Tuy nhiên, để có thể tạo lập được những văn bản thuyết minh có giá trị thì một trong những yếu tố quan trọng chính là phương pháp thuyết minh.Có thể nói, phương pháp thuyết minh là cơ sở
Trang 1Lời cảm ơn
Khoá luận được hoàn thành dưới sự chỉ bảo giúp đỡ tận tình của cô giáo Phạm Kiều Anh - giáo viên tổ Phương dạy học Ngữ
văn Em xin được gửi tới cô lời cảm ơn chân thành sâu sắc
Em cũng xin trân trọng cảm ơn các thầy, các cô trong tổ Phương pháp dạy học Ngữ văn, các thầy, các cô giáo trong khoa
Ngữ Văn - Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện
giúp đỡ em trong quá trình làm khoá luận
Hà Nội, ngày 14 tháng 5 năm 2007
Sinh viên
Vũ Thị Chi
Trang 2Lêi cam ®oan
T«i xin cam ®oan ®©y lµ c«ng tr×nh nghiªn cøu cña riªng t«i C¸c sè liÖu trong kho¸ luËn lµ trung thùc Kho¸ luËn nµy cha tõng ®îc c«ng bè trong bÊt cø c«ng tr×nh nµo NÕu nh÷ng lêi cam ®oan trªn lµ sai t«i xin hoµn toµn chÞu tr¸ch nhiÖm
T¸c gi¶ kho¸ luËn
Vò ThÞ Chi
Trang 31.2.8 Phương pháp giảng giải nguyên nhân kết quả 20
Chương 2 Tổ chức dạy học phương pháp thuyết minh trong
sách giáo khoa Ngữ văn 8 và Ngữ văn 10
22 2.1 Các phương pháp thuyết minh được tổ chức dạy 22
Trang 4häc trong s¸ch gi¸o khoa Ng÷ v¨n 8 vµ Ng÷ v¨n 10
2.2 Thùc tr¹ng d¹y häc cu¶ gi¸o viªn vµ häc sinh 23
Trang 6Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Những năm gần đây nền giáo dục Việt Nam đang có những thay
đổi nhất định Biểu hiện rõ nhất của sự thay đổi ấy là việc Bộ Giáo dục và Đào
tạo tiến hành xây dựng lại nội dung chương trình cho tất cả các môn học ở tất
cả các cấp học, bậc học Không là ngoại lệ, phân môn Làm văn ở trường phổ
thông cũng có nhiều thay đổi Khác với nội dung Làm văn ở các chương trình
trước đây, nội dung phân môn Làm văn trong SGK Ngữ văn hiện nay giới
thiệu rất nhiều kiểu văn bản, trong đó có văn bản thuyết minh - một kiểu văn
bản còn khá mới mẻ
1.2 Thuyết minh là một trong những phương thức biểu đạt quan trọng
trong đời sống con người, tồn tại bên cạnh những phương thức biểu đạt khác
như: tự sự, miêu tả, nghị luận Nó được sử dụng phổ biến trong giao tiếp
nhằm phục vụ những nhu cầu trao đổi thông tin của con người Cho nên việc
triển khai nội dung dạy học văn bản thuyết minh là rất thiết thực Vì đó là cơ
sở giúp giáo viên có thể rèn luyện cho học sinh khả năng xây dựng được bài
văn thuyết minh khi có nhu cầu giới thiệu một vấn đề gì đó của đời sống cho
mọi người xung quanh
Tuy nhiên, để có thể tạo lập được những văn bản thuyết minh có giá trị
thì một trong những yếu tố quan trọng chính là phương pháp thuyết minh.Có
thể nói, phương pháp thuyết minh là cơ sở để người viết có được cách thức tổ
chức nội dung cần thuyết minh nhằm đạt được những mục đích giao tiếp nhất
định Đáp ứng yêu cầu này, SGK Ngữ văn từ lớp 8 đến lớp 10 đã giới thiệu
những kiến thức cơ bản về phương pháp thuyết minh nhằm đáp ứng được mục
tiêu rèn cho học sinh kỹ năng tạo lập những bài văn thuyết minh hay, có giá
trị
Trang 7Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Tổ chức dạy
học phương pháp thuyết minh ở trường phổ thông”
2 Lịch sử vấn đề
Để nghiên cứu các phương pháp thuyết minh, chúng tôi tìm hiểu các
công trình đã nghiên cứu về văn bản thuyết minh Có thể nói, thuyết minh là
kiểu văn bản còn khá mới mẻ nên chưa có nhiều tác giả và công trình nghiên
cứu nó Cụ thể:
2.1 Nhóm tác giả Lê A, Nguyễn Trí trong cuốn “Làm văn” (Sách giáo
trình đào tạo giáo viên hệ CĐSP, Nxb Giáo dục 2001) đã giới thiệu khái quát
về văn bản thuyết minh, về hệ thống kiến thức, kỹ năng cơ bản của kiểu bài
thuyết minh Đồng thời trong công trình này các tác giả cũng đã dành một số
trang để giới thiệu những kiểu bài thuyết minh thường gặp trong cuộc sống
Tuy nhiên, công trình này lại chưa đề cập đến các phương pháp được sử dụng
trong văn bản thuyết minh
2.2 Cũng bàn về văn bản thuyết minh, song trong chương trình “Làm
văn” lớp 11 (SGK thực nghiệm ban KHXH, KHTN) các nhà biên soạn đã trình
bày định nghĩa về văn bản thuyết minh và giới thiệu một số kiểu bài thuyết
minh thường gặp Đồng thời, SGK còn nêu lên những yêu cầu của một bài giới
thiệu thuyết minh và cách viết một bài thuyết minh Mặc dù vậy, lượng kiến
thức và kỹ năng đó vẫn chỉ mang tính khái quát và sơ lược do thời lượng dạy
học 1 tiết ở phổ thông chi phối Trong cuốn sách này, những vấn đề sử dụng
phương pháp thuyết minh trong bài văn thuyết minh cũng chưa được các tác
giả đề cập
