1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn sư phạm Tổ chức dạy học phương pháp thuyết minh ở trường phổ thông

64 78 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 361,78 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, để có thể tạo lập được những văn bản thuyết minh có giá trị thì một trong những yếu tố quan trọng chính là phương pháp thuyết minh.Có thể nói, phương pháp thuyết minh là cơ sở

Trang 1

Lời cảm ơn

Khoá luận được hoàn thành dưới sự chỉ bảo giúp đỡ tận tình của cô giáo Phạm Kiều Anh - giáo viên tổ Phương dạy học Ngữ

văn Em xin được gửi tới cô lời cảm ơn chân thành sâu sắc

Em cũng xin trân trọng cảm ơn các thầy, các cô trong tổ Phương pháp dạy học Ngữ văn, các thầy, các cô giáo trong khoa

Ngữ Văn - Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện

giúp đỡ em trong quá trình làm khoá luận

Hà Nội, ngày 14 tháng 5 năm 2007

Sinh viên

Vũ Thị Chi

Trang 2

Lêi cam ®oan

T«i xin cam ®oan ®©y lµ c«ng tr×nh nghiªn cøu cña riªng t«i C¸c sè liÖu trong kho¸ luËn lµ trung thùc Kho¸ luËn nµy ch­a tõng ®­îc c«ng bè trong bÊt cø c«ng tr×nh nµo NÕu nh÷ng lêi cam ®oan trªn lµ sai t«i xin hoµn toµn chÞu tr¸ch nhiÖm

T¸c gi¶ kho¸ luËn

Vò ThÞ Chi

Trang 3

1.2.8 Phương pháp giảng giải nguyên nhân kết quả 20

Chương 2 Tổ chức dạy học phương pháp thuyết minh trong

sách giáo khoa Ngữ văn 8 và Ngữ văn 10

22 2.1 Các phương pháp thuyết minh được tổ chức dạy 22

Trang 4

häc trong s¸ch gi¸o khoa Ng÷ v¨n 8 vµ Ng÷ v¨n 10

2.2 Thùc tr¹ng d¹y häc cu¶ gi¸o viªn vµ häc sinh 23

Trang 6

Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Những năm gần đây nền giáo dục Việt Nam đang có những thay

đổi nhất định Biểu hiện rõ nhất của sự thay đổi ấy là việc Bộ Giáo dục và Đào

tạo tiến hành xây dựng lại nội dung chương trình cho tất cả các môn học ở tất

cả các cấp học, bậc học Không là ngoại lệ, phân môn Làm văn ở trường phổ

thông cũng có nhiều thay đổi Khác với nội dung Làm văn ở các chương trình

trước đây, nội dung phân môn Làm văn trong SGK Ngữ văn hiện nay giới

thiệu rất nhiều kiểu văn bản, trong đó có văn bản thuyết minh - một kiểu văn

bản còn khá mới mẻ

1.2 Thuyết minh là một trong những phương thức biểu đạt quan trọng

trong đời sống con người, tồn tại bên cạnh những phương thức biểu đạt khác

như: tự sự, miêu tả, nghị luận Nó được sử dụng phổ biến trong giao tiếp

nhằm phục vụ những nhu cầu trao đổi thông tin của con người Cho nên việc

triển khai nội dung dạy học văn bản thuyết minh là rất thiết thực Vì đó là cơ

sở giúp giáo viên có thể rèn luyện cho học sinh khả năng xây dựng được bài

văn thuyết minh khi có nhu cầu giới thiệu một vấn đề gì đó của đời sống cho

mọi người xung quanh

Tuy nhiên, để có thể tạo lập được những văn bản thuyết minh có giá trị

thì một trong những yếu tố quan trọng chính là phương pháp thuyết minh.Có

thể nói, phương pháp thuyết minh là cơ sở để người viết có được cách thức tổ

chức nội dung cần thuyết minh nhằm đạt được những mục đích giao tiếp nhất

định Đáp ứng yêu cầu này, SGK Ngữ văn từ lớp 8 đến lớp 10 đã giới thiệu

những kiến thức cơ bản về phương pháp thuyết minh nhằm đáp ứng được mục

tiêu rèn cho học sinh kỹ năng tạo lập những bài văn thuyết minh hay, có giá

trị

Trang 7

Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Tổ chức dạy

học phương pháp thuyết minh ở trường phổ thông”

2 Lịch sử vấn đề

Để nghiên cứu các phương pháp thuyết minh, chúng tôi tìm hiểu các

công trình đã nghiên cứu về văn bản thuyết minh Có thể nói, thuyết minh là

kiểu văn bản còn khá mới mẻ nên chưa có nhiều tác giả và công trình nghiên

cứu nó Cụ thể:

2.1 Nhóm tác giả Lê A, Nguyễn Trí trong cuốn “Làm văn” (Sách giáo

trình đào tạo giáo viên hệ CĐSP, Nxb Giáo dục 2001) đã giới thiệu khái quát

về văn bản thuyết minh, về hệ thống kiến thức, kỹ năng cơ bản của kiểu bài

thuyết minh Đồng thời trong công trình này các tác giả cũng đã dành một số

trang để giới thiệu những kiểu bài thuyết minh thường gặp trong cuộc sống

Tuy nhiên, công trình này lại chưa đề cập đến các phương pháp được sử dụng

trong văn bản thuyết minh

2.2 Cũng bàn về văn bản thuyết minh, song trong chương trình “Làm

văn” lớp 11 (SGK thực nghiệm ban KHXH, KHTN) các nhà biên soạn đã trình

bày định nghĩa về văn bản thuyết minh và giới thiệu một số kiểu bài thuyết

minh thường gặp Đồng thời, SGK còn nêu lên những yêu cầu của một bài giới

thiệu thuyết minh và cách viết một bài thuyết minh Mặc dù vậy, lượng kiến

thức và kỹ năng đó vẫn chỉ mang tính khái quát và sơ lược do thời lượng dạy

học 1 tiết ở phổ thông chi phối Trong cuốn sách này, những vấn đề sử dụng

phương pháp thuyết minh trong bài văn thuyết minh cũng chưa được các tác

giả đề cập

Bên cạnh các công trình nghiên cứu trên, còn một số công trình nghiên

cứu theo hướng đổi mới Chẳng hạn:

