Dinh dưỡng protein thực chất là dinh dưỡng axit amin, vì thành phần cơ bản của protein chính là các axit amin, sự tổng hợp protein trong cơ thể gia cầm chỉ có thể tiến hành sau khi đã th
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Thú y
Giảng viên hướng dẫn: PGS TS Trần Thanh Vân
Thái Nguyên, năm 2019
Trang 3i
LỜI CẢM ƠN
Thời gian thực tập là khoảng thời gian mong đợi nhất để cho tất cả các bạn sinh viên có cơ hội đem những kiếm thức đã học tập, tiếp thu trên ghế nhà trường ứng dụng vào thực tiễn sản suất Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu tại giảng đường và thực tập tốt nghiệp tại cơ sở em đã nhận được rất nhiều
sự giúp đỡ của các cơ quan, các cấp lãnh đạo và các cá nhân
Để đáp lại tình cảm đó, qua đây em xin bày tỏ lòng biết ơn, sự kính trọng sâu sắc nhất tới: Ban gián hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi thú y, các thầy cô giáo cùng ban lãnh đạo xã Quyết Thắng – TP Thái Nguyên
Đặc biệt em xin trân thành cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ tận tình của
thầy giáo PGS.TS Trần Thanh Vân và cô giáo TS Nguyễn Thị Thúy
Mỵ đã trực tiếp chỉ đạo, động viên và hướng dẫn em trong suốt thời gian
thực tập tốt nghiệp Tất cả những bài học đó sẽ giúp em vững tin hơn trong cuộc sống cũng như trong công tác sau này Một lần nữa em xin kính chúc gia đình thầy cô sức khỏe, hạnh phúc và thành công hơn trong sự nghiệp trồng người
Tôi xin chân thành cảm ơn người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn tận tình giúp đỡ động viên tôi trong suốt quá trình học tập
và thực hiện đề tài
Cuối cùng em xin trân trọng gửi tới các Thầy giáo, Cô giáo trong hội đồng chấm báo cáo lời cảm ơn chân thành và lời chúc tốt đẹp nhất
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, Ngày 25 tháng 12 năm 2019
Sinh viên
Giàng Seo Quang
Trang 4ii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Một số đặc điểm phân loại Cầu trùng gà 18
Bảng 3.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 31
Bảng 4.1 Quy trình sử dụng vắc - xin 37
Bảng 4.2 Kết quả phục vụ sản xuất 39
Bảng 4.3 Tỷ lệ và cường độ nhiễm Cầu trùng của gà thí nghiệm qua kiểm tra mẫu phân 40
Bảng 4.4 Tỷ lệ và cường độ nhiễm Cầu trùng của gà thí nghiệm qua kiểm tra đệm lót 41
Bảng 4.5 Ảnh hưởng của Vipro - S tới tỷ lệ nhiễm Cầu trùng theo tuần tuổi của gà thí nghiệm 41
Bảng 4.6 Ảnh hưởng của Vitpro - S tới cường độ nhiễm Cầu trùng theo tuần tuổi của gà thí nghiệm 43
Bảng 4.7 Tỷ lệ nuôi sống gà thí nghiệm qua các tuần tuổi 46
Bảng 4.8 Sinh trưởng tích lũy gà thí nghiệm qua các tuần tuổi 47
Bảng 4.9 Thu nhận thức ăn của gà thí nghiệm 49
Bảng 4.10 Tiêu tốn thức ăn của gà thí nghiệm 50
Bảng 4.11 Chỉ số sản xuất (PI) của gà thí nghiệm 51
Bảng 4.12 Chi phí thức ăn và sơ bộ hạch toán thu – chi phí trực tiếp của gà thí nghiệm đến 84 ngày tuổi 51
Trang 5iii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1: Hệ tiêu hoá của gia cầm 10 Hình 2.2 Tóm tắt vòng đời của cầu trùng 23 Hình 4.1 Biểu đồ cường độ nhiễm Cầu trùng qua kiểm tramẫu phân lô thí
nghiệm 45 Hình 4.2 Đồ thị sinh trưởng tích lũy 48
Trang 7v
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC HÌNH iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iv
MỤC LỤC v
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích của đề tài 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 2
1.3.1 Ý nghĩa khoa học 2
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3
2.1.1 Vài nét về Vitpro – S 3
2.1.2 Đặc điểm cấu tạo bộ máy tiêu hóa và sinh lý tiêu hóa của gà 10 2.1.3 Đặc điểm sinh trưởng và những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của gia cầm 13
2.1.4 Bệnh Cầu trùng gà 16
2.1.5 Đặc điểm ngoại hình và khả năng sản xuất của gà Ri, gà Sasso 24
2.2 Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước 27
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 27
2.2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 28
Trang 8vi
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 30
3.1 Đối tượng 30
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 30
3.3 Nội dung nghiên cứu 30
3.4 Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi 30
3.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 30
3.4.2 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 31
3.5 Phương pháp xử lý số liệu 34
PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 35
4.1 Kết quả phục vụ sản xuất 35
4.2 Kết quả chuyên đề nghiên cứu khoa học 40
4.2.1 Tỷ lệ và cường độ nhiễm Cầu trùng của gà thí nghiệm 40
