Năm 1010 nhà Lý được thành lập, trong không khí tưng bừng phấn khởi khi đất nước độc lập, tinh thần khẳng định quốc gia dân tộc trở thành một nhu cầu thiết yếu đối với mỗi người dân Đại
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Với chiến thắng vang dội trên sông Bạch Đằng lịch sử năm 938, nước
ta thoát khỏi 1000 năm Bắc thuộc và từ đây Đại Việt bắt đầu bước vào một thời kì mới, thời kì độc lập tự chủ
Năm 1010 nhà Lý được thành lập, trong không khí tưng bừng phấn khởi khi đất nước độc lập, tinh thần khẳng định quốc gia dân tộc trở thành một nhu cầu thiết yếu đối với mỗi người dân Đại Việt Với cảm hứng yêu nước, tinh thần dân tộc, trong văn học đã dấy lên một phong trào sáng tác thơ
ca để ngợi ca các bậc anh hùng cũng như công cuộc kháng chiến chống ngoại xâm đáp ứng đời sống tinh thần của con người
Tiếp nối thành tựu của đời trước, bước vào thời đại nhà Trần, tinh thần khẳng định quốc gia dân tộc cũng là nguồn cảm hứng bất tận đối với các thi sĩ giai đoạn này Những sắc thái tình cảm thể hiện tinh thần yêu nước, tự hào về những chiến công chống quân xâm lược, về truyền thống đấu tranh bất khuất,
về một nền văn hiến văn hóa lâu đời, về đất nước tươi đẹp phong phú, về con người có bản lĩnh vững vàng, về cuộc sống yên vui,…đã trở thành đề tài chính trong hầu hết các sáng tác của các tác giả thời Trần
Khẳng định quốc gia dân tộc mình, thơ ca thời Trần đã chứa đựng cái hào khí đặc biệt - Hào khí Đông A - Hào khí Đại Việt gắn với một thời đại quật khởi chiến thắng ngoại xâm liên tục và cởi mở đón nhận tinh hoa văn hóa bốn phương
Xuất phát từ những lí do trên tác giả khóa luận chọn đề tài “Tinh thần khẳng định quốc gia dân tộc trong thơ ca thời Trần” nhằm làm sáng rõ cả
về nội dung và ý thức nghệ thuật của một thời đại thi ca đi vào lịch sử văn học
Trang 2với những trang sử hào hùng, ngợi ca và tự hào khi khẳng định dân tộc Đại Việt
Thơ ca thời Trần cũng có một vị trí thực sự quan trọng trong chương trình Phổ thông, Cao Đẳng, Đại học Bởi vậy, với đề tài này, tác giả khóa luận
hi vọng nó sẽ có những đóng góp đáng kể và thiết thực vào công việc giảng dạy bộ môn Ngữ văn trong nhà trường
2 Lịch sử vấn đề
Từ thế kỉ X đến thế kỉ XIV được coi là giai đoạn đặt nền móng cho Văn học trung đại Việt Nam Thành tựu văn học của thời kì này tập trung nhiều vào thời nhà Lý và nhà Trần bởi vậy các nhà nghiên cứu gọi chung là Văn học Lý - Trần
Viết riêng về thời Trần đã có nhiều nhà nghiên cứu đã quan tâm đến thơ ca giai đoạn này như: Đinh Gia Khánh; Nguyễn Phạm Hùng; Nguyễn Đăng Na; Nguyễn Hữu Sơn; Đoàn Thị Thu Vân; Lê Thu Yến,…Tuy nhiên không phải tất cả những vấn đề thuộc mọi lĩnh vực trong nguồn thơ ca ấy đều được họ đề cập đến trong công trình nghiên cứu của mình
Đinh Gia Khánh (chủ biên), (2006), Văn học Việt Nam (Thế kỉ X - nửa đầu thế kỉ XVIII), Nhà xuất bản Giáo dục, trang 101 có viết: “Thơ văn đời Trần khẳng định giá trị của con người, vai trò của nhân dân và do đó có ý nghĩa nhân đạo chủ nghĩa sâu sắc Chủ nghĩa nhân đạo ấy gắn liền với chủ nghĩa yêu nước, bởi vì khi khẳng định giá trị của con người trong việc bảo vệ
và xây dựng Tổ quốc thì các tác giả cũng đồng thời thể hiện niềm tin tưởng ở phẩm chất và khả năng của dân tộc mình” Ở đây tác giả chủ yếu bàn về phẩm chất và khả năng của con người Đại Việt
Đoàn Thị Thu Vân, (2007), Con người nhân văn trong thơ ca Việt Nam
sơ kì trung đại, Nhà xuất bản Giáo dục, trang 26 - 27 cũng bàn về con người trong thơ thời Trần nhưng không phải là con người khí phách mà là con người
Trang 3nhân văn với vẻ đẹp mẫn cảm của tâm linh: “con người thường xuyên tự phản tỉnh” “Đó là sự phản tỉnh ở cấp độ con người - nhân loại mang ý nghĩa triết học” và “ sự phản tỉnh ở cấp độ con người - cá thể mang ý nghĩa nhân sinh”
Lê Thu Yến (chủ biên), Đoàn Thị Thu Vân - Lê Văn Lực, (2003), Văn học trung đại - Những công trình nghiên cứu, Nhà xuất bản giáo dục, trang
27, lại nói về quan niệm của con người trong thơ Thiền: “Thơ Thiền thời Lý - Trần, nhất là thời Trần luôn có xu hướng muốn đạt đến một con người - vũ trụ…Ấy là con người được giải thoát khỏi những ràng buộc hữu hạn của thế giới trần thế ngay chính nơi trần thế”
Nhìn chung các tác giả trên với bài viết của mình chủ yếu khai thác về con người trong nội dung thơ ca thời Trần
Bên cạnh đó, cũng có một số tác giả đi vào tìm hiểu những khía cạnh trên phương diện nghệ thuật như: Nguyễn Đăng Na (chủ biên) - Lã Nhâm Thìn - Đinh Thị Khang, (2008), Văn học trung đại Việt Nam tập I, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm, trang 20 có nhấn mạnh: “Thơ văn Lý Trần đặt nền móng một cách vững chắc cho Văn học trung đại Việt Nam từ chữ viết đến thể loại, từ nội dung đến nghệ thuật, từ phương thức tư duy nghệ thuật đến cách tiếp thu, kế thừa tinh hoa văn hóa nhân loại và sáng tạo truyền thống nghệ thuật riêng cho dân tộc mình” Đây gần như là sự đúc kết toàn bộ thơ ca của thời kì Lý – Trần
Trần Ngọc Vương (chủ biên), (2007), Văn học Việt Nam thế kỉ X đến Thế kỉ XIX – Những vấn đề lí luận và lịch sử, Nhà xuất bản giá dục, trang 540 lại viết riêng về sự tiếp thu thể loại của cả thời Lý - Trần chứ không đi riêng vào thời nhà Trần: “ Hệ thống thể loại Văn học Lý - Trần có thể được xem là một điển hình của quá trình tiếp thu thể loại Văn học Trung Quốc”
Tiếp thu những khía cạnh mà người đi trước đã nghiên cứu, đồng thời
bổ sung thêm những thiết hụt, những vấn đề chưa được bàn tới, với đề tài
Trang 4“Tinh Thần khẳng định quốc gia dân tộc trong thơ ca thời Trần” của mình,
