1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Cácthành ngữ, điển tích trong chương trình ngữ văn lớp 10 , 11

26 3,9K 47
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 1,77 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điển cố đồng nghĩa Điển tích là chỉ những việc có chép trong các sách vở thời xưa, được cô đọng lại trong một từ ngữ hay một thành ngữ để nói lên ý nghĩa của chuyện đó.. Nếu không biết

Trang 1

MADE BY:

Lê Thị Diệu Thảo 11/6

Trang 2

I Điển tích điển cố

1 Khái niệm:

Điển: Kinh sách thời xưa Cố: cũ, xưa Tích: chuyện xưa.

Điển cố đồng nghĩa Điển tích là chỉ những việc có

chép trong các sách vở thời xưa, được cô đọng lại

trong một từ ngữ hay một thành ngữ để nói lên ý nghĩa của chuyện đó.

Văn học cổ thường dùng rất nhiều Điển tích hay Điển

cố Nếu không biết được Điển tích thì không thể hiểu được ý nghĩa của câu văn hay câu thơ ấy.

Trang 3

2 Ví dụ:

BÌNH NGÔ ĐẠI CÁO- NGUYỄN TRÃI

Bình Ngô đại cáo là bài cáo

của Nguyễn Trãi viết bằng chữ Hán vào mùa xuân năm 1428, thay lời Bình Định vương Lê Lợi để

tuyên cáo kết thúc cuộc kháng chiến chống Minh, giành lại độc lập

cho Đại Việt

Trang 4

“Đau lòng nhức óc, chốc đà mười mấy năm trời,

==> Chuyện Câu Tiễn nuôi chí phục quốc Sau khi

được tha, hàng ngày Câu Tiễn thường nếm mật đắng để

ăn không biết ngon, thường nằm trên đống củi gai để ngủ không được yên giấc, dốc lòng rèn luyện tinh thần chịu đựng gian khổ Sau 20 năm tích cực chuẩn bị, Câu Tiễn

đã thắng nước Ngô, vua Ngô là Phù Sai phải tự sát

Ý nghĩa:

Ðể diễn tả quyết tâm nuôi chí lớn,

Trang 5

“Tấm lòng cứu nước, Vẫn đăm đăm muốn tiến về Đông,

Cỗ xe cầu hiền , Thường chăm chắm còn dành phía tả”

Điển tích Lưu Bị ba lần đi cầu Khổng Minh

để viết câu này Khi Lưu Bị đi cầu Khổng

Minh, Quan Vân Trường và Trương Phi đều

khuyên chỉ cần họ đi là được, không cần đến

Lưu Bị Tuy nhiên ông vẫn đích thân đi Sau

ba lần đến lều tranh mới mời được Khổng

Minh Để tỏ cái tình mến người tài, ông mời

Khổng Minh lên ngồi cùng xe với mình về

kinh Lưu Bị ngồi bên phải còn Khổng Minh

ngồi bên trái

Ý nghĩa: câu này Nguyễn Trãi ý muốn

nói nghĩa quân vẫn luôn muốn tìm người

tài giúp sức

Trang 6

PHÚ SÔNG BẠCH ĐẰNG- TRƯƠNG HÁN SIÊU

Bạch Đằng giang phú (phú sông bạch

đằng) Bài này Trương Hán Siêu tả

cảnh sông Bạch Đằng, nhắc nhở

công của quân dân nhà Trần đánh

quân Nguyên, và khuyên hậu duệ

trong nước đời sau nên biết gìn giữ

giang sơn

Trang 7

“Hội nào bằng hội Mạnh Tân: như vương sư họ Lã,Trận nào bằng trận Duy Thuỷ: như quốc sĩ họ Hàn”

