1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn sư phạm Tổ chức trần thuật trong tiểu thuyết Giàn thiêu của Võ Thị Hảo

77 98 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 733,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quan tâm đến phương diện khác của Giàn thiêu, tác giả Nguyễn Thị Tuyết Minh trong bài nghiên cứu Điểm nhìn nghệ thuật trong tiểu thuyết lịch sử Giàn thiêu đã chú ý đến một yếu tố quan tr

Trang 1

Kho¸ luËn tèt nghiÖp

1.2 Nếu như văn học trước 1975, xét trên phương diện thể loại là thời đại ngự trị của thơ ca thì văn học Việt Nam sau 1975 (đặc biệt là văn học sau 1986) là mảnh đất màu mỡ cho văn xuôi, nhất là thể loại tiểu thuyết phát triển

- một thể loại đặc biệt quan trọng, không thể thiếu trong đời sống văn học mà theo Bakhtin nó mãi ở “thì hiện tại chưa hoàn thành”, tức ông muốn đề cập đến đặc thù của bản thân khách thể này: Tiểu thuyết là thể loại văn chương duy nhất đang biến chuyển và chưa định hình

Trên văn đàn Việt Nam trong những năm gần đây, thể loại tiểu thuyết

đã có sự phát triển mạnh mẽ và biến đổi sâu sắc, ngày càng khẳng định vai trò

là “xương sống” của nền văn học nước nhà Tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới đã có nhiều đóng góp tích cực cả về nội dung tư tưởng lẫn hình thức nghệ thuật như: Đổi mới quan điểm về hiện thực, đổi mới quan niệm về con người

và ngoài ra còn đổi mới quan niệm về phương thức trần thuật Bên cạnh

Trang 2

Kho¸ luËn tèt nghiÖp

những chất liệu từ đời sống, cảm hứng thế sự đời tư thì lịch sử cũng trở thành một nguồn cảm hứng, một đề tài mới để các nghệ sĩ khai thác và sáng tạo

Nói đến tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau 1975 không thể không nhắc đến người mở đường đó là nhà văn Bảo Ninh với tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh (hay Thân phận của tình yêu) Tiếp đến là sự xuất hiện của hàng loạt tiểu thuyết lịch sử khác gắn với với những tên tuổi đáng lưu ý như: Vằng vặc sao Khuê của Hoàng Công Khanh, Bão táp cung đình, Thăng Long nổi giận của Hoàng Quốc Hảo, Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh, Con ngựa Mãn Châu của Nguyễn Quang Thân, Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác…

và gần đây là tiểu thuyết lịch sử Giàn thiêu của Võ Thị Hảo

Giàn thiêu được ra đời năm 2003 đã gây xôn xao trên văn đàn và đặc biệt là trong giới phê bình và độc giả cả nước Tiểu thuyết đã đạt giải nhất của Hội nhà văn Hà Nội (2003), rồi giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam năm

2004 Giàn thiêu là cuốn tiểu thuyết chồng xếp những lớp trầm tích như: lịch

sử, huyền thoại, tôn giáo, tập trung khai thác khám phá những phương diện tính cách, số phận của một số nhân vật có thật trong lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam dưới hai triều đại của vua Lý Nhân Tông và vua Lý Thần Tông (từ 1088 - 1138) Cuốn tiểu thuyết có nhiều cách tân nổi bật, đánh dấu sự khởi sắc của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại Và cho đến nay tiểu thuyết Giàn thiêu của Võ Thị Hảo luôn được coi là một hiện tượng văn học gây được nhiều sự chú ý và trở thành đề tài của nhiều công trình nghiên cứu khoa học

Thông qua đề tài Tổ chức trần thuật trong tiểu thuyết Giàn thiêu của

Võ Thị Hảo chúng tôi muốn đóng góp thêm một cách tiếp cận, một hướng khám phá về giá trị nghệ thuật cũng như giá trị nội dung của tiểu thuyết Qua

đó, thấy được những tìm tòi sáng tạo, những đóng góp của nhà văn đối với thể loại tiểu thuyết nói riêng và nền văn học nước nhà nói chung

Trang 3

Kho¸ luËn tèt nghiÖp

1.3 Lựa chọn đề tài trên, người viết không chỉ có dịp khám phá các giá trị của một tác phẩm mà theo đó kết quả nghiên cứu cũng hỗ trợ cho chúng tôi với tư cách là một người giáo viên Ngữ văn tương lai sẽ giảng dạy tốt hơn các tác phẩm văn học đặc biệt là tác phẩm văn xuôi ở trường phổ thông Bởi vì, quá trình thực hiện đề tài cũng chính là quá trình người viết được rèn luyện tốt hơn các kĩ năng, thao tác tư duy phân tích tác phẩm văn học, giúp học sinh khám phá được những cái hay cái đẹp của tác phẩm văn chương và thấy được tài năng của từng nghệ sỹ

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Như đã nói, Giàn thiêu của Võ Thị Hảo xuất bản đầu tiên năm 2003 Vừa mới ra đời, tác phẩm đã gây xôn xao dư luận và đạt được giải thưởng của Hội Nhà văn Hà Nội Xoay quanh tác phẩm có rất nhiều ý kiến, nhận xét khác nhau với những hướng tiếp cận khác nhau Cuốn tiểu thuyết trở thành đề tài quan tâm của đông đảo bạn đọc cũng như giới nghiên cứu phê bình văn học trong những năm gần đây Tuy nhiên, qua theo dõi, chúng tôi thấy tác phẩm trở thành đề tài trao đổi trong các cuộc tọa đàm hơn là trong các bài nghiên cứu trên các báo và tạp chí Liên quan đến tiểu thuyết Giàn thiêu của Võ Thị Hảo có một số cuộc trao đổi thảo luận, một số bài nghiên cứu phê bình đề cập đến những phương diện khác nhau của cuốn tiểu thuyết Trong khuôn khổ của khoá luận này, chúng tôi quan tâm đến các bài viết tiêu biểu sau:

Trên báo điện tử ViêtNam.net thứ 2 ngày 31.10.2005 với bài Tiểu thuyết và lịch sử, nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân đã chứng minh Giàn thiêu

là một tiểu thuyết lịch sử chứ không phải là sự pha trộn hay mon men ranh giới giữa thể loại tiểu thuyết và truyện kể lịch sử Ông nhận xét: “Võ Thị Hảo

đã từng hư cấu nghệ thuật để xử lí lại trong tác phẩm của mình các dữ kiện đã

có trong sử kí và truyền thuyết… Võ Thị Hảo đã tận dụng được những sử liệu của Đại Việt sử kí toàn thư đặc biệt là những sự kiện quan trọng của giai

Trang 4

Kho¸ luËn tèt nghiÖp

đoạn 1088 - 1138 dưới hai triều đại vua Lý Nhân Tông và Lý Thần Tông, đã tận dụng các truyền thuyết về Từ Đạo Hạnh trong Thiền uyển tập anh lại cũng dày công hư cấu “thiết kế lại quá khứ” từ núi sông cây cối, phong cảnh phía tây thành Thăng Long đến thác nước Sông Gâm rồi tưởng tượng ra những vùng núi cao tuyết phủ xa xôi nơi Thiền Trúc, đến dinh ngự quan lại các cảnh hỗn chiến, đánh đập rồi các thứ lễ và hội, bánh trái, trang phục, mĩ phẩm… tạo nên da thịt liền mạch cho đời sống quá khứ được dựng lại trong tác phẩm”

Ngoài ra tác giả còn cho rằng: “Giàn thiêu khai thác đúng cung cách của tiểu thuyết chứ không lạc sang hướng của các kiểu truyện cổ hôi hám sử thi Hướng làm việc của tác giả tiểu thuyết Giàn thiêu cố nhiên không quá đơn độc, trái lại thậm chí đang cùng một số tác giả khác làm nên một chuyển động bên trong dòng sáng tác về văn xuôi hay lịch sử hiện nay Nó cho thấy người sáng tác về đề tài lịch sử cũng phải gắn bó với đời sống hiện tại, phải từ những vấn nạn của hiện tại mà tìm chất liệu bên trong quá khứ lịch sử” Bên cạnh đó, Lại Nguyên Ân còn phát hiện ra một số điều thú vị trong tiểu thuyết này đó là xu hướng nữ quyền được nhà văn thể hiện “khá lộ liễu”

Trên trang báo điện tử Phongđiep.net của tác giả Phong Điệp cũng có bài viết Vấn đề ngôn ngữ trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại Trong đây tác giả nhận xét về ngôn ngữ của tiểu thuyết như sau: “Một số tác phẩm như Hồ Quý Ly, Giàn thiêu có nhiều trang Giàn thiêu viết kết hợp nhuần nhuyễn giữa ngôn ngữ lịch sử và ngôn ngữ tiểu thuyết…” “Có thể tìm thấy trong tiểu thuyết ngôn ngữ nhà Phật, tầng lớp nho học Giàn thiêu là cuốn tiểu thuyết chồng xếp nhiều lớp trầm tích: lịch sử, huyền thoại, tôn giáo… Ngôn ngữ có cái ảo diệu, mê hoặc mang màu sắc tôn giáo gắn với tín ngưỡng dân gian” Sự kết hợp độc đáo giữa cảm hứng chiêm nghiệm lịch sử

và cảm hứng thế sự đã tạo nên ngôn ngữ đầy màu sắc triết luận Giàn thiêu đã

Trang 5

Kho¸ luËn tèt nghiÖp

kích thích khả năng đối thoại với quá khứ Khác với tiểu thuyết lịch sử trước đây thường là giọng khẳng định hoặc phủ định, tiểu thuyết lịch sử giai đoạn này là tăng cường tính tự vấn

Quan tâm đến phương diện khác của Giàn thiêu, tác giả Nguyễn Thị Tuyết Minh trong bài nghiên cứu Điểm nhìn nghệ thuật trong tiểu thuyết lịch sử Giàn thiêu đã chú ý đến một yếu tố quan trọng trong tổ chức trần thuật của tiểu thuyết đó là điểm nhìn nghệ thuật Tác giả cho rằng: “Võ Thị Hảo đã không bằng lòng với việc đứng ngoài quan sát nhân vật, nhà văn chuyển điểm nhìn vào bên trong, nhập vào nhân vật, cho người đọc có dịp chu du trong thế giới nội tâm đầy mâu thuẫn, giằng xé của nhân vật Ở một thời điểm lịch sử cụ thể, nhà văn đã để cho nhân vật của mình nói lên những suy tư, trăn trở trong lòng họ Qua đó, người đọc sẽ nghiệm sinh về một gương mặt lịch sử của riêng mình Nhìn lịch sử từ nhiều phía là một thái độ dân chủ, là ưu thế đặc biệt của tiểu thuyết hôm nay đó cũng là sự chân trọng độc giả, tự trọng trong

tư cách người cầm bút” [21 - Tr 60]

Hay trong một bài viết với nhan đề Khuynh hướng tiểu thuyết hóa lịch

sử trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau 1975, tác giả Nguyễn Thị Tuyết Minh nhận định: Giàn thiêu được sáng tác bằng cách nhà văn đã “hình dung lịch sử như một giả định” để tạo một cuốn tiểu thuyết “giả lịch sử” và tìm thấy trong tiểu thuyết những bài học nhân sinh đầy ý nghĩa… Trong Giàn thiêu nhà văn Võ Thị Hảo đã dựa vào những sử liệu của giai đoạn 1088- 1138 dưới hai triều đại được ghi trong Đại Việt sử kí toàn thư và tận dụng các truyền thuyết về nhà sư Từ Đạo Hạnh trong Thiền uyển tập anh để dày công hư cấu thiết kế tạo ra một thể giới của riêng mình” Tác giả cũng tìm ra những bài học nhân sinh, triết lí về con người cuộc đời trong tác phẩm khiến độc giả không ngừng suy ngẫm: “Con người sinh ra vốn không chỉ phải chỉ sống để rửa thù, con người chỉ sống với hận thù cũng là một nhân dạng méo mó Kẻ

