1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Ảnh hưởng của bổ sung chế phẩm milk feed đến khả năng sinh trưởng, chuyển hóa thức ăn và khả năng kháng bệnh của lợn thịt nuôi tại trại chăn nuôi lợn trường đại học nông lâm thái nguyên

58 47 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 1,87 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

--- HÀ DUY CHIẾN Tên đề tài: ẢNH HƯỞNG CỦA BỔ SUNG CHẾ PHẨM MILK FEED ĐẾN KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, CHUYỂN HÓA THỨC ĂN VÀ KHẢ NĂNG KHÁNG BỆNH CỦA LỢN THỊT NUÔI TẠI TRẠI CHĂN NUÔI LỢN TRƯỜN

Trang 1

-

HÀ DUY CHIẾN Tên đề tài:

ẢNH HƯỞNG CỦA BỔ SUNG CHẾ PHẨM MILK FEED ĐẾN KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, CHUYỂN HÓA THỨC ĂN VÀ KHẢ NĂNG KHÁNG BỆNH CỦA LỢN THỊT NUÔI TẠI TRẠI CHĂN NUÔI LỢN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y

Khóa học: 2015 - 2019

Thái Nguyên, năm 2019

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y

Khóa học: 2015 - 2019 Giảng viên hướng dẫn: TS Trần Văn Thăng

Thái Nguyên, năm 2019

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Qua quãng thời gian học tập và rèn luyện tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên cũng như trong thời gian thực tập tại cơ sở, tôi đã nhận được sự giúp đỡ rất nhiệt tình và quý báu của Ban Giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y cùng toàn bộ các thầy cô trong khoa Nhân dịp này tôi xin bầy tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến:

Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y, trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành khóa học và thực tập tốt nghiệp đúng thời gian quy định

Tập thể các thầy cô giáo trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã đào tạo tôi trong suốt thời gian học tập tại trường

Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc đến sự quan tâm và hướng

dẫn rất tận tình và đầy trách nhiệm của thầy hướng dẫn TS Trần Văn Thăng

Nhân dịp này, tôi cũng xin bầy tỏ lòng biết ơn chân thành tới gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã thường xuyên tạo mọi điều kiện giúp đỡ, động viên tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận này

Cuối cùng tôi xin chúc các thầy cô giáo mạnh khỏe, hạnh phúc, đạt nhiều thành tích trong giảng dạy và nhiều thành công trong nghiên cứu khoa học

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, Ngày 2 tháng 12 năm 2019

Sinh viên

Hà Duy Chiến

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 20

Bảng 3.2 Thành phần dinh dưỡng thức ăn thí nghiệm 21

Bảng 4.1 Khối lượng của lợn ở các thời điểm thí nghiệm (kg/con) 24

Bảng 4.2 Sinh trưởng tuyệt đối của lợn thí nghiệm (g/con/ngày) 27

Bảng 4.3 Sinh trưởng tương đối của lợn thí nghiệm (%) 29

Bảng 4.4 Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng của lợn thí nghiệm 31

Bảng 4.5 Tiêu tốn NLTĐ/kg tăng khối lượng của lợn thí nghiệm 32

Bảng 4.6 Tiêu tốn protein/kg tăng khối lượng của lợn thí nghiệm 34

Bảng 4.7 Chi phí thức ăn/kg tăng khối lượng cho một lợn thí nghiệm 36

Bảng 4.8 Tình hình mắc bệnh của lợn trong thời gian thí nghiệm 38

Bảng 4.9 Kết quả điều trị bệnh cho lợn thí nghiệm 39

Trang 5

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 4.1 Đồ thị sinh trưởng tích lũy của lợn thí nghiệm 26Hình 4.2 Đồ thị sinh trưởng tuyệt đối của lợn thí nghiệm 27Hình 4.3 Đồ thị sinh trưởng tương đối của lợn thí nghiệm 29Hình 4.4 Đồ thị so sánh tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng của lợn thí nghiệm 31Hình 4.5 Đồ thị so sánh tiêu tốn NLTĐ/kg tăng khối lượng của lợn thí nghiệm 33Hình 4.6 Đồ thị so sánh tiêu tốn protein/kg tăng khối lượng của lợn thí nghiệm 34Hình 4.7 Đồ thị so sánh chi phí thức ăn/kg tăng khối lượng của lợn thí nghiệm 35

Trang 7

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC BẢNG ii

DANH MỤC CÁC HÌNH iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv

MỤC LỤC v

Phần 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu của đề tài 2

1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3

2.1.1 Sinh lý tiêu hóa của lợn và hệ vi sinh vật đường ruột của lợn 3

2.1.2 Sự sinh trưởng và các chỉ tiêu đánh giá sức sinh trưởng của lợn 5

2.1.3 Chế phẩm sinh học và ứng dụng chế phẩm sinh học trong chăn nuôi 6

2.1.4 Thành phần chế phẩm sinh học Milk feed 12

2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 13

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 13

2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 16

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19 3.1 Đối tượng nghiên cứu 19

3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 19

3.3 Nội dung nghiên cứu 19

3.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 19

3.4.2 Phương pháp chăm sóc nuôi dưỡng lợn thí nghiệm 20

3.4.3 Các chỉ theo dõi và phương pháp tính toán các chỉ tiêu 21

3.4.4 Phương pháp xử lý số liệu 23

Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 24

Trang 8

4.1 Khả năng sinh trưởng của lợn thí nghiệm 24

4.1.1 Sinh trưởng tích lũy của lợn thí nghiệm 24

4.1.2 Sinh trưởng tuyệt đối của lợn thí nghiệm 26

4.1.3 Sinh trưởng tương đối của lợn thí nghiệm 28

4.2 Khả năng chuyển hóa thức ăn của lợn thí nghiệm 30

4.2.1 Tiêu tốn thức ăn cho kg tăng khối lượng của lợn thí nghiệm 30

4.2.2 Tiêu tốn năng lượng trao đổi/kg tăng khối lượng của lợn thí nghiệm 32

4.2.3 Tiêu tốn protein/ kg tăng khối lượng của lợn thí nghiệm 34

4.2.4 Chi phí thức ăn/kg tăng khối lượng cho một lợn thí nghiệm 35

4.3 Khả năng kháng bệnh của lợn thí nghiệm 37

Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 40

5.1 Kết luận 40

5.2 Đề nghị 40

TÀI LIỆU THAM KHẢO 41

Trang 9

Phần 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Những năm gần đây, men vi sinh đã được nhiều hộ chăn nuôi lợn sử dụng để bổ sung vào thức ăn cho hiệu quả rất rõ rệt cả về mặt lợi nhuận cũng như giảm thiểu ô nhiễm môi trường

Chế phẩm sinh học Milk feed được sản xuất tại Hàn Quốc Milk feed

là chế phẩm sinh học được dùng làm thức ăn bổ sung bao gồm hỗn hợp các vi sinh vật lên men hữu hiệu và sản phẩm phụ nông nghiệp như cám gạo và bột ngô Khi dùng chế phẩm này bổ sung vào thức ăn chăn nuôi có tác dụng làm tăng năng suất chăn nuôi, tăng hiệu quả chuyển hóa thức ăn và tăng sức đề kháng của vật nuôi đối với bệnh

Thành phần của Milk feed gồm có: Nhóm vi khuẩn Lactobacillus bao gồm: Pediococcus acidilactici, L plantarum, L acidophilus, Bacillus coagulans Nhóm này có tác dụng cung cấp các men tiêu hóa tinh bột, tiêu

hóa protein; sản sinh ra các loại kháng sinh tự nhiên; ngăn chặn quá trình gắn kết của các vi sinh vật có hại vào biểu mô đường tiêu hóa của vật nuôi và sản sinh ra các axit hữu cơ nên có tác dụng phòng bệnh rất hiệu quả Nhóm nấm

men bao gồm: Saccharomyces boulardii và Saccharomyces cerevisiae Nhóm

này có tác dụng là nguồn cung cấp protein mấm men chất lượng cao, cung cấp vitamin nhóm B, tăng tính thèm ăn của vật nuôi và tăng khă năng tiêu hóa

thức ăn Nhóm vi khuẩn Bacillus bao gồm: Bacillus pumilus, Bacillus licheniformis, Bacillus subtilis Nhóm vi khuẩn này có tác dụng đối kháng với

nhóm vi sinh vật có hại trong đường ruột và có khả năng sản sinh ra nhiều

loại enzym tiêu hóa

Mặc dù chế phẩm sinh học Milk feed đã được thử nghiệm và dùng đại trà trong chăn nuôi lợn và chăn nuôi gia cầm tại Hàn Quốc đem lại hiệu quả kinh tế cao trong chăn nuôi vì làm tăng khối lượng nhanh, giảm tiêu tốn thức