Bên cạnh các công trình nghiên cứu trên, còn một số công trình nghiên
cứu theo hướng đổi mới Chẳng hạn:
Trang 82.3 Các cuốn Sách giáo viên Ngữ văn 8, 9, 10 của Bộ Giáo dục và Đào
tạo đã bước đầu giới thiệu về phương pháp thuyết minh theo những nội dung
được trình bày trong SGK Ngữ văn
3.4 Trong cuốn: “Hướng dẫn Tập làm văn 8”, tác giả Vũ Nho đã đưa ra
cách làm một bài văn thuyết minh, ngoài tri thức và quy trình của bài văn
thuyết minh tác giả cũng chỉ ra một số phương pháp thuyết minh có thể sử
dụng khi tạo lập kiểu văn bản này
2.5 Cũng bàn về phương pháp thuyết minh, trong cuốn “Hướng dẫn tự
học Ngữ văn 8”, các tác giả Nguyễn Xuân Lạc, Bùi Tất tươm đã nêu ra một số
phương pháp thuyết minh thường gặp và tác dụng của chúng Các tác giả cũng
khẳng định: “ để bài văn thuyết minh có sức thuyết phục, dễ hiểu, sáng rõ,
người ta có thể sử dụng phối hợp nhiều phương pháp thuyết minh ”
2.6 Trong cuốn: “Để học tốt Ngữ văn 10” của Thái Quang Vinh, Thảo
Bảo My, hay cuốn: “Học tốt ngữ văn 10” tập 2 của Nguyễn Thục Phương
các tác giả đã khẳng định mối quan hệ qua lại giữa phương pháp thuyết minh
và mục đích thuyết minh, đồng thời chỉ ra các phương pháp thuyết minh (8
phương pháp) thường được sử dụng trong bài văn thuyết minh
Như vậy, có thể nói rằng: Cho đến nay, việc nghiên cứu văn bản thuyết
minh là khá đa dạng Trong các công trình ấy, hầu hết các nhà nghiên cứu đề
đề cập đầy đủ những kiến thức và kĩ năng xây dựng văn bản thuyết minh song
các công trình này vẫn chưa trình bày một cách cụ thể về các phương pháp
thuyết minh
3 Mục đích nghiên cứu
Thông qua việc trình bày những tri thức cơ bản về văn bản thuyết minh,
chúng tôi muốn vận dụng vào việc tổ chức dạy học nội dung này cho học sinh
phổ thông Qua đó góp phần rút ngắn khoảng cách giữa lý thuyết và thực
Trang 9hành, giúp học sinh có hứng thú học Làm văn và đủ tự tin để tạo lập được bài
văn thuyết minh đạt yêu cầu
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, đề tài có nhiệm vụ:
- Trình bày một cách có hệ thống các phương pháp thuyết minh thường
được sử dụng khi tiến hành xây dựng văn bản thuyết minh
- Vận dụng các tri thức đó vào thực tiễn dạy học ở phổ thông
- Đánh giá hiệu quả của việc vận dụng các tri thức đó vào dạy học
5 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu: Các phương pháp thuyết minh được sử
dụng khi tạo lập văn bản thuyết minh
5.2 Phạm vi nghiên cứu: Tìm hiểu các phương pháp thuyết minh ở
Trang 10Nội dung Chương 1
Các phương pháp thuyết minh trong văn bản thuyết minh
1.1 Văn bản thuyết minh
Trong cuộc sống hàng ngày, muốn cung cấp cho người khác những
thông tin về thế giới xung quanh, chúng ta phải sử dụng ngôn ngữ để trình
bày, giới thuyết về chính sự vật hiện tượng ấy Việc trình bày, giới thuyết bằng
ngôn ngữ như vậy là cơ sở tạo ra kiểu văn bản thuyết minh Vì vậy, có thể
quan niệm rằng:
“Văn bản thuyết minh là kiểu văn bản thông dụng trong mọi lĩnh vực
của đời sống nhằm cung cấp những tri thức (kiến thức) về đặc điểm, tính chất,
nguyên nhân, của các hiện tượng và sự vật trong tự nhiên, xã hội bằng
phương thức trình bày, giới thiệu, giải thích ” (SGK Ngữ văn 8 tập I)
Xuất phát từ những mục đích thuyết minh khác nhau nên văn bản
thuyết minh có nhiều loại Có loại chủ yếu để trình bày về một sự vật, sự việc,
có loại được dùng để miêu tả một hiện tượng, cũng có văn bản được dùng để
giới thuyết về một vấn đề gì đó của thế giới xung quanh
Cũng như những kiểu văn bản khác, văn bản thuyết minh được cấu
thành bởi các yếu tố như: đặc điểm, tính chất, nội dung, mục đích sử dụng,
căn cứ vào mục đích và tuỳ theo từng đối tượng mà người viết đề ra những yêu
cầu về nội dung và có những cách viết khác nhau Tuy nhiên, văn bản thuyết
minh cũng như những kiểu văn bản khác, phải tuân thủ đầy đủ những quy
định chung của một văn bản là tính chính xác, nhất quán, rõ ràng, mạch lạc và
phải có sự liên kết chặt chẽ Vì vậy, khi tạo lập văn bản thuyết minh, người
Trang 11viết cần phải chú ý đến cách lập luận sao cho người đọc, người nghe có thể
hình dung một cách rõ ràng đối tượng được giới thiệu, thuyết minh Chính sự
mạch lạc, chính xác và rõ ràng, người viết mới có thể tạo ra sự hứng thú, muốn
tìm hiểu và tiếp xúc với đối tượng thuyết minh ở độc giả Để đạt được những
mục đích trên, việc phối hợp, sử dụng các phương pháp thuyết minh là vấn đề
then chốt của người thuyết minh
1.2 Phương pháp thuyết minh
