1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án tiến sĩ Lịch sử: Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long lãnh đạo phát triển nguồn nhân lực từ năm 2000 đến năm 2015

190 70 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 190
Dung lượng 2,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận án được nghiên cứu với mục tiêu nhằm làm sáng tỏ quá trình lãnh đạo phát triển NNL của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long từ năm 2000 đến năm 2015, từ đó đúc kết những kinh nghiệm có thể vận dụng vào thực tiễn phát triển NNL của Đảng bộ tỉnh trong thời gian tới có hiệu quả hơn.

Trang 1

TRƯƠNG THỊ HỒNG NGA

ĐẢNG BỘ TỈNH VĨNH LONG LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2015

LUẬN ÁN TIẾN SĨ

CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

TRƯƠNG THỊ HỒNG NGA

ĐẢNG BỘ TỈNH VĨNH LONG LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực,

có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định

Tác giả luận án

Trương Thị Hồng Nga

Trang 4

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN

1.2 Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình liên quan đến đề

2.2 Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long về phát triển

Chương 3: ĐẢNG BỘ TỈNH VĨNH LONG ĐẨY MẠNH PHÁT TRIỂN

3.1 Yêu cầu phát triển nguồn nhân lực và chủ trương của Đảng về

3.2 Chủ trương và chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long đẩy mạnh

4.1 Nhận xét về quá trình lãnh đạo phát triển nguồn nhân lực của

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ

Trang 5

CB,CC,VC Cán bộ, công chức, viên chức

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nguồn nhân lực là nguồn tài nguyên quý giá nhất so với tất các các nguồn tài nguyên khác, là nhân tố cơ bản quyết định sự phát triển của lực lượng sản xuất trong mọi thời đại

Vai trò của nguồn nhân lực (NNL) càng đặc biệt quan trọng khi bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) trong tình trạng nền kinh tế phát triển chưa bền vững, tăng trưởng kinh tế chủ yếu dựa vào tăng đầu tư và khai thác nguồn tài nguyên, năng suất lao động xã hội còn thấp, chất lượng NNL chưa cao và còn nhiều hạn chế so với các nước trong khu vực

Do đó, để tiếp cận xu thế toàn cầu hóa và cách mạng khoa học - công nghệ (KH-CN) phát triển mạnh mẽ, thúc đẩy quá trình hình thành kinh tế tri thức, từng bước đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (2001) của Đảng chỉ rõ:

Để đáp ứng yêu cầu về con người và nguồn nhân lực là nhân tố quyết định sự phát triển đát nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cần tạo chuyển biến cơ bản, toàn diện về giáo dục và đào tạo Bồi dưỡng thế hệ trẻ tinh thần yêu nước, yêu quê hương, gia đình và tự tôn dân tộc, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, lòng nhân ái, ý thức tôn trọng pháp luật, tinh thần hiếu học, chí tiến thủ lập nghiệp, không cam chịu nghèo hèn Đào tạo lớp người lao động có kiến thức cơ bản, làm chủ kỹ năng nghề nghiệp, quan tâm hiệu quả thiết thực, nhạy cảm với cái mới, có ý thức vươn lên về khoa học và công nghệ Xây dựng đội ngũ công nhân lành nghề, các chuyên gia và nhà khoa học, nhà văn hóa, nhà kinh doanh, nhà quản lý phát huy mọi tiềm năng của các tập thể và cá nhân phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước [30, tr.202-203]

Để thực hiện mục tiêu đó, trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội (2001 - 2010) Đảng đã đề ra khâu đột phá then chốt để làm chuyển động toàn

bộ tình hình kinh tế - xã hội (KT-XH) là: “Tạo bước chuyển mạnh về phát triển nguồn nhân lực, trọng tâm là giáo dục và đạo tạo, khoa học và công nghệ” [30, tr.206] nhằm phát triển nhanh NNL

Trang 7

Kế thừa và phát triển quan điểm phát triển NNL các đại hội trước và thực tiễn sau 25 đổi mới, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI (2011) của Đảng xác định ba khâu đột phá chiến lược, trong đó: “Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân; gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ” [37, tr.78] được khẳng định là khâu đột phá thứ hai trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế phát triển về quy mô, mức độ

và hình thức đan xen phức tạp, đặc biệt là quá trình quốc tế hóa sản xuất và phân công lao động diễn ra ngày càng sâu rộng

Là tỉnh đồng bằng nằm giữa hai nhánh sông Cửu Long (sông Tiền và sông Hậu), nhìn bao quát tỉnh Vĩnh Long như hình con thoi nằm ở vị trí trung tâm của đồng bằng hạ lưu sông Mê Kông, địa hình chia cắt bởi sông rạch chằng chịt, là tỉnh đầu mối giao thông nối liền giữa hai trung tâm kinh tế lớn của vùng Nam Bộ là thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Cần Thơ Là tỉnh có lịch sử hình thành sớm nhất của khu vực, với đặc điểm của vùng đất “địa linh nhân kiệt” đã sinh ra những nhân tài, những người hiền tài có công với nhân dân với

Tổ quốc, nhưng là tỉnh có gánh nặng về tỷ lệ dân số đứng hàng thứ hai so với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long (sau tỉnh Tiền Giang) Theo thống kê toàn tỉnh Vĩnh Long có 1.045.037 người với mật độ dân số 685 người/km2 [20] Trong đó, dân cư sinh sống ở thành thị chiếm tỷ lệ 16,87% và dân cư sinh sống

ở nông thôn chiếm 83,13%, nhân dân chủ yếu sống bằng nghề trồng lúa nước, hoa màu, đánh bắt thủy sản và nguồn lực lao động trở thành thế mạnh của tỉnh

để phát triển KT-XH [20]

Quán triệt sâu sắc quan điểm, đường lối của Đảng bước vào thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế, Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long chú trọng đến sự nghiệp phát triển KT-XH ở địa phương, trong đó tỉnh đã tập trung vốn cho xây dựng cơ sở vật chất, đào tạo NNL đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long chú trọng phát triển NNL, trong đó tập trung vào lĩnh vực đào tạo, bồi dưỡng

để hình thành đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, công chức, viên chức, đội ngũ

Trang 8

trí thức và lực lượng lao động có tay nghề cao trên các lĩnh vực đời sống xã hội nhằm thực hiện mục tiêu phát triển KT-XH ở địa phương Phấn đấu đưa Vĩnh Long trở thành một tỉnh phát triển trung bình khá trong khu vực vào năm 2015 như Nghị quyết Đại hội IX Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long (2010 - 2015) đã nêu Tuy nhiên, sau gần 30 năm đổi mới, NNL của tỉnh Vĩnh Long vẫn chưa đáp ứng với yêu cầu đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế, NNL địa phương vẫn chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội bền vững, NNL vẫn còn nhiều bất cập, thiếu về số lượng, yếu về chất lượng đặc biệt là tình trạng thiếu NNL có trình độ chuyên môn cao thuộc các nhóm ngành khoa học

- kỹ thuật, thiếu các chuyên gia đầu ngành trên các lĩnh vực trọng yếu trong các cơ quan nhà nước, cơ cấu nguồn lực cán bộ, công chức, viên chức là lãnh đạo, quản lý chưa phù hợp, chưa linh hoạt trong công tác đào tạo, bồi dưỡng quy hoạch cán bộ; thiếu lực lượng lao động công nhân lành nghề phục vụ trực tiếp trong các ngành then chốt thuộc lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp; vấn đề giải quyết việc làm, chuyển đổi ngành nghề lao động chuyên môn kỹ thuật khu vực nông nghiệp, nông thôn còn hạn chế, mất cân đối và chưa quan tâm đúng mức; dự báo khả năng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ hiện tại còn rất nhiều khó khăn do tình trạng bất cập nêu trên

Bởi vậy, đi sâu nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long về phát triển NNL trong những năm đầu thế kỉ XXI là nhằm làm sáng tỏ tính đúng đắn, sáng tạo và những thành công của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long trong việc vận dụng chủ trương của Đảng về phát triển NNL, qua đó chỉ rõ những hạn chế, khiếm khuyết để góp phần tổng kết thực tiễn, đúc kết kinh nghiệm thực tiễn có giá trị về công tác này trong những năm tiếp theo là một việc làm cần thiết

Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn vấn đề nghiên cứu “Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long lãnh đạo phát triển nguồn nhân lực từ năm 2000 đến năm 2015” làm

đề tài Luận án tiến sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

Trang 9

2 Mục đích và nhiệm vụ của luận án

2.1 Mục đích

Làm sáng tỏ quá trình lãnh đạo phát triển NNL của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long từ năm 2000 đến năm 2015, từ đó đúc kết những kinh nghiệm có thể vận dụng vào thực tiễn phát triển NNL của Đảng bộ tỉnh trong thời gian tới có hiệu quả hơn

2.2 Nhiệm vụ

- Làm rõ những yếu tố tác động đến quá trình phát triển NNL của tỉnh Vĩnh Long trong 15 năm từ năm 2000 đến năm 2015

- Hệ thống, khái quát hóa chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước

về phát triển NNL và chủ trương của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long về phát triển NNL

- Đúc kết những kinh nghiệm từ thực tiễn hoạch định chủ trương và tổ chức chỉ đạo phát triển NNL của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long qua ba nhiệm kỳ đại hội Đảng bộ tỉnh từ năm 2001 đến năm 2015

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trang 10

sách và biện pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đặc biệt về năng lực, trình độ, khả năng làm việc nhằm đáp ứng đòi hỏi về nguồn nhân lực cho

sự phát triển KT-XH trong từng giai đoạn phát triển Trong đó, chất lượng

NNL được đánh giá bằng các chỉ tiêu: một là, trình độ học vấn của nguồn nhân lực; hai là, trình độ chuyên môn - kỹ thuật của NNL Như vậy, một trong những trọng tâm để phát triển NNL là thông qua giáo dục và đào tạo để

tạo ra một lực lượng lao động có khả năng đáp ứng nhu cầu của một quốc gia, một vùng, một ngành hay một tổ chức nào đó Do vậy, trong phạm vi nghiên cứu luận án tập trung đi sâu nội dung về chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng

bộ tỉnh Vĩnh Long về phát triển giáo dục, đào tạo thông qua cơ cấu về số lượng và chất lượng nguồn lực thuộc các ngành nghề, lĩnh vực… cho các đối tượng ưu tiên để phát triển và thông qua chương trình dự án, đề án, kế hoạch,

cơ chế chính sách…

Nhóm đối tượng luận án tập trung khảo sát: một là, NNL cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan nhà nước thuộc hệ thống chính trị; hai là, NNL lao động chuyên môn kỹ thuật trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn

- Về thời gian: Luận án tập trung nghiên cứu sự lãnh đạo trong 15 năm,

qua 03 nhiệm kỳ Đại hội của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long từ khóa VII năm 2001 đến kết thúc nhiệm kỳ Đại hội của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long khóa IX năm 2015 Luận

án lấy mốc nhiệm kỳ Đại hội Đảng bộ lần thứ VIII (2005) chia thành hai giai đoạn: Giai đoạn từ năm 2000 đến 2005 và giai đoạn từ năm 2005 đến 2015