Trang 10

ăn và cảm nhiễm bệnh tật, nhưng sản phẩm này vẫn chưa được thử nghiệm

và dùng trong chăn nuôi lợn và gia cầm trong điều kiện chăn nuôi của Việt Nam Vì vậy, nghiên cứu sử dụng chế phẩm sinh học Milk feed trong chăn nuôi lợn thịt ở nước ta là một đặt hàng của công ty sản xuất chế phẩm này tại Hàn Quốc nhằm chỉ rõ cơ sở khoa học và khuyến cáo người chăn nuôi lợn thịt ứng dụng sản phẩm này trong thực tiễn chăn nuôi lợn để đem lại hiệu quả kinh tế cao Xuất phát từ thực tiễn nếu trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề

tài: “Ảnh hưởng của bổ sung chế phẩm milk feed đến khả năng sinh

trưởng, chuyển hóa thức ăn và khả năng kháng bệnh của lợn thịt nuôi tại trại chăn nuôi lợn Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”

1.2 Mục tiêu của đề tài

Xác định được ảnh hưởng của việc bổ sung chế phẩm sinh học Milk feed đến khả năng sinh trưởng, chuyển hóa thức ăn và khả năng kháng bệnh của lợn thịt nuôi tại trại chăn nuôi lợn Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

1.3.1 Ý nghĩa khoa học

Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở khoa học về việc ứng dụng chế phẩm sinh học Milk feed trong chăn nuôi lợn thịt Đây là tài liệu có ý nghĩa khoa học quan trọng, giúp cho giảng viên, sinh viên và đặc biệt là người chăn nuôi lợn tham khảo, sử dụng chế phẩm này trong thực tiễn chăn nuôi để tăng năng suất vật nuôi

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần đưa ra những bằng chứng khoa học và khuyến cáo thuyết phục cho người chăn nuôi trong việc sử dụng chế phẩm sinh học Milk feed đối với chăn nuôi lợn thịt

Trang 11

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài

2.1.1 Sinh lý tiêu hóa của lợn và hệ vi sinh vật đường ruột của lợn

2.1.1.1 Sinh lý tiêu hóa của lợn

Lợn là loài gia súc ăn tạp với dạ dày trung gian giữa dạ dày kép và dạ dày đơn

Bộ máy tiêu hóa lợn bao gồm: miệng, hầu, thực quản, dạ dày, ruột non, ruột già

Ở miệng trong nước bọt tiết ra men amilaza để tiêu hóa tinh bột, vì lợn

ăn nhanh nuốt liên tục nên tiêu hóa ở miệng là rất ít mà chủ yếu là tẩm ướt thức ăn rồi đẩy xuống dạ dày, ruột để tiêu hóa

Dạ dày tiết ra dịch vị, các men tiêu hóa, khi thức ăn xuống dạ dày cơ trơn nhào trộn thức ăn, cùng với đó là các men tiêu hóa ngấm vào thức ăn Men pepsinogen nhờ tác dụng của HCl trở thành pepsin hoạt động, men này thủy phân protid thành axit amin và pepton để dạ dày và ruột non hấp thu Ở

dạ dày lợn nhu động yếu nên thức ăn có hiện tượng xếp lớp, do vậy những thức ăn bên ngoài được tiêu hóa trước Hàm lượng HCl trong dịch vị tăng dần lên để dần đạt tới sự ổn định gắn liền với sự hoàn chỉnh về cấu tạo và chức năng của dạ dày lợn Ở lợn con hàm lượng HCl là 0,005 - 0,15%, lợn 90 ngày tuổi 0,2 - 0,25% còn ở lợn trưởng thành hàm lượng HCl là 0,35 - 0,4% (Nguyễn Thiện và cs, 1998) [12]

Ruột non của lợn dài 14 - 18 m, tiêu hóa ở ruột non chủ yếu do tác dụng của dịch tiêu hóa như: dịch tụy, dịch ruột, dịch mật và các dịch tiết ra từ

cơ quan tiêu hóa đưa xuống Lợn có khối lượng 100kg tiết 8 lít dịch tụy trong một ngày đêm và sự phân tiết này phụ thuộc vào các loại thức ăn, cách chế biến và cách cho ăn…

Trang 12

Các nghiên cứu kỹ lưỡng về đặc điểm phân tiết các loại dịch tiêu hóa, các nhân tố ảnh hưởng… đã được tiến hành bởi các tác giả: Trần Cừ và Cù Xuân Dần (1975) [1] và đi tới các nhận xét có tính ứng dụng đó là: Số lượng

và chất lượng dịch tiêu hóa của lợn thay đổi phụ thuộc vào loại thức ăn, phương pháp cho ăn và nhất là cách chế biến thức ăn Nếu thức ăn được chế biến tốt sẽ nâng cao được hiệu suất tiêu hóa

Phần cuối cùng của bộ máy tiêu hóa là ruột già, ruột già dài khoảng 4 -

5 m bao gồm manh tràng, kết tràng và trực tràng Ở ruột già chủ yếu xảy ra quá trình tiêu hóa chất xơ do vi sinh vật ở manh tràng phân giải tạo ra các sản phẩm chính là axit lactic có tác dụng ức chế vi khuẩn gây thối và các sinh vật

có hại khác Ruột già chủ yếu hấp thu khoáng và nước Với protein còn lại trong thức ăn chưa được tiêu hóa hết, đến ruột già sẽ bị vi khuẩn ở ruột già phân giải thành các chất Crerol, Indol có tính độc, chúng hấp thu vào máu và được giải độc ở gan Phần cặn bã đi vào kết tràng, trực tràng và tạo thành phân ra ngoài

2.1.1.2 Hệ vi sinh vật đường ruột ở lợn

Hệ vi sinh vật ở trong đường tiêu hóa ở lợn con đóng vai trò nâng cao việc sử dụng thức ăn đồng thời nâng cao sức đề kháng ở cơ thể lợn Sự phát triển của các vi khuẩn sinh axit và vi khuẩn tổng hợp các chất có hoạt tính sinh học, đồng thời ức chế vi khuẩn gây thối là một quá trình có lợi cho cơ thể (Đào Trọng Đạt và Phan Thanh Phượng,1996) [2]

Ở dạ dày và ruột non của động vật mới sinh chưa có vi khuẩn, sau vài giờ thấy một vài loại vi khuẩn và từ đó chúng bắt đầu sinh sản dần Hàng ngày, một số loại vi khuẩn khác theo thức ăn vào ruột, sống và sinh sôi nảy nở

ở đó, chúng có thể biến đổi nhưng cơ bản chúng sống ở đó cho đến khi con vật chết Thành phần và số lượng vi sinh vật phụ thuộc vào loại thức ăn

Có thể chia vi sinh vật thành 2 loại “vi sinh vật tùy tiện” thay đổi theo tùy loại thức ăn và “vi sinh vật bắt buộc” là loại vi sinh vật thích nghi ngay

Trang 13

được với môi trường đường ruột, dạ dày trở thành loại định cư vĩnh viễn Hệ

vi sinh vật bắt buộc bao gồm: Lactic, lactobacterium, acid ophilum, trực khuẩn lactic, E coli (trực khuẩn ruột già), trực khuẩn đường ruột Trong

đường ruột và dạ dày là môi trường có độ ẩm, dinh dưỡng thuận tiện cho vi sinh vật phát triển, tuy nhiên sự phát triển của chúng có giới hạn vì trong dạ dày và ruột có chất kìm hãm sự phát triển của vi khuẩn đường ruột và vi khuẩn gây thối như mật, dịch vị và các tác động đối kháng của các vi khuẩn khác Theo Đào Trọng Đạt và Phan Thanh Phượng (1996) [2] trong hệ tiêu hóa của động vật, hệ vi sinh vật luôn luôn ổn định, đảm bảo cân bằng cho hệ tiêu hóa Khi sự cân bằng bị phá vỡ thì những vi khuẩn có hại cạnh tranh phát triển gây rối loạn tiêu hóa, gây tiêu chảy (nhất là lợn con theo mẹ)

