Điển cố đồng nghĩa Điển tích là chỉ những việc có chép trong các sách vở thời xưa, được cô đọng lại trong một từ ngữ hay một thành ngữ để nói lên ý nghĩa của chuyện đó.. Nếu không biết
Trang 1MADE BY:
Lê Thị Diệu Thảo 11/6
Trang 2I Điển tích điển cố
1 Khái niệm:
Điển: Kinh sách thời xưa Cố: cũ, xưa Tích: chuyện xưa.
Điển cố đồng nghĩa Điển tích là chỉ những việc có
chép trong các sách vở thời xưa, được cô đọng lại
trong một từ ngữ hay một thành ngữ để nói lên ý nghĩa của chuyện đó.
Văn học cổ thường dùng rất nhiều Điển tích hay Điển
cố Nếu không biết được Điển tích thì không thể hiểu được ý nghĩa của câu văn hay câu thơ ấy.
Trang 32 Ví dụ:
BÌNH NGÔ ĐẠI CÁO- NGUYỄN TRÃI
Bình Ngô đại cáo là bài cáo
của Nguyễn Trãi viết bằng chữ Hán vào mùa xuân năm 1428, thay lời Bình Định vương Lê Lợi để
tuyên cáo kết thúc cuộc kháng chiến chống Minh, giành lại độc lập
cho Đại Việt
Trang 4“Đau lòng nhức óc, chốc đà mười mấy năm trời,
==> Chuyện Câu Tiễn nuôi chí phục quốc Sau khi
được tha, hàng ngày Câu Tiễn thường nếm mật đắng để
ăn không biết ngon, thường nằm trên đống củi gai để ngủ không được yên giấc, dốc lòng rèn luyện tinh thần chịu đựng gian khổ Sau 20 năm tích cực chuẩn bị, Câu Tiễn
đã thắng nước Ngô, vua Ngô là Phù Sai phải tự sát
Ý nghĩa:
Ðể diễn tả quyết tâm nuôi chí lớn,
Trang 5“Tấm lòng cứu nước, Vẫn đăm đăm muốn tiến về Đông,
Cỗ xe cầu hiền , Thường chăm chắm còn dành phía tả”
Điển tích Lưu Bị ba lần đi cầu Khổng Minh
để viết câu này Khi Lưu Bị đi cầu Khổng
Minh, Quan Vân Trường và Trương Phi đều
khuyên chỉ cần họ đi là được, không cần đến
Lưu Bị Tuy nhiên ông vẫn đích thân đi Sau
ba lần đến lều tranh mới mời được Khổng
Minh Để tỏ cái tình mến người tài, ông mời
Khổng Minh lên ngồi cùng xe với mình về
kinh Lưu Bị ngồi bên phải còn Khổng Minh
ngồi bên trái
Ý nghĩa: câu này Nguyễn Trãi ý muốn
nói nghĩa quân vẫn luôn muốn tìm người
tài giúp sức
Trang 6PHÚ SÔNG BẠCH ĐẰNG- TRƯƠNG HÁN SIÊU
Bạch Đằng giang phú (phú sông bạch
đằng) Bài này Trương Hán Siêu tả
cảnh sông Bạch Đằng, nhắc nhở
công của quân dân nhà Trần đánh
quân Nguyên, và khuyên hậu duệ
trong nước đời sau nên biết gìn giữ
giang sơn
Trang 7“Hội nào bằng hội Mạnh Tân: như vương sư họ Lã,Trận nào bằng trận Duy Thuỷ: như quốc sĩ họ Hàn”
+ Lã Vọng là một quân sư tài giỏi đã
giúp vua Vũhội quân các nước chư hầu
ở Mạnh Tân và diệt được vua Trụ tàn
ác
+ Hàn Tín là quốc sĩ (tài giỏi nổi
tiếng trong cảnước), người đã giúp
Lưu Bang đánh tan quân Tề ởDung
Trang 8NHÀN – NGUYỄN BỈNH KHIÊM
Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 – 1585)
sống gần trọn một thế kỉ đầy biến
động của chế độ phong kiến Việt
Nam: Lê – Mạc xưng hùng, Trịnh –
Nguyễn phân tranh
“Nhàn” là bài thơ Nôm nổi tiếng của
nhà thơ nêu lên quan niệm sống
của một bậc ẩn sĩ thanh cao, vượt
ra cái tầm thường xấu xa của cuộc
sống bon chen vì danh lợi
Trang 9 Điển tích này xuất phát từ sách "Nam Kha ký thuật" của Lý Công Tá đời Đường (Trung Quốc) Trong sách có kể truyện
Thuần Vu Phần nằm mộng thấy mình đi lạc vào một nước tên
là Hòe An, được vua Hòe An cho vào bái yết rồi gả con gái, cho làm phò mã và đưa ra quận Nam Kha làm quan Thái thú, cai trị
cả một vùng rộng lớn, vinh hoa phú quý tột bậc Khi tỉnh dậy, Thuần thấy mình nằm dưới gốc cây hòe có một chỉ về phía
nam, bị một đàn kiến bu quanh