Khi muốn triển khai nội dung trong văn bản thuyết minh, một trong
những yếu tố không thể thiếu được là phương pháp thuyết minh.Có thể nói
phương pháp thuyết minh chính là bộ khung để người viết tạo lập một văn bản
thuyết minh có giá trị
Phương pháp thuyết minh được hiểu là hệ thống cách thức tổ chức nội
dung thuyết minh để người thuyết minh có thể giới thiệu, trình bày vấn đề một
cách phù hợp nhằm đạt được những mục đích giao tiếp nhất định Vì vậy, văn
bản thuyết minh còn được gọi là văn bản giới thiệu, thuyết trình
Tương xứng với mỗi mục đích thuyết minh khác nhau, người viết có
những cách thức tổ chức nội dung thuyết minh khác nhau Vì vậy, trong văn
bản thuyết minh, hệ thống phương pháp thuyết minh rất đa dạng và phong
phú Trong văn bản thuyết minh, chúng ta thường gặp những phương pháp
thuyết minh cơ bản sau:
1.2.1 Phương pháp nêu định nghĩa, giải thích
Để cung cấp cho người đọc, người nghe những kiểu cơ bản và ngắn gọn
nhất về đối tượng cần thuyết minh, người viết thường sử dụng phương pháp
nêu định nghĩa giải thích
Trang 12Bản chất của phương phápnày là người viết sử dụng ngôn ngữ, câu văn
hoặc đoạn văn để làm rõ bản chất, đặc điểm của sự vật, hiện tượng cần thuyết
minh
Ta có thể bắt gặp phương pháp nêu định nghĩa, giải thích trong câu văn
thuyết minh sau:
VD1: Huế là một trong những trung tâm văn hoá nghệ thuật lớn của
Việt Nam
(Trích “Huế” -Dẫn theo Tiếng Việt thực hành)
Để giới thiệu về một danh lam thắng cảnh (Huế), người viết đã trực tiếp
nêu bản chất của danh thắng ấy, đó là “trung tâm văn hoá nghệ thuật lớn của
Việt Nam” Chính nhờ cách giải thích Huế - với đặc trưng cơ bản của nó như
vậy đã giúp cho người tiếp nhận hiểu rõhơn về một thành phố du lịch - một
danh lam thắng cảnh nổi tiếng của đất nước ta
Ta có thể gặp phương pháp này trong ví dụ sau:
“Cá voi xanh là cá voi nặng nhất của đại dương với chiều dài 30m và
nặng khoảng 150 tấn Họ hàng nhà cá voi xanh là cá voi xám, cá voi trắng, cá
voi lưng gù, hay cá voi nhà táng, cá heo”
(Nguyễn Đình Nhơn - Tri thức thế giới: “Loài vật tỏ tình như thế nào?” - Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội, 2003)
Để thuyết minh về loài cá voi xanh, người viết đã đặt đối tượng cần
thuyết minh vào hệ thống sự vật, hiện tượng cùng loại, từ đó, người viết chỉ ra
đặc điểm bản chất của đối tượng thuyết minh là “cá voi nặng nhất của đại
dương với chiều dài 30m và nặng khoảng 150 tấn”
Văn bản thuyết minh sử dụng phương pháp nêu định nghĩa, giải thích
thường có câu mở đầu mang tính chất giới thiệu Câu này có cấu trúc theo
kiểu:
Trang 13A là B trong đó: A: đối tượng thuyết minh
B: đặc trưng bản chất hay một đặc điểm nào đó của đối tượng thuyết minh
Khi sử dụng, người thuyết minh cần lưu ý không nên định nghĩa một
cách chung chung quá rộng hoặc quá hẹp Chẳng hạn:
- Thức ăn là lương thực
hay:
- Bão là một hình thức vận động của không khí
Những cách thuyết minh như vậy sẽ không định hướng rõ, không làm rõ
nội dung vấn đề cần thuyết minh, không tạo ra nội dung thông tin mới khi
thuyết minh
1.2.2 Phương pháp chú thích
Trong văn bản thuyết minh, người viết còn có thể sử dụng một phương
pháp thuyết minh - tuy có hình thức giống phương pháp nêu định nghĩa, giải
thích - nhưng trên thực tế nó lại là một phương pháp khác Đó là phương pháp
chú thích
Trong văn bản thuyết minh, chú thích là người viết đặt đối tượng cần
thuyết minh vào loại lớn hơn, không phải để chỉ ra các yếu tố bản chất của
chúng, không phân biệt chúng với các yếu tố cùng loại mà làm rõ, chú thích
thêm một điều gì đó về đối tượng cần thuyết minh Chẳng hạn:
“Basô là một thi sĩ - người hành hương danh tiếng sống ở Nhật vào thế
kỷ VXIII Basô là bút danh”
(Theo Hàn Thuỷ Giang - “Thi sĩ Basô và con đường hẹp thiên lý”, Báo Vietnamnet, ngày 20 - 11 - 2005)
Trong ví dụ này, câu: “Basô là bút danh” là sự chú thích về Basô Chú
thích là bởi người viết không chỉ ra đặc điểm bản chất của danh từ “Basô” mà
Trang 14đặt nó vào loại lớn hơn: “bút danh” Qua đó, không phân biệt Basô với các bút
danh cùng loại: Tố Hữu, Hàn Mặc Tử,
Khi sử dụng phương pháp chú thích, chúng ta cần phân biệt nó với
phương pháp nêu định nghĩa, giải thích Cụ thể:
Điểm giống nhau củahai phương pháp này là đều có cấu trúc câu:
A là B trong đó:
A: đối tượng thuyết minh
B: đặc trưng của đối tượng thuyết minh
Bên cạnh nét tương đồng, hai phương pháp này còn có điểm khác biệt
