1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn sư phạm Khảo sát cấu trúc tin trong cặp thoại Hỏi - Đáp trên ngữ liệu một số sáng tác của nhà văn Chu Lai

97 60 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nếu như cấu trúc nghĩa miêu tả quan tâm đến các vị tố và các tham thể của sự tình, cấu trúc ngữ pháp quan tâm đến các thành phần ngữ pháp cùng với các kiểu cấu tạo ngữ pháp của câu thì c

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong cộng đồng xã hội, giữa con người với con người luôn diễn ra hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ với hai hình thức là: Giao tiếp đối thoại và giao tiếp đơn thoại, trong đó hình thức giao tiếp đối thoại được sử dụng thường xuyên hơn Khảo sát hiện tượng này ta có thể thấy được một số đặc trưng cơ bản của giao tiếp hội thoại

Ngôn ngữ học hiện nay đã xem xét câu ở ba bình diện: kết học, nghĩa học và dụng học Ở bình diện nghĩa, câu có cấu trúc nghĩa miêu tả (biểu hiện)

Ở bình diện ngữ pháp, câu có trúc ngữ pháp Ở bình diện sử dụng trong giao tiếp câu có cấu trúc tin Nếu như cấu trúc nghĩa miêu tả quan tâm đến các vị

tố và các tham thể của sự tình, cấu trúc ngữ pháp quan tâm đến các thành phần ngữ pháp cùng với các kiểu cấu tạo ngữ pháp của câu thì cấu trúc tin chỉ quan tâm đến phần thông tin của câu, chủ yếu là tin cũ (tin đã biết) và tin mới (tin cần biết)

Trong quá trình giao tiếp, người tham gia giao tiếp ít chú ý xem phát ngôn mình nhận là loại câu gì, bao gồm những thành phần câu nào, đâu là chủ ngữ, vị ngữ mà thường chỉ quan tâm đến ý nghĩa của phát ngôn, những tin mới và bổ ích, cần thiết đối với mình Như vậy, xét trên bình diện ngữ dụng, đặc biệt là mục đích thì yếu tố quan trọng không phải là cấu trúc ngữ pháp hay cấu trúc vị từ tham thể mà là cấu trúc tin

Đời sống của nền Văn học nước ta những năm gần đây diễn ra rất sôi động, phần nào đã đáp ứng được thị hiếu của người đọc và phần nào góp phần vào xu thế chung của xã hội: xu thế hội nhập Đặc biệt những nhà văn đương đại như: Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Huy Thiệp, Chu Lai, Lê Lựu, Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ, Thùy Linh … họ đã cho ra đời một khối lượng tác phẩm đồ sộ, mang những nội dung nóng bỏng của xã hội đương thời Bên

Trang 2

cạnh đó, những sáng tác đó còn đem lại một luồng gió mới, một phong cách mới, một sức sống mới cho nền văn học nước nhà Chu Lai là một trong những nhà văn tiêu biểu và xuất sắc trong những nhà văn đương đại, hầu như các sáng tác của ông đều rất thành công khi lách sâu vào các góc cạnh của đời sống xã hội đương thời Ngoài ra, những tác phẩm của ông còn mang đậm tư tưởng nhân đạo, nhân văn và tinh thần xã hội chủ nghĩa

Nhìn chung những sáng tác của Chu Lai đã được nhìn nhận, đánh giá, phê bình theo nhiều chiều hướng nghiên cứu khác nhau Nhưng áp dụng lý thuyết ngôn ngữ học hiện đại để tìm cái hay, cái mới, cái riêng, cái lạ, độc đáo trong các sáng tác của ông mà cụ thể là lý thuyết về cấu trúc tin trong cặp thoại hỏi - đáp là vấn đề cần thiết và có tính mới mẻ

Vì những lẽ đó mà đề tài: “Khảo sát cấu trúc tin trong cặp thoại hỏi - đáp trên một số sáng tác của nhà văn Chu Lai” tôi chọn làm đề tài của khóa luận này

2 Lịch sử vấn đề

Lý thuyết về cấu trúc tin (còn gọi là cấu trúc thông tin) là một vấn đề đã được các nhà ngôn ngữ học thế giới nghiên cứu từ những năm nửa cuối thế kỷ XIX và đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể Cho đến nay, lý thuyết về cấu trúc tin vẫn đang là một vấn đề phức tạp trong đời sống ngôn ngữ học Trước tiên là công trình nghiên cứu của tác giả Lý Toàn Thắng với bài viết “Giới thiệu về lý thuyết phân đoạn thực tại của câu” (tạp chí ngôn ngữ số 1 năm 1981) Trong bài viết, tác giả chủ yếu giới thiệu về sự phân đoạn chủ đề - thuật đề của sự phân đoạn thực tại câu Tác giả chỉ ra hai cách hiểu về hai thành phần trên như sau: (a) Tác giả cho rằng chủ đề là cái vào thời điểm giao tiếp người nghe đã biết (hoặc đoán được) nhờ vào ngữ cảnh hoặc vốn tri thức chung Còn thuật đề là cái mới, cái chưa biết … (b) Tác giả cho rằng chủ đề là cái nói đến, được nêu rõ làm đề mục của câu Theo cách hiểu thứ hai này, chủ

Trang 3

đề và thuật đề thì cái đã biết và cái mới không liên quan đến sự phân đoạn thực tại câu mà liên quan đến cấu trúc từ vựng ngữ nghĩa của câu Tiếp đó, tác giả còn khẳng định: “Xu thế chung của các nhà nghiên cứu là đi theo cách hiểu thứ hai, bởi lẽ ngữ liệu của các ngôn ngữ cho thấy: thường thì chủ đề trùng với cái đã biết nhưng cũng có khi nó lại là cái chưa biết, là thông tin mới Ngược lại, tuy thuật đề thường trùng với cái chưa biết nhưng cũng có khi nó lại trùng với cái đã biết, là thông tin cũ”[48] Tuy đó là những kiến thức lý thuyết không trực tiếp với lý thuyết về cấu trúc tin nhưng qua sự phân tích giữa chủ đề và cái đã biết và thuật đề với cái chưa biết, tác giả bài viết cũng phần nào giúp người đọc có những hình dung ban đầu về cấu trúc tin Tiếp đó là công trình nghiên cứu: “Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt” của tác giả Trần Ngọc Thêm (Nxb KHXH, Hà Nội, 1985; Nxb.Giáo dục, Hà Nội, 1999), có trình bày sâu hơn về vấn đề cấu trúc tin của câu Theo tác giả, các phát ngôn hoàn chỉnh về cấu trúc trên văn bản bao giờ cũng được chia thành hai phần rõ rệt theo cách mà lý thuyết phân đoạn thực tại đã xác lập: Phần nêu (cái đã biết) và phần báo (cái mới) Chúng ta sẽ gọi phân đoạn này

là phân đoạn thông báo (phân đoạn ngữ nghĩa) Tác giả cho là sẽ sai lầm nếu đồng nhất cặp “chủ đề - thuật đề” với cặp “nêu - báo” vì cặp này là sự phân đoạn thông báo được áp dụng với từng phát ngôn cụ thể trong vị trí thực tại của nó ở một văn bản cụ thể Còn “chủ đề - thuật đề” là sự phân đoạn nội dung với các mô hình áp dụng cho từng loại phát ngôn Cấu trúc “nêu - báo” liên quan nhiều đến hiện thực, còn cấu trúc “chủ đề - thuật đề ” thì liên quan nhiều đến ngữ pháp

Ngoài hai công trình nghiên cứu của hai tác giả trên còn có công trình nghiên cứu của tác giả Cao Xuân Hạo và những người cộng tác khi viết về ngữ pháp chức năng “Tiếng Việt sơ thảo chức năng” (Nxb KHXH, Hà Nội, 1991) Trong công trình này, tác giả đã đề cập đến cấu trúc thông báo của

Trang 4

phát ngôn nói chung Ông chỉ ra: cái “cũ” hay cái “cho sẵn” là cái mà người nói căn cứ vào tình huống của cuộc đối thoại mà ước đoán là đang có mặt trong ý thức của người nghe lúc mình sắp nói Còn cái “mới” mà người nói cho là không có mặt trong ý thức của người nghe lúc bấy giờ Đồng thời, tác giả chỉ ra sự khác biệt giữa cấu trúc “đề - thuyết” và cấu trúc tin - một vấn đề gây không ít tranh cãi trong ngôn ngữ học

Vấn đề cấu trúc tin: cấu trúc cho sẵn - mới (cũ - mới) được trình bày thống nhất trong các công trình nghiên cứu về ngữ dụng và ngữ pháp tiếng Việt như: Nguyễn Đức Dân (Ngữ dụng học tập 1, Nxb Giáo dục, 1998) , Đỗ Hữu Châu (Giản yếu về dụng học - Giáo trình Đại học từ xa, 1990), Nguyễn Thiện Giáp (Dụng học Việt ngữ, 2000), Nguyễn Thị Thúy (2001), Luận văn Thạc sĩ (Cấu trúc thông báo của câu trả lời trực tiếp cho câu hỏi chính danh), Diệp Quang Ban (2005) “Ngữ pháp tiếng Việt”, Bùi Minh Toán, Nguyễn Thị Lương (2007) “Giáo trình ngữ pháp tiếng Việt”, Bùi Thị Bình (2008) “ Luận văn Thạc sĩ: Cấu trúc đề thuyết và cấu trúc tin trong ca dao tình nghĩa”

Như vậy, điểm qua các công trình nghiên cứu trong nước liên quan đến

đề tài đã được công bố trong những năm gần đây Ta có thể thấy được những quan điểm về cấu trúc tin đã nêu trên là nền tảng ban đầu về mặt lý thuyết cho tôi nghiên cứu về cấu trúc tin trong cặp thoại hỏi - đáp