Trang 8

2.3 Các cuốn Sách giáo viên Ngữ văn 8, 9, 10 của Bộ Giáo dục và Đào

tạo đã bước đầu giới thiệu về phương pháp thuyết minh theo những nội dung

được trình bày trong SGK Ngữ văn

3.4 Trong cuốn: “Hướng dẫn Tập làm văn 8”, tác giả Vũ Nho đã đưa ra

cách làm một bài văn thuyết minh, ngoài tri thức và quy trình của bài văn

thuyết minh tác giả cũng chỉ ra một số phương pháp thuyết minh có thể sử

dụng khi tạo lập kiểu văn bản này

2.5 Cũng bàn về phương pháp thuyết minh, trong cuốn “Hướng dẫn tự

học Ngữ văn 8”, các tác giả Nguyễn Xuân Lạc, Bùi Tất tươm đã nêu ra một số

phương pháp thuyết minh thường gặp và tác dụng của chúng Các tác giả cũng

khẳng định: “ để bài văn thuyết minh có sức thuyết phục, dễ hiểu, sáng rõ,

người ta có thể sử dụng phối hợp nhiều phương pháp thuyết minh ”

2.6 Trong cuốn: “Để học tốt Ngữ văn 10” của Thái Quang Vinh, Thảo

Bảo My, hay cuốn: “Học tốt ngữ văn 10” tập 2 của Nguyễn Thục Phương

các tác giả đã khẳng định mối quan hệ qua lại giữa phương pháp thuyết minh

và mục đích thuyết minh, đồng thời chỉ ra các phương pháp thuyết minh (8

phương pháp) thường được sử dụng trong bài văn thuyết minh

Như vậy, có thể nói rằng: Cho đến nay, việc nghiên cứu văn bản thuyết

minh là khá đa dạng Trong các công trình ấy, hầu hết các nhà nghiên cứu đề

đề cập đầy đủ những kiến thức và kĩ năng xây dựng văn bản thuyết minh song

các công trình này vẫn chưa trình bày một cách cụ thể về các phương pháp

thuyết minh

3 Mục đích nghiên cứu

Thông qua việc trình bày những tri thức cơ bản về văn bản thuyết minh,

chúng tôi muốn vận dụng vào việc tổ chức dạy học nội dung này cho học sinh

phổ thông Qua đó góp phần rút ngắn khoảng cách giữa lý thuyết và thực

Trang 9

hành, giúp học sinh có hứng thú học Làm văn và đủ tự tin để tạo lập được bài

văn thuyết minh đạt yêu cầu

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, đề tài có nhiệm vụ:

- Trình bày một cách có hệ thống các phương pháp thuyết minh thường

được sử dụng khi tiến hành xây dựng văn bản thuyết minh

- Vận dụng các tri thức đó vào thực tiễn dạy học ở phổ thông

- Đánh giá hiệu quả của việc vận dụng các tri thức đó vào dạy học

5 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu: Các phương pháp thuyết minh được sử

dụng khi tạo lập văn bản thuyết minh

5.2 Phạm vi nghiên cứu: Tìm hiểu các phương pháp thuyết minh ở

Trang 10

Nội dung Chương 1

Các phương pháp thuyết minh trong văn bản thuyết minh

1.1 Văn bản thuyết minh

Trong cuộc sống hàng ngày, muốn cung cấp cho người khác những

thông tin về thế giới xung quanh, chúng ta phải sử dụng ngôn ngữ để trình

bày, giới thuyết về chính sự vật hiện tượng ấy Việc trình bày, giới thuyết bằng

ngôn ngữ như vậy là cơ sở tạo ra kiểu văn bản thuyết minh Vì vậy, có thể

quan niệm rằng:

“Văn bản thuyết minh là kiểu văn bản thông dụng trong mọi lĩnh vực

của đời sống nhằm cung cấp những tri thức (kiến thức) về đặc điểm, tính chất,

nguyên nhân, của các hiện tượng và sự vật trong tự nhiên, xã hội bằng

phương thức trình bày, giới thiệu, giải thích ” (SGK Ngữ văn 8 tập I)

Xuất phát từ những mục đích thuyết minh khác nhau nên văn bản

thuyết minh có nhiều loại Có loại chủ yếu để trình bày về một sự vật, sự việc,

có loại được dùng để miêu tả một hiện tượng, cũng có văn bản được dùng để

giới thuyết về một vấn đề gì đó của thế giới xung quanh

Cũng như những kiểu văn bản khác, văn bản thuyết minh được cấu

thành bởi các yếu tố như: đặc điểm, tính chất, nội dung, mục đích sử dụng,

căn cứ vào mục đích và tuỳ theo từng đối tượng mà người viết đề ra những yêu

cầu về nội dung và có những cách viết khác nhau Tuy nhiên, văn bản thuyết

minh cũng như những kiểu văn bản khác, phải tuân thủ đầy đủ những quy

định chung của một văn bản là tính chính xác, nhất quán, rõ ràng, mạch lạc và

phải có sự liên kết chặt chẽ Vì vậy, khi tạo lập văn bản thuyết minh, người

Trang 11

viết cần phải chú ý đến cách lập luận sao cho người đọc, người nghe có thể

hình dung một cách rõ ràng đối tượng được giới thiệu, thuyết minh Chính sự

mạch lạc, chính xác và rõ ràng, người viết mới có thể tạo ra sự hứng thú, muốn

tìm hiểu và tiếp xúc với đối tượng thuyết minh ở độc giả Để đạt được những

mục đích trên, việc phối hợp, sử dụng các phương pháp thuyết minh là vấn đề

then chốt của người thuyết minh

1.2 Phương pháp thuyết minh

Khi muốn triển khai nội dung trong văn bản thuyết minh, một trong

những yếu tố không thể thiếu được là phương pháp thuyết minh.Có thể nói

phương pháp thuyết minh chính là bộ khung để người viết tạo lập một văn bản

thuyết minh có giá trị

Phương pháp thuyết minh được hiểu là hệ thống cách thức tổ chức nội

dung thuyết minh để người thuyết minh có thể giới thiệu, trình bày vấn đề một

cách phù hợp nhằm đạt được những mục đích giao tiếp nhất định Vì vậy, văn

bản thuyết minh còn được gọi là văn bản giới thiệu, thuyết trình

Tương xứng với mỗi mục đích thuyết minh khác nhau, người viết có

những cách thức tổ chức nội dung thuyết minh khác nhau Vì vậy, trong văn

bản thuyết minh, hệ thống phương pháp thuyết minh rất đa dạng và phong

phú Trong văn bản thuyết minh, chúng ta thường gặp những phương pháp

thuyết minh cơ bản sau:

1.2.1 Phương pháp nêu định nghĩa, giải thích

Để cung cấp cho người đọc, người nghe những kiểu cơ bản và ngắn gọn

nhất về đối tượng cần thuyết minh, người viết thường sử dụng phương pháp

nêu định nghĩa giải thích

Trang 12

Bản chất của phương phápnày là người viết sử dụng ngôn ngữ, câu văn

hoặc đoạn văn để làm rõ bản chất, đặc điểm của sự vật, hiện tượng cần thuyết

minh

Ta có thể bắt gặp phương pháp nêu định nghĩa, giải thích trong câu văn

thuyết minh sau:

VD1: Huế là một trong những trung tâm văn hoá nghệ thuật lớn của

Việt Nam

(Trích “Huế” -Dẫn theo Tiếng Việt thực hành)

Để giới thiệu về một danh lam thắng cảnh (Huế), người viết đã trực tiếp

nêu bản chất của danh thắng ấy, đó là “trung tâm văn hoá nghệ thuật lớn của

Việt Nam” Chính nhờ cách giải thích Huế - với đặc trưng cơ bản của nó như

vậy đã giúp cho người tiếp nhận hiểu rõhơn về một thành phố du lịch - một

danh lam thắng cảnh nổi tiếng của đất nước ta

Ta có thể gặp phương pháp này trong ví dụ sau:

“Cá voi xanh là cá voi nặng nhất của đại dương với chiều dài 30m và

nặng khoảng 150 tấn Họ hàng nhà cá voi xanh là cá voi xám, cá voi trắng, cá

voi lưng gù, hay cá voi nhà táng, cá heo”

(Nguyễn Đình Nhơn - Tri thức thế giới: “Loài vật tỏ tình như thế nào?” - Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội, 2003)

Để thuyết minh về loài cá voi xanh, người viết đã đặt đối tượng cần

thuyết minh vào hệ thống sự vật, hiện tượng cùng loại, từ đó, người viết chỉ ra

đặc điểm bản chất của đối tượng thuyết minh là “cá voi nặng nhất của đại

dương với chiều dài 30m và nặng khoảng 150 tấn”

Văn bản thuyết minh sử dụng phương pháp nêu định nghĩa, giải thích

thường có câu mở đầu mang tính chất giới thiệu Câu này có cấu trúc theo

kiểu:

Trang 13

A là B trong đó: A: đối tượng thuyết minh

B: đặc trưng bản chất hay một đặc điểm nào đó của đối tượng thuyết minh

Khi sử dụng, người thuyết minh cần lưu ý không nên định nghĩa một

cách chung chung quá rộng hoặc quá hẹp Chẳng hạn:

- Thức ăn là lương thực

hay:

- Bão là một hình thức vận động của không khí

Những cách thuyết minh như vậy sẽ không định hướng rõ, không làm rõ

nội dung vấn đề cần thuyết minh, không tạo ra nội dung thông tin mới khi

thuyết minh

1.2.2 Phương pháp chú thích

Trong văn bản thuyết minh, người viết còn có thể sử dụng một phương

pháp thuyết minh - tuy có hình thức giống phương pháp nêu định nghĩa, giải

thích - nhưng trên thực tế nó lại là một phương pháp khác Đó là phương pháp

chú thích

Trong văn bản thuyết minh, chú thích là người viết đặt đối tượng cần

thuyết minh vào loại lớn hơn, không phải để chỉ ra các yếu tố bản chất của

chúng, không phân biệt chúng với các yếu tố cùng loại mà làm rõ, chú thích

thêm một điều gì đó về đối tượng cần thuyết minh Chẳng hạn:

“Basô là một thi sĩ - người hành hương danh tiếng sống ở Nhật vào thế

kỷ VXIII Basô là bút danh”

(Theo Hàn Thuỷ Giang - “Thi sĩ Basô và con đường hẹp thiên lý”, Báo Vietnamnet, ngày 20 - 11 - 2005)

Trong ví dụ này, câu: “Basô là bút danh” là sự chú thích về Basô Chú

thích là bởi người viết không chỉ ra đặc điểm bản chất của danh từ “Basô” mà

Trang 14

đặt nó vào loại lớn hơn: “bút danh” Qua đó, không phân biệt Basô với các bút

danh cùng loại: Tố Hữu, Hàn Mặc Tử,

Khi sử dụng phương pháp chú thích, chúng ta cần phân biệt nó với

phương pháp nêu định nghĩa, giải thích Cụ thể:

Điểm giống nhau củahai phương pháp này là đều có cấu trúc câu:

A là B trong đó:

A: đối tượng thuyết minh

B: đặc trưng của đối tượng thuyết minh

Bên cạnh nét tương đồng, hai phương pháp này còn có điểm khác biệt

Nếu phương pháp nêu định nghĩa giải thích phải chỉ ra những yếu tố nói lên

đúng đặc điểm, bản chất của sự vật, hiện tượng để phân biệt nó với sự vật, hiện

tượng khác thì phương pháp chú thích không buộc phải chỉ ra đặc điểm bản

chất của sự vật, hiện tượng mà chỉ là sự giải thích, bổ sung một nội dung nào

đó cho vấn đề cần thuyết minh

1.2.3 Phương pháp liệt kê

Trong văn bản thuyết minh, để người đọc hiểu sâu sắc, toàn diện và có

ấn tượng về đối tượng thuyết minh, người viết có thể sử dụng phương pháp liệt

Về bản chất, liệt kê là cách người viết kể ra lần lượt các đặc điểm, tính

chất của sự vật theo một trật tự nào đó nhằm giới thiệu một loạt những yếu tố

cùng loại hoặc là những khía cạnh của cùng một đối tượng

Ta bắt gặp một số văn bản thuyết minh sử dụng phương pháp này như:

VD1: “Chung quanh núi Rồng có nhiều ngọn núi trông rất ngoạn mục

như: Ngũ Hoa Phong có hình năm đoá hoa sen chung một gốc, mọc lên từ

đầm lầy có hang tiên với các nhũ đá mang nhiều dáng vẻ kỳ thú, hình rồng hút

nước, hình các vị tiên, có ngọn Phù Thi Sơn, trông xa như một người đàn bà

Trang 15

thắt trên mình một dải lụa xanh nằm gối đầu vào thân rồng Rồi núi mẹ núi

con như hình hai quả trứng, có núi Phả Ao, vũng Sao Sa có nước trong vắt

quanh năm Rồi núi con mèo, núi cánh tiên đều có hình thù như tên gọi”

(Lâm Bằng - “Hàm Rồng” Báo Nhân dân Chủ nhật) Văn bản trên thuyết minh về một danh lam thắng cảnh (Hàm Rồng)

Để cho người đọc có cái nhìn toàn diện về phong cảnh chung quanh núi Rồng

“có nhiều ngọn núi trông rất ngoạn mục”, tác giả Lâm Bằng đã liệt kê một loạt

các ngọn núi với những hình thù riêng của nó: Ngũ Hoa Phong có hình năm

đoá hoa sen, ngọn Phù Thi Sơn trông xa như “một người đàn bà thắt trên

mình một dải lụa xanh ”, Chính cách liệt kê như vậy giúp người đọc có thể

hình dung rõ hơn không gian hùng vĩ mà nên thơ của Hàm Rồng Ta có thể

thấy rõ tác dụng của phương pháp liệt kê trong ví dụ sau:

“Cây dừa gắn bó với người dân Bình Định chặt chẽ như vây tre đối với

người dân miền Bắc Cây dừa cống hiến tất cả của cải của mình cho con

người, thân cây làm máng, lá làm tranh, cọng lá chẻ nhỏ làm vách, gốc dừa

già làm chõ đồ xôi, nước dừa để uống, để kho cá, kho thịt, nấu canh, làm nước

mắm, cùi dừa ăn sống với bánh đa, làm mứt, làm bánh kẹo, ép lấy dầu dùng

để thắp, để ăn, để chải đầu, nấu xà phòng.”