em tập trung đi sâu vào khai thác những thành tựu của riêng thời nhà Trần đã đạt được trên cả hai phương diện nội dung và ý thức nghệ thuật Hi vọng rằng với đề tài này có thể góp phần làm hoàn thiện hơn trong việc khẳng định giá trị thơ ca thời Trần
Góp phần thiết thực vào công việc giảng dạy Ngữ văn sau này
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nêu được những nét khái quát nhất về lịch sử xã hội, tư tưởng và văn học thời Trần
Khẳng định ngợi ca quốc gia Đại Việt trên tinh thần dân tộc ở cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Tinh thần khẳng định quốc gia dân tộc trong thơ ca thời Trần
- Phạm vi nghiên cứu: Thơ ca thời Trần
6 Phương pháp nghiên cứu
Trang 5- Về mặt lí luận: Thấy được những nét cơ bản trong “Tinh thần khẳng định quốc gia dân tộc trong thơ ca thời Trần” Đồng thời nâng cao hiểu biết
về nội dung và nghệ thuật thơ ca thời Trần
- Về mặt thực tiễn: Đề tài sẽ là tư liệu cần thiết để phục vụ cho công tác giảng dạy sau này ở trường Phổ thông
8 Bố cục của khóa luận
Trang 6NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ LỊCH SỬ XÃ HỘI, TƯ TƯỞNG VÀ
VĂN HỌC THỜI TRẦN 1.1 Lịch sử xã hội
1.1.1 Lịch sử
Sau hơn một nghìn năm bị phong kiến Trung Hoa đô hộ, năm 938, với chiến thắng vang dội của Ngô Quyền trên sông Bạch Đằng lịch sử đất nước ta
đã bước vào một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của độc lập tự chủ
Năm 939, từ khi Ngô Quyền xưng vương dựng nước, đến tháng 12/
1225 khi nhà Trần được thành lập, nước ta đã trải qua sự hưng vong của các triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý và chấm dứt khi vua Thiếu Đế bị ép thoái vị vào năm 1400 để nhường ngôi cho ông ngoại là Hồ Quý Ly Từ đây vương triều Trần kết thúc sứ mệnh lịch sử của mình
Trong triều Trần, công cuộc xây dựng và phát triển đất nước Đại Việt được tiếp tục với tất cả sự cố gắng của mọi tầng lớp xã hội Trong vòng 175 năm, bằng sự nỗ lực hết sức của mình nhà Trần đã làm được những chiến công vang dội đi vào lịch sử dân tộc, đặc biệt với ba lần chiến thắng chống quân Nguyên - Mông để bảo vệ độc lập chủ quyền của đất nước
Trong cuộc kháng chiến chống xâm lược Mông Cổ lần thứ nhất vào năm 1258, vua Trần Thái Tông đã đích thân ra chiến trận rồi xuống chiếu ra lệnh cho cả nước khẩn trương đánh giặc cứu nước Sau mấy tháng trời gian khổ ròng rã, kinh thành Thăng Long sạch bóng quân thù và trả lại sự yên bình cho Đại Việt
Trang 7Từ bài học thất bại nặng nề trên đất Việt năm 1258 và ở Chiêm Thành năm 1283, Hốt Tất Liệt đã huy động một lực lượng quân viễn chinh rất lớn tấn công vào nước ta với mục đích nhanh chóng đánh chiếm Đại Việt
Trước ngòi lửa chiến tranh sắp bùng nổ, tinh thần yêu nước và chí căm thù giặc của nhân dân ta càng dâng cao Vua tôi nhà Trần gấp rút chuẩn bị kháng chiến Để thể hiện lòng quyết tâm chiến thắng giặc, quân dân ta đã chích vào cánh tay của mình hai chữ “Sát Thát” (giết giặc Thát Đát - chỉ quân Mông Cổ)
Đây là lần xâm lược Đại Việt với quy mô lớn nhất của nhà Nguyên và cũng là cuộc kháng chiến gian khổ nhất của quân dân nhà Trần chống phương Bắc, quyết định sự tồn vong của Đại Việt lúc đó
Sau những tháng ngày liên tục phản công quyết liệt bằng những trận quyết chiến, quân dân ta đã lập nên những chiến công vang dội có ý nghĩa chiến lược Chiến thắng ở Tây Kết, Hàm Tử, Chương Dương, Thăng Long, Vạn Kiếp đã tiêu diệt và quét sạch 50 vạn quân xâm lược ra khỏi bờ cõi của
Tổ quốc
Thắng lợi năm 1285 cơ bản đã xác định sự tồn tại của Đại Việt và củng
cố lòng tin của người Việt vào sức mạnh đoàn kết của toàn dân tộc, tinh thần đấu tranh anh dũng của nhân dân
Sau hai lần thất bại thảm hại, vua Nguyên Hốt Tất Liệt đã tổ chức ngay cuộc chiến tranh xâm lược Đại Việt lần thứ ba vào năm 1288 Lần này Trần Quốc Tuấn và triều đình chú trọng đến chiến trường ven biển Đông Bắc Đó
là đường tiến quân của thủy quân và đoàn thuyền tải lương của giặc
Lấy trận địa trên sông Bạch Đằng, thắng lợi cứ nối tiếp thắng lợi “quân
ta ngày càng hăng hái diệt địch, địch chết bị thương không kể xiết” [8, 243 ]
Tin đại thắng Bạch Đằng nhanh chóng truyền lan khắp cả nước càng làm nức lòng quân dân Đại Việt Đến ngày 19/4/1288 quân địch rải xác trên
Trang 8đường rút chạy, Thoát Hoan một lần nữa đành phải giải tán quân bại trận ở châu Tư Minh (Quảng Tây, Trung Quốc)
Như vậy, trong ba mươi năm liên tiếp, quân dân nhà Trần đã ba lần đại thắng ngoại xâm Thắng lợi vẻ vang và hào hùng ấy góp phần làm suy yếu quân Nguyên Mông, khẳng định sức mạnh của đội quân yêu nước trước kẻ thù xâm lược Chính khí thế sục sôi hào hùng của quân đội nhà Trần được mệnh danh là “Hào khí Đông A” đã tác động mạnh mẽ đến tinh thần, tình cảm và tâm lí con người thời đại Nó góp thêm vào tinh thần khẳng định quốc gia dân tộc của nhân dân Đại Việt
từ đời Lý, một mặt lại đảm bảo sức lao động cho sản xuất nông nghiệp, một mặt lại đảm bảo yêu cầu sẵn sàng chiến đấu của quân dân trước mọi nguy cơ xâm lược của kẻ thù
Bên cạnh đó, công cuộc xây dựng thủy nông cũng được tập trung chú ý: “nhà Trần ý thức được rằng muốn bảo vệ được mùa màng, nhà cửa, tính mạng một cách lâu dài phải có quy hoạch đắp đê quy mô theo cả dòng sông” [8, 204 ] Từ đó nhà nước trực tiếp tổ chức công việc
Với sự phát triển của sản xuất nông nghiệp là điều kiện cho việc đẩy mạnh sản xuất thủ công nghiệp để Đại Việt ngày càng phồn thịnh hơn
Trang 9Nhà Trần vẫn tiếp tục xây dựng quan xưởng thủ công nghiệp nhà nước với những ngành nghề khác nhau như nghề sản xuất đồ gốm ở Thiên Trường; nghề dệt được đặt ngay trong cung đình; ngoài ra các xưởng chế tạo vũ khí cũng được xây dựng nhiều