Nếu phương pháp nêu định nghĩa giải thích phải chỉ ra những yếu tố nói lên
đúng đặc điểm, bản chất của sự vật, hiện tượng để phân biệt nó với sự vật, hiện
tượng khác thì phương pháp chú thích không buộc phải chỉ ra đặc điểm bản
chất của sự vật, hiện tượng mà chỉ là sự giải thích, bổ sung một nội dung nào
đó cho vấn đề cần thuyết minh
1.2.3 Phương pháp liệt kê
Trong văn bản thuyết minh, để người đọc hiểu sâu sắc, toàn diện và có
ấn tượng về đối tượng thuyết minh, người viết có thể sử dụng phương pháp liệt
kê
Về bản chất, liệt kê là cách người viết kể ra lần lượt các đặc điểm, tính
chất của sự vật theo một trật tự nào đó nhằm giới thiệu một loạt những yếu tố
cùng loại hoặc là những khía cạnh của cùng một đối tượng
Ta bắt gặp một số văn bản thuyết minh sử dụng phương pháp này như:
VD1: “Chung quanh núi Rồng có nhiều ngọn núi trông rất ngoạn mục
như: Ngũ Hoa Phong có hình năm đoá hoa sen chung một gốc, mọc lên từ
đầm lầy có hang tiên với các nhũ đá mang nhiều dáng vẻ kỳ thú, hình rồng hút
nước, hình các vị tiên, có ngọn Phù Thi Sơn, trông xa như một người đàn bà
Trang 15thắt trên mình một dải lụa xanh nằm gối đầu vào thân rồng Rồi núi mẹ núi
con như hình hai quả trứng, có núi Phả Ao, vũng Sao Sa có nước trong vắt
quanh năm Rồi núi con mèo, núi cánh tiên đều có hình thù như tên gọi”
(Lâm Bằng - “Hàm Rồng” Báo Nhân dân Chủ nhật) Văn bản trên thuyết minh về một danh lam thắng cảnh (Hàm Rồng)
Để cho người đọc có cái nhìn toàn diện về phong cảnh chung quanh núi Rồng
“có nhiều ngọn núi trông rất ngoạn mục”, tác giả Lâm Bằng đã liệt kê một loạt
các ngọn núi với những hình thù riêng của nó: Ngũ Hoa Phong có hình năm
đoá hoa sen, ngọn Phù Thi Sơn trông xa như “một người đàn bà thắt trên
mình một dải lụa xanh ”, Chính cách liệt kê như vậy giúp người đọc có thể
hình dung rõ hơn không gian hùng vĩ mà nên thơ của Hàm Rồng Ta có thể
thấy rõ tác dụng của phương pháp liệt kê trong ví dụ sau:
“Cây dừa gắn bó với người dân Bình Định chặt chẽ như vây tre đối với
người dân miền Bắc Cây dừa cống hiến tất cả của cải của mình cho con
người, thân cây làm máng, lá làm tranh, cọng lá chẻ nhỏ làm vách, gốc dừa
già làm chõ đồ xôi, nước dừa để uống, để kho cá, kho thịt, nấu canh, làm nước
mắm, cùi dừa ăn sống với bánh đa, làm mứt, làm bánh kẹo, ép lấy dầu dùng
để thắp, để ăn, để chải đầu, nấu xà phòng.”
(“Cây dừa Bình Định” - Hoàng Văn Huyền)
ở văn bản này, để nói về sự gắn bó của cây dừa với người dân Bình
Định và tác dụng “cống hiến tất cả của cải của mình cho con người” của cây
dừa, tác giả đã liệt kê một loạt các bộ phận của cay dừa và tác dụng của chúng
như: thân cây làm máng, lá làm tranh, Nhờ vậy tác giả đã giúp cho người
đọc hiểu biết sâu sắc và toàn diện hơn về cây dừa Bình Định và những công
dụng của nó đối với cuộc sống con người Khi sử dụng phương pháp này,
người viết cần lưu ý tới vấn đề sau: Tuỳ thuộc vào đối tượng thuyết minh mà
tìm ra hệ thống ngôn từ cùng trường liên tưởng phù hợp Chẳng hạn:
Trang 16ở VD1: Đối tượng thuyết minh là cảnh xung quanh núi Rồng Từ các
ngọn núi “trông rất ngoạn mục”: Ngũ Hoa Phong, Phù Thi Sơn, tác giả có cả
một trường liên tưởng phong phú: hình 5 đoá hoa sen, hình rồng hút nước,
hình các vị tiên, “người đàn bà thắt trên mình một dải lụa xanh nằm gối đầu
vào thân rồng”
Còn ở VD2: Đối tượng thuyết minh là cây dừa Từ cấu tạo của cây dừa,
tác giả có cả một trường liên tưởng đến công dụng của nó: thân dừa - làm
máng, lá dừa- làm tranh, cọng dừa - làm vách,
1.2.4 Phương pháp phân loại, phân tích
Đối tượng thuyết minh vốn hết sức phong phú và đa dạng Khi chúng
bao gồm nhiều mặt, nhiều khía cạnh, bộ phận, tạo thành, để cho người nghe,
người đọc hiểu về đối tượng thuyết minh một cách toàn diện, có hệ thống thì
người viết thường sử dụng phương pháp phân loại, phân tích
Trong văn bản thuyết minh, phân loại, phân tích là cách người viết chia
đối tượng thành từng mặt, từng khía cạnh, từng vấn đề để giới thiệu, trình
bày nhằm làm rõ đối tượng
Bản chất của phương pháp này là từ một đối tượng, một cơ sở cụ thể,
người viết tách ra thành những kiểu loại, những khía cạnh khác nhau để giới
thiệu Ta có thể thấy rõ điều này trong bài thuyết minh về nhạc cụ trong điệu
hát trống quân của tác giả Vũ Bằng Lấy cơ sở là sự “giản dị”, tác giả đã phân
tích, chỉ ra những đặc điểm thể hiện sự giản dị của nhạc cụ hát trống quân Đó
là:
“Nhạc cụ của điệu hát này (hát trống quân - NBS) giản dị hết chỗ nói:
đàn kìm, đàn nhị, đàn sến, hết thảy đều là đồ bỏ Tất cả nhạc cụ chỉ gồm
một cái hố sâu, có cái thùng bằng thiếc úp trên, trên thùng có một sợi dây kẽm
dài chừng năm, sáu thước căng giữa hai cái cọc Cầm mảnh gỗ gõ khẽ một
Trang 17chút vào đầu dây, cái dây bật vào thùng phát ra một thứ âmthanh giòn giã
nhịp theo tiếng hát thật duyên dáng”
(Theo Vũ Bằng, “Thương nhớ mười hai”, Nxb Văn Học Hà Nội 1993)
Tuy cùng gợi ra một loạt các biểu hiện của đối tượng thuyết minh
nhưng giữa phương pháp phân loại, phân tích và phương pháp liệt kê có những
điểm giống và khác nhau Cả hai phương pháp này đều đòi hỏi người thuyết
minh phải kể ra những bộ phận nhỏ, cụ thể được chứa đựng trong bộ phận lớn
hơn hoặc trong toàn thể Tuy nhiên, khi sử dụng phương pháp phân loại phân
tích, người viết còn phải tiếp tục giới thiệu, trình bày về những bộ phận được
phân chia ra đó Yêu cầu này không có ở phương pháp liệt kê
Lưu ý: Đối tượng thuyết minh khi sử dụng phương pháp này phải có
cấu tạo gồm nhiều thành phần, nhiều cá thể, chia tách phải theo một trình tự
nhất định từ khái quát đến cụ thể Hai thao tác phân loại và phân tích phải
luôn đi cùng với nhau
1.2.5 Phương pháp nêu ví dụ
Trong một văn bản thuyết minh, để người nghe, người đọc tin vào
những điều người viết muốn nói và hình dung rõ đối tượng thuyết minh thì
bên cạnh những lý lẽ, dẫn dắt, việc đưa ra các dẫn chứng, bằng cớ chân thực,
xác đáng sẽ làm tăng sức thuyết phục với độc giả Đáp ứng yêu cầu trên, khi
thuyết minh người viết thường sử dụng phương pháp nêu ví dụ
Về bản chất, nêu ví dụ là cách người viết nêu ra những dẫn chứng cụ
thể, xác thực, đáng tin cậy để minh hoạ cho vấn đề cần thuyết minh Trong
văn bản sau, tác giả đã sử dụng phương pháp nêu ví dụ:
“Ngày nay đi các nước phát triển, đâu đâu cũng nổi lên chiến dịch
chống thuốc lá Người ta cấm hút thuốc lá ở tất cả những nơi công cộng, phạt
những người vi phạm (ở Bỉ năm 1987, vi phạm lần thứ nhất phạt 40 USD, tái
phạm phạt 500 USD )”
(“Ôn dịch thuốc lá”, Nguyễn Khắc Viện)
Trang 18Khi thuyết trình về một tệ nạn xã hội - tệ nghiện thuốc lá - tác giả
Nguyễn Khắc Viện đã sử dụng những con số, những ví dụ cụ thể để chứng
minh cho vấn đề chống thuốc lá ở các nước phát triển (ở Bỉ: năm 1987, )
Chính những số liệu đó đã làm cho vấn đề thuyết minh thêm sức thuyết phục,
tạo niềm tin cho người đọc
Lưu ý: Ví dụ đưa ra đòi hỏi phải mang tính khách quan và trình bầy
phải có thứ tự Cách thức nêu ví dụ có thể kết hợp với liệt kê Chẳng hạn:
“Ông (Trần Quốc Tuấn) lại khéo tiến cử người tài giỏi cho đất nước
như Dã Tượng, Yết Kiêu là gia thần của ông, có dự công dẹp giặc Ô Mã Nhi,
Toa Đô Bọn Phạm Ngũ Lão, Trần Thì Kiến, Trương Hán Siêu, Phạm Lãm,
Trịnh Dũ, Ngô Sỹ Thường, Nguyễn Thế Trực vốn là môn khách của ông đều
nổi tiếng thời đó về văn chương và chính sự.”
(Trích “Đại việt sử ký toàn thư”, Ngô Sỹ Liên)
Để chứng minh cho Trần Quốc Tuấn “khéo tiến cử người giỏi” tác giả
đã nêu những ví dụ cụ thể về những gia thần của Trần Quốc Tuấn có dự công
dẹp Ô Mã Nhi, Toa Đô và về những môn khách của ông nổi tiếng thời đó về
văn chương và chính sự Sau đó kết hợp với liệt kê các tên tuổi: Dã Tượng, Yết
Kiêu, Phạm Ngũ Lão, Trần Thì Kiến nhằm làm cho đối tượng thuyết minh
thêm rõ ràng, cụ thể và xác thực hơn
1.2.6 Phương pháp dùng số liệu
Sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan rất phong phú, đa dạng
Khi đối tượng thuyết minh là sự phát triển dân số, gia tăng GDP, tức có liên
quan đến các số liệu thì việc thuyết minh sẽ thành suy diễn nếu người viết chỉ
dùng lý lẽ, căn cứ Do đó trong những trường hợp này người viết thường dùng
thêm phương pháp dùng số liệu Nhờ những con số cụ thể, nội dung vấn đề
thuyết minh sẽ chính xác hơn, chân thực hơn Và do đó cũng là một cơ sở tạo
ra sự hấp dẫn, tính thuyết phục, khoa học cho vấn đề cần thuyết minh
Trang 19Phương pháp dùng số liệu là phương pháp mà người viết đưa ra các con
số cụ thể, chính xác để minh hoạ cho đối tượng cần thuyết minh
VD1: “Các nhà khoa học cho biết: trong không khí, dưỡng khí chiếm
20% thể tích, thánh khí chiếm 3% Nếu không có bổ sung thì trong vòng 500
năm, con người và động vật sẽ dùng hết số dưỡng khí ấy đồng thời số thánh
khí không ngừng gia tăng ”
(“Nói về cỏ” - SGK Ngữ văn 8) VD2: “Ta đến bệnh viện K sẽ thấy rõ bác sĩ viện trưởng cho biết trên
80% ung thư vòm họng và ung thư phổi là do thuốc lá.”