- Không gian: Công tác phát triển NNL trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long

4 Cơ sở lý luận, nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở lý luận

Luận án dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về vai trò NNL, phát triển NNL trong phát triển KT-XH, đặc biệt là quan điểm của Đảng về phát triển NNL gắn với công tác đào tạo NNL trong công cuộc đổi mới

Trang 11

4.2 Nguồn tư liệu

- Dựa vào hệ thống các văn kiện của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, của Nhà nước; các văn kiện của tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân (UBND), Hội đồng nhân dân (HĐND), các sở, ban, ngành tỉnh Vĩnh Long đề cập đến phát triển NNL nói chung và lĩnh vực đào tạo, bồi dưỡng phát triển NNL trong thời kỳ đổi mới Đặc biệt luận án tập trung nghiên cứu giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2015 qua các văn kiện của ba kỳ Đại hội Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long, các Chương trình hành động của tỉnh ủy, UBND, HĐND tỉnh như: Chương trình hành động của tỉnh ủy Vĩnh Long số: 09-CTr/TU ngày 08/11/2011 về phát triển và nâng cao chất lượng NNL giai đoạn 2011-2015 và định hướng đến năm 2020; Quyết định số: 1375/QĐ-UBND, ngày 28/8/2012 của Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Long về việc ban hành Kế hoạch phát triển và nâng cao chất lượng NNL giai đoạn 2012-

2015 và định hướng đến năm 2020; Nghị quyết số: 80/NQ-HĐND ngày 5/12/2013 của HĐND tỉnh Vĩnh Long về tiếp tục đào tạo cán bộ có trình độ thạc

sĩ, tiến sĩ ở nước ngoài của tỉnh Vĩnh Long đến năm 2020

- Các công trình khoa học của tập thể, cá nhân liên quan đến vai trò NNL, phát triển NNL và lĩnh vực đào tạo, bồi dưỡng phát triển NNL nói chung và Vĩnh Long nói riêng

4.3 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, luận án chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp logic là chủ yếu và tích hợp hai phương pháp đó để làm rõ nội hàm khái niệm “phát triển nguồn nhân lực” trên phạm vi nghiên cứu của tổng thể lực lượng lao động theo trình độ đào tạo cho các ngành nghề, lĩnh vực có trình độ chuyên môn từ trung cấp nghề đến sau đại học thuộc các đối tượng là NNL cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan nhà nước và NNL lao động chuyên môn kỹ thuật trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn ở tỉnh Vĩnh Long Ngoài ra, tác giả đã vận dụng một số phương khác như: phương pháp thống kê, khảo sát, phân tích, tổng hợp nhằm làm nổi bật thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo phát triển NNL của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long từ năm

2000 đến năm 2015

Trang 12

5 Đóng góp của luận án

- Góp phần tái hiện một cách có hệ thống quá trình Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long lãnh đạo phát triển NNL từ năm 2000 đến năm 2015

- Bước đầu nêu lên những nhận xét trong lãnh đạo phát triển NNL và rút

ra các kinh nghiệm từ thực tiễn lãnh đạo phát triển NNL của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long từ năm 2000 đến năm 2015

- Kết quả nghiên cứu là góp thêm tài liệu tham khảo cho đảng bộ các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long nói chung và Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long nói riêng tiếp tục bổ sung chủ trương, chính sách phát triển NNL trong thời gian tới có hiệu quả hơn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Giải quyết những mục tiêu cơ bản nhất về tính cấp thiết phải xây dựng và phát triển nguồn nhân lực ở tỉnh Vĩnh Long; đúc kết những kinh nghiệm có ý nghĩa về lý luận và thực tiễn trong chính sách phát triển nguồn nhân lực cả nước nói chung

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Qua quá trình thực tiễn về nguồn nhân lực tỉnh Vĩnh Long sẽ là kinh nghiệm tham khảo không chỉ ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long, mà còn có ý nghĩa rất lớn đối với một tỉnh mới tái lập như Vĩnh Long cần được tổng kết và

bổ sung

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục công trình khoa học của tác giả

đã công bố liên quan đến luận án, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận

án được kết cấu thành 4 chương, 8 tiết

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1 CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

Vấn đề NNL, phát triển NNL nói chung và lĩnh vực đào tạo NNL nói riêng

là vấn đề vừa mang tính lý luận vừa mang tính thực tiễn xuất phát từ yêu cầu phát triển của đất nước trong công cuộc đổi mới, vì vậy có nhiều công trình của tập thể

và cá nhân đề cập, khai thác từ nhiều góc độ khác nhau Qua quá trình khảo cứu các công trình khoa học liên quan đến đề tài luận án, có thể chia các nhóm công trình liên quan đến NNL, phát triển NNL nói chung, công tác đào tạo NNL và vấn

đề phát triển NNL ở tỉnh Vĩnh Long như sau:

1.1.1 Các công trình khoa học nghiên cứu về nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực nói chung

Cuốn sách “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng nhu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” của Mai Quốc Chánh [14] Tác giả đã làm

rõ vai trò của NNL, sự cần thiết phải nâng cao chất lượng NNL và thực trạng chất lượng NNL đối với sự nghiệp CNH, HĐH Đồng thời tác giả cũng đã trình bày những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng NNL trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến yêu cầu xây dựng NNL là đội ngũ trí thức - một vấn đề cấp bách cho công cuộc CNH, HĐH đất nước;

Cuốn sách Phát triển nguồn nhân lực thông qua giáo dục và đào tạo kinh nghiệm Đông Á của Lê Thị Ái Lâm [59] Tác giả tập trung khai thác kinh nghiệm

Trang 14

phát triển NNL của một số nước Đông Á và khẳng định vai trò của giáo dục và đào tạo luôn là nhân tố quyết định cho sự phát triển NNL của một số quốc gia tiêu biểu như: Trung Quốc thông qua vai trò của nền giáo dục đã đem lại những thành tựu rực rỡ của những chính sách cải cách và mở cửa với thế giới bên ngoài, là cơ

sở để Trung quốc tập trung phát triển NNL đáp ứng nhu cầu hội nhập kinh tế quốc

tế và hiện đại hóa đất nước; Nhật Bản chú trọng giáo dục và đào tạo để tập trung phát triển NNL có tính năng động, sáng tạo, có kiến thức chuyên môn, khả năng

tư duy và làm việc độc lập, khả năng giao tiếp để đáp ứng những đòi hỏi của thế giới và xu thế cạnh tranh, hợp tác toàn cầu mà Nhật Bản đóng vai trò then chốt trong việc chinh phục đỉnh cao của khoa học công nghệ; Bí quyết của Hàn Quốc

là dựa vào giáo dục để phát triển NNL, giáo dục là điều kiện để đưa Hàn Quốc từ một quốc gia không giàu về tài nguyên thiên nhiên trở thành quốc gia có sức ảnh hưởng trong khu vực, là nhân tố để nâng cao chất lượng NNL và chính sách về giáo dục luôn được xây dựng phù hợp với đòi hỏi của nền kinh tế Hàn Quốc

Cuốn sách “Nhân lực Việt Nam trong chiến lược kinh tế 2001 - 2010” của

Nguyễn Văn Đễ, Bùi Xuân Trường và Nguyễn Kim Liệu [38] Đây là công trình tập hợp các bài viết về vai trò của NNL Việt Nam trong chiến lược phát triển kinh tế 2001 - 2010 Cuốn sách xoay quanh nội dung phát triển NNL do Đại hội

IX (2001) của Đảng đề ra về nguồn lực con người yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững NNL là nhân tố quyết định sự phát triển đất nước thời kỳ CNH, HĐH đất nước

Cuốn sách “Quản lý nguồn nhân lực ở Việt Nam, một số vấn đề lý luận thực tiễn” của Viện Khoa học giáo dục Việt Nam [216] Là cuốn sách chuyên

khảo đã làm rõ những vấn đề về chính sách, giải pháp và định hướng phát triển NNL ở Việt Nam Đồng thời, cuốn sách còn trình bày những đặc điểm về công tác quản lý NNL trong một số ngành, vùng đặc thù tiêu biểu trong cả nước

Cuốn sách Nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước của Đoàn Văn Khái [53] Tác giả lý giải khá sâu sắc về vai trò của

nguồn lực con người là nhân tố quyết định trong quá trình tiến hành sự nghiệp

Trang 15

CNH, HĐH và hội nhập quốc tế của đất nước Từ đó đánh giá thực trạng khách quan nguồn lực con người của Việt Nam, đưa ra những định hướng và giải pháp

để xây dựng nguồn lực con người đáp ứng yêu cầu của đất nước trong bối cảnh tình hình mới

Cuốn sách “Đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nguồn nhân lực tài năng” của

Trần Văn Tùng [135] Tác giả chủ yếu bàn về thực trạng chất lượng đào tạo, bồi dưỡng NNL tài năng của đất nước, những bất cập quá trình sử dụng NNL tài năng Tác giả đề cập giải pháp thiết thực, nhằm đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng NNL tài năng của đất nước có hiệu quả

Cuốn sách “Phát huy nguồn lực con người để công nghiệp hóa, hiện đại

hóa” của Vũ Bá Thể [83] Trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm phát triển NNL

một số nước trên thế giới và thực trạng NNL ở Việt Nam, tác giả đưa ra quan điểm về phát triển NNL, vai trò của NNL đối với tăng trưởng kinh tế và sự nghiệp CNH, HĐH, đồng thời đưa ra định hướng và giải pháp nhằm phát huy nguồn lực con người ở nước ta hiện nay

Cuốn sách “Phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” của Nguyễn Thanh [81] Tác giả luận giải phát triển NNL là yếu tố

quyết định thành công sự nghiệp CNH, HĐH, đồng thời nêu lên thực trạng về phát triển NNL có chất lượng, từ đó đưa ra một số định hướng chủ yếu để phát triển NNL cho CNH, HĐH ở nước ta hiện nay

Cuốn sách Phát triển văn hóa con người và nguồn nhân lực thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước của Phạm Minh Hạc [45] Tác giả tập trung

nghiên cứu chủ yếu về con người trong bối cảnh sự nghiệp CNH, HĐH đất nước; những vấn đề tác động đến sự phát triển toàn diện của con người và NNL như: sức khỏe, trí tuệ, y tế, giáo dục và đào tạo, Từ đó đề ra giải pháp chiến lược nhằm phát triển toàn diện con người nói chung và NNL nói riêng trong công cuộc CNH, HĐH

Cuốn sách Đào tạo và sử dụng nhân lực trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam của Phan Văn Kha [52] Cuốn sách đã luận giải về vai trò quan trọng của