Thêm vào đó thủ công nghiệp nhân dân cũng là bộ phận quan trọng và phổ biến của thủ công nghiệp Những nghề thiết yếu là gốm (Bát Tràng); nghề rèn sắt (Tùng Lâm, Hoa Chàng); nghề đúc đồng (làng Bưởi); nghề mộc
và xây dựng; còn có nghề khai khoáng ở Miền núi phía Tây và Tây Bắc
Sự phát triển của nền nông nghiệp và thủ công nghiệp nước nhà đã tạo điều kiện cho thương nghiệp vươn mình đi theo Điều này làm cho kinh đô Thăng Long ngày càng mở mang sầm uất Mạng lưới giao thông mở rộng, nhiều đường thủy, bộ và trạm dịch nối liền kinh đô với các địa phương Chợ búa mọc lên khắp nơi, việc buôn bán với nước ngoài được tổ chức ở các thương khẩu từ đó hình thành nên các trung tâm thương mại nổi tiếng như Vĩnh Bình; Nghi Hòa Đình (Cao - Lạng); Vân Đồn (Quảng Ninh)
Nhìn chung nền kinh tế Đại Việt dưới triều Trần đạt đến trình độ phát triển nhất định Và trên cơ sở của nền sản xuất khá dồi dào ấy, văn hóa vật chất và tinh thần của xã hội có điều kiện nảy nở phù hợp với hoàn cảnh của đất nước lúc bấy giờ
1.1.2.2 Chính trị
Cuộc thay đổi triều đại chuyển chính quyền từ dòng họ Lý sang họ Trần trong hoàng cung và triều đình diễn ra như một tất yếu của lịch sử dân tộc Khi bắt đầu sứ mệnh lịch sử của mình, tập đoàn quý tộc họ Trần rất khôn khéo, dần dần từng bước vững chắc và cuối cùng đã nắm giữ chính quyền nhanh gọn để mở ra một thời kỳ tiếp tục phát triển cao hơn của xã hội Đại Việt
Trang 10Nhà Trần đã xây dựng một chính quyền của quý tộc - tổ chức chính quyền của dòng họ Trần Các chức vụ quan trọng trong bộ máy chính quyền, đặc biệt các chức võ quan cao cấp đều do các hoàng tử, thân vương nắm giữ Các vua Trần thường sớm truyền ngôi cho con rồi lên làm Thái thượng hoàng nhưng vẫn tiếp tục trông coi việc nước Sự liên kết dòng họ nắm chính quyền
đó như một nguyên tắc mà các vua Trần cố gắng thực hiện trong suốt 175 năm trị vì
Tổ chức quân đội nhà Trần tạo ra một sức bật mới làm nhanh chóng ổn định trật tự xã hội, sắp xếp chính quyền, đồng thời tăng cường lực lượng quân
sự đủ sức đưa đất nước vượt qua các trở ngại, bảo vệ nền độc lập dân tộc
Bộ phận cấm quân của nhà Trần ngày càng được tăng thêm, phiên chế ngày càng phức tạp và chặt chẽ Lực lượng vũ trang của các quý tộc cũng là một lực lượng đáng kể Ngoài ra nhà Trần còn nâng cao chất lượng binh lính bằng các biện pháp tuyển quân, tuyển tướng, huấn luyện binh pháp và rèn luyện tư tưởng
Về phương thức tuyển chọn quan lại ở thời Trần cũng có sự khác biệt
Do nhà nước Trần được xây dựng chủ yếu trên hai cơ sở xã hội là quý tộc và
sỹ phu nên phương thức tuyển chọn quan lại bằng “nhiệm tử”, người nắm chính quyền được bổ nhiệm theo họ hàng Ngoài ra còn lựa chọn qua “khoa cử”, qua “công lao”, “thủ sĩ” và mua bán bằng tiền Việc tuyển chọn này đã góp phần quy định bản chất thành phần của chính quyền nhà Trần
Cơ quan luật pháp thời Trần cũng được tăng cường và hoàn thiện hơn Năm 1230, Trần Thái Tông ban hành bộ “Quốc triều thông chế” gồm 20 quyển quy định về tổ chức chính quyền Tiếp sau đó nhà Trần lại ban hành quyển “Quốc triều hình luật”
Pháp luật và tổ chức tư pháp đời Trần rất nghiêm minh và chặt chẽ để khẳng định sức mạnh của nhà nước khi đang cai trị
Trang 11Như vậy, với một nền chính trị như thế, Đại Việt dưới sự phát triển của triều Trần đã để lại một dấu ấn đậm nét trong lịch sử Việt Nam
1.1.2.3 Văn hóa - giáo dục
Đất nước đã được độc lập, văn hóa dân tộc có điều kiện phát triển mạnh
mẽ về mọi mặt Nhà Trần đã cố gắng khôi phục và xây dựng một nền văn hóa cởi mở, đậm đà bản sắc dân tộc
Đó là nguồn văn hóa dân gian Nó không chỉ thể hiện ở lĩnh vực tinh thần qua những điệu hát chèo, những điệu nhảy và cả nghệ thuật múa rối, trò chơi hay những câu chuyện thần thoại về nguồn gốc và công cuộc đấu tranh của người Việt mà còn thể hiện qua văn hóa vật chất với những công trình kiến trúc lớn như “Thành nhà Hồ”, “Lăng mộ nhà Trần ở Thái Đường”, nghệ thuật điêu khắc tinh tế trên các cánh cửa gỗ ở các ngôi chùa hay sự phát triển của các nghề thủ công mỹ nghệ,…
Tất cả đã tạo ra cho triều Trần có một nền văn hóa đa dạng mang dấu
ấn của thời đại, vừa truyền thống nhưng lại vừa hiện đại trước nền văn hóa nước ngoài
Nền giáo dục cũng có sự điều chỉnh lại Vương triều Trần đã chính quy hóa, tạo ra quy củ cho việc học hành và thi cử Thành lập “Quốc học viện” để cho con em quý tộc Quan lại và nho sĩ vào học Tại lộ, phủ, châu, chức quan học được đặt ra Không chỉ có những trường học của vương triều, các nho sĩ còn lập ra trường học của các xóm làng Thể lệ thi cử, học vị được quy định
Năm 1247 nhà Trần đặt danh hiệu Tam khôi (ba học vị là Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa) dành cho ba người thi đỗ xuất sắc trong các kì thi Đình, quy định cứ bảy năm mở khoa thi một lần Và trong 175 năm, nhà Trần đã tổ chức được 14 khoa thi (10 khoa chính và 4 khoa phụ), lấy 238 người đỗ Bởi vậy tầng lớp nho sĩ ngày càng đông đảo, Nho học dần dần phát triển lấn át Phật giáo tinh thần Khổng giáo đã thấm sâu vào mội ngõ ngách
Trang 12của đời sống người dân Việt Nam vì nền giáo dục học thuật kéo dài qua hàng trăm thế hệ đã để lại những dấu ấn trong đời sống văn hóa, trong tâm thế ứng
xử của người Việt Nam Các vua Trần cũng đặc biệt trọng đãi Nho sĩ
Sách học cũng được quy định: Ngũ kinh, Tứ thư, Bắc sử,…Từ đó các quan niệm về tam cương ngũ thường, truyền thống tôn sư trọng đạo được hình thành