2.1.2 Sự sinh trưởng và các chỉ tiêu đánh giá sức sinh trưởng của lợn

- Khái niệm về sự sinh trưởng:

Sự sinh trưởng là quá trình tích lũy các chất do đồng hóa và dị hóa, là

sự tăng lên về chiều cao, chiều dài, chiều ngang, khối lượng của các bộ phận

và toàn bộ cơ thể con vật Thực chất của sinh trưởng chính là sự tăng trưởng

và sự phân chia của các tế bào trong cơ thể (Trần Đình Miên và cs, 1975) [6] Quá trình phát triển của cơ thể là quá trình đồng hóa các vật chất dinh dưỡng, các chất dinh dưỡng lấy vào cơ thể vừa là điều kiện để tế bào sinh sôi, nảy nở, vừa là cơ sở để hình thành chất trong tế bào và giữa các tế bào, đó là protein, lipit, gluxit và các chất khoáng… (Đàm Văn Tiệm và Lê Văn Thọ, 1992) [14]

- Các chỉ tiêu đánh giá sức sinh trưởng:

Sinh trưởng tích lũy là khối lượng, kích thước, thể tích của toàn bộ cơ thể hay của từng bộ phận cơ thể tại các thời điểm thực hiện phép cân, đo

Sinh trưởng tuyệt đối: là khối lượng, kích thước, thể tích của toàn bộ cơ thể hay từng bộ phận cơ thể tăng lên trong một đơn vị thời gian (TCVN, 1977) [9] Đồ thị sinh trưởng tuyệt đối của lợn có dạng Parabol

Trang 14

Sinh trưởng tương đối: là phần khối lượng, kích thước, thể tích của toàn bộ cơ thể hay từng bộ phận cơ thể tại thời điểm sinh trưởng sau tăng lên so với thời điểm sinh trưởng trước (TCVN, 1977) [10] Đồ thị sinh trưởng tương đối của lợn có dạng Hyperbol và sinh trưởng tương đối của lợn giảm dần theo tuổi

2.1.3 Chế phẩm sinh học và ứng dụng chế phẩm sinh học trong chăn nuôi

Thuật ngữ “Probiotics” dịch sang tiếng Việt, chúng ta có thể hiểu là chế phẩm sinh học Vậy probiotics là gì và tác dụng của probiotics ra sao khi

sử dụng sản phẩm này trong chăn nuôi là câu hỏi cần được làm rõ Theo Parker (1974) [44] probiotics là những vi sinh vật và là những chất giúp cho việc cân bằng vi khuẩn đường ruột Theo Fuller (1989) [29] định nghĩa probiotics là một chất chứa những vi khuẩn sống bổ sung vào thức ăn có tác dụng hữu ích cho động vật chủ bằng cách cải thiện sự cân bằng vi khuẩn đường ruột Probiotic là tổ hợp nhiều loại vi sinh vật như vi khuẩn, nấm men

có tác dụng tương hỗ được bổ sung vào thực phẩm với mục đích điều chỉnh quần thể sinh vật đường ruột của vật chủ và được sử dụng như một liệu pháp trong việc chữa trị bệnh tiêu chảy hay sự mất cân bằng của vi sinh vật đường ruột

Một probiotic tốt cần có những đặc tính cơ bản sau đây: là một chủng

vi sinh vật có khả năng gây ra một tác dụng có lợi cho động vật chủ, ví dụ như tăng khả năng sinh trưởng hoặc đề kháng được với bệnh; không có chứa mầm bệnh và độc tố; là những tế bào sống và có một số lượng thích hợp có khả năng sống sót và chuyển hóa được trong môi trường đường ruột, ví dụ như đề kháng được với pH thấp và axít hữu cơ; bền vững và có khả năng duy trì sự sống trong thời gian nhất định ở điều kiện bảo tồn và tự nhiên (Ezema, 2013) [27]

Dưới đây là chức năng, cơ chế tác dụng của probiotics và những ảnh hưởng của việc bổ sung probiotics trong chăn nuôi lợn:

Trang 15

2.1.3.1 Chức năng và cơ chế tác dụng của probiotics

Các nghiên cứu mới nhất cho thấy probiotics có chức năng kháng khuẩn, chức năng hàng rào, chức năng miễn dịch và cũng là những tác nhân

có tính chất kháng lại dị ứng Các chức năng này không chỉ thông qua bản thân vi khuẩn mà còn thông qua ADN, chất tiết và vách tế bào vi khuẩn (Sonia Michail, 2005) [49] Chức năng hàng rào thể hiện ở chỗ probiotic kích thích sự gắn kết chặt chẽ các tế bào biểu mô ruột, giảm các chất tiết gây viêm của vi khuẩn bệnh, tăng sản sinh các phân tử bảo vệ như mucin và tăng sự sản sinh enzyme của diềm bàn chải của biểu mô ruột Chức năng miễn dịch thể hiện ở chỗ probiotic làm giảm sản sinh các chất gây viêm, gây đáp ứng sản sinh kháng thể của hệ miễn dịch ruột để ngăn ngừa bệnh cũng như đáp ứng miễn dịch để ngăn ngừa dị ứng Chức năng kháng khuẩn thực hiện theo các

cơ chế sau: Làm biến đổi hệ vi sinh vật đường ruột, giảm vi khuẩn bệnh, như

trong trường hợp bổ sung probiotic thuộc một số loài Lactobacilli và Bifidobacter thì làm giảm số lượng Clostridia, Bacteroides và Escherichia coli (E coli) Sản sinh các chất kháng khuẩn như axit béo mạch ngắn, axit

lactic, hydrogen peroxit, pyroglutamate có tác dụng ức chế sự tăng trưởng của

cả vi khuẩn gram âm và dương Tranh giành sự bám dính vào niêm ruột với vi khuẩn bệnh hoặc phong toả các thụ quan (receptor) của niêm mạc ruột, nhờ vậy ngăn chặn vi khuẩn bệnh xâm lấn vào bên trong Tranh giành chất dinh dưỡng với vi khuẩn bệnh Ví dụ, vi khuẩn probiotic có thể tiêu thụ các đường

đơn làm giảm tăng trưởng của Clostridium difficile, một loài vi khuẩn có tăng

trưởng phụ thuộc vào loại đường này

Trong ống tiêu hóa có hàng trăm nghìn tỷ vi khuẩn, số lượng vi khuẩn

có lợi đường ruột thường được duy trì một tỷ lệ cân bằng so với vi khuẩn có hại, tỷ lệ này vào khoảng 85/15 (85% vi khuẩn có lợi và 15% vi khuẩn có hại) Nếu tỷ lệ cân bằng này nghiêng về phía vi khuẩn có hại thì xuất hiện rối loạn tiêu hóa, suy giảm khả năng miễn dịch niêm mạc ruột, dẫn đến suy giảm

Trang 16

sức kháng bệnh của toàn cơ thể Sự suy giảm vi khuẩn có ích thường xẩy ra khi sử dụng kháng sinh, tiếp xúc với hóa chất nông nghiệp hoặc do ô nhiễm

Bổ sung probiotic là gieo lại vi khuẩn có ích bị tổn hại do các yếu tố trên Theo Fuller (1989) [29], Fuller (1992) [30] và Lã Văn Kính (1998) [4], thì cơ chế tác dụng của probiotic như sau:

Duy trì hệ vi sinh vật có lợi trong đường ruột bằng cách loại trừ cạnh tranh và hoạt động đối kháng Ngăn cản sự sinh trưởng của các vi khuẩn có thể gây bệnh Cạnh tranh bao gồm: cạnh tranh về vị trí bám dính trên nhung mao ruột, cạnh tranh chất dinh dưỡng, cạnh tranh về khối lượng các chất sinh

ra bởi vi sinh vật Kích thích sự phát triển của nhóm vi sinh vật có lợi như vi

khuẩn nhóm Lactobacillus, giảm các vi khuẩn nhóm Clostridia Nhiều nghiên

cứu chứng minh probiotics ức chế bám dính trên nhung mao của vi khuẩn gây

bệnh như E coli, Salmonella, Typhimurium Việc ức chế khả năng bám dính

của vi sinh vật gây bệnh sẽ ngăn ngừa sự phát triển và gây bệnh của chúng, từ

đó probiotics được coi là giải pháp phòng ngừ bệnh đường ruột (Barnes và Sorensen, 1997) [28]

