1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn sư phạm Tìm hiểu giá trị nội dung và nghệ thuật trọng tự tình khúc của Cao Bá Nhạ

86 114 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 690,46 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nếu như Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm khúc là những tác phẩm mà tác giả thông qua số phận bất hạnh của những người phụ nữ trong xã hội phong kiến như người chinh phụ, người cung nữ…để bà

Trang 1

Nếu như Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm khúc là những tác phẩm

mà tác giả thông qua số phận bất hạnh của những người phụ nữ trong xã hội phong kiến như người chinh phụ, người cung nữ…để bày tỏ nỗi lòng, khát khao hạnh phúc của phận “má hồng” thì Tự tình khúc lại là dòng tâm trạng với nhiều cung bậc cảm xúc của chính tác giả trong những tháng ngày bị tù đày muôn vàn đau đớn và oan khuất

Cao Bá Nhạ là cháu ruột của Cao Bá Quát - người trí thức Nho học luôn mang tư tưởng “quyết xoay bạch ốc lại lâu đài” nhưng không may bị thất bại dẫn đến thảm họa cả gia tộc họ Cao bị tru di tam tộc Bởi vậy đi tìm hiểu tác phẩm là mong muốn hiểu được số phận của con người trong hoàn cảnh lịch sử lúc đó và làm cầu nối giúp chúng ta có cái nhìn đúng đắn, khách quan khi nhìn nhận lại thực trạng xã hội phong kiến Việt Nam thế kỉ XIX

Tự tình khúc không phải là đỉnh cao của thể loại ngâm khúc song tìm hiểu tác phẩm, chúng ta sẽ có được cái nhìn đầy đủ hơn phục vụ cho việc tìm hiểu thể loại nói riêng và toàn bộ phần văn học trung đại nói chung

Bản thân sẽ là một giáo viên đứng lớp phổ thông sau này nên nhìn nhận văn chương một cách toàn diện là điều cần thiết Trong giai đoạn hiện nay, tác phẩm chưa được nghiên cứu và phổ biến rộng rãi nên tìm hiểu tác phẩm này chính là cơ hội để người viết có điều kiện bổ sung kiến thức phục vụ cho

Trang 2

Nguyễn Ngọc Ánh 2 K32C - Ngữ Văn

con đường giảng dạy, đồng thời mong muốn góp phần khẳng định giá trị của

nó và góp thêm vào kho tư liệu phục vụ cho việc nghiên cứu tác phẩm với những người quan tâm, tìm hiểu

Với người viết, đây là một cơ hội tốt để bản thân có điều kiện được đi sâu vào nghiên cứu khoa học

2 Lịch sử vấn đề

Tự tình khúc của Cao Bá Nhạ ra đời vào nửa cuối thế kỉ XVIII đầu thế

kỉ XIX, việc nghiên cứu tác phẩm vẫn chủ yếu diễn ra theo hai hướng là giới thiệu, chú giải văn bản tác phẩm, xác định thời điểm ra đời và tìm hiểu một vài yếu tố cơ bản về giá trị nội dung, nghệ thuật của tác phẩm

Dương Quảng Hàm được coi là một trong những người đầu tiên quan tâm tìm hiểu, nghiên cứu tác phẩm Trong cuốn Việt Nam thi văn hợp tuyển Dương Quảng Hàm cho rằng: “Kể về lối văn tự tình thì khúc này đáng kể là một áng văn hay vì tình ý thiết tha, lời văn thống thiết, thật là tả hết nỗi đau đớn của một người chẳng may gặp cảnh gia biến, bị nỗi oan uổng, mà vẫn giữ được lòng trung hiếu, nghĩa thủy chung, khiến cho ai nấy đọc đến cũng phải cảm thương cho cái thân thế của tác giả” [4, 169] Đó chính là đánh giá bước đầu nhưng cũng đã bao quát một cách chung nhất về giá trị nội dung và nghệ thuật của khúc Tự tình

Tiếp đó, năm 1958, Đái Xuân Ninh và Nguyễn Tường Phượng (trong nhóm văn học Chu Văn An) đã cho ra mắt độc giả cuốn sách (Chú thích và Giới thiệu) Cao Bá Nhạ: Tự tình khúc và Trần tình văn Đây được coi là một trong những cuốn sách có giá trị bởi nó giúp cho những người quan tâm đến Cao Bá Nhạ có cái nhìn đầy đủ, toàn diện hơn về cuộc đời cũng như sự nghiệp sáng tác của ông Điều đáng nói là khi làm công việc chú thích và giới thiệu Tự tình khúc và Trần tình văn, tác giả cuốn sách không chỉ trình bày khá đầy đủ về tiểu sử của Cao Bá Nhạ mà còn đưa ra được những đánh giá

Trang 3

Nguyễn Ngọc Ánh 3 K32C - Ngữ Văn

khá ấn tượng khi cho rằng: “Tự tình khúc là một khúc ngâm lâm ly, thống thiết nhất trong văn chương cổ Việt Nam” Nhưng khác với Cung oán ngâm khúc, với Chinh phụ ngâm khúc, Tự tình khúc “là một thiên tình cảm chân thực của chính tác giả và tự tay tác giả ghi lấy qua những biến chuyển của lòng mình Cho nên, nó có tính chất sống và thực [13, 10] Bên cạnh đó, cuốn sách còn chỉ ra được những nét nổi bật của khúc ngâm là “tính chất hiện thực

và nhân đạo chủ nghĩa” Đây là một đánh giá cao về tác phẩm, tuy nhiên khi tìm hiểu tư tưởng của Cao Bá Nhạ qua khúc ngâm, các tác giả còn có những nhìn nhận, đánh giá phiến diện, lệch lạc

Như vậy trong những năm 40 và 50 của thế kỉ XX, tác phẩm đã ít nhiều được giới nghiên cứu văn học quan tâm, tìm hiểu ở một vài phương diện về nội dung, tư tưởng và nghệ thuật của tác phẩm

Những năm gần đây, một trong những công trình nghiên cứu về tác phẩm Tự tình khúc được độc giả chú ý là cuốn Những khúc ngâm chọn lọc – Tập 2 của Nguyễn Thạch Giang Ở đây, tác giả đã có không ít những ý kiến, đánh giá về giá trị nội dung cũng như hình thức nghệ thuật của khúc ngâm Ông cho rằng “đây là những khúc lâm ly, thống thiết nhất trong văn chương cổ điển Việt Nam, bày tỏ chân thực hoàn cảnh bi thảm, tình cảnh đau thương của lòng mình, dẫu người sắt đá đến đâu xem tới cũng khó lòng cầm được…” Tác phẩm là tiếng “kêu thương - tiếng kêu bi ai của con chim trước khi chết - để mưu cầu sự sống, kêu thương một cách thẳng thắn chân thành làm chúng ta xúc động” Về nghệ thuật "Tự tình khúc đã tiếp thu truyền thống song thất lục bát của những thế kỉ trước với Chinh phụ ngâm khúc, Cung oán ngâm khúc, Ai tư vãn… mà sáng tạo nên một khúc ngâm thật điêu luyện trong việc chọn điển, chọn từ, chọn âm thanh, nhịp điệu gây cho ta những cảm xúc bao la về một thực tế xã hội, về một cảnh ngộ bi thương…” [2, 91]

Trang 4

có những đánh giá rất cao khi cho rằng: “Cao Bá Nhạ đã đem vào những yếu

tố của một thi tài, tình cảm chan chứa, tưởng tượng dồi dào, vần điệu uyển chuyển Ngòi bút tác giả có tính cách bác học ưa chữ Hán và điển, song đó chẳng phải là một khuyết điểm…” [8, 574] Và “Xem xong hơn 600 câu thơ,

ta thấy sự vững chãi và thông minh của một bút pháp tự lập Tác giả biết khai thác triệt để thuật đối xứng trong những câu thất để tạo những tương phản mạnh mẽ và gửi tính từ rung động não nề vào những câu bát êm ả trơn tru Văn có lúc còn nhiều khuôn sáo, điển cố, song có lúc hiện thực một cách tân kỳ…” [8, 575] Cũng như Nguyễn Thạch Giang, Phạm Thế Ngữ đã đánh giá rất cao Tự tình khúc, ông cho đó là một tác phẩm có giá trị

Cũng vào năm 1997 trong cuốn Tổng tập văn học Việt Nam, Nguyễn Quảng Tuân đã dành khá nhiều trang viết về Tự tình khúc ông đã có những đánh giá cao về giá trị nội dung cũng như những thành tựu nghệ thuật mà tác phẩm mang lại Dựa trên tinh thần đối chiếu, so sánh với một số khúc ngâm tiêu biểu như Cung oán ngâm khúc, Ai tư vãn, Nguyễn Quảng Tuân khẳng định đây là một tác phẩm: “thật điêu luyện mang rõ rệt tính cách bác học ”

và “… Có thể nói thể văn song thất lục bát đến Cao Bá Nhạ về mặt nghệ thuật

đã được nâng cao hẳn lên và trở thành một thể văn Việt Nam khác hẳn với lối văn trường thiên của Trung Quốc” [18, 13] Có thể nói đây là những đánh giá khá sâu sắc về các giá trị của tác phẩm

Như vậy so với các tác phẩm cùng thể loại, Tự tình khúc không phải là một tác phẩm được quan tâm, tìm hiểu nhiều Song những ý kiến, nhận định

Trang 5

độ trân trọng những di sản văn hóa của cha ông

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Với đề tài: Tìm hiểu giá trị nội dung và nghệ thuật trong Tự tình khúc của Cao Bá Nhạ, nhiệm vụ nghiên cứu của bản khoá luận là đi tìm hiểu các giá trị cơ bản trong nội dung cũng như nghệ thuật của tác phẩm Tự tình khúc

5 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là tác phẩm Tự tình khúc của Cao

Bá Nhạ Người viết chọn văn bản Cao Bá Nhạ - Tự tình khúc và Trần tình văn, NXB Văn Hóa 1958

5.2 Phạm vi nghiên cứu

Từ những gợi ý, những thành tựu của giới nghiên cứu đã có được, khóa luận đi tìm hiểu nội dung và hình thức nghệ thuật tiêu biểu trong Tự tình khúc để từ đó có cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn đối với tác phẩm

6 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này chúng tôi sử dụng một số phương pháp sau:

- Phương pháp khảo sát, thống kê phân loại: người viết sẽ tiến hành khảo sát, thống kê, phân loại các yếu tố để căn cứ trên cơ sở này tìm hiểu nội dung và nghệ thuật tác phẩm

Trang 6

Nguyễn Ngọc Ánh 6 K32C - Ngữ Văn

- Phương pháp so sánh: trong quá trình triển khai đề tài, người viết sẽ đối chiếu với một số khúc ngâm và một số tác phẩm khác để thấy được những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của Tự tình khúc