Có thể thấy được rằng, dưới một nền Văn hóa - giáo dục như thế đã thúc đẩy và tạo điều kiện thuận lợi một nền văn học phát triển với sự xuất hiện của các tác giả nổi tiếng từ vua cho đến các bậc quan lại, Nho sĩ
1.2 Tư tưởng thời đại
Nếu như ở thời Lý, Phật giáo có ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng của người dân Đại Việt thì bước sang thời Trần sự ảnh hưởng mạnh mẽ của Nho giáo đã lấn át Phật giáo và nhanh chóng leo lên vị trí đứng đầu Bên cạnh đó, Đạo giáo cũng có một vị trí đáng kể trong hệ tư tưởng người Việt
Như vậy, trong giai đoạn này Đại Việt có ba tôn giáo cùng song song tồn tại và được gọi là thời kì “Tam giáo đồng nguyên”, tuy nhiên sự ảnh hưởng của Nho giáo vẫn chiếm ưu thế hơn cả
Tư tưởng Nho học bắt nguồn từ Trung Quốc, một hệ tư tưởng chính thống của giai cấp phong kiến Khi được truyền bá vào Việt Nam, là một thành tố của văn hóa Việt, Nho giáo có một ảnh hưởng rất lớn đối với diện mạo cũng như nội dung các thành tố văn hóa khác
Với tư cách là một học thuyết chính trị, đạo đức, Nho giáo có ảnh hưởng sâu nặng đến tâm tư, tình cảm, tư duy và lối sống của các nhà Nho Việt Cũng từ đó, bằng nhiều hình thức khác nhau họ đã phả vào tư tưởng của người dân
Trang 131.3 Tình hình văn học
Bước vào thời kì độc lập tự chủ, văn học đời Lý đã bắt đầu có những bước phát triển để khẳng định quốc gia dân tộc mình Kế thừa những thành tựu từ đời trước, đến đời Trần văn học tiếp tục phát triển mạnh mẽ hơn và đạt được nhiều thành tựu rực rỡ đánh dấu bước phát triển vượt bậc trong thơ ca Trung đại nói riêng và thơ ca Việt Nam nói chung
1.3.1 Lực lượng sáng tác
Đến thời Trần, tuy Phật giáo vẫn còn được đề cao nhưng dần dần cũng nhường bước cho Nho giáo Sự thay đổi và phát triển của giáo dục thi cử theo Nho học đã làm xuất hiện ngày càng đông đảo lực lượng trí thức mới trong xã hội Họ trở thành lực lượng sáng tác chủ yếu trong dòng văn học đời Trần
Chiếm vị trí đông đảo và đáng nói nhất chính là tầng lớp Nho sĩ, họ là những con người có lí tưởng, có tiết tháo Đứng thứ hai là lực lượng sáng tác thuộc tầng lớp quý tộc, vua quan trong triều Bên cạnh đó xuất hiện một vài tăng lữ cũng tham gia sáng tác văn học
Như vậy, chính sự xuất hiện của những lực lượng sáng tác này đủ để thấy sự khác biệt so với triều đại nhà Lý Điều đó dẫn đến sự biến đổi về diện mạo văn học
1.3.2 Các tác phẩm và thể loại tiêu biểu
Đây là thời kì mà thi sĩ là các vị vua, các vương hầu trong triều
- Thơ chữ Hán:
Thái Tông ngự tập (Trần Thái Tông)
Thánh Tông thi tập (Trần Thái Tông)
Nhân Tông thi tập (Trần Nhân Tông)
Băng Hồ ngọc hác (Trần Nguyên Đán)
Lạc Đạo tập (Trần Quang Khải)
Cúc Đường di thảo (Trần Quang Triều)…
Trang 14- Phú chữ Hán:
Bạch Đằng giang phú (Trương Hán Siêu)
Thiên Hưng trấn phú (Nguyễn Bá Thông)…
- Phú chữ Nôm:
Cư Trần lạc đạo phú (Trần Nhân Tông)
Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca (Trần Nhân Tông)
Hoa Yên tự phú (Huyền Quang)
Giáo tử phú (tương truyền của Mạc Đĩnh Chi)
Với sức sáng tạo dồi dào, các thi sĩ thời Trần đã tạo ra một khối lượng tác phẩm đồ sộ với nhiều thể loại khác nhau Điều này đã khẳng định được sự phát triển rực rỡ của thơ ca thời Trần
Thơ ca thời Trần mang một âm hưởng riêng, một phong cách riêng Đó
là sự phóng khoáng, bay bổng và siêu thoát, sự hoành tráng và rộng mở Đây
là biểu hiện của tâm hồn con người hào hứng phấn khởi trong sự khẳng định dân tộc; khẳng định những chiến công to lớn trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước; thể hiện tinh thần quật cường; ca ngợi công đức của những
vị vua Trần, những con người kì vĩ, phi thường khát khao lập công danh để phò vua giúp nước
Đó còn là sự khẳng định một nền văn hiến và văn hóa Đại Việt; một đất nước có truyền thống anh hùng; có phong tục tập quán lâu đời với bao nét đẹp
Trang 15được tôn vinh; một đất nước có thiên nhiên giàu đẹp mà thanh bình giản dị
Và dân tộc đó sẽ trường tồn mãi mãi
Mặc dù cuối thời Trần, văn học xuất hiện những con người cá nhân trước sự suy vi của triều đại Nhưng tựu chung lại, nội dung chính cũng như cảm hứng thơ vẫn thể hiện tình cảm yêu nước sâu sắc, vẫn mang sức mạnh của “Hào khí Đông A” trước thời đại
Trang 16CHƯƠNG 2
TINH THẦN KHẲNG ĐỊNH QUỐC GIA DÂN TỘC
TRONG THƠ CA THỜI TRẦN
2.1 Khẳng định quốc gia dân tộc trên phương diện nội dung cảm hứng 2.1.1 Khẳng định độc lập chủ quyền của dân tộc
Trước đời Trần, vào năm 1076 khi quân Tống một lần nữa kéo sang cướp nước ta Cuộc chiến đấu diễn ra ác liệt trên sông Như Nguyệt Để cổ vũ, khích lệ tinh thần quyết chiến thắng kẻ thù của các tướng sĩ, tương truyền bài thơ “Nam quốc sơn hà” của Lý Thường Kiệt ra đời:
Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư
Dịch thơ:
Sông núi nước Nam vua Nam ở,
Rành rành định mệnh ở sách trời
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm,
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời
Bài thơ là lời tuyên ngôn khẳng định sự tồn tại của nước ta với tính cách là một quốc gia độc lập, có chủ quyền, cương giới nước Nam rõ ràng đã được ghi trong sách trời Mệnh trời là như thế Ở đó còn là lòng tin sắt đá vào
sự thắng lợi, vào ngày mai của dân tộc và đất nước
Đến thời Trần, ý thức về dân tộc của các vua quan, nhân dân Đại Việt ngày càng lên cao để phát huy truyền thống của hàng nghìn năm lịch sử trước kia Đồng thời tạo lập thêm những truyền thống mới để ngày càng lớn mạnh hơn Điều này đã được minh chứng cụ thể bằng ba cuộc chiến thắng lừng lẫy,
Trang 17hào hùng của quân dân nhà Trần khi phá tan ý đồ xâm lược của quân đội Nguyên Mông để bảo vệ độc lập chủ quyền của dân tộc
