1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sách giáo khoa lớp 3

23 55 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 34,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bùi Minh Hiền 2012, đề ra 20 công việc phát triển nhà trường theomục tiêu xây dựng nhà trường hiệu quả mà người hiệu trưởng cần bao quát,trong đó có việc “tổ chức cải tiến phương pháp dạ

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Vai trò của từ tiếng Việt đối với học sinh tiểu học

Trong hệ thống giáo dục, giáo dục tiểu học có một vị trí đặc biệtquan trọng, là bậc học nền tảng, bậc học đào tạo những cơ sở ban đầu,những đường nét cơ bản của nhân cách

Chính vì vậy, việc nâng cao chất lượng giáo dục luôn là vấn đề đặcbiệt được quan tâm của nhà trường tiểu học Dạy học là một hoạt độngmang tính đặc thù rất cao trong công tác giáo dục, giữ vị trí trường và chiphối mọi hoạt động khác của nhà trường hoạt động dạy và học là hoạt độngtrọng tâm xuyên suốt của thầy và trò trong một năm học Dạy học là nềntảng quan trọng hàng đầu trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục toàn mộtcách toàn diện của nhà trường Hoạt động dạy học quyết định tòan bộ kếtquả đào tạo của bấy kỳ nhà trường nào trong hệ thống giáo dục của ViệtNam

Cùng với các môn học khác, môn Tiếng Việt chiếm tầm quan trọngrất lớn Dạy học môn Tiếng Việt giữ nhiệm vụ quan trọng đó là giúp họcsinh hình thành 4 kỹ năng về ngôn ngữ là: Nghe- Nói- Đọc- Viết Những

kỹ năng này dần dần được hình thành trong quá trình dạy học môn Tiếng Việtcủa giáo viên và nhà trường chứ không phải tự nhiên mà có Do đó mà việcdạy học môn Tiếng Việt của nhà trường cần phải có kế hoạch từ lớp 1 đến lớp5

1.2 Mục tiêu môn tiếng Việt bậc tiểu học

Tiếng Việt là môn học vô cùng quan trọng giúp bồi dưỡng tình yêutiếng Việt cho các em, “là ngôn ngữ mẹ đẻ” cần được giữ gìn và phát huy

sự trong sáng và giàu đẹp của ngôn ngữ tiếng Việt Mỗi bài học trong mônTiếng Việt đều là một bức tranh về hiện thực cuộc sống, về thế giới tươiđẹp… Các em càng đọc càng thêm hiểu biết về con người, về đất nước ta

Trang 2

trong quá khứ và trong hiện tại, càng thêm tin yêu ở con người và cuộcsống tương lai Với sự sáng tạo tuyệt vời của các nhà văn, nhà thơ, cuộcsống đi vào văn học mang một vẻ đẹp mới, không còn cái trần trụi, cái thômộc Nó đã được hình tượng hóa, điển hình hóa cao độ Nó là cuộc sốngsong thông qua lăng kính chủ quan của các tác giả nên ngời sáng lên vàgiàu chất thơ, chất mộng.

1.3 Phần chú thích trong các văn bản trong SGK TIẾNG ViỆt tiểu học cóvai trò gì trong văn bản giúp HS hiểu rõ hơn về nghĩa của từ; hoàn thiện,lấp đầy khoảng trống văn bản

Bậc tiểu học là bậc học phổ cập và phát triển, tạo tiền đề để thựchiện "nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài "[19] Tínhphổ cập bắt buộc trẻ em học xong tiểu học phải đạt những yêu cầu tốithiểu Bậc tiểu học sẽ tạo ra những điều kiện để trẻ em tiếp tục phát triển,

có khả năng học tập suốt đời; trở thành những con người có trí tuệ pháttriển, có ý chí và tình cảm cao đẹp

Giáo dục tiểu học vừa mang tính dân tộc vừa mang tính hiện đại.Lứa tuổi học sinh tiểu học là thời lý thuận lợi để hình thành các yếu tố tạonên nhân cách người Việt Nam Để hiểu được toàn bộ nội dung thì cần cóđầy đủ ghi chú để giúp học sinh tiểu học hiểu Ngay từ những lớp đầu bậchọc các em học sinh đã được học lịch sử, địa lý đất nước, các bài văn, bàithơ của cha ông; được giáo dục lối sống văn minh, tình cảm cao đẹp,truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam Mặt khác, nội dung của giáodục tiểu học cũng chú ý thích đáng đến tri thức của nhân loại thuộc cáclĩnh vực tự nhiên, kỹ thuật; giúp học sinh tiểu học hòa nhập với trào lưugiáo dục hiện đại của thế giới