3.Mục đích nghiên cứu

Hệ thống các kiến thức về lý thuyết hội thoại, lý thuyết hành vi ngôn ngữ

và lý thuyết về cấu trúc tin

Nắm vững và hiểu rõ hơn cấu trúc tin trong các cặp thoại hỏi - đáp đặc biệt trong một số sáng tác của nhà văn Chu Lai

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Tổng hợp các vấn đề lý thuyết: hội thoại, hành vi ngôn ngữ, cấu trúc tin

Trang 5

4.2 Khảo sát, phân tích cấu trúc tin trong câu hỏi chính danh

4.3 Khảo sát, phân tích cấu trúc tin trong câu hỏi trực tiếp và trả lời gián tiếp 4.4 Phân tích tìm ra cách tổ chức cấu trúc tin linh hoạt của tác giả Chu Lai trong một số sáng tác của ông

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là khảo sát cấu trúc tin: tin cũ và tin mới trong các đoạn thoại trên một số sáng tác của nhà văn Chu Lai

5.2 Phạm vi nghiên cứu

Giới hạn phạm vi nghiên cứu của khóa luận là: Nghiên cứu, nhận diện,

mô tả cấu trúc tin trong cặp thoại hỏi - đáp tiếng Việt thuộc những đoạn thoại được chọn, bao gồm: các cặp thoại kế cận và các cặp thoại chêm xen

Phạm vi khảo sát ngữ liệu của khóa luận là các cặp thoại hỏi - đáp được chọn trong các sáng tác của nhà văn Chu Lai

6 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp hệ thống, thống kê những ngữ liệu từ một số sáng tác của nhà văn Chu Lai

- Phương pháp phân tích cấu trúc tin trong ngữ cảnh

- Phương pháp so sánh, đối chiếu để làm nổi bật sự khác biệt giữa các kiểu cấu trúc tin với các kiểu câu phân loại theo cấu trúc tin

- Phương pháp tổng hợp

7 Đóng góp của khóa luận

- Thực hiện khóa luận này, tôi muốn được góp phần vào việc khẳng định tính đúng đắn của việc áp dụng lý thuyết ngôn ngữ vào nghiên cứu văn học Đồng thời tôi hy vọng khóa luận này sẽ góp phần vào việc hoàn thiện khuynh hướng nghiên cứu tích hợp giữa ngôn ngữ và văn học

Trang 6

- Giới thiệu một số sáng tác của nhà văn Chu Lai, đồng thời qua việc khảo sát cấu trúc tin trong cặp thoại hỏi - đáp ở một số sáng tác của nhà văn Chu Lai sẽ giúp tôi cũng như bạn đọc thấy được phương pháp cũng như cách thức độc đáo trong cách đặt cặp thoại hỏi - đáp trong sáng tác của nhà văn

8 Bố cục của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và các phần tài liệu tham khảo, phần phụ lục thì bố cục của khóa luận còn có phần nội dung, phần nội dung gồm có:

Chương 1: Cơ sở lý thuyết (19 trang)

Chương 2: Cấu trúc tin của câu hỏi chính danh (12 trang)

Chương 3: Cấu trúc tin của câu trả lời trực tiếp và câu trả lời gián tiếp (44 trang)

Trang 7

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Lý thuyết về hành động ngôn ngữ

1.1.1 Khái quát về hành động ngôn ngữ

Trong hoạt động của cuộc sống, con người thực hiện nhiều hành động khác nhau, có hành động vật lý (đi, ăn, ngủ), có hành động tinh thần (suy nghĩ, tư duy) và một hành động đặc biệt đó là hành động ngôn ngữ

Người đầu tiên phát hiện ra bản chất của hành động trong lời nói được phát ra là nhà triết học người Anh J.L.Austin Theo ông: “một hành động ngôn ngữ được thực hiện khi người nói (hoặc người viết) SP1: nói ra một phát ngôn U cho người nghe (hoặc người đọc) SP2: trong một ngữ cảnh” Lý thuyết về hành động ngôn ngữ của Austin sau đó được nhiều nhà ngôn ngữ học trên thế giới kế tục và trở thành xương sống của ngành ngữ dụng học Austin cho rằng có 3 loại hành động ngôn ngữ lớn: Hành động tạo lời, hành động mượn lời và hành động ở lời

Hành động tạo lời là hành động sử dụng những yếu tố ngôn ngữ như ngữ

âm, từ, các kiểu kết hợp từ để tạo thành câu tạo ra các phát ngôn về hình thức

và nội dung

Hành động mượn lời là hành động mượn phương tiện ngôn ngữ, các phát ngôn để gây ra một hiệu quả ngoài ngôn ngữ nào đó ở người nghe, người nhận hoặc chính người nói Hiệu quả của hành động mượn lời rất phân tán, không thể tính toán được vì chúng không có quy ước

Hành động ở lời là những hành động của người nói thực hiện ngay khi nói năng Hiệu quả của chúng là những hiệu quả thuộc ngôn ngữ, có nghĩa là chúng gây ra phản ứng ngôn ngữ tương ứng với người nhận Khác với hành động mượn lời hành động ở lời có ý định (đích) có quy ước và thể chế, dù quy ước và thể chế của chúng không hiển ngôn mà quy tắc vận hành của chúng

Trang 8

được mọi người trong cộng đồng tuân theo một cách tự giác O.Ducrot có bổ sung thêm quan niệm của Austin về sự khác biệt của mượn lời và mở lời như sau: “hành động mượn lời khác hành động ở lời ở chỗ chúng làm thay đổi tư cách pháp nhân của người đối thoại, chúng đặt người nói và người nghe vào quyền lợi và nghĩa vụ mới so với tình trạng trước khi thực hiện hành động ở lời đó”

1.1.2 Hành động hỏi và hành động trả lời

Theo lý thuyết của về hành động ngôn ngữ thì khi chúng ta hỏi hay trả lời là chúng ta đang thực hiện hành động ngôn ngữ Hành động hỏi và hành động trả lời thuộc hành động ở lời Để phân loại hành động ở lời, Sealer đã dựa vào 12 tiêu chí, trong đó có 4 tiêu chí quan trọng là: đích ở lời, hướng khép lời hiện thực, trạng thái tâm lý và nội dung mệnh đề Trên cơ sở các tiêu chí phân loại như vậy Sealer phân lập được 5 loại hành động ở lời Đó là các hành động:

Xác tín (assertives): Đích ở lời là miêu tả một sự tình đang được nói đến Hướng khớp - ghép là lời hiện thực Trạng thái tâm lý là niềm tin vào điều mình xác tín Nội dung mệnh đề là một mệnh đề Mệnh đề này có thể đánh giá theo tiêu chuẩn đúng sai, lôgic Các hành động như giải thích, chứng minh, nhận xét thuộc nhóm này

Điều khiển (directives): Đích ở lời là đặt người nghe vào trách nhiệm thực hiện một hành động tương lai Hướng khớp - ghép là hiện thực - lời Trạng thái tâm lý là mong muốn của SP1 nội dung mệnh đề là hành động tương lai của SP2 Các hành động như yêu cầu, hỏi, khuyên thuộc nhóm này Cam kết (Commisives): Đích ở lời là phải thực hiện hành động ở tương lai mà SP1 bị ràng buộc, hướng khép là hiện thực lời Trạng thái tâm lý là ý định của SP1 Nội dung mệnh đề là hành động tương lai của SP2 Các hành động như yêu cầu, hỏi, khuyên… thuộc nhóm này

Trang 9

Biểu cảm (expressives): Đích ở lời là lời bày tỏ trạng thái tâm lý phù hợp với hành động ở lời Hướng khớp ghép vừa là lời - hiện thực vừa là hiện thực

- lời Nội dung mệnh đề là một mệnh đề Các hành động như tuyên bố, buộc tội thuộc nhóm này

Theo cách thực hiện các hành động ngôn ngữ các nhà nghiên cứu còn phân biệt hành động ngôn ngữ trực tiếp và hành động ngôn ngữ gián tiếp Hơn nữa trong hội thoại, căn cứ vào lượt người, còn có sự phân biệt hành động dẫn nhập và hành động hồi đáp thì hành động hồi đáp có 2 loại: Hành động hồi đáp trực tiếp và hành động hồi đáp gián tiếp

Hành động hồi đáp trực tiếp thuộc hành động ngôn ngữ trực tiếp và hành động hồi đáp gián tiếp là hành động ngôn ngữ gián tiếp Theo tác giả Đỗ Hữu Châu những hành vi ngôn ngữ chân thực có nghĩa là các hành vi thực hiện đúng với các điều kiện sử dụng đúng với cái đích ở lời của chúng và trong thực tế sử dụng ngôn ngữ và nhiều lý do người nói sử dụng hành động ngôn ngữ này nhưng lại nhằm đến hiệu quả ở lời của một hành động khác Đây chính là hành động ngôn ngữ gián tiếp

Năm phạm trù lớn của hành động ở lời theo cách phân lập của Sealer là

cơ sở để chúng tôi phân loại câu trả lời gián tiếp từ góc độ hành động ngôn ngữ và để xác định được phần tin mới trong câu trả lời gián tiếp (nội dung của chương 3)

Hành động hỏi và hành động trả lời làm thành một cặp thoại hỏi - đáp, trong đó hành động hỏi đóng vai trò dẫn nhập, hành động trả lời đóng vai trò hồi đáp

Ví dụ 1:

SP1 : Cái gì đau?