Trang 6

Kho¸ luËn tèt nghiÖp

thuyết giảng với người đổi một đường bản thân lại sống theo đường khác chắc chắn sẽ bị người đời lột tẩy, khát vọng sống nhiều hơn một kiếp hữu hạn là có thể hiểu được những tham vọng quá đáng sẽ bị gãy đổ Cuộc sống con người

là hành xác hay sự buông thả Giữa hai nẻo đường ấy, nẻo đường nào đem lại hạnh phúc”[ 22 - Tr 60]

Với bài Mẫu gốc như là thành phần tạo nghĩa trong chuyện kể (khảo sát qua mẫu gốc Lửa và Nước) trong Giàn thiêu của Võ Thị Hảo, tác giả Đào Vũ Hòa An đã xem xét mẫu gốc Lửa và Nước để tìm ra các phương diện biểu hiện ý nghĩa trong tiểu thuyết Giàn thiêu như: Lửa gắn với sự thù hận - nhân vật Từ Lộ; Lửa gắn với dục vọng - nhân vật Lý Câu, Đại Điên, Từ Lộ; Nước gắn với nhân vật Nhuệ Anh, Ngạn La, Lý Thần Tông; Nước gắn với ranh giới - cuộc đời Từ Lộ, Từ Đạo Hạnh, Lý Thần Tông; Nước gắn với dòng đời, Nước gắn với nguồn sống, sự tái sinh… Từ đó, các nhân vật trong Giàn thiêu hiện lên không phải là con người của lịch sử, truyền thuyết hay xã hội trung đại nào nữa mà là con người thuộc về thời đại hôm nay

Như vậy, các công trình nghiên cứu kể trên đã đề cập đến một sồ vấn đề

cơ bản của tiểu thuyết Giàn thiêu như: Giàn thiêu là một cuốn tiểu thuyết lịch

sử đích thực chứ không phải là truyện kể lịch sử đơn thuần, ngôn ngữ nghệ thuật, điểm nhìn nghệ thuật, tính chất “giả lịch sử”, các thành phần tạo nghĩa…Trong số những bình diện vừa nêu thì điểm nhìn và ngôn ngữ nghệ thuật là những yếu tố quan trọng của tổ chức trần thuật Tuy nhiên, sự tiếp cận toàn bộ tổ chức trần thuật của Giàn thiêu vẫn thực sự chưa có công trình nào bàn đến Chính vì vậy, khoá luận này sẽ tập trung tìm hiểu vấn đề đó nhằm góp thêm một cách tiếp cận cuốn tiểu thuyết và làm sáng tỏ các mặt giá trị của

nó cũng như thấy được tài năng sáng tạo, những cách tân đáng chú ý của nhà văn Võ Thị Hảo trong Giàn thiêu

Trang 7

Kho¸ luËn tèt nghiÖp

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích của khóa luận là tìm hiểu về tổ chức trần thuật của tiểu thuyết Giàn thiêu của Võ Thị Hảo từ đó tìm ra những nét đặc sắc, độc đáo trong việc khai thác điểm nhìn và phương thức trần thuật của nhà văn, tất nhiên không tách rời nó với việc thể hiện và làm sáng rõ giá trị nội dung của tác phẩm

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Xuất phát từ việc nắm vững kiến thức về tổ chức trần thuật trong tác phẩm tự sự nói chung và tiểu thuyết nói riêng, khóa luận có nhiệm vụ chỉ ra những nét độc đáo trong cấu trúc trần thuật và hiệu quả nghệ thuật của những sáng tạo đó trong khi thể hiện nội dung của tác phẩm

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Với đề tài đã chọn, đối tượng nghiên cứu chúng của chúng tôi ở khoá luận này là những nét độc đáo trong tổ chức trần thuật của tiểu thuyết Giàn thiêu

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi kiến thức: Tổ chức trần thuật là một cấu trúc rộng, gồm rất nhiều yếu tố Song, ở phạm vi của khoá luận này chúng tôi chỉ tập trung triển khai một số phương diện chủ yếu của nó đó là: điểm nhìn trần thuật và ngôi

kể, ngôn ngữ trần thuật và giọng điệu, một số thủ pháp trần thuật quan trọng

Phạm vi tư liệu: Thựchiệnđề tài Tổ chức trần thuật trong tiểu thuyết Giàn thiêu của Võ Thị Hảo, chúng tôi tìm hiểu và khảo sát một số tài liệu cơ bản sau:

- Võ Thị Hảo (2004), Giàn thiêu, Nxb Phụ nữ

- Nhiều tác giả (2003), Đại Việt sử kí toàn thư, Nxb Khoa học xã hội

- Nguyễn Đức Thọ - Nguyễn Thuý Nga (1990), Thiền uyển tập anh, Nxb Văn hoá

Trang 8

Kho¸ luËn tèt nghiÖp

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài Tổ chức trần thuật trong tiểu thuyết Giàn thiêu của Võ Thị Hảo, chúng tôi vận dụng những phương pháp nghiên cứu sau:

5.1 Phương pháp phân tích đối tượng theo quan điểm hệ thống Phương pháp này giúp người nghiên cứu có thể phân chia đối tượng ra làm nhiều yếu tố để xem xét Những yếu tố đó có cùng một trình độ, có chức năng và nhiệm vụ khác nhau, nhưng giữa chúng luôn có mối quan hệ chặt chẽ

và ảnh hưởng lẫn nhau tạo thành chỉnh thể của hệ thống

5.2 Phương pháp so sánh hệ thống

Sử dụng phương pháp này, chúng tôi có thể tiến hành so sánh nhiều hệ thống nghệ thuật với nhau nhằm tìm ra những phương diện độc đáo của hệ thống này so với hệ thống kia

5.3 Phương pháp so sánh loại hình

Đây là phương pháp nghiên cứu văn chương theo loại tác phẩm (tự sự,trữ tình và kịch) Vận dụng phương pháp này, người nghiên cứu sẽ tìm ra được những nét độc đáo trong sáng tạo của mỗi nghệ sĩ

5.4 Phương pháp lịch sử phát sinh

Vận dụng phương pháp nghiên cứu này, chúng ta sẽ tìm hiểu cội nguồn lịch sử, nguồn gốc phát sinh của một hệ thống từ đó tìm ra đặc trưng của hệ thống đó

6 Đóng góp của khoá luận

Với khóa luận này chúng tôi muốn đề xuất một hướng tiếp cận mới

về tiểu thuyết lịch sử Giàn thiêu của Võ Thị Hảo từ phương diện tổ chức trần thuật Trên cơ sở đó, người viết mong muốn sẽ có những đóng góp nhỏ một vài bình diện sau:

Trang 9

Kho¸ luËn tèt nghiÖp

Thứ nhất, góp phần tìm hiểu và xác lập một cách hiểu chính thống về các yếu tố của tổ chức trần thuật như: Khái niệm trần thuật, điểm nhìn nghệ thuật, người trần thuật và ngôi kể, một số phương thức, thủ pháp và biện pháp dùng

7 Bố cục của khoá luận

Với đề tài đã chọn, ngoài phần mở đầu và phần kết luận thì phần nội dung được chúng tôi triển khai thành ba chương

Chương 1 Cơ sở lý luận

Chương 2 Sự khai thác điểm nhìn trần thuật

Chương 3 Ngôn ngữ và thủ pháp trần thuật

Trang 10

Kho¸ luËn tèt nghiÖp

NỘI DUNG CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN

1 Khái niệm trần thuật

Trần thuật (narration) vừa là phương thức vừa là đặc trưng quan trọng không thể thiếu đối với tác phẩm tự sự, đặc biệt là tiểu thuyết Ngay từ đầu thế

kỉ XX thì trần thuật đã trở thành một trong những vần đề lý thuyết tự sự học thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới Từ trước đến nay,

ở Việt Nam và trên thế giới đã xuất hiện nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm trần thuật Điều này nói lên tính thống nhất chưa cao trong quan điểm của các nhà nghiên cứu Trong phạm vi của một khoá luận tốt nghiệp, chúng tôi chỉ xin trích dẫn một số định nghĩa được coi là tiêu biểu và được nhiều người quan tâm hơn cả

Trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học các nhà nghiên cứu đã định nghĩa về trần thuật: “Trần thuật là hành vi ngôn ngữ kể, thuật miêu tả sự kiện, nhân vật theo một thứ tự nhất định, một cách nhìn nào đó” [6 - Tr 364]

Cùng bàn về khái niệm trần thuật, tác giả Lại Nguyên Ân trong 150 thuật ngữ văn học cho rằng: “Trần thuật bao gồm việc kể và miêu tả các hành động và các biến cố trong thời gian, mô tả chân dung hoàn cảnh của hành động, tả ngoại cảnh, tả nội thất … bàn luận, lời nói bán trực tiếp của các nhân vật Do vậy, trần thuật là phương thức chủ yếu để cấu tạo các tác phẩm tự sự hoặc của người kể chuyện, tức là toàn bộ văn bản tác phẩm tự sự, ngoại trừ lời nói trực tiếp của các nhân vật” [2 - Tr 324]

Trong bài Về việc mở ra môn trần thuật học trong ngành nghiên cứu văn học Việt Nam, tác giả Lại Nguyên Ân lại khẳng định: “Thực chất hoạt

Trang 11

Kho¸ luËn tèt nghiÖp

động trần thuật là kể, là thuật Cái được thuật, được kể, trong tác phẩm văn học tự sự là chuyện” [17 - Tr.147]

Giáo trình lí luận văn học do Trần Đình Sử (chủ biên) đã đưa ra cách hiểu về khái niệm trần thuật tương đối thống nhất với những cách hiểu trên:

“Trần thuật là kể, thuyết minh, giới thiệu về nhân vật, sự kiện, bối cảnh trong truyện Trần thuật là hành vi ngôn ngữ kể, thuật, miêu tả sự kiện, nhân vật theo một thứ tự nhất định” [18 - Tr.19]

Qua các định nghĩa trên, chúng ta nhận thấy: khái niệm trần thuật và khái niệm kể chuyện có thể thay thế cho nhau và chúng được diễn đạt bằng các thuật ngữ mang tính cụ thể hơn như: người kể chuyện, điểm nhìn, ngôi kể… Các quan niệm trên đều khẳng định trần thuật là một khái niệm luôn gắn liền với bố cục và kết cấu của tác phẩm Người trần thuật đóng vai trò như một người “dẫn chương trình” giúp độc giả xem xét, tìm hiểu tác phẩm ở cả

bề mặt cũng như bề sâu Mặt khác, cũng thông qua trần thuật mà tài năng và

cá tính sáng tạo của nghệ sĩ được bộc lộ rõ nhất Bởi vì, một tác phẩm văn học

dù được kể như thế nào: theo tuyến tính hay phi tuyến tính, theo quá khứ hay hiện tại - tương lai liền mạch hay đứt quãng, nhanh hay chậm… thì trần thuật luôn là cả một hệ thống, một tổ chức nhất định trong mỗt tác phẩm tự sự

2 Vai trò của trần thuật đối với loại tác phẩm tự sự

Trong tác phẩm tự sự, đặc biệt là tiểu thuyết một thể loại luôn ở “thì hiện tại chưa hoàn thành” (Bakhtin), thể loại then chốt của đời sống văn học thời hiện đại thì trần thuật giữ vai trò quan trọng tạo nên thế giới nghệ thuật của tác phẩm, tạo nên phong cách, cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ Chính

vì vậy mà Pospelov khẳng định: “Đóng vai trò quyết định trong loại tác phẩm

tự sự là trần thuật” [13 - Tr.166] và “Với sự trợ giúp của trần thuật, miêu tả, bình luận tác giả, lời nói nhân vật, trong tác phẩm tự sự cuộc sống được nắm bắt một cách tự do và sâu rộng” [13 - Tr 56] Qua đó, ông đã đề cập đến vai

Trang 12

Kho¸ luËn tèt nghiÖp

trò của trần thuật đối với loại tác phẩm tự sự - một loại văn có khả năng phản ánh hiện thực sâu sắc, phong phú và đa dạng hơn cả, trong đó trần thuật là yếu

tố quan trọng không thể thiếu

Có thể thấy vai trò của trần thuật trong tác phẩm tự sự được thể hiện cụ thể như sau:

Trước tiên, trần thuật là yếu tố tạo nên diện mạo của một tác phẩm tự sự

ở cả hai phương diện nội dung và hình thức

Xét trên phương diện hình thức thì trần thuật là yếu tố thuộc về bố cục

và kết cấu của tác phẩm tự sự Nếu nhà văn biết cách tổ chức trần thuật hợp lí thì tác phẩm đó sẽ có bố cục và kết cấu thống nhất, nhưng nếu thiếu đi yếu tố trần thuật thì văn bản nghệ thuật đơn giản chỉ là một chuỗi ngôn từ liền mạch mà thôi

Xét trên phương diện nội dung, các yếu tố của trần thuật giữ vai trò tổ chức, gắn kết các nội dung thông tin của tác phẩm, trên cơ sở đó nó sẽ chuyển tải được những thông điệp nghệ thuật mà người nghệ sĩ muốn gửi gắm đến độc giả Chẳng hạn, để hiểu sâu một tác phẩm nghệ thuật, bạn đọc không thể không tìm hiểu người trần thuật và ngôi kể, xác định người trần thuật ở đây là

ai, ngôi kể thứ nhất, thứ hai, hay thứ ba, vì tác phẩm tự sự không thể vắng một người trần thuật và không thể kể chung chung mà không có một ngôi nhất định

Hơn nữa, qua thực tiễn của công việc sáng tạo nghệ thuật cho thấy, nghệ thuật trần thuật là một trong những tiêu chuẩn để đánh giá cá tính sáng tạo, phong cách nghệ thuật của người nghệ sĩ Ở những nghệ sĩ tài năng, độc giả sẽ tìm thấy trong tác phẩm của họ nghệ thuật trần thuật luôn có sự tìm tòi,sự sáng tạo, kết hợp linh hoạt và độc đáo các yếu tố của nó

Trang 13

Kho¸ luËn tèt nghiÖp

3 Các yếu tố cơ bản của tổ chức trần thuật

Vì trần thuật là một khái niệm “động”, đang được các nhà nghiên cứu bổ sung và hoàn thiện cho nên các yếu tố của nó cũng đa dạng và không ngừng được mở rộng Trong Bàn về văn học, Goorki đã chỉ ra rằng: Thành phần của trần thuật không chỉ gồm lời thuật, chức năng của nó không chỉ là kể lại việc mà bao hàm cả miêu tả đối tượng, phân tích hoàn cảnh, thuật lại tiểu

sử nhân vật, lời bình luận, lời trữ tình ngoại đề, lời ghi chú của tác giả

Nhưng theo giáo sư Trần Đình Sử thì trần thuật gồm sáu yếu tố cơ bản: người kể chuyện; ngôi trần thuật - vai trần thuật; điểm nhìn trần thuật; lược thuật, miêu tả chân dung và dựng cảnh; phân tích bình luận; giọng điệu

Tìm hiểu các yếu tố của trần thuật trong tác phẩm tự sự nói chung và trong tiểu thuyết nói riêng sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về một phương diện

cơ bản của thi pháp thể loại Nhưng trong giới hạn của khoá luận, chúng tôi chỉ tập trung bàn về một vài yếu tố cơ bản của vấn đề trần thuật trong tiểu thuyết Giàn thiêu của Võ Thị Hảo đó là:

- Người trần thuật và ngôi kể

- Điểm nhìn trần thuật

- Ngôn ngữ và thủ pháp trần thuật

3.1 Người trần thuật và ngôi kể

3.1.1 Người trần thuật (narrator) hay còn được gọi là người kể chuyện

là yếu tố quan trọng hàng đầu của tiểu thuyết

Bàn về khái niệm người trần thuật các tác giả của Từ điển thuật ngữ văn học cho rằng đó là: “Hình thái của hình tượng tác giả trong tác phẩm văn học nghệ thuật, là người mang tiếng nói, quan điểm tác giả trong tác phẩm văn xuôi” [6 - Tr 221]

Còn Genette lại nhấn mạnh đến chức năng của người trần thuật Theo ông: “Người trần thuật có chức năng của tác giả, vừa kể chuyện, vừa chỉ huy

Trang 14

Kho¸ luËn tèt nghiÖp

cách kể, vừa truyền đạt thông tin, vừa thuyết phục người đọc…” [16 - Tr 180]

Như vậy, có thể khẳng định, người trần thuật là do nhà văn tạo ra để thực hiện hành vi trần thuật Qua trần thuật, tác giả tạo ra một người gần gũi nhất với mình để kể chuyện nhưng không bao giờ đồng nhất với tác giả tiểu

sử

3.1.2 Ngôi kể

Khái niệm người trần thuật luôn gắn liền với khái niệm ngôi kể Chúng gắn bó và tồn tại không tách rời nhau Một tác phẩm văn học có thể được kể theo ngôi thứ nhất, ngôi thứ hai hoặc ngôi thứ ba

Trong trường hợp nhân vật đóng vai trò người trần thuật, thì tác phẩm được kể ở ngôi thứ nhất xưng “tôi” Đây chính là hình thức ngôi kể lộ diện

Ở Việt Nam, tiểu thuyết có nhân vật trần thuật ở ngôi thứ nhất xuất hiện vào cuối thế kỉ XIX đó là tiểu thuyết Truyện thầy Lazô Phiền (1887) của Nguyễn Trọng Quản Trong văn chương đương đại nhất là từ sau đổi mới, có rất nhiều tác phẩm được trần thuật ở ngôi thứ nhất như tác phẩm của Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Ma Văn Kháng, Phạm Thị Hoài… Khi trần thuật theo ngôi thứ nhất, lối trần thuật ở đây vừa là ngôn ngữ trần thuật của tác giả, vừa là ngôn ngữ trần thuật của nhân vật (vừa là lời trực tiếp, vừa là lời gián tiếp)

Ngoài hình thức kể chuyện theo ngôi thứ nhất “lộ diện” thì tác phẩm văn học cũng thường được kể chuyện theo ngôi thứ ba, hình thức người kể chuyện theo ngôi thứ ba được gọi là “thượng đế toàn thông”.Ở đây, người kể chuyện giấu mặt và đứng ở một vị trí nào đó trong không gian, thời gian để quan sát, bao quát hết mọi diễn biến của câu chuyện đã xảy ra từ lúc bắt đầu đến khi kết thúc và kể lại cho chúng ta Đây là hình thức kể chuyện truyền thống Lời trần thuật ở đây mang tính khách quan hoá và trung tính Theo

Trang 15

Kho¸ luËn tèt nghiÖp

Bakhtin, lời văn trần thuật gián tiếp này có thể chia thành hai loại: gián tiếp một giọng (lời trần thuật tái hiện, bình phẩm thế giới khách quan theo cái vốn

có của chúng) và gián tiếp hai giọng (lời trần thuật có cả của nhân vật, có cả lời trực tiếp và suy tư gián tiếp của nhân vật)

Có một hình thức trung gian giữa ngôi thứ nhất và ngôi thứ ba là hình thức kể chuyện theo ngôi thứ hai, người kể chuyện xưng “anh” Hình thức này vừa mang cái “tôi” của người kể chuyện vừa tạo ra một khoảng cách nhất định với cái “tôi” khác Hình thức này xuất hiện khá ít trong văn học Chúng ta có thể bắt gặp nó trong Không khóc ở Caliphornia của Nguyễn Huy Thiệp, Linh sơn của Cao Hành Kiện …

Như vậy, người trần thuật và ngôi kể là hai khái niệm gắn bó với nhau trong đó người kể chuyện có ảnh hưởng rất lớn đến ngôi kể Người trần thuật vừa đem lại cho tác phẩm một cái nhìn và một sự đánh giá bổ sung về mặt tư tưởng, lập trường, thái độ tình cảm cho cái nhìn tác giả và làm cho sự trình bày, thể hiện con người và cuộc sống thêm phong phú Còn ngôi kể lại góp phần tạo nên giọng điệu của tác phẩm

3.2 Điểm nhìn trần thuật

Điểm nhìn là một vấn đề then chốt của kết cấu tác phẩm tự sự nói chung và tiểu thuyết nói riêng Vấn đề điểm nhìn đã được nghiên cứu từ lâu, bắt đầu từ thế kỉ XIX, gắn với tên tuổi của các nhà lí luận nổi tiếng như T.Tôđôrôp, G Genette, Iu Lôt man, M Bakhtin…

Trước nay có nhiều quan niệm khác nhau liên quan đến vấn đề trần thuật Đầu tiên, phải kể đến định nghĩa trong Từ điển thuật ngữ văn học:

“Điểm nhìn trần thuật là vị trí để từ đó người kể chuyện nhìn và kể, miêu tả các sự kiện, hiện tượng hành vi của đời sống” [6 - Tr 112] Qua đó, chúng ta

có thể hiểu: điểm nhìn là khởi điểm mà việc trần thuật trải ra trong không gian

và thời gian trong văn bản

Trang 16

Kho¸ luËn tèt nghiÖp

Quan niệm của giáo trình Dẫn luận thi pháp học đã bổ sung và mở rộng quan niệm về điểm nhìn của Từ điển thuật ngữ văn học Ở đây, điểm nhìn trần thuật “không chỉ là điểm nhìn thuần tuý quang học như khái niệm tiêu cự, tụ tiêu mà còn mang nội dung quan điểm, lập trường, tư tưởng, tâm lí của con người” [16 - Tr 182].

Như vậy, qua tìm hiểu những quan niệm trên chúng tôi nhận thấy tổ chức điểm nhìn trần thuật là khâu quan trọng nhất trong trần thuật Vì để miêu

tả, trần thuật nhà văn buộc phải xác định, lựa chọn một điểm nhìn hợp lí Điểm nhìn thể hiện sự chú ý và đặc điểm của chủ thể trong việc tạo ra cái nhìn nghệ thuật, mang lại cho bạn đọc những cái nhìn mới nào đó về cuộc đời Bởi thế, các nhà nghiên cứu đều coi điểm nhìn nghệ thuật là một yếu tố đặc biệt quan trọng giữ vai trò then chốt trong sáng tạo nghệ thuật đặc biệt là đối với tác phẩm tự sự

3.3 Ngôn ngữ và thủ pháp trần thuật

Để có thể trần thuật được, trong tác phẩm tự sự nói chung và tiểu thuyết nói riêng các nhà văn thường sử dụng khá đa dạng các phương thức, thủ pháp khác nhau Trong giới hạn của một khóa luận tốt nghiệp, chúng tôi chỉ tập trung tìm hiểu một số phương thức, thủ pháp trần thuật tiêu biểu được nhà văn

Võ Thị Hảo sử dụng trong tiểu thuyết Giàn thiêu đó là:

Trang 17

Kho¸ luËn tèt nghiÖp

tác phẩm văn học Nó được sử dụng như một phương tiện quan trọng để trần thuật

Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa ngôn ngữ người trần thuật:

“phần lời văn độc thoại thể hiện quan điểm tác giả hay quan điểm người kể chuyện (sản phẩm sáng tạo của tác giả) đối với cuộc sống được miêu tả, có những nguyên tắc thống nhất trong việc lựa chọn và sử dụng các phương tiện tạo hình và biểu hiện ngôn ngữ” [6 - Tr 212] Ngôn ngữ người trần thuật là

“yếu tố cơ bản thể hiện phong cách nhà văn, truyền đạt cái nhìn, giọng điệu,

cá tính tác giả” [6 - Tr 212]

Như vậy, ngôn ngữ trần thuật vừa mang tính chính xác, tính cá thể hóa

do đặc trưng của ngôn ngữ người kể chuyện (người trần thuật) và ngôn ngữ nhân vật trong tác phẩm văn học quy định Ở tác phẩm tự sự, ngôn ngữ người trần thuật giữ vai trò quan trọng nhất Khi ngôn ngữ đa thanh thì lời văn trần thuật sẽ đa giọng, và điều này sẽ làm nên tính đối thoại của tác phẩm tự sự

3.3.2 Giọng điệu trần thuật

Giọng điệu trần thuật là một hệ quả tất yếu của ngôn ngữ trần thuật trong tác phẩm văn học Giọng điệu không đơn giản là những tín hiệu âm thanh mà nó là cả một phạm trù thẩm mĩ