Trang 16

việc đào tạo và sử dụng nhân lực trong cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Việt Nam; xác định rõ cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa đào tạo với sử dụng nhân lực trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế; Đồng thời, cuốn sách đã khái quát thực trạng giữa đào tạo với sử dụng nhân lực của Việt Nam và một số giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả hơn giữa công tác đào tạo

và công tác sử dụng nhân lực ở các cấp, các hệ đào tạo ở Việt Nam

Cuốn sách Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI của

Trần Khánh Đức [41] Tác giả trình bày một số vấn đề lý luận và thực tiễn của giáo dục, quản lý giáo dục và vai trò của giáo dục đối với phát triển NNL; những vấn đề triết lý xã hội khi bàn đến nền giáo dục hiện đại; lý thuyết về hệ thống giáo dục hiện đại gắn với nhà trường và những kịch bản nhà trường tương lai (như mô hình sư phạm kỹ thuật và công nghệ dạy học, chương trình giáo dục hiện đại, đo lường và đánh giá kết quả học tập, ) nhằm tạo điều kiện để nền giáo dục làm tốt chức năng đào tạo, bồi dưỡng NNL cho đất nước trong thế kỷ XXI

Cuốn sách Nguồn lực trí tuệ Việt Nam - lịch sử, hiện trạng và triển vọng

của Nguyễn Văn Khánh [54] Tác giả tập trung trình bày bức tranh tổng thể về tình hình, thực trạng và triển vọng nguồn lực trí tuệ Việt Nam được đóng góp bằng thành tựu của tri thức trong suốt chiều dài lịch sử; phân tích quá trình xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ, những yếu tố thúc đẩy, cản trở việc phát huy nguồn lực; từ đó tác giả đề xuất những giải pháp và khuyến nghị về mặt chính sách đối với Đảng và Nhà nước nhằm phát triển nguồn lực trí tuệ con người Việt Nam phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước thế kỷ XXI

Cuốn sách Phát triển giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực, nhân tài - Một số kinh nghiệm của thế giới của Tạ Ngọc Tấn [79] Tác giả đã tập trung trình bày vấn

đề NNL và nhân tài thông qua vai trò của phát triển giáo dục và đào tạo (GD-ĐT) ở một số nước tiêu biểu trên thế giới Từ kinh nghiệm của thế giới, tác giả đã khẳng định phát triển giáo dục và đào tạo là vấn đề ưu tiên hàng đầu trong cơ chế hoạch định chính sách phát triển NNL, nhân tài ở Việt Nam Đồng thời từ những kinh nghiệm, bài học thành công, thất bại của thế giới, tác giả đã tập trung phân tích về

Trang 17

giáo dục và đào tạo NNL, nhân tài ở Việt Nam và vận dụng kinh nghiệm thế giới để thực hiện thành công sự nghiệp GD-ĐT trong những giai đoạn tiếp theo

Luận án: Nguồn nhân lực nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta - đặc điểm và xu hướng phát triển của Nguyễn Ngọc Sơn

[77] Tác giả đã làm rõ thực trạng của việc sử dụng, phát triển NNL ở nông thôn nước ta từ năm 1986 đến 2000 Nêu lên đặc điểm và xu hướng phát triển NNL ở nước ta trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước Đề xuất những giải pháp chủ yếu có tính khả thi nhằm phát huy hiệu quả NNL nông thôn trong quá trình CNH, HĐH đất nước

Luận án: Phát triển nguồn nhân lực và vai trò của giáo dục - đào tạo đối với phát triển nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước

ta hiện nay của Nguyễn Thanh [80] đã khẳng định phát triển NNL là yếu tố quyết

định sự thành công của sự nghiệp CNH, HĐH đất nướ, đồng thời để phát triển NNL

có chất lượng thì phải xác định giáo dục và đào tạo làm “quốc sách hàng đầu”, là điều kiện tiên quyết để nâng cao chất lượng NNL Trên cơ sở đó, luận án đã phân tích thực trạng và đề ra một số định hướng chủ yếu của việc phát triển NNL ở nước ta

Luận án: Những giải pháp phát triển đào tạo nghề góp phần đáp ứng nhu cầu nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá của Phan Chính Thức

[89] đã nêu rõ vai trò của đào tạo nghề đối với phát triển NNL và qua khảo sát thực tế ở các cơ sở dạy nghề trong cả nước, tác giả cũng chỉ rõ những hạn chế về vấn đề dạy nghề cho lực lượng lao động; đề xuất những giải pháp phát triển đào tạo nghề góp phần đáp ứng nhu cầu nhân lực cho sự nghiệp CNH, HĐH

Trang 18

Luận án: Đào tạo nguồn nhân lực phục vụ quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn Việt Nam của Trần Thanh Bình [12] đã đi sâu vào cơ sở

lý luận và thực tiễn về đào tạo nguồn nhân lực phục vụ quá trình CNH, HĐH nông thôn Nêu thực trạng đào tạo NNL cho nông nghiệp và nông thôn và các giải pháp hoàn thiện công tác đào tạo này

Luận án: Các giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nguồn nhân lực khoa học công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa của Phạm Văn Quý

[64] đã đánh giá thực trạng NNL KH-CN ở Việt Nam hiện nay; đề xuất phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển NNL KH-CN đáp ứng yêu cầu của thời kỳ CNH, HĐH đất nước Trong đó, tác giả nhấn mạnh đến giải pháp giáo dục, đào tạo

Luận án: Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tiếp cận kinh tế tri thức ở Việt Nam của Lê Thị Ngân [63] đã trình bày những vấn đề lý luận về NNL, chất

lượng NNL, nâng cao chất lượng NNL tiếp cận kinh tế tri thức; những tác động tới NNL của quốc gia và kinh nghiệm thực tiễn của một số nước, khẳng định chất lượng NNL là động lực cho quá trình CNH, HĐH của Việt Nam Trên cơ sở

đó, tác giả phân tích, đánh giá thực trạng của NNL hiện nay, đề xuất giải pháp và phương hướng nhằm khắc phục những hạn chế về chất lượng của NNL, tạo điều kiện để tiếp cận nền kinh tế tri thức ở Việt Nam trong thời gian tới

Luận án: Phát triển nguồn nhân lực cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn của Đào Quang Vinh [218] trình bày kết quả nghiên cứu

một số vấn đề lý luận và thực tiễn về NNL cho CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn; đồng thời nêu thực trạng phát triển NNL cho nông nghiệp, nông thôn Việt Nam và những phương hướng, giải pháp chủ yếu để phát triển NNL cho CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn

Luận án: Nghiên cứu việc làm của lao động qua đào tạo nghề ở Việt Nam

của Bùi Tôn Hiến [47], tập trung khái quát lý luận về việc làm của lao động qua đào tạo nghề; làm rõ thực trạng cơ hội việc làm của lao động qua đào tạo nghề ở Việt Nam khi bước vào công cuộc đổi mới, từ đó luận giải về mối quan hệ biện

Trang 19

chứng giữa việc làm với đào tạo nghề và đề xuất những giải pháp cho việc đào tạo nghề và giải quyết việc làm trước yêu cầu của đất nước khi đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH

* Chương trình nghiên cứu và kỷ yếu hội thảo khoa học

Chương trình KH-CN cấp Nhà nước: Đào tạo nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường, toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế của Nguyễn Minh Đường, Phan Văn Kha [42]: Đề tài đã tập

trung làm rõ cơ sở lý luận về đào tạo nhân lực trong điều kiện kinh tế thị trường, toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế Đặc biệt công trình nhấn mạnh đặc điểm thực trạng lực lượng lao động và đào tạo nhân lực để có cái nhìn đúng đắn trong chiến lược đào nhân lực ở Việt Nam thời kỳ CNH, HĐH

Kỷ yếu Hội thảo Đào tạo nghề giữ vai trò trọng tâm trong chính sách phát triển của Học viện Chính sách và Phát triển [49], các chuyên luận tập trung phân

tích những nhân tố tác động đến công tác đào tạo nghề ở Việt Nam, chỉ rõ trước yêu cầu đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, đào tạo nghề có vai trò trọng tâm trong chính sách phát triển KT-XH và bảo đảm an ninh, quốc phòng Đồng thời, đưa ra các giải pháp chủ yếu đề thực hiện công tác đào tạo nghề đáp ứng với nhu cầu nâng cao chất lượng NNL của đất nước

* Các công trình tiêu biểu đã được đăng tải trên các tạp chí

Có thể kể đến các công trình như: Cơ hội và thách thức đối với việc đào tạo, phát triển nguồn nhân lực Việt Nam trong giai đoạn hội nhập kinh tế của Trương Thu Hà [44]; Thành tựu bước đầu và những vấn đề cấp thiết đặt ra trong đào tạo nhân lực ở nước ta của Phạm Tất Dong [21]; Giáo dục - đào tạo với sự phát triển nguồn nhân lực” của Trần Thanh Đức [40]; Về công tác đào tạo nguồn nhân lực trong thời kỳ đổi mới của Nguyễn Thắng Lợi [61]; Đào tạo

và sử dụng đội ngũ trí thức tinh hoa Việt Nam 30 năm đổi mới - Thành tựu và những vấn đề đặt ra của Nguyễn Văn Khánh, Nguyễn Cẩm Ngọc [55];

Hầu hết các bài viết của các tác giả đều đề cập đến vai trò của NNL, của công tác đào tạo NNL và làm rõ những cơ sở khoa học để chỉ ra thực trạng đào

Trang 20

tạo NNL nhằm xây dựng những giải pháp về mối quan hệ giữa GD-ĐT với phát triển NNL một khi nó đã trở thành vấn đề quyết sách liên quan đến phát triển NNL ở Việt Nam trong thế kỷ XXI Đồng thời, cung cấp khá đầy đủ các quan điểm nhận định về tình hình, thực trạng và giải pháp chủ yếu trong đào tạo NNL phục vụ cho CNH, HĐH từ việc lập kế hoạch, dự báo, tạo nguồn đến cải cách giáo dục trong lĩnh vực dạy nghề và đào tạo NNL Vì vậy, các công trình đều khẳng định đào tạo NNL đáp ứng thời kỳ mới của đất nước là công việc chung của toàn xã hội

1.1.2 Các công trình khoa học nghiên cứu về nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực và đào tạo nguồn nhân lực trên các lĩnh vực và vùng miền, địa phương

và có quá trình CNH, HĐH lâu dài; Hàn Quốc và Singapo là những nước công nghiệp mới, đã vươn lên mạnh mẽ trở thành những nước phát triển mới; Trung Quốc là nước có nhiều đặc điểm tương đồng với Việt Nam đang có tốc

độ tăng trưởng nhanh và sẽ trở thành một trong ba nền kinh tế lớn nhất thế giới Vì vậy, đây là một cuốn sách có giá trị tham khảo cho các nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách ở Việt Nam về phát triển NNL thông qua vai trò GD-ĐT, KH-CN với xây dựng đội ngũ trí thức của từng nước

Trang 21

Cuốn sách Phát triển nguồn nhân lực công nghiệp Việt Nam trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và vai trò của công đoàn của Lê

Thanh Hà [43] Tác giả đã đề xuất các giải pháp phát triển NNL công nghiệp Việt Nam, đồng thời nhấn mạnh vai trò, tầm quan trọng của công đoàn trong việc phát triển NNL trong bối cảnh tình hình mới

Cuốn sách Giáo dục nghề nghiệp cho học sinh phổ thông nhằm góp phần phát triển nguồn nhân lực trong bối cảnh hội nhập quốc tế của Bùi Đức Tú [132]