4.2.2 Khả năng sản xuất của gà thí nghiệm 45
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 53
5.1 Kết luận 53
5.2 Tồn tại 54
5.3 Đề nghị 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55 PHỤ LỤC
Trang 91
PHẦN 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Trong chăn nuôi, thức ăn chiếm gần 70% giá thành sản phẩm, được phối hợp từ 2 nhóm nguyện liệu chính đó là nguyên liệu giàu năng lượng
và giàu protein Những vật chất mà cơ thể vật nuôi đòi hỏi gọi là chất dinh dưỡng, dinh dưỡng là một quá trình sinh học nhằm duy trì cơ thể và không ngừng đổi mới những vật chất tạo nên cơ thể, để đặt được năng xuất cao nhất không những phải cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng mà còn phải chú ý đến tỷ lệ thích hợp nhất giữa chúng Do vậy việc xác định mức protein thích hợp và hàm lượng các axit amin thiết yếu cân bằng trong khẩu phần thức ăn là để sử dụng nguồn protein hiệu quả hơn, nâng cao năng xuất, hạ giá thành sản phẩm
Cũng như bất kì loài vật nuôi nào protein là thành phần cấu trúc quan trọng nhất của cơ thể Dinh dưỡng protein thực chất là dinh dưỡng axit amin, vì thành phần cơ bản của protein chính là các axit amin, sự tổng hợp protein trong cơ thể gia cầm chỉ có thể tiến hành sau khi đã thu nhận những thành phần cấu trúc cơ bản của protein là những axit amin Trong số các axit amin, có một số nhất thiết phải đưa vào cơ thể đầy đủ theo nhu cầu vì
cơ thể không tự tổng hợp được Ngoài ra, nhu cầu axit amin còn phụ thuộc vào sự có mặt của các chất khác có trong thức ăn Dẫn theo (Trần Thanh Vân và cs, 2015) [15], người ta thấy rằng hàm lượng gossipol cao sẽ làm giảm khả năng hấp thu lysin Nếu khẩu phần thiếu B12 và S sẽ làm tăng nhu cầu về methionin Thiếu vitamin PP sẽ làm tăng nhu cầu về trytophan Vitamin cũng là một yếu tố nhạy cảm về nhu cầu dinh dưỡng cho gia cầm, thậm chí chỉ thiếu một ít cũng làm giảm sức sản xuất của chúng Để hạn chế được sự phát triển của vi sinh vật gây bệnh, nâng cao được sức đề kháng
Trang 102
của cơ thể, đặc biệt là các bệnh do kí sinh trùng gây ra Trong đó, bệnh Cầu trùng là phổ biến hơn cả với tỷ lệ chết cao, từ 30 - 100%, ngoài ra bệnh có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất gà, tăng tỷ lệ còi cọc, giảm sản lượng trứng
15 - 30% trên gà sinh sản, giảm trọng lượng so với gà khỏe từ 12 - 30 % (Lê Văn Năm, 2004) [12] Xuất phát từ thực tế trên, em tiến hành nghiên
cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung Vitpro - s đến tỷ lệ
nhiễm cầu trùng và khả năng sản xuất của gà Ri lai, nuôi bán chăn thả tại Thái Nguyên”
1.2 Mục đích của đề tài
- Xác định ảnh hưởng của vệc dùng Vitpro - s đến cường độ nhiễm
và ỷ lệ nhiễm cầu trùng ở gà thịt long mầu
- Xác định ảnh hưởng của việc dùng Vitpro - s tới khả năng tăng khối lượng của gà thịt lông mầu
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa khoa học
- Kết quả nghiên cứu đề tài là cơ sở phục vụ nghiên cứu cho CBGV
và sinh viên khoa Chăn nuôi Thú y
Trang 113
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1 Vài nét về Vitpro – S
2.1.1.1 Đặc điểm của Vitpro – S
Vitpro – s là sản phẩm dinh dưỡng cao giúp phòng và điều trị bệnh suy dinh dưỡng với hàm lượng vitamin và amino acid cao Giúp nâng cao sức đề kháng để chống lại bệnh tật
- Thành phần (1 kg): Gồm
Vitamin A 5,000,000IU
Vitamin E 2,000IU
DL – methionine 26,000mg
Vitamin là chất có hoạt tính sinh học cao cần thiết cho các quá trình trao đổi chất của cơ thể sống Với nồng độ thấp nhưng vitmain có vai trò quyết định sự tồn tại của tất cả quá trình sống Vitamin tham gia và cấu trúc của các nhóm enzyme xúc tác các phản ứng sinh hóa trong quá trình đồng hóa, dị hóa, quyết định sự sinh trưởng, sinh sản và tính kháng
bệnh của gia cầm
Nhóm vitamin tan trong mỡ (Vitamin A,E,D 3 ,K 3 )
* Vitamin A (Axeroptol, vitamin chưa chứng khô giác mặt mắt) Vitamin A có vai trò quan trọng trong việc điều hòa trao đổi protein, lipid, glucid, cần thiết cho sự hoạt động bình thường của tuyến giáp trạng,
Trang 12Nguồn vitamin D3: Bột cá, dầu cá, lòng đỏ trứng, thức ăn men VSV, thức ăn xanh, cỏ khô
Nhu cầu vitamin D3: Gà con 2.000 – 2.200 IU/kg, gà đẻ 1.500 IU/kg TĂ
Trang 135
* Vitamin E (Tocopherol, vitamin giúp sinh đẻ)
Trong số 4 vitamin nhóm (α, β, γ, δ) này thì α – tocopheron có ảnh hưởng lớn nhất, vitamin E chống lại chứng bất thụ ử động vật Vitamin E còn được dùng làm chất chống oxy hóa trong thức ăn của gia cầm Vitamin E qua tuyến yên mới kích thích tạo ra các kích dục của cả 2 tính biệt, ngoài ra vitamin E còn ảnh hưởng tới sự phát triển của hệ cơ và