Từ điển tiếng Việt định nghĩa giọng điệu: “Cách biểu thị thái độ qua lời nói chung” [15 - Tr 369] Pospelop thì coi giọng điệu là “cách dùng để kể” [13 - Tr.134] Còn các tác giả Từ điển thuật ngữ văn học thì lại cho rằng giọng điệu là “thái độ, tình cảm, lập trường, tư tưởng đạo đức của nhà văn đối với hiện tượng được miêu tả thể hiện trong lời văn quy định cách xưng hô, gọi tên, dùng từ, sắc điệu tình cảm, cách cảm thụ xa gần, thân sơ, thành kính hay suồng sã, ngợi ca hay châm biếm…” [6 – Tr 134]

Như thế, giọng điệu có vai trò rất lớn trong việc tạo nên phong cách nhà văn, nó là yếu tố đặc trưng của hình tượng tác giả trong tác phẩm Nếu trong

Trang 18

Kho¸ luËn tèt nghiÖp

đời sống, chúng ta nghe giọng nói nhận ra con người thì trong văn học, giọng điệu là phương tiện để chúng ta nhận ra tác giả Qua giọng điệu, người đọc có thể nhận thấy chiều sâu tư tưởng, thái độ, vị thế, phong cách, tài năng cũng như sở trường ngôn ngữ, cảm hứng sáng tạo của nghệ sĩ Nền tảng của giọng điệu là cảm hứng chủ đạo của nhà văn

Trong khi trần thuật, tác giả có thể sử dụng nhiều giọng điệu với những sắc thái khác nhau nhưng thường bao giờ cũng dựa trên một giọng chủ âm nào

đó

3.3.3 Thủ pháp trần thuật

Theo Từ điển tiếng Việt thì thủ pháp là: “Cách để thực hiện một mục đích cụ thể” [15 - Tr 1109] Có nhiều thủ pháp được vận dụng như một nguyên tắc để xây dựng tác phẩm văn học nhưng có những thủ pháp là kết quả của sự sáng tạo, thể hiện tài năng của người nghệ sĩ

Để trần thuật, trong tác phẩm văn học các nghệ sĩ thường sử dụng khá

đa dạng các thủ pháp nghệ thuật khác nhau Ở tiểu thuyết Giàn thiêu, chúng tôi đã khai thác và tìm ra một số thủ pháp nghệ thuật tiêu biểu được Võ Thị Hảo sử dụng như:

Trang 19

Kho¸ luËn tèt nghiÖp

CHƯƠNG 2

SỰ KHAI THÁC ĐIỂM NHÌN TRẦN THUẬT

1 Điểm nhìn gắn với ngôi kể

Ở tiểu thuyết truyền thống, quan hệ giữa tác giả và nhân vật là quan hệ đồng nhất, nhà văn sẽ là người đánh giá chân lý, là người biết trước, biết hết

và luôn luôn đúng, nhà văn thường là người phán xét và thường đứng cao hơn bạn đọc Khi đó, điểm nhìn thường trao cho một phía: hoặc người kể chuyện

là tác giả hoặc nhân vật, chủ yếu là trao cho tác giả, tác phẩm thường mang tính độc thoại

Ngày nay, do yêu cầu đổi mới hiện thực, văn học cũng có nhu cầu dân chủ khá cao Theo đó, nhà văn không phải là người phán xét chân lí cuối cùng nữa, ý thức đối thoại cũng tăng lên, tác phẩm thường mang tính phức điệu, đa thanh Do đó, phương thức trần thuật không còn là từ một điểm nhìn nữa mà

có nhiều sự đổi mới, đáp ứng yêu cầu cách tân nền văn học cả về nội dung lẫn hình thức thể hiện

Hòa vào dòng chảy của tiểu thuyết đương đại, đáp ứng nhu cầu đổi mới văn học nói chung và thể loại tiểu thuyết lịch sử nói riêng Tiểu thuyết Giàn thiêu Võ Thị Hảo đã có nhiều cách tân trong việc tổ chức điểm nhìn trần thuật

Trong tiểu thuyết Giàn thiêu, điểm nhìn gắn với ngôi kể thứ ba, người

kể chuyện giấu mặt đứng ngoài quan sát và kể lại câu chuyện Có thể thấy, câu chuyện được kể trong Giàn thiêu xoay quanh cuộc đời của nhân vật Từ

Lộ qua ba kiếp tái sinh: Từ Lộ - Từ Đạo Hạnh; Từ Đạo Hạnh - Lý Thần Tông;

Lý Thần Tông - Hổ, và dựa vào những sử liệu của giai đoạn từ năm 1088 đến năm 1138 dưới hai triều đại vua Lý Nhân Tông và vua Lý Thần Tông được ghi trong Đại Việt sử kí toàn thư và Thiền Uyển tập anh và các truyền thuyết

Trang 20

Kho¸ luËn tèt nghiÖp

về nhà sư Từ Đạo Hạnh để dày công hư cấu, thiết kế lại lịch sử dưới hai triều đại tạo ra một thế giới nghệ thuật của riêng mình Xen lẫn câu chuyện về ba kiếp trầm luân của nhân vật Từ Lộ là những câu chuyện khác xảy ra dưới hai triều đại nhà Lý như: Những chiến công trên sông Như Nguyệt, những lễ hội, phong tục tập quán, những yếu tố huyền thoại kì bí… đặc biệt, việc sáng tạo

ra hình tượng nhân vật Ngạn La, Nhuệ Anh và câu chuyện về Thái hậu Ỷ Lan

đã tạo nên một Giàn thiêu nửa thực nửa hư, làm cho lịch sử vừa đáng tin lại vừa không đáng tin

Tuy lựa chọn hình thức kể chuyện theo ngôi thứ ba đóng vai trò là

“thượng đế toàn thông” biết trước, biết hết nhưng trong tiểu thuyết Giàn thiêu

tổ chức điểm nhìn trần thuật lại có nhiều cách tân mới mẻ

Khước từ hình thức kể chuyện theo trật tự tuyến tính của văn học truyền thống, trong Giàn thiêu, bằng điểm nhìn của người kể chuyện vô hình câu chuyện về cuộc đời của Từ Lộ qua ba kiếp trầm luân được diễn ra dưới hai triều đại nhà Lý Nhà văn không bắt đầu kể bằng các sự kiện, biến cố xảy ra với cuộc đời nhân vật theo thứ tự trước sau mà kể lại theo lối đảo tuyến, đan xen giữa hiện tại và quá khứ Mỗi kiếp tái sinh của Từ Lộ lại được thêu dệt, đan xen vào những câu chuyện khác nhau tạo nên một thế giới vừa thực vừa

hư Việc đảo lộn và đan xen như thế đã tạo ra một hiệu quả thẩm mĩ lớn là vừa

có tác dụng nhấn mạnh lại vừa tăng sức hấp dẫn, thuyết phục đối với độc giả

Kết cấu trong Giàn thiêu có vẻ lỏng lẻo, mơ hồ, khó kể lại Cấu trúc tác phẩm được lắp ghép, chắp nối từ những chương khác nhau, mỗi chương là một câu chuyện, mỗi câu chuyện như một mảnh vụn của hiện thực Các yếu tố của sự kiện, tình tiết gắn với cuộc đời nhân vật được triển khai theo mạch vận động của cảm xúc, suy nghĩ Câu chuyện thứ nhất là cuộc đời của chàng Từ

Lộ thư sinh, nho nhã có tài thổi sáo với tình yêu cùng Nhuệ Anh và những đau xót oan trái dồn dập Câu chuyện thứ hai là cuộc đời của Đạo Hạnh đại sư

Trang 21

Kho¸ luËn tèt nghiÖp

thuyết giáo chúng sinh bằng giáo lí nhà Phật nhưng luôn nghi ngờ những gì mình đang thuyết giảng, đã đạt đến chân tâm nhưng luôn trăn trở, khát khao dục vọng tình ái, phú quý, quyền lực và đầu thai vào nhà Sùng Hiền hầu Câu chuyện thứ ba là cuộc đời của Thần Tông quyền uy nhưng khôn nguôi nhớ về kiếp trước, bị hóa hổ và được giải thoát Chính người kể chuyện với tài năng dẫn truyện đã kết nối các sự kiện riêng rẽ ấy thành một mạch truyện thống nhất, liền mạch vừa làm nổi bật vấn đề: tình yêu, tôn giáo, số phận con người trước những biến cố lịch sử, lại vừa phơi bày một lịch sử đầy biến động và phức tạp không chỉ hùng tráng mà còn ẩn chứa cả những gam màu đối chọi nhau Hiện thực trong Giàn thiêu không chỉ có những chiến tích, sự hưng thịnh của Phật giáo mà còn có cả những tục lệ hà khắc man rợ, có cả những kẻ

ăn thịt người, những chính sách cai trị hà khắc, độc đoán, con người chạy đua với quyền lợi không từ một thủ đoạn nào, sự khao khát tình yêu, sự tự do, sự vật lộn đấu tranh với những đau khổ, trầm luân của kiếp người Lại thấy, trong đây có cả sự nhìn nhận, đánh giá lại nhân vật lịch sử được tôn kính như Ỷ Lan Thái hậu, Lý Nhân Tông làm cho đối tượng bớt đi sự linh thiêng, sùng kính thậm chí còn là sự “giải thiêng” Đặt điểm nhìn vào người kể chuyện vô hình, lịch sử được hiện lên một cách cụ thể, sinh động, đầy đủ sắc thái và gam màu khác nhau

Trong Giàn thiêu, Võ Thị Hảo không chỉ đặt điểm nhìn vào người kể chuyện vô hình mà còn trao điểm nhìn cho các nhân vật khác trong tác phẩm Chọn một thời điểm lịch sử hết sức nhạy cảm với những nhân vật lịch sử phức tạp, kết hợp với điểm nhìn từ phía nhân vật như thế, tác giả đã khiến cho Giàn thiêu viết về quá khứ mà chất chứa bao suy ngẫm sâu xa về hiện thực đương thời Chẳng hạn, trước cái chết oan khiên của cha, Từ Lộ hy vọng vào đức Vua và Thái hậu tài trí hơn người nhưng sự thật đã khiến chàng thất vọng, sụp đổ: “Trước đây, chàng đã tin tưởng biết bao vào công lí, kỉ cương của triều

Trang 22

Kho¸ luËn tèt nghiÖp

đình, vào lẽ phải và từ tâm của con người nhưng vẻ thờ ơ của Thái hậu và của đức Hoàng thượng như nhưng nhát gươm xóc thẳng vào ngực chàng Những bàn tay đang được thần dân ngưỡng vọng như thần thánh nay đã phũ phàng ném mảnh lụa thấm đầy máu và nước mắt của mẹ con chàng xuống chân vó ngựa” [7 - Tr 161] Từ điểm nhìn của nhân vật Từ Lộ, Vua và Thái hậu Ỷ Lan không phải bao giờ cũng anh minh, sáng suốt Hay khi nhà văn trao điểm nhìn cho nhân vật Lê Thị Đoan - nữ sĩ giả trai đi thi, bị Lý Trác phát hiện và

bị tội đày biệt xứ đã tạo nên một tiếng nói lên án, một thái độ bất hợp tác với triều đình Bà đã hiên ngang, thẳng thắn vạch tội, phê phán việc thiêu sống cung nữ của triều đình nhà Lý: “Ai mà chẳng hiểu việc thiêu người vô tội chết theo vua là phép tắc độc ác, man rợ! Nhưng không ai dám nói một lời để can ngăn Nếu cứ để nước Nam ta giữ những phép tắc man rợ thì sẽ tổn hại khôn xiết đến triều đình và muôn dân” [7 - Tr 46] Có khi, tác giả lại chuyển điểm nhìn của người kể chuyện sang nhân vật tham quan Từ Văn Thông, kẻ lọc lõi tinh ranh trên con đường tiến quan: “Những gián quan vờ vịt, hiểu được thế “tùy phong”, cam chịu đồ trang sức của triều đình thì tổn hại, hưởng lộc Còn những gián quan cứ thật thà ruột ngựa, nay can mai gián, chẳng chóng rầy cũng chuốc tai họa chém đầu” [7 - Tr 506]… Đặt điểm nhìn vào những nhân vật trên, tác giả tạo cơ hội cho bạn đọc nhận thấy một lịch sử đầy những mặt trái, những mâu thuẫn, có khi là những việc làm phi nhân tính Điều đó làm cho Giàn thiêu có xu hướng giải thiêng lịch sử Mặt khác, việc đặt điểm nhìn vào nhân vật dị biệt đã tạo nên một lịch sử đáng ngờ Cùng với việc dịch chuyển điểm nhìn từ người kể chuyện sang điểm nhìn của nhân vật thì điểm nhìn trần thuật trong tác phẩm còn có sự biến hóa linh hoạt Có khi người kể chuyện chỉ đứng ngoài quan sát một cách khách quan (chương Giàn thiêu) có khi lùi về quá khứ để kể lại câu chuyện (chương Lãnh cung), có khi nhập vào nhân vật để miêu tả những biến thái tâm lí, những dằn vặt trong nội