 + Lã Vọng là một quân sư tài giỏi đã

giúp vua Vũhội quân các nước chư hầu

ở Mạnh Tân và diệt được vua Trụ tàn

ác

+ Hàn Tín là quốc sĩ (tài giỏi nổi

tiếng trong cảnước), người đã giúp

Lưu Bang đánh tan quân Tề ởDung

Trang 8

NHÀN – NGUYỄN BỈNH KHIÊM

Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 – 1585)

sống gần trọn một thế kỉ đầy biến

động của chế độ phong kiến Việt

Nam: Lê – Mạc xưng hùng, Trịnh –

Nguyễn phân tranh

“Nhàn” là bài thơ Nôm nổi tiếng của

nhà thơ nêu lên quan niệm sống

của một bậc ẩn sĩ thanh cao, vượt

ra cái tầm thường xấu xa của cuộc

sống bon chen vì danh lợi

Trang 9

 Điển tích này xuất phát từ sách "Nam Kha ký thuật" của Lý Công Tá đời Đường (Trung Quốc) Trong sách có kể truyện

Thuần Vu Phần nằm mộng thấy mình đi lạc vào một nước tên

là Hòe An, được vua Hòe An cho vào bái yết rồi gả con gái, cho làm phò mã và đưa ra quận Nam Kha làm quan Thái thú, cai trị

cả một vùng rộng lớn, vinh hoa phú quý tột bậc Khi tỉnh dậy, Thuần thấy mình nằm dưới gốc cây hòe có một chỉ về phía

nam, bị một đàn kiến bu quanh

Thuần nhớ lại giấc mộng của mình, so sánh với thực tế chung quanh, thấy rằng: Cây Hòe là nước Hòe An, cành cây phía nam

là đất Nam Kha

“Rượu đến cội cây ta sẽ uốngNhìn xem phú quý tựa chiêm bao”

Ý nghĩa: thể hiện lối sống riêng của mình, đó

là lối sống coi thường phú quí, hoà mình với

thiên nhiên (Đây là triết lý sống của Nguyễn

Bỉnh Khiêm )

Trang 10

TRUYỆN KIỀU – NGUYỄN DU

Truyện Kiều (tên gốc là Đoạn

Trường Tân Thanh ) là tác phẩm nổi

tiếng nhất của đại thi hào Nguyễn

Du, kiệt tác của văn học Việt Nam

thời trung đại Với Truyện Kiều,

Nguyễn Du đã được tôn vinh là

Danh nhân văn hóa thế giới

Trang 11

Sân Lai cách mấy nắng mưa

Có khi gốc tử đã vừa người ôm”

(Đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích)

Sân lai : sân nhà lão Lai Tử, đây chỉ sân

cha mẹ Thúy Kiều.Theo Hiếu tử truyện:Lão

Lai Tử người nước Xuân thu rất có hiếu,tuy

đã già mà còn nhảy múa ở ngoài sân cho

cha mẹ xem để mua vui cho cha mẹ

Gốc tử : Gốc cây tử (cây thị), chỉ cha

mẹ.Cả câu ý nói cha mẹ đã già rồi (theo

điển cũ nói cay dâu quanh và cây tử là

những cây do cha mẹ trồng ở quanh nhà)

Ý nghĩa: nói lên tâm trạng nhớ thương, tấm

lòng hiếu thảo của Kiều với cha mẹ có lẽ

đã già yếu nơi quê nhà

Trang 12

“ Một hai nghiêng nước nghiêng thành

Sắc đành đòi một tài đành hoạ hai ”.

(Đoạn trích Chị em Thúy Kiều)

Câu này Nguyễn Du lấy ý của thơ Lý

Diên Niên "bắc phương hữu giai nhân, tuyệt

thế nhi độc lập, nhất cố khuynh nhân thành,

tái cố khuynh nhân quốc" , nghĩa là "