(“Ôn dịch thuốc lá” - Nguyễn Khắc Viện)
ở VD1 nhờ số liệu được đưa ra, người nghe hiểu được tình trạng lượng
dưỡng khí trong không khí rất ít và nguy cơ lượng dưỡng khí sẽ hết nếu không
trồng cây xanh và thảm cỏ Tương tự như vậy, ở VD2 nhờ việc đưa ra số liệu,
tác giả đã cho người đọc thấy độ nguy hiểm chết người mà thuốc lá gây ra đối
với con người
Khi sử dụng phương pháp này, người viết cần lưu ý tới số liệu đưa ra
phải chính xác, có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng và phải phục vụ cho mục đích
làm cụ thể hơn đối tượng cần thuyết minh
1.2.7 Phương pháp so sánh
Trong văn bản thuyết minh, để tạo ra tính hấp dẫn và tạo ra hình ảnh
cho đối tượng cần thuyết minh, người viết còn sử dụng phương pháp so sánh
So sánh là đem ra đối chiếu hai sự vật khác nhau nhưng có nét tương
đồng nào đó để làm nổi bật đối tượng cần thuyết minh
VD: “Sông Hương đẹp như một dải lụa xanh bay lượn trong tay nghệ sĩ
múa Núi Ngự Bình như cái yên ngựa nổi bật trên nền trời trong xanh của
Huế Những vườn hoa cây cảnh, những vườn chè, cây ăn quả của Huế xanh
mượt như viên ngọc.”
(Trích “Huế” - SGK Ngữ văn 8)
Trang 20Trong văn bản trên, tác giả đã sử dụng phương pháp so sánh: sông
Hương - dải lụa xanh, núi Ngự Bình - cái yên ngựa, những vườn cây ở Huế với
những viên ngọc làm cho vẻ đẹp của Huế trở nên sống động và có hồn hơn
Lưu ý: Hai sự vật đem ra so sánh là khác nhau nhưng phải có nét tương
đồng nào đó
1.2.8 Phương pháp giảng giải nguyên nhân, kết quả
Mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan đều có nguyên nhân
và kết quả của nó Do đó, khi thuyết minh về một đối tượng nào đó, người viết
có thể dùng phương pháp giảng giải nguyên nhân - kết quả nhằm làm cho
người nghe, người đọc thêm hiểu biết sâu sắc hơn về đối tượng cần thuyết
minh
Giảng giải nguyên nhân, kết quả là phương pháp mà người thuyết minh
đưa ra hiện tượng và dùng lý lẽ, căn cứ để giảng giải nguyên nhân, kết quả của
hiện tượng đó
VD: “Bên kia sông có hòn núi Ngọc, tên chữ là Hoả Châu Phong hay
còn gọi là núi Nít, ngọn núi này tròn trặn, các lớp đá chen dày tua tủa như
ngọn núi lửa từ trong lòng đất bốc lên Bởi vậy mà gọi là Hoả Châu Phong:
Chín mươi chín ngọn bên đông Còn hòn núi Nịt bên sông chưa về”
(“Hàm Rồng” - Lâm Bằng) Trong ngữ liệu trên, tác giả đã lý giải vì sao có tên gọi Hoả Châu Phong
bằng cách miêu tả ngọn núi này thông qua những hình ảnh: “tròn trặn”, “các
lớp đá chen dày tua tủa như ngọn núi lửa từ trong lòng đất bốc lên” Cách lý
giải như vậy thực chất là người viết đã giảng giải nguyên nhân về tên gọi Hoả
Châu Phong
Trang 21Đối với phương pháp này, cần lưu ý rằng các lý lẽ và dẫn chứng đưa ra
phải có sức thuyết phục cao và không xa rời mục đích thuyết minh
Trên đây là các phương pháp thuyết minh thường gặp trong văn bản
thuyết minh Người viết có thể sử dụng một hoặc nhiều phương pháp thuyết
minh.Tuy nhiên muốn đảm bảo tính chuẩn xác, hấp dẫn, tạo ra sự thuyết phục
cho người tiếp nhận thì người viết nên sử dụng phối hợp các phương pháp
thuyết minh
Trang 22Chương 2
Tổ chức dạy học phương pháp thuyết minh
trong sách giáo khoa Ngữ văn 8 và Ngữ văn 10
2.1 Các phương pháp thuyết minh được tổ chức dạy học trong SGK
Ngữ văn 8 và Ngữ văn 10
Trong chương trình Ngữ văn ở phổ thông, văn bản thuyết minh là một
trong những kiểu văn bản mới Khi dạy kiểu văn bản này các tác giả biên soạn
đã triển khai tất cả các nội dung lý thuyết, trong đó có tri thức về phương pháp
thuyết minh.Phương pháp thuyết minh được dạy ở lớp 8 và lớp 10
ở lớp 8 Trung học cơ sở, ngay sau khi làm quen với kiểu văn bản
thuyết minh thì học sinh cũng được giới thiệu một số phương pháp thuyết
minh Chỉ trong một tiết học, học sinh được tìm hiểu về các phương pháp
Các phương phápnày được trình bày theo lối quy nạp Giáo viên đi từ
ngữ liệu cụ thể rồi thông qua hệ thống câu hỏi hướng dẫn học sinh rút ra khái
niệm của từng phương pháp Sau tiết lý thuyết này không có giờ thực hành
riêng về các phương pháp thuyết minh mà chỉ lồng ghép kỹ năng thực hành
qua tiết học về văn bản thuyết minh như: Đề văn thuyết minh và cách làm bài
Trang 23văn thuyết minh; Luyện nói: thuyết minh về một thứ đồ dùng; Thuyết minh về
một thể loại văn học,
Đến lớp 10 THPT, phương pháp thuyết minh lại tiếp tục được đưa vào
giảng dạy Với dung lượng một tiết, chương trình vừa hệ thống lại cho học
sinh kiến thức về phương pháp thuyết minh đã học, vừa cung cấp cho học sinh
hai phương pháp thuyết minh mới là:
+ Phương pháp chú thích
+ Phương pháp giảng giải nguyên nhân kết quả
Bên cạnh đó, tiết học này còn giúp học sinh hiểu hơn tầm quan trọng và
yêu cầu của việc sử dụng phương pháp thuyết minh trong văn bản thuyết
minh Sau tiết lý thuyết, kỹ năng thực hành được chú ý khi học sinh học về:
“Luyện tập viết đoạn văn thuyết minh”
Như vậy, cả SGK Ngữ văn 8 và Ngữ văn 10 đều đã tập trung giới thiệu
về phương pháp thuyết minh, song thời gian dành cho nó là chưa nhiều Hơn
nữa, sau những tiết lý thuyết, SGK chưa dành thời gian cho việc thực hành nội
dung này Cũng bởi thế, việc vận dụng nội dung này trong quá trình tạo lập
văn bản còn nhiều hạn chế Điều đó đòi hỏi giáo viên để giúp học sinh vận
dụng đúng đắn, sáng tạo các phương pháp thuyết minh, làm cho bài văn thêm