Trang 23

Kho¸ luËn tèt nghiÖp

tâm nhân vật Từ đó mà quan điểm, cách nhìn nhận đánh giá lịch sử cũng như

tư tưởng chủ đề của tác phẩm vừa được thể hiện một cách trực tiếp lại vừa được thể hiện một cách gián tiếp trong tác phẩm

2 Sự gấp bội điểm nhìn trần thuật

Gấp bội tức là tăng thêm nhiều điểm nhìn trần thuật, là sự tung ra hàng loạt điểm nhìn khác nhau theo kiểu “kính vạn hoa”, đây chính là một sự đổi mới so với văn học trước đó đúng như nhận định: “Khuynh hướng trần thuật

từ nhiều điểm nhìn khác nhau là một đổi mới không nhỏ so với văn xuôi giai đoạn 1945 - 1975” [4 - Tr 164]

Giàn thiêu là một tiểu thuyết viết về đề tài lịch sử, đây là một thể loại đòi hỏi phải đảm bảo sự chính xác của sử liệu và chính yêu cầu về sự chính xác ấy thường hạn chế sức sáng tạo của nhà văn nếu nhà văn đó không làm chủ được cách tổ chức trần thuật Tiểu thuyết được trần thuật theo ngôi thứ ba

vô hình, vô nhân xưng nhưng Võ Thị Hảo đã tạo ra sự đột phá bằng cách xây dựng nhiều điểm nhìn khác nhau Tác phẩm là sự xáo trộn các chương không theo trình tự, không ăn khớp với sự kiện, biến cố xảy ra đối với cuộc đời nhân vật Mỗi chương trong Giàn thiêu được trần thuật theo một hoặc nhiều điểm nhìn khác nhau, mỗi điểm nhìn trần thuật lại gắn với sự trải nghiệm, như vậy lịch sử được đánh giá theo nhiều cách khác nhau, làm cho Giàn thiêu tuy viết

về quá khứ nhưng chất chứa suy nghĩ về hiện thực

Chọn thời điểm lịch sử nhạy cảm là triều đại vua Lý Nhân Tông và Lý Thần Tông, qua điểm nhìn của các nhân vật trong tiểu thuyết, bức tranh lịch

sử hiện lên đa diện, nhiều chiều Triều đình nhà Lý lúc đó vừa có Ỷ Lan Thái hậu trí tuệ sáng suốt vừa có Thái úy Lý Thường Kiệt tài năng hơn người Trước nỗi oan khiên của gia đình Từ Lộ, nếu mẹ chàng cho rằng: “Nước còn

có minh quân, còn có triều chính Đức Hoàng đế chí tôn đã đặt ra chín bậc phẩm quan tước U tối ở chỗ này nhưng sáng láng ở chỗ khác Lại còn đèn trời

Trang 24

Kho¸ luËn tèt nghiÖp

soi to ở trên” [7 - Tr 84] thì Từ Lộ lại nghĩ khác: “Đèn trời không phải lúc nào cũng sáng” [7 - Tr 84] Việc đặt điểm nhìn vào những nhân vật khác nhau dẫn đến những quan điểm không giống nhau khi nhìn nhận về vua Nhân Tông

Dưới triều đại vua Lý, đạo Phật rất phát triển và thịnh hành Nhưng đối với Thái sư Lý Đạo Thành “dân tình đói khổ mà chùa chiền lại dựng lên quá nhiều Bao nhiêu của cải công sức đổ vào nơi cửa Phật Quá nửa dân trong nước đi làm sư sãi, mải cầu kinh mà trễ nải việc nông trang, ruộng đất dành để làm quy điền cho các chùa chiền rất nhiều mà thường lại bỏ hoang hóa vì đa phần sư sãi chủ trì không lo chuyện cầy cấy mà chỉ trông chờ vào của cúng lễ của chúng sinh” [7 - Tr 134] Còn Từ Vinh lại trăn trở, lo lắng: “Bao nhiêu tiền của sức dân đều được vét sạch để xây chùa quán, nuôi sư sãi, nuôi quân

và chế tác khí giới đánh giặc” [7 - Tr 95] Hay nhân vật Từ Lộ khi trở thành Đạo Hạnh đại sư được sùng kính nhưng cũng phải sửng sốt vì sự sùng tín của dân chúng: “Càng thấy đám đông càng sùng bái, Từ càng ngạc nhiên thay cho

sự quá dễ dàng trong việc thao túng lòng tin của họ” [7 - Tr 427]… Qua điểm nhìn của các nhân vật khiến độc giả tự đặt ra câu hỏi: việc đạo Phật quá hưng thịnh, dân làm sư quá nhiều có làm cho đất nước hưng thịnh hơn? Tính đối thoại, đa thanh của tác phẩm nằm ngay trong những câu hỏi đó Còn tục lệ man rợ thiêu sống người cũng được đánh giá, nhìn nhận, lên án trong Giàn thiêu qua điểm nhìn của các nhân vật Trong lời can ngăn của viên thủ lễ, tục

lệ hỏa táng cung nữ đã mang lại bao tai họa cho đất nước: “Phải tính đến cái phúc họa sau này, phải lấy thọ mệnh của đức quân vương làm điều trọng” [7 -

Tr 27] Nhưng với Lý Trác, đại diện cho cái ác thì “việc thiêu cung nữ là điều trăng trối của đức Tiên hoàng Nếu ta không noi theo, thiên hạ chê trách Tiên Hoàng ở chốn Niết Bàn chăn đơn gối chiếc, lẽ nào Bệ hạ đành lòng? [7 - Tr 28] Sự xuất hiện của nhân vật Lê Thị Đoan chính là sự xuất hiện của công lý

Trang 25

Kho¸ luËn tèt nghiÖp

Trước mặt quan quân triều đình, bà đã thẳng thắn vạch trần tội ác của họ: “Ai

mà chẳng hiểu việc thiêu người vô tội chết theo vua là một phép tắc man rợ, độc ác!” [7 - Tr 46] Người phụ nữ ấy đại diện cho nữ quyền, cho tự do công lí

đã dám nói thẳng và đã dùng cái chết của mình để cảnh tỉnh cõi đời u ám… Thông qua việc xử tử cuốn sách của Lê Thị Đoan, tác giả cũng đã phê phán

sự hà khắc, mặt trái trong chính sách cai trị chuyên chế của chế độ phong kiến Điều này được thể hiện qua điểm nhìn của nhân vật tham quan Từ Văn Thông khi nói về Lê Thị Đoan và đánh giá về cuốn sách của bà: “Sở dĩ đi thun thút vào bụng dạ chúng dân là bởi tài cao học rộng, bởi văn chương cái thế, bởi gan góc, tế thế kinh bang đẫm trên từng trang” [7 - Tr 509] sở dĩ cuốn sách sống mãi và được dân chúng đón nhận bởi vì người viết “không viết điều

gì ngoài sự thật” [7 - Tr 509] Nhưng đối với quan lại và triều đình lúc đó, cuốn sách viết về sự thật lại trở thành “tà thư” vì theo Lý Trác: “Được bàn về chính đạo, hay dở của phép trị nước, chỉ có đức Hoàng thượng mà thôi” [7 -

Tr 517)

Có thể khẳng định, việc trần thuật từ nhiều điểm nhìn khác nhau của các nhân vật trong Giàn thiêu đã tạo ra khuôn mặt lịch sử vừa hùng tráng nhưng cũng đầy bộn bề, nghịch lí Có bao nhiêu nhân vật thì có bấy nhiêu quan niệm, suy nghĩ về lịch sử

Việc trần thuật từ đa điểm nhìn có cả điểm nhìn của người kể chuyện và điểm nhìn của nhân vật trong Giàn thiêu không chỉ giúp nhà văn thể hiện cách nhìn nhận, đánh giá lịch sử mà còn góp phần đặc biệt quan trọng trong việc xây dựng những nhân vật lịch sử thành những nhân vật văn học sống động tính cách đa dạng và nội tâm phức tạp Qua đó, tác giả để cho các nhân vật tự đánh giá lẫn nhau và tự bộc lộ mình Điều này đã mang lại thành công nổi bật cho tác phẩm Nó làm cho Giàn thiêu không chỉ là một tiểu thuyết lịch

sử mà còn là sự pha trộn của nhiều thể loại Mặt khác, nó cũng phản ánh được

Trang 26

Kho¸ luËn tèt nghiÖp

số phận nhiều nhân vật bằng tất cả sự hiểu biết, kinh nghiệm lẫn sức sáng tạo dồi dào của nhà văn Nhân vật chính là Từ Lộ với số phận oan ức và khổ đau triền miên, qua điểm nhìn của mẹ chàng, nó như là một hệ quả tất yếu nảy sinh từ chính tính cách của Từ Lộ: “Tính tình cương trực của Từ đôi khi hơi quá, đến mức thành ương ngạnh” [7 - Tr 59] Trước tai họa ập xuống gia đình trong đêm Nguyên tiêu, Từ đã nguyện rằng thân mệnh không phải của chàng

mà là của cha mẹ chàng Từ điểm nhìn của Nhuệ Anh, chúng ta thấy ngọn lửa hận thù lúc nào cũng ngùn ngụt trong con người Từ Lộ: “Trong lòng chàng giờ đây chỉ có hận thù” [7 - Tr.114], chàng như “một con thú bị săn đuổi” bởi lòng thù hận, điều này cũng được thể hiện ngay trong suy nghĩ của Từ Lộ:

“Giờ đây, mọi cánh cửa đều sập lại trước mắt chàng Thù nhà khiến chàng không được nghĩ đến bất kì điều gì khác ngoài tiếng gọi báo oán” [7 - Tr.114]

Qua điểm nhìn của các nhân vật khác và bằng chính điểm nhìn của Từ

Lộ, nhân vật này hiện ra như một kẻ chỉ biết đắm chìm trong hận thù Lòng hận thù đã làm méo mó nhân dạng của chàng Vậy mà khi đã trả được những mối thù, chàng cũng chỉ là kẻ “đáng thương”, tâm hồn trống rỗng, vô nghĩa

Như vậy, Từ Lộ hiện lên trong tác phẩm là một con người với tính cách

đa dạng, phức tạp, vừa đáng khâm phục bởi ý chí và lòng hiếu nghĩa nhưng lại vừa đáng lên án vì Từ Lộ đã phí một thời tuổi trẻ để nuôi dưỡng hận thù Qua nhân vật Từ Lộ, tác giả muốn gửi gắm một thông điệp với cuộc đời: con người chỉ sống mãi với niềm thù hận cũng chỉ là một nhân dạng méo mó mà thôi

Trả được thù, báo được oán cho cha mẹ, Từ Lộ đã trở thành một Đạo Hạnh đại sư được mọi người sùng kính Nhưng càng được chúng sinh yêu quý, tin tưởng, Đạo Hạnh càng hoài nghi việc mình làm, càng nghi ngờ đạo Phật, không từ bỏ được ngọn lửa dục vọng quyền lực, ái ân Điều này được thể hiện qua sự trăn trở, dằn vặt nội tâm của nhân vật: “Ta có thật lòng tin

Trang 27

Kho¸ luËn tèt nghiÖp

rằng có Niết Bàn? Dường như càng đi đường đến Niết Bàn càng xa” [7 - Tr 427], “Nhưng có thật tận trong lòng không mơ ước lầu son gác tía và không luôn mường tượng lại hình bóng của Nhuệ Anh cùng lần ân ái duy nhất trong đời cùng nàng” [7 - Tr 429], có lúc nhân vật này lại nghi ngờ điều thiện ở đời:

“Phải chăng trên thế gian này không có điều thiện nào lại không kéo thêm một điều ác” [25 - Tr 430]

Đặt điểm nhìn vào nhân vật Đạo Hạnh đại sư, Võ Thị Hảo đã làm cho nhân vật lịch sử này trở thành nhân vật văn học sống động, đa tính cách Ở Đạo Hạnh chúng ta thấy được một nhà sư, một con người đắc đạo nhưng tâm luôn hoài nghi, trăn trở, chất chứa mâu thuẫn, bởi dục vọng quá lớn Vì muốn sống nhiều hơn một kiếp người, được hưởng thụ hết dục vọng ở cuộc đời đã khiến Đạo Hạnh chấp nhận lời thỉnh cầu của Sùng Hiền hầu đầu thai vào nhà

vị quan này để tái sinh, chuyển sang một kiếp khác, kiếp của một ông vua thơ trẻ để sống trong vinh hoa phú quý Ở đây, Võ Thị Hảo đã tận dụng sử liệu trong Đại Việt sử kí toàn thư, trong Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam và Thiền uyển tập anh để xây dựng nhân vật Đạo Hạnh, sau này là Lý Thần Tông với những nét tính cách phức tạp, đa dạng

Sách Các triều đại Việt Nam có chép về cuộc đời Lý Thần Tông như sau: “Vua Lý Nhân Tông không có con trai, lập con của Hoàng đệ Sùng Hiền hầu Dương Hoán lên làm Thái tử, nay kế vị ngôi Hoàng đế tức là vua Thần Tông” [5 - Tr 94] Còn về Từ Đạo Hạnh: “Nhà sư nổi tiếng thời Lý, tên ông

là Lộ, quê ở Láng, huyện từ Liêm (Hà Nội), con của quan Tăng Đô án Từ Vinh Lúc nhỏ thích chơi bời, đánh trống làm trò vui, nhưng tối đến lại ở nhà, thắp đèn đọc sách thâu đêm Truyền rằng, cha ông bị nhà sư Đại Điên ám hại, ông bèn bỏ học, cùng các nhà sư lên Tây Trúc học đạo, khi thành tài, ông trở

về nước, trả thù cho cha rồi đi tu ở chùa Thiên Trúc (chùa Thầy - Thạch Thất)

Trang 28

Kho¸ luËn tèt nghiÖp

Truyền rằng, 1116 ông mất, hồn đầu thai làm con của Sùng Hiền hầu, sau này trở thành vua Lý Thần Tông, xác thì được người làng giữ lại để thờ”

Còn về căn bệnh hóa hổ của vua Thần Tông Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam cũng có ghi: “Năm 1136, Lý Thần Tông (được xem là kiếp sau của

Từ Đạo Hạnh) mắc bệnh hóa hổ không ai chữa được Dân gian có câu đồng dao “Dục y lí cửu trùng, tu cầu Nguyễn Minh Không” (Muốn chữa bệnh cho vua phải tìm Nguyễn Minh Không) Nguyễn Minh Không được mời vào cung, sai nấu vạc dầu sôi rồi dùng tay vảy khắp người vua, vua khỏi bệnh” [11 - Tr 327]

Trong Giàn thiêu, Võ Thị Hảo đã sáng tạo ra câu chuyện ông vua hóa

hổ đau đớn, vật vã trong cơn dục vọng, trong sự trăn trở của cả ba kiếp Từ Lộ

- Từ Đạo Hạnh - Lý Thần Tông Mỗi kiếp sống của Từ Lộ được soi sáng qua điểm nhìn của nhiều nhân vật khác như: sư bà Nhuệ Anh, Ngạn La, Minh Không đại sư và Tổng thái giám

Kiếp Lý Thần Tông - Dương Hoán gắn liền với số phận của cung nữ Ngạn La - người con gái có vẻ đẹp man dại với “ánh mắt mèo hoang” và chiếc rốn “Chu sa đỗ tễ” niềm mơ ước của các bậc Đế vương Bị cám dỗ bởi vẻ đẹp man dại của nàng, bên Ngạn La có lúc Lý Thần Tông là một đứa trẻ bày trò chơi con trẻ, có lúc như một người đàn ông từng trải trong cơn dục vọng, quyền lực, có lúc Thần Tông tự cảm thấy: “Tột đỉnh vinh hoa quyền lực là đây” [7 - Tr 269] Bằng chính điểm nhìn của Thần Tông, bạn đọc cảm thấy tham vọng quyền lực luôn chất chứa trong nhân vật này Nhưng lúc nào, trong tâm trí, con người của vị vua thơ trẻ cũng khao khát tình yêu, tình thương của con người Giống như một người tình, một người mẹ che chở cho con, sư bà động Trầm xuất hiện cứu thoát linh hồn Thần Tông - Từ Lộ Và chính giọt nước mắt của sư bà đã cứu sống Thần Tông: “Nước mắt chảy đến đâu, những đám lông vằn vện trật ra từng đám, rồi lột hết, lộ ra thân mình của đức Vua,

Trang 29

Kho¸ luËn tèt nghiÖp

với nước da trắng xanh, thư sinh nho nhã” [7 - Tr 463] Ngay cả Thần Tông -

Từ Lộ cũng thừa nhận trước Nhuệ Anh: “Ta đã bị tước đoạt tất cả Ta đã trở thành một kẻ khác, suốt đời kiếm củi để nuôi những ngọn lửa không phải để cho cõi trần này Ngọn lửa đó đã thiêu đốt cả đời ta, để đến nay ta phải nhờ đến những giọt nước mắt hỷ xả của nàng để giải thoát” [7 - Tr 464]

Dòng nước mắt được chắt lọc từ một tâm hồn cao cả, vị tha và bao dung

đã mang lại sức mạnh kì diệu cứu sống được Thần Tông

Từ điểm nhìn của Nhuệ Anh, Lý Thần Tông chỉ là “một vị vua ngồi trên ngai vàng, một gã trai tơ vừa vỡ giọng, lòng mới biết động xuân tình mà đêm nào cũng lo mình chết đi không kịp hưởng hết khoái lạc ở đời, tham lam

vô độ” [7 - Tr 469]

Sự kết hợp điểm nhìn của người kể chuyện và điểm nhìn của các nhân vật đã cho thấy Thần Tông sống mà không được làm một con người bình thường, luôn bị dục vọng, quyền lực, tình ái giày vò, một vị vua yếu đuối, không thuộc về vương triều mà thuộc về hậu cung Trong Giàn thiêu, nhà văn

đã tập trung khai thác sự yếu đuối trong tính cách, khai thác chiều sâu tâm hồn hơn là vào những chiến công và sự nghiệp của Lý Thần Tông

Ở Giàn thiêu, người kể chuyện không chỉ tập trung làm nổi bật số phận

và tính cách Từ Lộ mà còn chú trọng kể về nhân vật Nhuệ Anh Có thể nói, đây là hình tượng đẹp về một người phụ nữ có khát vọng lớn lao về tình yêu

và hạnh phúc

Nhuệ Anh có một vẻ đẹp não lòng, đẹp như một con cá khác đời Số phận nàng gắn chặt với Từ Lộ, nàng chỉ yêu Từ Lộ, bất chấp hy sinh, vinh hoa phú quý để được bên chàng Nhưng ngọn lửa căm thù trong Từ Lộ quá lớn, ngọn lửa tình yêu mà nàng nhóm lên trong lòng Từ Lộ không đủ sức chiến thắng niềm hận thù Chính Nhuệ Anh đã nhận thấy nàng không phải là tất cả của chàng, ngự trị trọn vẹn trong tim chàng như trước đây nàng đã tưởng Sau

Trang 30

Kho¸ luËn tèt nghiÖp

này, khi đã trở thành sư bà động Trầm, tình yêu của Nhuệ Anh với Từ Lộ ngày nào vẫn không phai nhạt Biết rõ số kiếp của Thần Tông, sư bà động Trầm không ngừng trăn trở, lo lắng cho số phận người tình năm xưa: “Nhưng

ta, ta sống làm gì những chuỗi ngày tháng thừa thãi này? Mấy chục năm nay,

ta đã ẩn náu, đã cố tình xa lánh Như một ngọn gió đơn độc thổi ngoài bãi hoang Mà trong lòng vẫn nhói đau - trước những thăng trầm của con người

ấy Con người bập bỗng ấy, mỗi bước đi đều làm nhói tim ta” [7 - Tr 319]

Có lúc nàng đau đớn nhận ra mình là: “Con nghé dại của cha mẹ, con nghé dại đã bỏ nhà, bỏ cha mẹ mà đi Thân gái dặm trường quá nửa đời phiêu bạt Rốt cục chẳng để làm gì, đuổi theo một cái bóng hư ảo, không xứng cho con phải quên thân Để rồi phải chọn cửa thiền làm chốn nương mình, những mong thoát khỏi vòng luân hồi bệnh lão của kiếp người” [7 - Tr 321]

Cái bóng mà nàng theo đuổi tuy yêu nàng nhưng đã không sống vì nàng Đã tưởng đắc đạo, thoát khỏi cám dỗ của bể tình ái nhưng nàng đâu có tránh được nỗi oan khổ cuộc đời Cả cuộc đời Từ Lộ đã đầy đọa nàng Giọt nước mắt hỷ xả của sư bà Nhuệ Anh đã cứu sống Thần Tông - Từ Lộ nhưng cũng không thể đưa chàng trở về với Từ Lộ cùng tiếng sáo “Phượng cầu hoàng” năm xưa và chiếc đèn lồng Tiêu tương - Mỹ Nhân bên cầu Cả đời nàng đã phải ràng buộc với một tình yêu, một lời thề ước, chỉ có duy nhất một người đàn ông - người đàn ông không bao giờ thuộc về nàng

Qua điểm nhìn của người kể chuyện và của chính nhân vật Nhuệ Anh, hình tượng nhân vật Nhuệ Anh được xây dựng như một biểu tượng cao đẹp về tình yêu và lòng chung thủy, là hiện thân của cái đẹp cứu rỗi - cái đẹp có thể cảm hóa tâm hồn con người

Một thành công khá đặc biệt trong Giàn thiêu phải kể đến đó là nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật Ỷ Lan Thái hậu Người đàn bà đại diện

Trang 31

Kho¸ luËn tèt nghiÖp

cho quyền lực, tham vọng này cũng hiện lên cụ thể với tính cách nhiều mâu thuẫn, đôi khi là sự đối chọi với nguyên mẫu trong lịch sử

Ở Đại Việt sử ký toàn thư, Ngô Sỹ Liên chép: “Ỷ Lan không phải chỉ là

cô gái đẹp, mà còn là người tài hoa và sắc sảo, có bản lĩnh Năm 1072, vua Lý Thánh Tông mất, Thái tử Càn Đức lên ngôi Nguyên Phi Ỷ Lan được phong làm Ỷ Lan Thái phi, một năm sau sự kiện này, nội bộ cung đình có sự tàn sát lẫn nhau Ỷ Lan Thái phi đã bức hại Dương Thái Hậu cùng bảy mươi sáu cung nữ khác Đấy là tội lớn của Thái phi sử không thể bỏ qua vì chính Ỷ Lan nhiều phen lấy làm tiếc Dương Thái hậu mất rồi, Ỷ Lan hiển nhiên là Thái hậu với tên mới Ỷ Lan” [19 - Tr 33]

Vẫn lấy chất liệu từ lịch sử, Võ Thị Hảo không viết về những chiến công, tài năng của Ỷ Lan Thái hậu mà tác giả khai thác con người đời thường của bà, những sai lầm trong cuộc đời của Ỷ Lan Điều này cũng được thể hiện khá rõ qua điểm nhìn của người kể chuyện, của các nhân vật khác (Dương Thái hậu, Ngạn La…) và điểm nhìn của chính nhân vật Ỷ Lan