SP2 : Xương hông ông ấy tỳ vào đùi tao đau quá

(Chu Lai - Truyện ngắn “Một khái niệm tình yêu”)

Trang 10

Ở ví dụ trên, SP1 đưa ra một khái niệm chưa biết là bộ phận nào trên cơ thể bị đau “Cái gì?” với một hiệu lực ở lời là yêu cầu người nghe (SP2) phải trả lời vào điều cần biết Câu trả lời đã đáp ứng được yêu cầu thông tin chưa biết và thông tin còn thiếu hụt ở câu hỏi

Như vậy để đáp lại hành động dẫn nhập trong câu hỏi, hành động hồi đáp trong câu hỏi có thể diễn ra theo hai khả năng là hồi đáp trực tiếp và hồi đáp gián tiếp

1.2 Lý thuyết hội thoại

1.2.1 Cặp thoại

Hội thoại là hành động phổ biến nhất căn bản nhất của con người Đó là

sự giao tiếp 2 chiều có sự tương tác qua lại giữa người nói và người nghe với

sự luân phiên lượt lời Lý thuyết về hành động ngôn ngữ và lý thuyết về hội thoại cho rằng: trong hội thoại mỗi phát ngôn đều có mối quan hệ mật thiết với những phát ngôn trước và sau nó Nhưng phát ngôn đi trước có vai trò định hướng cho những phát ngôn đi sau; phát ngôn đi sau có vai trò hồi đáp

và phát triển cho phát ngôn đi trước

Ví dụ 3:

a, SP1: Anh gì ơi … anh cho em hỏi anh Hưởng có ở đây không ạ?

Trang 11

b, SP2: Hưởng nào? Người sĩ quan đeo băng đỏ nhìn lên, hạ một câu khá nặng

c, SP1: Dạ, em hỏi anh Hưởng đại … à thượng uý …

d, SP2: Ở đây thượng uý có cả trăm Thượng uý mãn tính

e, SP1: Anh Hưởng … Hưởng quê ở Anh Phú đấy ạ

f, SP2: À, Hưởng cao Vậy sao không nói trước, cậu ấy kia kìa !

(Chu Lai - Truyện ngắn “Chuyện tình của đại đội trưởng”) Trong cuộc hội thoại trên phát ngôn (a) định hướng cho cuộc hội thoại

“Anh Hưởng có ở đây không ạ?” Đáp lại phát ngôn (b) phát triển thêm

“Hưởng nào?” Định hướng cho phát ngôn sau đó Phát ngôn (c) hồi đáp và định hướng cho phát ngôn (b) và gợi mở cho phát ngôn (d) Phát ngôn (d) hồi đáp cho phát ngôn (c) và định hướng phát triển cho phát ngôn (e) Phát ngôn (e) hồi đáp phát ngôn (d) và phát triển thêm cho phát ngôn( c) và (d) Phát ngôn (f )hồi đáp cho phát ngôn (e) và khép lại cuộc thoại

Như vậy, các phát ngôn không đứng biệt lập với nhau mà phát ngôn này kéo phát ngôn kia Mỗi phát ngôn là một lượt lời, các cặp lời kế tiếp nhau làm lên các cặp thoại Tác giả Nguyễn Thiện Giáp trong cuốn “Dụng học Việt ngữ” quan niệm: “ Cặp thoại chỉ hiện tượng mỗi kiểu phát ngôn được tiếp theo bằng kiểu phát ngôn riêng Ví dụ: Hỏi - trả lời, chào - chào, trao - nhận Theo tác giả: “Cặp thoại là hai phát ngôn có mối quan hệ trực tiếp với nhau Hai phát ngôn của cặp thoại do những người nói khác nhau nói ra và có thể được gọi là vế thứ nhất và vế thứ hai Hai vế trong cặp liền kề nhau được gọi

là cặp kế cận”

Ví dụ 4:

SP1: Pháp luật gì ? SP2: Pháp luật bảo vệ rừng

( Chu Lai - Truyện ngắn “Dòng sông yên ả”)

Trang 12

Nhưng đôi khi phát ngôn trong một cặp thoại không liền kề nhau mà bị tách ra khỏi một cặp thoại khác Cặp thoại này được gọi là cặp thoại chêm xen

Ví dụ 5:

SP1: Biết tại sao anh nghĩ vậy không?

SP2: Biết đã không hỏi

SP1: Vì anh ghen Ghen với sự hạnh phúc và ấm êm của người khác Người lận đận nào cũng hay sinh tật khắt khe

(Chu Lai - “Vòng tròn bội bạc”) Đoạn trên gồm ba phát ngôn, phát ngôn (a) là một câu hỏi nhưng câu trả lời cho phát ngôn này không được trả lời liền kề ở phát ngôn (b) mà câu trả lời ở phát ngôn (c), phát ngôn (b) là phát ngôn chêm xen

Như vậy, cặp thoại là hai phát ngôn có quan hệ tương thích về chức năng, hai vế của cặp thoại có thể liền kề nhưng có thể cách xa nhau

Trước giáo sư Nguyễn Thiện Giáp trong cuốn “Đại cương ngôn ngữ học” giáo sư Đỗ Hữu Châu cũng đưa ra định nghĩa: “Cặp thoại là đơn vị lưỡng thoại nhỏ nhất do các tham thoại tạo nên” Số lượng các tham thoại là

cơ sở để phân biệt các cặp thoại Có nhiều loại cặp thoại (cặp thoại một tham thoại, cặp thoại hai tham thoại, cặp thoại ba tham thoại) Việc thống kê phục

vụ cho luận văn chủ yếu vào tập trung vào các cặp thoại hỏi - trả lời kế cận và chêm xen bao gồm hai tham thoại, nhưng khi phân tích trong luận văn thường đặt cặp thoại đó trong cuộc thoại

1.2.2 Cặp thoại hỏi và trả lời

1.2.2.1 Hỏi và trả lời các hành động tương tác hội thoại

Với lượt lời thứ nhất (lời hỏi) được thực hiện bởi vai người nói và hướng vào một giao tiếp xác định; lượt lời thứ hai (trả lời) được thực hiện bởi vai người nghe và hướng tới đối tượng chủ yếu là người hỏi Lượt lời thứ nhất -

Trang 13

lời hỏi - được gọi là câu hỏi; lượt lời thứ hai - trả lời được gọi là câu trả lời Khi đặt ra một câu hỏi thì người hỏi đang chờ đợi một thông tin nào đó từ phía người trả lời Như vậy, hành vi hỏi luôn diễn ra trước hành vi trả lời Có nhiều dấu hiệu để người tham gia giao tiếp dễ dàng nhận biết được lượt lời hỏi và lượt bắt đầu lượt trả lời của mình như: các đại từ nghi vấn, các tiểu từ chuyên dụng, ngữ điệu …

Ví dụ 6:

SP1: Bà ấy người ở đây hay người nơi khác đến ?

SP2 : Chắc là người ở đây, nghe giọng thì biết

Trong ví dụ trên, người hỏi đã sử dụng từ chuyên dụng “hay” để tạo ra lượt hỏi của mình Đó cũng là tín hiệu để người nghe bắt đầu lượt trả lời

Ngoài nguyên tắc luân phiên lượt lời, quy tắc cộng tác hội thoại cũng chi phối đến hành động hỏi và hành động trả lời Cái đích việc, một tình huống chưa biết hoặc chưa rõ Vì vậy, người hỏi và người trả lời đều tham gia cộng tác hội thoại để đưa cuộc thoại tới đích mong muốn

1.2.2.2 Mối quan hệ giữa câu hỏi và câu trả lời

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là khảo sát cấu trúc tin trong cặp thoại hỏi- đáp, chính vì vậy cần làm sáng tỏ mối quan hệ giữa câu hỏi và câu trả lời để thấy được sự gắn bó mật thiết chặt chẽ giữa chúng Chính sự gắn bó mật thiết này quy định cấu trúc tin của câu hỏi và câu trả lời bởi hỏi - trả lời

Trang 14

giải quyết mâu thuẫu “biết “ và “chưa biết” bằng thông tin mà câu trả lời cung cấp Nói đúng hơn hỏi và trả lời là hai mặt của một quá trình thống nhất là tiền đề tồn tại của nhau Mục đích của việc hỏi là mong được trả lời và mục đích của trả lời là làm sáng tỏ những gì mà mình chưa rõ, chưa biết cần biết ở câu hỏi Hỏi và trả lời cùng thực hiện một chức năng: chức năng giải thích

Để đạt được sự thông nhất về chức năng hỏi và trả lời phải có sự tương hợp như: Tương hợp về hiệu lực ở lời, tương hợp về nội dung mệnh đề, tương hợp về cấu trúc thông báo, tương hợp về tiền giả định

Ở sự tương hợp thứ nhất, tương hợp về hiệu lực ở lời, câu hỏi nêu thông tin bị thiếu hụt, câu trả lời đáp ứng, cung cấp thông tin thiếu hụt đó Qua hỏi

và trả lời mâu thuẫn giữa cái đã biết và cái chưa biết từ thông tin được giải quyết

Ví dụ 8:

SP1: Anh vô đây lâu chưa?

SP2: Tám năm (Chu Lai - Truyện ngắn “Kỉ niệm vùng ven”)

Ở ví dụ trên, SP1 đưa ra câu hỏi thông tin thiếu hụt và mong muốn SP2 cung cấp thông tin thiếu hụt đó SP1 đưa ra thắc mắc được biểu thị qua dấu hiệu “lâu chưa ?” - từ ngữ chuyên dụng Đáp ứng nhu cầu cung cấp thông tin giải đáp thắc mắc cho SP1, SP2 đã trực tiếp trả lời câu hỏi “lâu chưa ?” bằng

“Tám năm” Như vậy, câu trả lời mâu thuẫn giữa cái chưa biết và cái đã biết

về thông tin đã được giải quyết

Ở sự tương hợp thứ hai, tương hợp về nội dung mệnh đề Nội dung của câu hỏi và câu trả lời tương ứng với nhau theo quy luật: cả người hỏi và người trả lời đều cùng phải hướng tới một sự tình duy nhất ngoài hiện thực, với những thành tố hoàn cảnh đồng nhất được kết nối với nhau bằng quan hệ đồng nhất và cùng được đặt trong một hệ quy chiếu về không gian, thời gian

Trang 15

… để cùng hướng tới làm rõ một thông tin nào đó Vì vậy, cả người hỏi và người trả lời đều phải tuân thủ quy luật này Khi đưa ra câu hỏi, người hỏi đã

tự xác định và ấn định cho người trả lời nội dung thông tin mà người trả lời cần cung cấp Người trả lời cần phải cung cấp đúng thông tin mà người hỏi yêu cầu Câu trả lời có thể có cấu trúc đầy đủ hoặc lược bỏ một số thành phần nhất định không có giá trị cần thiết về mặt thông tin so với mục đích phát ngôn; hoặc cũng có thể trả lời bằng từ hoặc câu đặc biệt Dù có trả lời theo cách nào câu trả lời cũng phải hướng tới một nội dung mệnh đề nhất định

tỏ những điều mà mình cần

Trang 16

Ví dụ 11:

SP1 : Ba Sương nào?