- Phương pháp phân tích, tổng hợp

7 Đóng góp của khoá luận

Nghiên cứu đề tài: Tìm hiểu giá trị nội dung và nghệ thuật trong Tự tình khúc của Cao Bá Nhạ sẽ góp phần làm cho hướng nghiên cứu khoa học được đầy đặn và mở rộng hơn

Đồng thời nó cũng mở đầu cho một xu hướng tìm hiểu những tác phẩm chưa được giảng dạy trong chương trình Phổ thông và Đại học Từ đó mà phục vụ cho việc học tập tác phẩm văn học, giúp ích cho công việc giảng dạy sau này

8 Bố cục của khóa luận

Trang 7

Nguyễn Ngọc Ánh 7 K32C - Ngữ Văn

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

Cao Bá Nhạ sinh ra trong một gia đình có truyền thống khoa bảng lâu đời, nổi tiếng ở Kinh Bắc, vì có nhiều người học giỏi, văn hay và đỗ đạt làm quan to nhưng vẫn giữ được tính thanh liêm và được nhân dân mến mộ Đến đời cụ đồ Hai, ông nội Cao Bá Nhạ thì cảnh nhà tuy sa sút nhưng nền nếp Nho lưu ấy của dòng họ vẫn được bảo tồn Thân phụ ông là Cao Bá Đạt và chú ông là Cao Bá Quát (anh em sinh đôi với Cao Bá Đạt) là hai người học giỏi nhất thời Tự Đức Bản thân ông tuy không đỗ đạt làm quan nhưng cũng

“tinh thông kinh sử” và có tài văn chương

Bất ngờ sóng gió ập đến với gia tộc họ Cao sau sự kiện Cao Bá Quát khởi nghĩa chống lại triều đình nhà Nguyễn (1854) ở Mỹ Lương, Bắc Ninh Khởi nghĩa thất bại, Cao Bá Quát bị giết và dòng họ Cao bị triều đình truy nã

để tuyệt diệt Cha Cao Bá Nhạ là Cao Bá Đạt đang làm tri huyện Nông Cống, Thanh Hóa cũng bị bắt giải về kinh chịu tội Bị oan ức, khổ nhục quá, Cao Bá Đạt dọc đường đã phải cắt ngón tay lấy máu viết một tờ biểu trần tình rồi dùng dao đâm cổ tự tử

Trang 8

Nguyễn Ngọc Ánh 8 K32C - Ngữ Văn

Cả nhà họ Cao đều bị xử chém, chỉ riêng Cao Bá Nhạ trốn thoát, phải cải dạng đổi tên bỏ đất Thanh Hóa trốn ra ngoài Bắc Sau một thời gian nếm trải mọi mùi khổ cực ông mới tìm được nơi lánh ẩn ở vùng Hương Sơn thuộc huyện Mỹ Đức - Hà Đông Ở đây ông sống bằng nghề dạy học rồi lấy vợ sinh được hai người con gái Ông kiếm ăn lần hồi trong cảnh lưu vong nghèo túng được tám năm thì xảy ra cuộc khởi nghĩa của Lê Duy Phụng Nhân đó có kẻ

tố giác ông và bọn Nguyễn Bá Nghi, tổng đốc Sơn Hưng Tuyên lúc bấy giờ vốn có hiềm khích với Cao Bá Quát đã bắt ông để diệt nốt dòng dõi họ Cao Ông bị chúng giam cầm trong cũi và giải đi Chúng hết khiêng ông về ngục thất Hà Nội lại giải sang Bắc Ninh, sau cùng bị đẩy lên mạn ngược Hiện nay chưa có tài liệu chính xác cho biết ông chết ở đâu và trong trường hợp nào

Có thể nói, cuộc đời Cao Bá Nhạ là một cuộc đời đầy bi kịch và tiêu biểu cho số phận bất hạnh của nhà Nho dưới chế độ phong kiến nhiều ràng buộc, bất công

1.1.2 Sự nghiệp văn chương

Cao Bá Nhạ hình như không có ý định viết văn, làm thơ để lại về sau nhưng chỉ vì nhu cầu muốn giãi bày tâm trạng, nỗi oan ức của mình và gia tộc Trong những ngày bị bắt bớ, giam cầm, Cao Bá Nhạ sáng tác hai tác phẩm: Tự tình khúc và Trần tình văn để bày tỏ nỗi oan khổ của mình Hai tác phẩm đều bắt nguồn từ hoàn cảnh đau thương của tác giả trong một thời đại lịch sử còn nhiều bế tắc, đen tối

1.1.2.1 Trần tình văn

Trần tình văn là tác phẩm được viết bằng chữ Hán theo thể văn biền ngẫu gồm hàng trăm vế trình bày cụ thể về gia thế dòng họ Cao, đặc biệt là về người chú ruột Cao Bá Quát Trong tâm trạng ấy, Cao Bá Nhạ buộc lòng phải viết những lời khiếm nhã đối với thúc phụ khả kính của mình Tuy vậy bản tố oan về cảnh ngộ bản thân ông là những trang văn xúc động, gợi nhiều nỗi xót

Trang 9

mà bày tỏ cho mọi người biết được sự oan ức của dòng họ Cao Tác giả hy vọng lượng khoan hồng của nhà vua sẽ cứu xét đến trường hợp đặc biệt của mình Nhưng triều đình nhà Nguyễn bạc nhược đã làm ngơ Do đó tiếng kêu oan trong Tự tình khúc là tiếng kêu rất yếu ớt, bi thương của một con người chịu nhiều nỗi đau đớn, bất hạnh trong cuộc đời

Tác phẩm Tự tình khúc được các tác giả Đái Xuân Ninh, Nguyễn Tường Phượng trong nhóm văn học Chu Văn An do nhà xuất bản Văn Hóa dịch và giới thiệu năm 1958 Nó đã tiếp nối được những thành công của Chinh phụ ngâm khúc và Cung oán ngâm khúc trong việc diễn tả bức tranh tâm trạng bộc lộ nỗi buồn đau xót xa của nhân vật trung tâm và phản ánh thời đại với những nét riêng rất độc đáo

Đây là khúc ngâm mang nhiều chất sầu của Cao Bá Nhạ ghi lại những biến chuyển tâm trạng đau đớn của ông trong những ngày tác giả bị tù đày.Ở

đó vừa ẩn chứa những giá trị nhân văn lại vừa chứa đựng chất hiện thực đậm

đà phản ánh được những vấn đề nóng bỏng của xã hội, thời đại… Đồng thời thể hiện một tấm lòng thiết tha yêu cuộc sống, yêu thiên nhiên, mong mỏi cuộc sống bình yên của một người dân lương thiện

Đây được coi là khúc ngâm lâm ly, thống thiết nhất trong văn chương

cổ điển Việt Nam, một thiên tình cảm chân thực của chính tác giả và tự tay tác giả ghi lấy qua những biến chuyển của lòng mình Nó đã góp một tiếng nói mới bổ sung cho hiện thực trữ tình của thể loại ngâm khúc nói riêng và

Trang 10

Nguyễn Ngọc Ánh 10 K32C - Ngữ Văn

cho nền văn học dân tộc nói chung Và Tự tình khúc cũng chính là một thành công, một tác phẩm có giá trị, ghi dấu ấn tên tuổi Cao Bá Nhạ và là một minh chứng cho sự phong phú, đa dạng của thể loại ngâm khúc

1.2 Thể loại ngâm khúc

1.2.1 Khái niệm

Theo Từ điển thuật ngữ văn học của nhóm tác giả Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, Lê Bá Hán thì “Ngâm khúc: thể thơ trữ tình dài hơi thường được làm theo thể song thất lục bát để ngâm nga, than vãn nhằm bộc lộ những tâm trạng, tình cảm buồn phiền, đau xót triền miên, day dứt Vì thế ngâm còn được gọi là vãn hay thán” [9, 137]

1.2.2 Nguồn gốc, quá trình hình thành

Xã hội Việt Nam đầy biến động từ khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà

Lê (năm 1527) kéo theo nhiều biến cố lớn xảy ra như cuộc chiến tranh Nam - Bắc triều; Trịnh - Nguyễn tranh nhau một dải sơn hà, rồi Tây Sơn nổi lên quét tan tác các thế lực, đánh đuổi ngoại bang cho đến khi Gia Long lên ngôi hoàng đế (năm 1802) Ở triều Tự Đức, nông dân khắp nơi nổi dậy chống lại triều đình trong đó có cuộc khởi nghĩa của Lê Duy Mật ở Bắc Ninh và đặc biệt có sự tham gia của Cao Bá Quát (chú ruột của Cao Bá Nhạ)

Sự biến động của triều đình phong kiến diễn ra mấy trăm năm đã kéo theo sự chuyển biến đáng kể về ý thức hệ của nhiều tầng lớp trong xã hội, trong đó có lực lượng sáng tác, những Nho sĩ từng theo cửa Khổng sân trình Bên cạnh đó, văn hóa cũng có những thay đổi từ văn hóa vật chất đến văn hóa tinh thần Cụ thể là thị hiếu thẩm mỹ và những quan niệm nghệ thuật về con người Con người với cái tôi cá nhân đã mạnh mẽ phá bỏ xiềng xích mà Nho giáo và nhà nước phong kiến áp đặt từ lâu Văn học dân gian mà tiêu biểu là thể loại ca dao - dân ca với tiếng lòng của người bình dân phát triển rất phong phú trong đó nổi lên sự góp mặt của thể thơ song thất lục bát vào văn học Việt

Trang 11

Nguyễn Ngọc Ánh 11 K32C - Ngữ Văn

Nam từ những năm cuối thế kỷ XVI Và đặc biệt đến giai đoạn nửa sau thế kỷ XVIII thể thơ này bắt gặp được những nỗi lòng, những tâm trạng đau khổ day dứt triền miên của các văn gia, thi sĩ Do đó, thể loại ngâm khúc dùng hình thức thơ song thất lục bát nhanh chóng khẳng định dấu ấn của mình trên văn đàn dân tộc với hàng loạt các tác phẩm có giá trị như: Chinh phụ ngâm (Nguyễn Gia Thiều), Thu dạ lữ hoài ngâm (Đinh Nhật Thận), Tự tình khúc (Cao Bá Nhạ), Ai tư vãn (Lê Ngọc Hân)

1.2.3 Đặc trưng, thể loại

Văn học trung đại xưa có một đặc trưng khá phổ biến là ngay từ nhan đề

đã gọi tên thể loại của tác phẩm Từ Hịch tướng sĩ (Trần Quốc Tuấn), Bình ngô đại cáo (Nguyễn Trãi) cho đến Vũ trung tùy bút (Phạm Đình Hổ)… đều mang đặc điểm này Ngâm khúc xuất hiện từ giữa thế kỷ XVIII cũng không nằm ngoài đặc trưng ấy