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Nghiên cứu về SGK TV TH

Trang 3

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàndiện giáo dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương phápdạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo

và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ ápđặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ,khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới trithức, kỹ năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổchức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa,nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyềnthông trong dạy và học” Để thực hiện tốt mục tiêu về đổi mới căn bản,toàn diện GD&ĐT theo Nghị quyết số 29-NQ/TW, cần có nhận thức đúng

về bản chất của đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triểnnăng lực người học và một số biện pháp đổi mới phương pháp dạy họctheo hướng này Bên cạnh các tài liệu biên soạn của Bộ Giáo dục và Đàotạo phục vụ cho công tác bồi dưỡng thường xuyên cho đội ngũ giáo viên,

có nhiều tác giả đã quan tâm nghiên cứu, biên soạn các tài liệu về phươngpháp dạy học và đổi mới phương pháp dạy học như:

- “Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường” – Tác giảPhan Trọng Ngọ

- “Phương pháp giáo dục tích cực”- Tác giả Nguyễn Kỳ

- “Thử đi tìm những phương pháp dạy học hiệu quả” – Tác giả LêNguyên Long

- “Dạy học trong hoạt động và bằng hoạt động” – Tác giả: Lê ThịHoài Châu, Nguyễn Văn Vĩnh, trường ĐHSP Thành Phố Hồ Chí Minh

Bùi Minh Hiền (2012), đề ra 20 công việc phát triển nhà trường theomục tiêu xây dựng nhà trường hiệu quả mà người hiệu trưởng cần bao

quát,trong đó có việc “tổ chức cải tiến phương pháp dạy học quán triệt các thành tựu đổi mới về sách giáo khoa tiếng việt lớp 3” [8, tr.29] Chỉ đạo,

Trang 4

quản lý việc đổi mới phương pháp dạy học của giáo viên là một trongnhững công việc cụ thể của Hiệu trưởng nhằm nâng cao hiệu quả quản lýnhà trường [11, tr.15-16].

Tác giả Hà Huy Hùng (2015) với đề tài nghiên cứu “ Thực trạng quản lý việc giảng dạy Tiếng Việt ở các trường tiểu học trên địa bàn quận Hai Bà Trưng”, luận văn thạc sĩ, Học viện quản lý giáo dục Tác giả đã

nghiên cứu hoạt động giảng dạy môn Tiếng Việt tại 5 trường tiểu học cônglập tại địa bàn quận Hai Bà Trung, trong nghiên cứu này tác giả đã đưa rakết luận chung cho việc quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt trên địabàn nghiên cứu còn nhiều hạn chế: yếu kém trong phương pháp giảng dạy,yếu kém trong việc quản lý cơ sở vật chất, yếu kém trong việc việc quản lýbài giảng của giáo viên Mặc dù nghiên cứu này đã chỉ ra các hạn chế củaviệc quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt nhưng chúng ta không cầutoàn rằng trong một sớm một chiều cần phải khắc phục tình trạng quản lýhoạt động dạy học môn Tiếng Việt chưa phù hợp hiện nay, nhưng nếungười học, người dạy, các CBQL… cùng quan tâm giải quyết một phầnkhó khăn liên quan đến trách nhiệm của mình thì việc cải tổ đồng bộ côngtác quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt, đặc biệt là đối với bậc tiểuhọc là khả thi Bên cạnh đó, tác giả nhận thấy việc quản lý dạy học mônTiếng Việt đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong bối cảnh hiện naykhi Việt Nam đang có những định hướng phát triển mới về năng lực tuyduy ngôn ngữ cho trẻ em Chính vì vậy mà việc tăng cường năng lực sửdụng Tiếng Việt cho học sinh tiểu học là một trọng tâm lớn trong đào tạo ởcác trường tiểu học

2.2 Nghiên cứu về nghĩa của từ, các cách giải thích nghĩa của từ

Tác giả Nguyễn Thị Hoa (2013) với đề tài nghiên cứu “ Hoạt động quản lý việc dạy học môn Tiếng Việt về từ và giải thích nghĩa của từ ở các trường tiểu học trên địa bàn huyện Hoài Đức”, luận văn thạc sĩ, Đại học sư