SP2 : Ba Sương y tá của đội du kích

(Chu Lai - Ăn mày dĩ vãng)

Trong ví dụ trên, câu hỏi của SP1 yêu cầu SP2 cung cấp những thông tin còn thiếu hụt, thông tin thiếu hụt được xác định qua từ nghi vấn “nào?” Câu hỏi của SP1 có cấu trúc:

Tin đã biết Tin cần biết SP2 đã xác định được thông tin SP1 đã biết và thông tin thiếu hụt, SP2 cũng có chung nhưng tri thức đã biết nên câu trả lời đáp ứng được nhu cầu thông tin cần thiết cho SP1 Câu trả lời của SP2 có cấu trúc:

Ba Sương y tá của đội du kích

Có thể cấu trúc tin trong câu hỏi và câu trả lời ở ví dụ trên tương hợp nhau

Mối quan hệ thống nhất chặt chẽ của các cặp thoại hỏi - đáp (trả lời) cũng thể hiện rõ sự tương hợp của thông tin tiền giả định Người ta chỉ có thể trả lời cho câu hỏi đặt ra khi chấp nhận các tiền giả định chứa trong câu hỏi

đó Khi người trả lời phủ định tiền giả định trong câu hỏi thì cuộc hội thoại chuyển sang hướng mới

Ví dụ 12:

SP1: Một mình Krovan sử dụng à ? SP2: Một mình tôi thôi

(Chu Lai - Truyện ngắn “Người không đi qua hoàng cung”) Trong ví dụ trên, SP1 đặt một câu hỏi với một tiền giả định mà cả hai nhân vật giao tiếp đều hiểu được, tiền giả định được thể hiện qua từ “sử

Trang 17

dụng”- sử dụng khẩu B40.Vì hiểu được điều mà SP1 hỏi nên SP2 có câu trả lời phù hợp với mong muốn của SP1

Khái niệm tiền giả định đầu tiên được sử dụng trong lĩnh vực logic triết học trong công trình nghiên cứu của G Fege Luận văn chỉ đề cập đến phát ngôn nói chung và trong câu hỏi và câu trả lời nói riêng Tiền giả định là thành phần thông tin nằm trong ý nghĩa của câu nói với tư cách là cái không được diễn đạt, hiển ngôn, nhưng cái mà người nói và người nghe đều biết trước và đều phải thừa nhận trước là đúng

Tiền giả định trong câu hỏi và câu trả lời đều không phải là trọng tâm thông báo mà chỉ có tính chất là tiền đề thông báo Câu hỏi muốn được người trả lời đáp ứng đúng yêu cầu thông tin mà mình đòi hỏi thì phải dựa trên một tiền giả định đúng Nếu câu hỏi dựa trên tiền giả định sai thì sẽ không nhận được câu trả lời đúng yêu cầu

Ví dụ 13 :

SP1: Ông là công an hộ tịch đấy à ? SP2: Cái bà này … Hỏi cho biết, chả lẽ hàng xóm láng giềng tối lửa tắt đèn …

(Chu Lai - Truyện ngắn “Chỗ ấy có một ngôi nhà”) Khi đặt câu hỏi trên, người hỏi (SP1) dựa trên một tiền giả định : “Ông”

là công an Nhưng tiền giả định đó không đúng với thực tế lên nó bị phủ nhận ngay trong câu trả lời Cho nên câu trả lời chưa đáp ứng điều chưa biết của câu hỏi mà có tác dụng đính chính lại thông tin tiền giả định của câu hỏi Trong câu hỏi chính danh, bao giờ cũng có hai phần tin: tin đã biết và tin chưa biết Tiền giả định trong câu hỏi là cái mà người hỏi đã biết và mặc nhiên cho người trả lời cũng chấp nhận Tiền giả định thực chất là tin cũ, được dùng làm căn cứ để đặt câu hỏi

Trang 18

Trong câu trả lời cũng vậy, tiền giả định chính là tin cũ Câu trả lời dù có cấu trúc hai phần (tin đã biết và tin mới) hay cấu trúc một phần (tin mới) thì đều chứa tiền giả định Tiền giả định có thể xuất hiện trên bề mặt câu chữ nhưng cũng có thể ẩn đi trong ngữ cảnh

Những sự tương hợp nói trên cho ta thấy, hỏi và trả lời là một hệ thống thống nhất và biện chứng với nhau Câu trả lời quy định cấu trúc của câu hỏi

và ngược lại, câu hỏi đặt ra trên thực tế giả định trước, cấu trúc hoá trước những câu trả lời cho nó

1.2.3 Các dạng câu hỏi chính danh

1.2.3.1 Câu hỏi chính danh và câu hỏi không chính danh

Câu hỏi (câu nghi vấn) dùng để nêu lên điều chưa biết hoặc còn hoài nghi và chờ đợi sự trả lời, giải thích của người tiếp nhận câu đó

Câu hỏi chính danh được hiểu là những câu nghi vấn được dùng đúng mục đích trên, nghĩa là câu có hành động ngôn trung trực tiếp, có lực ngôn trung đồng nhất với mục đích nói của câu

Tác giả Cao Xuân Hạo cho rằng câu hỏi chính danh là: “những câu hỏi yêu cầu một câu trả lời thông báo về một sự tình hay một tham tố nào đó của

sự tình được tiền giả định là hiện thực” Như vậy là câu hỏi chính danh là câu hỏi nêu ra với mục đích là đòi hỏi được một câu trả lời đáp ứng được yêu cầu

về thông tin bị thiếu hụt

Câu hỏi không chính danh là câu hỏi có hành động ngôn trung không trực tiếp, lực ngôn trung không đồng nhất với mục đích nói của phát ngôn Đây là loại câu hỏi không yêu cầu cần phải có câu trả lời mà hỏi để nhằm mục đích khác như : khẳng định, phủ định, bộc lộ cảm xúc, phỏng đoán ngờ vực

Ví dụ 14: Anh có thể nhắc lại một lần nữa không ? ( câu cầu khiến)

(Chu Lai - Vòng tròn bội bạc)

Ví dụ 15: Chị biết nhiều nhỉ ? ( câu khẳng định)

Trang 19

(Chu Lai - Truyện ngắn “Một khái niệm tình yêu”)

Ví dụ 16: Chủ nhật mà đi đâu cả để nhà vắng vẻ thế này? (chào) (Chu Lai - Truyện ngắn “Dòng sông yên ả”)

1.2.3.2 Các loại câu hỏi chính danh

Có thể phân biệt câu hỏi chính danh thành một số loại nhỏ như sau: Câu

hỏi tổng quát, câu hỏi lựa chọn, câu hỏi chuyên biệt, câu hỏi giả thiết

1.2.3.2.1 Câu hỏi tổng quát

Câu hỏi tổng quát là dạng câu hỏi được sử dụng khi SP1 mới chỉ biết có

một sự tình sảy ra nhưng chưa biết một chi tiết nào về sự tình trong câu hỏi và

hỏi thăm về sự tình đó Khi trả lời câu hỏi dạng này SP2 phải dùng câu đầy đủ

các thành phần

Ví dụ 17:

SP1: Bị thương hồi nào vậy, Krovan?

SP2: Năm ngoái, dính mìn, nhưng tôi cũng bắn chúng nó thấy mẹ cha

(Chu Lai - Truyện ngắn “Người không đi qua hoàng cung”)

Ví dụ 18:

SP1: Gia đình ta đi kinh tế mới lên đây à?

SP2: Không, cháu vừa ở bộ đội chuyển ra

(Chu Lai - Truyện ngắn “Dòng sông yên ả”)

Khi dùng câu hỏi tổng quát thường có một tiền giả định tồn tại: Có một

sự tình gì đó nhưng chưa biết thông tin gì về sự tình đó Câu hỏi thường là “gì

thế? , Cái gì thế ? , Việc gì thế?”

1.2.3.2.2 Câu hỏi chuyên biệt

Câu hỏi chuyên biệt là loại câu hỏi đựơc sử dụng khi SP1 chưa biết về

một chi tiết nào đó trong sự tình và chỉ hỏi về chi tiết đó

Hình thức biểu thị điều hỏi của câu hỏi này là các đại từ nghi vấn: ai,

đâu, sao, gì, nào, mấy, thế nào?

Trang 20

Ví dụ 19:

- Làm gì?

- Một ổ kích nữa sao anh?

- Liên đã thấy chuột sốt rét chưa?

Khi trả lời cho câu hỏi thuộc dạng này, SP2 có thể dùng câu đầy đủ hoặc câu tỉnh lựơc

Sử dụng quan hệ từ “hay” với ý nghĩa lựa chọn

Ví dụ 21: Kén à ? Hay ngại?

(Chu Lai - Truyện ngắn “Một khái niệm tình yêu”)

Ví dụ 22: Cảm ơn cái con khỉ Rượi nữa không hay nước mát?

(Chu Lai - Truyện ngắn “Phố nhà binh” )

Sử dụng cặp phụ từ: có, không, đã , chưa …

Ví dụ 23:

SP1: […] Này, cô bé có biết cái bà ở phòng đang nói kia không?