sinh động, hấp dẫn thì phải có những cách thức tổ chức dạy học phương pháp
thuyết minh khoa học và hiệu quả nhất
2.2 Thực trạng dạy học của giáo viên và học sinh
2.2.1 Thực trạng dạy của giáo viên
Văn bản thuyết minh là một kiểu văn bản mới được đưa vào chương
trình dạy - học Vì thế, trong thực tế giảng dạy, giáo viên mới chỉ bám sát
SGK và sách giáo viên để vừa dạy, vừa rèn luyện kiến thức, kĩ năng cho học
sinh Trong giờ dạy học kiến thức lý thuyết các phương pháp thuyết minh,
giáo viên thực hiện các nội dung trong SGK theo những định hướng trong sách
Trang 24giáo viên Thông thường GV đưa ra những câu hỏi gợi ý, hướng dẫn học sinh
phân tích ngữ liệu theo phần nội dung của SGK, học sinh nghe, trả lời, nhận
xét, bổ sung, sau đó giáo viên nhận xét, nhấn mạnh nội dung bài học để hướng
đến đích cuối cùng là giúp học sinh hiểu nội dung kiến thức cơ bản trong bài
học, đồng thời biết cách vận dụng kiến thức lý thuyết đó vào giải quyết bài tập
SGK đưa ra và trong phạm vi thực tiễn đời sống
Khi khảo sát chương trình, chúng tôi cũng nhận thấy thời gian dành cho
bài dạy phương pháp thuyết minh chỉ có một tiết theo phân phối nên GV chưa
có điều kiện để mở rộng và luyện tập sử dụng các phương pháp thuyết minh
như thế nào cho phù hợp với mục đích thuyết minh Khi dạy , GV dường như
chưa chú trọng nhiều đến việc chữa lỗi về sử dụng phương pháp thuyết minh
và coi phương pháp thuyết minh là một tiêu chí quan trọng trong bài văn
thuyết minh nhằm đánh giá năng lực của học sinh Bởi vậy khi thực hành làm
văn, học sinh vẫn chưa sử dụng các phương pháp thuyết minh một cách có
hiệu quả
2.2.2 Thực trạng họccủa học sinh
Nhìn chung học sinh còn thụ động trong quá trình học Mặc dù GV khi
lên lớp đã cố gắng thực hiện đổi mới phương pháp dạy - học, lấy học sinh làm
trung tâm, dạy học tích cực hoá nhằm tổ chức hướng dẫn học sinh tự tìm hiểu
để chiếm lĩnh tri thức phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo của học sinh
nhưng học sinh chưa thực sự tiếp thu một cách chủ động, sáng tạo Phần lớn
các em vẫn theo kiểu học cũ: nghe, ghi, chép, nhớ và tái hiện những gì GV nói
mà chưa có thói quen chủ động tìm hiểu, khám phá bài học
Trong các bài viết văn thuyết minh của học sinh, do không được tổ
chức, thực hành luyện tập các phương pháp thuyết minh cộng với sự tự học và
rèn luyện của cácem còn hạn chế nên khi tạo lập văn bản thuyết minh phần
lớn các em chưa vận dụng tốt các phương pháp thuyết minh vào bài làm một
Trang 25viết của các em không sử dụng đúng phương pháp thuyết minh theo đặc trưng,
yêu cầu như: sử dụng phương pháp nêu định nghĩa thì không nêu được đặc
trưng, tính chất của sự vật, gây sự nhầm lẫn, khó hiểu, hoặc sử dụng phương
pháp phân loại phân tích không hợp lý, không có cơ sở phân loại nên đối
tượng thuyết minh lộn xộn, không rõ ràng, mạch lạc
Một thực tế còn tồn tại nữa là vấn đề chữa lỗi của học sinh sau khi GV
trả bài Nhiều em còn ngại sửa, thậm chí sửa qua loa, hoặc không sửa trong
khi GV hướng dẫn thực hành Đó là một hạn chế lớn cần phải khắc phục ở học
sinh, nó cho thấy việc luyện tập thực hành ở học sinh vẫn chưa được các em ý
thức đầy đủ
Từ thực trạng dạy và học của giáo viên và học sinh như trên ta thấy: để
việc dạy học Làm văn thực sự chủ động, sáng tạo, học sinh biết vận dụng khi
làm bài văn thuyết minh theo theo yêu cầu đổi mới là không ít khó khăn Khắc
phục những khó khăn đó không hề đơn giản cần phải có thời gian Hơn nữa nó
cũng cần phải có sự tận tình, sáng tạo trong dạy học của giáo viên
2.3 Thiết kế giáo án dạy học
Để tổ chức dạy học nội dung này, căn cứ vào SGK, chúng tôi thiết kế
các giáo án sau:
Giáo án 1:
Phương pháp thuyết minh (SGK Ngữ văn 8 tập I)
A Mục tiêu cần đạt
1 Về kiến thức: Giúp học sinh nắm được tri thức các phương pháp
thuyết minh, từ đó giúp các em biết cách tạo lập môn văn bản thuyết minh
trên cơ sở nắm được yêu cầu và phương pháp thuyết minh
Trang 262 Về kĩ năng: Rèn luyện kỹ năng nhận biết bản chất, yêu cầu và tác
dụng của phương pháp thuyết minh trong văn bản thuyết minh nói riêng và
trong cuộc sống nói chung
3 Về tư tưởng : Giáo dục ý thức tạo lập văn bản thuyết minh có sử
dụng phương pháp thuyết minh phù hợp, rõ ràng
B Phương tiện thực hiện
SKG, SGV Ngữ văn 8 tập I
Giáo án, các tài liệu tham khảo khác
C Cách thức tiến hành
Nêu vấn đề, so sánh, thuyết giảng, phân tích, kết hợp các hình thức
trao đổi, thảo luận và trả lời câu hỏi
D Tiến trình dạy học
1 ổn định trật tự ( 1 phút)
2 Kiểm tra bài cũ (5 phút)
3 Bài mới (39 phút)
Lời vào bài
Để có thể tạo lập được những văn bản thuyết minh có giá trị thì một
trong những yếu tố quan trọng là phương pháp thuyết minh.Đây là cơ sở để
người viết có được những cách thức nội dung cần thuyết minh nhằm đạt được
những mục đích giao tiếp nhất định Vậy phương pháp thuyết minh là gì và có
những phương pháp thuyết minh nào? Hôm nay chúng ta cùng tìm hiểu bài:
1 Quan sát, học tập tích
Trang 27Nội dung cần đạt Hoạt động của thầy Hoạt động của trò
có màu xanh lục? Huế, Khởi nghĩa Nông Văn Vân, Con giun đất, đã sử dụng các loại tri thức gì? TL:
“Cây dừa Bình Định”: tri thức về địa lý, thực vật
“Tại sao lá cây có màu xanh lục?” tri thức về thực vật
“Huế”: tri thức về địa lý, lịch sử,
“Khởi nghĩa Nông Văn Vân”: tri thức về lịch sử
“Con giun đất”: tri thức
đây như thế nào?