Trang 5

phạm Hà Nội Tác giả đã nêu lên được một số cơ sở lý luận trong việcquản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học, trong đótác giả cũng đã nêu lên bối cảnh và sự cần thiết phải đổi mới việc quản lýdạy học môn Tiếng Việt theo hướng phát triển năng lực tư duy ngôn ngữvới những quan điểm, chỉ đạo định hướng và các yêu cầu đặt ra trong việcquán triệt của Bộ giáo dục và đào tạo Tác giả có đưa ra một số giải pháp

để quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt theo định hướng phát triển

tư duy ngôn ngữ là: cần có những bài giảng chứa đựng các thao tác tư duyquan trọng và cơ bản nhất là phân tích, quy loại, phân loại, định vị, trừutượng hoá, khái quát hoá, so sánh đồng nhất, so sánh khác biệt, so sánh đốilập, suy luận, lập luận của học sinh tiểu học Cần đổi mới phương pháp tưduy truyền đạt cho học sinh tiểu học để phát triển một cách có căn cứ vàhết sức tự nhiên hệ thống từ ngữ và năng lực tạo câu, viết văn đúng ngữpháp, logic

Các tài liệu biên soạn về đổi mới quản lý giáo dục trong đó có quản

lý đổi mới phương pháp dạy học nói chung và dạy học môn Tiếng Việt nỏiriêng Một số luận văn cao học cũng đã nghiên cứu về việc quản lý hoạtđộng dạy học môn tiếng việt, tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứuvề: ghí chú sgk tiếng việt 3 Do đó đề tài tác giả lựa chọn có ý nghĩa khoahọc và thực tiễn, không bị trùng lặp với bất kỳ tài liệu nào

3 Mục đích nghiên cứu

- Xác định Nghĩa từ điển và nghĩa sử dụng của từ “chú thích” trongSGK Tiếng việt lớp 3;

- Mô tả đặc điểm “chú thích” trong SGK Tiếng việt lớp 3

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu phần chú thích trong văn bản

- Phạm vi nghiên cứu: SGK TV LỚP 3

Trang 6

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu vấn đề chung về văn bản sgk TVTH và phần chú thích

- Khảo sát phần chú thích trong văn bản sgk TVTH

- Đặc điểm phần chú thích trong văn bản sgk TVTH

6 Phương pháp nghiên cứu

Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết

- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

+ Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

+ Phương pháp quan sát

+ Phương pháp phỏng vấn

+ Phương pháp tổng kết kinh nghiệm

+ Phương pháp nghiên cứu sản phẩm của hoạt động sư phạm

-Nhóm phương pháp thống kê, xử lý số liệu

- Thống kê, phân loại phần chú thích trong văn bản sgk TVTH( cách đưa chú thích, cách giải nghĩa từ trong phần chú thích : Giải nghĩabằng định nghĩa; Giải nghĩa theo lối so sánh từ đồng nghĩa, gần nghĩahoặc trái nghĩa Giải nghĩa theo cách miêu tả, Giải nghĩa theo cách phântích từ ra từng tiếng và giải nghĩa từng tiếng này:)

- Nhân xét, phân tích mối quan hệ giữa đối tượng được chú thích vớilời chú thích

7 Đóng góp của khóa luận

Về lý luận: Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần bổ sung một

số vấn đề lý luận về quản lý chú thích trong văn bản SGK Tiếng việt lớp

3

Luận văn hệ thống hóa được những vấn đề lý luận về chú thíchtrong văn bản SGK Tiếng việt lớp 3

Trang 7

Về thực tiễn: luận văn đã chỉ ra thực trạng chú thích trong vănbản SGK Tiếng việt lớp 3 Góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàndiện học sinh trong các trường tiểu học.