SP2: Dạ, biết chớ! Bà Tư Lan, cả tỉnh này ai không biết

Trang 21

(Chu Lai - Ăn mày dĩ vãng)

Ví dụ 24:

SP1: Từ sáng đã qua được chiếc nào chưa?

SP2: Qua hết rồi mới tức chứ …

(Chu Lai - Truyện ngắn “Một khái niệm tình yêu”)

1.2.3.2.4 Câu hỏi giả thiết

Các tác giả cuốn “ Ngữ pháp tiếng Việt” (1983) thuộc viện KHXHNV

có đề xuất kiểu câu hỏi giả thiết Theo đó, trong câu hỏi, người nói vừa hỏi,

vừa nêu một giả thiết ít nhiều đã có tính chất khẳng định và mong người nghe

cho ý kiến ít nhiều về giả thiết Ngoài ngữ điệu nghi vấn, câu nghi vấn ở loại

này thường dùng ở cuối câu một vài tình thái từ : à, ư, nhỉ, nhé, hả, hử …

(Chu Lai - Truyện ngắn “Trang bản thảo chép thuê”)

Câu hỏi giả thiết có điểm giống dạng câu hỏi tổng quát vì trong câu hỏi

giả thiết điều cần hỏi cũng có liên quan đến toàn bộ sự tình, nhưng câu hỏi giả

thiết người nói muốn người nghe xác định về tính đúng của toàn bộ sự tình

mà người nói giả thiết

Ví dụ 27 : Dạo này hai người còn chơi với nhau không ? (Chu Lai - Truyện ngắn “Trang bản thảo chép thuê”)

Trong ví dụ trên người nói muốn người nghe xác nhận sự thật của cả sự

tình “hai người còn chơi với nhau không” Trách nhiệm của người nghe là

Trang 22

trên cơ sở thực tế của sự tình, xác nhận giả thiết mà người nói đưa ra là có hay không

1.2.3.3 Các dạng câu trả lời

Với mỗi câu hỏi có thể có rất nhiều câu trả lời khác nhau Chẳng hạn cô giáo kiểm tra bài cũ của học sinh, thấy học sinh trả lời ấp úng cô giáo hỏi “Về nhà em không học bài cũ à ?” Học sinh có thể trả lời theo các kiểu sau:

- Em có học ạ

- Em không học ạ

- Em bị mệt ạ

- Câu hỏi của câu quá khó em không trả lời được

Dù được thể hiện bằng nhiều hình thức khác nhau, nhưng những câu trả lời đó đều thuộc một trong hai phương thức cơ bản của hành động trả lời là trả lời trực tiếp và trả lời gián tiếp

Trả lời trực tiếp: Là cách trả lời tường minh hiển ngôn vào điều cần biết

mà câu hỏi đã giả định truớc đó, do đó không cần phải suy luận

(Chu Lai - Ăn mày dĩ vãng)

Trả lời gián tiếp: là cách người nghe phải thông qua suy diễn ngữ nghĩa mới có thể suy ra được thông tin mà người nói muốn truyền đạt

Ví dụ 30:

SP1: Ông là công an họ tịch đấy à?

Trang 23

SP2: Cái bà này … hỏi cho biết, chả lẽ hàng xóm tối lửa tắt đèn (Chu Lai - Truyện ngắn “Chỗ ấy có một ngôi nhà”)

Ví dụ 31:

SP1: Sao anh ?

SP2: Tôi nhờ cô ấy viết hộ bản thảo mà lúc hẹn đến, lại tránh mặt không tiếp

Trong ví dụ 30, SP2 không trả lời trực tiếp vào trọng điểm hỏi “là công

an hộ tịch à?” của câu hỏi Câu trả lời của SP2 đưa ra nội dung mang tính phủ định Từ đó SP1 đưa ra nghĩa hàm ẩn của câu trả lời (SP2 là người sống tình nghĩa, quan tâm mọi người) Qua những từ ngữ mang tính tường minh đó, SP1 mới có thể suy ra làm hàm ngôn trong câu trả lời gián tiếp mà SP1 nhận được từ SP2

Ở ví dụ 31, SP2 cũng không trả lời trực tiếp câu hỏi “sao” mà đưa ra những lời khẳng định về thái độ và cách cư xử của cô gái SP2 gián tiếp trách

cô gái về việc cô chưa chép bản thảo cho mình

Như vậy, để giải mã được thông tin của câu trả lời gián tiếp, người nghe cần thông qua quá trình suy ý

Câu trả lời và câu đáp: từ hai phương thức trả lời trục tiếp và gián tiếp, tác giả Lê Đông trong luận án PTS “Ngữ nghĩa - ngữ dụng - câu hỏi chính danh” đã phân biệt câu trả lời và câu đáp như sau:

Khác với câu trả lời, câu nói chỉ là nhưng từ ngữ phát ngôn mà người nói phát ra để phản ứng một phát ngôn có trước Nó không đáp ứng những nhu cầu về thông tin của câu hỏi và thường đi chệch điểm hỏi, đi chệch khỏi khuôn câu trả lời mà câu hỏi đặt ra đã giả định trước

Với hình thức câu đáp, tác giả Lê Đông đưa ra bốn kiểu câu đáp thường gặp:

- Câu đáp từ chối yêu cầu trả lời hoặc nêu lý do không thể trả lời

Trang 24

- Câu đáp phản ứng lại câu hỏi trong trường hợp câu hỏi bị cho là vô lý

- Câu hỏi đặt ra có một ẩn ý nào đó, câu đáp đáp lại ẩn ý đó

- Các trường hợp: không muốn trả lời, không có, thông tin để trả lời, đánh chống lảng hoặc chưa rõ câu hỏi

Qua sự phân biệt trên, khóa luận này quan tâm đến câu trả lời trực tiếp, câu trả lời gián tiếp bằng hàm ngôn và những câu đáp vì chúng đều là cách hồi đáp chứa đựng những thông tin mà câu hỏi yêu cầu cung cấp

1.3 Cấu trúc tin trong câu tiếng Việt

1.3.1 Cấu trúc tin trong câu

Ngôn ngữ học nghiên cứu câu trên ba bình diện: kết học, nghĩa học và dụng học

Ở bình diện nghĩa, câu có cấu trúc miêu tả (biểu hiện) Đó là cấu trúc bao gồm vị tố và các tham thể của sự tình (hay các vai nghĩa trong sự tình)

Ở bình diện ngữ pháp (kết học), câu có cấu trúc ngữ pháp Cấu trúc ngữ pháp bao gồm các thành phần ngữ pháp của câu, các kiểu cấu tạo ngữ pháp của câu

Cấu trúc nghĩa và cấu trúc ngữ pháp đều có thể tồn tại trong câu cả ở trong trường hợp câu ở dạng biệt lập, tách khỏi ngữ cảnh và hoàn cảnh sử dụng câu trong hoạt động giao tiếp

Ví dụ 32: (A) Tối qua, Huy đi Lào Cai

Câu (A) luôn có cấu trúc nghĩa biểu hiện và cấu trúc ngữ pháp như sau:

Cấu trúc ngữ pháp Trạng ngữ Chủ ngữ vị ngữ Bổ ngữ Cấu trúc nghĩa biểu hiện Thời gian Chủ thể vị tố Đích thể Xét về bình diện sử dụng trong hoạt động giao tiếp câu còn cấu trúc tin Halliday cho rằng thông tin là một quá trình tương tác giữa cái đã biết hoặc có thể dự đoán cái mới Tác giả cũng đưa ra khái niệm đơn vị thông tin và quan niệm đơn vị thông tin là một cấu trúc được tạo ra từ hai chức năng cái mới

Trang 25

(the new) và cái có sẵn (the giver) Ngữ cảnh và văn cảnh quyết định cấu trúc tin của phát ngôn

Như vậy, trong cùng một phát ngôn, cấu trúc nghĩa và cấu trúc ngữ pháp mang tính chất ổn định

Theo tình huống phát ngôn mà cấu trúc của tin A có thể rất khác nhau: + Nếu đặt A sau câu hỏi: Tối qua Huy đi đâu?

Thì cấu trúc tin của (A) là:

(32) Tối qua, Huy đi Lào Cai

Cấu trúc tin Tin cũ Tin mới

+ Nếu đặt (A) sau câu hỏi: Tối qua, Huy làm gì ?

Thì cấu trúc của tin (A) là:

(32) Tối qua, Huy đi Lào Cai Cấu trúc tin Tin cũ Tin mới + Nếu đặt (A) sau câu hỏi: Tối qua, ai đi Lào Cai?

Thì (A) có cấu trúc tin là:

(32) Tối qua, Huy đi Lào Cai Cấu trúc tin Tin cũ Tin mới Tin cũ + Nếu đặt (A) sau câu hỏi: Huy đi Lào Cai khi nào?

Thì (A) có câu trúc tin là:

+ Nếu đặt (A) sau câu hỏi: Anh nói gì?

Thì (A) có cấu trúc tin là:

Như vậy, cấu trúc tin của một câu thường chứa phần nội dung “cho sẵn”

và phần nội dung “mới” Halliday cho rằng, thông tin được người nói thể hiện như thế có thể phục hồi được là thông tin cho sẵn đối với người nghe và thông

Trang 26

tin được người nói thể hiện như thế không phục hồi được là thông tin mới Phần cho sẵn có thể được nói đến trước đó nhưng đó không phải là khả năng duy nhất Có khi phần cho sẵn hoàn toàn không ở trước đó, nhưng người nói muốn dùng nó để thể hiện như thể là cái cho sẵn để phục vụ cho mục đích tu

từ với ý nghĩa đó không phải là thông tin mới Cái được xem như là thông tin không thể phục hồi được có thể là một cái gì đó chưa được nói đến trước đó nhưng nó có thể là một cái gì đó ngoài dự kiến cho dù trước đó nó có được nói đến hay không Ý nghĩa của nó là quan tâm đến thông tin này, nó là thông tin mới (Hoằng Văn Vân)

Ví dụ 33 ( Phần tin mới và phần tin cần biết được in nghiêng đậm)

SP1: Cái gì đau?