Tác giả đã đi sâu phân tích vai trò giáo dục nghề nghiệp cho học sinh phổ thông là một trong những bước đi căn bản, mang tính nền tảng, góp phần định hướng nghề nghiệp quan trọng cho việc xây dựng NNL đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đẩy mạnh đổi mới toàn diện và hội nhập quốc tế Từ đó, tác giả đã đưa ra một số giải pháp cụ thể, như giáo dục nghề nghiệp cho học sinh phổ thông theo hướng gắn với KT-XH, tổ chức hoạt động giáo dục nghề phổ thông gắn với đặc điểm cụ thể của

sự phát triển KT-XH vùng miền

* Các luận án tiến sĩ

Luận án: Nguồn nhân lực nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta - đặc điểm và xu hướng phát triển của Nguyễn Ngọc Sơn [77],

đã phác họa thực trạng của việc sử dụng, phát triển NNL ở nông thôn nước ta

từ năm 1986 đến 2000; nêu lên đặc điểm và xu hướng phát triển NNL ở nước

ta trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước; đề xuất những giải pháp chủ yếu có tính khả thi nhằm phát huy hiệu quả NNL nông thôn trong CNH, HĐH đất nước

Luận án: Xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã vùng nông thôn đồng bằng sông Cửu Long của Phạm Công Khâm [56], đã tập trung làm rõ vị trí vai trò

của cấp xã nói chung, cấp xã đồng bằng sông Cửu Long nói riêng từ đó tác giả đã

đề ra những vấn đề lý luận và thực tiễn về xây dựng đội ngũ cán bộ cấp xã trong

sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn đồng bằng sông Cửu Long hiện nay Đồng thời nghiên cứu thực trạng KT-XH, đội ngũ cán bộ và công tác xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã vùng nông thôn đồng bằng sông Cửu Long,

Trang 22

đề xuất kinh nghiệm và vấn đề đặt ra, từ đó đưa ra mục tiêu, quan điểm và những giải pháp chủ yếu để làm tốt công tác trên

Luận án: Nhân tố con người trong lực lượng sản xuất với vấn đề đào tạo người lao động trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay (từ thực tiễn đồng bằng sông Cửu Long) của Trần Thanh Đức [39], đã làm rõ

vấn đề con người và nhân tố con người trong lực lượng sản xuất hiện đại theo quan điểm của triết học mác xít về con người, phát huy nhân tố con người trong lực lượng sản xuất thông qua quá trình đào tạo người lao động đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH ở Việt Nam Từ những cơ sở trên, tác giả đã chỉ rõ thực trạng và những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo người lao động, phát huy nhân

tố con người trong lực lượng sản xuất đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước từ thực tiễn đồng bằng sông Cửu Long

Luận án: Nâng cao dân trí ở đồng bằng sông Cửu Long, thực trạng và giải pháp của tác giả Lương Văn Tám [78] đã phân tích khái niệm dân trí và nâng cao

dân trí, mối quan hệ biện chứng giữa dân trí và nâng cao dân trí với sự phát triển kinh tế, xã hội, giữa nâng cao dân trí với quá trình CNH, HĐH Đồng thời tác giả đánh giá thực trạng dân trí và nguyên nhân dẫn đến thực trạng dân trí còn thấp như hiện nay ở đồng bằng sông Cửu Long và đề ra giải pháp cơ bản nhằm nâng cao dân trí phục vụ CNH, HĐH

Luận án: Phát triển nguồn lực lao động ở vùng đồng bằng sông Cửu Long phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Phạm Thế Chi [15] đã nêu lên khái

niệm và vai trò của NNL và sự tất yếu của việc phát triển NNL ở đồng bằng sông Cửu Long Qua đó, đề ra phương hướng và giải pháp phát triển NNL ở đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2001-2010

Luận án: Đào tạo nguồn nhân lực phục vụ quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn Việt Nam của Trần Thanh Bình [12] đi sâu vào cơ sở lý

luận và thực tiễn về đào tạo NNL phục vụ quá trình CNH, HĐH nông thôn; nêu thực trạng đào tạo NNL cho nông nghiệp và nông thôn và các giải pháp hoàn thiện công tác đào tạo này

Trang 23

Luận án: Đảng bộ tỉnh Lào Cai lãnh đạo đào tạo NNL từ năm 2001 đến năm 2010 của Nguyễn Thị Thu Hằng [46] đã phân tích Lào Cai là một tỉnh

miền núi giàu về tài nguyên khoáng sản, có cấu tạo địa hình và cộng đồng dân cư

đa dạng, là nơi hội tụ của văn hóa truyền thống dân tộc như chợ phiên vùng cao, chợ tình… nên đã thành trung tâm du lịch thắng cảnh và nghỉ mát của cả nước Trải qua những biến động, thăng trầm của lịch sử và những tác động của tự nhiên Lào Cai không tránh khỏi những khó khăn của một tỉnh miền núi khi trình

độ văn hóa xã hội thấp nên về cơ bản Lào Cai vẫn là tỉnh nghèo Do vậy, để khai thác những tiềm năng của tỉnh đẩy mạnh phát triển KT-XH, Đảng bộ tỉnh Lào Cai cần tập trung đẩy mạnh phát triển NNL, đặc biệt chú trọng đến đào tạo NNL nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của tỉnh Đây là đề tài được khai thác khá thành công về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh trong công tác đào tạo NNL thuộc vùng miền núi phía Bắc và cung cấp những bài học rất cần thiết cho các Đảng bộ có điểm tương đồng, đặc thù như Lào Cai nghiên cứu và vận dụng

Luận án: Đảng bộ tỉnh Thái Bình lãnh đạo đào tạo NNL cho nông nghiệp

từ năm 2001 đến năm 2010 của Phạm Thị Kim Lan [58] đã làm rõ một tỉnh Thái

Bình thuộc khu vực đồng bằng Bắc Bộ nổi tiếng là vùng đất đạt năng suất lúa 5 tấn/ha được ghi đậm dấu ấn trong lịch sử đấu tranh cách mạng Để thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn, vấn đề đào tạo NNL cho nông nghiệp luôn

là vấn đề cấp bách và cần thiết để tỉnh Thái Bình duy trì tốc độ tăng trưởng Tác giả đã làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ về đào tạo NNL trong 10 năm từ năm 2001 đến năm 2010, qua đó rút ra những nhận xét và kinh nghiệm

có giá trị và thực tiễn có thể làm tư liệu tham khảo cho các cấp, các ngành của tỉnh Thái Bình nói riêng, cả nước nói chung

Luận án: Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo xây dựng NNL từ năm 2001 đến năm 2013 của Hà Vũ Tuyến [136] đã đi sâu nghiên cứu vào hai đối tượng

chính để phát triển NNL trên góc độ đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng NNL lãnh đạo, quản lý, công chức, viên chức, người lao động ở các cơ quan hành chính sự nghiệp trong khu vực Nhà nước và các khu vực khác; NNL chuyên môn kỹ thuật

Trang 24

trong khu vực công nghiệp, thành thị và khu vực nông nghiệp, nông thôn Từ đó gởi mở những giải pháp thiết thực có tính đính hướng cho công tác phát triển NNL của tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng và giải pháp cho các tỉnh có điểm tương đồng như Vĩnh Phúc tham khảo và nghiên cứu

* Các chương trình nghiên cứu, kỷ yếu hội thảo khoa học

Chương trình KH-CN cấp Nhà nước: Gia đình, nhà trường, xã hội với việc phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và đãi ngộ người tài của

Nguyễn Trọng Bảo [11] Đề tài phân tích vai trò của gia đình, nhà trường, xã hội với việc phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và đãi ngộ người tài

để đưa ra những giải pháp để phát triển nguồn lực con người nói chung Đây là

đề tài rất thực tế đã đem luồng gió mới trong việc nghiên cứu, đánh giá góc nhìn

đời thường từ gia đình, nhà trường đến xã hội, đặc biệt là tuyển chọn, đào tạo,

bồi dưỡng, sử dụng và đãi ngộ người tài

Kỷ yếu Hội thảo quốc tế lần thứ ba: Việt Nam hội nhập và phát triển, Tập 6: Giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực Những nghiên cứu tổng hợp theo khu vực Quan hệ quốc tế của Việt Nam với các nước và khu vực do Đại học Quốc gia Hà

Nội tổ chức [22] Một số chuyên luận trong kỷ yếu đề cập đến nhu cầu NNL của đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế; về vai trò, hiệu quả của những chính sách giáo dục, thực trạng giáo dục và đào tạo NNL của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay; Từ đó đưa ra các định hướng, giải pháp về đổi mới cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân đáp ứng nhu cầu nhân lực, chính sách quốc gia về giáo dục và phát triển NNL

Kỷ yếu hội thảo của Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hội đồng quốc gia giáo dục Trung ương và Phát triển nhân lực Có các chuyên

luận Những luận cứ khoa học của việc phát triển NNL công nghiệp cho vùng kinh

tế trọng điểm phía Nam của Trương Thị Minh Sâm [9]; Phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước của Nguyễn Thanh [9]; Đa dạng hóa cơ cấu để phát triển số lượng và chất lượng NNL của Nguyễn Thanh Tuấn [9]; Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng NNL đáp ứng yêu cầu công

Trang 25

nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam của Phạm Văn Sơn [9]; các bài viết đã tập

trung làm rõ nhiều vấn đề và mang tính toàn diện về đào tạo và phát triển NNL như: Quan niệm về NNL, phát triển NNL và vai trò của phát triển NNL Việt Nam trong quá trình CNH, HĐH và hội nhập quốc tế Kinh nghiệm của một số quốc gia

về phát triển NNL; đánh giá thực trạng phát triển NNL của Việt Nam trong những năm qua, nhất là trong hơn 25 năm đổi mới: thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của những thành tựu, hạn chế; những đóng góp của NNL trong những năm qua đối với sự phát triển KT-XH của đất nước Trên cơ sở quan điểm và các mục tiêu phát triển NNL theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, những bài viết trong Hội thảo đã đề xuất những giải pháp chủ yếu để phát triển NNL đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH và hội nhập quốc tế Những giải pháp được đưa ra gồm: Giải pháp về giáo dục, đào tạo; giải pháp phát triển và ứng dụng tiến bộ của khoa học, công nghệ; giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thu hút NNL chất lượng cao ở nước ngoài và việc phát triển thị trường lao động góp phần cân bằng cung cầu NNL cả

về chất lượng và số lượng

* Các bài đăng trên tạp chí

- Các tạp chí đề cập NNL, phát triển NNL nói chung như: Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguồn nhân lực trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Tạp chí Triết học,

số 2 năm 1994; Nguyễn Thị Hằng, Phát triển nguồn nhân lực của Việt Nam đến năm 2010, Tạp chí Cộng sản, số 7 năm 1999; Nguyễn Đình Hoà, Mối quan hệ giữa phát triển nguồn nhân lực và đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Tạp chí Triết học, số 1 năm 2004; Mạc Văn Tiến, Phát triển nguồn nhân lực Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá, Tạp chí Lao động xã hội, số 264 năm 2006; Nguyễn Thanh Tuấn, Phát triển nguồn nhân lực và lĩnh vực xã hội theo tinh thần văn kiện Đại hội X của Đảng, Tạp chí Lao động xã hội, số 284 năm 2006; Vũ Hùng, Nguồn nhân lực lao động của Việt Nam - cơ hội và thách thức sau khi hình thành Cộng đồng Kinh tế ASEAN, Tạp chí Báo cáo viên, số 8 năm 2015