mô liên kết
Nguồn vitamin E: Cỏ xanh, gạo, mỳ, khô đậu tương, bột cá
Nhu cầu vitamin E đối với gia cầm: Gà con 15 – 20 mg/kg TĂ; gà
đẻ 20 – 30 mg/kg TĂ
* Vitamin K3
Viết tắt từ chữ Koagulation – đông vón; cần thiết cho quá trình tổng hợp prothrombin ở gan, để thúc đẩy tiến trình đông máu ở động vật Có tác dụng cầm máu, giảm xuất huyết
Vitamin K được microflora tổng hợp ở manh tràng, nên gia cầm
không thể thiếu vitamin K
Nguồn vitamin K: Rau, cám gạo – mỳ, ngô, cà rốt
Nhu cầu vitamin K: Gà con 2,3 mg; gà đẻ, gà giò 2,2 mg/kg TĂ
Nhóm vitamin tan trong nước (Vitamin B 1,2,3,5,6,9,12 ; Vitamin C)
Vitamin B1 có nhiều trong tự nhiên Nhiều thực vật và vi sinh vật có khả năng tổng hợp vitamin, vì vậy gia cầm thường đực cung cấp đầy đủ vitamin B1 trong thức ăn
Trang 146
Nguồn cung cấp: Vitamin B1 có nhiều trong thức ăn men VSV, trong cám gạo, cám mỳ, mầm của thóc, mỳ, mạch (25 - 120 mg/kg), bột cá (0,8 – 2,0 m/kg)
Nhu cầu: Gà con 2,3 mg; Gà lớn và gà đẻ 1,8 – 2 mg/kg TĂ
* Vitamin B2 (Riboflavin)
Riboflavin tham gia vào thành phần của các enzym hô hấp và trong hợp chất với axit adenozin photphoric nó đóng vai trò quan trọng trong sự trao đổi chất là một chất vân chuyển hydro, do đó nó thúc đẩy sự lớn lên và
Vitamin B3 có nhiều trong các loại thức ăn hạt, nấm men, bột cá, nghèo trong các loại củ quả Nhu cầu đối với gia con và gà giò 11,0 kg; gà
đẻ các gia đoạn 13,2 10 mg/kg thức ăn
* Vitamin B5 (Axit Pantothenic):
Tình trạng thiếu vitamin B5 giống như thiếu vitamin B2 và B3, các lớp biểu bì của da và niêm mạc đường tiêu hóa và hô hấp bị tổn thương, tỷ
lệ ấp nở kém
Ngồn cung cấp: Vitamin B5 có nhiều trong cám gao, mỳ, mạch, bột cá
Trang 15* Axit Folic (Vitamin B9, B11, M)
Chức năng sinh học của axit folic là khả năng oxy hóa – khử của
nó trong chuyển hóa Thiếu axit folic gia cầm chậm lớn, lông mọc kém, biến màu, cổ bị liệt, chân cũng có thể bị yếu cong queo
Nhu cầu vitamin B9 cho gà con 0,6 – 0,9 mg/kg TĂ, gà đẻ là 0,5
- 0,8 mg/kg TĂ Gà tây 1,5 – 1,8 mg/kg TĂ
* Vitamin B12 (Cyanocobalamin)
Ở gia cầm, vitamin B12 giúp phân giải các dạng thức ăn, xây dựng axit nucleic, giúp chuyển hóa các axit amin như: leuxin, lysin, axit glutamic v.v , rất quan trọng trong quá trình trao đổi chất
Giữa B12 và các vitamin khác có ảnh hưởng lẫn nhau Cobalamin giúp chuyển hóa caroten ở gan thành vitamin A cung cấp cho quá trình trao đổi chất ở gia cầm
Vitamin B12 có nhiều trong thức ăn động vật, vi sinh vật
Nhu cầu: ở gia cầm, vitamin B12 được vi sinh vật đường ruột và trong chất độn chuồng tổng hợp làm thỏa mãn 50% yêu cầu này; gà con 12 – 20 mg; gà đẻ 10 – 15 mg/kg TĂ
Trang 168
* Vitamin C (Axit ascobic)
Tham gia quá trình hô hấp tế bào, tăng cường các phản ứng oxy hóa khử, kích thích sự sinh trưởng và đổi mới tổ chức tế bào, tăng cường khả năng tạo huyết sắc tố, thúc đẩy sự đông máu, tăng cường sức đề kháng của
cơ thể, chống stress, tạo điều kiện gia tăng năng suất và phẩm chất trứng, tinh trùng, có tính chất chống oxy hóa trong cơ thể
Vitamin C được tổng hợp trong cơ thể nhưng trong những trường hợp gia cầm bị bệnh hoặc trong tình trạng stress, khi thời tiết nóng, chủng ngừa, cân gà hoặc đàn gà bị bệnh truyền nhiễm thì dùng vitamin
C liều cao giúp cho đàn gà mau chóng ổn định và vượt qua những yếu
tố bất lợi thì nên cung cấp vitamin C qua thức ăn hoặc nước uống cho gia cầm với liều 50 - 100 mg/kg TĂ
Nhu cầu: Gà con 50mg; gà ái đẻ 30 – 60 mg/kg TĂ
Amino axit (DL – Methionin)
Methionine là acid amin quan trọng, có chứa lưu huỳnh (S) có trong thành phần của nhiều polypeptide, chúng là nguồn tạo ra H2SO4
có ý nghĩa quan trọng trong việc loại trừ tác động có hại ở gan của một
số sản phẩm độc hại của sự trao đổi chất
Trong cơ thể động vật, methionine liên quan chặt chẽ đến việc tạo thành và trao đổi choline, vitamin B12 và acid folic Cùng với vitamin này, methionine làm tăng khả năng sử dụng chất béo trong khẩu phần thức ăn của động vật, tham gia quá trình tạo máu, cần thiết cho hoạt động của tuyến giáp trạng, ngăn ngừa độc tố, phát triển lông Nhưng dư thừa methionine trong khẩu phần ăn sẽ làm giảm tốc độ sinh trưởng , làm thay đổi bệnh lý của lách, tụy, gan, thận, ruột non
Methionine là một trong số các acid amin thiết yếu cho động vật, đặc biệt là gia cầm Trong chăn nuôi gia cầm, methionine được phân
Trang 17Bunchasak, 2008) [18]
2.1.1.2 Tác dụng của Vitpro - s đến hiệu quả chăn nuôi
Chống stress, kích thích tăng trưởng, cải thiện cảm giác ngon miệng
Cải thiện sức đề kháng chống lại bệnh tật, tăng cường miễn dịch:
+ Heo nái, bò sữa: Phòng bệnh thiếu vitamin, tăng cường tiết sữa
+ Gia cầm: Kích thích lên mào, đẹp mã, lông mượt, tăng trưởng tốt Tăng sản lượng trứng, dày vỏ, tăng độ bóng của vỏ trứng
+ Cá nuôi thịt: Cải thiện tốt độ tăng trưởng, dày mình, giảm tỷ lệ chết
do nước bẩn (Cá rô phi, cá chép, cá điêu hồng, cá chim, cá trê lai, )
2.1.1.3 Liều lượng dùng của Vitpro - s
+ Gia cầm, ngan, vịt: 20-100g (1000 con/ngày)
Trang 1810
2.1.2 Đặc điểm cấu tạo bộ máy tiêu hóa và sinh lý tiêu hóa của gà
1.Thực quản; 2 Diều; 3 Dạ dày tuyến; 4 Dạ dày cơ; 5 Lá lách;
6 Túi mật; 7 Gan; 8 Các ống mật; 9 Tuyến tụy; 10 Ruột hồi manh tràng; 11 Ruột non; 12 Ruột thừa; 13 Ruột già; 14 ổ nhớp [22]
Hình 2.1: Hệ tiêu hoá của gia cầm
Sự trao đổi chất và năng lượng ở gia cầm cao hơn so với động vật có vú và được bồi bổ nhanh được giữ lại trong ống tiêu hóa không quá 2 – 4 giờ (Hội chăn nuôi Việt Nam, 2001 [1])
Tiêu hóa ở miệng
Gia cầm mổ thức ăn bằng mỏ, một phút mổ 180 - 240 lần, lúc đói mổ nhanh, mỏ mở rộng Mặt trên lưỡi có răng rất nhỏ hóa sừng, hướng về cổ họng để đưa thức ăn về phía thực quản - thị giác và xúc giác kiểm tra tiếp nhận thức ăn, còn vị giác và khứu giác kém hơn
Thiếu ánh sáng gà ăn kém Tuyến nước bọt kém phát triển, thành phần chủ yếu là dịch nhầy Nước bọt có tác dụng thấm trơn thức ăn thuận tiện cho việc nuốt
Tiêu hóa ở diều
Diều gà hình túi ở thực quản chứa được 100 – 120 mg thức ăn Giữa các cơ thắt lại có ống diều để khi gà đói, thức ăn đi thẳng vào phần dưới của thực quản và dạ dày không qua túi diều
Trang 1911
Ở diều thức ăn được làm mềm, quấy trộn và tiêu hóa từng phần do các men và vi khuẩn có trong thức ăn thực vật Thức ăn cứng lưu lại trong diều lâu hơn Khi thức ăn và nước có tỉ lệ 1:1 thì được giữ lại ở diều 5 - 6 giờ Ở diều nhờ men amylaza của nước bọt chuyển xuống, tinh bột được phân giải thành đường đa rồi một phần chuyển thành đường glucoza
Tiêu hoá ở dạ dày
Dạ dày chia ra: Dạ dày tuyến và dạ dày cơ
Dạ dày tuyến: Cấu tạo từ cơ trơn là dạng ống ngắn, có vách dày, khối lượng khoảng từ 3,5 - 6 gam Vách gồm màng nhầy, cơ và mô liên kết Dịch có chứa chlohydric, pepsin và musin Sự tiết dịch diễn ra liên tục, sau khi ăn càng được tăng cường Thức ăn không giữ lâu ở dạ dày tuyến, khi được dịch dạ dày làm ướt, thức ăn chuyển xuống dạ dày cơ nhờ nhịp co bóp đều đặn của dạ dày cơ (không quá một lần/phút)
Dạ dày cơ: Cấu tạo từ cơ vân, có dạng hình đĩa hơi bóp ở phía cạnh
Dạ dày cơ không tiết dịch tiêu hóa mà dịch này từ dạ dày tuyến tiết ra chảy vào dạ dày cơ Thức ăn được nghiền nát bằng cơ học, trộn lẫn và tiêu hóa dưới tác dụng của men dịch dạ dày, enzyme và các vi khuẩn Acid Chlohydric tác động làm cho các pepton và một phần thành các acid amin
Từ dạ dày cơ, các chất dinh dưỡng được truyền vào tá tràng có các men của dịch ruột và tuyến tụy cùng tham gia, môi trường kiềm hóa tạo điều kiện thích hợp cho sự hoạt động của các men phân giải protein và glucid Sỏi và các dị vật trong dạ dày làm tăng tác động nghiền của vách dạ dày Tốt nhất nên cho gà ăn sỏi thạch anh vì không bị phân hủy bởi Acid Chlohydric
Tiêu hoá ở ruột
Ruột non: Đầu trên giáp với dạ dày cơ, đầu dưới giáp với manh tràng Ruột già của gia cầm không phát triển, do trực tràng thô ngắn và hai
Trang 2012
manh tràng đổ vào đoạn đầu trực tràng tạo thành Quá trình cơ bản phân tích men từng bước các chất dinh dưỡng đều được tiến hành chủ yếu ở ruột non Thành ruột cũng có lớp nhung mao nhăn nheo Các tuyến tiêu hóa
phân bố dọc thành niêm mạc ruột:
Dịch ruột gà lỏng, đục, kiềm tính, với độ đặc 1.0076 và chứa các men proteolyse, amonlitic, lypolitic và enterokinaza
Dịch tuyến tụy - pancreatic - lỏng, không màu, hơi mặn, có phản ứng hơi toan hoặc kiềm Dịch này có men tripsin, carboxin peptidaza, mantaza
và lipaza Trong các chất khô của dịch này có các acid amin, lipid và các chất khoáng CaCl2, NaCl, NaHCO3… Gà một năm tuổi, lúc bình thường tuyến tụy tiết ra 0,4 - 0,8 ml/giờ, sau khi 5 - 10 phút lượng tiết tăng gấp 3 -
4 lần, giữ cho đến giờ thứ 3, rồi giảm dần Thành phần thức ăn có ảnh hưởng đến quá trình tiết dịch men của tụy: thức ăn giàu protein nâng hoạt tính proteolyse lên 60 %, giàu lipid tăng hoạt tính của lypolitic, v.v
Mật của gia cầm được tiết liên tục từ túi mật vào đường ruột, lỏng màu sáng hoặc xanh đậm, tính kiềm Mật có vai trò đa dạng trong quá trình tiêu hóa của gia cầm: Gây nên nhũ tương mỡ, hoạt hóa các enzym tiêu hóa của dịch tụy, kích thích làm tăng nhu động ruột, tạo điều kiện hấp thu các chất dinh dưỡng đã được tiêu hóa, đặc biệt là các acid béo mà chúng tạo thành các hợp chất dễ hòa tan Mật ngăn cản việc gây ra các vết loét trên màng nhầy của dạ dày cơ và có tính diệt khuẩn