Không phủ nhận tài năng, trí tuệ sáng suốt, sự mẫn cán nhạy bén của Ỷ Lan, có khi người kể chuyện ngợi ca bà là: “Người đàn bà tuệ mẫn sáng láng, lại quyền biến trong những năm chấp chính trị nước - thay đức Thánh Tông đi đánh giặc bình định đất phương Nam, bà am hiểu tỏ tường, biết sở trường, sở đoản tướng quần thần văn võ đang phủ phục trước mặt kia” [7 - Tr 133] Đến Dương Thái hậu - nạn nhân bị Ỷ Lan bức tử có lúc cũng phải thừa nhận “cái tài quán xuyến thiên hạ của Ỷ Lan - đứa bần nữ hái dâu” [7 - Tr 230], người đàn bà có “trí tuệ và quyền biến có một không hai” [7 - Tr 231] Đối với Dương Thái hậu, Ỷ Lan chính là một “nghiệt phụ”, một người đàn bà đầy uy quyền, chỉ vì “lòng khao khát phú quý của người còn chưa thoả”, ngay Ỷ Lan cũng đã có lúc thừa nhận: “Ta muốn duy ngã độc tôn trong thiên hạ”, “Ta luôn muốn sai khiến được người duy nhất nắm giữ thiên hạ trong tay”,

Trang 32

Kho¸ luËn tèt nghiÖp

“Không gì thích thú bằng khi thấy chỉ với một ngón tay út của bàn tay ta, cả giang san rùng rùng chuyển động”… “Ta là người đàn bà duy nhất mà sử sách phải lưu truyền mãi mãi” [7 - Tr 234]

Để cho Ỷ Lan đối thoại với Dương Thái hậu, nhân vật đã tự bộc lộ mình trong lãnh cung trước sự chứng kiến của cung nữ Ngạn La Chỉ vì sự ghen tuông cá nhân, quan trọng hơn là do tham vọng quá lớn, muốn vươn tới đỉnh cao quyền lực, muốn xoay chuyển giang sơn trong tay mà Ỷ Lan không

từ một thủ đoạn nào Phương châm sống và cai trị của nhân vật này được phát biểu thẳng thắn và tàn nhẫn: “Kẻ nào ngáng đường ta, dù chỉ là vô tình, kẻ đó phải chết”, “Ta đã là Hoàng Thái hậu sau cái chết của bảy mươi bảy người” [7

- Tr 325]

Đặt điểm nhìn vào Dương Thái hậu để phán xét nhân vật Ỷ Lan, dựng lên cuộc đối thoại trong lãnh cung, Giàn thiêu đã “giải thiêng” lịch sử, “lật ngược” lại nhân vật Ỷ Lan, Võ Thị Hảo đã đưa các bậc Đế vương trở thành con người của đời thường cũng đầy rẫy tội ác, đầy trăn trở, ăn năn Ỷ Lan Thái hậu trong Giàn thiêu dù có dùng đủ mọi thủ đoạn tàn bạo để đạt được giấc mộng quyền lực từng “coi mạng sống và niềm vui của kẻ khác là những thứ mà bất cứ lúc nào các ngươi cũng có thể tuỳ tiện dí nát dưới gót hài trên con đường đeo đuổi mộng Đế vương” [7 - Tr 237], nhưng cả đời không che được con mắt của lương tâm mình, chính Ỷ Lan cũng phải thừa nhận: “Tiếc thay suốt đời ta đã không đánh lừa được lương tâm mình”, sống trên dương gian, có thể che mắt được thiên hạ nhưng xuống âm phủ Ỷ Lan phải đối diện với chính mình Cái giá phải trả cho những tội lỗi của bà là sự giày vò của lương tâm, dù có “cố công khuyển nghiệp từ bi”, xây chùa tháp ăn chay niệm Phật nhưng cuối đời Ỷ Lan cũng chưa từng được thanh thản Hình ảnh những con chuột đói đang dần dần gặm nhấm xác thịt dưới lãnh cung là sự trừng phạt thể xác dành cho những tội ác của Ỷ Lan

Trang 33

Kho¸ luËn tèt nghiÖp

Trong Giàn thiêu, người kể chuyện quay ngược thời gian để kể về cái chết của Ỷ Lan Thái hậu Đây là một sự sáng tạo độc đáo, thể hiện cái nhìn

“giải thiêng” nhân vật lịch sử khá rõ ràng Con người Ỷ Lan đạt đến đỉnh cao tột cùng của quyền lực bằng mọi thủ đoạn dù có che giấu được thiên hạ nhưng không thể che giấu được chính mình Đoạn văn miêu tả cái chết của Ỷ Lan đã nói lên điều đó: “Bà nằm trên giường, thi thoảng lại đứng phắt dậy, kêu rú lên, luôn miệng thét đuổi chuột, chân giãy đành đạch, tay hoảng loạn đưa qua đưa lại quanh mình như có sức rút một vật gì ra khỏi da thịt” [7 - Tr 251], thậm chí đến khi chết vẫn không nhắm được mắt: “Nhân Tông đặt bàn tay vuốt mắt cho mẹ, vuốt ba lần, mắt vẫn mở trừng trừng”… “Chỉ còn một mình với thi hài Thái hậu, Ngài khóc rưng rức, khấn tên Dương Thái hậu Khấn lần thứ nhất, mắt vẫn không khép Nhân Tông khấn lần thứ hai, thi hài Ỷ Lan Thái hậu giật mạnh, gần như chồm dậy Khấn lần thứ ba, thi hài từ từ nằm xuống, không vuốt mắt mà mắt tự khép lại” [7 - Tr 253]

Qua đây cho thấy, tác giả rất tôn trọng điểm nhìn của nhân vật Bà vừa

để nhân vật Ỷ Lan tự bộc lộ, lại vừa trao điểm nhìn cho Dương Thái hậu để đánh giá Ỷ Lan, khiến cho nhân vật này hiện lên có đủ tài sắc, uy quyền nhưng lại thiếu đức hạnh và sự phúc hậu của đấng mẫu nghi thiên hạ, luôn luôn bị ngọn lửa dục vọng quyền uy thiêu đốt Ở Ỷ Lan có cả mặt đáng ngợi

ca, mặt đáng lên án

Có thể khẳng định, việc trần thuật từ điểm nhìn của nhiều nhân vật vừa làm cho hiện thực lịch sử hiện lên một cách đa diện, đa chiều có cả hùng tráng, có cả đau thương lại vừa làm cho các nhân vật tự nhìn nhận đánh giá lẫn nhau và qua đó nhân vật tự bộc lộ nội tâm, tính cách của mình Điều này, làm cho Giàn thiêu không đơn thuần chỉ là một tiểu thuyết lịch sử thông thường

Ngoài ra, trong Giàn thiêu, tác giả không chỉ trao điểm nhìn cho nhân vật mà còn tôn trọng điểm nhìn của họ Do đó, nhân vật tồn tại là một thực thể

Trang 34

Kho¸ luËn tèt nghiÖp

bình đẳng, tự do suy ngẫm, đánh giá lịch sử, đánh giá chính mình Tuy tiểu thuyết được kể theo ngôi thứ ba, người kể chuyện giấu mặt đứng ngoài biết trước, đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức, dẫn dắt tác phẩm nhưng bạn đọc vẫn hình dung được số phận của từng nhân vật: Từ Lộ - Từ Đạo Hạnh -

Lý Thần Tông qua ba kiếp tái sinh; nhân vật Nhuệ Anh - sư bà động Trầm và

Ỷ Lan Thái hậu

3 Sự luân chuyển điểm nhìn trần thuật

Nếu như ở tiểu thuyết truyền thống, điểm nhìn thường được triển khai từ cái nhìn tương đối ổn định, chủ yếu ở ngôi thứ ba, điểm nhìn “biết trước”,

“biết hết” thì ở tiểu thuyết hiện đại việc trần thuật từ đa điểm nhìn đã trở thành một bước tiến mới, một sự cách tân đáng chú ý so với tiểu thuyết truyền thống Hệ quả tất yếu của việc trần thuật đa điểm nhìn là sự phân tán hay sự luân chuyển điểm nhìn trần thuật trong tiểu thuyết hiện đại

Về mặt lý thuyết, có nhiều loại điểm nhìn: Điểm nhìn bên trong, điểm nhìn bên ngoài, điểm nhìn không gian - thời gian, điểm nhìn đánh giá tư tưởng cảm xúc, điểm nhìn của tác giả, của người trần thuật và điểm nhìn của nhân vật nhưng có bốn hình thức điểm nhìn thường được sử dụng trong tác phẩm văn học đó là điểm nhìn của tác giả, của người kể chuyện, điểm nhìn của nhân vật, điểm nhìn bên trong và điểm nhìn bên ngoài Điểm nhìn của người trần thuật có thể ở ngôi thứ ba ẩn mình hoặc trần thuật theo ngôi thứ nhất lộ diện Còn điểm nhìn bên ngoài là người trần thuật miêu tả sự vật từ phía bên ngoài nhân vật; điểm nhìn bên trong thể hiện cái tự cảm thấy của nhân vật biểu hiện bằng hình thức tự quan sát, tự thú nhận của nhân vật Tác dụng của nó là: điểm nhìn bên ngoài tạo cho sự nhìn nhận đối tượng một cách khách quan, còn điểm nhìn bên trong cho phép người trần thuật tái hiện, miêu tả đời sống nội tâm của nhân vật một cách sâu sắc, cụ thể hơn Việc phối hợp, luân phiên điểm nhìn trần thuật sẽ giúp nhà văn có điều kiện để đi sâu vào những “ngõ

Trang 35

Kho¸ luËn tèt nghiÖp

ngách” của nội tâm cũng như những tầng vô thức sâu thẳm để hiểu rõ hơn về nhân vật

Ngoài ra trong Giàn thiêu, điểm nhìn luôn có xu hướng dịch chuyển từ người kể chuyện sang nhân vật Lựa chọn ngôi kể thứ ba truyền thống nhưng người kể chuyện đã di chuyển vào nhân vật, dùng điểm nhìn của nhân vật để cảm nhận, đánh giá sự việc, đánh giá nhân vật Chẳng hạn, khi đứng trước vẻ đẹp hoang lạ của Ngạn La, thay bằng miêu tả vẻ đẹp của nàng, người kể chuyện đã chuyển điểm nhìn vào nhân vật vua Nhân Tông để cho nhân vật cảm nhận: “Vẻ đẹp hoang lạ của cô bé bắt cua khiến vị Hoàng đế già vốn đã

no chán với những vưu vật của hậu cung bỗng thấy sửng sốt và hào hứng Trái tim già nua của Ngài như được an ủi Ngài náo nức lệnh ngay cho giám quan vời nàng vào cung” [7 - Tr 40] Từ đó, nhân vật tự bộc lộ dục vọng ái tình, tăng thêm tính chất đời thường Hay tâm trạng Từ Lộ sau đêm ái ân với Nhuệ Anh bên thác Oán sông Gâm được cảm nhận từ điểm nhìn của chính nhân vật:

“Từ Lộ thấy trong người thênh thang nhẹ nhõm lạ thường Hình như với niềm sướng vui thủy triều dồn dập trút vào thân thể hoà vào da thịt nàng, bao nhiêu căm uất hận thù chứa chất trong lồng ngực, bóp nghẹt trái tim chàng từng ấy ngày đem cũng theo đó mà tan ra mà mất dạng” [7 - Tr 212] Người kể chuyện đã nhập thân vào nhân vật, tả lại tâm trạng một cách tinh vi, khéo léo

Ở đây, điểm nhìn của người trần thuật đã nhập vào điểm nhìn của nhân vật Từ

Lộ Phút giây khoái lạc, ngắn ngủi đó mau tan biến, ngọn lửa tình yêu vừa nhen nhóm không đủ sức chiến thắng ngọn lửa thù hận trong lòng chàng, hay khi Từ Lộ đã báo xong thù cho cha mẹ để thể hiện cảm giác trống rỗng, sai lầm, lạc đường Người kể chuyện tiếp tục tựa vào nhân vật, chuyển điểm nhìn

tư tưởng vào trong nhân vật “Từ chợt nhận ra cuộc đời chàng hoàn toàn trống rỗng” [7 - Tr 389], “Người chàng trống rỗng” [7 - Tr 394] Có lúc người trần thuật lại xâm nhập vào nhân vật Từ Đạo Hạnh để nhân vật luôn trăn trở, suy