8 Cấu trúc của khóa luận

Trang 8

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN

ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1 Từ và nghĩa của từ

1.1.1 Khái niệm từ

Mỗi chúng ta, đã tiếp thu và nhận ra cái gọi là từ thông qua thực tiễnhọc tập và sử dụng ngôn ngữ Cái khó là ở chỗ phải nên ra một định nghĩa

có tính lí thuyết về từ Cho đến nay, trong ngôn ngữ học, các định nghĩa về

từ đã được đưa ra không ít Các định nghĩa ấy, ở mặt này hay mặt kia đềuđúng, nhưng đều không đủ và không bao gồm hết được tất cả các sự kiệnđược coi là từ trong ngôn ngữ và ngay cả trong một ngôn ngữ cũng vậy.Chẳng hạn: Từ là một tổ hợp âm có nghĩa chăng? Từ là một tổ hợp các âmphản ánh khái niệm chăng? Từ là một đơn vị tiềm tàng khả năng trở thànhcâu chăng? Từ là một kí hiệu ngôn ngữ ứng với một khái niệm chăng?…Tình trạng phức tạp của việc định nghĩa từ, do chính bản thân từ trong cácngôn ngữ, không phải trường hợp nào cũng như nhau Chúng có thể khácvề:

– Kích thước vật chất

– Loại nội dung được biểu thị và các biểu thị

– Cách thức tổ chức trong nội bộ cấu trúc

– Mối quan hệ với các đơn vị khác trong hệ thống ngôn ngữ nhưhình vị, câu…

– Năng lực và chức phận khi hoạt động trong câu nói

Xét hai từ hợp tác xã và nếu trong tiếng Việt làm ví dụ, ta sẽ thấy:

Từ thứ nhất có kích thước vật chất lớn hơn nhiều so với từ thứ hai;

và cấu trúc nội tại của nói cũng phức tạp hơn nhiều

Từ thứ nhất biểu thị một khái niệm, có khả năng hoạt động độc lậptrong câu, làm được chủ ngữ, bổ ngữ, định ngữ… trong câu; còn từ thứ hai

Trang 9

lại không biểu thị khái niệm, không có được năng lực để thể hiện nhữngchức phận như từ thứ nhất…

1.b Vì những lẽ đó, không hiếm nhà ngôn ngữ học (kể cả F deSaussure, S Bally, G Glison…) đã chối bỏ khái niệm từ, hoặc nếu thừanhận khái niệm này thì họ cũng lảng tránh việc đưa ra một khái niệm chínhthức

Lại có nhà nghiên cứu xuất phát từ một lĩnh vực cụ thể nào đó, đãđưa ra những định nghĩa từng mặt một như từ âm vị học, từ ngữ pháp học,

từ chính tả, từ từ điển…Dù sao, từ vẫn là đơn vị tồn tại tự nhiên trong ngônngữ; và chính nó là đơn vị trung tâm của ngôn ngữ; bởi vì, đối với mỗichúng ta, nói như ý của E.Sapir thì việc nhận thức từ như là cái gì đấy hiệnthực về mặt tâm lí, chẳng có khó khăn gì đáng kể

1.c Mong muốn của các nhà ngôn ngữ học đưa ra một định nghĩachung, khái quát, đầy đủ về từ cho tất cả mọi ngôn ngữ, tiếc thay, cho đếnnay vẫn chưa đạt được và có lẽ sẽ không thể đạt được Chúng ta có thểđồng tình với L.Serba khi ông cho rằng từ trong ngôn ngữ khác nhau, sẽkhác nhau…, và không thể có được một khái niệm về từ nói chung

Tuy thế, để có cơ sở tiện lợi cho việc nghiên cứu, người ta vẫnthường chấp nhận một khái niệm nào đó về từ tuy không có sức bao quáttoàn thể nhưng cũng chỉ để lọt ra ngoài phạm vi của nó một số lượngkhông nhiều những trường hợp ngoại lệ Chẳng hạn:

Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa của ngôn ngữ được vận dụng độc lập,tái hiện tự do trong lời nói để xây dựng nên câu Quan niệm này gần vớiquan niệm của B.Golovin trong cuốn sách "Dẫn luận ngôn ngữ học" củaông Nó cũng có nhiều nét gần với quan niệm của L.Bloomfield, coi từ làmột “hình thái tự do nhỏ nhất” Có nghĩa rằng từ là một hình thái nhỏ nhất

có thể xuất hiện độc lập được

Trang 10

1.d Ngay cả những quan điểm như thế, sự thực cũng không phải là

áp dụng được cho tất cả mọi ngôn ngữ và tất cả mọi kiểu từ Chẳng hạn từnếu vừa nói bên trên cũng như từ và, với, thì, ư… trong tiếng Việt; từ and,

up, in, of… của tiếng Anh không thoả mãn được điều kiện "tái hiện tự do"trình bày trong quan niệm này