Làm giảm hoạt tính ureaza trong chất chứa ruột non, ngăn chặn tổng hợp những amin độc, giảm nồng độ NH3 trong phân gia súc, gia cầm, do đó ảnh hưởng có lợi đối với môi trường

Tăng cường quá trình trao đổi chất: tăng hoạt tính của enzyme tiêu hóa, tăng sản sinh các axit béo bay hơi (axit lactic, axit acetic, axit propionic, axit succinic), tăng tiêu hóa protein và chất bột đường ở lợn con Tăng tổng hợp vitamin nhóm B như B1, B2, B6, B12

Trung hòa và khử độc tố trong đường ruột Ảnh hưởng có lợi của probiotics trong thức ăn là sự sản xuất các chất kháng khuẩn có tác dụng trung

hòa độc tố tiêu chảy của vi khuẩn E coli

Tăng khả năng miễn dịch: yếu tố được xác định có vai trò kích thích hệ thống miễn dịch là thành phần của vách tế bào vi khuẩn (peptidoglycan) Sự

Trang 17

phân hủy peptidoglycan sẽ tạo ra chất muramin peptit có tác dụng kích thích của đại thực bào Saarela và cs (2000) [48] cho rằng khả năng bám vào niêm mạc ruột của probiotics tạo nên sự tương tác giúp probiotics tiếp xúc với hệ thống lympho đường ruột và hệ thống miễn dịch, nhờ đó thúc đẩy hiệu quả miễn dịch và tạo nên sự ổn định hàng rào bảo vệ của ruột

2.1.3.2 Ảnh hưởng của probiotics đến khả năng sinh trưởng của lợn

Trong chăn nuôi công nghiệp, sử dụng probiotics nhằm mục đích nâng cao khả năng tiêu hóa và hấp thu các chất dinh dưỡng của đường ruột, từ đó nâng cao được năng suất và sức sản xuất của vật nuôi Sự bổ sung các chủng

của vi khuẩn Bacillus cho kết quả là nâng cao khả năng sinh trưởng và hiệu

quả sử dụng thức ăn ở lợn con (Kyriakis và cs, 1999) [37] và lợn sinh trưởng (Succi và cs, 1995) [51] Davis và cs (2008) [24] báo cáo rằng bổ sung thêm

0,05% DFM (gồm B lichenformis và B subtilis; 1,47×108 CFU) đã nâng cao được khả năng tăng khối lượng trung bình trên ngày và giảm tỷ lệ chết ở lợn trong giai đoạn sinh trưởng và giai đoạn vỗ béo Probiotic (không có vi khuẩn

E coli; 50 ml của 9×1010 CFU/ml/ngày) được cho ăn với khẩu phần ăn có hàm lượng protein thấp (17%) đã nâng cao được khả năng sinh trưởng của lợn con bú sữa (Bhandari và cs, 2010) [20] Malloa và cs (2010) [38] đã chứng

minh rằng bổ sung Enterococcus faecium (106 CFU/g) đã nâng cao khả năng sinh trưởng (392 so với 443 g/ngày) và hệ số chuyển hóa thức ăn (1,74 so với 1,60 g thức ăn/g tăng khối lượng) của lợn sau cai sữa (28 ngày tuổi) Giang và

cs (2010b) [32] cho biết ở lợn con cho ăn khẩu phần ăn có chứa hỗn hợp

probiotic (E faecium, 3×1011 CFU/kg; L acidophilus, 4×109 CFU/kg và L plantarum, 2×109 CFU/kg) thì có lượng thức ăn ăn vào, tăng khối lượng/ngày

và hệ số chuyển hóa thức ăn tốt hơn trong hai tuần đầu sau khi cai sữa Giang

và cs (2010a) [31] cũng cho biết khi cho lợn ăn hỗn hợp vi khuẩn axít lactic,

bao gồm sự kết hợp của Enterococcus faecium 6H2 (3×108 CFU/g),

Lactobacillus acidophilus C3 (4×106 CFU/g), Pediococcus pentosaceus D7

Trang 18

(3×106 CFU/g), L plantarum 1K8 (2×106 CFU/g) và L plantarum 3K2

(7×106 CFU/g) đã làm tăng khả năng thu nhận thức ăn và tăng khối lượng trên ngày và nâng cao hệ số chuyển hóa thức ăn Veizaj-Delia và cs (2010) [54]

chứng minh rằng bổ sung 0,001% probiotic (L plantarum, 5×109 CFU/kg; L fermentum, 5×109 CFU/kg và E faecium, 5×1010 CFU/kg) tăng khối lượng

cơ thể và tăng khối lượng bình quân trên ngày Một số báo cáo đã chỉ ra rằng

những vi khuẩn axít lactic mà chủ yếu là Lactobacilli có trong thức ăn đã

nâng cao khả năng sinh trưởng ở lợn đang sinh trưởng (Baird, 1977) [17] và lợn vỗ béo (Hong và cs, 2002 [34]; Jonsson và Conway, 1992 [35]) Khi bổ sung men sống vào khẩu phần ăn của lợn cho kết quả là đã cải thiện đáng kể tốc độ sinh trưởng (Mathew và cs, 1998) [39] và giảm số lượng vi khuẩn có hại trong đường ruột của lợn (Anderson và cs, 1999) [16] Ko và Yang (2008) [36] đã điều tra ảnh hưởng của probiotic chè xanh đến khả năng sản xuất của lợn giai đoạn vỗ béo Họ đã báo cáo rằng khi bổ sung 0,5% probiotic chè xanh đã có một ảnh hưởng tích cực so với bổ sung 0,0036% kháng sinh (chlortetracycline)

2.1.3.3 Ảnh hưởng của probiotics đến tỷ lệ tiêu hóa các chất dinh dưỡng của lợn

Probiotics có hoạt động lên men cao và kích thích sự tiêu hóa

(Ouwehand và cs, 2002) [43] Lactobacilli được biết đến có thể sản sinh ra

axít lactic và enzyme phân giải protein, giúp nâng cao sự tiêu hóa các chất

dinh dưỡng ở dạ dày ruột (Yu và cs, 2008) [60] Lactobacilli có thể định cư

và gắn kết với lớp biểu mô của đường ruột và dạ dày hình thành nên màng bảo vệ đối với những vi sinh vật gây bệnh, đồng thời điều khiển hệ thống miễn dịch bằng cách kích thích những tế bào lymphocyte ở lớp biểu mô (Yu

và cs, 2008) [60] Yu và cs (2008) [60] đã chứng minh rằng bổ sung L fermentum (5,8×107 CFU/g) vào thức ăn đã làm tăng tối đa tỷ lệ tiêu hóa protein thô so với khẩu phần đối chứng Meng và cs (2010) [56] báo cáo rằng