Văn học từ thế kỉ X đến thời điểm mà Chinh phụ ngâm khúc (Nguyễn Gia Thiều) ra đời thì hình tượng con người cá nhân đã xuất hiện với nhu cầu hướng nội “quay về bên trong” Họ muốn giãi bày những miềm sâu thẳm của thế giới tâm hồn, mong tìm sự đồng điệu cảm thông Ngâm khúc đã bộc lộ ưu thế của mình trong đặc trưng trữ tình Do đó sự ra đời của thể loại là một tất yếu

“Ngâm” theo cách chiết tự 吟 có bộ khẩu, nghĩa đen là sự rên rỉ do đau đớn ở bên trong con người phát ra Giáo sư Trần Đình Sử cho rằng: “Ngâm về mặt nội dung có mục đích phơi trải tầm lòng đau xót bởi nỗi đau xót tiếc hận của nhân vật trung tâm trong khúc ngâm” Đó là nỗi đau được diễn tả bằng

Trang 12

Nguyễn Ngọc Ánh 12 K32C - Ngữ Văn

triền miên và nhức nhối trong suốt cuộc đời Nhân vật trữ tình thường hoài vọng, nuối tiếc quá khứ tươi đẹp Đó là bi kịch của tâm trạng, từ những bi kịch đó con người cất tiếng oán than số phận bạc bẽo Giọng điệu bi ai, buồn chán, tuyệt vọng có thể được đẩy lên ở giữa tác phẩm nhưng bao giờ cũng còn giữ lại một chút niềm tin mong mỏi, hy vọng, chờ đợi nào đó thể hiện ở cuối tác phẩm Nó giống như một lời thỉnh cầu gieo vào lòng người đọc nỗi ám ảnh dai dẳng, khôn nguôi

Có thể nói trong các khúc ngâm người nghệ sĩ muốn thông qua bi kịch của tâm trạng để đặt ra những vấn đề có ý nghĩa rộng lớn, sâu sắc

Trong một thi phẩm thể thơ không phải là hình thức khuôn sáo mà là hình thức mang tính nội dung Thể thơ đóng vai trò quan trọng trong việc thể hiện “cái nghĩa” của bài thơ Song thất lục bát với thể ngâm khúc cũng mang ý nghĩa như vậy

Trước hết, đây là thể thơ của dân tộc có mặt tương đối sớm trong thơ

ca Việt Nam Nó được đánh dấu bằng tác phẩm Đại nghĩ bát giáp thưởng đào giải văn của Lê Đức Mao vào khoảng cuối thế kỷ XV đầu thế kỷ XVI Vậy song thất lục bát có đặc điểm như thế nào?

Theo Nguyễn Đăng Na trong Văn học trung đai Việt Nam - Tập 1 thì song thất lục bát phát triển theo trình tự lôgic sau:

Trang 13

Nguyễn Ngọc Ánh 13 K32C - Ngữ Văn

còn hai dòng sau biến thành 7-1 và 7+1; nghĩa là vẫn đảm bảo mỗi khổ thơ

28 âm tiết" [7, 24] Cùng nghiên cứu về song thất lục bát Trần Đình Sử còn chỉ ra ở song thất lục bát có vần lưng kết hợp với vần chân Về nhịp điệu: hai câu bảy thường có nhịp 3/4 hoặc 3/2/2, câu tám có nhịp 4/4 hoặc 2/2/2/2 Nhìn chung song thất lục bát là thể thơ tương đối tự do có khả năng dồi dào trong việc diễn tả tư tưởng, tình cảm Ngoài ra mỗi câu thơ là mỗi nhịp điệu vang lên có tính chất chu kì rất thích hợp với việc miêu tả một đối tượng có tính chất đứng yên, ít biến động

Đến thế kỷ XVI – XVII với sự xuất hiện tác phẩm Tứ thời khúc vịnh của Hoàng Sĩ Khải và giữa thế kỷ XVII là tác phẩm Thiên nam minh giám thì song thất lục bát đã góp thêm tiếng nói thể hiện vị trí của mình Bởi đây đều là những tác phẩm được viết bằng thể thơ song thất lục bát, có nội dung vui vẻ, mang tính chất sử thi, ca ngợi Tuy nhiên, ở các tác phẩm này chưa đạt được mức độ hài hòa về nội dung và hình thức thể hiện

Sang đến cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX với sự biến động lớn lao, phức tạp của lịch sử xã hội đã kéo theo sự thay đổi của thể loại song thất lục bát Song thất lục bát thời kì này chỉ thích hợp với việc diễn tả tâm trạng nhiều chiều của nhân vật trữ tình và được xây dựng trên sự đối lập với một bên là hiện tại với bên kia là dĩ vãng hoặc tương lai Nó thôi thúc nhân vật hành động Không những vậy ở song thất lục bát có vần lưng, vần chân “ôm nhau xoắn xuýt” như không dứt ra được Nhờ có vần lưng lại không gò bó về luật bằng trắc và tương đối tự do về ngắt nhịp, gieo được nhiều vần, ngắt được thành nhiều khổ nên song thất lục bát có ưu thế về nhạc điệu, âm hưởng Tính nhiều vần của khuôn thơ song thất lục bát làm cho tình cảm nhớ tiếc càng được thể hiện nổi bật Và đặc điểm này của song thất lục bát là hoàn toàn phù hợp với thể loại ngâm khúc Sự kết hợp của hai thể thơ được

ví như “hồn gặp xác” vì nó tạo ra nhịp điệu phù hợp với nỗi đau buồn triền

Trang 14

Nguyễn Ngọc Ánh 14 K32C - Ngữ Văn

miên lặp đi lặp lại khôn nguôi Nhịp điệu thơ cũng chính là nhịp điệu của lòng người, của tâm hồn Nó rất phù hợp đối với việc diễn tả tâm trạng sầu thương của nhân vật trữ tình

Đỉnh cao đánh dấu thành công của nó là sự ra đời của Chinh phụ ngâm (Đặng Trần Côn) và bản dịch song thất lục bát của Đoàn Thị Điểm

Với thể loại ngâm khúc thì một khổ thơ song thất lục bát được xây dựng bởi hai tám âm tiết, chia thành bốn câu nhưng có tới sáu vần, bao gồm nhiều loại: vần lưng (yêu vận), vần chân (cước vận), vần bằng, vần trắc, hiệp vần ở âm tiết thứ năm, âm tiết thứ sáu và cả âm tiết thứ ba Sự xuất hiện nhiều vần, nhiều loại vần trong một khổ thơ, một mặt tăng thêm tính nhạc, mặt khác tạo nên sự luyến láy làm cho tốc độ câu thơ chậm lại Hiện tượng đó lặp đi lặp lại liên tục trong nhiều khổ thơ, đem đến sự cộng hưởng âm vận, cộng hưởng

ấn tượng cảm nhận về sự triền miên quẩn quanh của dòng tâm trạng

Kết cấu là vấn đề then chốt của lí luận và thể loại nói chung Nói về vấn đề này, A.Xâytlin cho rằng “Bất cứ một thể loại văn học nào cũng đều có đặc điểm kết cấu riêng và như vậy tức là có những ưu thế của nó” Theo các tác giả cuốn Từ điển thuật ngữ văn học: “Bất cứ một tác phẩm văn học nào cũng có một kết cấu nhất định Kết cấu là phương tiện cơ bản và tất yếu của khái quát nghệ thuật Kết cấu đảm nhận chức năng đa dạng, bộc lộ chủ đề và

tư tưởng các tác phẩm tạo ra tính toàn vẹn của tác phẩm như một hiện tượng thẩm mĩ” [9,157] Theo đó chúng ta có thể hiểu kết cấu của ngâm khúc được biểu hiện như sau:

Các nhà nghiên cứu đã đưa ra kiểu kết cấu của thể loại ngâm khúc là kiểu kết cấu vòng tròn Tác phẩm nào cũng mở đầu bằng việc thể hiện tâm trạng của nhân vật trữ tình trong thời hiện tại Tâm trạng này được nảy sinh sau những biến cố nào đấy thường là bất lợi cho nhân vật, gây nên những cảm xúc buồn đau Từ nỗi đau buồn vì sự đổ vỡ mất mát trong hiện tại, nhân vật

Trang 15

Nguyễn Ngọc Ánh 15 K32C - Ngữ Văn

trữ tình hồi tưởng lại quá khứ xa, gần Và nhận ra hạnh phúc chỉ có ở “thời xưa” nay đã qua rồi Khép lại tác phẩm, nhân vật thường mơ ước, tin tưởng vào một tương lai tốt đẹp sẽ đến Tương lai đó không xa lạ mà thường chính

là cái quá khứ tốt đẹp đã đi qua Có thể thấy ở một vài tác phẩm kết thúc là những lời tâm tình mong được đất trời chứng giám như Ai tư vãn Song hy vọng của họ, người đọc vẫn thấy ít có khả năng trở thành hiện thực (như Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm khúc…)

Hình thức kết cấu này góp phần tô đậm tâm trạng sầu muộn triền miên, không lối thoát của nhân vật trữ tình, buộc người đọc phải sống với những cảm xúc ấy trong hiện tại Từ hiện tại, người đọc cùng nhân vật trở về quá khứ, từ đó dấy lên tình cảm trong lòng bạn đọc Hình thức kết cấu này đã phục vụ rất tốt cho việc thể hiện chủ đề của ngâm khúc

Ở ngâm khúc chỉ duy nhất có một nhân vật trữ tình đang tự bạch tâm trạng phô diễn cái dòng ý thức đang vận động trong tâm tư để dẫn đến một sự cảm nhận mới về cuộc sống Các nhân vật khác nếu xuất hiện chỉ là trong dòng cảm xúc của nhân vật mà thôi Nếu như ở các thể loại thơ ca, nhân vật trữ tình thường thể hiện những tình cảm mãnh liệt, những tâm trạng thăng hoa trong các khoảnh khắc thì ở ngâm khúc nỗi đau uất hận, tình cảm kéo dài triền miên vì thế nhân vật trong các tác phẩm này có nhu cầu kể lể, tâm sự giãi bày nỗi lòng mình Khúc ngâm có thể kéo dài hàng trăm câu mà không cần cốt truyện

Trong ngâm khúc ngôn ngữ dân tộc được sử dụng khá phong phú giàu sức sống, giàu màu sắc, âm thanh, nhạc điệu có khả năng diễn tả sinh động, chính xác những vấn đề hết sức thầm kín, riêng tư trong tâm hồn con người Ngoài ra để thể hiện tâm trạng bi kịch, các khúc ngâm đều mang một giọng điệu trữ tình bi thương Vì vậy các từ chỉ trạng thái đau buồn của con người xuất hiện với tần số cao như: buồn, phiền… đặc biệt là các từ láy trong hệ

Trang 16

và truyện thơ Nôm, ngâm khúc đã đóng góp vào sự phát triển của văn học trung đại nói riêng và văn học Việt Nam nói chung