phương bắc có người đẹp, nhất đời không

ai bằng, liếc trông một lần nghiêng thành,

trông hai lần nghiêng nước“; ngoảnh nhìn

lại một cái thì thành người ta bị xiêu,

ngoảnh nhìn lại cái nữa thì nước người ta

bị nghiêng ngả

Ý nghĩa : Ý nói sắc đẹp tuyệt trần của

Trang 13

KHÓC DƯƠNG KHUÊ- NGUYỄN KHUYẾN

Nguyễn Khuyến (1835 – 1909), người Yên Đổ,

Bình Lục, Hà Nam Làm quan dưới triều Nguyễn

Yêu nước nhưng bất lực trước thời cuộc, cáo

quan về quê, không cam tâm làm tôi tớ - tay sai

cho thực dân Pháp

Dương Khuê (1839 – 1902) vị đại quan của triều

Nguyễn Là nhà thơ để lại một số bài thơ hát nói

tuyệt tác Là bạn đồng khoa, rồi trở thành bạn tri

kỷ của Nguyễn Khuyến

Năm 1902, Dương Khuê qua đời, Nguyễn

Khuyến viết bài thơ chữ Hán, nhan đề “Vãn

đồng niên Vân Đình tiến sĩ Dương thượng thư”,

sau đó tác giả tự dịch ra chữ Nôm thành bài

“Khóc Dương Khuê” bằng thơ song thất lục bát

gồm có 38 câu thơ

Trang 14

“Giường kia treo cũng hững hờ Đàn kia gảy cũng ngẩn ngơ tiếng đàn”

-Giường treo: Trần Phồn thời Hậu Hán có người bạn thân là Từ Trĩ.Phồn dành riêng cho bạn một cái

giường, khi bạn đến chơi thì mời ngồi, lúc bạn về lại treo giường lên

-Đàn kia: Tương truyền Bá Nha và Chung Tử Kì là hai người bạn.Bá Nha là người chơi đàn giỏi Tử Kì

có tài nghe tiếng đàn của Bá Nha mà hiểu được

điều Bá Nha đang nghĩ.Người ta gọi đó là bạn tri âm (biết được tiếng đàn) Sau khi Tử Kì chết, Bá Nha đập bỏ đàn vì cho rằng không có ai hiểu được tiếng đàn của mình.Có thuyết nói là Bá Nha treo đàn

Trang 15

Ý nghĩa: Tác giả dùng 2 điển tích

này để nói lên tình bạn tri âm tri

kỉ giữa tác giả và Dương Khuê,

luôn đồng cảm, thấu hiểu nhau

,sẻ chia với nhau mọi niềm vui,

nỗi buồn.Từ đó làm khung bậc

nỗi đau mất bạn từ bên ngoài kết

đọng vào bên trong, sâu trong

tâm khảm của nhà thơ

Dương Khu ê

Trang 16

VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC- NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU

Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc là một

bài văn tế do Nguyễn Đình

Chiểu sáng tác để ngợi ca, thương

tiếc và kính phục những nghĩa quân

đã anh dũng đứng lên chống thực

dân Pháp tại Cần Giuộc vào

năm 1861

Trang 17

“…Trăm năm âm phủ ấy chữ quy, nào đợi gươm hùm treo mộ…”

sĩ thời Chiến quốc khi chết đã dặn con

treo cây gươm trên mộ để tỏ chí

nguyện chưa thành

Điển tích này ý nói người chết đi

chẳng kịp thấy mộng ước của mình

như thế nào,đã thành hay chưa, họ

cũng không thể biết người sống đối

với họ như thế nào

Trang 18

“Một mối xa thư đồ sộ, há để ai chém rắn đuổi hươu…”

Con hươu tiếng Hán có nghĩa là Lộc, còn có

nghĩa khác bổng lộc Thiên hạ thời Chiến quốc

thường tranh nhau xưng bá, đòi nhà Chu phải giao

Lộc đỉnh( cái đỉnh để nấu thịt hươu) cho mình

Tần Thuỷ Hoàng thống nhất Trung Hoa nhưng xa

xỉ tàn bạo, đốt sách, giết nho dân chúng lầm than

oán hận Các bậc kỳ tài thời đó cho rằng nhà Tần

đã tận khí số, nên con Hươu bỏ Tần mà đi Từ đó

thiên hạ tranh nhau tìm con Hươu nhà Tần

Hạng Võ , và Lưu Bang là hai trong số đó.Tương

truyền khi nghĩa quân của Lưu Bang đi ngang qua

Trang 19

Ý nghĩa: Câu đó ý nói nước ta là một quốc gia độc lập vĩ đại, chẳng lẽ lại để cho người khác ( mà không phải là mình)

đứng lên trừ kẻ xâm lăng ư?