Nhà Tống kế thừa được của các triều đại phong kiến trước đó, từ Hán đến Đường quan điểm kì thị Hoa - Di rất phản động Trời không có hai mặt trời, thiên hạ không có hai hoàng đế Các dân tộc khác ở xa ngoài đất Hoa Hạ (Trung Quốc) đều là man di, tuy có thể có thủ lĩnh nhưng các thủ lĩnh ấy chỉ
là phiên thuộc của Tống đế Bởi vậy, trước đó Lý Thường Kiệt nêu lên hai chữ “Nam đế” để gọi Vua nhà Lý Và nếu Bắc quốc có Bắc đế thì Nam quốc
có Nam đế
Khẳng định lại một lần nữa, vua Trần Minh Tông cũng tiếp nối quan điểm ấy, bác bỏ lối phân biệt Hoa - Di, khẳng định Đại Việt là quốc gia văn minh, độc lập:
Tứ minh tương tiếp giới,
Châu Tứ Minh tiếp giáp biên giới nước ta,
Cách biệt nhau chẳng đáng là bao
Tiếng nói không khác nhau nhiều lắm,
Áo mũ thì không giống nhau
Mặt trăng mọc khiến cho nhà giao long lạnh lẽo,
Mặt trời lặn khiến cho đầm cá sấu rỗng không
Trang 18Đâu có sự ngăn cách giữa Hoa và Di,
Đều cùng nhau bước lên cõi thọ
(Việt giới)
Bài thơ như một lời khẳng định, rõ ràng không bao giờ có sự ngăn cách giữa Hoa và Di Và hai đất nước đều có độc lập chủ quyền tách biệt nhau Bên cạnh đó vua Trần Minh Tông cũng muốn nêu cao tinh thần đoàn kết cùng giúp đỡ nhau giữa hai dân tộc khi cả hai đều có nhiều điểm tương đồng Lời thơ khéo léo, ý tứ nhưng lại đanh thép, cứng rắn để thể hiện tinh thần dân tộc sâu sắc
Một chân lí lịch sử không bao giờ thay đổi là dân tộc ta đã trưởng thành, nước Đại Việt là một nước độc lập, có chủ quyền lãnh thổ, có biên giới
rõ ràng, tuy gần gũi với các nước khác, có nhiều điểm tương đồng nhưng điều
đó không có nghĩa Đại Việt là nước phụ thuộc
Như vậy, từ đời Lý đến đời Trần, và chắc chắn cả những thế hệ sau này nối tiếp sẽ luôn tự hào về đất nước Đại Việt độc lập, một quốc gia hùng mạnh
đã vượt qua biết bao những khó khăn để có một tương lai trường tồn
2.1.2 Khẳng định văn hiến, văn hóa dân tộc
Từ đời Lý, người Việt đã luôn luôn tự hào về một đất nước “văn hiến chi bang”, để rồi hơn 400 năm sau, vào thế kỉ XV, khi nhà Lê khởi nghĩa giành thắng lợi lớn thì Nguyễn Trãi một lần nữa đã khẳng định lại, và thậm chí còn khẳng định cao hơn nữa: “Duy ngã Đại Việt chi quốc thực vi văn hiến chi bang” (Duy nước Đại Việt ta thực sự là một nước văn hiến)
Vậy “văn hiến” là truyền thống văn hóa tốt đẹp có từ ngàn đời xưa và ngày càng phát triển mạnh hơn trong tương lai “Văn hiến là sách vở và nhân vật tốt trong một đời” [1, 76 ] Nói cách khác, văn là văn hóa, còn hiến là hiền tài
Trang 19Như vậy ai cũng có thể hiểu “văn hiến” thiên về những giá trị tinh thần
do những người có tài có đức chuyển tải, thể hiện tính dân tộc, tính lịch sử rõ rệt Từ đó có thể thấy khái niệm “văn hiến” sẽ hẹp hơn khái niệm “văn hóa”
Khẳng định quốc gia Đại Việt là một dân tộc có nền văn hiến văn hóa
ta có thể tìm thấy điều này biểu hiện ở những khía cạnh cụ thể sau:
2.1.2.1 Khẳng định con người Đại Việt tài năng đức độ
Trước hết thơ ca thời Trần đã đi sâu vào khẳng định ngợi ca tài kinh bang tế thế của con người Đại Việt
Thơ ca thời Trần đã tốn không ít giấy mực để ngợi ca công lao to lớn của các vị vua, các bậc hiền tài là những trụ cột của triều đình Họ tài năng trên tất cả các lĩnh vực Có ai đếm được từ đời Trần Thái Tông đến đời Trần Minh Tông đã xuất hiện bao nhiêu những vị tướng tài bên các vị vua sáng và
có ai đếm được họ đã lập bao nhiêu công lao cho sự hưng thịnh của đất nước? Chỉ có thể khẳng định được rằng, những con người ấy, với tài năng của mình
họ đã cùng nhau gây dựng nên một dân tộc hùng mạnh và trường tồn
Trước hết, để có một quốc gia vững bền và hùng mạnh thì hơn bao giờ hết bộ máy chính quyền từ Trung ương đến địa phương phải ổn định và thống nhất Đất nước muốn “quốc thái dân an” thì phải có những đường lối chính trị đúng đắn và sáng suốt
Dưới sự lãnh đạo của mình lúc đương thời, nhà Trần đã thể hiện sự đúng đắn, tầm nhìn xa trông rộng trước thời cuộc, đặc biệt trong những lúc đất nước nguy nan, chiến tranh kéo dài khi áp dụng đường lối chính sách
“khoan sức cho dân” và tìm ra vai trò của dân trong cuộc chiến tranh bảo vệ
Tổ quốc:
Ngọc Hoa dạ chiếu tuyệt quyền kì,
Dục bái khiên lai cận xích trì
Nhược sử ái nhân như mã,
Trang 20Thương sinh an đắc hữu sang đi
Dịch nghĩa:
Con ngựa Ngọc Hoa chiếu dạ chạy giỏi tuyệt vời,
Tắm xong dắt đến gần thềm son
Nếu vua yêu người cũng như yêu ngựa,
Thì dân đen đâu đến nỗi cơ cực
(Đề Minh Hoàng dục mã đồ - Chu Đường Anh)
Sự chê trách vua Đường Minh Hoàng - Trung Quốc trong việc coi trọng con tuấn mã Ngọc Hoa hơn người đã dẫn đến thất bại nặng nề Đó là một bài học kinh nghiệm như một tiếng chuông cảnh tỉnh cho việc xác định lại đường lối chính sách của Đại Việt, tìm ra sức mạnh của dân là điều rất quan trọng Nếu không biết coi trọng và sử dụng sức mạnh ấy một cách hợp lí thì tất yếu sẽ dẫn đến thất bại
Trước đời Trần, Trần Quốc Tuấn trước lúc lâm chung, lời trối trăng của một hiền tài đất nước cũng là “làm thế nào thu hút được binh lính như cha con một nhà” thì mới có thể chiến thắng ngoại xâm được và lại phải “khoan sức cho dân để làm cái kế sâu gốc, kế bền rễ Đó là thượng sách giữ nước không còn gì hơn”[11, 379]
Lòng yêu nước của các vị vua và tướng ở đây gắn liền với sự nhận thức sâu sắc về vai trò của nhân dân để từ đó nhận ra cần phải làm thế nào để có một đất nước Đại Việt vững mạnh và yếu tố con người được đặt lên hàng đầu Đây là yếu tố mà thơ ca đời Trần đặc biệt nhấn mạnh
Bên cạnh lĩnh vực chính trị, tài kinh bang tế thế còn thể hiện trên lĩnh vực quân sự, tài điều binh khiển tướng của các vị vua, vị tướng để làm nên những chiến thắng vang dội, lừng lẫy