Trang 17

Nguyễn Ngọc Ánh 17 K32C - Ngữ Văn

CHƯƠNG 2 GIÁ TRỊ NỘI DUNG VÀ NGHỆ THUẬT

CỦA TỰ TÌNH KHÚC

2.1 Giá trị nội dung

2.1.1 Niềm tự hào về gia đình và bản thân

Tự tình khúc là một khúc ngâm được viết trong tình cảnh tác giả bị giam cầm giữa cảnh ngục tù đau đớn với những nỗi oan khuất tày trời do đó bao trùm lên khúc ngâm là cảm xúc buồn đau, bi ai đến tái tê Tuy nhiên, trong niềm đau ấy ở khúc ngâm vẫn toát lên những tư tưởng tiến bộ cao đẹp của một nhà Nho Đó là niềm khát khao sống, mong mỏi được giải oan là bản cáo trạng đanh thép về triều đình nhà Nguyễn và đặc biệt chính là niềm tự hào

về nguồn gốc khoa bảng của bản thân và dòng họ

Trong xã hội trung đại bấy giờ, công danh trở thành một khát vọng của mỗi đấng nam nhi bởi họ là những nhà Nho chân chính thấm nhuần tư tưởng thờ vua, làm quan để giúp nước, giúp dân

Với Cao Bá Nhạ nói riêng và cả dòng họ Cao nói chung thì giấc mộng khoa bảng lại trở thành yếu tố thường trực một nét đẹp lưu truyền từ ngàn đời của gia tộc Dòng họ Cao từ trước đã nổi tiếng ở Kinh Bắc vì có nhiều người học giỏi, văn hay và đỗ đạt làm quan to Thời Lê, Trịnh đã có người ghi dấu

ấn rất hiển hách như Cao Bái Hiến, đậu tiến sĩ, làm tới Binh bộ thượng thư triều Lê và giữ chức tham Tụng trong phủ Chúa Người thứ hai là Cao Cửu Chiếu là giáo thụ huyện Gia Định (nay là Gia Bình – Bắc Ninh) cũng có tiếng

là người tài đức đã đào tạo được nhiều học trò thành đạt Ngoài ra trong dòng

họ Cao còn có nhiều người đỗ đạt làm phủ, huyện nhưng vẫn giữ được tính thanh liêm và được nhân dân mến yêu

Đến đời cụ đồ Hai, ông nội Cao Bá Nhạ tuy cảnh nhà sa sút nhưng nền nếp Nho lưu của cả dòng họ vẫn được bảo tồn Thân phụ ông là Cao Bá Đạt

Trang 18

Nguyễn Ngọc Ánh 18 K32C - Ngữ Văn

cùng với chú ông là Cao Bá Quát cũng là hai người học giỏi nhất thời Tự Đức Bản thân Cao Bá Nhạ tuy không đỗ đạt làm quan nhưng lại tinh thông kinh sử và có tài văn chương

Do đó mở đầu khúc Tự tình tác giả tự giới thiệu mình là con nhà khoa bảng mà lại có nết hạnh bằng một giọng văn, một niềm cảm xúc tràn đầy tự hào nhưng lại rất chân thành:

Ngòi Đức - Thủy khơi dòng kinh sử, Phả Cao - Dương treo chữ tấn - thân Đây là những câu thơ ẩn chứa nhiều ý nghĩa được nhà thơ đặt rất khéo

Nó vừa giới thiệu được vị trí quê hương của tác giả vừa cho biết dòng họ Cao

từ ngàn đời đã theo đời nghiên bút, lại vừa muốn cho ta hiểu rằng những sự thành đạt liên tiếp một phần cũng do nết đất tổ ấm mà ra Và ở đó còn có những đức tính tốt đẹp của một dòng họ luôn có ước mong đỗ đạt để được nối nghiệp cha ông cả đời trung thành với vua với nước

Niềm tự hào về truyền thống gia đình ấy còn được trải dài trong âm điệu của những câu thơ:

Dõi đời khoa bảng xuất thân, Trăm năm lấy chữ thanh cần làm bia

Truyền thống ấy không phải được tạo dựng trong một sớm một chiều

mà phải trải qua một quá trình rất lâu dài cả “trăm năm” để rồi cái duy nhất

mà gia tộc họ Cao theo đuổi chính là hai chữ “thanh cần” Nó cho thấy đức độ của họ Cao và thanh thế của gia tộc

Đây là những câu thơ thể hiện sự tán dương tự hào khi nói về gia thế của mình nhưng người đọc không cảm nhận được giọng điệu kiêu căng mà ngược lại lời lẽ ở đây hết sức nhã nhặn, hồn hậu và rất trung thực

Ngoài ra, niềm tự hào ấy còn được phản ánh trong việc Cao Bá Nhạ lấy tài đức để đem ra so sánh với Mông Chính, Trọng Thư, Tràng Khanh, Lưu

Trang 19

và bản thân mình Đặc biệt là sự khẳng định phẩm chất trung cần, kiên định của dòng họ Cao Như thế những con người trong dòng họ ấy đều tỏ ra không

có gì nguy hiểm đối với chính quyền phong kiến đương thời

Không những vậy, Cao Bá Nhạ còn lấy tài đức của những con người trong dòng họ để so sánh với Triệu Biên, Mao Khanh, Tư Mã…

Giá cầm hạc so vào Triệu Biên Thư phụng hoàng đưa đến Mao Khanh

Đó đều là những con người sống mẫu mực trong lịch sử mà người đời sau luôn ngưỡng mộ, ngợi ca

Noi theo truyền thống đó Cao Bá Nhạ và cả gia tộc họ Cao đã làm nên những thành công vẻ vang và nó được chứng minh bằng chính sự nghiệp vì nước, vì dân cống hiến tận tụy cho nhân dân của cả gia tộc họ Cao và đặc biệt

là người cha Cao Bá Đạt của tác giả:

Ngẫm tiên phụ nửa đời khổ tiết

Vì thế:

Trong vòng Thú - lịnh phẩm bình còn khen Cái danh mà họ Cao để lại chính là sự đức độ tấm lòng yêu thương trải dài tới mọi kiếp người và nó được thể hiện qua sự biết ơn quý trọng của dân chúng đối với dòng dõi họ Cao Để rồi:

Dấu trung ấn in miền mây trắng

Chữ mục dân bóng rạng non vàng

Trang 20

nó là cả một quá trình, cả một tấm lòng mà gia tộc họ Cao dành cho vua cho nước và cho cả nhân dân

Tuy nhiên ở trong khúc Tự tình, Cao Bá Nhạ không chỉ giới thiệu về nguồn gốc khoa bảng của dòng họ mà ẩn sâu trong tác phẩm còn chất chứa tâm sự, tấc lòng trung hiếu của một nhà nho luôn giữ trọn phẩm hạnh và khí tiết

Tuy cuộc đời của ông phải chịu nhiều cay đắng vì nỗi oan khiên của gia tộc nhưng tài hoa xuất chúng của nhà thơ vẫn được bộc lộ một cách đầy

đủ, thấm thía trong những tháng ngày bị cầm tù đầy đau đớn Bản thân Cao

Bá Nhạ là một nhà nho có tài, học rộng và hiểu biết cho nên ông cũng từng ấp

ủ cái mộng “chim hồng mong chấp cánh mây” để phục vụ chế độ đương thời như

Lửa Thái - ất đêm soi Lưu Hướng

Cầu Thăng - Tiên ngày tưởng Tràng Khanh Cho nên những năm sống trốn tránh ông vẫn mở trường dạy học kiếm sống qua ngày và làm thơ phú để bầu bạn với cảnh thiên nhiên xung quanh Điều đó đã cho thấy Cao Bá Nhạ là một nhà nho chân chính có khát vọng rất chính đáng Bởi theo quan niệm của kẻ sĩ xưa đã là nam nhi thì phải có sự nghiệp, công danh để đem tài năng ra phục vụ triều đình Ngoài ra nói về bản

Trang 21

Nguyễn Ngọc Ánh 21 K32C - Ngữ Văn

thân nhà thơ sánh mình với Trành Bạch, Đào Chu… Đó đều là những con người có nếp sống thanh cao không màng danh lợi Đây cũng chính là sự khẳng định mạnh mẽ phẩm giá của bản thân trước thói đời đen bạc Khúc Tự tình được viết trong hoàn cảnh đề lao kề cận giữa sự sống và cái chết, chất chứa đầy giá trị hiện thực và nhân văn sâu sắc chính là một minh chứng tiêu biểu, sắc nét cho tài hoa của Cao Bá Nhạ

2.2 Tiếng nói tố cáo chế độ phong kiến và luật tru di tam tộc

Tự tình khúc từng được đánh giá là “một khúc ngâm lâm li thống thiết nhất trong văn chương cổ điển Việt Nam” và hơn nữa nó là “những giọt nước mắt bi thương, là những tiếng nức nở oan tình phát ra tự đáy lòng tác giả Ai đọc cũng phải ngậm ngùi đến rơi lệ, tập thơ này đã chứng minh lực học uyên bác của tác giả đến mức nào” [13, 10]

Vậy làm nên sự thành công cho tác phẩm là do đâu? Hay nói khác đi vì sao Tự tình khúc lại đem đến cho người đọc những rung cảm mãnh liệt khi đến với tác phẩm đến vậy?

Chúng ta đều biết trong lịch sử phong kiến Việt Nam từng có nhiều vụ

án phải tội tru di nhưng có lẽ kinh hoàng nhất, chấn động đời sống xã hội lâu dài và đau thương nhất là vụ án Lệ Chi Viên dưới thời Lê Thái Tông (1442) Gia đình quan đại thần Nguyễn Trãi phải chịu hình phạt oan khốc tru di tam tộc, kèm theo đó là cả sự hủy diệt tàn bạo đối với toàn bộ di sản tinh thần của dòng họ này nói chung cũng như thi hào Nguyễn Trãi nói riêng Và bên cạnh tiếng kêu bi ai của dòng họ Nguyễn Trãi, lịch sử còn được in dấu bởi vụ án tru di tam tộc họ Cao ở Phú Thị, Gia Lâm dưới triều Tự Đức (1855) mà hậu quả của nó làm “tang tóc ngập xứ Bắc” và trước tác của Chu Thần Cao Bá Quát cũng như dòng tộc văn chương này đều bị tịch thu tiêu hủy

Chế độ phong kiến với những triết lí Nho gia đã ăn sâu vào đời sống mọi mặt của xã hội không thể nào dung thứ cho sự bất trung, bởi vậy mà hành

Trang 22

Nguyễn Ngọc Ánh 22 K32C - Ngữ Văn

động đứng lên khởi nghĩa cùng với sự thất bại của Cao Bá Quát đã đẩy cả gia tộc họ Cao vào vòng lao lí Tự tình khúc một mặt là tiếng than bi thiết của con người, mặt khác cũng chính là tiếng nói tố cáo chế độ phong kiến cùng với luật tru di quá khắc nghiệt của chúng