(“Cây dừa Bình Định” - Hoàng Văn Huyền)

ở văn bản này, để nói về sự gắn bó của cây dừa với người dân Bình

Định và tác dụng “cống hiến tất cả của cải của mình cho con người” của cây

dừa, tác giả đã liệt kê một loạt các bộ phận của cay dừa và tác dụng của chúng

như: thân cây làm máng, lá làm tranh, Nhờ vậy tác giả đã giúp cho người

đọc hiểu biết sâu sắc và toàn diện hơn về cây dừa Bình Định và những công

dụng của nó đối với cuộc sống con người Khi sử dụng phương pháp này,

người viết cần lưu ý tới vấn đề sau: Tuỳ thuộc vào đối tượng thuyết minh mà

tìm ra hệ thống ngôn từ cùng trường liên tưởng phù hợp Chẳng hạn:

Trang 16

ở VD1: Đối tượng thuyết minh là cảnh xung quanh núi Rồng Từ các

ngọn núi “trông rất ngoạn mục”: Ngũ Hoa Phong, Phù Thi Sơn, tác giả có cả

một trường liên tưởng phong phú: hình 5 đoá hoa sen, hình rồng hút nước,

hình các vị tiên, “người đàn bà thắt trên mình một dải lụa xanh nằm gối đầu

vào thân rồng”

Còn ở VD2: Đối tượng thuyết minh là cây dừa Từ cấu tạo của cây dừa,

tác giả có cả một trường liên tưởng đến công dụng của nó: thân dừa - làm

máng, lá dừa- làm tranh, cọng dừa - làm vách,

1.2.4 Phương pháp phân loại, phân tích

Đối tượng thuyết minh vốn hết sức phong phú và đa dạng Khi chúng

bao gồm nhiều mặt, nhiều khía cạnh, bộ phận, tạo thành, để cho người nghe,

người đọc hiểu về đối tượng thuyết minh một cách toàn diện, có hệ thống thì

người viết thường sử dụng phương pháp phân loại, phân tích

Trong văn bản thuyết minh, phân loại, phân tích là cách người viết chia

đối tượng thành từng mặt, từng khía cạnh, từng vấn đề để giới thiệu, trình

bày nhằm làm rõ đối tượng

Bản chất của phương pháp này là từ một đối tượng, một cơ sở cụ thể,

người viết tách ra thành những kiểu loại, những khía cạnh khác nhau để giới

thiệu Ta có thể thấy rõ điều này trong bài thuyết minh về nhạc cụ trong điệu

hát trống quân của tác giả Vũ Bằng Lấy cơ sở là sự “giản dị”, tác giả đã phân

tích, chỉ ra những đặc điểm thể hiện sự giản dị của nhạc cụ hát trống quân Đó

là:

“Nhạc cụ của điệu hát này (hát trống quân - NBS) giản dị hết chỗ nói:

đàn kìm, đàn nhị, đàn sến, hết thảy đều là đồ bỏ Tất cả nhạc cụ chỉ gồm

một cái hố sâu, có cái thùng bằng thiếc úp trên, trên thùng có một sợi dây kẽm

dài chừng năm, sáu thước căng giữa hai cái cọc Cầm mảnh gỗ gõ khẽ một

Trang 17

chút vào đầu dây, cái dây bật vào thùng phát ra một thứ âmthanh giòn giã

nhịp theo tiếng hát thật duyên dáng”

(Theo Vũ Bằng, “Thương nhớ mười hai”, Nxb Văn Học Hà Nội 1993)

Tuy cùng gợi ra một loạt các biểu hiện của đối tượng thuyết minh

nhưng giữa phương pháp phân loại, phân tích và phương pháp liệt kê có những

điểm giống và khác nhau Cả hai phương pháp này đều đòi hỏi người thuyết

minh phải kể ra những bộ phận nhỏ, cụ thể được chứa đựng trong bộ phận lớn

hơn hoặc trong toàn thể Tuy nhiên, khi sử dụng phương pháp phân loại phân

tích, người viết còn phải tiếp tục giới thiệu, trình bày về những bộ phận được

phân chia ra đó Yêu cầu này không có ở phương pháp liệt kê

Lưu ý: Đối tượng thuyết minh khi sử dụng phương pháp này phải có

cấu tạo gồm nhiều thành phần, nhiều cá thể, chia tách phải theo một trình tự

nhất định từ khái quát đến cụ thể Hai thao tác phân loại và phân tích phải

luôn đi cùng với nhau

1.2.5 Phương pháp nêu ví dụ

Trong một văn bản thuyết minh, để người nghe, người đọc tin vào

những điều người viết muốn nói và hình dung rõ đối tượng thuyết minh thì

bên cạnh những lý lẽ, dẫn dắt, việc đưa ra các dẫn chứng, bằng cớ chân thực,

xác đáng sẽ làm tăng sức thuyết phục với độc giả Đáp ứng yêu cầu trên, khi

thuyết minh người viết thường sử dụng phương pháp nêu ví dụ

Về bản chất, nêu ví dụ là cách người viết nêu ra những dẫn chứng cụ

thể, xác thực, đáng tin cậy để minh hoạ cho vấn đề cần thuyết minh Trong

văn bản sau, tác giả đã sử dụng phương pháp nêu ví dụ:

“Ngày nay đi các nước phát triển, đâu đâu cũng nổi lên chiến dịch

chống thuốc lá Người ta cấm hút thuốc lá ở tất cả những nơi công cộng, phạt

những người vi phạm (ở Bỉ năm 1987, vi phạm lần thứ nhất phạt 40 USD, tái

phạm phạt 500 USD )”

(“Ôn dịch thuốc lá”, Nguyễn Khắc Viện)

Trang 18

Khi thuyết trình về một tệ nạn xã hội - tệ nghiện thuốc lá - tác giả

Nguyễn Khắc Viện đã sử dụng những con số, những ví dụ cụ thể để chứng

minh cho vấn đề chống thuốc lá ở các nước phát triển (ở Bỉ: năm 1987, )

Chính những số liệu đó đã làm cho vấn đề thuyết minh thêm sức thuyết phục,

tạo niềm tin cho người đọc

Lưu ý: Ví dụ đưa ra đòi hỏi phải mang tính khách quan và trình bầy

phải có thứ tự Cách thức nêu ví dụ có thể kết hợp với liệt kê Chẳng hạn:

“Ông (Trần Quốc Tuấn) lại khéo tiến cử người tài giỏi cho đất nước

như Dã Tượng, Yết Kiêu là gia thần của ông, có dự công dẹp giặc Ô Mã Nhi,

Toa Đô Bọn Phạm Ngũ Lão, Trần Thì Kiến, Trương Hán Siêu, Phạm Lãm,

Trịnh Dũ, Ngô Sỹ Thường, Nguyễn Thế Trực vốn là môn khách của ông đều

nổi tiếng thời đó về văn chương và chính sự.”