Trang 19

lợn sinh trưởng cho ăn probiotics (hỗn hợp bào tử Bacillus subtilis và nội bào

tử C butyricum) thì tỷ lệ tiêu hóa năng lượng và protein thô cao hơn so với

lợn không được ăn probiotics ở các lô đối chứng Giang và cs (2010b) [32]

chứng minh rằng bổ sung hỗn hợp vi khuẩn axít lactic (Enterococcus faecium

6H2, 3×108 CFU/g; Lactobacillus acidophilus C3, 4×106 CFU/g; Pediococcus pentosaceus D7, 3×106 CFU/g; L plantarum 1K8, 2×106 CFU/g; và L plantarum 3K2, 7×106 CFU/g) vào khẩu phần ăn đã làm tăng tỷ lệ tiêu hóa protein thô, xơ thô, chất hữu cơ ở hồi tràng và tăng tỷ lệ tiêu hóa protein thô

và xơ thô ở toàn bộ ống tiêu hóa trong hai tuần đầu tiên sau khi cai sữa Datt

và cs (2011) [25] cho biết bổ sung probiotics đã không ảnh hưởng đến lượng thức ăn ăn vào, nhưng nó giúp nâng cao tỷ lệ tiêu hóa vật chất khô, chất hữu

cơ, protein thô, xơ thô và NDF, đồng thời không ảnh hưởng đến tỷ lệ tiêu hóa lipid và ADF Vật nuôi ở nhóm bổ sung probiotic cho thấy tốc độ sinh trưởng cao hơn và hệ số chuyển hóa thức ăn tốt hơn cũng như chi phí thức ăn cho

một kg tăng khối lượng thấp hơn so với nhóm không bổ sung probiotic

2.1.3.4 Ảnh hưởng của probiotics đến sự miễn dịch của lợn

Nhiều tác giả cho biết Probiotics có tác dụng kích thích hệ thống miễn dịch ở lợn (Takahashi và cs, 1998 [50]; Franscico và cs, 1995 [28]) Probiotics có thể kích thích hệ thống miễn dịch ở lợn bằng việc tăng cường sản xuất kháng thể và hoạt hóa lymphocytes (Ng và cs, 2009) [41] Oelschlaeger (2010) [42] cho biết probiotics có thể ảnh hưởng đến hệ thống miễn dịch bởi những sản phẩm như chất chuyển hóa, những thành phần của thành tế bào và ADN Wang và cs (2009a,b) [57,58] chứng minh rằng khi cho

ăn L fermentum gây ra một sự tăng cytokines trong quá trình viêm và tỷ lệ

lymphocyte CD41 trong máu

Tính hiệu quả của probiotics dưới những điều kiện khác nhau có thể là

do tự bản thân chế phẩm probiotics hoặc do những nhân tố khác nhau Những nhân tố này bao gồm tỷ lệ sống sót của các chủng vi khuẩn thấp, tính bền

Trang 20

vững của các chủng vi khuẩn thay đổi, liều lượng chế phẩm thấp, việc cho ăn thường xuyên hay không thường xuyên, sự tác động qua lại với một số thuốc (kháng sinh và chất kháng khuẩn), tình trạng sức khỏe và dinh dưỡng của động vật và ảnh hưởng của tuổi, stress, di truyền và các loại vật nuôi khác nhau (Bomba và cs, 2002) [21] Một nghiên cứu chỉ ra rằng probiotics ảnh hưởng nhất ở vật nuôi trong quá trình phát triển hệ vi sinh vật đường ruột hoặc khi tính bền vững của hệ vi sinh vật đường ruột bị phá vỡ (Stavric và Kornegay, 1995) [50] Vì vậy, người ta đề nghị rằng những ảnh hưởng của probiotics xuất hiện ổn định và tích cực hơn ở lợn con so với lợn sinh trưởng

và lợn vỗ béo (William, 2000) [59]

B longum và những vi khuẩn tạo axit lactic khác được phát hiện làm

tăng tổng số lượng IgA trong đường ruột (Takahashi và cs, 1998 [50]; Vitini

và cs, 2000 [55]) Ngược lại, L casei được cho là có hoạt động hỗ trợ miễn dịch (Perdigon và cs, 2003) [47] và L plantarum đã cho thấy làm tăng quá trình sản xuất kháng thể đối với vi khuẩn E coli (Herias và cs, 1999) [33]

Những bệnh đường ruột được khống chế bằng cho uống probiotic thông qua đáp ứng miễn dịch dịch thể và đáp ứng miễn dịch tế bào (Erickson và Hubbard, 2000) [26] Probiotics có thể dẫn đến sự sản xuất kháng thể IgA tăng lên và kích thích đại thực bào (macrophage) (Perdigon và cs, 1999) [46]

2.1.4 Thành phần chế phẩm sinh học Milk feed

Thành phần của Milk feed gồm có: Nhóm vi khuẩn Lactobacillus bao gồm: Pediococcus acidilactici, L plantarum, L acidophilus, Bacillus coagulans Nhóm này có tác dụng cung cấp các men tiêu hóa tinh bột, tiêu

hóa protein; sản sinh ra các loại kháng sinh tự nhiên; ngăn chặn quá trình gắn kết của các vi sinh vật có hại vào biểu mô đường tiêu hóa của vật nuôi và sản sinh ra các axit hữu cơ nên có tác dụng phòng bệnh rất hiệu quả Nhóm nấm

men bao gồm: Saccharomyces boulardii và Saccharomyces cerevisiae Nhóm

này có tác dụng là nguồn cung cấp protein mấm men chất lượng cao, cung

Trang 21

cấp vitamin nhóm B, tăng tính thèm ăn của vật nuôi và tăng khă năng tiêu hóa

thức ăn Nhóm vi khuẩn Bacillus bao gồm: Bacillus pumilus, Bacillus licheniformis, Bacillus subtilis Nhóm vi khuẩn này có tác dụng đối kháng với

nhóm vi sinh vật có hại trong đường ruột và có khả năng sản sinh ra nhiều

loại enzym tiêu hóa

2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Theo Cho và cs (2011) [22] Probiotics được tạo ra để sử dụng như là một loại thức ăn bổ sung; nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra những tác dụng có lợi của probiotics, một trong những tác dụng có lợi này là cải tiến sự cân bằng

vi sinh vật đường ruột cho vật nuôi Những chức năng của probiotics bên trong đường tiêu hóa dạ dày ruột đó là cạnh tranh với vi khuẩn có hại về dinh dưỡng, cạnh tranh với nhân tố gây bệnh về vị trí bám dính trên lớp biểu mô phủ đường ruột, tạo ra những hợp chất gây độc cho tác nhân gây bệnh và kích thích hệ thống miễn dịch Do vậy, ứng dụng của probiotics là cung cấp một chiến lược thay thế tiềm năng đối với việc sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi và người ta đề xuất rằng nên sử dụng probiotics như là một loại thức ăn

bổ sung trong chăn nuôi (Patil và cs, 2015) [45]

Xuan và cs (2001) [56] đã nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung một

hỗn hợp probiotics (có chứa Saccharomyces cervisea (2×108 CFU) và

Bacillus spp (1×1010 CFU)) đến khả năng sinh trưởng, tỷ lệ tiêu hóa các chất dinh dưỡng, và quần thể vi sinh vật ở lợn con cai sữa lúc 21 ngày tuổi Kết quả nghiên cứu chỉ ra khi bổ sung 0,2% hỗn hợp probiotics vào khẩu phần ăn cho lợn thì tăng khối lượng trên ngày và lượng thức ăn ăn vào trung bình trên ngày của lợn cao hơn so với lợn ăn các khẩu phần ăn khác và đối chứng Tỷ lệ tiêu chảy và tình trạng quần thể vi sinh vật ở trong ruột, kết tràng và phân là không bị tác động bởi các loại khẩu phần ăn cho lợn thí nghiệm Vì vậy, có

Trang 22

thể kết luận là hỗn hợp probiotics có thể thay thế kháng sinh trong khẩu phần

ăn cho lợn sau cai sữa

Chen và cs (2006) [23] đánh giá những ảnh hưởng của việc bổ sung

Bacillus-based probiotic (Bacillus subtilis, 1,0×107 CFU/g; Bacillus coagulans, 2,0×106 CFU/g và Lactobacillus acidophilus, 5,0×106 CFU/g) đến khả năng sinh trưởng, tỷ lệ tiêu hóa các chất dinh dưỡng, đặc tính các thành phần trong máu và hàm lượng khí độc trong phân ở lợn giai đoạn vỗ béo và xác định mức độ bổ sung tối ưu chế phẩm sinh học này Kết quả

nghiên cứu cho thấy lợn ở lô được ăn khẩu phần ăn bổ sung 0,2%

Bacillus-based probiotic cho tăng khối lượng trung bình trên ngày cao hơn 11% so với

lợn được cho ăn khẩu phần cơ sở (đối chứng) Việc bổ sung Bacillus-based

probiotic đã không ảnh hưởng đến tỷ lệ tiêu hóa vật chất khô, nitơ và đặc điểm các thành phần của máu Nồng độ aminiac-nitơ trong phân đo được ở thời điểm kết thúc thí nghiệm đã giảm khi lợn được ăn khẩu phần ăn bổ sung

0,2% Bacillus-based probiotic Nồng độ axit butyric trong phân cũng giảm

trong khi đó nồng độ axit acetic và propionic không bị ảnh hưởng khi lợn

được ăn khẩu phần ăn có bổ sung Bacillus-based probiotic Như vậy, có thể kết luận việc bổ sung Bacillus-based probiotic vào khẩu phần ăn cho lợn giai