- Về đào tạo NNL như: Trương Thu Hà, Cơ hội và thách thức đối với việc đào tạo, phát triển nguồn nhân lực Việt Nam trong giai đoạn hội nhập kinh tế,

Trang 26

Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 4/ 2005; Đặng Hữu, Đào tạo nhân lực cho

sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá dựa trên tri thức ở nước ta hiện nay, Tạp chí Cộng sản, số 4/2005; Phạm Tất Dong, Thành tựu bước đầu và những vấn đề cấp thiết đặt ra trong đào tạo nhân lực ở nước ta, Tạp chí Cộng sản, số 9/2006; Nguyễn Thắng Lợi, Công tác đào tạo nguồn nhân lực trong thời kỳ đổi mới, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 12/2007; Phan Trần Phú Lộc, Quản lý liên kết đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu nhân lực của các khu công nghiệp theo mô hình quản lý mục tiêu (MBO), Tạp chí Quản lý giáo dục, số 2 năm 2015; Chu Văn Nguyên, Nâng cao chất lượng đào tạo công nhân kỹ thuật trong các trường chuyên nghiệp, Tạp chí Quản lý giáo dục, số 4 năm 2015; Đỗ Văn Trung, Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức Nhà nước hiện nay theo Tư tưởng Hồ Chí Minh, Tạp chí Phát triển nhân lực, số 3 năm 2015; Nguyễn Văn Sáu, Đội ngũ cán bộ quản lý trong phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, Tạp chí Kinh tế và Quản lý, số 5 năm 2015;

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến hệ thống cơ sở lý luận cơ bản, quan trọng giúp tác giả luận giải về vai trò, tầm quan trọng của NNL và phát triển NNL gắn với đào tạo NNL, qua đó nhằm hệ thống, khái quát hóa chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển NNL từ nhiều góc độ khác nhau với đa dạng lĩnh vực trên các vùng, miền và địa phương khác trong cả nước Đây là cơ sở lý luận và thực tiễn quan trọng, giúp tác giả tham khảo và giải quyết những vấn đề có liên quan đến chủ trương phát triển NNL của Đảng bộ Tỉnh Vĩnh Long

1.1.3 Các công trình khoa học nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực ở tỉnh Vĩnh Long

Từ khi tái lập tỉnh đến nay, tỉnh Vĩnh Long được sự quan tâm rất lớn của Đảng và Nhà nước nhưng do đặc điểm vùng miền còn nhiều khó khăn nên chưa

có công trình khoa học nghiên cứu độc lập tình hình phát triển NNL ở địa phương

kể cả những bài viết đăng trên các tạp chí của Đảng và Nhà nước, đây là khó khăn cho người nghiên cứu lĩnh vực này Tuy vậy, với sự trăn trở của cá nhân đối với

Trang 27

trách nhiệm phát triển NNL ở địa phương, tác giả đã tìm hiểu, tìm tòi những nguồn tư liệu quý báu để phục vụ quá trình nghiên cứu Có thể kể đến các công trình đã có đề cập ít nhiều đến đề tài như:

Cuốn sách “Lịch sử tỉnh Vĩnh Long (1732 - 2000)” của Ban Tuyên giáo

tỉnh ủy Vĩnh Long [7] đã đề cập khá toàn diện về điều kiện tự nhiên, đất đai, thổ nhưỡng, khí hậu, con người, truyền thống lịch sử, truyền thống đấu tranh cách mạng đến quá trình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, Đồng thời, nêu bật những thế mạnh, tiềm năng, những đặc trưng riêng biệt độc đáo của một địa phương thuộc vùng sông nước đồng bằng sông Cửu Long Đây là nguồn

tư liệu quý có giá trị khảo cứu, lưu giữ giá trị truyền thống và tinh hoa văn hóa của tỉnh Vĩnh Long, cuốn sách như một “cẩm nang” cho cán bộ, công chức, viên chức, các nhà doanh nghiệp và người con quê hương tỉnh Vĩnh Long đang sinh sống, làm việc trên mọi miền đất nước, ở nước ngoài giúp nắm bắt đầy đủ, toàn diện về vùng đất và con người Vĩnh Long trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, trong sự nghiệp xây dựng và phát triển hiện nay Cuốn sách đã trở thành người bạn đồng hành phục vụ cho mục đích học tập, nghiên cứu, trao đổi thông tin về mặt giá trị lịch sử của một vùng đất giàu truyền thống nơi đây

Các cuốn sách: Vĩnh Long 20 năm phát triển kinh tế - xã hội (1975 - 1995) [92]; Vĩnh Long lịch sử và phát triển (tập 1 và 2) [98]; Kinh tế Vĩnh Long trong sự nghiệp phát triển ở thập niên đầu thế kỷ XXI [97]; Vĩnh Long

30 năm xây dựng và phát triển [8]; 20 năm xây dựng và phát triển Tỉnh Vĩnh Long (1992 - 2012) [122]; Đây là các công trình khoa học do tỉnh ủy, UBND

tỉnh, Ban Tuyên giáo tỉnh ủy chỉ đạo biên soạn nhằm tổng kết những thành tựu quan trọng trong quá trình xây dựng và phát triển tỉnh Vĩnh Long trên tất

cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội Trong tất cả các lĩnh vực

đó, hầu hết công trình đã đề cập và đánh giá cao vai trò NNL trong sự nghiệp phát triển KT-XH của tỉnh, nhất là công tác phát triển NNL đối với phát triển nông nghiệp, nông thôn theo đặc thù của một vùng trũng có hệ thống sông

Trang 28

ngòi dày đặc Có thể nói đây là cơ sở quan trọng để tác giả giải quyết các vấn

đề mang tính đặc trưng rõ rệt của một tỉnh thuần nông trong vùng đồng bằng

sông Cửu Long

Cuốn sách Lịch sử Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long (1930 - 2010) của Ban Chấp

hành Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long [1] là một công trình khoa học công phu, ghi lại những trang sử hào hùng, vẻ vang của lịch sử Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long từ khi ra đời năm 1930 đến giai đoạn thực hiện cuộc Cách mạng Tháng Tám thành công, hai cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc chống thực dân Pháp và đế quốc

Mỹ xâm lược và bước vào thực hiện sự nghiệp đổi mới, phát triển đất nước Cuốn sách trở thành ấn phẩm đặc biệt, ghi nhận những ngày mới ra đời và trong quá trình xây dựng quê hương của Đảng bộ và nhân dân tỉnh Vĩnh Long

đã luôn nêu cao tinh thần quyết chiến, quyết thắng, khắc phục mọi khó khăn, gian khổ vượt qua những thời kỳ cam go của cách mạng, tin tưởng vào đường lối lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh để cùng dân tộc đi đến thắng lợi hoàn toàn Đồng thời cuốn sách còn có ý nghĩa lớn lao nhằm khơi dậy niềm

tự hào của mọi tầng lớp nhân dân, đồng thời đúc rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu giúp cho cán bộ, đảng viên và nhân dân trong tỉnh vững bước

đi lên, cùng với cả nước hoàn thành sự nghiệp CNH, HĐH, trong đó phát triển NNL là một trong những nhiệm vụ quan trọng được Đảng bộ ghi nhận trong cuốn sách này

Nhìn chung từ nhiều góc độ phạm vi nghiên cứu, thể loại sách khác nhau, hầu hết các công trình trên đều đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu, giới học giả đã khẳng định giá trị truyền thống văn hóa, xã hội, địa lý và con người nơi đây Là nguồn tư liệu tin cậy để luận án tham khảo xây dựng nội dung về các yếu tố tác động đến NNL và công tác lãnh đạo, chỉ đạo phát triển NNL của Tỉnh theo từng giai đoạn lịch sử mà tác giả đã xác định trong phạm vi thời gian nghiên cứu Ngoài ra, các công trình đã góp phần làm rõ những quan điểm chủ yếu về phát triển KT-XH của tỉnh Vĩnh Long trước yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH vì mục tiêu phát triển nhanh và

Trang 29

bền vững, nhất là những quan điểm tạo sức lan tỏa cho các tỉnh và khu vực nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế gắn với mục tiêu nâng cao chất lượng trong công tác phát triển NNL, đảm bảo an sinh xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân trong những giai đoạn tiếp theo Đây là những gợi mở quý giá, là vấn đề để nghiên cứu sinh khai thác triệt để trong luận án khi nêu ra tính cấp thiết và nhiệm vụ nghiên cứu về phát triển NNL của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long từ năm 2000 đến năm 2015

Tuy nhiên, có rất ít các công trình nghiên cứu về phát triển NNL như đặc thù tỉnh Vĩnh Long và có quá ít các công trình nghiên cứu khi đề cập đến phát triển NNL ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long, nhất là những vấn đề phát triển NNL từ góc độ khoa học Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam Đây là vấn đề

đã thôi thúc nghiên cứu sinh quyết tâm chọn đề tài, nhằm góp phần nhỏ xây dựng quê hương tỉnh Vĩnh Long phát triển

1.2 KHÁI QUÁT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA CÁC CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LUẬN ÁN TẬP TRUNG NGHIÊN CỨU

1.2.1 Những nội dung liên quan đến đề tài luận án đã được đề cập

Một là, các công trình khoa học được tiếp cận từ nhiều góc độ, phạm vi

và lĩnh vực khác nhau nhưng đều khẳng định tầm quan trọng và yêu cầu khách quan phải phát triển NNL, là cơ sở quan trọng để đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Các công trình đã thể hiện rõ quan điểm của Đảng qua các kỳ đại hội, đặc biệt là Đại hội Đảng lần thứ IX với quan điểm nhất quán: “Nguồn nhân lực là nhân tố quyết định sự phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cần tạo chuyển biến cơ bản, toàn diện về giáo dục và đào tạo” Đồng thời, bước đầu các công trình khoa học đã đi sâu, luận giải vai trò của phát triển NNL trong quá trình phát triển KT-XH của đất nước với mục tiêu “phát triển nguồn nhân lực là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, là nhân tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững” Và muốn phát triển nhanh và bền vững, NNL phải được đào tạo, bồi dưỡng nhằm đảm bảo