Trang 36

Kho¸ luËn tèt nghiÖp

nghĩ về dục vọng trong con người mình, tự nghi ngờ chính mình, nghi ngờ những gì mà mình đang thuyết giảng: “Ta có thật lòng tin rằng có Niết Bàn? Dường như càng đi, đường đến Niết Bàn càng xa” [7 - Tr 427], “Ta có cạn lòng để đến được tâm không?” [7 - Tr 428], “Ta đã thọ “Bát quan giới trai” một cách khá dễ dàng so với nhiều người, nhưng có thật lòng không mơ ước lầu son gác tía và không luôn mường tượng lại hình tượng của nàng Nhuệ Anh cùng lần ái ân duy nhất trong đời cùng nàng?” [7 - Tr 429]

Có khi Từ Đạo Hạnh lại trở thành kẻ rao giảng đạo đức nhưng lại sống ngược với những gì mình thuyết giáo để lừa dối chúng sinh: “Ta đã thiệt một kiếp, ta đã lỡ một kiếp Nếu họ biết ta đang sắp rời bỏ họ, làm ngược lại những điều ta khuyến dụ họ lâu nay, đổi lấy kiếp khác để được nếm trải tột đỉnh vinh quang, phú quý, tột đỉnh quyền lực, để có được thiên hạ trong tay thì họ sẽ làm gì nhỉ? [7 - Tr 448] Là sự đau xót, trăn trở của Từ Đạo Hạnh khi lừa dối chúng sinh và lừa dối chính bản thân mình: “Ta đã lừa dối họ! Ta

đã bỏ rơi họ Cả đời họ đã theo ta, để bị ta lừa dối ư? Họ sẽ sống ra sao với sự lừa dối của ta” [7 - Tr 451]

Qua đó, ta thấy được tâm trạng đầy mâu thuẫn, hoài nghi, trăn trở của

Từ Đạo Hạnh bởi vì Đạo Hạnh hiểu rằng mình đang lừa dối mọi người và lừa dối chính bản thân mình

Hình thức dịch chuyển điểm nhìn trần thuật từ người kể chuyện sang điểm nhìn của nhân vật là phương thức trần thuật chủ yếu trong Giàn thiêu

Nó tạo cho tác phẩm một tiếng nói đa thanh, đa âm về nhân vật lịch sử, góp phần xây dựng những nhân vật lịch sử thành những nhân vật văn học, những con người của đời sống hiện thực ngày nay Đây cũng chính là phương diện thể hiện tài năng của tác giả trong việc tổ chức điểm nhìn trần thuật

Vì được trần thuật theo điểm nhìn của nhân vật, tựa vào nhân vật để nhìn nhận, đánh giá nên hình thức kể chuyện theo ngôi thứ ba không còn giữ

Trang 37

Kho¸ luËn tèt nghiÖp

vai trò là người “biết trước”, “biết hết” nữa Đôi khi, bạn đọc không thể phân biệt được đó là ý nghĩ của nhân vật hay người kể chuyện Hình thức này được gọi là sự “nhập nhoè” điểm nhìn giữa người trần thuật và điểm nhìn của nhân vật Như thế, khoảng cách giữa điểm nhìn của người trần thuật và điểm nhìn của nhân vật bị xoá nhoà (tiêu cự trần thuật bằng không) Chẳng hạn, khi vua

Lý Thần Tông đứng trước sự lựa chọn phải truyền lệnh trừng trị Ngạn La, người đọc rất khó phân biệt được đó là lời của nhân vật hay của người kể chuyện: “Mười hai tuổi nhưng Ngài đã kịp nhìn thấy nhiều chiếc thây cụt đầu, nhưng đó là những thây người lớn Còn đây lại là con mèo hoang uyển chuyển

và hoang lạ…”[7 - Tr 42], hay “kẻ thù hung hãn xưa kia, sau mười ba năm đã như biến thành người khác, không màng đến chuyện tranh đoạt, sẵn sàng đón đợi đền mạng do những tội lỗi mà trước đây đã gây ra” [7 - Tr 393] Rồi ở những đoạn người kể chuyện tả tâm trạng cảnh đức Vua hoá hổ bạn đọc cũng không thể nhận ra lời kể của nhân vật hay người kể chuyện “Một niềm thương xót mênh mang đang đón trước bước đi lồng lộn của con hổ dã nhân” [7 - Tr 460], “Dằn vặt trong lòng một Thần Tông nuôi nhớ Đạo Hạnh Rồi một Đạo Hạnh hoang mang nuôi nhớ Từ Lộ” [7 - Tr 489]

Hiện tượng “nhập nhoè” điểm nhìn đã khiến cho sự luân phiên điểm nhìn trong Giàn thiêu vừa nhịp nhàng lại vừa biến hoá Nó thể hiện sự thâm nhập vào đời sống nội tâm của nhân vật, có lúc người kể chuyện hoá thân vào nhân vật, làm cho điểm nhìn của người kể chuyện đồng nhất với điểm nhìn cá nhân vật, chứng tỏ người kể chuyện hiểu nhân vật, hiểu cuộc đời, và trải nghiệm cùng nhân vật

Ngoài hiện tượng điểm nhìn của người trần thuật luôn có sự dịch chuyển vào điểm nhìn của nhân vật, hiện tượng “nhập nhoè” điểm nhìn trần thuật giữa người kể chuyện và điểm nhìn của nhân vật thì sự luân phiêm điểm nhìn trần thuật cũng đi liền với sự luân phiên ngôi kể Trong Giàn thiêu có sự

Trang 38

Kho¸ luËn tèt nghiÖp

chuyển dịch liên tục từ điểm nhìn bên ngoài vào điểm nhìn bên trong Nhiều chương của Giàn thiêu được trình bày như lời độc thoại của nhân vật, từ đó nhân vật chiêm nghiệm và tự bộc lộ mình Chẳng hạn khi Lý Trác sực nhớ:

“Phải rồi! Lý Trác vụt nhớ lại, Hội Tường Đại Khánh năm thứ nhất cái gã học trò nhỏ nhắn đó đỗ cùng khoa thi Có Lý Trác và Lê Đoá cùng được bổ làm quan trong triều Nhưng linh cảm nhạy bén của Lý Trác cứ cảm thấy điều gì không bình thường ở Lê Đoá… Lý Trác nhớ bữa yến tiệc cuối năm ấy đã như ong vỡ tổ khi Lý Trác dùng mưu mẹo lột khăn áo của Lê Đoá, để lộ cái yếm màu hoa đào che bộ ngực nở nang đang bị nén chặt của một cô gái giả trai” [7

- Tr 47] Ở đây, câu chuyện đang được trần thuật từ ngôi thứ ba được chuyển sang ngôi thứ nhất bằng cảm nhận, hồi ức của nhân vật Lý Trác Sự di chuyển này không làm ngắt quãng sự dẫn dắt, kết nối tình tiết trong tiểu thuyết mà diễn ra từ từ Qua đó, bạn đọc hiểu được sự thay đổi tính cách, diễn biến tâm

lí, hành động của nhân vật Hiện tượng này chúng ta thường bắt gặp trong Giàn thiêu qua mỗi lần người kể chuyện hoá thân vào các nhân vật Từ Lộ -

Từ Đạo Hạnh - Lý Thần Tông, cùng nhân vật thể nghiệm qua ba kiếp luân hồi, hoá thân vào nhân vật Nhuệ Anh - sư bà động Trầm để suy nghĩ về Từ

Lộ, về con đường mà mình đang theo đuổi:

“Cả đời, ta đã phải ràng buộc với một tình yêu, một lời thề ước Trong đời ta chỉ có duy nhất một người đàn ông, là chàng”, “ Nay ta mới biết rằng ta

đã tự huyền hoặc, tự tô vẽ cho các hình bóng của chàng độc tôn trong ta Ta

đã sai lầm Đời ta cũng đã phí hoài vì ta quá lệ thuộc chàng, vì thế ta đã quên rằng mình vốn là một ngọn gió” [7 - Tr.471]

Đó là sự dịch chuyển điểm nhìn từ ngoài vào trong, do vậy tâm lí nhân vật được hiện ra một cách tự nhiên, thế giới nhân vật mang đời sống nội tâm phong phú và sâu sắc

Ngày đăng: 29/06/2020, 13:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Aristôt (1999), Nghệ thuật thi ca (tái bản), Nxb. Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật thi ca
Tác giả: Aristôt
Nhà XB: Nxb. Văn học
Năm: 1999
2. Lại Nguyên Ân (2004), 150 Thuật ngữ văn học, Nxb. ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 Thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb. ĐHQG Hà Nội
Năm: 2004
3. M.B.Bakhtin (2003), Lí luận và thi pháp tiểu thuyết (Phạm Vĩnh Cư dịch), Nxb. Hội nhà văn (tái bản) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: M.B.Bakhtin
Nhà XB: Nxb. Hội nhà văn
Năm: 2003
5. Quỳnh Cư - Đỗ Đức Hùng (2000), Các triều đại Việt Nam, Nxb. Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các triều đại Việt Nam
Tác giả: Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng
Nhà XB: Nxb. Thanh niên
Năm: 2000
7. Võ Thị Hảo (2004), Giàn thiêu, Nxb. Phụ nữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giàn thiêu
Tác giả: Võ Thị Hảo
Nhà XB: Nxb. Phụ nữ
Năm: 2004
8. Lưu Hiệp (1999), Văn tâm điêu long (tái bản), Nxb. Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn tâm điêu long (tái bản)
Tác giả: Lưu Hiệp
Nhà XB: Nxb. Văn học
Năm: 1999
9. Đỗ Đức Hiểu (2000), Thi pháp hiện đại, Nxb. Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp hiện đại
Tác giả: Đỗ Đức Hiểu
Nhà XB: Nxb. Hội nhà văn
Năm: 2000
10. Nguyễn Thái Hoà (2000), Những vấn đề thi pháp của truyện, Nxb. GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp của truyện
Tác giả: Nguyễn Thái Hoà
Nhà XB: Nxb. GD
Năm: 2000
11. Đinh Xuân Lâm – Trương Hữu Quý (1996), Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, Nxb. GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam
Tác giả: Đinh Xuân Lâm, Trương Hữu Quý
Nhà XB: Nxb. GD
Năm: 1996
12. Phương Lựu (2004), Lí luận phê bình văn học phương Tây, Nxb. Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận phê bình văn học phương Tây
Tác giả: Phương Lựu
Nhà XB: Nxb. Đà Nẵng
Năm: 2004
15. Hoàng Phê (chủ biên) (2008), Từ điển Tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê
Nhà XB: Nxb. Đà Nẵng
Năm: 2008
16. Trần Đình Sử (chủ biên) (1998), Giáo trình Dẫn luận thi pháp học, Nxb. GD, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Dẫn luận thi pháp học
Tác giả: Trần Đình Sử
Nhà XB: Nxb. GD
Năm: 1998
19. Nhiều tác giả (1993), Đại Việt sử kí toàn thư (Viện khoa học xã hội Việt Nam dịch), Nxb. Khoa học xã hội (Hà Nội) ấn hành Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt sử kí toàn thư
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
Năm: 1993
20. Nhiều tác giả (2005), Từ điển Văn học (Bộ mới), Nxb. Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Văn học (Bộ mới)
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb. Thế giới
Năm: 2005
26. L.I.Timôphêep (1962), Nguyên lí lí luận văn học (nhiều người dịch), Nxb. Văn hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên lí lí luận văn học
Tác giả: L.I.Timôphêep
Nhà XB: Nxb. Văn hoá
Năm: 1962
27. Tzavetan Todorov (2002), Thi pháp văn xuôi (Đặng Anh Đào, Lê Hồng Sâm dịch), Nxb. ĐHSP, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp văn xuôi
Tác giả: Tzavetan Todorov
Nhà XB: Nxb. ĐHSP
Năm: 2002
4. Nguyễn Thị Bình (2007), Văn xuôi Việt Nam 1975 – 1995. Những đổi mới cơ bản, Nxb. GD Khác
6. Lê Bá Hán (đồng chủ biên) (2000), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb. GD Khác
13. G.N.Pospelov (1985), Dẫn luận nghiên cứu văn học (2 tập), Nxb. GD Khác
14. Nguyễn Đăng Na (tuyển chọn và giới thiệu) (1999), Văn xuôi tự sự Việt Nam thời Trung đại (Tập 1), Nxb. GD Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w