Trải qua sự hưng thịnh, tồn vong từ hàng nghìn năm trước, lịch sử đã chứng minh rõ ràng về những con người hào kiệt của đất Việt Theo dòng lịch
Trang 21sử ấy, ta đã gặp ở đó vị anh hùng Trưng Trắc, Trưng Nhị rồi đến Phùng Hưng, Ngô Quyền, Lý Công Uẩn, Lý Thường Kiệt,…Đến triều Trần, các vị vua anh hùng hào kiệt cũng dần dần xuất hiện như những ánh lửa sáng làm rực cả bầu trời Đại Việt
“Con người đất Việt quả là chứng minh sinh động, hùng hồn cho nguyên lý nhân hòa của phép dùng binh nói chung trong chiến tranh chính nghĩa bảo vệ Tổ quốc mình” [18, 51] Một câu văn đầy thuyết phục khi khẳng định con người Đại Việt
Trước hết, thơ ca đời Trần ca ngợi các vị vua sáng, các vị tướng giỏi
Đó là Trần Quang Khải - một Thái sư, một Thượng tướng cùng Trần Quốc Tuấn là hai nhân vật đứng đầu hàng văn, võ từng góp nhiều công lao hiển hách vào công cuộc giữ nước thời Trần Là con trai thứ ba của Trần Thái Tông, em ruột Trần Thánh Tông, với tước hiệu Chiêu Minh Vương, Trần Quang Khải đã thực sự đóng một vai trò chủ chốt trong triều đình nhà Trần Với cương vị là một ông quan đầu triều, Trần Quang Khải đã ra sức chèo chống về nội trị, ngoại giao, đưa vương triều vượt qua thử thách nhất là những cuộc đấu trí mệt nhọc, căng thẳng với bọn sứ giả Nguyên Mông
Khi bài thơ “Tụng giá hoàn kinh sư” ra đời, tài năng của trai đất Việt càng được khẳng định trong cuộc chiến thắng ngoại xâm Với hai địa danh lịch sử nổi tiếng ấy, Trần Quang Khải đã gợi lại một cuộc đấu tranh đầy gian khổ mà hào hùng Đại thắng kết thúc bằng cuộc khải hoàn trở về kinh đô của hai vua Trần Có được chiến công ấy phải nhờ đến tài thao lược của biết bao tướng lĩnh giỏi, cùng hòa với sự đoàn kết một lòng của nhân dân trong tinh thần quyết tâm cao độ trước một thế lực hùng mạnh của kẻ thù ngoại xâm
Sau này, trong “Bạch Đằng giang phú”, Trương Hán Siêu đã nêu ra nguyên nhân chiến thắng huy hoàng trên sông Bạch Đằng lần thứ ba đó Và đây cũng là cảm nghĩ của các nhân sĩ đời Trần khi khẳng định vai trò của con
Trang 22người, tài năng của con người - yếu tố quan trọng đầu tiên trước thời cuộc, trước vận mệnh của dân tộc:
Tự hữu vũ trụ; cố hữu giang sơn, Tín thiên tiệm chi thiết hiểm;
Lại nhân kiệt dĩ điện an
Dịch nghĩa:
Từ có vũ trụ; đã có giang san, Quả là: trời đất cho nơi hiểm trở;
Cũng nhờ: Nhân tài giữ cuộc điện an
Rõ ràng, nếu không có “nhân tài” thì cuộc kháng chiến rất dễ rơi vào tình thế nguy nan Ranh giới giữa mất nước và giữ nước sẽ trở nên mong manh nếu không có đường lối quân sự đúng đắn Chính Nguyễn Sưởng đã khẳng định tầm quan trọng của con người trong chiến tranh chính nghĩa:
Thùy tri vạn cổ Trùng Hưng nghiệp, Bán tại quan hà, bán tại nhân
Dịch nghĩa:
Mấy ai biết sự nghiệp muôn thuở đời Trùng Hưng, Một nửa nhờ địa thế núi sông, một nửa do con người
(Bạch Đằng giang) Nhắc lại lịch sử hào hùng đã đi qua, tác giả ca ngợi hai cuộc chiến thắng Nguyên Mông, ca ngợi vị vua Trần Nhân Tông anh minh đứng đầu vương triều để từ đó khẳng định vai trò của con người Thế đất sông Bạch Đằng lịch sử hiểm trở này là quý, một địa thế thuận lợi, nhưng nếu không có con người, đặc biệt con người mưu lược như Trần Quốc Tuấn, linh hồn của cuộc kháng chiến thì chưa hẳn có trận Bạch Đằng thứ ba nổi tiếng đi vào sử sách ấy
Trang 23Có hào kiệt trong lĩnh vực chính trị, có hào kiệt trong lĩnh vực quân sự,
và Đại Việt càng được tỏa sáng hơn khi xuất hiện những hào kiệt trên lĩnh vực ngoại giao
Trên cương vị đứng đầu đất nước, cả khi đang làm vua cũng như khi đang làm Thái thượng hoàng hay khi đã xuất gia vào núi Yên Tử tu khổ hạnh, Trần Nhân Tông thường xuyên quan tâm theo dõi mối quan hệ bang giao giữa Đại Việt với phương Bắc
Ngay từ những năm Tân Mão (1291), Trần Nhân Tông đã có lời biện giải việc từ chối sang chầu một cách mềm dẻo nhưng kiên quyết, đồng thời lại khéo léo khẳng định chủ quyền đất nước, lên án mưu đồ xâm lược của nhà Nguyên Trong khoảng 10 năm (1291 - 1301), Trần Nhân Tông đã tiếp đón và làm thơ tiễn tặng, xướng họa với nhiều sứ thần Nguyên như: “Quỹ Trương Hiển Khanh xuân bính” (Ngày xuân tặng bánh cho Trương Hiển Khanh);
“Tống Bắc sứ Lý Trọng Tân, Tiêu Phương Nhai” (Tiễn Bắc sứ Lý Trọng Tân, Tiêu Phương Nhai); “Tặng Bắc sứ Lý Tư Diễn” (Tặng Bắc sứ phương Bắc Lý
Tư Diễn); “Họa Kiều Nguyên Lãng vận” (Họa thơ Kiều Nguyên Lãng);
“Tống Bắc sứ Ma Hợp, Kiều Nguyên Lãng” (Tiến sứ Bắc Ma Hợp, Kiều Nguyên Lãng);…Nội dung các bài thơ đều có ý nghĩa khoa trương, khuôn sáo, tán tụng công đức sứ thần, trước sau nhằm tránh nạn can qua, giữ cho đất nước được yên bình
Với Trần Quang Khải, cũng là một nhân tài trong việc đối ngoại, nhiều bài thơ ông làm giống như những bài thơ tiếp sứ của Trần Nhân Tông, có cái mềm mỏng, nhún nhường mà khéo léo về lời lẽ Đó là sách lược khôn khéo nhất quán trong quan hệ nhiều đời, giữa nước ta với đế chế phương Bắc:
Cảm chúc tứ hiền quân phiếm ái, Hảo vi noãn dực Việt thương sinh
Trang 24
Dịch nghĩa:
Dám xin cầu chúc bốn vị sứ giả hiền tài có lòng thương yêu rộng lớn,
Ra sức che chở cho con dân đất Việt
(Tặng Bắc sứ Sài Trang Khanh Lý Chấn Văn Đẳng) Câu thơ mềm mỏng, thân tình đấy nhưng vẫn giữ được sự hiên ngang cứng cỏi, một phong thái đường hoàng của những con người luôn tự chủ được mình, một tư thế bình đẳng của chủ đối với khách
Như vậy, không ai có thể phủ nhận về tài năng của con người Đại Việt