TL: Muốn làm bài văn thuyết minh phải có tri thức phong phú về mọi lĩnh vực Để có kiến thức
Trang 28Nội dung cần đạt Hoạt động của thầy Hoạt động của trò
phải tích luỹ tri thức bằng cách: học tập, đọc sách, tra cứu tài liệu, tham quan, quan sát
CH: Bằng tưởng tượng, suy luận có thể có tri thức để làm bài văn thuyết minh không?
TL: Không thể bằng tưởng tượng và suy luận
để làm bài văn thuyết minh vì nó sẽ thiếu tính khách quan, khoa học, không làm cho người nghe tin vào nội dung thuyết minh, do đó không
đạt được mục đích thuyết minh
CH: Vậy muốn có tri thức
để làm tốt một bài văn thuyết minh người viết phải
Muốn có tri thức để làm tốt bài văn thuyết minh, người viết phải quan sát, tìm hiểu sự vật, hiện tượng cần thuyết minh, nhất là phải nắm được bản chất, đặc trưng của
Trang 29Nội dung cần đạt Hoạt động của thầy Hoạt động của trò
a Phương pháp nêu định nghĩa giải thích
Phương pháp thuyết minh
được hiểu là một hệ thống cách thức tổ chức nội dung
mà người thuyết minh sử dụng nhằm đạt được mục
đích mà mình đề ra Cho học sinh đọc phần a mục 2 và trả lời câu hỏi
chúng, để tránh sa vào trình bày các biểu hiện không tiêu biểu, không quan trọng
Trang 30Nội dung cần đạt Hoạt động của thầy Hoạt động của trò
CH: Ta thường gặp từ gì
trong các câu trên? Sau từ
ấy người ta cung cấp kiến thức như thế nào? TL: Ta thường gặp từ
“là” Sau từ “là” cung cấp cho ta một kiến thức, sự hiểu biết về đối tượng thuyết minh: đặc điểm, bản chất
CH: Hãy nêu vị trí, vai trò của câu văn định nghĩa, giải
người thuyết minh sử dụng từ ngữ, cụm từ, làm
rõ nghĩa bản chất tiêu biểu của sự vật, hiện tượng cần thuyết minh
CH: Những câu định nghĩa sau sai ở chỗ nào?
- Thức ăn là lương thực
Trang 31Nội dung cần đạt Hoạt động của thầy Hoạt động của trò
- Bão là hình thức vận động của không khí
- Ngữ văn là môn học dạy
đọc và viết văn TL: Những câu văn trên
chưa chỉ ra đúng bản chất của đối tượng thuyết minh (thức ăn, bão, môn Ngữ văn)
Câu định nghĩa còn chung chung, quá rộng hoặc quá hẹp
CH: Vậy khi sử dụng phương pháp nêu định nghĩa, giải thích cần chú ý
điều gì?
TL: Khi sử dụng phương pháp này cần chú ý đến giới hạn chính xác, không định nghĩa quá
rộng hoặc quá hẹp khiến người nghe, người đọc khó hiểu, khó hình dung
về đối tượng thuyết minh
CH: Hãy cho biết tác dụng của phương pháp nêu định nghĩa giải thích? TL: Nhằm làm cho người
nghe, người đọc có sự hiểu biết chính xác,
Trang 32Nội dung cần đạt Hoạt động của thầy Hoạt động của trò
b) Phương pháp liệt kê
Yêu cầu học sinh đọc phần
b mục 2
khách quan về đối tượng thuyết minh, tránh cách hiểu chung chung gây nhầm lẫn hoặc khó hiểu
CH: Đối tượng thuyết minh
ở hai văn bản này là gì? TL: Văn bản 1: Tác dụng
của cây dừa đối với đời sống con người
Văn bản 2: Tác hại của bao bì ni lông đối với sự phát triển của thực vật
CH: Để thuyết minh về vấn
đề đó, tác giả đã làm như
thế nào?
TL: Văn bản 1: Tác giả
đã liệt kê một loạt các bộ phận của cây dừa của chúng: thân làm máng, lá
làm tranh
Văn bản 2: Tác giả đã liệt
kê các tác hại của bao bì
ni lông bị vứt thải bừa bãi: tắc đường dẫn nước thải, tăng khả năng ngập lụt,