Ở ruột gluxit được phân giải thành các monosaccarit do men amylaza của dịch tụy, một phần của dịch ruột Phần dưỡng chất không được hấp thu
ở ruột non chuyển xuống manh tràng và van hồi manh tràng của ruột già Ruột già không có tuyến tiết dịch tiêu hóa, chỉ có tế bào chén của màng nhầy tiết ra dịch nhầy Quá trình tiêu hóa trong ruột già phụ thuộc vào
Trang 21Quá trình tiêu hóa trong ruột già một phần do tác dụng của emzyme
ở ruột non đi xuống còn chủ yếu nhờ tác dụng của hệ vi sinh vật Quá trình tiêu hóa cellulose và tiêu hóa protein tạo ra các acid béo bay hơi và các amino acid sẽ được hấp thu ở đây
2.1.3 Đặc điểm sinh trưởng và những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của gia cầm
2.1.3.1 Khái niệm sinh trưởng
Ở sinh vật từ khi hình thành phôi tới khi trưởng thành, khối lượng
và thể tích cơ thể tăng lên Điều này trước tiên là số lượng tế bào tăng lên, các cơ quan bộ phận trong cơ thể đều có sự tăng lên về khối lượng
và kích thước Từ đó, dẫn đến khối lượng và thể tích của cơ thể tăng lên
Sự lớn lên của cơ thể là là do sự tích lũy các chất hữu cơ thông qua việc trao đổi chất
Ngô Giản Luyện (1994) [8]: Trong các tổ chức cấu tạo cơ thể gia cầm thì khối lượng cơ chiếm nhiều nhất: 42- 45 % khối lượng cơ thể Khối lượng con trống luôn lớn hơn con mái (không phụ thuộc vào giống, lứa tuổi
và loại gia cầm) Giai đoạn 70 ngày tuổi khối lượng tất cả các cơ quan của
gà trống đạt 530g, của gà mái đạt 467g
Theo tài liệu của Chambers J R (1990) [19], thì tác giả Mozan (1997) đã đưa ra khái niệm: Sinh trưởng cơ thể là tổng hợp sự sinh trưởng của các bộ phận như thịt, xương, da Những bộ phận này không chỉ khác
Trang 2214
nhau về tốc độ sinh trưởng mà còn phụ thuộc vào chế độ dinh dưỡng và nhiều yếu tố khác
2.1.3.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của gia cầm
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của gà với những mức độ khác nhau như di truyền, tính biệt, tốc độ mọc lông, các điều kiện môi trường, nuôi dưỡng chăm sóc
Ảnh hưởng của dòng, giống
Tốc độ sinh trưởng cuả gia cầm phụ thuộc vào loài, giống, dòng, cá thể.Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Đăng Vang và cs (1999) [14], khi nuôi gà thịt Tam Hoàng ở 85 ngày tuổi cho thấy dòng 882 có khối lượng trung bình đạt 1418 g trong khi dòng Jiangcun chỉ đạt 1248 g
Các loài gia cầm khác nhau thì có khả năng sinh trưởng hoàn toàn
khác nhau Trần Thanh Vân và cs (1998) [15], tốc độ tăng trưởng tương
đối của một số giống gà ở các giai đoạn tuổi là hoàn toàn khác nhau Ở tháng thứ nhất của gà 150 %, của vịt là 180 %, của ngỗng là 170 %, ở tháng thứ năm lần lượt là 20 %, 4 % và 7 %
Ảnh hưởng của tính biệt
Ở gia cầm tốc độ sinh trưởng giữa 2 giới có sự khác nhau về trao đổi chất, đặc điểm sinh lý, tốc độ sinh trưởng và khối lượng cơ thể Thường thì con trống có tốc độ sinh trưởng mạnh hơn con mái Sự khác nhau này được giải thích thông qua tác động của các gen liên kết giới tính
Theo kết quả nghiên cứu của Trần Thanh Vân và cs.( 2015) [15]:
Ở gà hướng thịt, giai đoạn 60 – 70 ngày tuổi, con trống nặng hơn con
mái 180 – 250g
Trang 2315
Ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng
Chế độ dinh dưỡng ảnh hưởng đến từng mô khác nhau, gây nên sự biến đổi trong quá trình phát triển của mô này đối với mô khác, dinh dưỡng còn ảnh hưởng đến biến động di truyền về sinh trưởng
Theo Chambers J R (1990) [19], thì tương quan giữa trọng lượng của gà và hiệu quả sử dụng thức ăn khá cao (r = 0,5 – 0,9) Để phát huy khả năng sinh trưởng của gia cầm không những cần cung cấp đủ năng lượng, thức ăn theo nhu cầu mà còn phải đảm bảo cân bằng protein, axit amin và năng lượng Do vậy, khẩu phần ăn cho gà phải hoàn hảo trên cơ sở tính toán nhu cầu của gia cầm
Ảnh hưởng của môi trường
Điều kiện môi trường có ảnh hưởng lớn đến quá trình sinh trưởng của gia cầm Nếu điều kiện môi trường là tối ưu cho sự sinh trưởng của gia cầm thì gia cầm khỏe mạnh, lớn nhanh, nếu điều kiện môi trường không thuận lợi thì tạo điều kiện cho vi sinh vật phát triển gây bệnh ảnh hưởng đến sức khỏe gia cầm
Nhiệt độ cao làm cho gà sinh trưởng chậm, tăng tỷ lệ chết, gây thiệt hại kinh tế lớn khi chăn nuôi gà broiler theo hướng công nghiệp ở vùng khí hậu nhiệt đới (Wesh Bunr K W ET – AT, 1992 [20])
Chế độ chiếu sáng cũng ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng vì gà rất nhạy cảm với ánh sáng, do vậy chế độ chiếu sáng là một vấn đề cần quan tâm Ngoài ra trong chăn nuôi cũng bị tác động bởi nhiều yếu tố khác nhau như: Độ ẩm, độ thông thoáng, tốc độ gió lùa và ảnh hưởng của mật độ nuôi nhốt đến khả năng sinh trưởng của gia cầm
Trang 2416
Sinh trưởng của gia súc, gia cầm luôn gắn với phát dục, đó là quá trình thay đổi chất lượng, là sự tăng lên và hoàn chỉnh về tính chất, chức năng hoạt động của cơ thể Hai quá trình đó liên quan mật thiết
và ảnh hưởng lẫn nhau tạo nên sự hoàn thiện cơ thể gia súc, gia cầm Sinh trưởng và phát dục của cơ thể gia súc, gia cầm tuân theo tính quy
luật và theo giai đoạn
2.1.4 Bệnh Cầu trùng gà
2.1.4.1 Những đặc điểm chung về bệnh Cầu trùng
Bệnh Cầu trùng gà nói riêng và bệnh Cầu trùng gia súc, gia cầm nói chung là một bệnh phổ biến trên khắp thế giới Nó được A Luvenhuch phát hiện từ năm 1632 tức là cách đây khảng 379 năm và cùng thời gian nghiên cứu về dịch tễ, bệnh lý, miễn dịch và thuốc điều trị đã được các nhà khoa học mọi thời đại dày công nghiên cứu và
khám phá
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs, (1999) [4], bệnh Cầu trùng gà được coi là vấn đề lớn thứ 2 sâu bệnh do vi trùng gây nên Bệnh Cầu trùng gà có vòng đời ngắn (5-7 ngày) và không cần ký chủ trung gian Bệnh Cầu trùng gây thiệt hại lớn cho chăn nuôi gà nhất là chăn nuôi
gà công nghiệp mật độ cao ( tỷ lệ chết từ 50 – 70 %) Gà con sau khi
bị mắc bệnh rất khó hồi phục, chậm lớn, còi cọc, ở gà trưởng thành chủ yếu là vật mang trùng và giảm tỷ lệ đẻ
Gà ở mọi lứa tuổi đều bị nhiễm cầu trùng, nhưng ở mỗi lứa tuổi mức độ nhiễm khác nhau Song bệnh thường thấy nhất ở gà con từ 10
- 60 ngày tuổi, nặng ở gần 15 - 45 ngày tuổi Trong chăn nuôi gia cầm hiện tượng cầu trùng rất đa dạng, nó luôn gắn liền với vệ sinh: Chuồng trại ẩm thấp, kém thông thoáng, vệ sinh chăn nuôi không đảm bảo, mật
Trang 25Đại đa số các tác giả đều cho rằng nguồn bệnh là những
gà đã khỏi ốm nhưng vẫn mang trùng, những gà này không biểu hi ện tri ệu ch ứng và hàng ngày, hàng gi ờ thường xuyên
bài xu ất Oocyst Cầu trùng qua phân ra ngoài môi trư ờng
Oocyst được phát tán r ộng rãi ở ngoài t ự nhiên và quá trình
sản sinh bào t ử bắt đ ầu đ ều t ạo thành các Oocyst có khả năng
gây b ệnh
- Tác nhân gây b ệnh
Trải qua quá trình nghiên c ứu, các nhà khoa h ọc đã chỉ
ra tác nhân gây b ệnh Cầu trùng gia c ầ m v ới nh ững đ ặc đi ểm sinh học của chúng
+ Eimeria maxima chủ yếu ký sinh ở đoạn gi ữa ruột non Oocyst có màu hơi vàng, v ỏ Oocyst hơi s ần sùi là những đ ặc
điểm dễ nhận thấy khi phân loại
+ Eimeria tenella thường ký sinh ở manh tràng, Oocyst
màu xanh nh ạt Đây là loài gây b ệnh mạnh nh ất ở gà con Th ời gian sinh bào t ử dao động tương đ ối l ớn (18 - 48 giờ)
+ Eimeria acervulina có hình dạng Oocyst gần gi ống E
maxima nhưng kích thư ớc nhỏ hơn M ột đ ặc điểm có ý nghĩa
quan trọng v ề phân loại t ừ thời gian sinh bào t ử 13 - 17 gi ờ ở nhi ệt độ 28 - 30 oC (ng ắn nh ất so với th ời gian sinh bào t ử của các loài C ầu trùng khác)
Trang 26Sức gây bệnh
Kích thước (µm) Hình thái Màu sắc
Đầu ruột non
Cuối ruột non
Giữa ruột non
Giữa ruột non
2/3 đầu ruột non
Giữa ruột non
Đầu ruột non
+ Eimeria mitis có đặc đi ểm d ễ phân bi ệt là Oocyst dạng
tròn, th ời gian sinh s ản bào t ử biến động tương đối l ớn (24 -
48 gi ờ) Thường ký sinh ở đầu ruột non Sau khi nhi ễm vào cơ thể 36 gi ờ, trong các t ế bào bi ểu bì nhung mao th ấy nh ững thể phân l ập thành thục, thường có 6 - 21 th ể phân đoạn và các giao t ử được hình thành vào ngày th ứ 5
+ Eimeria necatrix là loài có đ ộc lực cao song mức độ phổ biến và kh ả năng gây b ệnh th ấp hơn loài E tenella , vị trí gây b ệnh ở ruột non và c ả manh tràng, nhưng Oocyst E
necatrix có thời gian sinh s ản bào t ử ít biến động và không
bao gi ờ tới 48 giờ như E tenella
Trang 2719
+ Eimeria brunetti là loài Cầu trùng có độc lực cao, thường ký sinh
ở ruột già Đây là loài có thời gian sinh sản bào tử luôn ổn định 24 giờ Thời kỳ phát triển nội sinh chủ yếu trong ruột già, đôi khi ký sinh ở phần cuối ruột non, trực tràng, lỗ huyệt
+ Eimeria mivatia: Loài Cầu trùng này thường gây bệnh ở bề mặt
niêm mạc ruột, Oocyst có kích thước chiều ngang nhỏ nhất trong số 3 loài Cầu trùng gà có hạt cực
+ Eimeria paraecox có Oocyst hình bầu dục, nguyên sinh chất dạng
tròn có nhân ở giữa, hạt cực không rõ là đặc điểm khác biệt so với các loài Cầu trùng khác cùng có vị trí ký sinh ở đầu ruột non
+ Eimeria hagani là loài có độc lực yếu, thương ký sinh ở phần đầu ruột non Oocyst có thời gian sinh sản bào tử ổn định nhất so với Oocyst
các loài Cầu trùng ký sinh ở phần đầu ruột non (48 giờ)
- Con đường truyền lây
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2008) [5], tiêu hóa là con đường
truyền lây duy nhất mà Oocyst Cầu trùng có thể xâm nhập vào cơ thể gà để
gây bệnh Song Cầu trùng có thể lây nhiễm theo 2 cách:
+ Lây nhiễm trực tiếp: Gà bệnh thải Cầu trùng ra ngoài môi trường
qua phân, do đó Oocyst sẽ dễ dàng được phát tán trên khắp nền
chuồng, máng ăn, máng uống Tập tính của gà là nhặt bới, tìm kiếm những mảnh thức ăn thừa, chất độn ở nên chuồng nên dễ nuốt phải
Oocyst có sức gây bệnh
+ Lây nhiễm gián tiếp: Qua vật môi giới trung gian truyền bệnh như các dụng cụ chăn nuôi, giày dép, ủng, phương tiện vận chuyển, đã mang
Oocyst cầu trùng từ bên ngoài khu vực chuồng nuôi vào Ngoài ra, các côn
trùng gặm nhấm cũng là những nguồn mang Oocyst từ khu vực chăn nuôi
khác vào chuồng nuôi Điều này được Lê Minh (2008) [10] làm sáng tỏ khi
Trang 2820
nghiên cứu khả năng mang Oocyst cầu trùng của các động vật có ở xung quanh chuồng nuôi Tất cả các động vật và côn trùng đều có khả năng mang mầm bệnh trong đó ở kiến là 27,27 %, ruồi là 22,22 % và gián là 16,67 %
Theo Phạm Văn Khuê và cs (1996) [3], khi Oocyst bị ruồi nuốt vào chúng
vẫn còn sống và còn khả năng gây bệnh trong vòng 24h
Về sự biến động của bệnh theo mùa vụ, Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2008) [5] sau khi tập hợp các nghiên cứu của một số tác giả đã rút ra kết luận: Bệnh Cầu trùng lợn phân bố không đồng đều qua các tháng trong năm Vào những tháng có khí hậu ẩm ướt, mưa nhiều, nhiệt độ thích hợp từ 18 – 35° C bệnh thường xuất hiện và dễ bùng phát hơn các tháng khác Vì vậy, ở nước ta mùa xuân và mùa hè là 2 mùa có tỷ lệ nhiễm Cầu trùng cao hơn mùa đông và mùa thu
- Sinh bệnh học
Vấn đề sinh bệnh học đã có nhiều tác giả đi sâu nghiên cứu về nhiều mặt Qúa trình sinh bệnh học trước hết do tác động trực tiếp của mầm bệnh qua các giai đoạn phát triển nội sinh trong cơ thể gà làm cho các tế bào biểu
bì bị phá hủy hàng loạt, các mạch quản, thần kinh bị hủy hoại, tạo điều kiện thuận lợi cho hệ vi sinh vật phát triển và gây bệnh thêm cho gà
Mặt khác do sự phá hủy hành loạt các tế bào đã gây ra các ổ hoại tử lớn cho lớp niêm mạc làm cho nhiều đoạn ruột không tham gia vào quá trình tiêu hóa, con vật thiếu máu trầm trọng Protein tổng số của huyết thanh
và đường huyết giảm, một số enzyme bị giảm hoạt tính nhất là hoạt tính Phosphataza kiềm ở niêm mạc ruột non, do đó gà mắc bệnh Cầu trùng sẽ rối loạn quá trình hấp thu các acid amin, giảm sức lớn và sự phát triển Dưới tác động của Cầu trùng làm cho các mô bào đường tiêu hóa bị tổn thương,
biến đổi tạo điều kiện cho các vi khuẩn có hại xâm nhập như Clostridium
perfingens, Salmonella cùng với một số bệnh ghép khác làm cho bệnh
Trang 2921
càng nặng và phức tạp thêm E.coli gây bại huyết luôn là bạn đồng hành của Cầu trùng Trong đó Cầu trùng đóng vai trò quyết định, E.coli đóng
vai trò thúc đẩy Trường hợp gà bị Cầu trùng cấp thì 100 % số gà bị
bệnh đều bội nhiễm với E.coli bại huyết
Triệu chứng và bệnh tích
* Bệnh gây ra do Eimeria tenella:
Đây là loài chỉ gây bệnh ở manh tràng, là một trong phần lớn những bệnh cầu trùng dễ dàng nhận ra nhất Bệnh phát triển nặng hay nhẹ còn tùy thuộc vào số lượng noãn nang mà gà ăn phải Nếu nhiễm ít, gà có thể tạo
ra miễn dịch chống được bệnh, nhiễm nhiều bệnh sẽ phát ra thành ổ dịch lớn, nhanh, gây tỷ lệ chết cao, 4 ngày sau khi ăn phải noãn nang có biểu hiện triệu chứng: Xù lông, ủ rũ, chậm chạp, phân đỏ (có máu) hoặc sáp nâu
Do quá trình phân chia noãn nang ở thế hệ thứ hai làm rách thành của tế bào mang tràng gây xuất huyết Nếu xuất huyết ít thì máu + phân thành màu sáp (trường hợp này thường ở gà lớn nhiều hơn gà con)
+ Mổ khám bệnh tích:
Cầu trùng manh tràng: Theo Phạm Sỹ Lăng và cs, (2001) [6] nếu
do E tenella ký sinh, manh tràng sưng rất to, bên ngoài có màu nâu
đen hoặc đen, trong lòng manh tràng chứa đầy máu tươi lẫn trong chất chứa màu đen, máu có thể đông thành những cục lổn nhổn, vì thế phân
gà luôn lẫn máu Hậu môn ướt, lông bết, xung quanh cơ vòng hậu môn
có những điểm xuất huyết
Vì vậy, nếu gà bị thiếu vitamin K thì khả năng xuất huyết kéo dài gây nên chết Sau khi bệnh, gà tạo được miễn dịch chống lại sự tái
nhiễm lần sau
Trang 3022
* Bệnh gây ra do Eimeria necatrix
Đây là thể trầm trọng của bệnh cầu trùng ở 2/3 phía trên của ruột non Sau khi các hạt bào tử xuyên vào lớp biểu mô, nó cứ trú ở phần sâu của thành ruột Một số lượng lớn thế hệ phân chia thứ hai thành thục ở tế bào dưới lớp tế bào biểu mô Nó phá hủy tế bào và gây xuất huyết Quá trình sinh sản hữu tính lại xảy ra ở manh tràng và như vậy các nang bào lại
có ở phần trên của đường tiêu hóa Triệu chứng biểu hiện: Ủ rũ, chậm chạp,
xù lông, sã cánh, tiêu chảy phân nhão, đôi khi có máu
+ Bệnh tích mổ khám:
- Ruột non sưng to quá mức, mất khả năng nhu động
- Bề mặt niêm mạc ruột có nhiều điểm trắng, đỏ: Màu trắng là
những quần thể bào tử phân chia (Schizont), còn màu đỏ là do xuất huyết
thành đường tiêu hóa Ngoài ra trong đường tiêu hóa còn có dịch nhầy với máu
* Bệnh gây ra do Eimeria acervulina
+ Triệu chứng Eimeria acervulina chỉ gây ra ở phần trước của
đường tiêu hóa Có một số trường hợp bệnh trải dài tới 1/2 đường tiêu hóa Mầm bệnh chỉ ký sinh ở những tế bào bề mặt Vì vậy, bệnh chỉ xảy
ra ở thể nhẹ với một số triệu chứng: Giảm trọng lượng, tiêu chảy phân trắng, phân sống
Bệnh không gây chết gà nên thường có tâm lý chủ quan Hậu quả gây thiệt hại kinh tế rất lớn do làm tăng tiêu tốn thức ăn (FCR)
+ Mổ khám bệnh tích thấy:
- Có những vệt trắng ở phần ruột non - tá tràng
- Niêm mạc ruột non (kế phần tá tràng) dầy lên, phù và sung huyết đỏ
- Có một số điểm trắng và đỏ nhỏ (do bào tử phân chia gây viêm đỏ)
Trang 3123
* Bệnh gây ra do Eimeria maxima
+ Triệu chứng: Đây cũng là loài gây bệnh nhẹ, chủ yếu ở đoạn giữa
và 1/2 đoạn cuối của ruột non Mầm bệnh chỉ ký sinh ở bề mặt tế bào biểu
mô gây ra một số triệu chứng: Giảm trọng lượng, tiêu chảy phân trắng, gà
đẻ giảm và vỏ trứng mỏng
+ Bệnh tích mổ khám thấy:
- Có nhiều điểm trắng trên niêm mạc ruột (có thể nhìn thấy qua bề mặt lớp thanh dịch), niêm mạc ruột dày lên
* Bệnh gây ra do Eimeria brunetti
Bệnh do E brunetti thường gây bệnh tích ở phần sau của đường tiêu hóa như ở cổ của manh tràng, kết tràng và trực tràng
- Ở kết tràng phần lớn những đám có điểm trắng Nói chung người
ta ít thấy triệu chứng của loài này, sưng đường tiêu hóa và gây xuất huyết với mức độ khác nhau (xuất huyết điểm)
Ngoài 5 loại Eimeria trên, bốn loại E mitis, E mivati, E hagani, E
praecox thì ít gây bệnh và nếu có gây bệnh thì thiệt hại kinh tế không cao
Vòng đời của Cầu trùng
(Trophotozit)
Schizontes
Tế bào đực (Tiểu phối tử)
Tế bào cái (Đại phối tử)
Hình 2.2 Tóm tắt vòng đời của cầu trùng
Trang 3224
Vòng đời Cầu trùng gà chia làm 2 giai đoạn:
+ Giai đoạn ngoài tự nhiên: Noãn nang được thải theo phân ra ngoài, gặp điều kiện thuận lợi về nhiệt độ, độ ẩm, noãn nang phát triển thành bào
tử Lúc đó trở thành noãn nang có khả năng gây bệnh Theo (Bhurtei J.E,
1995) [17], có từ 70 % - 80 % Oocyst thải ra vào ban ngày, tập trung
khoảng thời gian từ 9 giờ sáng đến 13 giờ chiều, mặc dù lúc này chỉ có
25 % lượng phân thải ra
+ Giai đoạn trong cơ thể ký chủ: Gà nuốt noãn nang gây nhiễm vào
tới ruột, noãn nang vỡ ra phóng ra 4 bào tử gọi là Trophotozit bám vào tế bào biểu mô ruột giải triển thành Schizogoit rồi phát triển thành Merozoit,
thành tế bào đực và cái Chúng kết hợp với nhau thành hợp tử, hợp tử sinh
ra noãn nang Thời gian hoàn thành vòng đời từ 5 – 7 ngày
2.1.5 Đặc điểm ngoại hình và khả năng sản xuất của gà Ri, gà Sasso
2.1.5.1 Đặc điểm sinh học và khả năng sản xuất của gà Ri
Gà trống: Màu lông phổ biến là đỏ thẫm, đầu lông cánh và lông đuôi
có lông đen ánh xanh, ngoài ra còn có các màu: Trắng, hoa mơ đốm trắng Mào cờ, mào tích đốm đỏ tươi rất phát triển
Gà Ri có da màu vàng là chủ yếu, một số da trắng chân 4 ngón, có hai hàng vảy màu vàng xen lẫn màu đỏ tươi (Lê Hồng Mận và cs, 2001) [9]
Trang 3325
Khả năng sản xuất
Dẫn theo Trần Thanh Vân và cs (2015) [15], các kết quả nghiên cứu được công bố của Nguyễn Viết Ly, 2001; Át lát vật nuôi, 2004; Nguyễn Đăng Vang, Nguyễn Thanh Sơn, 2000; Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2006 thì:
Khối lượng mới nở là 30 – 31 g; 6 tháng tuổi gà mái là 1130 g, ở gà trống là 1636 g; đến 12 tháng tuổi gà mái là 1246 g, ở gà trống là 2735 g Thịt thơm ngon màu trắng
Thành thục về tính sớm: Gà trống 2 – 3 tháng tuổi đã biết gáy và đạp mái, gà mái 4 tháng tuổi đã bắt đầu đẻ trứng
Số lượng trứng/lứa/mái từ 13 – 15 quả Năng suất trứng có thể đạt từ
70 – 125 quả Tỷ lệ trứng có phôi đạt 92,6%, tỷ lệ nở/trứng có phôi là 78%,
tỷ lệ gà con loại I đạt 94,1%
Gà thích nghi với điều kiện nuôi bán chăn thả, không xuất hiện mổ cắn
Gà nuôi thịt đến 12 tuần tuổi: Tỷ lệ nuôi sống đạt 95,7%, khối lượng con trống 1140,70 g, con mái 940,50 g Tỷ lệ thân thịt chung cho trống mái