Trang 21

2 Ví dụ: “Một chắc sa trường rằng chữ hạnh,

nào hay da ngựa bọc thây…”

( Trích “văn tế nghĩa sĩ Cần giuộc”-

Nguyễn Đình Chiểu”)

có nghĩa một phải khi bỏ thân nơi chiến

địa, nên lấy da ngựa bọc thây Cụm từ này

nằm trong câu nói của Mã Viện với một

người bạn tên là Mạnh Kí Câu nói đó như

sau (dịch): Làm trai nên chết ở chốn biên

thùy, lấy da ngựa bọc thây mà chôn mới là

đáng trọng, chứ sao lại chịu nằm ở xó

giường, chết ở trong tay bọn đàn bà con

trẻ thì có hay gì?

Ý nghĩa: Những người nghĩa sĩ Cần Giuộc

khi chiến đấu trên chiến trường dù biết là có

thể chết một cách đâu đớn nhưng họ vẫn

liều mình xông pha

Trang 22

“Hai vầng nhật nguyệt chói lòa, đâu dung lũ treo dê bán chó…”

( Trích “ Văn tế nghĩa sĩ Cần giuộc” – Nguyễn Đình Chiểu”)

 Dùng để chỉ những kẻ

chuyên đi lừa lọc, dối trá,

mang ý khinh bỉ

Ý nghĩa: ánh sáng chính

nghĩa, đạo lí không thể nào

dung túng cho sự phi lí, tha

cho bọn giặc Pháp ngông

cuồng, lừa lọc, dối trá và

Trang 23

“Vì ai khiến qua quần khó nhọc, ăn tuyết nằm sương…”

(Trích “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc”)

 Chỉ sự khó khăn, cực khổ, đầy

gian truân, đói lạnh, nghèo khó, thay

vì ăn cơm thì ăn bằng tuyết, thay vì

ngủ chiếu rơm thì nằm với sương”

Ý nghĩa: Thể hiện sự oán hờn,

căm phẫn đối với bọn thực dân

Pháp đã khiến cho dân ta đói,

nghèo, khổ cực

Trang 24

“Một duyên hai nợ âu đành phận

Năm nắng mười mưa dám quản công…”

( trích “ Thương vợ” – Tú Xương)

Một duyên hai nợ: Tình duyên chỉ

có một mà nợ lại gấp đôi

Năm nắng mười mưa: quanh năm

suốt tháng cực khổ, lầm lụi dãi nắng

dầm mưa

Ý nghĩa: Bà Tú đã phải một

mình đảm đương công việc gia

đình, nuôi chồng nuôi con chả

Trang 25

“Biết bao bướm lả ong lơi

Cuộc say đầy tháng, trận cười suốt đêm”

(Trích “ Nỗi thương mình” trong “Truyện Kiều”)

 Chỉ những người lẳng lơ, đầy dễ

dãi, ham hố những thú vui phù phiếm

mà không biết giữ gìn nhân cách của

bản thân

Ý nghĩa: Nói lên tình cảnh đau đớn, tủi

nhục của Kiều khi bị bán vào lầu xanh và

cũng là lời than thân trách phận của cô

Ngày đăng: 11/10/2013, 02:11

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bài/ chủ Yêu cầu cần đạt Thời |Hình thức tổ chức dạy học/hình Ghi chú - Cácthành ngữ, điển tích trong chương trình ngữ văn lớp 10 , 11
i chủ Yêu cầu cần đạt Thời |Hình thức tổ chức dạy học/hình Ghi chú (Trang 1)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w