(Trích “Đại việt sử ký toàn thư”, Ngô Sỹ Liên)

Để chứng minh cho Trần Quốc Tuấn “khéo tiến cử người giỏi” tác giả

đã nêu những ví dụ cụ thể về những gia thần của Trần Quốc Tuấn có dự công

dẹp Ô Mã Nhi, Toa Đô và về những môn khách của ông nổi tiếng thời đó về

văn chương và chính sự Sau đó kết hợp với liệt kê các tên tuổi: Dã Tượng, Yết

Kiêu, Phạm Ngũ Lão, Trần Thì Kiến nhằm làm cho đối tượng thuyết minh

thêm rõ ràng, cụ thể và xác thực hơn

1.2.6 Phương pháp dùng số liệu

Sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan rất phong phú, đa dạng

Khi đối tượng thuyết minh là sự phát triển dân số, gia tăng GDP, tức có liên

quan đến các số liệu thì việc thuyết minh sẽ thành suy diễn nếu người viết chỉ

dùng lý lẽ, căn cứ Do đó trong những trường hợp này người viết thường dùng

thêm phương pháp dùng số liệu Nhờ những con số cụ thể, nội dung vấn đề

thuyết minh sẽ chính xác hơn, chân thực hơn Và do đó cũng là một cơ sở tạo

ra sự hấp dẫn, tính thuyết phục, khoa học cho vấn đề cần thuyết minh

Trang 19

Phương pháp dùng số liệu là phương pháp mà người viết đưa ra các con

số cụ thể, chính xác để minh hoạ cho đối tượng cần thuyết minh

VD1: “Các nhà khoa học cho biết: trong không khí, dưỡng khí chiếm

20% thể tích, thánh khí chiếm 3% Nếu không có bổ sung thì trong vòng 500

năm, con người và động vật sẽ dùng hết số dưỡng khí ấy đồng thời số thánh

khí không ngừng gia tăng ”

(“Nói về cỏ” - SGK Ngữ văn 8) VD2: “Ta đến bệnh viện K sẽ thấy rõ bác sĩ viện trưởng cho biết trên

80% ung thư vòm họng và ung thư phổi là do thuốc lá.”

(“Ôn dịch thuốc lá” - Nguyễn Khắc Viện)

ở VD1 nhờ số liệu được đưa ra, người nghe hiểu được tình trạng lượng

dưỡng khí trong không khí rất ít và nguy cơ lượng dưỡng khí sẽ hết nếu không

trồng cây xanh và thảm cỏ Tương tự như vậy, ở VD2 nhờ việc đưa ra số liệu,

tác giả đã cho người đọc thấy độ nguy hiểm chết người mà thuốc lá gây ra đối

với con người

Khi sử dụng phương pháp này, người viết cần lưu ý tới số liệu đưa ra

phải chính xác, có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng và phải phục vụ cho mục đích

làm cụ thể hơn đối tượng cần thuyết minh

1.2.7 Phương pháp so sánh

Trong văn bản thuyết minh, để tạo ra tính hấp dẫn và tạo ra hình ảnh

cho đối tượng cần thuyết minh, người viết còn sử dụng phương pháp so sánh

So sánh là đem ra đối chiếu hai sự vật khác nhau nhưng có nét tương

đồng nào đó để làm nổi bật đối tượng cần thuyết minh

VD: “Sông Hương đẹp như một dải lụa xanh bay lượn trong tay nghệ sĩ

múa Núi Ngự Bình như cái yên ngựa nổi bật trên nền trời trong xanh của

Huế Những vườn hoa cây cảnh, những vườn chè, cây ăn quả của Huế xanh

mượt như viên ngọc.”

(Trích “Huế” - SGK Ngữ văn 8)

Trang 20

Trong văn bản trên, tác giả đã sử dụng phương pháp so sánh: sông

Hương - dải lụa xanh, núi Ngự Bình - cái yên ngựa, những vườn cây ở Huế với

những viên ngọc làm cho vẻ đẹp của Huế trở nên sống động và có hồn hơn

Lưu ý: Hai sự vật đem ra so sánh là khác nhau nhưng phải có nét tương

đồng nào đó

1.2.8 Phương pháp giảng giải nguyên nhân, kết quả

Mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan đều có nguyên nhân

và kết quả của nó Do đó, khi thuyết minh về một đối tượng nào đó, người viết

có thể dùng phương pháp giảng giải nguyên nhân - kết quả nhằm làm cho

người nghe, người đọc thêm hiểu biết sâu sắc hơn về đối tượng cần thuyết

minh

Giảng giải nguyên nhân, kết quả là phương pháp mà người thuyết minh

đưa ra hiện tượng và dùng lý lẽ, căn cứ để giảng giải nguyên nhân, kết quả của

hiện tượng đó

VD: “Bên kia sông có hòn núi Ngọc, tên chữ là Hoả Châu Phong hay

còn gọi là núi Nít, ngọn núi này tròn trặn, các lớp đá chen dày tua tủa như

ngọn núi lửa từ trong lòng đất bốc lên Bởi vậy mà gọi là Hoả Châu Phong:

Chín mươi chín ngọn bên đông Còn hòn núi Nịt bên sông chưa về”