Trang 30

yêu cầu về số lượng và chất lượng, trong đó chất lượng NNL đóng vai trò không thể thiếu cho công cuộc phát triển của các địa phương Vì vậy, các công trình nghiên cứu đều khẳng định phát triển NNL luôn gắn kết chặt chẽ với công tác đào tạo, là yêu cầu khách quan, cấp thiết đối với sự phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc trước bối cảnh phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ và

xu thế toàn cầu hóa

Hai là, một số công trình khoa học đã đề cập đến những vấn đề lý luận

dựa trên học thuyết của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về con người, nguồn lực con người và những vấn đề lý luận chung về NNL, phát triển NNL nhằm làm rõ thực trạng, kết quả kinh nghiệm trong phát triển NNL ở Việt Nam Đây là cơ sở quan trọng để tác giả kế thừa, tham khảo để có những nhận định, đánh giá khách quan khi thực hiện đề tài

Ba là, các công trình đã hệ thống, khái quát các quan điểm cơ bản, chủ

trương lớn của Đảng Cộng sản Việt Nam qua các nhiệm kỳ đại hội của Đảng

về phát triển NNL trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH Đồng thời đã phác họa những thành tựu, hạn chế, khiếm khuyết từ quá trình lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện chủ trương phát triển NNL, đúc kết những phương hướng và giải pháp để phát triển NNL đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trên các lĩnh vực khác nhau

Bốn là, công trình khoa học đều có đối tượng, mục tiêu nghiên cứu khác

nhau nhưng về cơ bản các công trình đã chỉ ra mối quan hệ giữa phát triển NNL với nhiệm vụ đào tạo NNL là cán bộ, công chức, viên chức (CB,CC,VC) trong các

cơ quan nhà nước thuộc HTCT và NNL là lực lượng lao động lành nghề trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn ở các cấp Đảng bộ địa phương, cấp vùng miền Đây

là những gợi ý quan trọng giúp nghiên cứu sinh kế thừa có chọn lọc và tiếp cận phương pháp nghiên cứu đạt hiệu quả và có cơ sở khoa học hơn để giải quyết mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

Trang 31

Năm là, hầu hết công trình khoa học tập trung trình bày có hệ thống những

quan điểm của Đảng về vai trò của GD-ĐT đối với việc nâng cao chất lượng NNL, đặc biệt nhấn mạnh GD-ĐT ở hệ đại học, cao đẳng và đào tạo nghề trong việc thúc đẩy phát triển NNL, trên cơ sở đó đề ra phương hướng giải pháp NNL cho sự phát triển nhanh và bền vững một cách hiệu quả Đây là tiền đề quan trọng

để nghiên cứu sinh làm sáng tỏ sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long khi NNL gắn với công tác đào tạo được xem là khâu trọng yếu để nâng cao số lượng và chất lượng phát triển NNL tỉnh nhà

Như vậy, nhìn chung những công trình khoa học trên đã đề cập đến khá rõ

về các khái niệm liên quan đến NNL, phát triển NNL và tính cấp thiết phát triển NNL được tập trung khai thác trong lĩnh vực GD-ĐT và ở một số vấn đề mang tính vùng miền, địa phương trong bối cảnh CNH, HĐH, hội nhập quốc tế Đồng thời các công trình đều thể hiện ý chí, quan điểm của Đảng, Nhà nước bằng những chủ trương, chính sách phù hợp với điều kiện của thực tiễn ở Việt Nam, từ đó đề

ra định hướng, giải pháp để tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả trong công tác phát triển NNL những năm tiếp theo Đây là những tài liệu quý để luận án kế thừa, giải quyết những vấn đề lý luận và thực tiễn chung được đặt ra trong mục đích và nhiệm vụ của đề tài

Qua khảo cứu các công trình nghiên cứu đã được công bố, cho đến nay chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống về quá trình Đảng

bộ tỉnh Vĩnh Long lãnh đạo phát triển NNL từ năm 2000 đến năm 2015 từ góc độ nghiên cứu Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

1.2.2 Những vấn đề luận án tập trung nghiên cứu

Trên cơ sở kế thừa các kết quả nghiên cứu của các công trình trên, Luận án

sẽ tập trung nghiên cứu những vấn đề sau:

- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của công tác phát triển NNL của Đảng

bộ tỉnh Vĩnh Long trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, nhất là từ năm

2000 đến năm 2015

Trang 32

- Khảo sát thực trạng phát triển NNL của tỉnh Vĩnh Long qua hai giai đoạn

từ năm 2000 đến năm 2005 và từ năm 2005 đến năm 2015, từ đó chỉ ra những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân hạn chế trong công tác phát triển NNL của Đảng

bộ tỉnh Vĩnh Long

- Hệ thống hóa các văn kiện chủ yếu của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long về chủ trương phát triển NNL qua ba nhiệm kỳ đại hội Đảng bộ tỉnh từ năm 2001 đến năm 2015, từ đó phân tích quá trình vận dụng sáng tạo chủ trương của Trung ương Đảng vào thực tế địa phương góp phần nâng cao chất lượng NNL

- Khảo sát quá trình thực hiện chủ trương phát triển NNL của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long gồm cơ chế, chính sách đào tạo, bồi dưỡng, chính sách thu hút nguồn nhân lực,… trong phạm vi quản lý của tỉnh qua hai giai đoạn, từ năm 2000 đến năm 2005 và từ năm 2005 đến năm 2015

- Luận án khái quát những thành công, những hạn chế, khiếm khuyết và nguyên nhân của những thành công, những hạn chế, khiếm khuyết từ quá trình hoạch định chủ trương đến chỉ đạo thực tiễn và kết quả phát triển NNL của Đảng

bộ tỉnh Vĩnh Long qua hơn 15 năm, với ba nhiệm kỳ đại hội từ năm 2001 đến năm 2015

- Từ thực tiễn lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long, luận án có nhiệm vụ đúc kết, gợi mở những kinh nghiệm về sự lãnh đạo của Đảng bộ trong công tác phát triển NNL nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển toàn diện, bền vững trong những năm tiếp theo

Tiểu kết chương 1

Qua khảo cứu các công trình khoa học đã được công bố dưới nhiều thể loại: sách đã xuất bản; luận án tiến sĩ đã bảo vệ; các đề tài, chương trình khoa học, kỷ yếu hội thảo khoa học đến các bài được đăng tải trên các tạp chí khác nhau, có thể

chia thành ba nhóm công trình: Một là, các công trình khoa học nghiên cứu về NNL, phát triển NNL và nói chung; Hai là, các công trình khoa học nghiên cứu về

Trang 33

NNL, phát triển NNL và đào tạo NNL nói chung từ thực tiễn các lĩnh vực, các

vùng, miền, địa phương trên cả nước; Ba là, các công trình khoa học nghiên cứu

có liên quan đến phát triển NNL nói chung ở tỉnh Vĩnh Long Các công trình trên

đã cung cấp cho luận án về tình hình tổng quan nghiên cứu chung ở cả hai phương diện lý luận và thực tiễn, qua đó các công trình đều khẳng định quan điểm chủ trương của Đảng về phát triển NNL là một chủ trương, chính sách lớn của Đảng

và Nhà nước xuyên suốt trong các Văn kiện, Nghị quyết và ngày càng được đề cập nhiều hơn trong các Đại hội IX, X, XI của Đảng Đây là cơ sở lý luận và thực tiễn để tác giả tham khảo, kế thừa giải quyết nhiệm vụ đặt ra cho công tác phát triển NNL ở tỉnh Vĩnh Long Tuy nhiên, nhìn chung chưa có công trình nào đề cập một cách thấu đáo về quá trình hoạch định chủ trương lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng

bộ tỉnh Vĩnh Long về phát triển NNL từ năm 2000 đến năm 2015 Vì vậy tình hình tổng quan nghiên cứu của luận án là cơ sở để Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long đúc kết những kinh nghiệm phát triển NNL có giá trị trên phương diện lý luận và thực tiễn một cách khách quan, đó là những nội dung chủ yếu của luận án cần tiếp tục nghiên cứu như đã nêu trên

Trang 34

Chương 2 ĐẢNG BỘ TỈNH VĨNH LONG VẬN DỤNG CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

2.1.1.1 Tầm quan trọng của nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực

Nguồn nhân lực là nguồn tài nguyên quý giá, là vấn đề then chốt trong sự phát triển của mỗi quốc gia, nhất là trong điều kiện các nước đang phát triển tiến hành hội nhập quốc tế trên hầu khắp các lĩnh vực thì NNL đã trở thành xu thế tất yếu chiếm vị trí trọng yếu trong thước đo giá trị về mặt tăng trưởng kinh tế Quốc gia nào có chiến lược xây dựng nguồn lực con người đúng đắn và chuẩn bị được NNL có trình độ chuyên môn, tay nghề cao thì năng lực cạnh tranh của quốc gia đó

sẽ tăng trưởng mạnh mẽ trong nền kinh tế toàn cầu và tạo ra sự phát triển bền vững Cho đến nay, khái niệm nguồn nhân lực được hiểu theo nhiều nghĩa rộng, nghĩa hẹp

và các cách tiếp cận khác nhau

- Theo nghĩa rộng, NNL là số dân và chất lượng dân số bao gồm cả thể chất

và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực và phẩm chất, thái độ và tác phong làm việc Đó là toàn bộ nguồn vốn của một con người, là tổng hợp trình độ chuyên môn

mà một người lao động tích lũy được, hay đó còn là tổng thể tiềm năng của con người của một quốc gia, vùng lãnh thổ, địa phương có khả năng huy động vào quá trình phát triển KT-XH

- Theo nghĩa hẹp, NNL được hiểu là nguồn lao động của xã hội (tổng số

người đang làm việc, người thất nghiệp và lao động dự phòng), hay bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động được đào tạo và không được đào tạo, có thể đang làm việc hoặc không có nhu cầu làm việc tham gia vào nền sản xuất xã hội Thậm chí, NNL này còn được hiểu là đối tượng lao động bao gồm những người có việc làm (nguồn nhân lực có sẵn trong dân cư) và những người chưa có việc làm (lao động dự trữ) Cách hiểu này có ý nói đến NNL là những người có việc làm

Trang 35

được đào tạo chuyên môn nghề nghiệp đang hoạt động trong các ngành kinh tế, trong các lĩnh vực chính trị, xã hội nhằm cung cấp cho xã hội một lực lượng lao động có chất lượng, bởi vì trong bối cảnh biến đổi nhanh chóng của thế giới như hiện nay, vấn đề đào tạo NNL là để nâng cao năng suất lao động là điểm then chốt nhằm mục đích duy trì và nâng cao sức cạnh tranh của mỗi quốc gia

Như vậy, có thể hiểu NNL là một bộ phận của dân số, bao gồm các đối tượng trong độ tuổi lao động khác nhau Là bộ phận quan trọng nhất quyết định khả năng nhu cầu lao động trong xã hội và là nguồn lực lao động mang tính tích cực hoặc không tích cực trong một cộng đồng Tuy nhiên NNL này còn được tiếp cận ở vấn đề của một bộ phận số dân phụ thuộc vào điều kiện trình độ chuyên môn được đào tạo đồng nghĩa là bộ phận số dân mang lại yếu tố tích cực cho sự phát triển kinh

tế hoặc đào tạo nhưng không đáp ứng được nhu cầu xã hội Đồng thời NNL thường gắn với độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật Hiện nay, nhiều quốc gia đều quy định tuổi lao động tối thiểu là 15, song độ tuổi lao động tối đa lại có sự khác nhau giữa các nhóm nước phát triển và nhóm các nước đang phát triển Ở Việt Nam theo quy định của Bộ luật Lao động năm 2012, tuổi lao động được quy định là từ đủ

15 đến 60 đối với nam và đủ từ 15 đến 55 đối với nữ

Từ những khái niệm đã phân tích trên, có thể rút ra khái niệm NNL như sau:

NNL là toàn bộ lực lượng lao động của xã hội được quy định số dân trong độ tuổi lao động, gồm những người có việc làm và chưa có việc làm Là bộ phận những người được đào tạo chuyên môn nghiệp vụ, có trình độ lành nghề, kiến thức, năng lực và sức khỏe nhất định, là nguồn lực quyết định cho sự phát triển KT-XH trong một cộng đồng

Phát triển NNL chính là quá trình biến đổi NNL nhằm phát huy, khơi dậy tiềm năng con người Theo quan niệm của Tổ chức quốc tế về Lao động (ILO) phát

triển NNL là tổng thể các hình thức, phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đặc biệt về năng lực, trình độ, khả năng làm việc nhằm đáp ứng đòi hỏi về nguồn nhân lực cho sự phát triển KT-XH trong từng giai đoạn phát triển

Tựu chung lại, quan niệm phát triển NNL được xem xét trên hai mặt chủ

yếu là: số lượng và chất lượng Số lượng NNL được đánh giá bằng các chỉ tiêu: tỉ

lệ NNL trong dân số; tỉ lệ lực lượng lao động trong dân số; tỉ lệ lực lượng lao

Trang 36

động trong độ tuổi lao động; tỉ lệ lao động có việc làm trong lực lượng lao động

Chất lượng NNL được đánh giá bằng các chỉ tiêu, đó là: chỉ tiêu trình độ học vấn của nguồn nhân lực, đây là chỉ tiêu rất quan trọng phản ánh chất lượng nguồn

nhân lực và có tác động mạnh mẽ tới quá trình phát triển KT-XH Trình độ học vấn cao sẽ tạo điều kiện và khả năng tiếp thu, vận dụng có hiệu quả những tiến bộ

mới của KH-CN trong thực tiễn; chỉ tiêu đánh giá trình độ chuyên môn - kỹ thuật

của NNL được thể hiện bằng tỉ lệ NNL có trình độ cao đẳng, đại học và sau đại học so với NNL chung

Đối với Việt Nam, khi nghiên cứu phát triển NNL thì trước tiên đồng nghĩa với lý thuyết về chính sách phát triển nguồn lực con người theo nhiều cách tiếp cận

khác nhau Cách tiếp cận thứ nhất, phát triển NNL là việc xây dựng, phân bổ và sử

dụng nguồn nhân lực cùng với các hoạt động có liên quan nhằm hình thành các chuẩn mực và mạng lưới xã hội dưới sự trợ giúp của nhà nước, của cơ quan phát

triển nhân lực địa phương, các tổ chức giáo dục và các tổ chức khác Cách tiếp cận thứ hai, phát triển NNL là việc thông qua giáo dục và đào tạo để tạo ra một lực

lượng lao động có khả năng đáp ứng nhu cầu của một quốc gia, một vùng, một ngành hay một tổ chức nào đó Đây là quá trình tạo dựng lực lượng lao động năng động có kỹ năng và sử dụng chúng có hiệu quả Tuy nhiên phạm vi tiếp cận trên bình diện là vai trò quan trọng của phát triển NNL đối với sự phát triển của xã hội thì phát triển NNL được hiểu là những con người có trình độ chuyên môn cao, có vốn tri thức và tay nghề giỏi, có khả năng nhận thức và tiếp thu nhanh những kiến thức mới Đây là chìa khóa chiếm lĩnh những đỉnh cao của khoa học kỹ thuật và công nghệ trên con đường chống nguy cơ tụt hậu của tri thức, hay có thể hiểu phát triển NNL là khái niệm để chỉ một con người, một người lao động cụ thể được đào tạo lành nghề và chuyên môn kỹ thuật nhất định (trên đại học, cao đẳng, công nhân

Trang 37

bên cạnh trình độ học hàm, học vị như giáo viên, giảng viên, nhà lãnh đạo, quản lý, cán bộ, công chức, viên chức Lĩnh vực kinh tế là các doanh nhân Lĩnh vực an ninh quốc phòng, đối ngoại là những tướng lĩnh, nhà ngoại giao để chỉ NNL này Ngoài

ra, để tôn vinh và phát triển NNL, xã hội còn chú ý đến đối tượng để thực hiện phát triển NNL là học sinh, sinh viên ưu tú họ là nhân tài là lực lượng kế thừa của tinh hoa đất nước hay nguồn “nguyên khí quốc gia”

2.1.1.2 Chủ trương của Đảng về phát triển nguồn nhân lực trong công cuộc đổi mới

Thực hiện đường lối đổi mới được khởi xướng từ Đại hội hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, trong đó có việc thực hiện phát triển NNL là vấn đề mấu chốt để đẩy nhanh tốc độ phát triển KT-XH của đất nước, yêu cầu cấp bách nhất cần giải quyết là nhanh chóng đào tạo NNL có tri thức đáp ứng yêu cầu sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước Tuy nhiên trong quá trình đổi mới đất nước từ năm 1986, Đảng

đã nhìn nhận vai trò của sự nghiệp giáo dục khi xem xét NNL Đại hội Đảng lần thứ

VI của Đảng chỉ rõ: Giáo dục nhằm mục tiêu hình thành và phát triển toàn diện nhân cách XHCN của thế hệ trẻ, đào tạo đội ngũ lao động có kỹ thuật, đồng bộ về ngành nghề, phù hợp với yêu cầu phân công lao động của xã hội Sự nghiệp giáo dục, nhất là giáo dục đại học và chuyên nghiệp, trực tiếp góp phần vào việc đổi mới công tác quản lý kinh tế và xã hội [34, tr.772]

Đất nước bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, trước những diễn biến như vũ bão của cách mạng KH-CN và bối cảnh toàn cầu hóa, Đảng xác định vai trò đặc biệt của NNL là nhằm để phát triển con người Việt Nam toàn diện với tư cách là động lực xây dựng xã hội mới thì phải tập trung: “Phát triển sự nghiệp khoa học, giáo dục, văn hóa nhằm phát huy nhân tố con người và vì con người trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [24, tr.79] Đặc biệt khi bước vào công cuộc đổi mới, vấn đề nguồn lực con người gắn với phát triển KT-XH đã được Đảng Cộng sản Việt Nam quán triệt và được coi là vấn đề sống còn của đất nước, là yêu cầu cấp bách của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Đảng đã chỉ đạo: “Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững” [35, tr.106], đây là lần đầu tiên quan điểm về nguồn lực con người được đặt ở vị trí trung tâm của chính sách phát triển

Trang 38

Từ quan điểm trên, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1991), Đảng đã chỉ rõ nguồn lực con người rất dồi dào, con

người Việt Nam có truyền thống cần cù, sáng tạo, có nền tảng văn hóa, giáo dục, có khả năng nắm bắt nhanh KH-CN đó là nguồn lực quan trọng nhất Tuy nhiên, người Việt Nam đang có những hạn chế về thể lực, kiến thức, tay nghề, còn mang thói quen sản xuất lạc hậu và dấu ấn của cơ chế cũ Để khắc phục được những nhược điểm đó thì vai trò của NNL phải thật sự trở thành thế mạnh của đất nước, NNL không thể đứng ngoài mục tiêu của sự phát triển, Đảng chỉ rõ:

Mục tiêu và động lực chính của sự phát triển là vì con người, do con người Chiến lược kinh tế - xã hội đặt con người vào vị trí trung tâm, giải phóng sức sản xuất, khơi dậy tiềm năng của mỗi cá nhân, mỗi tập thể lao động và cả cộng đồng dân tộc, động viên và tạo điều kiện cho mọi người Việt Nam phát huy ý chí tự lực tự cường, cần kiệm xây dựng và bảo vệ

Tổ quốc, ra sức làm giàu cho mình và cho đất nước [25, tr.12-13]

Như vậy, khi đất nước bước vào công cuộc xây dựng đất nước, Đảng đã nhận thức rõ lực lượng lao động với những tiêu chí cụ thể là “hình thành đội ngũ lao động có tri thức và có tay nghề, có năng lực thực hành, tự chủ, năng động và sáng tạo bồi dưỡng nhiều người giỏi về khoa học, công nghệ, kinh doanh, về quản lý kinh tế và nhiều công nhân lành nghề; nâng cao trình độ văn hóa, khoa học, kỹ thuật cho người lao động” [24, tr.511] Đây chính là những tiêu chí cụ thể của Đảng để phát triển NNL, trong đó muốn phát triển NNL phải hình thành đội ngũ lao động có tri thức, có tay nghề để đáp ứng nhu cầu phát triển toàn diện của đất nước

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (1996) quyết định đưa đất nước bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH Do đó, nguồn lực con người trở nên quan trọng hơn bao giờ hết Đây là Đại hội có nhiều chuyển biến tích cực, mạnh mẽ trong chính sách phát triển NNL, trên quan điểm NNL coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển, các chính sách giáo dục đào tạo, KH-CN đều hướng đến mục tiêu là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Cụ thể hóa chủ trương của Đại hội VIII, Nghị quyết Hội nghị lần thứ Hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII (tháng 12/1996) đã thực sự coi GD-ĐT là quốc sách hàng đầu, là nhân tố quyết định tǎng trưởng kinh tế và phát triển xã hội, đầu tư

Trang 39

cho GD-ĐT là đầu tư phát triển, các cá nhân đều có trách nhiệm trách nhiệm góp phần phát triển sự nghiệp GD-ĐT Đồng thời Đảng chủ trương GD-ĐT luôn gắn liền với nhu cầu phát triển KT-XH nhằm hình thành và phát triển đội ngũ lao động lành nghề, bảo đảm có nhiều nhân tài cho đất nước bước vào thế kỷ XXI

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (2001) Đảng tiếp tục chủ trương đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện, trong đó nhấn mạnh về động lực phát triển đất nước là phát huy sức mạnh của đại đoàn kết tất cả các giai tầng, các dân tộc và của toàn xã hội Đồng thời chỉ rõ xã hội ta là xã hội vì con người, đặt con người vào vị trí trung tâm của phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và lấy việc nâng cao chất lượng cuộc sống con người làm mục tiêu phục vụ Đảng luôn nhấn mạnh phát triển kinh tế phải đi đôi với giải quyết tốt những vấn đề xã hội và chính là thực hiện mục tiêu xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh Đảng khẳng định: “Tăng cường kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa và giáo dục,… nâng cao dân trí, giáo dục và đào tạo con người, xây dựng và phát triển NNL của đất nước” [30, tr.169] và mọi chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước phải xuất phát từ mục đích vì con người, chăm sóc bồi dưỡng con người, phát huy nhân tố con người trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Với vai trò là động lực thúc đẩy sự phát triển KT-XH, đẩy mạnh CNH, HĐH, văn hóa và giáo dục, KH&CN có nhiệm vụ khơi dậy mọi tiềm năng, phát triển sức sáng tạo của con người Việt Nam, tạo ra nguồn lực nội sinh quyết định sự nghiệp CNH, HĐH Đồng thời cần “tăng cường đầu tư vào phát triển con người thông qua phát triển mạnh giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ Đảm bảo nguồn nhân lực về số lượng và chất lượng, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [30, tr.257]

Với quan điểm nêu trên, lần đầu tiên Đảng đã chỉ ra nhiệm vụ phát triển NNL được cụ thể hóa bằng chủ trương chính sách cụ thể, trong đó nhấn mạnh chủ trương cơ bản nhất là khẳng định sự nghiệp GD-ĐT phải là nhiệm vụ hàng đầu để đẩy mạnh CNH, HĐH, nhằm mục tiêu:

Đào tạo lớp người lao động có kiến thức cơ bản, làm chủ kỹ năng nghề nghiệp, quan tâm hiệu quả thiết thực, nhạy cảm với cái mới, có ý thức vươn lên về khoa học và công nghệ Xây dựng đội ngũ công nhân lành nghề, các chuyên gia và nhà khoa học, nhà văn hoá, nhà kinh doanh, nhà

Trang 40

quản lý Chính sách sử dụng lao động và nhân tài phải tận dụng mọi năng lực, phát huy mọi tiềm năng của các tập thể và cá nhân phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước [30, tr.201-202]

Với quan điểm tích cực về phát triển NNL, có thể khẳng định quan điểm nhất quán của Đảng là tăng cường chính sách đầu tư cho GD-ĐT, coi GD-ĐT là nhiệm vụ hàng đầu để phát triển NNL, vì NNL là nguồn lực quan trọng nhất để thực hiện sự nghiệp đổi mới, xây dựng những con người và thế hệ thiết tha gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Đồng thời, muốn phát triển NNL bền vững yêu cầu nhiệm vụ của GD-ĐT là phải tạo ra đội ngũ con người có trí tuệ cao,

có tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp được đào tạo bồi dưỡng và phát huy bởi một nền giáo dục tiên tiến gắn liền với một nền khoa học công nghệ hiện đại

Như vậy, phát triển NNL được Đảng đặc biệt quan tâm, là một khâu đột phá trong chiến lược phát triển KT-XH So với quan điểm chung thời kỳ trước, đây là bước phát triển hơn hẳn trong nhận thức của Đảng về NNL và phát triển NNL Đây chính là những định hướng cơ bản cho các địa phương, trong đó có tỉnh Vĩnh Long vận dụng vào thực tế của tỉnh để triển khai phát triển NNL đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh CNH, HĐH của địa phương

2.1.2 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của tỉnh Vĩnh Long tác động đến phát triển nguồn nhân lực

Tỉnh Vĩnh Long được thành lập vào năm 1732 [7] với nhiều tên gọi địa danh khác nhau Năm 1832 toàn bộ vùng đất Nam Bộ được chia thành 6 tỉnh gọi

là Nam kỳ lục tỉnh, trấn Vĩnh Thanh được gọi là tỉnh Vĩnh Long gồm có 4 phủ, 8 huyện, 47 tổng

Từ giữa thế kỷ XIX, thực dân Pháp xâm lược Việt Nam và từng bước thôn tính, xác lập hệ thống chính quyền thực dân để bóc lột khai thác Ngày 5/1/1876, Thống đốc Nam kỳ Dupere ra nghị định phân chia toàn bộ Nam kỳ thành 4 khu vực hành chính lớn là Sài Gòn, Vĩnh Long, Mỹ Tho, Bassac Mỗi khu vực hành chính lớn lại chia nhỏ thành nhiều tiểu khu hành chính, trong đó khu vực hành chính Vĩnh Long gồm 4 tiểu khu là Vĩnh Long, Bến Tre, Trà Vinh và Sa Đéc Ngày 20/12/1899, Toàn

Ngày đăng: 29/06/2020, 21:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Chấp hành Đảng bộ Tỉnh Vĩnh Long (2015), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long (1930 - 2010), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long (1930 - 2010)
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ Tỉnh Vĩnh Long
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2015
2. Ban Chấp hành Trung ương (2012), Nghị quyết số 20-NQ/TW, Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương (Khóa XI) về Phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệpcông nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế được ban hành ngày 01 tháng 11 năm 2012, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 20-NQ/TW, Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương (Khóa XI) về Phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệpcông nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế được ban hành ngày 01 tháng 11 năm 2012
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương
Năm: 2012
3. Ban Thường vụ Tỉnh ủy Vĩnh Long (1997), Tiếp tục ban hành Đề án số 02- ĐA/TU ngày 12/12/1997 về xây dựng đội ngũ cán bộ của tỉnh từ nay đến năm 2020 nhằm cụ thể hóa Nghị quyết Trung ương Hai (12/1996) và Nghị quyết Trung ương Ba khóa VIII, Vĩnh Long Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp tục ban hành Đề án số 02-ĐA/TU ngày 12/12/1997 về xây dựng đội ngũ cán bộ của tỉnh từ nay đến năm 2020 nhằm cụ thể hóa Nghị quyết Trung ương Hai (12/1996) và Nghị quyết Trung ương Ba khóa VIII
Tác giả: Ban Thường vụ Tỉnh ủy Vĩnh Long
Năm: 1997
4. Ban Tổ chức Tỉnh ủy Vĩnh Long (2006), Báo cáo kết quả thực hiện công tác tổ chức, cán bộ và chính sách cán bộ giai đoạn 2001 - 2005, số 37- BC/TU, Vĩnh Long Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả thực hiện công tác tổ chức, cán bộ và chính sách cán bộ giai đoạn 2001 - 2005, số 37-BC/TU
Tác giả: Ban Tổ chức Tỉnh ủy Vĩnh Long
Năm: 2006
5. Ban Tổ chức Tỉnh ủy Vĩnh Long (2011), Báo cáo kết quả thực hiện công tác tổ chức, cán bộ và chính sách cán bộ giai đoạn 2005 - 2010, số 42- BC/TU, Vĩnh Long Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả thực hiện công tác tổ chức, cán bộ và chính sách cán bộ giai đoạn 2005 - 2010, số 42-BC/TU
Tác giả: Ban Tổ chức Tỉnh ủy Vĩnh Long
Năm: 2011
6. Ban Tổ chức Tỉnh ủy Vĩnh Long (2015), Báo cáo tình hình thực hiện công tác tổ chức, cán bộ và chính sách cán bộ năm 2014 và phương kế hoạch thực hiện năm 2015, số 33-BC/TU, Vĩnh Long Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình thực hiện công tác tổ chức, cán bộ và chính sách cán bộ năm 2014 và phương kế hoạch thực hiện năm 2015, số 33-BC/TU
Tác giả: Ban Tổ chức Tỉnh ủy Vĩnh Long
Năm: 2015
7. Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Vĩnh Long (2002), Lịch sử Tỉnh Vĩnh Long (1732 - 2000), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Tỉnh Vĩnh Long (1732 - 2000)
Tác giả: Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Vĩnh Long
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
8. Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Vĩnh Long (2005), Vĩnh Long 30 năm xây dựng và phát triển, Nxb Nguyễn Văn Thảnh, Vĩnh Long Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vĩnh Long 30 năm xây dựng và phát triển
Tác giả: Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Vĩnh Long
Nhà XB: Nxb Nguyễn Văn Thảnh
Năm: 2005
9. Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hội đồng quốc gia giáo dục Trung ương và Phát triển nhân lực (Chủ biên) (2014), Kỷ yếu hội thảo, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu hội thảo
Tác giả: Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hội đồng quốc gia giáo dục Trung ương và Phát triển nhân lực (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2014
10. Đặng Quốc Bảo (Chủ biên), Trương Thị Thúy Hằng và Đặng Thị Thanh Huyền (2008), Nghiên cứu chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam
Tác giả: Đặng Quốc Bảo (Chủ biên), Trương Thị Thúy Hằng và Đặng Thị Thanh Huyền
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2008
11. Nguyễn Trọng Bảo (Chủ nhiệm) (2005), Gia đình, nhà trường, xã hội với việc phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và đãi ngộ người tài do Chương trình Khoa học - công nghệ cấp Nhà nước, mã số đề tài KX-07, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình, nhà trường, xã hội với việc phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và đãi ngộ người tài
Tác giả: Nguyễn Trọng Bảo (Chủ nhiệm)
Năm: 2005
12. Trần Thanh Bình (2003), Đào tạo nguồn nhân lực phục vụ quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn Việt Nam, Luận án tiến sĩ chuyên ngành Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào tạo nguồn nhân lực phục vụ quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn Việt Nam
Tác giả: Trần Thanh Bình
Năm: 2003
13. Bộ Giáo dục và Đào tạo - Ban Tuyên giáo Trung ương (2014), Tài liệu hội thảo khoa học - Đổi mới công tác đào tạo nguồn nhân lực Việt Nam đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu hội thảo khoa học - Đổi mới công tác đào tạo nguồn nhân lực Việt Nam đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo - Ban Tuyên giáo Trung ương
Năm: 2014
14. Mai Quốc Chánh (1999), Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng nhu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng nhu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Tác giả: Mai Quốc Chánh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1999
15. Phạm Thế Chi (2003), Phát triển nguồn lực lao động ở vùng đồng bằng sông Cửu Long phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Luận án tiến sĩ chuyên ngành Kinh tế, quản lý và kế hoạch hóa kinh tế quốc dân, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nguồn lực lao động ở vùng đồng bằng sông Cửu Long phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Tác giả: Phạm Thế Chi
Năm: 2003
16. Chính phủ (2005), Nghị quyết về Đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006-2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết về Đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006-2010
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2005
17. Cục Thống kê tỉnh Vĩnh Long (2005), Niên giám thống kê tình hình kinh tế - xã hội năm 2000, Vĩnh Long Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê tình hình kinh tế - xã hội năm 2000
Tác giả: Cục Thống kê tỉnh Vĩnh Long
Năm: 2005
18. Cục Thống kê Vĩnh Long (2005), Số liệu thống kê kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Long 1976 - 2005, Vĩnh Long Sách, tạp chí
Tiêu đề: Số liệu thống kê kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Long 1976 - 2005
Tác giả: Cục Thống kê Vĩnh Long
Năm: 2005
20. Cục Thống kê tỉnh Vĩnh Long (2015), Niên giám thống kê tình hình kinh tế - xã hội năm 2015, Vĩnh Long Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê tình hình kinh tế - xã hội năm 2015
Tác giả: Cục Thống kê tỉnh Vĩnh Long
Năm: 2015
21. Phạm Tất Dong (2006), "Thành tựu bước đầu và những vấn đề cấp thiết đặt ra trong đào tạo nhân lực ở nước ta", Tạp chí Cộng sản, (9), tr.19-20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành tựu bước đầu và những vấn đề cấp thiết đặt ra trong đào tạo nhân lực ở nước ta
Tác giả: Phạm Tất Dong
Năm: 2006

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w