SP2: Xương hông ông ấy tỳ vào đùi tao đau quá ! (Chu Lai - Truyện ngắn “Một khái niệm tình yêu”) Trong ví dụ trên, trong lời của SP1 thì “đau” là cái đã được nhắc trước

đó và đóng vai trò là thông tin cũ, phần thông tin cần biết mà SP1 nêu ra là

“cái gì”, đây cũng là trọng điểm hỏi mà SP1 muốn SP2 đáp lời.Trong câu trả lời, “xương hông ông ấy tỳ vào đùi tao” hồi đáp được yêu cầu SP1 đưa ra Vì thế nó là thông tin mới

Về hình thức thể hiện thông tin mới và thông tin cũ trong một phát ngôn , nhiều tác giả khẳng định hai hình thức cơ bản: Một là, ở dạng lí tưởng hoá mỗi đơn vị thông tin bao gồm một yếu tố cho sẵn kèm theo một yếu tố mới Hai là những yếu tố cho sẵn được tỉnh lược, còn lại hầu hết chỉ là những từ ngữ thông tin mới

1.3.2 Một số cách đánh dấu tiêu điểm của câu

Việc xác định cái mới, cái cũ lệ thuộc khá nhiều vào những tình huống bên ngoài sự việc và ý định của người nói (vấn đề này sẽ được tìm hiểu trong phần cơ sở xác định cấu trúc tin của câu hỏi và câu trả lời) Nhưng khi tách câu khỏi hoàn cảnh sử dụng cụ thể thì có thể sẽ được hiểu theo những cách

Trang 27

khác nhau, tức là không rõ cái mới nằm ở điểm nào Vì vậy, nuốn xác định được phần nội dung mang tin cần xác định tiêu điểm của câu

Tiêu điểm (focus) của câu là phần ngữ liệu mới trong một câu (trái với tiền giả định) và trong giao tiếp, người nói có thể sử dụng các phương tiện khác nhau để đánh dấu tiêu điểm như dùng nét mặt, cử chỉ, điệu bộ … Thông thường, người nói có thể dùng các phương tiện ngôn ngữ để người nghe có thể xác định được tiêu điểm Hai phương tiện ngôn ngữ thường dùng là tạo điểm nhấn giọng và sử dụng một số yếu tố ngôn ngữ phụ trợ cần thiết

Điểm nhấn giọng là làm rõ tiêu điểm bằng cách phát âm các từ ngữ ở tiêu điểm khác hẳn với từ ngữ không nằm trong tiêu điểm Cách phát âm các từ ngữ này có thể căng hơn, mạnh hơn, to hơn, thậm chí nhỏ hơn một cách khác thường … Nói chung điểm nhấn giọng là điểm khác hẳn với những điểm còn lại, mục đích của việc tạo điểm nhấn giọng là thu hút sự chú ý của người nghe đến điểm đó

từ ngữ để phân cách và nhấn mạnh các thành phần trong cấu trúc thông báo như sau:

Trang 28

Các hư từ tình thái : chính, đích thị, ngay cả …

Ví dụ 36:

- Chính lúc đó , cô gái áo nâu đứng dậy

- Ngay cả chị cũng không làm được việc đó Các từ tình thái được dùng để nhấn mạnh vào các từ đứng ngay sau nó như một tiêu điểm thông báo Sau các từ này, người nghe được đáp ứng bởi một nội dung thông tin mà trước chưa biết

`Các quan hệ từ : nhưng, mà, là … là phần phát ngôn sau những từ này chứa đựng thông tin mới và làm tiêu điểm thông báo của câu

Ví dụ 37:

- Lao động là vinh quang

- Rừng rất quan trọng với con người nhưng hiện nay rừng bị phá huỷ rất nhiều

Các phát ngôn có ý nghĩa cầu khiến, thông tin mới thường đứng sau các phụ từ : hãy, đứng, chớ hoặc các từ có ý nghĩa cầu khiến như: hỏi, tuyên bố,

đề nghị, khuyên…

Ví dụ 38:

- Anh đừng hút thuốc

- Tôi tuyên bố bế mạc hội thi

- Tôi hỏi anh đã làm xong việc chưa?

Tiểu kết chương 1

Những nội dung lí thuyết trên là cơ sở cho việc làm rõ đối tượng nghiên cứu của khóa luận là cấu trúc tin của câu hỏi chính danh và câu trả lời Hỏi - trả lời là cặp hội thoại tương tác, được sử dụng phổ biến trong hội thoại Vì vậy, khi trình bày các vấn đề cơ sở lí luận ngữ dụng học nói chung, tôi chủ yếu đi sâu vào một số lĩnh vực có liên quan trực tiếp đến cặp thoại hỏi (chính danh) và trả lời (trực tiếp và gián tiếp ) Đó là các vấn đề: mối quan hệ giữa

Trang 29

hỏi và trả lời, phân biệt trả lời trực tiếp và trả lời gián tiếp, các loại câu hỏi chính danh, tiền giả định, mối quan hệ giữa tiền giả định và tin cũ, tin mới, cấu trúc tin trong câu

Những kiến thức này sẽ giúp tôi trong chương 2 và chương 3 đi khảo sát các cặp thoại hỏi - đáp trong một số sáng tác của nhà văn Chu Lai Hơn nữa, việc khảo sát sẽ là một yếu tố có vai trò chính yếu để soi rọi những kiến thức được trình bày trong chương 1 này

Trang 30

CHƯƠNG 2: CẤU TRÚC TIN CỦA CÂU HỎI CHÍNH DANH

Trong ngôn ngữ học, việc tìm hiểu ý nghĩa của các phát ngôn là một trong những nhiệm vụ quan trọng Thông thường mỗi câu nói thường biểu thị một nhận định trọn vẹn bao giờ cũng chứa một phần thông tin nhất định đối với người nghe trong phạm vi tình huống giao tiếp Trong các câu, các thông tin được tổ chức linh hoạt gồm hai phần: phần tin mới và phần tin cho sẵn Câu hỏi và câu trả lời xét theo cấu trúc tin là câu hỏi và câu trả lời xét theo sự phân bố củ tin mới và tin cũ Sự sắp xếp trật tự tin mới, tin cũ trong câu hỏi và câu trả lời phụ thuộc hoàn toàn vào ý định của người nói (người viết) - tức là phụ thuộc vào điều mà người nói truyền đạt qua phát ngôn của họ hơn là cái

mà tự thân các từ, các ngữ trong phát ngôn đó thể hiện trên bề mặt của phát ngôn Phân tích cấu trúc thông tin của mỗi phát ngôn phải căn cứ vào ý đồ của người nói và hiệu quả của lời nói để mà phân tích Như vậy, việc xem xét cặp thoại hỏi - đáp trên bình diện cấu thông tin sẽ góp phần vào tìm hiểu giá trị thông tin của các phát ngôn hỏi - trả lời ở bình diện trong hoạt động giao tiếp Khái niệm tin cũ, tin mới đã được bàn đến ở chương 1, ở chương này có thể nói một cách khái quát như sau: Tin mới là tin mà lần đầu tiên người nói đưa vào ý thức của người nghe, nghĩa là nó là phần nội dung mà người nghe chưa biết Tin cũ là các thông tin mà cả người nói, người nghe đều đã biết hoặc có thể đoán định trong lúc phát ra phát ngôn

Theo quan niệm này thì tin cũ không phải là trọng tâm thông tin và ít có giá trị thông tin Khi cần thiết, trong các tình huống giao tiếp cụ thể thì phần mang thông tin cũ dễ dàng đươc lược đi Nhưng tin cũ lại có vai trò quan trọng, nó có giá trị tiền đề cho thông báo, là cơ sở, là điều kiện cần để một đơn vị ngôn ngữ nào đó tồn tại với tư cách là tin mới trong phát ngôn

Trang 31

2.1 Cơ sở xác định cấu trúc tin của câu hỏi chính danh

Trong phần trên đã trình bày, câu hỏi chính danh được dùng theo lối trực tiếp được nêu ra với mục đích được trả lời để người nghe cung cấp thông tin

mà người nói chưa biết Để trả lời được câu hỏi này thì người nghe cần xác định được trọng điểm câu hỏi Nếu xác địn nhầm trọng điểm câu hỏi thì cuộc hội thoại có thể đi chệch hướng Trọng điểm của câu hỏi chính là phần tin cần biết trong câu hỏi, là phần thông tin người nói muốn biết và có nhu cầu được đáp ứng lại từ phía người nghe Xác định trọng điểm hỏi là cơ sở để xác định cấu trúc tin của câu hỏi chính danh Việc xác định đó dựa trên chính cấu trúc

bề mặt của câu hỏi, ngữ điệu và ngôn cảnh

Với những câu hỏi sử dụng đại từ nghi vấn thì trọng điểm hỏi là điểm chứa đựng đại từ nghi vấn Do đó ngay cả khi câu bị tách ra khỏi ngữ cảnh, trọng điểm hỏi trong câu vẫn được xác định Vì vậy, với những câu hỏi này cấu trúc tin dễ dàng được xác định

Ví dụ 39: Anh bao nhiêu tuổi rồi ?