(“Hàm Rồng” - Lâm Bằng) Trong ngữ liệu trên, tác giả đã lý giải vì sao có tên gọi Hoả Châu Phong

bằng cách miêu tả ngọn núi này thông qua những hình ảnh: “tròn trặn”, “các

lớp đá chen dày tua tủa như ngọn núi lửa từ trong lòng đất bốc lên” Cách lý

giải như vậy thực chất là người viết đã giảng giải nguyên nhân về tên gọi Hoả

Châu Phong

Trang 21

Đối với phương pháp này, cần lưu ý rằng các lý lẽ và dẫn chứng đưa ra

phải có sức thuyết phục cao và không xa rời mục đích thuyết minh

Trên đây là các phương pháp thuyết minh thường gặp trong văn bản

thuyết minh Người viết có thể sử dụng một hoặc nhiều phương pháp thuyết

minh.Tuy nhiên muốn đảm bảo tính chuẩn xác, hấp dẫn, tạo ra sự thuyết phục

cho người tiếp nhận thì người viết nên sử dụng phối hợp các phương pháp

thuyết minh

Trang 22

Chương 2

Tổ chức dạy học phương pháp thuyết minh

trong sách giáo khoa Ngữ văn 8 và Ngữ văn 10

2.1 Các phương pháp thuyết minh được tổ chức dạy học trong SGK

Ngữ văn 8 và Ngữ văn 10

Trong chương trình Ngữ văn ở phổ thông, văn bản thuyết minh là một

trong những kiểu văn bản mới Khi dạy kiểu văn bản này các tác giả biên soạn

đã triển khai tất cả các nội dung lý thuyết, trong đó có tri thức về phương pháp

thuyết minh.Phương pháp thuyết minh được dạy ở lớp 8 và lớp 10

ở lớp 8 Trung học cơ sở, ngay sau khi làm quen với kiểu văn bản

thuyết minh thì học sinh cũng được giới thiệu một số phương pháp thuyết

minh Chỉ trong một tiết học, học sinh được tìm hiểu về các phương pháp

Các phương phápnày được trình bày theo lối quy nạp Giáo viên đi từ

ngữ liệu cụ thể rồi thông qua hệ thống câu hỏi hướng dẫn học sinh rút ra khái

niệm của từng phương pháp Sau tiết lý thuyết này không có giờ thực hành

riêng về các phương pháp thuyết minh mà chỉ lồng ghép kỹ năng thực hành

qua tiết học về văn bản thuyết minh như: Đề văn thuyết minh và cách làm bài

Trang 23

văn thuyết minh; Luyện nói: thuyết minh về một thứ đồ dùng; Thuyết minh về

một thể loại văn học,

Đến lớp 10 THPT, phương pháp thuyết minh lại tiếp tục được đưa vào

giảng dạy Với dung lượng một tiết, chương trình vừa hệ thống lại cho học

sinh kiến thức về phương pháp thuyết minh đã học, vừa cung cấp cho học sinh

hai phương pháp thuyết minh mới là:

+ Phương pháp chú thích

+ Phương pháp giảng giải nguyên nhân kết quả

Bên cạnh đó, tiết học này còn giúp học sinh hiểu hơn tầm quan trọng và

yêu cầu của việc sử dụng phương pháp thuyết minh trong văn bản thuyết

minh Sau tiết lý thuyết, kỹ năng thực hành được chú ý khi học sinh học về:

“Luyện tập viết đoạn văn thuyết minh”

Như vậy, cả SGK Ngữ văn 8 và Ngữ văn 10 đều đã tập trung giới thiệu

về phương pháp thuyết minh, song thời gian dành cho nó là chưa nhiều Hơn

nữa, sau những tiết lý thuyết, SGK chưa dành thời gian cho việc thực hành nội

dung này Cũng bởi thế, việc vận dụng nội dung này trong quá trình tạo lập

văn bản còn nhiều hạn chế Điều đó đòi hỏi giáo viên để giúp học sinh vận

dụng đúng đắn, sáng tạo các phương pháp thuyết minh, làm cho bài văn thêm

sinh động, hấp dẫn thì phải có những cách thức tổ chức dạy học phương pháp

thuyết minh khoa học và hiệu quả nhất

2.2 Thực trạng dạy học của giáo viên và học sinh

2.2.1 Thực trạng dạy của giáo viên

Văn bản thuyết minh là một kiểu văn bản mới được đưa vào chương

trình dạy - học Vì thế, trong thực tế giảng dạy, giáo viên mới chỉ bám sát

SGK và sách giáo viên để vừa dạy, vừa rèn luyện kiến thức, kĩ năng cho học

sinh Trong giờ dạy học kiến thức lý thuyết các phương pháp thuyết minh,

giáo viên thực hiện các nội dung trong SGK theo những định hướng trong sách

Trang 24

giáo viên Thông thường GV đưa ra những câu hỏi gợi ý, hướng dẫn học sinh

phân tích ngữ liệu theo phần nội dung của SGK, học sinh nghe, trả lời, nhận

xét, bổ sung, sau đó giáo viên nhận xét, nhấn mạnh nội dung bài học để hướng

đến đích cuối cùng là giúp học sinh hiểu nội dung kiến thức cơ bản trong bài

học, đồng thời biết cách vận dụng kiến thức lý thuyết đó vào giải quyết bài tập

SGK đưa ra và trong phạm vi thực tiễn đời sống

Khi khảo sát chương trình, chúng tôi cũng nhận thấy thời gian dành cho

bài dạy phương pháp thuyết minh chỉ có một tiết theo phân phối nên GV chưa

có điều kiện để mở rộng và luyện tập sử dụng các phương pháp thuyết minh

như thế nào cho phù hợp với mục đích thuyết minh Khi dạy , GV dường như

chưa chú trọng nhiều đến việc chữa lỗi về sử dụng phương pháp thuyết minh

và coi phương pháp thuyết minh là một tiêu chí quan trọng trong bài văn

thuyết minh nhằm đánh giá năng lực của học sinh Bởi vậy khi thực hành làm

văn, học sinh vẫn chưa sử dụng các phương pháp thuyết minh một cách có

hiệu quả

2.2.2 Thực trạng họccủa học sinh

Nhìn chung học sinh còn thụ động trong quá trình học Mặc dù GV khi

lên lớp đã cố gắng thực hiện đổi mới phương pháp dạy - học, lấy học sinh làm

trung tâm, dạy học tích cực hoá nhằm tổ chức hướng dẫn học sinh tự tìm hiểu

để chiếm lĩnh tri thức phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo của học sinh