Đó là một biểu hiện của văn hiến giữ nước Nền văn hiến ấy thời nào cũng vậy, lúc bình cũng như lúc biến, lúc chế độ cai trị thịnh đạt hay suy vong đều dựa vào cái gốc là dân, lấy nhân nghĩa làm đức; lấy hòa hiếu, hòa thoại để ứng xử bang giao Đối nội thì thuận lòng người, “khoan sức cho dân”; đối ngoại thì mềm dẻo, linh hoạt “ứng vạn biến” để sống bên cạnh nước lớn mà vẫn yên ổn, đó là sách lược của kẻ thắng Và hơn ai hết, họ đã ý thức sâu sắc được điều đó
Nếu như tài kinh bang tế thế thể hiện con người anh hùng thì tài thi ca nhạc họa làm cho các bậc anh hùng có cái nhìn đẹp hơn trước cuộc sống Đó
là sự thể hiện con người thi nhân
Theo quan điểm truyền thống, kinh bang tế thế là cái tài gắn với bậc nam nhi, bậc trượng phu trước vận mệnh của đất nước Nhưng bên cạnh đó, dưới thời đại nhà Trần, thời đại của “Hào khí Đông A” những con người ấy không chỉ là những con người có bản lĩnh, anh hùng mà còn là những con người có tâm hồn yêu đời, yêu cuộc sống lạc quan và niềm tin vào tương lai
Vua Trần Thánh Tông, một vị vua yêu thích và giỏi thơ văn, nhìn bầu trời mây trôi, trong buổi bình minh trên núi cao, thấy trăng sáng thơ mộng với nước biển mênh mông đã làm cho tâm hồn ông xao động:
Trang 25
Triêu du phù vân kiệu,
Mộ túc minh minh nguyệt loan
Hốt nhiên đắc giai thú, Vạn tượng sinh hào đoan
ít những vần thơ xuất hiện với những lời ca ngợi con người, dân tộc Điều đó khẳng định: “Thơ ông giàu chất trữ tình, kết hợp nhuần nhị giữa tinh thần tự hào về đất nước, về dân tộc của người chiến thắng với tình yêu cuộc sống yên vui, thanh bình và phong độ ung dung, phóng khoáng của một người biết tự tin lạc quan” [11, 399]
Đến với Trần Nhân Tông “bậc hoàng đế - thiền sư - thi nhân vui với một nhành mai, bâng khuâng trong một sớm mùa xuân, một chiều trước cánh đồng làng, một ngày thu nơi non cao chùa vắng, một sự hòa nhập nội tâm trong cõi thiền sâu lắng” [10, 16] Cũng như những tâm hồn thi nhân khác, Trần Nhân Tông đặc biệt yêu mến mùa xuân, có thơ viết về mùa xuân, phong cảnh mùa xuân, đêm xuân tháng hai, cảnh cuối xuân và ngày xuân,…
Có khi ông ngỡ ngàng trước hình ảnh đôi bướm trắng và bản thân cảnh tượng đó làm nên một tứ thơ sinh động:
Trang 26Thụy khởi khai song phi, Bất trị xuân dĩ quy
Nhất song bạch hồ điệp, Phách phách sấn hoa phi Dịch nghĩa :
Ngủ dậy ngỏ song mây, Xuân về vẫn chửa hay
Song song đôi bướm trắng, Phấp phới sấn hoa bay
(Xuân hiểu) Đến với thiên nhiên, sống chan hòa với thiên nhiên, cảnh trí muôn hình hiện lên đầu ngòi bút Và với tài năng, tâm hồn thi sĩ vốn có thì đó là cội nguồn hứng khởi nảy sinh “giai thú” làm thơ của các bậc vĩ nhân: “ sáng tác của các vị vua - thi sĩ này dường như đã đặt ra một vấn đề của lí luận sáng tạo nghệ thuật, thế giới khách quan là cội nguồn của nghệ thuật Nhưng cảm hứng sáng tác và thành tựu tác phẩm chỉ có được khi nghệ sĩ trải nghiệm thực tiễn cuộc sống” [6, 6]
Trần Quang Khải cũng không phải là một ngoại lệ Một nhà nhà chính trị giỏi, một nhà quân sự tài ba và là một hào kiệt trong đối nội đối ngoại, ông không chỉ làm thơ trên yên ngựa mà còn sâu sắc hơn với những vần thơ tha thiết với cuộc đời, với thiên nhiên Trong nhiều bài thơ của ông có sự gặp gỡ
và kết hợp giữa tư tưởng yêu nước và nhân văn đã tạo nên một nhân cách tuyệt đẹp và hoàn hảo Đồng thời nó cũng khẳng định tấm lòng của một
“ chính nhân quân tử” hết lòng vì giang sơn xã tắc
Ông nhận mình là khách thơ và thấy tâm hồn mình nhẹ nhàng trong sáng như cái trong sáng của cả đất trời :
Trang 27Thi khách trùng lai đầu phát bạch, Mai hoa như tuyết chiếu tình xuyên
Dịch nghĩa :
Khách thơ trở lại nơi đây mái đầu đã bạc, Hoa mai như tuyết soi bóng xuống dòng sông trong
(Lưu - Gia độ) Ngay cả trước cảnh vật đồng quê thanh bình giản dị mà ông cũng coi
đó là “biệt thự đồng quê” Chính khung cảnh nơi biệt thự ấy đã gợi lên bao cảm xúc để tạo ra những vần thơ trong sáng
Dường như tất cả các vị vua, vị tướng tài ba lỗi lạc, bên cạnh tài kinh bang tế thế của một trang nam nhi hảo hán, những trụ cột của nước nhà có ai ngờ đâu họ cũng là một thi nhân, tài năng trong cả thi ca nhạc họa Bên cạnh bản lĩnh cứng như thép, một khí phách hiên ngang không biết lùi bước trước cảnh xâm lăng của quân thù thì đó còn là những tâm hồn nhạy cảm rất dễ rung động trước một hiện tượng của thiên nhiên, trước một khung cảnh thanh bình giản dị của đồng quê hay trong cái hùng vĩ của đất trời núi non, biển cả
Đọc một bài thơ cũng gây bao xúc động để rồi lại tiếp tục họa lại bài thơ ấy: Đề ản giả sở cư họa vân (Phạm Mại), hay thấy một bức tranh có thể
đề thơ: Đề quân ngư triều lý đồ (Chu Đường Anh), Cảm xúc có thể dâng trào thành thơ ngay khi đi làm nghĩa vụ nhà vua giao phó: Phụng chiếu Trường An đạo trung tác (Nguyễn Phi Khanh)
Phải có một tâm hồn thi sĩ, một cảm xúc mãnh liệt trước vạn vật, trước thời cuộc và con người thì các bậc tướng tài của chúng ta mới tạo ra được những vần thơ như vậy Với tài năng thơ ấy, tất cả những gì tốt đẹp nhất, tự hào nhất, vẻ vang nhất và đôi khi buồn rầu đầy tâm trạng nhất cũng được tái hiện Thơ ca thời Trần đã khẳng định được điều ấy qua biết bao vần thơ của
Trang 28những thế hệ tác giả lớn, mang đến cho chúng ta một niềm tự hào về tài năng con người Đại Việt
Ngoài biểu hiện của con người tài năng thì nền văn hiến Đại Việt càng được khẳng định hơn bởi con người đức độ Sự đức độ ấy trước hết biểu hiện
ở lòng yêu nước thương dân sâu sắc
Hằng mấy nghìn năm, dân tộc ta luôn luôn phải đối phó với giặc ngoại xâm Và cuộc chiến đấu chống giặc Nguyên là một trong những thử thách quyết liệt trong lịch sử nhà Trần Với những con người đứng đầu Nhà nước đảm nhiệm vai trò lịch sử của đất nước thì tất cả đều có một tinh thần dân tộc,
có lòng yêu nước thương dân sâu sắc Những nhân cách như Trần Thủ Độ
“đầu chưa rơi xuống đất thì không chịu bó tay”, như Trần Quốc Tuấn xin với vua “ trước hết hãy chặt đầu tôi đã, rồi sẽ hàng”, như Trần Bình Trọng “thà làm ma đất Nam, không thèm làm vương đất Bắc”, như Trần Quốc Toản tuổi nhỏ gan to, quyết phá tan giặc mạnh báo ơn nước, mãi mãi
là những tấm gương sáng chói trong lịch sử nước nhà
Yêu dân tức là yêu nước, đời Nghiêu - Thuấn, sở dĩ thái bình thịnh trị
là nhờ vua dốc lòng vì thiên hạ Thấy một người đói, nhà vua tự trách mình trước, vì mình mà dân đói Và đó là trăn trở của một ông vua lấy dân làm gốc
Dưới triều Trần, lòng yêu nước gắn với tinh thần tự lập tự cường, với quyết tâm đánh thắng giặc ngoại xâm, với niềm tự hào về chiến công hiển hách của quân dân, và cũng xuất phát từ lòng yêu thương dân, mà các vị vua,
vị tướng mới có những đường lối đúng đắn để giúp đất nước thanh bình, nhân dân no ấm
Nhưng nó còn được thể hiện rõ hơn khi vương triều nhà Trần suy yếu ở cuối thế kỷ XIV Những biến cố chính trị dần dần nảy sinh, tình hình xã hội rối ren và không ai khác nhân dân là những người phải gánh chịu hậu quả Hiện thực đau lòng xót xa ấy trở thành niềm trăn trở suy tư cho những tri thức
Trang 29nặng lòng ưu ái với Tổ quốc Lời thơ của họ như những tiếng thơ xé lòng về thời cuộc Đau đớn để rồi lên tiếng kêu cứu nhân dân trong cảnh lầm than cơ cực, nhưng đồng thời cũng thể hiện nỗi xót xa về sự bất lực của mình khi nhìn thấy tình cảnh của đất nước nguy nan
Thương dân, lo lắng cho nhân dân, đó là nỗi lòng luôn canh cánh của Trần Nguyên Đán trong bài thơ chữ Hán Thù Đạo Khê thái học xuân hàn vận:
Liên cừ vạn tính giai ngô dữ,
Tỵ ốc thùy gia diện diện hàn
Niên lai hạ hạ hữu thu lâm, Hòa cảo miêu thương hại chuyển thâm
Trang 30Dịch nghĩa:
Nhân dân muôn nước như cá trong vạc nước sôi, Đất Yên phương Bắc, đất Biện phương Đông đã thành gò đống Trên chiếc thuyền về, chưa yên giấc mộng giang hồ,
Mượn ánh đề thuyền chài soi đọc cuốn sách cổ
(Dạ quy chu trung tác)
Kể cả những lúc xa quê, sống ở nơi đất khách quê người nhưng có những tác giả như Nguyễn Phi Khanh vẫn một lòng hướng về quê hương với một nỗi nhớ thương da diết Ông thương dân bao nhiêu thì lại thấy chán bản thân mình bấy nhiêu khi không thể giúp được đất nước
Giấc mộng công danh của Chu Văn An trong “Giang Đình tác” không phải là một giấc mộng giàu sang danh lợi mà giấc mộng đó chính là lý tưởng trị bình của một trí thức yêu nước thương dân Nhưng lý tưởng ấy, ông lại không thực hiện được và đó là một nỗi đau khổ lớn để rồi phải trăn trở suy tư Mặc dù vậy, lòng nhiệt của ông thì chưa bao giờ nguôi lạnh Trong bài thơ chữ Hán “Miết trì” ông đã viết:
Thốn tâm thùy vị như hôi thổ, Văn thuyết tiên hoàng lệ ám huy
Trang 31Việc nghĩa đáng làm thì dù chết cũng chẳng từ
(Vô ý)
Có thể nói từ Chu Văn An đến Nguyễn Phi Khanh cũng như tất cả các trí thức đã từng có lúc tỏ ra bất mãn với hiện thực, song không ai tỏ ra tuyệt vọng về khả năng và vai trò của mình Điều đó xuất phát từ khí phách của những con người yêu nước, lo cho dân trước tình cảnh khốn cùng, nghiệt ngã
“Nhìn chung, thơ đời Trần bất kể là vui hay buồn thường thể hiện sự khẳng định nhân phẩm và niềm tự hào về bản lĩnh con người Và ngay trong
cả cái buồn của thơ ca cuối thế kỉ XIV vẫn còn phảng phất dư ba của hào khí Đông A” [4, 112] Đây là một nét đẹp để khẳng định con người, đặc biệt đối với trang nam nhi đất Việt
Hơn bao giờ hết lòng khoan dung nhân hòa cũng là một nét đẹp để ngợi ca con người Đại Việt
“Thời đại của hào khí Đông A sản sinh ra những con người thực sự vĩ đại không chỉ về tài năng mà còn về nhân cách” [13, 35] Điều này khẳng định “con người nhân văn” bên cạnh “con người anh hùng” trong thơ ca thời Trần để trở thành con người toàn diện
Ca ngợi con người với nhân cách cao đẹp, thơ ca đời Trần đã đề cao đức độ của vua Trần Thái Tông trong việc so sánh với vua Thái Tông đời Đường:
Đường Việt khai cơ lưỡng Thái Tông, Đương xưng Trinh Quán, ngã Nguyên Phong
Kiến Thành tru tử, An Sinh tại, Miếu hiệu tuy đồng, đức bất đồng
Dịch nghĩa:
Đường và Việt lập cơ nghiệp có hai vua Thái Tông,
Vua Đường xưng hiệu là Trinh Quán, vua ta xưng hiệu Nguyên Phong
Trang 32Kiến Thành thì bị giết, mà An Sinh thì sống,
Miếu hiệu tuy cùng là Thái Tông, mà cái đức thì không giống nhau
(Đường Thái Tông dữ bản triều Thái Tông)
Rõ ràng, Trần Dụ Tông ca ngợi nhân cách cao đẹp, tấm lòng khoan dung độ lượng của vua Thái Tông nhà Việt Cả hai vua đều có miếu hiệu giống nhau nhưng đức trị khác nhau Và “đức” ấy đã làm cho Đại Việt có những chiến công lừng lẫy, có tác dụng quyết định cho mọi sự thành công ở đời này
Xã hội thái bình thịnh trị là nhờ “tài năng” và “đức độ” của con người,
mà con người cần nói ở đây là các vị vua, các bậc minh quân sáng suốt Rất nhiều những bài phú đã nêu cao điều này để nhấn mạnh vai trò của con người, nhất là con người có đức được nhân dân kính phục “Bạch Đằng giang phú” của Trương Hán Siêu là một minh chứng cụ thể khi tác giả ca ngợi hai vị
Anh minh hai vị Thánh quân,
Sông đây rửa sạch mấy lần giáp binh
Giặc tan muôn thuở thăng bình, Bởi đâu đất hiểm cốt mình đức cao
Người xưa cho rằng, nhờ có đức cao thì xã tắc mới vững bền, giang sơn mới thịnh trị Con người có “đức cao, đức lành” trước hết cũng là những “anh hùng”, là “Thánh quân”, “hiền thần” có chí khí tự lập, có niềm tin vào sức của mình Bởi vậy, yếu tố quyết định thành công là ở tài và ở đức, từ đó khuyến