Thuần nhớ lại giấc mộng của mình, so sánh với thực tế chung quanh, thấy rằng: Cây Hòe là nước Hòe An, cành cây phía nam
là đất Nam Kha
“Rượu đến cội cây ta sẽ uốngNhìn xem phú quý tựa chiêm bao”
Ý nghĩa: thể hiện lối sống riêng của mình, đó
là lối sống coi thường phú quí, hoà mình với
thiên nhiên (Đây là triết lý sống của Nguyễn
Bỉnh Khiêm )
Trang 10TRUYỆN KIỀU – NGUYỄN DU
Truyện Kiều (tên gốc là Đoạn
Trường Tân Thanh ) là tác phẩm nổi
tiếng nhất của đại thi hào Nguyễn
Du, kiệt tác của văn học Việt Nam
thời trung đại Với Truyện Kiều,
Nguyễn Du đã được tôn vinh là
Danh nhân văn hóa thế giới
Trang 11“Sân Lai cách mấy nắng mưa
Có khi gốc tử đã vừa người ôm”
(Đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích)
Sân lai : sân nhà lão Lai Tử, đây chỉ sân
cha mẹ Thúy Kiều.Theo Hiếu tử truyện:Lão
Lai Tử người nước Xuân thu rất có hiếu,tuy
đã già mà còn nhảy múa ở ngoài sân cho
cha mẹ xem để mua vui cho cha mẹ
Gốc tử : Gốc cây tử (cây thị), chỉ cha
mẹ.Cả câu ý nói cha mẹ đã già rồi (theo
điển cũ nói cay dâu quanh và cây tử là
những cây do cha mẹ trồng ở quanh nhà)
Ý nghĩa: nói lên tâm trạng nhớ thương, tấm
lòng hiếu thảo của Kiều với cha mẹ có lẽ
đã già yếu nơi quê nhà
Trang 12“ Một hai nghiêng nước nghiêng thành
Sắc đành đòi một tài đành hoạ hai ”.
(Đoạn trích Chị em Thúy Kiều)
Câu này Nguyễn Du lấy ý của thơ Lý
Diên Niên "bắc phương hữu giai nhân, tuyệt
thế nhi độc lập, nhất cố khuynh nhân thành,
tái cố khuynh nhân quốc" , nghĩa là "
phương bắc có người đẹp, nhất đời không
ai bằng, liếc trông một lần nghiêng thành,
trông hai lần nghiêng nước“; ngoảnh nhìn
lại một cái thì thành người ta bị xiêu,
ngoảnh nhìn lại cái nữa thì nước người ta
bị nghiêng ngả
Ý nghĩa : Ý nói sắc đẹp tuyệt trần của
Trang 13KHÓC DƯƠNG KHUÊ- NGUYỄN KHUYẾN
Nguyễn Khuyến (1835 – 1909), người Yên Đổ,
Bình Lục, Hà Nam Làm quan dưới triều Nguyễn
Yêu nước nhưng bất lực trước thời cuộc, cáo
quan về quê, không cam tâm làm tôi tớ - tay sai
cho thực dân Pháp
Dương Khuê (1839 – 1902) vị đại quan của triều
Nguyễn Là nhà thơ để lại một số bài thơ hát nói
tuyệt tác Là bạn đồng khoa, rồi trở thành bạn tri
kỷ của Nguyễn Khuyến
Năm 1902, Dương Khuê qua đời, Nguyễn
Khuyến viết bài thơ chữ Hán, nhan đề “Vãn
đồng niên Vân Đình tiến sĩ Dương thượng thư”,
sau đó tác giả tự dịch ra chữ Nôm thành bài
“Khóc Dương Khuê” bằng thơ song thất lục bát
gồm có 38 câu thơ
Trang 14“Giường kia treo cũng hững hờ Đàn kia gảy cũng ngẩn ngơ tiếng đàn”
-Giường treo: Trần Phồn thời Hậu Hán có người bạn thân là Từ Trĩ.Phồn dành riêng cho bạn một cái
giường, khi bạn đến chơi thì mời ngồi, lúc bạn về lại treo giường lên
-Đàn kia: Tương truyền Bá Nha và Chung Tử Kì là hai người bạn.Bá Nha là người chơi đàn giỏi Tử Kì
có tài nghe tiếng đàn của Bá Nha mà hiểu được
điều Bá Nha đang nghĩ.Người ta gọi đó là bạn tri âm (biết được tiếng đàn) Sau khi Tử Kì chết, Bá Nha đập bỏ đàn vì cho rằng không có ai hiểu được tiếng đàn của mình.Có thuyết nói là Bá Nha treo đàn
Trang 15Ý nghĩa: Tác giả dùng 2 điển tích
này để nói lên tình bạn tri âm tri
kỉ giữa tác giả và Dương Khuê,
luôn đồng cảm, thấu hiểu nhau
,sẻ chia với nhau mọi niềm vui,
nỗi buồn.Từ đó làm khung bậc
nỗi đau mất bạn từ bên ngoài kết
đọng vào bên trong, sâu trong
tâm khảm của nhà thơ
Dương Khu ê
Trang 16VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC- NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU
Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc là một
bài văn tế do Nguyễn Đình
Chiểu sáng tác để ngợi ca, thương
tiếc và kính phục những nghĩa quân
đã anh dũng đứng lên chống thực
dân Pháp tại Cần Giuộc vào
năm 1861
Trang 17“…Trăm năm âm phủ ấy chữ quy, nào đợi gươm hùm treo mộ…”
sĩ thời Chiến quốc khi chết đã dặn con
treo cây gươm trên mộ để tỏ chí
nguyện chưa thành
Điển tích này ý nói người chết đi
chẳng kịp thấy mộng ước của mình
như thế nào,đã thành hay chưa, họ
cũng không thể biết người sống đối
với họ như thế nào
Trang 18“Một mối xa thư đồ sộ, há để ai chém rắn đuổi hươu…”
Con hươu tiếng Hán có nghĩa là Lộc, còn có
nghĩa khác bổng lộc Thiên hạ thời Chiến quốc
thường tranh nhau xưng bá, đòi nhà Chu phải giao
Lộc đỉnh( cái đỉnh để nấu thịt hươu) cho mình
Tần Thuỷ Hoàng thống nhất Trung Hoa nhưng xa
xỉ tàn bạo, đốt sách, giết nho dân chúng lầm than
oán hận Các bậc kỳ tài thời đó cho rằng nhà Tần
đã tận khí số, nên con Hươu bỏ Tần mà đi Từ đó
thiên hạ tranh nhau tìm con Hươu nhà Tần
Hạng Võ , và Lưu Bang là hai trong số đó.Tương
truyền khi nghĩa quân của Lưu Bang đi ngang qua
Trang 19Ý nghĩa: Câu đó ý nói nước ta là một quốc gia độc lập vĩ đại, chẳng lẽ lại để cho người khác ( mà không phải là mình)
đứng lên trừ kẻ xâm lăng ư?
Trang 212 Ví dụ: “Một chắc sa trường rằng chữ hạnh,
nào hay da ngựa bọc thây…”
( Trích “văn tế nghĩa sĩ Cần giuộc”-
Nguyễn Đình Chiểu”)
có nghĩa một phải khi bỏ thân nơi chiến
địa, nên lấy da ngựa bọc thây Cụm từ này
nằm trong câu nói của Mã Viện với một
người bạn tên là Mạnh Kí Câu nói đó như
sau (dịch): Làm trai nên chết ở chốn biên
thùy, lấy da ngựa bọc thây mà chôn mới là
đáng trọng, chứ sao lại chịu nằm ở xó
giường, chết ở trong tay bọn đàn bà con
trẻ thì có hay gì?
Ý nghĩa: Những người nghĩa sĩ Cần Giuộc
khi chiến đấu trên chiến trường dù biết là có
thể chết một cách đâu đớn nhưng họ vẫn
liều mình xông pha
Trang 22“Hai vầng nhật nguyệt chói lòa, đâu dung lũ treo dê bán chó…”
( Trích “ Văn tế nghĩa sĩ Cần giuộc” – Nguyễn Đình Chiểu”)
Dùng để chỉ những kẻ
chuyên đi lừa lọc, dối trá,
mang ý khinh bỉ
Ý nghĩa: ánh sáng chính
nghĩa, đạo lí không thể nào
dung túng cho sự phi lí, tha
cho bọn giặc Pháp ngông
cuồng, lừa lọc, dối trá và
Trang 23“Vì ai khiến qua quần khó nhọc, ăn tuyết nằm sương…”
(Trích “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc”)
Chỉ sự khó khăn, cực khổ, đầy
gian truân, đói lạnh, nghèo khó, thay
vì ăn cơm thì ăn bằng tuyết, thay vì
ngủ chiếu rơm thì nằm với sương”
Ý nghĩa: Thể hiện sự oán hờn,
căm phẫn đối với bọn thực dân
Pháp đã khiến cho dân ta đói,
nghèo, khổ cực
Trang 24“Một duyên hai nợ âu đành phận
Năm nắng mười mưa dám quản công…”
( trích “ Thương vợ” – Tú Xương)
Một duyên hai nợ: Tình duyên chỉ
có một mà nợ lại gấp đôi
Năm nắng mười mưa: quanh năm
suốt tháng cực khổ, lầm lụi dãi nắng
dầm mưa
Ý nghĩa: Bà Tú đã phải một
mình đảm đương công việc gia
đình, nuôi chồng nuôi con chả
Trang 25“Biết bao bướm lả ong lơi
Cuộc say đầy tháng, trận cười suốt đêm”
(Trích “ Nỗi thương mình” trong “Truyện Kiều”)
Chỉ những người lẳng lơ, đầy dễ
dãi, ham hố những thú vui phù phiếm
mà không biết giữ gìn nhân cách của
bản thân
Ý nghĩa: Nói lên tình cảnh đau đớn, tủi
nhục của Kiều khi bị bán vào lầu xanh và
cũng là lời than thân trách phận của cô