nhưng học sinh chưa thực sự tiếp thu một cách chủ động, sáng tạo Phần lớn

các em vẫn theo kiểu học cũ: nghe, ghi, chép, nhớ và tái hiện những gì GV nói

mà chưa có thói quen chủ động tìm hiểu, khám phá bài học

Trong các bài viết văn thuyết minh của học sinh, do không được tổ

chức, thực hành luyện tập các phương pháp thuyết minh cộng với sự tự học và

rèn luyện của cácem còn hạn chế nên khi tạo lập văn bản thuyết minh phần

lớn các em chưa vận dụng tốt các phương pháp thuyết minh vào bài làm một

Trang 25

viết của các em không sử dụng đúng phương pháp thuyết minh theo đặc trưng,

yêu cầu như: sử dụng phương pháp nêu định nghĩa thì không nêu được đặc

trưng, tính chất của sự vật, gây sự nhầm lẫn, khó hiểu, hoặc sử dụng phương

pháp phân loại phân tích không hợp lý, không có cơ sở phân loại nên đối

tượng thuyết minh lộn xộn, không rõ ràng, mạch lạc

Một thực tế còn tồn tại nữa là vấn đề chữa lỗi của học sinh sau khi GV

trả bài Nhiều em còn ngại sửa, thậm chí sửa qua loa, hoặc không sửa trong

khi GV hướng dẫn thực hành Đó là một hạn chế lớn cần phải khắc phục ở học

sinh, nó cho thấy việc luyện tập thực hành ở học sinh vẫn chưa được các em ý

thức đầy đủ

Từ thực trạng dạy và học của giáo viên và học sinh như trên ta thấy: để

việc dạy học Làm văn thực sự chủ động, sáng tạo, học sinh biết vận dụng khi

làm bài văn thuyết minh theo theo yêu cầu đổi mới là không ít khó khăn Khắc

phục những khó khăn đó không hề đơn giản cần phải có thời gian Hơn nữa nó

cũng cần phải có sự tận tình, sáng tạo trong dạy học của giáo viên

2.3 Thiết kế giáo án dạy học

Để tổ chức dạy học nội dung này, căn cứ vào SGK, chúng tôi thiết kế

các giáo án sau:

Giáo án 1:

Phương pháp thuyết minh (SGK Ngữ văn 8 tập I)

A Mục tiêu cần đạt

1 Về kiến thức: Giúp học sinh nắm được tri thức các phương pháp

thuyết minh, từ đó giúp các em biết cách tạo lập môn văn bản thuyết minh

trên cơ sở nắm được yêu cầu và phương pháp thuyết minh

Trang 26

2 Về kĩ năng: Rèn luyện kỹ năng nhận biết bản chất, yêu cầu và tác

dụng của phương pháp thuyết minh trong văn bản thuyết minh nói riêng và

trong cuộc sống nói chung

3 Về tư tưởng : Giáo dục ý thức tạo lập văn bản thuyết minh có sử

dụng phương pháp thuyết minh phù hợp, rõ ràng

B Phương tiện thực hiện

SKG, SGV Ngữ văn 8 tập I

Giáo án, các tài liệu tham khảo khác

C Cách thức tiến hành

Nêu vấn đề, so sánh, thuyết giảng, phân tích, kết hợp các hình thức

trao đổi, thảo luận và trả lời câu hỏi

D Tiến trình dạy học

1 ổn định trật tự ( 1 phút)

2 Kiểm tra bài cũ (5 phút)

3 Bài mới (39 phút)

Lời vào bài

Để có thể tạo lập được những văn bản thuyết minh có giá trị thì một

trong những yếu tố quan trọng là phương pháp thuyết minh.Đây là cơ sở để

người viết có được những cách thức nội dung cần thuyết minh nhằm đạt được

những mục đích giao tiếp nhất định Vậy phương pháp thuyết minh là gì và có

những phương pháp thuyết minh nào? Hôm nay chúng ta cùng tìm hiểu bài:

1 Quan sát, học tập tích

Trang 27

Nội dung cần đạt Hoạt động của thầy Hoạt động của trò

có màu xanh lục? Huế, Khởi nghĩa Nông Văn Vân, Con giun đất, đã sử dụng các loại tri thức gì? TL:

“Cây dừa Bình Định”: tri thức về địa lý, thực vật

“Tại sao lá cây có màu xanh lục?” tri thức về thực vật

“Huế”: tri thức về địa lý, lịch sử,

“Khởi nghĩa Nông Văn Vân”: tri thức về lịch sử

“Con giun đất”: tri thức

đây như thế nào?

TL: Muốn làm bài văn thuyết minh phải có tri thức phong phú về mọi lĩnh vực Để có kiến thức

Trang 28

Nội dung cần đạt Hoạt động của thầy Hoạt động của trò

phải tích luỹ tri thức bằng cách: học tập, đọc sách, tra cứu tài liệu, tham quan, quan sát

CH: Bằng tưởng tượng, suy luận có thể có tri thức để làm bài văn thuyết minh không?

TL: Không thể bằng tưởng tượng và suy luận

để làm bài văn thuyết minh vì nó sẽ thiếu tính khách quan, khoa học, không làm cho người nghe tin vào nội dung thuyết minh, do đó không

đạt được mục đích thuyết minh

CH: Vậy muốn có tri thức

để làm tốt một bài văn thuyết minh người viết phải

Muốn có tri thức để làm tốt bài văn thuyết minh, người viết phải quan sát, tìm hiểu sự vật, hiện tượng cần thuyết minh, nhất là phải nắm được bản chất, đặc trưng của

Trang 29

Nội dung cần đạt Hoạt động của thầy Hoạt động của trò

a Phương pháp nêu định nghĩa giải thích

Phương pháp thuyết minh

được hiểu là một hệ thống cách thức tổ chức nội dung

mà người thuyết minh sử dụng nhằm đạt được mục

đích mà mình đề ra Cho học sinh đọc phần a mục 2 và trả lời câu hỏi

chúng, để tránh sa vào trình bày các biểu hiện không tiêu biểu, không quan trọng

Trang 30

Nội dung cần đạt Hoạt động của thầy Hoạt động của trò

CH: Ta thường gặp từ gì

trong các câu trên? Sau từ

ấy người ta cung cấp kiến thức như thế nào? TL: Ta thường gặp từ

“là” Sau từ “là” cung cấp cho ta một kiến thức, sự hiểu biết về đối tượng thuyết minh: đặc điểm, bản chất

CH: Hãy nêu vị trí, vai trò của câu văn định nghĩa, giải

người thuyết minh sử dụng từ ngữ, cụm từ, làm

rõ nghĩa bản chất tiêu biểu của sự vật, hiện tượng cần thuyết minh

CH: Những câu định nghĩa sau sai ở chỗ nào?

- Thức ăn là lương thực

Trang 31

Nội dung cần đạt Hoạt động của thầy Hoạt động của trò

- Bão là hình thức vận động của không khí

- Ngữ văn là môn học dạy

đọc và viết văn TL: Những câu văn trên

chưa chỉ ra đúng bản chất của đối tượng thuyết minh (thức ăn, bão, môn Ngữ văn)

Câu định nghĩa còn chung chung, quá rộng hoặc quá hẹp

CH: Vậy khi sử dụng phương pháp nêu định nghĩa, giải thích cần chú ý

điều gì?