đoạn vỗ béo đã làm tăng khả năng sinh trưởng và giảm hàm lượng khí độc trong phân

Wang và cs (2009b) [58] đã đánh giá ảnh hưởng của việc bổ sung chế

phẩm BioPlus 2B (là bào tử của Bacillus subtilis CH201/DSM5749 và Bacillus licheniformis CH200/DSM5749, 3,2×109 bào tử sống/g) đến khả năng sinh trưởng, tỷ lệ tiêu hóa vật chất khô, nitơ và sự phát thải khí độc trong phân ở lợn giai đoạn sinh trưởng Kết quả nghiên cứu cho thấy khi bổ sung BioPlus 2B với mức 0; 0,05; 0,1 và 0,2% vào khẩu phần ăn cơ sở thì tăng khối lượng trung bình trên ngày và lượng thức ăn ăn vào trung bình trên ngày tăng lên theo chiều tăng của mức độ bổ sung BioPlus 2B Sự phát thải

Trang 23

khí amoniac (NH3) từ những mẫu phân thu được từ những lợn trong nhóm bổ sung chế phẩm BioPlus 2B thấp hơn sự phát thải khí amoniac từ những mẫu phân thu được từ những lợn trong nhóm đối chứng

Giang và cs (2010a) [31] đã tìm hiểu ảnh hưởng của việc bổ sung chế

phẩm sinh học (bao gồm Bacillus subtilis H4, Saccharomyces boulardi Sb, hỗn hợp vi khuẩn axit lactic (LAB): Enterococcus faecium 6H2, Lactobacillus acidophilus C3, Pediococcus pentosaceus D7 và Lactobacillus fermentum

NC1) vào khẩu phần ăn đến khả năng sinh trưởng, tỷ lệ tiêu hóa các chất dinh dưỡng và vi sinh vật trong phân ở lợn giai đoạn sinh trưởng - vỗ béo Kết quả nghiên cứu cho thấy trong giai đoạn sinh trưởng, lượng thức ăn ăn vào bình quân trên ngày, tăng khối lượng bình quân trên ngày và hệ số chuyển hóa thức

ăn đã không bị tác động khi bổ sung Bacillus subtilis H4 (khẩu phần ăn B) và Bacillus subtilis H4 + Saccharomyces boulardi Sb (khẩu phần ăn BS) Nhưng

tăng khối lượng bình quân trên ngày và hệ số chuyển hóa thức ăn đã tăng lên

5,9% khi bổ sung Bacillus subtilis H4 + Saccharomyces boulardi Sb + hỗn

hợp LAB (khẩu phần ăn BSL) so với lô đối chứng Tỷ lệ tiêu hóa vật chất khô

và protein thô cao hơn ở khẩu phần ăn BSL Tỷ lệ tiêu hóa xơ thô ở khẩu phần ăn BS và BSL cao hơn so với khẩu phần ăn không bổ sung chế phẩm sinh học Số lượng vi khuẩn axit lactic đếm được trong phân tăng lên ở lợn

sinh trưởng khi ăn khẩu phần ăn BSL và vi khuẩn E.coli đếm được trong phân

giảm đi ở lợn ăn khẩu phần ăn BS và BSL Ở giai đoạn lợn vỗ béo, lượng thức ăn ăn vào trung bình trên ngày, tăng khối lượng trung bình trên ngày, hệ

số chuyển hóa thức ăn, tỷ lệ tiêu hóa các chất dinh dưỡng và sự tồn lưu nitơ

đã không bị ảnh hưởng bởi sự bổ sung chế phẩm sinh học vào khẩu phần ăn

Vì vậy, có thể kết luận hỗn hợp vi khuẩn và nấm men có tiềm năng sử dụng như là chất bổ sung sinh học vào khẩu phần ăn cho lợn trong giai đoạn sinh trưởng

Trang 24

Upadhaya và cs (2015) [53] đã đánh giá ảnh hưởng của bổ sung chế phẩm sinh học (1,47×108 CFU of Bacillus organisms, bao gồm 2 chủng B licheniformis và 1 chủng B subtilis trên 1g chất bổ sung) đến khả năng sinh

trưởng, tỷ lệ tiêu hóa các chất dinh dưỡng, sự phát thải khí độc từ phân và đặc tính làm sạch chuồng nuôi ở lợn trong giai đoạn sinh trưởng - vỗ béo Kết quả nghiên cứu cho thấy khi bổ sung chế phẩm sinh học vào khẩu phần ăn cho lợn giai đoạn sinh trưởng – vỗ béo đã cải thiện được khả năng sinh trưởng của lợn, tăng tỷ lệ tiêu hóa vật chất khô và nitơ trong thức ăn, giảm phát thải khí

NH3 trong phân, đồng thời thời gian và lượng nước tiêu thụ cho rửa chuồng trại giảm xuống

Balasubramanian và cs (2016) [18] đã tìm hiểu ảnh hưởng của việc bổ

sung hỗn hợp Bacillus spp (bao gồm B coagulance, 1×109 CFU/g; B licheniformis, 5×108 CFU/g; và B subtilis, 1×109 CFU/g) với tỷ lệ 0%; 0,01%; và 0,02% vào khẩu phần ăn cơ sở cho lợn giai đoạn sinh trưởng – vỗ béo đến khả năng sinh trưởng và đặc tính chất lượng thịt lợn Kết quả nghiên

cứu cho thấy khi bổ sung chế phẩm sinh học có chứa Bacillus spp vào khẩu

ăn đã có tác dụng làm tăng khối lượng trung bình trên ngày và tăng tỷ lệ giữa tăng khối lượng và tiêu tốn thức ăn, nhưng không ảnh hưởng đến lượng thức

ăn thu nhận trung bình trên ngày ở lợn giai đoạn sinh trưởng – vỗ béo Tỷ lệ tiêu hóa vật chất khô, nitơ và năng lượng ở nhóm lợn ăn khẩu phần ăn có bổ

sung chế phẩm sinh học Bacillus spp đều cao hơn so với nhóm đối chứng

không bổ sung chế phẩm sinh học vào khẩu phần ăn

2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Nhiều công trình nghiên cứu đã chứng minh hiệu quả của việc sử dụng probiotic trong chăn nuôi lợn con Chu Đức Thắng (1997) [11] đã sản xuất

thành công chế phẩm Bacillus subtilis bằng cách cấy vi khuẩn Bacillus subtilis vào môi trường đậu tương, nước cám gạo, thậm chí trong cả nước râu ngô Theo tác giả, lượng B subtilis có thể hạn chế được vi khuẩn gram âm,

Trang 25

gram dương và có thể dùng chế phẩm để điều trị viêm ruột, tiêu chảy của lợn các lứa tuổi khác nhau

Nguyễn Như Pho và Trần Thu Thủy (2003) [8] cho biết sử dung chế phẩm probiotic (organic green) trong phòng ngừa tiêu chảy trên lợn con giai đoạn theo mẹ và giai đoạn sau cai sữa cho thấy tỷ lệ tiêu chảy giảm 1,5-3% trên lợn con theo mẹ và 1,5-5,7% trên lợn con sau cai sữa, tỷ lệ chết giảm từ 2-6% trên lợn con theo mẹ và trên lợn con cai sữa tỷ lệ chết là 0%

Vũ Duy Giảng (2007) [3], tiến hành thí nghiệm trên lợn con từ sơ sinh đến 81 ngày tuổi với 3 lô, lô 1 là lô đối chứng, lô 2 bổ sung Tylozin, lô 3 bổ sung chế phẩm probiotic có tên thương phẩm là Probios Kết quả cho thấy, khối lượng lợn 81 ngày của lô bổ sung kháng sinh hay probiotic đều cao hơn

lô đối chứng, đặc biệt khối lượng lợn của lô bổ sung probiotic tương đương với khối lượng lợn của lô bổ sung kháng sinh Thí nghiệm đã cho thấy khả năng thay thế kháng sinh của probiotic trong chăn nuôi lợn Ngô Thị Hồng Thịnh (2008) [13] sử dụng chế phẩm BIOSAF (probiotic) được sản xuất từ

chủng nấm men Saccharomyces cerevisiae bổ sung vào khẩu phần lợn con

giống ngoại từ tập ăn đến cai sữa Kết quả nghiên cứu cho thấy, đối với lợn con, ảnh hưởng tích cực đến khả năng thu nhận và chuyển hoá thức ăn Tăng dần từ lô đối chứng (ĐC), lô TN1, TN2 là 10,4 - 10,65 - 10,80 g/con/ngày Tăng khối lượng lợn con cai sữa/ổ, lô ĐC là 45,23 kg, tăng dần ở lô TN1 là 52,93 kg và TN2 là 61,98 kg Giảm tỷ lệ tiêu chảy 22% ở TN2 so với ĐC, giảm tỷ lệ chết so với lô ĐC là 9,02 %, ở TN2 so với ĐC là 12,73%