(Chu Lai - Truyện ngắn “Một khái niệm tình yêu") Trong ví dụ trên, người nói chưa biết tuổi tác của người đối thoại với mình nên đã hỏi tuổi Trọng tâm của câu hỏi là “bao nhiêu” và nó là tin cần biết và là tín hiệu để người nghe đáp ứng nhu cầu thông tin của người hỏi.Ta

có thể biểu đạt cấu trúc tin của câu hỏi trên như sau :

Cấu trúc tin Tin đã biết Tin cần biết Tin đã biết

Tương tự như vậy, các đại từ nghi vấn, đại từ chỉ số lượng, thời gian, không gian, tính chất, cách thức, nguyên nhân, ta dễ dàng xác định được cấu trúc tin của các câu hỏi sau :

Trang 32

Cái gì thiên thần ?

Cấu trúc tin Tin đã biết Tin cần biết Tin đã biết (Chu Lai - Vòng tròn bội bạc) Tuy nhiên không phải câu hỏi nào cũng chỉ cần dựa vào cấu trúc bề mặt của nó là xác định được điều mà người nói muốn hỏi và cấu trúc tin của câu hỏi Có những câu nghi vấn có điểm hỏi không xác định là loại câu như thế Điểm hỏi của loại câu này có thể tác động đến bất kỳ điểm nào trong câu Vì vậy, để xác định được cấu trúc tin của những câu nghi vấn này, người nghe phải dựa vào ngữ điệu và ngữ cảnh khi câu hỏi được đưa ra

Ví dụ 40: (A) Có phải Huy ở Bắc Giang không?

Các tiếng “Có phải… không” trong ví dụ trên có điểm hỏi không xác định Các câu trả lời giả định sau đây cho thấy được tính đa dạng của điểm hỏi

- (1) Không phải Huy mà là Hải

- (2) Không phải ở Bắc Giang mà ở Nam Định

Với cách trả lời (1) trọng điểm hỏi của câu (A) rơi vào (Huy) vì người hỏi chưa xác định được người mình hỏi tới có phải là Huy hay không cho dù biết người đó ở Bắc Giang Với trọng điểm hỏi như vậy, câu (A) có cấu trúc tin:

Trang 33

Tin cần biết Trong câu trả lời (2), trọng điểm hỏi rơi vào từ “Bắc Giang”, người hỏi

đã biết rõ đối tượng là Huy nhưng chưa rõ Huy ở Bắc Giang hay ở chỗ nào khác Với trọng điểm hỏi như vậy, câu (A) có cấu trúc tin:

Tin cần biết Như vậy, trong ví dụ trên, để xác định được điều mà người hỏi đưa ra và đưa ra câu trả lời mà người hỏi mong muốn thì người nghe cần dựa thêm vào yếu tố thứ hai: yếu tố ngữ điệu

Ta nhận thấy, khi không có các phương tiện đánh dấu hỏi khác thì ngữ điệu đặc thù cho kiểu câu nghi vấn: cao và sắc là một yếu tố đánh dấu trọng điểm hỏi dù trọng điểm hỏi có đứng ở vị trí nào trong câu Đó cũng là một trong những cơ sở để xác định cấu trúc tin của câu hỏi chính danh

Bất kỳ một câu hỏi hay một câu trả lời nào cũng đều đặt trong một tình huống giao tiếp nhất định Trong nhiều trường hợp, cả hai yếu tố ngữ điệu và cấu trúc bề mặt của câu chưa thể giúp người nghe xác định đươc điều mà người hỏi đưa ra Việc đặt câu hỏi về “cái gì” và “như thế nào” thực chất xuất phát từ ngôn cảnh, từ tình huống giao tiếp cụ thể

Ví dụ 41:

SP1: Đồng chí hiểu gì về hiện tượng này?

SP2: Tôi khẳng định tác phong quân phiệt phát sinh từ các cấp chỉ huy là chủ yếu

(Chu Lai - Truyện ngắn “Dòng sông yên ả”) Trong ví dụ trên, SP2 chưa xác định được “hiện tượng” mà SP1 đưa ra trong câu hỏi là vấn đề gì Nhưng khi đặt câu hỏi trên vào ngôn cảnh cụ thể thì SP2 sẽ xác định được điều mà SP1 hỏi, từ đó SP2 đưa ra được câu trả lời

mà SP1 mong muốn Ngôn cảnh như sau:

Trang 34

SP1: Trong đơn vị đồng chí có hiện tượng quân phiệt không?

SP2: Thưa trung tướng cấp trung đội thì không nhưng cấp đại đội, tiểu đoàn thì có

SP1: Đồng chí hiểu gì về hiện tượng này?

SP2; Tôi khẳng định tác phong quân phiệt phát sinh từ cấp chỉ huy là chủ yếu

Ví dụ 42:

SP1: Ơ hay! Thì tôi đã nói gì nào?

SP2: Thì tôi cũng cứ bảo vậy

(Chu Lai - Truyện ngắn “Chỗ ấy có một ngôi nhà”)

Trong ví dụ trên, nếu chỉ dựa vào cấu trúc bề mặt và ngữ điệu thì SP2 chưa biết được điều SP1 hỏi, nhưng dựa vào ngữ cảnh cụ thể của cuộc nói chuyện: đó là việc hai người bàn về gia đình ở ngôi nhà có dớp và có người

vợ bị ung thư, nên SP2 xác định được trọng điểm hỏi và có câu trả lời phù hợp cho SP1 Ngữ cảnh cụ thể như sau:

SP1: Mà tại sao lại đi thuê đúng vào cái nhà dớp ấy nhỉ?

SP2: Rẻ thì thuê Gần bệnh viện cho tiện thì thuê Cái gì mà dớp? Ông rủa người ta đấy à?

SP1: Ơ hay! Thì tôi đã nói gì nào?

SP2: Thì tôi cũng cứ bảo vậy

Có thể nhận định rằng: Dù dựa vào cấu trúc bề mặt, ngữ điệu hay ngôn cảnh thì cơ sở để xác định cấu trúc tin của câu hỏi chính danh thực chất là dựa vào những tin đã biết Và cũng vì lý do này mà câu hỏi chính danh được sử dụng phổ biến trong giao tiếp Theo thống kê của chúng tôi, câu hỏi chính danh xuất hiện 524/727 (chiếm trên 72%) tổng số câu hỏi khảo sát

2.2 Các kiểu câu hỏi chính danh xét theo cấu trúc tin

Trang 35

Xét theo cấu trúc tin, câu hỏi chính danh có thể được chia làm ba loại: Câu hỏi gồm cả những tin đã biết và tin cần biết; Câu hỏi có tin đã biết; Câu hỏi có tin cần biết

2.2.1 Câu hỏi chính danh gồm tin đã biết và tin cần biết

Đây là những câu hỏi có cấu trúc hai phần: phần tin đã biết và phần tin cần biết Trong đó phần tin cần biết là phần tin quan trọng nhất của câu hỏi bởi nó nêu ra điều người nói chưa biết hoặc còn hoài nghi và mong mốn được người nghe cung cấp những thông tin mà mình chưa biết Phần tin đã biết tuy không mang giá trị thông tin nhưng nó là cơ sở giúp người nghe có câu trả lời khớp với ý mà người hỏi đư ra Sử dụng câu hỏi có đủ hai phần tin đã biết và tin cần biết sẽ giúp cho cuộc giao tiếp không đi lệch hướng

Ví dụ 43:

SP1: Hai bác đâu?

SP2: Cậu mợ em đi sơ tán cả rồi, chỉ còn một mình ông …

(Chu Lai - Truyện ngắn “Phố vắng”) Trong ví dụ trên, câu hỏi có đủ hai phần tin đã biết và phần tin cần biết,cấu trúc tin của câu hỏi trên như sau:

Hai bác đâu ?

Trong câu hỏi trên, “hai bác” là phần tin đã biết và được SP1 đưa vào câu hỏi để giúp cho SP2 dễ dàng xác định được trọng điểm hỏi Nhờ vậy mà SP2 đã có câu trả lời thỏa mãn với mong muốn của SP1 Như vậy, tin đã biết

là một yếu tố quan trọng giúp cho câu hỏi và câu trả lời ăn khớp với nhau Dạng câu hỏi bao gồm cả phần tin đã biết và phần tin cần biết được sử dụng khá phổ biến trong giao tiếp Theo số liệu thống kê, câu hỏi dạng này có 396/524 (chiếm 76%) trong tổng số câu hỏi chính danh Trong nhiều trường hợp, người hỏi muốn nhấn mạnh điều mình muốn hỏi và tạo cho người nghe

Trang 36

sự chú ý vào câu hỏi của mình nên thường nhắc lại phần tin đã biết trong câu hỏi

Sự phân bố tin đã biết và tin cần biết trong câu hỏi chính danh khá linh hoạt Có thể nêu một cách khái quát một số kiểu phân bố sau:

2.2.1.1 Tin cần biết - Tin đã biết

Ví dụ 45: Sao chị lại cười?

Tin cần biết Tin đã biết

Ví dụ 46: Bao giờ thấy lại?

Tin cần biết Tin đã biết

(Chu Lai - Truyện ngắn “Kỷ niệm vùng ven”)

Ví dụ 47: Ai nói với mày như vậy?

Tin cần biết Tin đã biết

(Chu Lai - Vòng tròn bội bạc) 2.2.1.2 Tin đã biết - Tin cần biết

Ví dụ 48: Đứa con của cô ấy bây giờ ở đâu?

Tin đã biết Tin cần biết

(Chu Lai - Truyện ngắn “Người khôg đi qua hoàng cung”)

Trang 37

Ví dụ 49: Mày chịu nghe không ?

Tin đã biết Tin cần biết

(Chu Lai - Truyện ngắn “Sắc đỏ chôm chôm”)

Ví dụ 50 : Chân dung ai?

Tin đã biết Tin cần biết

(Chu Lai - Truyện ngắn “Bức chân dung của người đàn bà lạ

”)

2.2.1.3 Tin đã biết - tìn cần biết - tin đã biết

Ví dụ 51: Ngon không anh?

Tin đã biết Tin cần biết Tin đã biết

(Chu Lai - Truyện ngắn “Phố vắng”)

Ví dụ 52: Anh hả anh Mười?