TL: Khi sử dụng phương pháp này cần chú ý đến giới hạn chính xác, không định nghĩa quá

rộng hoặc quá hẹp khiến người nghe, người đọc khó hiểu, khó hình dung

về đối tượng thuyết minh

CH: Hãy cho biết tác dụng của phương pháp nêu định nghĩa giải thích? TL: Nhằm làm cho người

nghe, người đọc có sự hiểu biết chính xác,

Trang 32

Nội dung cần đạt Hoạt động của thầy Hoạt động của trò

b) Phương pháp liệt kê

Yêu cầu học sinh đọc phần

b mục 2

khách quan về đối tượng thuyết minh, tránh cách hiểu chung chung gây nhầm lẫn hoặc khó hiểu

CH: Đối tượng thuyết minh

ở hai văn bản này là gì? TL: Văn bản 1: Tác dụng

của cây dừa đối với đời sống con người

Văn bản 2: Tác hại của bao bì ni lông đối với sự phát triển của thực vật

CH: Để thuyết minh về vấn

đề đó, tác giả đã làm như

thế nào?

TL: Văn bản 1: Tác giả

đã liệt kê một loạt các bộ phận của cây dừa của chúng: thân làm máng, lá

làm tranh

Văn bản 2: Tác giả đã liệt

kê các tác hại của bao bì

ni lông bị vứt thải bừa bãi: tắc đường dẫn nước thải, tăng khả năng ngập lụt,

Ngày đăng: 29/06/2020, 13:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê A (chủ biên), Nguyễn Trí (2001), Làm văn, Giáo trình đào tạo giáo viên hệ CĐSP, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làm văn
Tác giả: Lê A, Nguyễn Trí
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
3. Cao Xuân Bách, Các dạng bài tập làm văn và cảm thụ thơ văn lớp 8, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các dạng bài tập làm văn và cảm thụ thơ văn lớp 8
Tác giả: Cao Xuân Bách
Nhà XB: Nxb Giáo dục
6. Đỗ Hữu Châu (chủ biên), Đỗ Kim Hồi, Nguyễn Xuân Nam, Nguyễn Quang Ninh, Cao Đức Tiến, Hà Bình Trị (1994), Làm văn 10, Ban KHXH, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làm văn 10
Tác giả: Đỗ Hữu Châu, Đỗ Kim Hồi, Nguyễn Xuân Nam, Nguyễn Quang Ninh, Cao Đức Tiến, Hà Bình Trị
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1994
7. Đỗ Hữu Châu, Lê A, Nguyễn Quang Ninh, Cao Đức Tiến (1995), Tài liệu bồi dưỡng dạy SGK thí điểm THCB lớp 10, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng dạy SGK thí điểm THCB lớp 10
Tác giả: Đỗ Hữu Châu, Lê A, Nguyễn Quang Ninh, Cao Đức Tiến
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1995
12. Nguyễn Văn Đường (chủ biên) Hoàng Dân, Thiết kế bài giảng Ngữ văn 8, hai tập, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài giảng Ngữ văn 8
Tác giả: Nguyễn Văn Đường, Hoàng Dân
Nhà XB: Nxb Hà Nội
17. Phan TrọngLuận (chủ biên), Thiết kế bài giảng Ngữ văn 10, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài giảng Ngữ văn 10
Tác giả: Phan Trọng Luận
Nhà XB: Nxb Hà Nội
18. Phan Trọng Luận (chủ biên), Nguyễn Xuân Nam, Lê A (1991), Một số vấn đề về môn Làm văn và sách Làm văn 11 - THPT, (Tài liệu bồi dưỡng GV THPT), Nxb ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về môn Làm văn và sách Làm văn 11 - THPT
Tác giả: Phan Trọng Luận, Nguyễn Xuân Nam, Lê A
Nhà XB: Nxb ĐHSP Hà Nội
Năm: 1991
20. Phan Trọng Ngọ, Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường, Nxb §HSP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường
Tác giả: Phan Trọng Ngọ
Nhà XB: Nxb §HSP
23. Nguyễn Quang Ninh (1981), Một vài suy nghĩ bước đầu về việc dạy cho học sinh cách viết đoạn văn, Kỷ yếu Hội nghị “Những vấn đề ngôn ngữ học”, Trường ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Quang Ninh
Năm: 1981
24. Nguyễn Huy Quát, Hoàng Hữu Bội, Một số vấn đề về phương pháp dạy - học văn trong nhà trường, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về phương pháp dạy - học văn trong nhà trường
Tác giả: Nguyễn Huy Quát, Hoàng Hữu Bội
Nhà XB: Nxb Giáo dục
31. Đỗ Ngọc Thống (chủ biên), Nguyễn Văn Hiệp, Nguyễn Trọng Hoàn (biên soạn và tuyển chọn), Tư liệu Ngữ văn 8, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư liệu Ngữ văn 8
Tác giả: Đỗ Ngọc Thống, Nguyễn Văn Hiệp, Nguyễn Trọng Hoàn
Nhà XB: Nxb Giáo dục
33. Thái Quang Vinh, Thảo Bảo My (2006), Để học tốt Ngữ văn 10, Nxb ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Để học tốt Ngữ văn 10
Tác giả: Thái Quang Vinh, Thảo Bảo My
Nhà XB: Nxb ĐHSP Hà Nội
Năm: 2006
2. Lê A, Nguyễn Quang Ninh, Bùi Minh Toán, (1996), Phương pháp dạy học tiếng Việt, Nxb Giáo dục Khác
5. Lương Duy Cán (1996), Rèn luyện kỹ năng làm văn 9, Nxb Giáo dục Khác
8. Đỗ Hữu Châu (chủ biên), Nguyễn Xuân Nam, Nguyễn Quang Ninh, Cao Đức Tiến (1994), Làm văn 10, Ban KHTN - KT, Nxb Giáo dục Khác
9. Trần Đình Chung, Hệ thống câu hỏi đọc - hiểu văn bản Ngữ văn 8, Nxb Giáo dục Khác
10. Nguyễn Hải Đạm, Lê Xuân Soan, Hoàng Mai Thao (1992), Phương pháp dạy và học môn Tiếng Việt”, Sách CĐSP, Nxb Hà Nội Khác
13. Nguyễn Văn Đường (chủ biên), Hoàng Dân, Thiết kế bài giảng Ngữ văn 10, hai tập, Nxb Hà Nội Khác
14. Nguyễn Thị Mai Hoa, Đinh Chí Sáng, Một số kiến thức - kỹ năng và bài tập nâng cao Ngữ văn 8, Nxb Giáo dục Khác
15. Nguyễn Trọng Hoàn, Hà Thanh Huyền, Dạy học Ngữ văn 8, hai tập, Nxb Giáo dục Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w