Trần Quốc Việt và cs (2007) [15] khi bổ sung chế phẩm probiotic

được sản xuất từ 2 chủng vi khuẩn lactic (Enterococcus faecium - 6H2, Lactobacillus acidophilus - C3) và một chủng Bacillus (Bacillus subtilis -

H4) có hiệu quả rõ rệt với lợn con giai đoạn từ sau cai sữa 21 đến 60 ngày tuổi cả về khả năng tiêu hoá thức ăn (tỷ lệ tiêu hoá tăng từ 3,4 - 6%), tốc độ

Trang 26

sinh trưởng tăng (11,9%) và hiệu quả chuyển hoá thức ăn (giảm tiêu tốn thức ăn 5,3%)

Lê Thị Mến và Trương Chí Sơn (2014) [5] đã nghiên cứu ảnh hưởng của chế phẩm men vi sinh (probiotic có tên gọi là Sotizyme với thành phần

trong 1 kg sản phẩm gồm Bacillus subtilis, 108 CFU; Lactobacillus acidophilus, 108 CFU; Amylase, 104 IU; Lipase, 104 IU; Protease, 104 IU; và Phytase, 103 IU) lên năng suất của heo nái nuôi con và heo con theo mẹ ở đồng bằng sông Cửu Long Kết quả nghiên cứu cho thấy khối lượng và tăng trọng (kg/con) của heo con nhóm Sotizyme cao hơn so với nhóm đối chứng ở tuần thứ 3 và 4, mức ăn của heo con (kg/ổ) cũng được cải thiện ở tuần thứ 4

Tỷ lệ tiêu chảy của heo con ở nhóm Sotizyme (2,9%) cũng thấp hơn so với đối chứng (5,3%)

Cù Thị Thúy Nga và cs (2013) [7] đã nghiên cứu ảnh hưởng của probiotic đến sinh trưởng, hiệu quả sử dụng thức ăn và khả năng phòng bệnh tiêu chảy cho lợn con sau cai sữa Kết quả nghiên cứu cho thấy bổ sung hỗn hợp probiotic vào khẩu phần ăn cho lợn con đã làm tăng khối lượng lúc 56 ngày tuổi của lợn thí nghiệm (Khối lượng các lô ĐC, TN1, TN2, và TN3 đạt được lần lượt là 18,45; 20,02; 19,65; và 19,92 kg/con), làm giảm tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy cả giai đoạn 21-56 ngày tuổi xuống còn 26,67-33,33%, trong khi lô đối chứng là 53,33% Tiêu tốn và chí phí thức ăn trên 1 kg tăng khối lượng giảm (tiêu tốn thức ăn của lô ĐC, TN1, TN2 và TN3 đạt tương ứng là 1,38; 1,27; 1,30; và 1,28 kg) Từ kết quả nghiên cứu cho thấy, hỗn hợp vi

khuẩn probiotic 1 bao gồm Lactobacillus acidophilus, Bacillus subtilis

Saccharomyces cerevisiae đem lại hiệu quả tốt nhất

Trang 27

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Lợn lai thương phẩm F1 (bố Duroc x mẹ Landrace) 45 ngày tuổi

Chế phẩm sinh học Milk feed

3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

Địa điểm: Trại chăn nuôi lợn, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Thời gian: Từ 18/11/2018 đến 18/05/2019

3.3 Nội dung nghiên cứu

Nghiên cứu ảnh hưởng của chế phẩm sinh học Milk feed đến khả năng sinh trưởng , tiêu tốn thức ăn và khả năng kháng bệnh của lợn thịt

3.4 Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi

3.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm

Đây là thí nghiệm một nhân tố được bố trí theo phương pháp phân lô so sánh với 3 lô thí nghiệm là: lô đối chứng (không bổ sung chế phẩm sinh học Milk feed), lô thí nghiệm 1 bổ sung 0,2% và lô thí nghiệm 2 bổ sung 0,4% chế phẩm sinh học Milk feed vào thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh Mỗi lô thí nghiệm có 10 con, nhắc lại 3 lần và có 9 đơn vị thí nghiệm Lợn thí nghiệm được chọn đồng đều về giống, tính biệt, khối lượng, tuổi, tình trạng sức khỏe

Cách sử dụng chế phẩm sinh học Milk feed: bổ sung Milk feed vào

thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh với tỷ lệ 0,2 và 0,4% cho lô thí nghiệm 1 và 2 tức

là trộn đều 0,2 và 0,4 kg chế phẩm sinh học Milk feed với 100 kg thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh cho lô thí nghiệm 1 và 2 trước khi cho lợn ăn

Trang 28

Bảng 3.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm

đối chứng (ĐC)

Lô thí nghiệm 1 (TN1)

Lô thí nghiệm 2 (TN2)

Động vật thí

nghiệm

Lợn nuôi thịt 45 ngày tuổi

Lợn nuôi thịt 45 ngày tuổi

Lợn nuôi thịt 45 ngày tuổi

Hỗn hợp hoàn chỉnh

Hỗn hợp hoàn chỉnh Nhân tố thí nghiệm Không bổ sung

Milk feed

Bổ sung 0,2 % Milk feed

Bổ sung 0,4 % Milk feed

3.4.2 Phương pháp chăm sóc nuôi dưỡng lợn thí nghiệm

Lợn thí nghiệm được nuôi trên chuồng nền, được cho ăn ngày 2 lần vào lúc 8h và 16h và uống nước tự do qua hệ thống máng uống tự động Lợn thí nghiệm được vệ sinh chuồng trại và tắm chải hàng ngày

Thức ăn cho lợn thí nghiệm do Công ty TNHH Minh Hiếu – Hưng Yên cung cấp là loại thức ăn lớn nhanh nhiều nạc Thời gian bắt đầu thí nghiệm đến khi lợn đạt 30 kg, lợn ăn thức ăn số hiệu JUMBO 113S Từ 30 kg đến kết thúc thí nghiệm, lợn ăn thức ăn số hiệu JUMBO 114S Thành phần giá trị dinh dưỡng của 2 loại thức ăn được trình bày ở bảng 3.2

Trang 29

Bảng 3.2 Thành phần dinh dưỡng thức ăn thí nghiệm

Thành phần dinh dưỡng Thức ăn hỗn hợp cho lợn thịt

JUMBO 113S JUMBO 114S

3.4.3 Các chỉ theo dõi và phương pháp tính toán các chỉ tiêu

3.4.3.1 Chỉ tiêu đánh giá về sinh trưởng của lợn thí nghiệm

- Sinh trưởng tích lũy (kg/con): Cân lợn thí nghiệm vào các giai đoạn: Bắt đầu thí nghiệm, sau 1, 2 và 3 tháng nuôi Cân vào buổi sáng trước khi cho lợn ăn, đảm bảo cân cùng 1 chiếc cân và cố định người cân

- Sinh trưởng tuyệt đối (g/con/ngày): Là khối lượng và kích thước cơ thể gia súc tăng lên trong một đơn vị thời gian và được tính theo công thức sau:

A = W2−W1

t2−t1

Trong đó: A là sinh trưởng tuyệt đối (g/con/ngày)

W1 là khối lượng lợn tại thời điểm t1

W2là khối lượng lợn tại thời điểm t2

t1, t2 là thời điểm cân ban đầu và kết thúc

- Sinh trưởng tương đối (%): Là tỉ lệ phần trăm (%) của khối lượng, thể tích, các chiều đo của cơ thể tăng ở thời kì cuối so với thời kì đầu cân đo và được tính theo công thức sau:

R (%) = W2− W1

W1+ W22

× 100

Ngày đăng: 29/06/2020, 16:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Cừ, Cù Xuân Dần (1975), Giáo trình Sinh lý gia súc, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Sinh lý gia súc
Tác giả: Trần Cừ, Cù Xuân Dần
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1975
2. Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng (1996), Bệnh đường tiêu hóa ở lợn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 25-28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh đường tiêu hóa ở lợn
Tác giả: Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1996
3. Vũ Duy Giảng (2007), Thức ăn bổ sung cho gia súc, gia cầm, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 26 - 30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thức ăn bổ sung cho gia súc, gia cầm
Tác giả: Vũ Duy Giảng
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2007
4. Lã Văn Kính (1998), Những tiến bộ khoa học kỹ thuật trong công nghệ sản xuất thức ăn gia súc và vai trò của probiotic đối với động vật, Báo cáo khoa học, Trung tâm thông tin khoa học và công nghệ, Sở khoa học công nghệ và môi trường Hồ Chí Minh, tr. 36-42 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những tiến bộ khoa học kỹ thuật trong công nghệ sản xuất thức ăn gia súc và vai trò của probiotic đối với động vật
Tác giả: Lã Văn Kính
Năm: 1998
5. Lê Thị Mến, Trương Chí Sơn (2014), “Ảnh hưởng của chế phẩm men vi sinh (probiotic) lên năng suất của heo nái nuôi con và heo con theo mẹ ở Đồng bằng sông Cửu Long”, Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Cần Thơ, 30, tr. 1-5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của chế phẩm men vi sinh (probiotic) lên năng suất của heo nái nuôi con và heo con theo mẹ ở Đồng bằng sông Cửu Long”, "Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Cần Thơ
Tác giả: Lê Thị Mến, Trương Chí Sơn
Năm: 2014
6. Trần Đình Miên, Nguyễn Hải Quân, Vũ Kính Trực (1975), Chọn và nhân giống gia súc, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 48-49 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chọn và nhân giống gia súc
Tác giả: Trần Đình Miên, Nguyễn Hải Quân, Vũ Kính Trực
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1975
7. Cù Thị Thúy Nga, Trần Văn Phùng, Trần Tố, Nguyễn Thị Minh Thuận (2013), “Ảnh hưởng của probiotic đến sinh trưởng lợn con sau cai sữa”, Tạp chí KHKT Chăn nuôi, 171(6), tr. 16-23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của probiotic đến sinh trưởng lợn con sau cai sữa”, "Tạp chí KHKT Chăn nuôi
Tác giả: Cù Thị Thúy Nga, Trần Văn Phùng, Trần Tố, Nguyễn Thị Minh Thuận
Năm: 2013
8. Nguyễn Như Pho, Trần Thu Thủy (2003), “Tác dụng của probiotic đến bệnh tiêu chảy trên lợn con”, Hội nghị khoa học chăn nuôi thú y lần thứ IV, Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác dụng của probiotic đến bệnh tiêu chảy trên lợn con”, "Hội nghị khoa học chăn nuôi thú y lần thứ IV
Tác giả: Nguyễn Như Pho, Trần Thu Thủy
Năm: 2003
9. Tiêu chuẩn Việt Nam (1977), Phương pháp xác định sinh trưởng tuyệt đối, TCVN 2-39-77 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp xác định sinh trưởng tuyệt đối
Tác giả: Tiêu chuẩn Việt Nam
Năm: 1977
10. Tiêu chuẩn Việt Nam (1977), Phương pháp xác định sinh trưởng tương đối, TCVN 2-40-77 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp xác định sinh trưởng tương đối
Tác giả: Tiêu chuẩn Việt Nam
Năm: 1977
11. Chu Đức Thắng (1997), Một số chỉ tiêu sinh lý, sinh hoá, lâm sàng trong bệnh viêm ruột lợn con sau cai sữa, Luận án PTS khoa học Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 10 - 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số chỉ tiêu sinh lý, sinh hoá, lâm sàng trong bệnh viêm ruột lợn con sau cai sữa
Tác giả: Chu Đức Thắng
Năm: 1997
12. Nguyễn Thiện, Võ Trọng Hốt, Nguyễn Khánh Quắc, Nguyễn Duy Hoan (1998), Giáo trình Chăn nuôi lợn (sau đại học), Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 1-117 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Chăn nuôi lợn (sau đại học)
Tác giả: Nguyễn Thiện, Võ Trọng Hốt, Nguyễn Khánh Quắc, Nguyễn Duy Hoan
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1998
13. Ngô Thị Hồng Thịnh (2008), Sử dụng chế phẩm BIOSAF (Probiotic) trong khẩu phần lợn nái nuôi con và lợn con giống ngoại từ tập ăn đến cai sữa, Luận văn Thạc sĩ Khoa học nông nghiệp chăn nuôi thú y, Trường ĐHNN I, Hà Nội, tr. 54 - 59 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng chế phẩm BIOSAF (Probiotic) trong khẩu phần lợn nái nuôi con và lợn con giống ngoại từ tập ăn đến cai sữa
Tác giả: Ngô Thị Hồng Thịnh
Năm: 2008
14. Đàm Văn Tiệm, Lê Văn Thọ (1992), Giáo trình Sinh lý học gia súc, Nxb 15. Trần Quốc Việt, Bùi Thị Thu Huyền, Ninh Thị Len, Nguyễn Thị Nhung Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Sinh lý học gia súc
Tác giả: Đàm Văn Tiệm, Lê Văn Thọ
Nhà XB: Nxb 15. Trần Quốc Việt
Năm: 1992
16. Anderson D.B., McCracken V.J., Aminov R.I., Simpson J.M., Mackie R.I., Verstegen M.W.A., Gaskins H.R. (1999), “Gut microbiology and growth-promoting antibiotics in Swine”, Pig News Inform., 20, pp.115-122 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gut microbiology and growth-promoting antibiotics in Swine”, "Pig News Inform
Tác giả: Anderson D.B., McCracken V.J., Aminov R.I., Simpson J.M., Mackie R.I., Verstegen M.W.A., Gaskins H.R
Năm: 1999
17. Baird D.M. (1977), “Probiotics help boost feed efficiency”, Feed Stuff, 49, pp. 11-12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Probiotics help boost feed efficiency”, "Feed Stuff
Tác giả: Baird D.M
Năm: 1977
19. Barnes D. M., Sorensen K. D. (1997), Salmonella Diseases of Swine, 4th, Edition Lowastate Unversity press (8), pp. 309 - 317 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Salmonella Diseases of Swine
Tác giả: Barnes D. M., Sorensen K. D
Năm: 1997
20. Bhandari S.K., Opapeju F.O., Krause D.O., Nyachoti C.M. (2010), “Dietary protein level and probiotic supplementation effects on piglet response to Escherichia coli K88 challenge: Performance and gut microbial population”, Livest. Sci., 133, pp.185-188 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dietary protein level and probiotic supplementation effects on piglet response to "Escherichia coli" K88 challenge: Performance and gut microbial population”, "Livest. Sci
Tác giả: Bhandari S.K., Opapeju F.O., Krause D.O., Nyachoti C.M
Năm: 2010
22. Cho J.H., Zhao P.Y., Kim I.H. (2011), “Probiotics as a dietary additive for pigs: A review”, Journal of Animal and Veterinary Advances, 10(16), pp. 2127-2134 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Probiotics as a dietary additive for pigs: A review”, "Journal of Animal and Veterinary Advances
Tác giả: Cho J.H., Zhao P.Y., Kim I.H
Năm: 2011
24. Davis M.E., Parrott T., Brown D.C., de Rodas B.Z., Johnson Z.B., Maxwell C.V., Rehberger T. (2008), “Effect of a Bacillus-based direct- fed microbial feed supplement on growth performance and pen cleaning characteristics of growing-finishing pigs”, J. Anim. Sci., 86, pp. 1459-1467 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Effect of a Bacillus-based direct-fed microbial feed supplement on growth performance and pen cleaning characteristics of growing-finishing pigs”, "J. Anim. Sci
Tác giả: Davis M.E., Parrott T., Brown D.C., de Rodas B.Z., Johnson Z.B., Maxwell C.V., Rehberger T
Năm: 2008

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w