Như chúng ta đã biết xã hội Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII đầu thế

kỷ XIX là một xã hội nhiều biến động, một xã hội mà chế độ phong kiến đang

ở thời kỳ khủng hoảng trầm trọng Vua quan nhà Nguyễn ăn chơi vô độ không tin dùng người hiền tài, không có cơ sở dân tộc và nhân dân Nó chỉ còn cách dựa trên những chính sách hết sức độc tài, chuyên chế mới có thể củng cố được uy thế chính trị Những vụ giết hại công thần và chủ trương kìm hãm tài năng không lấy trạng nguyên, không dùng tể tướng đã chứng minh điều đó trong lịch sử Việc sử dụng chính sách bạo ngược ấy đã thủ tiêu cá tính, bóp nghẹt tài năng giày xéo lên cuộc sống và gây bao đau khổ loạn lạc cho nhân dân Bi kịch của gia đình Cao Bá Nhạ chỉ là một trong muôn vàn những bi kịch thê thảm của chế độ chính trị ấy

Trước cái biến khủng khiếp của gia tộc, tất cả con trai họ Cao đều lần lượt sa vào lưới tru di của triều đình nhà Nguyễn, chỉ duy nhất Cao Bá Nhạ là còn sống nhưng sự sống của ông cũng đang bị pháp luật phong kiến đe dọa nghiêm trọng Ý thức được điều đó nên trong khúc Tự tình, chúng ta thấy hiện lên chân dung một nhà Nho Cao Bá Nhạ tha thiết với cuộc sống của mình:

Phù sinh một sợi tơ mành Giữ gìn di thể như hình thiên kim Trong thảm họa của dòng tộc có lẽ Cao Bá Nhạ là người chịu đựng cái

bi kịch tinh thần dai dẳng hơn cả bố và chú Ông không thể hành động giống người cha của mình - tuân thủ quy tắc ứng xử của kinh sách thánh hiền là

“anh hùng khi gấp” thì quyết “sát thân thành nhân” Mặt khác, chính vì ý thức

Trang 23

Nguyễn Ngọc Ánh 23 K32C - Ngữ Văn

rất rõ về sự trong sạch của bản thân và về sự sống của mình còn quý giá hơn việc liều thân vô nghĩa cho nên nhà thơ lại càng quyết phải sống để chứng tỏ thâm tâm trong sáng và nỗi oan khuất của ông cũng như của gia tộc họ Cao

Vì vậy tiếng kêu phải sống, phải trở về với đời vang lên thật da diết, thấm đượm nỗi đau trong từng câu thơ

Lời tâm sự đau xót này đã gián tiếp lên án chế độ bất lương, lên án những luật lệ phản động của giai cấp phong kiến nhà Nguyễn chà đạp lên tính mệnh con người Đồng thời nó cũng tố cáo mạnh mẽ tính chất suy tàn, thối nát của chế độ không còn đủ uy tín đối với nhân dân và phải dùng đến những biện pháp áp bức tàn bạo

Bản thân Cao Bá Nhạ không có tư tưởng, hành động chống đối nên khi

“đổi mùi lữ khách thay hình hàn nho” trong tám, chín năm ông vẫn tin rằng mình sẽ được giải oan Nhưng “chữ gấm”, “chiếu vàng” và “bức xá thư” mà ngày đêm ông mong mỏi ở nhà vua vẫn không bao giờ tới Triều đình bạc nhược không cho ông và dòng họ có cơ hội được giải oan với đời mà ngược lại nỗi đau đớn càng ngày càng nhân lên khi ông bị kẻ xấu tố giác phải chịu

Gà eo óc vừa tan giấc mộng

Nhặng vo ve sực động hồn kinh Cao Bá Nhạ đã có một cái nhìn sâu sắc, thấy rõ chân tướng của sự thực với tất cả những nét “trần trụi” bỉ ổi của nó Hình ảnh bọn lính lệ hiện lên

Trang 24

Nguyễn Ngọc Ánh 24 K32C - Ngữ Văn

rất mẫn cán trong việc khám phá bắt người Chúng sợ Cao Bá Nhạ trốn thoát

do đó đã bố trí ngăn đón các nẻo đường và khi trời vừa sáng chúng đột nhập ngay vào nhà Chúng tưởng thừa dịp này vơ vét sạch của nạn nhân nhét cho đầy túi tham của mình Nhưng chúng đã thất vọng, chúng trả thù vào những

đồ vật rẻ tiền, vô tội, và đập phá tan hoang

Với những câu thơ đầy sức gợi ấy chúng ta cảm nhận được văn phong cũng như tài hoa của Cao Bá Nhạ Ông đã sống trong sự thực nhìn suốt qua

sự thực để thấy rõ cái chân tướng của nó và ông đã diễn tả lại bằng một lối văn sống động, truyền thần được cả sự thực làm cho người đọc có cảm tưởng hiện thực ấy đang được phơi bày trước mắt mình Và một điều xót xa hơn cả

là sống trong xã hội ấy, chế độ ấy, ý thức được rõ sự phi lí của xã hội nhưng Cao Bá Nhạ cũng chỉ là một nạn nhân, một minh chứng cho tình cảnh khốn cùng của những người dân lương thiện Đặc biệt với những hành động vô nhân đạo chúng đã gây nên một tình trạng hốt hoảng, kinh hoàng cho những người vô tội

Nhặng vo ve sực động hồn kinh Cao Bá Nhạ đã đưa lên trang thơ của mình những động từ rất mạnh

“sực động hồn kinh” để nói lên cái bản chất hung hãn, đê tiện của những kẻ đại diện công lí Hình ảnh này gợi ta nhớ đến bọn sai nha “đầu trâu mặt ngựa”

mà Nguyễn Du đã tố cáo trong vụ bắt Vương ông (Truyện Kiều) Và ở đây chúng cũng dùng cường quyền để áp bức, đập phá tan tành trong nhà của Cao

Bá Nhạ:

Năm ba kẻ thước người hèo Ngõ Nhan lôi cái đan biều đập tan Qua những hình ảnh này, chúng ta đủ hình dung được cái bản chất lưu manh của bọn người vô nhân đạo ấy Ở bọn chúng, tính lưu manh đã đuổi hết lương tâm biến chúng trở thành những nhân vật điển hình của một chế độ

Trang 25

Nguyễn Ngọc Ánh 25 K32C - Ngữ Văn

chính trị đen tối Và trước thái độ hung hăng, hống hách ấy người dân run sợ chỉ còn có nước than khóc kêu trời:

Tiểu đồng thổn thức chung quanh

Thê nhi lăn lóc bên mình khóc than Chỉ trong khoảnh khắc mà chúng đã gây ra “muôn vàn thê thảm” cho một

gia đình đang sống trong cảnh đầm ấm yên vui

Phút nửa khắc muôn vàn thê thảm

Trông một mình bảy tám biệt ly Gia đình tan nát cha xa con, vợ lìa chồng dường như đã trở thành nỗi

ám ảnh dai dẳng trong xã hội lúc bấy giờ Người dân sống dưới chế độ ấy, dù

có bị vùi dập đến thế nào đi chăng nữa thì cũng chỉ biết tìm đến một phương thức duy nhất là than khóc kêu thương cho cảnh ngộ của bản thân mình mà thôi Do đó hình ảnh những người dân hiện lên dưới cảm quan hiện thực của Cao Bá Nhạ thật xót xa, ai oán

Và cũng như Truyện Kiều của Nguyễn Du, Tự tình khúc của Cao Bá Nhạ đã phơi ra ánh sáng bộ mặt thật nhơ nhớp của bọn thống trị đương thời Đỉnh cao cho nỗi đau đớn ấy, nỗi oan khuất ấy chính là những tháng ngày cuối trong cuộc đời của Cao Bá Nhạ Ông phải sống trong cảnh:

Gông ba thược ai bày nên nợ

Cũi một gian khéo dở ra trò Cuộc sống ấy đâu phải là cuộc sống của một con người mà là kiếp sống của một con vật Cao Bá Nhạ không những phải chịu nỗi đau đớn về tinh thần

mà ông còn phải chịu nỗi đau cùng cực về thể xác Rồi trong cái cảnh giam cầm khổ nhục ấy, ông lại còn bị giải đi đây đó và phải trải qua nhiều sương gió nắng mưa hết sức khổ cực:

Nay phó xuống Đông thành tạm trú

Mai truyền sang Bắc lộ ruổi ra

Trang 26

Nguyễn Ngọc Ánh 26 K32C - Ngữ Văn

Và cuối cùng phải chịu cái chết đầy oan ức, không rõ ràng Cuộc đời của Cao Bá Nhạ chính là một bằng chứng chân thật nhất, xót xa nhất gieo vào lòng người nỗi thương cảm của những con người “thấp cổ bé họng” trong xã hội Đồng thời cuộc đời bi thương của ông cũng chính là một minh chứng hùng hồn tố cáo sự phi lí, sự bất công tàn nhẫn trong xã hội đương thời

Như vậy bằng những câu thơ hết sức chân thật đầy đau đớn, bằng một giọng thơ ai oán xót xa đến tê tái, Cao Bá Nhạ đã viết lên những câu thơ như

có nước mắt, có máu nhỏ trên đầu ngọn bút, lay động lòng người sâu sắc Những câu thơ ấy chính là lời tố cáo đanh thép nhất tới luật tru di tam tộc bất lương, khắc nghiệt của nhà Nguyễn đã “vét” nốt người con trai cuối cùng của dòng họ Cao Đồng thời qua khúc ngâm mảng hiện thực về xã hội phong kến Việt Nam cũng hiện lên một cách sâu sắc và thấm thía với những cảnh bắt bớ

dã man, những cảnh thảm sát người vô tội và đặc biệt là những cảch đọa đầy chan chứa thương tâm trong thực tế đời sống lúc bấy giờ

Tuy nhiên, nếu như chỉ dừng ở việc tố cáo chế độ phong kiến và luật tru di tam tộc dã man của nó thì tác phẩm mới chỉ đề cập được những giá trị hiện thực mà chưa nói được cái ý thức, bản ngã của một người dân sống trong cảnh tù đầy, oan ức Và ở đây Cao Bá Nhạ đã không chỉ dùng ngòi bút để vạch trần bộ mặt thật của chế độ xã hội bấy giờ mà ông còn dùng cả trái tim khối óc để nói lên tiếng nói căm hờn bộc lộ ý thức phản kháng chế độ phong kiến hà khắc, bất lương

Chế độ tàn nhẫn ấy vùi dập tài năng, trí tuệ con người, là kẻ thù số một của tự do, công lý, và Cao Bá Nhạ chính là nạn nhân thê thảm của nó Bằng một thái độ căm thù ông đã lên tiếng phỉ nhổ vào cái nền chính trị bạo ngược, độc tài của nó Đối với bọn sai nha - tay chân của chính quyền phản động, ông đã tỏ rõ thái độ khinh bỉ của mình Ông gọi chúng là nhặng, là ruồi muỗi

là những con vật bẩn thỉu, hôi tanh Đặc biệt, khi bị giải tới công đường tổng

Trang 27

đã đặt điều làm hại:

Ghê cho kẻ mọc lông trong bụng

Đặt nên điều vẽ bóng ngoài môi Việc sử dụng các thành ngữ rất độc đáo như “ mọc lông trong bụng”,

“vẽ bóng ngoài môi” đã tố cáo được con người, tính cách của bọn chúng Đồng thời qua việc thể hiện bản chất chính trị, hành động của bọn sai nha, tâm lý của các nhà đương chức, Cao Bá Nhạ đã bộc lộ phần nào thái độ khinh

bỉ, thù ghét của mình đối với chế độ áp bức

Dưới chế độ chuyên chế ấy, tính mệnh con người không được tôn trọng, đời sống mặc dầu lương thiện cũng không được bảo toàn Những cuộc

bể dâu diễn ra đột ngột để phá hoại nó hằng ngày Cuộc sống của Cao Bá Nhạ

là một bằng chứng cụ thể Mới hôm qua ông đang yên vui trong cái cảnh “thú thôn ổ, ao nghiên, ruộng chữ” mà ngày nay bỗng nhiên ông đã trở thành một

kẻ “tù đồ”:

Mới qua là kẻ danh Nho

Mà nay đổi dạng tù đồ như chơi Trước sự thay đổi đột ngột và đau đớn ấy, ông đã phải thốt ra những lời

ai oán não nùng như xé ruột Rồi cái cảnh “gông ba thước”, “cũi một gian” dày

vò tái tê con người ông:

Trang 28

Nguyễn Ngọc Ánh 28 K32C - Ngữ Văn

Đã đày một đóa hoa mai

Phẩm tiên lưu lạc trần ai lạ lùng Đến cực độ đau thương nhiều lúc Cao Bá Nhạ đã mốn tự tử nhưng còn

mẹ già, vợ dại, con thơ, còn sự vấn vương tha thiết với cuộc sống là nguồn sức mạnh lớn lao kéo ông lại với cuộc đời

Số phận đau đớn của Cao Bá Nhạ là hiện thân, là nạn nhân của sự khổ đau trong xã hội Viết lên những lời tâm sự não nề trên Cao Bá Nhạ đã bộc lộ sâu sắc ý thức phản kháng của mình với chính quyền, chế độ đương thời

Song vì Tự tình khúc, viết ra với mục đích chủ yếu là để giãi bày tấm lòng trung thành mong được nhà vua ân xá và trần tình cùng quốc dân thấy rõ cảnh gia đình tác giả cho nên trong lời tố cáo của Cao Bá Nhạ tới triều đình nhà Nguyễn còn có nhiều ý kiến cho rằng tư tưởng của ông còn có phần nhu nhược không thể vượt thoát khỏi ý thức hệ và thế giới quan phong kiến được Bởi Cao Bá Nhạ xuất thân là dòng dõi nhà Nho “đời đời khoa bảng xuất thân" cái học vấn và kiến thức mà ông thu nhận được trong sách vở không ngoài Nho, Phật, Lão Mặt khác, Cao Bá Nhạ cũng như các nho sĩ khác tất nhiên không thể hiểu được rằng khi một giai cấp chiến thắng lên nắm quyền thống trị thì quyền lợi của nó ngày càng mâu thuẫn với quyền lợi của nhân dân và của các tầng lớp, giai cấp khác Và ngày nào nó bắt đầu suy yếu thì ngày ấy

nó càng tỏ ra tàn nhẫn, bất lương, phản động đối với cả những tầng lớp trong giai cấp đó Những con người tài năng lúc này bị chà đạp thê thảm vì nó sợ nhân tài sợ sự đối địch của những phần tử ấy Lịch sử mấy nghìn năm đã chứng minh như vậy Ai công đầu bằng Nguyễn Trãi đã giúp Lê Thái Tổ cùng nhân dân đánh đuổi quân Minh hùng mạnh để giải phóng cho dân tộc, lập nên

sự nghiệp “hiển hách” của nhà Lê Ấy vậy mà về sau Nguyễn Trãi cũng bị tru

di tam tộc Hay như cuối đời nhà Trịnh, Trịnh Tạc cũng đã nhẫn tâm giết em

Trang 29

đã chán gét từ lâu, để giữ vững quyền thống trị trong cả nước cho nên nó càng

đi vào đường lối phản động nói trên Những chính sách chính trị, kinh tế, những vụ giết hại công thần đã hiển nhiên tố cáo tính chất bất lương, tàn nhẫn

và độc tài của nó Cao Bá Nhạ và đẳng cấp nho sĩ của ông chưa nhận thức được sâu sắc bản chất thối nát, tàn bạo của nền chính trị mà nó đại diện Tư tưởng Tống - Nho đã ăn sâu vào con người, biến thành xương thịt, máu mủ của họ nên dù có thấy sống ngột ngạt trong khuôn khổ xã hội lúc bấy giờ họ cũng không dám chống đối nếu những phong trào đấu tranh của quần chúng không dội mạnh vào ý thức, tư tưởng của họ Trái với chú ruột của mình là Cao Bá Quát đã đứng lên kêu gọi nhân dân khởi nghĩa chống lại chế độ đương thời thì Cao Bá Nhạ lai chịu bó mình trong những khuôn khổ phong kiến và không có điều kiện gần gũi phong trào nông dân nên không thể tiếp thu được cái khí thế đang lên của nó Vì thế mà ông đã giữ thái độ bàng quan đối với phong trào mà chú ông lãnh đạo Do đó ẩn sâu trong khúc Tự tình vẫn còn những tư tưởng hạn chế cần được bác bỏ Tuy vậy tài năng tâm huyết cũng như giá trị mà Tự tình khúc và Cao Bá Nhạ đạt được thì vẫn còn nguyên và được ghi nhận bởi tư tưởng ấy chỉ là một phần nhỏ trong con người và cảm xúc của Cao Bá Nhạ Đi sâu vào khúc ngâm cái mà người đọc cảm nhận thấm thía được chính là tấm lòng của ông với dân với nước, là tiếng nói căm hờn đối với chế độ phong kiến phản động nhà Nguyễn trà đạp và dập tắt mọi tài năng

2.1.3 Tình cảnh và tâm trạng của tác giả trong cơn gia biến

Trang 30

Nguyễn Ngọc Ánh 30 K32C - Ngữ Văn

Bản án sắt diệt tộc của chính quyền phong kiến đời Tự Đức đã làm tuyệt tự chôn vùi một dòng họ có tài văn chương của Việt Nam Đó là dòng

họ Cao ở tỉnh Bắc Ninh làng Phú Thị Sau tám năm trốn tránh Cao Bá Nhạ đã

bị phát hiện, bị giam cầm và phải sống một cuộc đời nhiều đau khổ cho đến chết Trong thời gian bị tù đầy ông đã gửi gắm tất cả tâm sự của mình vào tác phẩm Tự tình khúc Do đó Tự tình khúc là cả một nỗi lòng buồn thảm là một tâm trạng nhiều cung bậc cảm xúc thăng trầm và đau đớn

Trước cơn gia biến thương tâm của gia tộc, người duy nhất còn sống sót lại của dòng họ chỉ có một mình Cao Bá Nhạ mà thôi vì thế mà mặc dù sống trong cảnh thanh tịnh nơi ẩn dật lấy cỏ cây làm bầu bạn nhưng tâm trạng của ông vẫn luôn khắc khoải bao nỗi xót xa thương cho mình và gia tộc họ Cao:

Đuôi con mắt châu sa thấm giấy

Đầu ngón tay máu chảy pha sơn Đây là những câu thơ thể hiện niềm đau đớn đến cùng cực trong tâm trạng Cao Bá Nhạ khi gia đình có biến Dường như khi đọc những câu thơ đó

ta cảm nhận được máu và nước mắt đang thấm dần vào mỗi trang giấy bật lên thành tiếng nức nở da diết Rồi có khi nỗi đau trở thành sự bối rối trăm chiều, vấn vương u hoài vì gia đình vì tấm lòng oan khúc, xót thương cho thân thế của mình đến ai oán

Lo xa thôi lại nghĩ gần

Thôi ngơ ngẩn sớm, lại trằn trọc khuya

Từ đau đớn đến lo lắng rồi lại băn khoăn trằn trọc Đó là tâm trạng bối rối trăm chiều thể hiện một sự dày vò, dằn vặt của nội tâm Phải là người trong cuộc thấu hiểu được cảnh ngộ bi thương của mình thì mới có tâm trạng

ấy được Và trong cảnh sống u uất tâm trạng ngổn ngang giữa những nỗi sầu nơi đất khách quê người, giữa chỗ không có bạn bè thân thích thì mối sầu của

Trang 31

Nguyễn Ngọc Ánh 31 K32C - Ngữ Văn

Cao Bá Nhạ càng mãnh liệt hơn bao giờ hết Ông đã trải lòng mình với trời cao với cây cỏ mong cho trời đất có thể minh chứng cho tấm chân tình của ông Nhưng thật xót xa bởi những tiếng kêu âm thầm ấy chỉ tan biến giữa khoảng trời đất vô cùng, không gây được một chút hồi âm để rồi lại đẩy nhân vật trữ tình trở lại với băn khoăn, vật vã của mình trong cuộc sống cô tịch:

Ngao ngán thay! phận nhỏ sầu to Một mình riêng những đắn đo, Thương tình nhi nữ khôn dò nông sâu

Từ láy “ngao ngán” kết hợp với chữ “sầu” đã khắc họa đậm nét tâm trạng của chủ thể trữ tình Và nỗi băn khoăn, nhớ nhung những người thân yêu dường như càng trải dài trong tâm hồn nhà thơ Muốn ra khỏi vòng luẩn quẩn bế tắc nặng nhọc ấy, tác giả chỉ còn có một phương tiện duy nhất là khấn nguyện, hi vọng và mộng tưởng Nhưng rồi hi vọng cũng trở nên mong manh, hi vọng mà vẫn rụt rè và đầy bi quan đè nặng tâm hồn tác giả Tác giả cũng không nghĩ đến một cuộc sống vật chất rực rỡ mai sau mà chỉ mong giãi bầy nỗi oan ức của mình cho mọi người đều biết, cho hương hồn của cha được ngậm cười nơi chín suối để rồi sau này may ra nhờ cuộc sống tự do mà đem tài năng thi thố nối nghiệp lại cha ông Còn nếu không được như vậy thì chỉ ước ao được lui về với vợ con sống với thiên nhiên thanh tịnh:

Một là mở tấm đan - thành, Hai là rửa tiếng nguyệt hình chê bai

Để tiên tổ ngậm cười chín suối May gia - khương còn nối về sau…

Niềm ước ao ấy thật dản dị chân thành và rất đỗi cảm động Trong mộng tưởng mà vẫn chừng mực, tự trọng thành thật với mình, tác giả thật không thẹn với hai chữ “thân độc” của cốt cách nhà Nho

Trang 32

Nguyễn Ngọc Ánh 32 K32C - Ngữ Văn

Đây là những tâm trạng phức tạp, pha trộn nhiều cảm xúc, vừa thể hiện niềm đau đớn trước cơn biến loạn của gia đình, vừa thể hiện niềm thương xót của một người con với vong linh tổ tiên lại vừa chất chứa tâm trạng bồn chồn day dứt khôn nguôi của một người dân vô tội phải sống trong cảnh lầm than loạn lạc của thời cuộc và chế độ phong kiến đầy rẫy bất công nhiều oan trái Tuy nhiên tâm trạng đau đớn, dằn vặt của tác giả không chỉ dừng lại trong mối sầu của tâm tưởng mà nó còn được thể hiện rất thấm thía trong chuỗi ngày tác giả bị bắt bớ tra hỏi, bị giam cầm có lúc muốn uống thuốc độc

tự tử:

Nặng kiếp trước vò giầy chi mãi?

Ngẫm tình này oan trái sao cân?

Nghĩ thân mà ngán cho thân

Một thân mang nợ mấy lần chưa thôi Lời thơ nghe thật ai oán xót xa ngân lên như chính cõi lòng của tác giả đang bị dày vò trà đạp muôn vàn thê thảm Biết đến bao giờ tấm lòng chân thành này mới được người đời thấu chăng, biết đến bao giờ nỗi oan của gia tộc mới được minh bạch Có lẽ chỉ có trời đất là thấu hiểu được cõi lòng của tác giả cho nên nỗi đau đã bật lên thành tiếng than vang vọng với trời đất:

Chữ bạc mệnh ai ơi xót với

Câu đa đoan, giời hỡi thấu chăng?

Để rồi nỗi cô đơn, trong sự đau đớn quằn quại, nhân vật trữ tình lại chìm sâu trong mối sầu của mình:

Giọt phiền lai láng như mưa, Rượu nồng chẳng nhấp say sưa những sầu

Buồn đau dường như trở thành mạch cảm xúc dai dẳng chi phối tâm trạng của chủ thể trữ tình Mối sầu ấy giờ đây đã tràn ngập tâm hồn tác giả ập

Trang 33

có gan dạ sắt đá bao nhiêu cũng phải nhỏ lệ sót thương cho tình cảnh mình nhất lại là trong nỗi đau bị oan ức, bị nhấn chìm trong máu và nước mắt của gia tộc Do đó chữ “sầu” trở đi trở lại như một “định mệnh” trong cuộc đời đau đớn của Cao Bá Nhạ Nỗi đau bật lên day dứt khiến nhân vật trữ tình rơi vào trạng thái bi quan tột độ và có lúc muốn tự tử

Thà bỏ thân đáy nước, cây cành Hay

Băng hồ rơi xuống lầm than, Thà cho một chén tân toan đi đời Quả thực tiếng than của Cao Bá Nhạ trong cảnh ngục tù là tiếng kêu bi thương da diết gieo vào lòng người nỗi day dứt thương cảm khôn nguôi là tiếng nói tự gan ruột của một con người thiết tha với sự sống với quê hương đất nước mà không được thỏa lòng

Tuy nhiên Cao Bá Nhạ là người thấu hiểu được cuộc đời, là người con trung hiếu không muốn dòng họ Cao bị tuyệt tự lại thừa biết lẽ vui sống trong cảnh tù cho nên sau những đau đớn của nội tâm, Cao Bá Nhạ đã quyết “giữ gìn di thể như hình thiên kim”, ông gắng gượng đổi sầu làm vui để chờ một ngày giải thoát và ngày ấy chắc là vận hội non sông sẽ đổi mới

Nhẫn nhục trong cảnh khốn cùng, tin tưởng vào thiên lí chí công, những tư tưởng kiên cường, phấn khởi này dường như đã giúp Cao Bá Nhạ thoát khỏi ám ảnh của một cuộc tự sát để vĩnh viễn kết liễu đời sống đoạn

Trang 34

Nam - cai khuất non xanh man mác, Thái - hàng xa mây bạc lần vần

Hồn bay ngàn dặm cũng gần, Trong năm mươi khắc năm lần thấy cha Theo Nho giáo, một tội lớn là không có con để nối dõi Sở dĩ Cao Bá Nhạ luôn chịu khổ, muốn bảo toàn lấy thân là bảo toàn cho việc tế tự Nhưng nay ở trong thế “ngàn cân treo sợi tóc”, điều lo lắng kia nhiều khả năng thành

sự thực đã đẩy ông vào tâm trạng thảng thốt, vì vậy mới mơ thấy cha nhiều đến thế

Ngoài tình yêu, chữ hiếu với cha mẹ, ở Cao Bá Nhạ còn nổi bật lên tình yêu quê hương tha thiết Bởi tình yêu thương con người ở Cao Bá Nhạ không tách rời tình yêu quê hương đất nước, nơi mà con người đang bị chà đạp, đày ải Do đó tình yêu quê hương đất nước là một yếu tố tư tưởng mạnh

mẽ trong sinh hoạt tinh thần của Cao Bá Nhạ Những năm lánh ẩn quê người, ông xót xa nghĩ đến nơi “chôn nhau cắt rốn” của mình

Những kỉ niệm thân yêu khắc sâu vào một thân cây, in hằn vào một cành lá đã làm cho hình ảnh quê hương mang nặng tình yêu của những người thân thích:

Phần du nẻo Bắc ngừng trông Nước non cách mấy mươi trùng xa xa Càng xa cách quê nhà nhất lại là lúc ông bị bắt bớ giam cầm thì lòng nhớ nhung những người thân thích nơi quê nhà càng trở nên thiết tha:

Trang 35

Nguyễn Ngọc Ánh 35 K32C - Ngữ Văn

Hơi may heo hút từ đây Giang nam phong vị độ này ra sao?

Quê hương đã trở thành điểm tựa tinh thần của Cao Bá Nhạ cho nên

dù đã xa quê lâu ngày nhưng hình ảnh quê hương vẫn hiện lên khắc khoải trong lòng thi nhân Bên cạnh tình yêu thiết tha với quê hương ở Cao Bá Nhạ còn có tấm lòng yêu thiên nhiên sâu sắc, mãnh liệt Tình yêu quê hương đất nước gắn liền với tình yêu thiên nhiên với khung cảnh sinh hoạt của những người thân thích của chính bản thân mình Và ở Cao Bá Nhạ tình yêu thiên nhiên còn mang một màu sắc riêng Với những người sản xuất nông nghiệp, tác động vào thiên nhiên để bắt nó phục vụ cho đời sống của mình thì tạo vật chủ yếu là đồng lúa, nương khoai, bãi dâu, vạt sắn, là vòm trời bến nước, bờ sông… là tất cả những gì gắn bó với lao động sản xuất, mùa màng Trái lại, đối với một người “ đổi mùi lữ khách thay hình hàn nho” thoát li sản xuất như Cao Bá Nhạ thì thiên nhiên chủ yếu là những vườn hoa cây cảnh mà tự tay ông vun xới:

Mấy phen điểm xuyết sơn hà Cúc mười lăm khóm, mai và bốn cây Hay:

Vườn thược dược thâu mòn cửa trúc Dãy ba tiêu chen chúc song hồ Thiên nhiên trở thành người bạn tâm tình trong cuộc sống cô tịch nhiều mất mát của Cao Bá Nhạ, giúp ông vượt qua những đau đớn về tinh thần để

có thêm nghị lực sống, đối diện với những khó khăn và gian nguy Và tình yêu thiên nhiên cũng chính là một biểu hiểu rõ nét khắc họa đời sống tinh thần phong phú của Cao Bá Nhạ

Có thể nói bằng những câu thơ đậm chất trữ tình, chúng ta cảm nhận được tình cảm cũng như đời sống tinh thần rất phong phú của nhà Nho Cao

Trang 36

Nguyễn Ngọc Ánh 36 K32C - Ngữ Văn

Bá Nhạ để từ đấy ta càng cảm thông trân trọng tâm hồn và tư tưởng của ông

Ở đó ta vừa thấy một Cao Bá Nhạ - con người văn nhân nghèo hèn nhưng lại thiết tha yêu cuộc sống và chỉ có một cầu mong nhỏ nhoi là được giải oan trở

về với đời từ trong ngục Mặt khác, đấy cũng lại là một con người không chịu đánh mất bản chất trung thực bất luận hoàn cảnh bi thảm đến thế nào Một người quyết bảo vệ mình và tận trong sâu kín vẫn khéo léo giữ gìn, không vi phạm đến hào quang của người chú mà cả dòng họ Cao cũng như biết bao người đương thời ngưỡng mộ

Toàn bộ nội dung của Tự tình khúc là một dòng tâm sự triền miên nhiều buồn đau và nước mắt Nếu ai đã từng là nạn nhân oan ức của một chế

độ chính trị hắc ám, đen tối thì có lẽ khi đọc đến Tự tình khúc đều phải âm thầm rơi lệ Ở đó là những lời huyết lệ chân thành, sâu sắc cho nên tác giả không cần dùng các khẩu hiệu phản phong mà khi đọc tác phẩm chúng ta đều đau xót ngẩn ngơ, căm hờn mãnh liệt Một tấm lòng oan khổ của người xưa, một bản hắc thư vạch hết tội ác của pháp luật vương chiều và ngày nào mà xã hội còn có những áng từ điên đảo, oan khiên, ngày ấy Cao Bá Nhạ còn có những người bạn đồng tâm tri kỉ Âm thanh của ngâm khúc còn ngân vang trên lớp sóng phế hưng, lớp sóng đã làm cho vương chiều sụp đổ:

Một đêm châu lệ rơi trên gối Đau suốt ngàn thu tiếng đoạn trường

2.2 Giá trị nghệ thuật

2.2.1 Nghệ thuật miêu tả tâm trạng

Như chúng ta đã biết nghệ thuật miêu tả tâm trạng là một biện pháp được sử dụng rất nhiều trong văn chương Việt Nam từ xưa đến nay Từ Truyện Kiều của Nguyễn Du cho đến thơ ca Nguyễn Khuyến hay các nhà thơ mới như Huy Cận, Xuân Diệu… đều sử dụng nó như một phương thức để biểu đạt thế giới tâm hồn, tư tưởng của mình Ở đây Cao Bá Nhạ cũng đã kế

Trang 37

Nguyễn Ngọc Ánh 37 K32C - Ngữ Văn

thừa và phát huy thành công bút pháp nghệ thuật độc đáo đó Trong những ngày bị giam cầm, trốn tránh nay đây mai đó tâm hồn của Cao Bá Nhạ là một chuỗi sầu dài và ông đã kí thác niềm tâm sự ấy vào cảnh vật thiên nhiên, coi cảnh vật thiên nhiên như một người bạn tri âm để cùng ông trải qua muôn vàn cay đắng, tủi hờn của cuộc đời

Bản thân là một nhà Nho cho nên thiên nhiên với Cao Bá Nhạ không phải là thiên nhiên nơi đồng nội gắn liền với đời sống lao động của người nông dân mà là thiên nhiên của những hoa cỏ, cây lá, nó gắn bó khăng khít với đời sống tinh thần của ông Và thiên nhiên dưới con mắt của nhà Nho không phải là sự vật vô tri vô giác mà là một sinh thể có linh hồn, là người bạn tâm giao mà ông rất mực nâng niu, trân trọng

Do đó mà chúng ta có thể thấy nghệ thuật miêu tả tâm trạng trong Tự tình khúc được thể hiện trước hết ở bút pháp tả cảnh ngụ tình

Trong những năm sống ẩn dật ở vùng Hương Sơn, Cao Bá Nhạ đã hướng đến một cuộc sống nhàn nhạ của hoa cỏ, gió trăng của tạo vật thiên nhiên xung quanh mình:

Mấy phen điểm xuyết sơn hà Cúc mười lăm khóm, mai và bốn cây

Và vì quyến luyến với hoa từ trước đến nay cho nên khi bị bắt, Cao Bá Nhạ cũng không khỏi ngậm ngùi nhớ lại lúc chăm nom vun tưới các cành hoa

Trông hoa luống nặng tình xưa Cao Bá Nhạ là nhà Nho có cuộc đời bất hạnh cho nên từ nỗi buồn của tâm trạng đã truyền sang thấm đẫm vào cảnh vật Nhìn các cành hoa mà ông liên tưởng đến cuộc đời trốn tránh cửa mình

Tiếc hoa luống ngại nắng mưa dãi dầu

Trang 38

Nguyễn Ngọc Ánh 38 K32C - Ngữ Văn

Rồi thấy cảnh chia li xa cách đã tới, những cành hoa kia từ nay thiếu người chăm nom săn sóc, sẽ tàn úa dần dần và một ngày kia khô héo, mà ông liên tưởng đến quãng đời mình từ nay mất tự do và không biết số phận sẽ đưa ông đi về đâu Người và hoa giống như một tri âm, để rồi sụt sùi cảm thương cho hoa cũng là cảm thương cho số phận của chính mình vậy

Để khuây khỏa trăm sầu ngàn giận Những sụt sùi thở ngắn than dài Thương cho thân thế gặp cảnh gian nan, lo ngại cho tương lai không vững chắc và ngày nay sắp phải tù tội phải xa cách mọi người thân yêu và nhất là vườn hoa cây cảnh, tâm hồn của nhà Nho luôn thổn thức những mối sầu Nhìn cảnh vật thiên nhiên mà Cao Bá Nhạ cảm thấy được niềm đau đang dàn trải đến cùng cực, thiên nhiên cũng đang nhỏ lệ đau đớn như ông:

Lay ngọn cúc gió dằn lăn lóc Thấm cành mai sương khóc chan hòa Trông hoa đau đớn cùng hoa

Ai ngờ từ đó hóa ra vô tình Đọc những câu thơ của Cao Bá Nhạ thì có lẽ ai cũng cảm nhận được mối thân tình sâu sắc giữa hoa và người Nhân vật trữ tình xót xa, đau đớn bao nhiêu thì hoa cỏ, thiên nhiên cũng tan nát héo úa bấy nhiêu Cảnh và tình dường như đã hòa làm một, để cùng nhau chia sẻ những tâm tư, tình cảm Đối với một người không có tâm hồn nghệ sĩ thực khó mà tìm được những điều thảm thiết vì lòng rung cảm trước cảnh đẹp thiên nhiên đến vậy Thi sĩ đã say

mê trước cảnh đẹp của mấy khóm hoa và hình như hoa đang cùng ông ấp ủ những nỗi lòng thầm kín, cũng đau nỗi đau mà ông phải chịu đựng

Người đau phong cảnh cũng buồn Trông gầy như trúc, cúc mòn như mai

Trang 39

Nguyễn Ngọc Ánh 39 K32C - Ngữ Văn

Những tính từ “gầy”, “mòn” diễn tả các trạng thái của cảnh vật chính là sự khẳng định sâu sắc mối thâm tình giữa cảnh vật và con người Trong những ngày đau thương của cuộc đời, Cao Bá Nhạ đã tìm đến thiên nhiên như một niềm an ủi, một sự sẻ chia Hoa tuy vô tình nhưng cũng cảm thông, giao cảm với tâm hồn nghệ sĩ Cây và hoa cũng nhuốm cái đau đớn đến tột cùng của nhân vật trữ tình Và đúng như Nguyễn Du đã từng miêu tả:

Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu, Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ

Như vậy việc vận dụng bút pháp tả cảnh ngụ tình là một ưu thế để khắc họa tâm sự buồn đau của chủ thể trữ tình Đó cũng chính là sự tiếp thu, vận dụng sáng tạo bút pháp của cha ông xưa

Ngoài sự gắn bó, Cao Bá Nhạ còn cảm thấy vườn hoa như cũng có một linh hồn để có thể ràng buộc được tỏ lòng ông, khiến ông phải nghẹn ngào:

Vì hoa cách mặt cho người thương tâm

Bị giam cầm nơi ngục thất mà còn dám thương nhớ, tưởng tượng đến hoa, đã cho thấy một tâm hồn nghệ sĩ lớn Bởi nếu không có một tâm hồn nghệ sĩ để có thể lãng quên ngoại cảnh trong niềm hồi cảm thì có lẽ không ai

có đủ can đảm bộc lộ tình cảm như ông Thiên nhiên đã trở thành một bộ phận khăng khít để qua đó ông gửi gắm, chia sẻ những bất hạnh của cuộc đời mình Để rồi trong những ngày thất vọng bi đát, đau đớn ê chề nhất, nghĩ đến gia đình, quê quán ông cũng không quên thăm hỏi những người bạn chí thân ấy:

Non đông tin tức cách ngần Tường vi rầy đã mấy lần khai hoa

………

Nhắn hỏi tiễn xuân la mấy khóm

Vẻ tiên hồng trang điểm dường nào

Trang 40

Nhờ trận gió gửi thư thăm hỏi Mượn bóng trăng giải nỗi ân cần Hay:

Rắp mượn cá đem thư nhắn hỏi Thoát nghe chim tựa gối ngẩn ngơ

Có thể nói thiên nhiên đối với Cao Bá Nhạ là một bộ phận khăng khít với đời sống tinh thần Trong những ngày đau thương, tang tóc, thất vọng dồn dập ông đã coi nó như một người bạn thân yêu, vỗ về nỗi lòng đau khổ của ông Đó là cây, là hoa, là lá, là trăng gió, mây… nhưng đó cũng không phải là những màu sắc, thanh âm của một ông Chu Mạnh Trinh hay những đường nét, hình thể của một bà Hồ Xuân Hương hay là những dấu hiệu khách quan của một quy luật tự nhiên dính líu đến sản xuất như trong ca dao, tục ngữ Mà thiên nhiên trong thơ Cao Bá Nhạ là những tri âm tri kỉ là nơi ông gửi gắm mối sầu, nơi ông trút bỏ những đau đớn của kiếp người và đặc biệt thông qua thiên nhiên mà chúng ta hiểu được tâm hồn, tư tưởng và cốt cách Nho sĩ của Cao Bá Nhạ Và ở đây nếu lắng tai nghe ta nhận thấy rõ rệt những thổn thức của một trái tim, những nhịp điệu lên xuống của một tâm hồn

Như vậy qua việc phân tích, tìm hiểu biện pháp tả cảnh ngụ tình chúng

ta thấy được nghệ thuật miêu tả tâm trạng rất sắc nét mà Tự tình khúc và Cao

Bá Nhạ đạt được

Ngày đăng: 29/06/2020, 13:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Dương Quảng Hàm (1989), Việt Nam thi văn hợp tuyển, NXB Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam thi văn hợp tuyển
Tác giả: Dương Quảng Hàm
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
Năm: 1989
5. I. U M. Lot man (2004), Cấu trúc văn bản nghệ thuật, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấu trúc văn bản nghệ thuật
Tác giả: I. U M. Lot man
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
10. Nhiều tác giả (1992), Từ điển tiếng Việt, Nhà in Trần Phú TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nhà in Trần Phú TP Hồ Chí Minh
Năm: 1992
12. Nhiều tác giả (2003), Thơ ca Việt Nam hình thức và thể loại, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ ca Việt Nam hình thức và thể loại
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
Năm: 2003
13. Nhiều tác giả (1958), Tự tình khúc và Trần tình văn, NXB Văn Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự tình khúc và Trần tình văn
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: NXB Văn Hóa
Năm: 1958
1. Ngô Văn Đức (1996), Ngâm khúc – quá trình hình thành, phát triển và thi pháp thể loại, Luận án P.T.S khoa học Ngữ Văn, Hà Nội Khác
2. Nguyễn Thạch Giang (1993), Khảo cứu giới thiệu Những khúc ngâm chọn lọc – NXB Khoa học – ĐHCN Khác
3. Gurêvich (1998), Các phạm trù văn hóa trù văn hóa trung cổ, NXB Giáo dục Khác
6. Đoàn Ánh Loan (2003), Điển cố và nghệ thuật sử dụng điển cố, NXB Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh Khác
7. Nguyễn Đăng Na (giới thiệu và tuyển chọn) (1997), Văn học trung đại Việt Nam - Tập1, NXB Đại học Sư phạm Khác
8. Phạm Thế Ngữ (1997), Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, NXB Đồng Tháp Khác
9. Nhiều tác giả (2000), Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Đại học Quốc gia Khác
11. Nhiều tác giả (1992), Về con người cá nhân trong văn học cổ, Hà Nội Khác
14. Phan Diễm Phương (1996), Thử tìm hiểu điều kiện hình thành hai thể thơ lục bát và song thất lục bát, TCVH, Số3 Khác
15. Vũ Tiến Quỳnh (tuyển chọn và trích dẫn những bài phê bình) (1998), Nguyễn Công Trứ - Cao Bá Quát - Cao Bá Nhạ, NXB Văn nghệ TP Hồ Chí Minh Khác
16. Trần Đình Sử (1996), Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam từ góc nhìn thể loại, NXB Giáo dục Hà Nội Khác
17. Lã Nhâm Thìn (2009), Phân tích tác phẩm văn học trung đại Việt Nam từ góc nhìn thể loại, NXB Giáo dục Việt Nam Khác
18. Nguyễn Quảng Tuân (khảo đính và chú giải) (1997), Tổng tập văn học Việt Nam - tập 13 B, NXB KHXH, Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w