Gặp những trường hợp như vậy (trường hợp của những cái mà tavẫn gọi là từ hư) người ta phải có những biện luận riêng

– Trước hết, tất cả chúng đề có nghĩa của mình ở dạng này hay dạngkhác, thể hiện bằng cách này hay cách khác

– Thứ hai, khả năng "tái hiện tự do" của chúng được thể hiện "mộtcách không tích cực" Cần nhớ là trong ngôn ngữ, chỉ có những đơn vịcùng cấp độ thì mới trực tiếp kết hợp với nhau Xét hai câu bình thườngtrong tiếng Việt và tiếng Anh

– Em sống với bố và mẹ

– He will leave here after lunch at two o’clock

Ở đây, em, bố, mẹ, sống, he, leave, here, lunch, two, c’clock chắcchắn là các các từ Vậy thì với, và, will, after, at cũng phải là từ

– Thứ ba, không hiếm từ hư trong một số ngôn ngữ đã được chứngminh là có nguồn gốc từ từ thực Sự hao mòn ngữ nghĩa cùng với sự biếnđối về chức năng của chúng đã xẩy ra Tuy vậy, không vì thế mà tư cách từcủa chúng bị xoá đi Ví dụ: trong tiếng Hindu: me (trong) < madhya(khoảng giữa); ke arth (để, vì) < artha (mục đích) của Sanskrit… trongtiếng Hausa: bisan (trên) < bisa (đỉnh, chóp); gaban (trước) < gaba (ngực)

… trong tiếng Việt: của < của (danh từ); phải < phải (động từ); bị < bị(động từ)…

Việc xét tư cách từ cho những trường hợp như: nhà lá, áo len, đêmtrắng, chó mực, cao hổ cốt… trong tiếng Việt còn phức tạp hơn nhiều.Trong các ngôn ngữ khác cũng không phải là không có tình hình tương tự

Trang 11

Mặc dù các nhà nghiên cứu đã cố gắng tìm tòi những tiêu chí cơbản, phổ biến để nhận diện từ (như: tính định hình hoàn chỉnh, tính thànhngữ, do A.Smirnitskij đưa ra chẳng hạn) nhưng khi đi vào từng ngôn ngữ

cụ thể, người ta vẫn phải đưa ra hàng loạt tiêu chí khác nữa, có thể cụ thểhơn, khả dĩ sát hợp với thực tế từng ngôn ngữ hơn, và thậm chí có cảnhững biện luận riêng

1.1.2 Nghĩa của từ tiếng Việt

Đơn vị cơ sở để cấu tạo từ tiếng Việt là các tiếng, cái mà ngữ âmhọc vẫn gọi là các âm tiết Mặc dù nguyên tắc phổ biến là các từ được cấutạo từ các hình vị, nhưng hình vị trong các ngôn ngữ khác nhau có thểkhông như nhau

Tiếng của tiếng Việt có giá trị tương đương như hình vị trong cácngôn ngữ khác, và người ta cũng gọi chúng là các hình tiết(morphemesyllable) – âm tiết có giá trị hình thái học

– Về hình thức, nó trùng với âm đoạn phát âm tự nhiên được gọi là

âm tiết (syllable)

– Về nội dung, nó là đơn vị nhỏ nhất có nội dung được thể hiện Chí

ít nó cũng có giá trị hình thái học (cấu tạo từ) Sự có mặt hay không có mặtcủa một tiếng trong một "chuỗi lời nói ra" nào đó, bao giờ cũng đem đếntác động nhất định về mặt này hay mặt khác Ví dụ: đỏ – đo đỏ – đỏ đắn –

đỏ rực – đỏ khé – đỏ sẫm… vịt – chân vịt – chân con vịt…

Xét về ý nghĩa, về giá trị ngữ pháp, về năng lực tham gia cấu tạotừ… không phải tiếng (hình tiết) nào cũng như nhau Trước hết có thể thấy

ở bình diện nội dung:

a Có những tiếng tự nó mang ý nghĩa, được quy chiếu vào một đốitượng, một khái niệm như: cây, trời, cỏ, nước, sơn, hoả, thuỷ, ái…

Ngày đăng: 29/06/2020, 16:05

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Khảo sát hiện trang chú thích trong sgk Trình bày khái - Sách giáo khoa lớp 3
Bảng 2.1. Khảo sát hiện trang chú thích trong sgk Trình bày khái (Trang 23)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w