Tin đã biết Tin cần biết Tin đã biết

(Chu Lai - Truyện ngắn “Kỷ niệm vùng ven”)

Ví dụ 53: Con ăn có no không con?

Tin đã biết Tin cần biết Tin đã biết

(Chu Lai - Truyện ngắn “Con tôi đi lính”) 2.2.1.3 Tin cần biết - Tin đã biết - Tin cần biết

Ví dụ 54: Thế nào là thế nào?

Tin cần biết Tin đã biết Tin cần biết

(Chu Lai - Vòng tròn bội bạc) 2.2.2 Câu hỏi chính danh chỉ có tin cần biết

Những câu hỏi chỉ có phần tin cần biết là những câu hỏi nêu điều kiện cần biết một cách trực tiếp Khi đưa ra những câu hỏi này, người hỏi đã dựa trên những tiền đề giả định nhất định và mặc nhiên coi người trả lời cũng đã biết tiền giả định đó

Trang 38

Câu hỏi chỉ có phần tin cần biết có quan hệ chặt chẽ với ngữ cảnh, không

có ngữ cảnh người nghe không xác định được điểm hỏi Những câu hỏi dạng này là những câu hỏi tổng quát và những câu hỏi chuyên biệt hỏi về nguyên nhân của sự tình Nó chiếm số lượng không lớn trong số liệu thống kê với sự xuất hiện 89/524 (chiếm khoảng 16%) tổng số câu hỏi chính danh

Ví dụ 55:

SP1: Tại sao?

SP2: Nó không còn phù hợp với tình hình cụ thể nữa

Ví dụ 56 :

SP1: Sao?

SP2: Nếu viết như anh nói thì tôi không viết được

Ví dụ 57 :

SP1: Cái gì thế ?

SP2: Buồn ngủ bỏ mẹ! Tớ nghỉ lại đây

(Chu Lai - Truyện ngắn “Một khái niệm tình yêu”)

Ví dụ 58 :

SP1: Gì cơ ?

SP2: Con giai con lứa, đàn ông đàn ang như anh mà lành hiền thế

là chị em nó bắt nạt đấy, có khi vợ cũng chẳng giữ nổi

(Chu Lai - Truyện ngắn “Chuyện tình của đại đội trưởng”) Trong các ví dụ trên, câu hỏi có cấu trúc chỉ xuất hiện từ để hỏi với vai trò là phần thông tin cần biết Tin đã biết trong trường hợp này nằm trong ngôn cảnh, với tư cách là tiền giả định của câu hỏi Đặt vào những ngôn cảnh

cụ thể thì người nghe mới đưa ra được câu trả lời thỏa đáng Như ví dụ 55, câu hỏi chỉ đưa ra từ để hỏi “Tại sao?”, điều đó làm cho người nghe không

Trang 39

xác định được điều người hỏi muốn hỏi Để trả lời thỏa đáng, người trả lời đặt câu hỏi vào ngôn cảnh sau:

SP1: Bài báo của cậu không dùng được …

SP2 : Tại sao ?

SP1 : Nó không còn phù hợp với tình hình cụ thể nữa

SP2 : Tôi chưa hiểu

Trong đoạn hội thoại trên, ta có thể thay thế “Tại sao” bằng “Tại sao bài báo của tôi không dùng được?” Nhưng trong phát ngôn của SP1 đã mang thông tin “bài báo của cậu …” nên “Tại sao” được dùng để hỏi Nhờ vào tiền giả định đó mà SP2 hiểu được “nó” trong câu trả lời của SP1 là chính bài báo của mình

Tương tự ta xét các ví dụ còn lại Ở ví dụ 56, nếu không đặt từ “Sao” vào ngôn cảnh cụ thể thì người nghe sẽ không hiểu được điều người hỏi muốn đưa

ra trong câu hỏi Để đưa ra được câu trả lời thỏa mãn với câu hỏi mà SP1 đưa

ra, SP2 đã gắn câu hỏi “Sao” vào ngôn cảnh sau:

SP1: Ối giời, về ! Báo cáo báo ciếc gì Cứ thế mà viết

SP2: Tôi không viết được

SP1: Sao?

SP2: Nếu viết như anh nói thì tôi không viết được

Xét các ví dụ còn lại trong từng ngôn cảnh cụ thể ta sẽ thấy được vai trò quan trọng của ngôn cảnh trong giao tiếp và thấy được sự không nhất thiết có mặt của tiền giả định Đồng thời giúp ta thấy được một số đặc trưng cơ bản của câu hỏi chính danh chỉ có tin cần biết

Như vậy, trong một ngôn cảnh nhất định, tiền giả định không nhất thiết phải có mặt trong câu hỏi, nếu vắng mặt thì các nhân vật giao tiếp vẫn có đủ điều kiện để có thể đối thoại và hiểu được phát ngôn của nhau

2.2.3 Câu hỏi chính danh chỉ có tin đã biết

Trang 40

Đây là dạng câu hỏi rất đặc biệt, trên cấu trúc bề mặt của câu hỏi không xuất hiện phần tin cần biết mà chỉ xuất hiện phần tin đã biết Với loại câu hỏi dạng này, người nghe căn cứ vào ngữ điệu và ngôn cảnh cụ thể để xác định trọng điểm hỏi và để trả lời đúng trọng điểm hỏi Theo số liệu thống kê, dạng câu hỏi này có 39/524 (chiếm khoảng 8%) trong tổng số câu hỏi chính danh

Ngày đăng: 29/06/2020, 13:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Diệp Quang Ban (2005), Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 2005
3. Diệp Quang Ban (2007), Văn bản, Nxb. Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bản
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb. Đại học Sư phạm
Năm: 2007
5. Bùi Thị Bình (2008) Cấu trúc đề - thuyết trong ca dao tình nghĩa, Luận văn thạc sĩ khoa học Ngữ văn, Đại học Sư phạm Hà Nội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấu trúc đề - thuyết trong ca dao tình nghĩa
Tác giả: Bùi Thị Bình
Nhà XB: Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 2008
6. Brown G. Yule (1983), Phân tích diễn ngôn (Trần Thuần dịch), Nxb. Đại học Quốc Gia Hà Nội. 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích diễn ngôn
Tác giả: Brown G. Yule
Nhà XB: Nxb. Đại học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 2002
7. Chafe W. (1970). Ý nghĩa và cấu trúc của ngôn ngữ (Nguyễn Văn Lai dịch), Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ý nghĩa và cấu trúc của ngôn ngữ
Tác giả: Chafe W
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 1998
8. Đỗ Hữu Châu (2003), Cơ sở ngữ dụng học, Nxb. Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ dụng học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb. Đại học Sư phạm
Năm: 2003
10. Nguyễn Hồng Cổn (2001), Bàn thêm về cấu trúc thông báo của câu tiếng Việt (trên ngữ liệu ngôn ngữ đối thoại), tạp chí Ngôn ngữ (5/2001) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn thêm về cấu trúc thông báo của câu tiếng Việt (trên ngữ liệu ngôn ngữ đối thoại)
Tác giả: Nguyễn Hồng Cổn
Nhà XB: tạp chí Ngôn ngữ
Năm: 2001
12. Nguyễn Đức Dân (1998), Logic và tiếng Việt, Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Logic và tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 1998
13. Nguyễn Đức Dân (2008), Ngữ pháp tiếng Việt, những vấn đề lí luận, Nxb. Khoa học xã hội , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt, những vấn đề lí luận
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
Năm: 2008
15. Nguyễn Thiện Giáp (2004), Dụng học Việt ngữ, Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dụng học Việt ngữ
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 2004
18. Cao Xuân Hạo (2004), Tiếng Việt sơ thảo ngữ pháp chức năng, Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt sơ thảo ngữ pháp chức năng
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 2004
21. Đặng Thị Hảo Tâm (2003), Cơ sở lý giải nghĩa hàm ẩn của các hành vi ngôn ngữ gián tiếp trong hội thoại, Luận án Tiến sĩ Ngữ văn, Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý giải nghĩa hàm ẩn của các hành vi ngôn ngữ gián tiếp trong hội thoại
Tác giả: Đặng Thị Hảo Tâm
Nhà XB: Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 2003
22. Lý Toàn Thắng (1981), Giới thiệu lí thuyết phân đoạn thực tại của câu, Tạp chí Ngôn ngữ (1/1981) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới thiệu lí thuyết phân đoạn thực tại của câu
Tác giả: Lý Toàn Thắng
Nhà XB: Tạp chí Ngôn ngữ
Năm: 1981
23. Trần Ngọc Thêm (1996), Ngữ pháp văn bản, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp văn bản
Tác giả: Trần Ngọc Thêm
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1996
24. Trần Ngọc Thêm (1999), Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt. Nxb Giáo dục Hà Nội.25 Trần Ngọc Thêm (2001) Từ ngữ pháp chức năng nghĩ về ngữ pháp của tương lai, Tạp chí Ngôn ngữ (số 14/2001) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt
Tác giả: Trần Ngọc Thêm
Nhà XB: Nxb Giáo dục Hà Nội
Năm: 1999
30. Bùi Minh Toán (2008), Dẫn luận ngôn ngữ học, Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận ngôn ngữ học
Tác giả: Bùi Minh Toán
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 2008
1. Diệp Quang Ban (1989), Khả năng xác lập mối liên hệ giữa phân đoạn ngữ pháp và phân đoạn thực tại câu tiếng Việt,Tạp chí Ngôn ngữ (4/1989) Khác
4. Diệp Quang Ban (2009), Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo của văn bản, Nxb. Giáo dục, Hà Nội Khác
9. Đỗ Hữu Châu và Bùi Minh Toán (1993), Đại cương ngôn ngữ học (tập II), Nxb. Giáo dục, Hà Nội Khác
11. Nguyễn Đức Dân (1998), Ngữ dụng học (tập1), Nxb. Giáo dục, Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm