm nghèo; từ đó công cuộc xoá đói giảm nghèo đã phát triển thành phong trào mạnh mẽ, rộng khắp cả nước Bắt đầu từ năm 1995, “Chương trình quốc gia về xoá đói giảm nghèo” đã được thực hiện Nhà nước đã đề ra 15 chương trình và dự án phát triển kinh tế
- xã hội gắn với xoá đói giảm nghèo
Ngày 31/7/1998 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định số 135/1998/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa (chương trình 135), thực hiện tại khoảng 1.000 xã trong tổng số 1.715 xã thuộc diện khó khăn thuộc
Trang 29các huyện đặc biệt khó khăn trên cả nước Tháng 6/2001 Thủ tướng Chính phủ đã thông qua Chiến lược toàn diện về Tăng trưởng kinh tế và xoá đói giảm nghèo với mục tiêu cơ bản là: Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội Đến 27/9/2001, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định số 143/2001/QĐ-TTg phê duyệt “Chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo và việc làm giai đoạn 2001 - 2005” Tiếp đó là các Quyết định số 134/2004/QĐ-TTg về một số chính sách
hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn (chương trình 134); Quyết định số 07 ngày 10/1/2006 Phê duyệt Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2006-2010 (Chương trình 135 giai đoạn 2)
Để thực hiện tốt Chương trình mục tiêu quốc gia về xoá đói giảm nghèo,
từ năm 1993 đến nay, Việt Nam đã 6 lần điều chỉnh chuẩn nghèo và gần đây nhất, ngày 19/11/2015, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định số 59/2015/QĐ-TTg về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020
Ngày 19/5/2011, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 80/NQ-CP về định hướng giảm nghèo bền vững thời kỳ từ năm 2011 - 2020, với mục tiêu tổng quát: Giảm nghèo bền vững là một trong những trọng tâm của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2020 nhằm cải thiện và từng bước nâng cao điều kiện sống của người nghèo, trước hết ở khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện ở các vùng nghèo; thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư Mục tiêu cụ thể cần đạt được:
“Thu nhập của hộ nghèo tăng lên 3,5 lần; tỷ lệ hộ nghèo cả nước giảm 2%/năm, riêng các huyện nghèo, xã nghèo giảm 4%/năm theo chuẩn nghèo từng giai đoạn; điều kiện sống của người nghèo được cải thiện rõ rệt, trước
Trang 30hết là vấn đề y tế, giáo dục, văn hóa, nước sinh hoạt, nhà ở; người nghèo tiếp cận ngày càng thuận lợi hơn các dịch vụ xã hội cơ bản; cơ sở hạ tầng kinh tế -
xã hội ở các huyện nghèo, xã nghèo, thôn, bản đặc biệt khó khăn được tập trung đầu tư đồng bộ theo tiêu chí nông thôn mới, trước hết là hạ tầng thiết yếu như: giao thông, điện, nước sinh hoạt [10] Quốc hội khoá XIII, tại kỳ họp thứ 7 đã ban hành Nghị quyết số 76/2014/QH13 ngày 24/6/2014 về đẩy mạnh thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững đến năm 2020 Ngoài ra, Chính phủ còn ban hành các nghị quyết, quyết định… về xoá đói giảm nghèo, phát triển kết cấu hạ tầng, tín dụng, bảo hiểm y tế, giáo dục tạo điều kiện cho người nghèo phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập, tiếp cận với các dịch
vụ xã hội góp phần thực hiện mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo Các chính sách xóa đói giảm nghèo ở nước ta trong giai đoạn hiện nay, như sau: + Chính sách ưu đãi tín dụng cho người nghèo: Thủ tướng Chính phủ
cho phép thành lập Ngân hàng Chính sách xã hội để giúp người nghèo vay
vốn phát triển sản xuất, giải quyết đời sống Ngân hàng hoạt động vì mục tiêu xóa đói giảm nghèo, an sinh xã hội, không vì mục đích lợi nhuận; thực hiện việc cho vay trực tiếp đến hộ nghèo không phải thế chấp tài sản, lãi suất ưu đãi theo quy định; được xét miễn thuế doanh thu và thuế lợi tức để giảm lãi suất cho vay đối với người nghèo Các rủi ro trong quá trình hoạt động phục
vụ người nghèo được bù đắp bằng quỹ rủi ro theo quy chế của Bộ Tài chính + Chính sách hỗ trợ sản xuất, cung cấp dịch vụ khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư: Mục đích là đào tạo cán bộ khuyến nông huyện, tập huấn cho hộ nghèo cách làm ăn, chi tiêu và cách sản xuất hiệu quả để thoát nghèo Hỗ trợ chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu cây trồng, vật nuôi; xây dựng và chuyển giao các mô hình sản xuất, phát triển ngành nghề, định canh định cư, di dân và kinh tế mới, phòng ngừa và giảm nhẹ rủi ro thiên tai cho người nghèo trên cơ sở ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật phù hợp với từng vùng, từng địa phương
+ Chính sách dạy nghề, giải quyết việc làm và xuất khẩu lao động: Dạy
Trang 31nghề cho người nghèo đã trở thành một bộ phận của chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo, nhằm tạo các cơ hội để người nghèo có thể tham gia các hình thức đào tạo nghề ngắn hạn phù hợp thông qua các cơ sở đào tạo nghề, qua các doanh nghiệp để học nghề trực tiếp, để có việc làm, tăng thu nhập Gắn dạy nghề với tạo việc làm; mở rộng diện áp dụng chính sách hỗ trợ xuất khẩu lao động đối với người nghèo
+ Chính sách hỗ trợ về nhà ở, đất sản xuất và nước sinh hoạt, bao gồm: (i)
Hỗ trợ nhà ở và đất ở: Hỗ trợ nhà ở theo Quyết định số 167/2008/QĐ-TTg ngày
12 tháng 12 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ; hỗ trợ đất ở gắn với hỗ trợ về nhà ở, chính quyền địa phương các cấp tạo quỹ đất giao cho các hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo chưa có đất ở (ii) Hỗ trợ đất sản xuất: Chính sách hỗ trợ trực tiếp đất sản xuất; giao khoán bảo vệ và trồng rừng cho hộ gia đình không có hoặc thiếu đất sản xuất (iii) Hỗ trợ nước sinh hoạt: Tiếp tục đầu tư xây dựng những công trình nước sinh hoạt ở thôn, bản Riêng đối với hộ dân tộc thiểu số nghèo khó khăn về nước sinh hoạt được Nhà nước hỗ trợ bình quân 1 triệu đồng/hộ để xây dựng bể chứa nước hoặc đào giếng nước và tự tạo nguồn nước sinh hoạt
+ Chính sách hỗ trợ người nghèo về y tế: Trợ giúp người nghèo trong khám chữa bệnh bằng các hình thức, như mua thẻ bảo hiểm y tế, góp phần thực hiện mục tiêu bảo hiểm y tế toàn dân, cấp thẻ và giấy chứng nhận khám chữa bệnh miễn phí, khám chữa bệnh từ thiện nhân đạo… Chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người nghèo Cung cấp trang thiết bị, cung ứng thuốc, tăng cường cán
bộ cho tuyến y tế cơ sở, nhất là ở các xã nghèo Bảo đảm tài chính để hỗ trợ khám chữa bệnh cho người nghèo Huy động cộng đồng trong việc xây dựng quỹ khám chữa bệnh cho người nghèo, quỹ bảo trợ người nghèo, bữa ăn nhân đạo, khám chữa bệnh nhân đạo…
+ Chính sách hỗ trợ người nghèo về giáo dục - đào tạo: Nhằm hỗ trợ cho con em các hộ nghèo có các điều kiện cần thiết trong học tập Giảm sự chênh
Trang 32lệch về môi trường học tập và sinh hoạt trong các nhà trường ở thành thị và nông thôn, giữa đồng bằng và miền núi, giữa vùng khó khăn với vùng có điều kiện phát triển Xây dựng trường, lớp học ở các vùng nghèo, xã nghèo, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số; hỗ trợ vở viết, sách giáo khoa, cấp học bổng cho học sinh tiểu học loại quá nghèo; khuyến khích học sinh nghèo học khá, học giỏi bằng các giải thưởng, học bổng và các chế độ ưu đãi khác Khuyến khích các tổ chức, cá nhân tình nguyện tham gia giúp người nghèo nâng cao trình độ học vấn, tổ chức các hình thức giáo dục phù hợp để xóa mù chữ và ngăn chặn tình trạng tái mù chữ
+ Chính sách trợ giúp pháp lý cho người nghèo: Trợ giúp pháp lý miễn phí cho người nghèo, giúp họ hiểu biết quyền, nghĩa vụ của mình, nắm được những kiến thức phổ thông về pháp luật để phát huy được vai trò của mình trong đời sống xã hội; nhận thức được trách nhiệm và quyền lợi của mình trong gia đình và ngoài xã hội; chủ động tiếp cận các chính sách trợ giúp của Nhà nước, vươn lên thoát nghèo
+ Chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội: Trợ giúp các đối tượng yếu thế có khả năng làm việc, học nghề, tạo việc làm; hỗ trợ các vùng thiên tai, lũ lụt di chuyển nhà ở, điều kiện sản xuất và cứu đói; trợ cấp xã hội thường xuyên và nuôi dưỡng các đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn + Chính sách hỗ trợ giảm nghèo đặc thù: Chính phủ ban hành Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP về chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với
61 huyện nghèo nhất cả nước Mục tiêu là tạo sự chuyển biến nhanh hơn về đời sống vật chất, tinh thần của người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số thuộc các huyện nghèo, bảo đảm đến năm 2020 ngang bằng các huyện khác trong khu vực Tiếp nối những kết quả đạt được trong 2 năm thực hiện chính sách khuyến khích thoát nghèo theo Nghị quyết số 119/2014/NQ-HĐND, ngày 19/4/2017, tỉnh Quảng Nam đã ban hành Nghị quyết số 13/2017/NQ-HĐND về chính sách khuyến khích thoát nghèo bền vững giai đoạn 2017-2021 Mục tiêu trong giai
Trang 33đoạn này, tỉnh phấn đấu đến năm 2021, có 18.000 hộ nghèo (khoảng 50% hộ nghèo về tiêu chí thu nhập trong danh sách được công nhận năm 2016) và 24.808 hộ cận nghèo (100% hộ cận nghèo trong danh sách được công nhận năm 2016) thoát nghèo bền vững Bình quân mỗi năm, có khoảng 3.600 hộ nghèo và gần 5.000 hộ cận nghèo thoát nghèo bền vững Trên cơ sở đó, tỉnh cũng đưa ra một số các chính sách hỗ trợ cụ thể đối với hộ nghèo, cận nghèo khi đăng ký cam kết và đạt mục tiêu Trên cơ sở đó, BND tỉnh vừa ban hành Quyết định số 2511/QĐ-UBND Quy định về thực hiện Chính sách khuyến khích thoát nghèo bền vững tỉnh Quảng Nam, giai đoạn 2017 – 2021 Trong
đó, có nhiều chính sách hỗ trợ đối với hộ nghèo về tiêu chí thu nhập có khả năng thoát nghèo và có đăng ký cam kết thoát nghèo bền vững
Quy định nêu rõ, hộ nghèo về tiêu chí thu nhập sau khi thực hiện đăng
ký cam kết thoát nghèo vẫn tiếp tục được thụ hưởng các chính sách của hộ nghèo theo các quy định hiện hành của trung ương Ngoài ra, được hỗ trợ 100% lãi suất vay vốn để phát triển sản xuất, kinh doanh tại Ngân hàng Chính sách xã hội (áp dụng đối với khoản vay mới, đáp ứng các điều kiện vay vốn theo chương trình cho vay đối với hộ nghèo) Mức vay tối đa 50.000.000 đồng, thời gian hỗ trợ lãi suất 36 tháng
Sau khi được Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã quyết định công nhận hộ thoát nghèo bền vững, tiếp tục được hỗ trợ các chính sách sau đây của tỉnh:
Hỗ trợ 100% lãi suất vay vốn để phát triển sản xuất, kinh doanh tại Ngân hàng Chính sách xã hội áp dụng đối với khoản vay mới, đáp ứng các điều kiện vay vốn theo chương trình cho vay đối với hộ thoát nghèo Mức vay tối
đa 50.000.000 đồng, thời gian hỗ trợ lãi suất 36 tháng Hỗ trợ 100% mức đóng bảo hiểm y tế theo loại hình bảo hiểm y tế tự nguyện trong thời gian 36 tháng Cấp bù 100% học phí cho trẻ em mẫu giáo và học sinh các cấp phổ thông; hỗ trợ chi phí học tập mức 100.000 đồng/học sinh/tháng cho trẻ em học mẫu giáo và học sinh các cấp phổ thông; hỗ trợ tiền ăn trưa cho trẻ em
Trang 343,4,5 tuổi mức 120.000 đồng/em/tháng (9 tháng/năm) Các chính sách hỗ trợ nêu trên được thực hiện trong 03 năm học liên tục Cấp bù 100% học phí cho học sinh, sinh viên học chính quy tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh và tại cơ sở giáo dục đại học cho đến khi kết thúc khóa học Đồng thời thưởng 5.000.000 đồng/hộ thoát nghèo để phát triển sản xuất, kinh doanh
Tiểu kết chương 1
Chương này đã tập trung làm rõ những vấn đề lý luận chung về giảm nghèo bền vững; thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững ở nước ta và quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước ta về giảm nghèo bền vững Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, đói nghèo là một hiện tượng kinh tế - xã hội, không chỉ tồn tại ở các quốc gia có nền kinh tế kém phát triển, mà còn tồn tại ở các quốc gia có nền kinh tế phát triển; đói nghèo đang là thách thức, cản trở lớn đối với sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia, dân tộc, nó không chỉ làm cho hàng trăm triệu người không có cơ hội được hưởng những thành quả văn minh tiến bộ của loài người, mà còn gây ra những hậu
quả nghiêm trọng về kinh tế - xã hội và môi trường sinh thái Đói, nghèo là
một khái niệm có tính động, không bất biến mà phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội của từng quốc gia, ở từng giai đoạn nhất định Cùng với thời gian, quá trình nhận thức về đói, nghèo của con người ngày càng đa dạng và phong phú, mở rộng và đầy đủ hơn
Trang 35CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN
VỮNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TIÊN PHƯỚC
GIAI ĐOẠN 2015 – 2018
2.1 Tổng quan về huyện Tiên Phước – tỉnh Quảng Nam
2.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Huyện Tiên Phước nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Quảng Nam có tọa độ địa lý từ 15o20’00” đến 16o36’00” Vĩ độ Bắc và 15o20’00” 108o04’46” đến
108o27’56” Kinh độ Đông, cách thành phố Tam Kỳ 25 km Phía Bắc giáp với huyện Thăng Bình, phía Nam giáp với huyện Bắc Trà My, phía Đông giáp huyện Phú Ninh, phía Tây giáp huyện Hiệp Đức Địa hình huyện Tiên Phước nghiêng theo hướng Tây Bắc - Đông Nam Căn cứ vào điều kiện địa hình, có thể chia huyện Tiên Phước thành 3 vùng gồm:
Vùng địa hình đồi núi: chiếm 55% tổng diện tích tự nhiên của huyện, phân bố chủ yếu ở phía Tây, Tây Nam và phía Bắc của huyện gồm các xã Tiên Lãnh, Tiên Ngọc, Tiên Hiệp, Tiên Cảnh Vùng này có độ cao trung bình từ 200m đến 500m so với mực nước biển và địa hình thấp dần từ Tây sang Đông Vùng địa hình gò đồi: là vùng tiếp giáp với vùng đồi núi, phân bố rải rác ở các xã bao gồm các đồi thấp, bát úp hoặc lượn sóng, có độ cao trung bình từ 100m đến 180m và chiếm khoảng 25% tổng diện tích tự nhiên toàn huyện Phần lớn diện tích các khu vực gò đồi đã được sử dụng trồng các loại cây lâu năm như quế, tiêu và các loại cây ăn quả khác Vùng địa hình thấp dạng bậc thang: dạng địa hình này chiếm khoảng 20% tổng diện tích tự nhiên toàn huyện, bao gồm các khu vực địa hình bậc thang nhỏ lẻ và phân tán Địa hình này tập trung nhiều hơn
ở khu vực trung tâm và khu vực phía Đông huyện Phần lớn các diện tích này được sử dụng trồng hoa màu và trồng lúa nước
Điều kiện tự nhiên
Trang 36Tiên Phước có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và đa dạng với nhiều loại khoáng sản như: vàng sa khoáng, colin, cát, sỏi, cao lanh; nhiều loại
gỗ quý như lim, chò, gõ ; hơn 500 loại dược liệu thuộc 135 loài thực vật, nhiều động vật rừng quý hiếm như voi, heo rừng, nhím, tê tê, ong có nhiều loại cây trồng đặc sản có giá trị kinh tế cao như tiêu, dó bầu, chè, lòn bon, thanh trà, quế, măng cụt, chuối Đặc biệt, tiêu Tiên Phước có hương vị đặc trưng không gì có thể sánh được Dó bầu là cây đặc sản có giá trị kinh tế cao với trầm hương, trầm cảnh kiểu dáng phong phú, độc đáo, lạ mắt Đây chính là những tiềm năng tạo nên thế mạnh cho Nông nghiệp, CN - TTCN phát triển Tiên Phước có 02 con sông chính là sông Tranh và sông Tiên Ngoài ra còn có một số sông, suối nhỏ như: sông Yên, sông Tum, sông Cà Đong Sông Tranh dài 23 km chảy qua xã Tiên Lãnh, nguồn nước của sông này được
sử dụng xây dựng các công trình thuỷ điện quy mô lớn Sông Tiên dài 43 km chảy qua các xã Tiên An, Tiên Lộc, Tiên Cảnh, Tiên Kỳ, Tiên Châu, Tiên Hà Sông Tiên có nhiều tên gọi: từ địa phận Tam Kỳ chảy vào đầu Tiên Lộc gọi là sông Bồng Miêu; từ đầu Tiên Lộc đến đầu Tiên Kỳ gọi là sông Tiên; từ đầu Tiên Kỳ đến cuối Tiên Hà gọi là sông Khân, từ cuối Tiên Hà chạy qua địa phận Hiệp Đức gọi là sông Chang Tiên Phước là một huyện trung du nên khí hậu trong vùng tương đối khắc nghiệt, nhiều hạn hán, thiên tai Phần lớn diện tích trong vùng là đất nông nghiệp nhưng kém màu mỡ và tỷ lệ đất thịt rất thấp Đây là một vùng kinh tế nghèo của tỉnh Quảng Nam Do đặc điểm cấu tạo địa hình nên sông Tiên - con sông chảy quanh địa bàn huyện được mệnh danh là “con sông chảy ngược”, không xuôi về biển Đông mà ngược về hướng Tây-Nam, đổ ra sông Thu Bồn
2.1.2 Tình hình phát triển kinh tế xã hội của huyện Tiên Phước giai đoạn 2015 – 2018
Mặc dù quá trình phát triển kinh tế xã hội của huyện còn gặp nhiều khó khăn song với nỗ lực và quyết tâm của các cấp, các ngành và của nhân dân
Trang 37toàn huyện đã đạt được kết quả sau:
Bảng 2.1 Bảng thống kế giá trị sản xuất huyện Tiên Phước giai đoạn
- Nông- lâm nghiệp tr đồng 495.264 531.418 592.000 597.620
- Công nghiệp- Xây dựng tr đồng 317.800 487.612 696.000 728.142
- Dịch vụ tr đồng 973.000 1.207.000 1.445.000 1.589.000
Chuyển dịch Cơ cấu kinh
- Nông- lâm- thuỷ sản % 20,53 16,95 14,26 12,67
- Công nghiệp- Xây dựng % 24,35 26,82 28,56 29,12
- Dịch vụ % 55,12 56,23 57,18 58,21
Nguồn: Phòng Kinh tế - Hạ tầng
Căn cứ vào kết quả thống kê nêu trên cho thấy trong những năm qua, kinh
tế - xã hội huyện Tiên Phước tăng trưởng khá, tốc độ tăng trưởng bình quân hằng năm trên 19%, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực: Cụ thể: Sản xuất nông, lâm nghiệp tiếp tục phát triển toàn diện theo hướng bền vững Tập trung chỉ đạo huy động có hiệu quả các nguồn lực, làm tốt việc chuyển giao, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, đưa giống cây trồng, vật nuôi chất lượng cao vào sản xuất, tạo ra khối lượng hàng hóa và nâng cao hiệu quả sản xuất Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp từ 495.264 tỷ đồng (năm 2015) lên 597,62 tỷ đồng (năm 2018), tăng bình quân hàng năm trên 7,5% và vượt chỉ tiêu nghị quyết đề ra; Công nghiệp - Xây dựng tăng trưởng khá, tổng giá trị sản xuất theo giá so sánh từ 317.800 tỷ đồng (năm 2015) lên 728,142 tỷ đồng (năm 2018); tốc độ tăng bình quân hằng năm 29,71%, vượt chỉ tiêu Nghị quyết
Trang 38(15,32%); Hoạt động thương mại (TM), dịch vụ (DV) có bước khởi sắc, thu hút
nhiều thành phần kinh tế tham gia, cơ bản đáp ứng nhu cầu sản xuất, mua
sắm, tiêu dùng của nhân dân Toàn huyện có gần 2.200 hộ kinh doanh cá thể,
phân bố đều từ trung tâm huyện đến các xã, tăng 200 hộ so với năm 2015 Đầu tư xây dựng chợ quê Tiên Phước, xây mới chợ Tiên Phong, chợ Tiên Lãnh và cải tạo nâng cấp chợ Tiên Thọ Rà soát, thu hút đầu tư các điểm cửa hàng xăng dầu gắn với quy hoạch mạng lưới xăng dầu của tỉnh Tạo điều kiện, thu hút các doanh nghiệp thuê mặt bằng đầu tư các cửa hàng kinh doanh tại khu vực trung tâm thị trấn Dịch vụ vận tải, tài chính ngân hàng,… ngày càng phát triển, tạo điều kiện cho việc trao đổi hàng hóa giữa các địa phương, phục vụ tốt nhu cầu phát triển sản xuất và tiêu dùng của nhân dân Bưu chính viễn thông phát triển nhanh, internet đã phủ 100% các thôn, xóm trong toàn huyện Tổng giá trị thương mại, dịch vụ theo giá so sánh 2010 đạt 1.589 tỷ đồng, tăng 748 tỷ đồng so với năm 2015, tốc độ tăng bình quân hằng năm ước
đạt trên 19,77% vượt chỉ tiêu Nghị quyết đề ra(16,2%)
Nhìn chung, trong 3 năm qua tình hình kinh tế xã hội của huyện đã đạt được những thành quả nhất định Giá trị sản xuất đều qua các năm, cơ cấu kinh tế của huyện cũng có sự chuyển dịch theo hướng tích cực, tăng dần tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ; giảm dần tỷ trọng ngành nông nghiệp mặc dù tốc độ chuyển dịch vẫn còn tương đối chậm Tình hình ANTT và an toàn xã hội được đảm bảo, công tác xây dựng nông thôn mới của huyện đã đạt được nhiều thành quả to lớn Hoạt động đầu tư xây dựng ngày càng được hoàn thiện, hệ thống cơ sở hạ tầng thêm khang trang và hiện đại
2.2 Thực trạng triển khai và kết quả thực thi chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam
2.2.1 Công tác triển khai thực hiện chính sách
Thực hiện nghị quyết của Đảng, chính sách của Nhà nước về xoá đói giảm nghèo, nhất là Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 01/6/2012 của Ban Chấp
Trang 39hành Trung ương Đảng khoá XI về một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2011 - 2020; Nghị quyết số 80/NQ-CP ngày 19/5/2011 của Chính phủ
về định hướng giảm nghèo bền vững thời kỳ từ năm 2011 đến năm 2020 Để triển khai chính sách giảm nghèo, bên cạnh các chính sách hỗ trợ của trung ương, tỉnh Quảng Nam đã ban hành nhiều chính sách, giải pháp thực hiện công tác giảm nghèo và giảm nghèo bền vững Nghị quyết số 119/2014/NQ-HĐND ngày 11/7/2014 về thực hiện Chính sách khuyến khích thoát nghèo bền vững giai đoạn 2014-2015), Nghị quyết số 13/2017/NQ-HĐND của HĐND tỉnh quy định về chính sách khuyến khích thoát nghèo bền vững của tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2017 – 2021; Nghị quyết chuyên đề thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội khu vực miền núi, góp phần giảm nghèo cho khu vực này và nhiều đề án, dự án hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội để giảm nghèo nhanh và bền vững
Để thực hiện các chính sách giảm nghèo của Trung ương, của tỉnh Quảng Nam Nhằm thực hiện công tác giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Huyện uỷ Tiên Phước ban hành Nghị quyết số 05-NQ/HU ngày 24/10/2011 về xây dựng nông thôn mới huyện Tiên Phước giai đoạn 2011-
2015, định hướng đến năm 2020; Nghị quyết số 05-NQ/HU ngày 19/4/2017
về đào tạo nghề cho lao động nông thôn và xuất khẩu lao động làm việc có thời hạn ở nước ngoài giai đoạn 2017 - 2020; Các cấp, các ngành, các đoàn thể từ huyện đến các xã, thị trấn đã thể hiện quyết tâm chính trị cao trong công tác giảm nghèo, giải quyết việc làm và đào tạo nghề Ngay từ đầu nhiệm
kỳ, Hội đồng nhân dân huyện đã ban hành Nghị quyết số 14/2011/NQ-HĐND ngày 30/12/2011 phê duyệt Đề án số 04/ĐA-UBND ngày 12/12/2011 thực hiện mục tiêu giảm nghèo, giải quyết việc làm và đào tạo nghề huyện Tiên Phước, giai đoạn 2011-2015, đến năm 2020; Kế hoạch số 40/KH-UBND ngày 30/5/2016 của UBND huyện ban hành về triển khai thực hiện Chương trình
hỗ trợ giảm nghèo huyện Tiên Phước giai đoạn 2016-2020; Kế hoạch số
Trang 4044/KH-UBND ngày 09/5/2014 về phát triển Kinh tế - xã hội, giảm nghèo bền vững vùng đồng bào dân tộc Cor tại 02 xã Tiên An và Tiên Lập giai đoạn 2014-2016 và định hướng đến năm 2020;
Để triển khai thực hiện các chính sách giảm nghèo bền vững, việc phân công, phối hợp để tổ chức thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững cũng được giao tương ứng cho các cơ quan chuyên môn thuộc cấp tỉnh và cấp huyện Nhìn chung, việc thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững ở nước ta nói chung và huyện Tiên Phước nói riêng được thực hiện và quản lý theo ngành dọc và theo địa giới hành chính
Cơ cấu tổ chức Ban chỉ đạo giảm nghèo bền vững của huyện Tiên Phước được trình bày ở sơ đồ sau:
Sơ đồ 2.1 Tổ chức bộ máy Ban chỉ đạo chương trình giảm nghèo
Nguồn: Phòng Lao động – TB&XH huyện
UBND huyện Tiên Phước ban hành Quyết định số 1125/QĐ-UBND ngày 10/9/2013 về việc thành lập Ban chỉ đạo Chương trình giảm nghèo bền
Phó trưởng ban Trưởng phòng LĐ-TB&XH huyện
Các thành viên
Tổ thư ký giúp việc