1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

SỰ VẬN ĐỘNG CỦA CÁC THỂ VĂN TRẦN THUẬT TRONG GIAI ĐOẠN 1900 – 1945

19 147 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 124 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong mười thế kỷ phát triển của văn học Trung đại, bắt nguồn từ những nguyên nhân về quan niệm văn học và mỹ học đề cao các thể trữ tình, tụng ca hơn các thể văn trần thuật và xã hội đô

Trang 1

SỰ VẬN ĐỘNG CỦA CÁC THỂ VĂN TRẦN THUẬT TRONG GIAI ĐOẠN 1900 – 1945

Trong hệ thống các thể loại văn học, có thể nói, các thể văn trần thuật là bộ phận phản ánh rõ nét nhất quá trình hiện đại hóa văn học Trong mười thế kỷ phát triển của văn học Trung đại, bắt nguồn từ những nguyên nhân về quan niệm văn học và mỹ học (đề cao các thể trữ tình, tụng ca hơn các thể văn trần thuật) và xã hội (đô thị chậm phát triển, nhu cầu về văn học giải trí bị kiềm chế, số lượng người biết chữ chỉ chiếm một phần nhỏ trong xã hội) nên các thể văn trần thuật phát triển hết sức hạn chế, đặc biệt nếu so với các thơ trữ tình Số lượng tác phẩm ít ỏi, quy mô tác phẩm hạn chế, đề tài chủ yếu là ghi chép lịch sử và các câu chuyện dân gian, các bộ phận của văn học thị dân (các loại truyện diễm tình, trinh thám, kì án, kiếm hiệp ) phát triển hết sức yếu ớt Chỉ đến khi xã hội Việt Nam chuyển mình hiện đại hóa, ta mới chứng kiến sự phát triển có tính cách đột biến của các thể văn trần thuật (tiểu thuyết, truyện ngắn) Từ một thể văn “ở bên lề” của đời sống văn học, giờ đây, cùng với thơ trữ tình, các thể văn trần thuật đã trở thành “nhân vật chính”, “đứng ở vị trí trung tâm” (theo cách hình dung của các nhà hình thức luận Nga) của đời sống văn học Số lượng tác giả, tác phẩm gia tăng một cách đột biến Ngay trong những năm 1920, có những tác giả sáng tác hàng chục tiểu thuyết chỉ trong vòng mười năm (Hồ Biểu Chánh) hoặc có những cuốn tiểu thuyết có quy

mô hàng ngàn trang (các tiểu thuyết của Nguyễn Chánh Sắt ở Nam kỳ) Không những thế, số lượng độc giả đọc các thể văn trần thuật tăng vọt, thuộc đủ mọi tầng lớp người Gần như tờ báo nào trong giai đoạn 1932 – 1945 cũng có mục đăng truyện ngắn hoặc tiểu thuyết (dưới dạng feuilleton) Có những tờ báo chuyên xuất bản tiểu thuyết với số lượng hàng vạn bản (điển hình là Tiểu thuyết thứ bảy của Vũ Đình Long) Phạm vi phản ánh của tiểu thuyết bám sát đời sống đương đại, phản chiếu những vấn đề của con người đương thời, đồng thời, bút pháp tiểu thuyết cũng có những vận động thay đổi mang tính triệt để, từ bỏ các khuôn mẫu truyện truyền kì, chí quái, tiểu thuyết chương hồi, truyện thơ truyền thống để du nhập những

mô hình tiểu thuyết hiện đại với những kỹ thuật viết tân kỳ của phương Tây Các loại hình thể tài tiểu thuyết, truyện cũng có sự phát triển hết sức đa dạng từ truyện phiêu lưu, trinh thám, truyện tâm lý – xã hội, truyện phong tục, lịch sử, cho đến truyện luận đề Có thể nói, trong toàn bộ nền văn học, các thể văn trần thuật chính là đứa con của thời hiện đại

1 Sự vận động của đội ngũ tác giả

Sự vận động của đội ngũ tác giả, trên một phương diện, chính là hình ảnh phản chiếu sự vận động của đời sống văn học Điều này được phản ánh rất rõ trong mảng sáng tác trần thuật ở

Trang 2

Việt Nam trong nửa đầu thế kỷ XX Trong nửa đầu thế kỷ XX, các thế hệ nhà văn tài năng không ngừng nối tiếp nhau xuất hiện, làm phong phú đời sống sáng tác văn học Tất nhiên, quan sát sự vận động của đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ, không thể bỏ qua tính chất vùng miền Tính chất này thể hiện rất rõ trong giai đoạn đầu của tiến trình hiện đại hóa Có một số quy luật có thể dễ dàng nhận ra Trước hết, do miền Nam bị biến thành thuộc địa của Pháp sớm nên quá trình hiện đại hóa văn học cũng diễn ra ở đây trước miền Bắc Thứ hai,

do đặc điểm là một vùng đất mới nên văn hóa miền Nam cũng có phần cởi mở, ít tính hàn lâm hơn văn hóa ở miền Bắc thế nên Những quy luật này phản ánh rất rõ trong đời sống văn học Các tác giả văn học miền Nam bước vào quá trình hiện đại hóa sớm hơn các tác giả ở miền Bắc, đồng thời, học vấn của các tác giả này cũng mềm dẻo, linh hoạt hơn, thường là thu nhận, tổng hợp nhiều nền học vấn

Những sáng kiến về một nền văn học hiện đại theo kiểu phương Tây và viết bằng chữ Quốc ngữ xuất hiện ở những nhà văn miền Nam từ rất sớm, đặc biệt là những người công giáo Trường hợp điển hình là Nguyễn Trọng Quản, một người công giáo đã từng được học trong trường của Nhà thờ tại Việt Nam và Algérie và nhờ đó, có một sự tiếp xúc với văn học

phương Tây Chính sự tiếp xúc này đã làm xuất hiện trong ông ý định viết một tiểu thuyết kiểu mới về chính những con người đương thời: cuốn Truyện thầy Lazaro Phiền Tuy vậy, có lẽ, trong giai đoạn đầu của quá trình thuộc địa hóa Việt Nam, số lượng người sử dụng chữ quốc ngữ vẫn còn chưa nhiều, đặc biệt lại là những người có hiểu biết về văn học hiện đại phương Tây, hơn nữa, tiểu thuyết văn xuôi kiểu mới vẫn là một cái gì quá lạ lẫm với công chúng Việt Nam nên cuốn sách mới ra đời đã không được sự hưởng ứng của công chúng và có lẽ đó cũng chính là lí do khiến nhà văn này không tiếp tục sáng tác

Phải đến sau những phong trào Duy tân với những khẩu hiệu kêu gọi sử dụng chữ quốc ngữ thay thế chữ Hán và chữ Nôm thì phong trào viết văn bằng chữ quốc ngữ mới một lần nữa được khởi động nhưng lần này là trên phạm vi toàn quốc Có một thế hệ những nhà văn viết trần thuật bằng chữ quốc ngữ mà những người tiêu biểu nhất có thể kể đến đó là Hồ Biểu Chánh, Lê Hoằng Mưu, Trần Chánh Chiếu ở Nam kỳ và Tản Đà, Phan Kế Bính ở Bắc Kỳ Đặc điểm chung của các tác giả này đó là họ đều xuất thân từ nền giáo dục truyền thống và

đã đưa kinh nghiệm sáng tác các thể văn truyền thống như tiểu thuyết chương hồi, truyện tiểu sử nhân vật, truyện thơ vào đời sống văn chương đương đại Một số tác giả điển hình như Phan Kế Bính vẫn trung thành với đề tài lịch sử (các tập truyện Nam Hải dị nhân và tiểu

Trang 3

thuyết Hưng Đạo đại vương) nhưng đa số các nhà văn còn lại đều tập trung vào đề tài đời sống đương đại Dẫu vậy, số lượng tác giả viết trần thuật bằng chữ quốc ngữ trong hai thập niên đầu của thế kỷ XX vẫn còn thưa thớt Điều này một phần cũng liên quan đến mặt bằng dân trí chưa cao, sự phổ biến của chữ quốc ngữ và học vấn mới trong xã hội vẫn còn chưa rộng khắp

Phải đến những năm 1920, văn học mới thực sự chuyển mình Thực ra, ngay trong những năm 1910, đội ngũ những người viết trần thuật vẫn tiếp tục có sự bổ sung với những tác giả chuyên viết truyện ngắin như Nguyễn Bá Học hay Phạm Duy Tốn Nhưng, phải đến những năm 1920, thực sự có một sự đột biến trong đội ngũ những nhà văn viết trần thuật Điều đáng chú ý là trong giai đoạn này, văn học ở Nam kỳ phát triển sôi động hơn hẳn so với ở Bắc kỳ với hàng trăm tác giả chuyên viết trần thuật và chủ yếu là tiểu thuyết mà những tên tuổi quan trọng có thể kể đến là Tân Dân Tử, Phú Đức, Bửu Đình, Pham Minh Kiên, Biến Ngũ Nhi, Nguyễn Văn Vinh, Lê Hoằng Mưu, Hồ Biểu Chánh Ở miền Bắc, phải kể đến các tên tuổi như Hoàng Ngọc Phách, Đặng Trần Phất, Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Tường Tam, Vũ Bằng, Tam Lang Dẫu vậy, điều đặc biệt là các tác giả miền Bắc tuy mỏng về đội ngũ, số lượng tác phẩm không nhiều nhưng lại tạo nên được những hiện tượng văn chương gây tiếng vang trong toàn quốc trong một thời gian dài như tiểu thuyết Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách hay các truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan trên An Nam tạp chí Hơn nữa, điều đáng kể là nhiều nhà văn sáng tác ở giai đoạn này, cả ở Nam kỳ lẫn Bắc kỳ đều xuất thân từ nhà trường tân học nên đã làm chủ nhiều kĩ thuật văn chương hiện đại

Sau 1932, đội ngũ những người viết văn liên tục được bổ sung những cây bút tài năng Những nhà văn xuất hiện từ trước 1932 như Nhất Linh, Nguyễn Công Hoan tiếp tục sáng tác Nhiều nhà văn xuất thân từ nền giáo dục cựu học cũng có những thay đổi để bắt kịp với đời sống văn học đương đại mà điển hình là trường hợp của Ngô Tất Tố Tuy vậy, chiếm số lượng áp đảo tuyệt đối vẫn là các nhà văn viết trần thuật xuất thân từ giáo dục tân học Những năm 1932 – 1935, những nhà văn viết trần thuật gây được tiếng vang lớn trong đời sống phần lón đều thuộc nhóm Tự lực văn đoàn: Nhất Linh và Khái Hưng với những tiểu thuyết ký tên chung Ở phía “đối trọng” với TLVĐ là nhóm Tân dân với cây bút chủ đạo trong thời gian này là Nguyễn Công Hoan Sau năm 1935, đội ngũ nhà văn viết trần thuật không ngừng mở rộng, Nhất Linh và Khái Hưng của nhóm TLVĐ bắt đầu viết các tác phẩm ký tên riêng đồng thời có sự bổ sung thêm cây bút truyện ngắn Thạch Lam Đội ngũ những người

Trang 4

viết cho Tân dân được mở rộng với Lan Khai, Nguyễn Triệu Luật, Nhiều nhà văn trẻ xuất hiện trong đời sống văn học mà điển hình là Nguyên Hồng Nhiều nhà văn trước đây chỉ chuyên viết phóng sự nay cũng chuyển sang viết trần thuật và có những thành tựu lớn mà nổi bật là Vũ Trọng Phụng với bộ ba tiểu thuyết Số đỏ, Giông tố, Vỡ đê Sau năm 1939, trong khi những tác giả lớp trước tiếp tục sáng tác và có những thành tựu đỉnh cao thì đội ngũ những người viết trần thuật lại được tiếp tục bổ sung với một loạt tên tuổi quan trọng như Nguyễn Tuân, Nam Cao, Tô Hoài, Bùi Hiển, Nguyễn Huy Tưởng

Như vậy, có thể nói, trong nửa đầu thế kỷ XX, đội ngũ những nhà văn viết các thể văn trần thuật không ngừng được bổ sung với những tài năng lớn, có trình độ học vấn cao, am hiểu

cả văn học truyền thống Việt Nam và văn học hiện đại thế giới Chính họ đã làm nên sự lớn mạnh có tính đột biến của các thể văn trần thuật trong giai đoạn đầu của tiến trình hiện đại hóa văn học ở Việt Nam

2 Sự đa dạng về thể tài

Sự phát triển của đội ngũ người viết các thể văn trần thuật đã kéo theo sự phát triển mạnh

mẽ của bộ phận sáng tác trần thuật Một trong những dấu hiệu quan trọng của sự phát triển

đó chính là sự đa dạng về thể tài Để thấy được tầm vóc của sự thay đổi này, cần phải nhìn lại sự vận động của văn học Trung Đại Trong quá khứ, trần thuật không chỉ là một bộ phận chậm phát triển so với thơ ca mà trong sự phát triển trần thuật, có sự phát triển không đồng đều giữa các thể tài Điều này có thể nhận thấy rõ khi so sánh với sự phát triển của các thể văn trần thuật trong văn học Trung Quốc Về trần thuật dài, tiểu thuyết chương hồi và tiểu truyện thơ Nôm là hai hình thức chủ đạo Tiểu thuyết chương hồi Việt Nam thời Trung Đại chủ yếu tập trung vào đề tài lịch sử Các dạng tiểu thuyết võ hiệp, kì án, diễm tình hoặc tiểu thuyết gia đình hầu như không phát triển Truyện thơ Nôm ở Việt Nam chủ yếu là viết về đề tài tài tử giai nhân với các cốt truyện tài tử giai nhân vay mượn trong văn học Trung Quốc Về các thể trần thuật ngắn, dạng thức trần thuật phát triển nhất vẫn là các dạng truyện chí quái, chí dị ghi chép lại các thần tích, thần phả,các chuyện ma quái trong dân gian Từ thế kỷ XVI, bắt đầu xuất hiện loại truyện truyền kì, chịu ảnh hưởng của văn học Trung Quốc với các cốt truyện phản ánh đời sống xã hội pha trộn với các yếu tố kỳ ảo, ma quái Tuy vậy, truyền kì ở Việt Nam không có sự phát triển mạnh về số lượng và nhiều tập truyền kì vẫn có sự vay mượn cốt truyện của văn học và tín ngưỡng dân gian Tình trạng chậm phát triển nói trên một phần quan trọng có thể được giải thích bởi sự phát triển chậm của đô thị và đời sống đô thị

Trang 5

song song với việc nền văn hóa chủ yếu mang tính chất tinh hoa, chữ viết và các sản phẩm văn hóa không được phổ biến trong đại chúng

Sang đầu thế kỷ XX, cấu trúc thể tài của các thể văn trần thuật đã có sự thay đổi Thi pháp trần thuật thay đổi sâu sắc dưới sự ảnh hưởng của văn học phương Tây Truyện thơ chỉ còn tồn tại đến những năm 1920 sau đó, sự phổ biến của văn hóa đọc đã dẫn đến việc truyện văn xuôi thay thế dần truyện Nôm Tiểu thuyết chương hồi duy trì ảnh hưởng đến năm 1920 sau đó cũng biến đổi dần để trở thành tiểu thuyết hiện đại Truyện chí quái, chí dị không còn phổ biến như trước dù một số nhà văn như Tchuya, Lan Khai, Nguyễn Tuân vẫn tiếp tục viết các truyện kỳ ảo, kinh dị Một phần quan trọng là do những quan niệm duy lý và tinh thần khoa học Tiểu thuyết chương hồi về lịch sử biến đổi dần thành tiểu thuyết lịch sử và trở thành một trong những thể tài phát triển hết sức mạnh mẽ trong đời sống văn học Tiểu thuyết lịch sử xuất hiện ngay trong thập niên đầu tiên của thế kỷ XX với tên tuổi của Phan Kế Bính Trong những năm 1920, tiểu thuyết lịch sử ghi dấu các nhà văn như Phạm Minh Kiên , Tân Dân Tử, Nguyễn Chánh Sắt, Đinh Gia Thuyết và đặc biệt là Nguyễn Tử Siêu Sự phát triển của tiểu thuyết lịch sử trong giai đoạn này chủ yếu gắn liền với tinh thần dân tộc, phản kháng lại một cách ngấm ngầm ách đô hộ của người Pháp Sau năm 1932, bất chấp sự phát triển mạnh mẽ của các dạng tiểu thuyết khác, tiểu thuyết lịch sử vẫn phát triển mạnh với các tên tuổi tài năng như Khái Hưng, Lưu Trọng Lư, Nguyễn Triệu Luật, Trần Thanh Mại, Ngô Tất

Tố và Đào Trinh Nhất, Chu Thiên và đặc biệt là Nguyễn Huy Tưởng

Cùng với tiểu thuyết chương hồi về đề tài lịch sử, truyên thơ Nôm về tài tử giai nhân cũng có những sự biến đổi như chuyển sang viết bằng văn xuôi, hiện đại hóa thi pháp, lấy đối tượng phản ánh la cuộc sống và con người đương đại để trở thành tiểu thuyết tâm lý diễm tình hiện đại Cần ghi nhận rằng tiểu thuyết hiện đại đầu tiên đạt được sự thành công về mặt xã hội, được độc giả lẫn giới phê bình đương thời đánh giá cao, tiểu thuyết Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách chính là một sự kết hợp giữa tiểu thuyết tâm lý, tiểu thuyết bằng thư kiểu Tây phương với tiểu thuyết tài tử giai nhân truyền thống của người Việt Sau 1932, tiểu thuyết và truyện tâm lý có sự phát triển mạnh theo hướng hiện đại hóa, du nhập các mô hình thể loại và thi pháp của phương Tây Trong sự phát triển của nhóm thế tài này, có vai trò quan trọng của các nhà văn trong nhóm Tự lực văn đoàn Sau đó, phải kể đến tên tuổi của những nhà văn quan trọng là Nguyễn Tuân và Nam Cao Một điều quan trọng cần phải được nhấn mạnh là

sự phát triển của tiểu thuyết, truyện tâm lý gắn liền với sự đa dạng hóa về đề tài phản ánh

Trang 6

(xem phần tiếp theo), không chỉ giới hạn trong đề tài tình yêu, hôn nhân mà còn mở rộng sang đề tài về đời sống trụy lạc của thanh niên hay những đấu tranh tư tưởng của trí thức, văn nghệ sĩ

Bên cạnh hai thể tài nói trên, có một thể tài cũng đặc biệt phát triển là các loại truyện, tiểu thuyết luận đề Sự phát triển của nhóm thể loại này gắn liền với nhu cầu đấu tranh về mặt chính trị, xã hội, văn hóa của nhà văn Các dạng truyện và tiểu thuyết luận đề xuất hiện ngay trong giai đoạn đầu của văn học hiện đại với các sáng tác của Tản Đà, Nguyễn Bá Học với các chủ đề về đổi mới, hiện đại hóa xã hội hoặc bảo vệ luân lý truyền thống Trong giai đoạn

1932 – 1939, tiểu thuyết, truyện luận đề trở thành một hình thức thể loại có tính thời thượng với các sáng tác về đề tài tự do cá nhân, hôn nhân, gia đình, mối quan hệ giữa thế hệ trẻ và gia đình truyền thống gắn với tên tuổi của các nhà văn như Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Nguyễn Công Hoan Từ 1936 trở đi, các nhà văn nói trên ngoại trừ Nguyễn Công Hoan vẫn tiếp tục viết truyện, tiểu thuyết luận đề nhưng chuyển sang đề tài về người trí thức và trách nhiệm xã hội hoặc những suy tư về bản chất của nghệ thuật và sứ mạng của người nghệ sĩ Nối tiếp mạch này là những sáng tác truyện ngắn của Nam Cao

Bên cạnh hai những thể tài ít nhiều có liên hệ với những thể tài mang tính truyền thống của văn học dân tộc nói trên, không thể không kể đến một thể loại trần thuật xuất hiện cùng với quá trình hiện đại hóa văn học và hiện diện ở vị trí chủ lưu, với nhiều sáng tác có giá trị về nghệ thuật và tư tưởng: các dạng truyện, tiểu thuyết phong tục Khái niệm phong tục ở đây được hiểu không phải như là những thói quen sinh hoạt đặc trưng của một dân tộc mà là những sinh hoạt nói chung của một cộng đồng người Với cách hiểu như vậy, sự phát triển của truyện và tiểu thuyết phong tục đặc biệt gắn bó với dòng văn học hiện thực với các nhà văn như Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học, Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố,

Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng, Tô Hoài, Bùi Hiển, Nguyễn Đình Lạp Bên cạnh đó, tính chất mô tả phong tục cũng hiện diện trong sáng tác của nhóm Tự lực văn đoàn khi họ mô tả những sinh hoạt của đại gia đình phong kiến và tầng lớp tư sản tiểu tư sản Trên một khía cạnh nhất định, cũng có thể coi Nguyễn Tuân là một nhà văn mô tả phong tục điển hình khi ông tập trung tái hiện đời sống truỵ lạc của một bộ phận thanh niên đương thời hoặc những thú chơi của giới Nho sĩ thời trước

Những thể tài được liệt kê ở trên là những thể tài không chỉ phát triển mạnh về số lượng mà còn có những tác phẩm có chất lượng về nghệ thuật, có giá trị lâu bền trong đời sống văn

Trang 7

học Bên cạnh những thể tài đó, cần phải ghi nhận sự phát triển của một loạt những thể tài mang là sản phẩm trực tiếp của quá trình thương mại hóa văn học: những thể tài mang tính giả trí sâu sắc Chúng tôi muốn nói đến các dạng truyện trinh thám, truyện phiêu lưu Có thể nói các dạng thể tài này xuất hiện ngay trong giai đoạn đầu của quá trình hiện đại hóa văn học, đặc biệt là ở Nam kì, nơi có một thị trường văn học với nhu cầu giải trí hết sức phát triển Sau 1932, những thể tài này phổ biến cả ở miền Bắc với những nhà văn chuyên viết truyện trinh thám hoặc truyện phiêu lưu đường rừng như Lan Khai, Tchuya, Thế Lữ và đặc biệt là Lê Văn Trương, người có một sức sáng tác phi thường với hàng chục đầu tác phẩm được sáng tác và xuất bản trước năm 1945 Dẫu vậy, do không có một truyền thống lâu dài,

do sức ép của thị trường và nên những dạng truyện, tiểu thuyết này mặc dù nhiều về số lượng nhưng không có được những đỉnh cao về nghệ thuật

3 Sự phong phú về đề tài và chủ đề

Những vận động của trần thuật Việt Nam trong nửa đầu thế kỷ XX không chỉ thể hiện qua sự

đa dạng hóa của hệ thống thể tài mà còn qua sự thay đổi về phạm vi phản ánh của tác phẩm

Có thể nói, nhìn một cách khái quát, từ góc độ phạm vi phản ánh, đã diễn ra những thay đổi mang tính cách mạng của thể văn trần thuật Trong thời Trung đại, sáng tác trần thuật thường lựa chọn các đề tài quá khứ hoặc vay mượn cốt truyện từ văn học nước ngoài Chúng ta đã biết rõ là Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du là được xây dựng trên cơ sở cốt truyện chương hồi của Thanh Tâm Tài Nhân ở Trung Quốc Trong toàn bộ kho tàng truyện Nôm bác học ở Việt Nam thời Trung Đại hiện chỉ có một truyện Nôm là được sáng tạo hoàn toàn về cốt truyện là Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu, dù trong truyện có chỗ nhắc đến “Truyện Tây Minh” ở Trung Quốc Một hiện tượng khác cũng rất phổ biến là các nhà văn thường lấy các

đề tài có tính cách hồi cố Điển hình cho khuynh hướng này Truyền Kỳ mạn lục của Nguyễn

Dữ Mặc dù được sáng tác vào khoảng thế kỷ XVI, vào thời Lê Mạt nhưng toàn bộ các truyện trong tập sách này đều lấy bối cảnh là giai đoạn cuối Trần đầu Hồ, nghĩa là vào thế kỷ XIV, cách đó hơn một thế kỷ Tất nhiên, dù vay mượn cốt truyện hoặc lấy bối cảnh quá khứ nhưng hiện thực sinh hoạt được phản ảnh trong tác phẩm vẫn mang nhiều dáng dấp của xã hội đương thời, khi nhà văn sáng tác tác phẩm Dẫu vậy, vẫn phải thấy đây là một đặc trưng về nội dung phản ánh của trần thuật trong giai đoạn Trung Đại Điều này có thể được giải thích bằng việc chế độ quân chủ có một sự kiểm soát nghiêm ngặt về tư tưởng đối với sáng tác văn học Mọi sáng tác đề cập đến hiện thực xã hội có tính đương đại đều có thể có nguy cơ

Trang 8

động chạm đến những húy kị hoặc bị diễn dịch theo những cách thức bất lợi cho người cầm bút và dẫn đến những sự nguy hiểm cho tác giả Việc lựa chọn những đề tài có tính hồi cố hoặc vay mượn cốt truyện cũng là một cách giữ an toàn cho người sáng tác Tất nhiên, ở đây, không loại trừ cả các nguyên nhân về mỹ học đặc thù của văn chương Trung Đại (tính tập cổ, sùng cổ, tính trữ tình )

Ngay từ cuối thế kỷ XIX, với những người đã được tiếp xúc với văn học phương Tây như Nguyễn Trọng Quản, những hạn chế của trần thuật thời Trung đại về phạm vi phản ánh đã sớm lộ ra Đó chính là lí do khiến ông lựa chọn câu chuyện về một con người đương thời, một con người bình thường với những lầm lạc và sám hối làm đối tượng phản ánh cho tác phẩm của mình Bước sang đầu thế kỷ XX, trước yêu cầu nâng cao dân trí, chấn hưng đạo đức xã hội, trong một định hướng chung là kiểm điểm lại nền văn hóa truyền thống, văn chương Trung Đại nói chung và sáng tác trần thuật nói riêng cũng bị đưa ra phê phán Nhà Nho yêu nước cho rằng trần thuật truyền thống “mô tả sai cảnh thực”, “truyện chí quái, truyện truyền kì” chỉ kể lại những chuyện ma quỷ hão huyền, “sống say chết mộng” mà không “mở mang trí khôn cho dân” Ngay cả những truyện tài tử giai nhân mà điển hình là Truyện Kiều cũng bị đưa ra phê phán vì “ru ngủ thanh niên” trong chuyện tình ái, không khuyến khích óc phấn đấu và chí tiến thủ, thậm chí trNhững yêu cầu về tính chân thực, về giá trị nhận thức (được hình dung rằng tác phẩm trần thuật phải cung cấp những hiểu biết cụ thể về tự nhiên

và xã hội để góp phần nâng cao dân trí cho nguời đọc) được đặt ra với những người viết trần thuật Tất nhiên, ý thức về chức năng nhận thức không thể tách rời khỏi ý thức về chức năng giáo dục của trần thuật Sáng tác trần thuật được đòi hỏi phải góp phần vào công cuộc cải lương phong tục, chấn hưng đạo đức xã hội Chính những quan điểm này đã mở đường cho

sự thay đổi của các thể văn trần thuật về phạm vi phản ánh

Nhìn một cách khái quát, thay đổi lớn nhất của các sáng tác trần thuật nửa đầu thế kỷ XX so với trần thuật thời Trung đại trước hết thể hiện ở việc phạm vi phản ánh của tác phẩm được hướng vào chính đời sống đương đại Hơn nữa, cái nhìn của nhà văn về hiện thực cũng trở nên phức tạp hơn Cái đời thường với những hiện thực sinh hoạt bình dị được nhà văn quan tâm nhiều hơn Cái nhìn đơn tuyến theo kiểu thiện – ác gắn với những giá trị đạo đức, luân lí

cổ truyền của Khổng giáo cũng từng bước được giải thể Thay vào đó là con người trong tính chưa hoàn chỉnh, trong cuộc đấu tranh tốt - xấu, thiện – ác, trong sự tự hoàn thiện Văn chương đương đại cũng lấy con người bình thường thuộc đủ mọi tầng lớp xã hội để đưa vào

Trang 9

sáng tác, thay cho tính tinh hoa của văn chương Trung đại Đọc văn chương Trung đại, ta chỉ bắt gặp những con người xuất chúng ở những phương diện khác nhau (người Nho sĩ có đạo đức cao quý, ông quan có phẩm hạnh, người tài tử, người giai nhân ) thì văn học Hiện đại

đã đưa con người bình thường vào trong sáng tác của mình, thậm chí cả những nhân vật méo mó, không hoàn chỉnh về hình hài, bị tật bệnh về nhân cách và thuộc những tầng lớp dưới đáy xã hội Những yếu tố kỳ ảo, hoang đường, siêu nhiên từng bước cũng được loại trừ khỏi sáng tác trần thuật Thay vào đó là tinh thần duy lý, khoa học, “có thật”, “đúng sự thật” của con người đương đại Trên một cái nền chung đó, từng giai đoạn phát triển của nền văn học lại nổi lên một số những đề tài mang tính đặc thù, thu hút nhiều cây bút sáng tác với những cách nhìn khác nhau

Dẫu vậy, sự đổi mới không có nghĩa là hoàn toàn cắt đứt với truyền thống Ở một số đề tài, vẫn có thể nhận ra tính liên tục giữa truyền thống và hiện đại Điển hình trong số này là đề tài lịch sử Trong quá khứ, đây cũng là một trong những đề tài phát triển mạnh nhất của trần thuật Trung đại với các bộ tiểu thuyết chương hồi bằng chữ Hán mà điển hình là Hoàng Lê Nhất thống chí Bước sang giai đoạn hiện đại hóa, mảnh đất màu mở của sáng tác trần thuật

về đề tài lịch sử chính là tinh thần dân tộc luôn âm ỉ trong hoàn cảnh đất nước bị ngoại bang xâm lược Điều đó giải thích cho việc các trần thuật về đề tài lịch sử xuất hiện ngay trong giai đoạn đầu tiên của quá trình hiện đại hóa văn học và phát triển một cách liên tục cho đến năm

1945 Từ Hưng Đạo đại vương (tiểu thuyết lịch sử của Phan Kế Bính viết về Trần Hưng Đạo, một nhân vật được người Việt Nam coi là một trong Tứ bất tử) cho đến Gia Long tẩu quốc của Phạm Minh Kiên (tiểu thuyết lịch sử viết về quá trình kháng chiến chống Tây Sơn của Hoàng đế Gia Long) hay Vua bà Triệu Ẩu (tiểu thuyết lịch sử viết về bà Triệu), Sấm trận đêm đông (tiểu thuyết lịch sử viết về chiến thắng chống Thanh của hoàng đế Quang Trung) của Nguyễn Tử Siêu, lịch sử đã trở thành một đề tài thu hút được nhiều nhà văn đồng thời cũng tạo được một lượng công chúng đông đảo Điểm chung của các tiểu thuyết này đó là tác giả của chúng đã khéo léo kết hợp nhu cầu giải trí với tinh thần dân tộc âm ỉ trong công chúng đương thời Nhân vật chính của các tiểu thuyết này đa phần đều là những anh hùng lịch sử danh tiếng của dân tộc, nội dung tiểu thuyết tập trung vào những kì tích, đặc biệt là kì tích chống ngoại xâm của những vị anh hùng này Bên cạnh đó, để thỏa mãn nhu cầu giải trí của công chúng, các tiểu thuyết này thường được triển khai với kết cấu chương hồi với cốt truyện nhấn mạnh vào các yếu tố giao tranh và mưu trí giống như những tiểu thuyết lịch sử Trung Quốc được dịch rất phổ biến trong giai đoạn đó mà điển hình là Tam Quốc diễn nghĩa (đã

Trang 10

được nhiều người dịch, cả ở trong Nam lẫn ngoài Bắc)

Sau 1932, bất chấp sự phát triển mạnh của các đề tài có tính thời sự, tiểu thuyết lịch sử vẫn phát triển một cách mạnh mẽ Trong giai đoạn này, đề tài lịch sử gắn với tên tuổi của những nhà văn như Khái Hưng, Lan Khai, Nguyễn Triệu Luật, Trần Thanh Mại, Ngô Tất Tố và Đào Trinh Nhất, Chu Thiên và đặc biệt là Nguyễn Huy Tưởng Mỗi nhà văn trong số này lại triển khai những con đường khác nhau trong việc khai thác đề tài lịch sử Khái Hưng và Lan Khai

có thể nói là đại diện cho một khuynh hướng mới trong việc khai thác đề tài lịch sử sau năm

1932 Nếu như Khái Hưng chỉ có một tiểu thuyết lịch sử là Tiêu Sơn tráng sĩ thì Lan Khai được biết đến như một nhà văn chuyên chú ở đề tài lịch sử Ông có hàng loạt tiểu thuyết lịch

sử như Ai lên Phố Cát, Chiếc Ngai vàng, Cái hột mận, Gái thời loạn, Liếp Li, Bóng cờ trắng trong sương mù, Cưỡi đầu voi dữ, Đỉnh non thần, Cả Khái Hưng và Lan Khai đều tích cực loại trừ cái trang nghiêm của trần thuật về đề tài lịch sử trong giai đoạn trước, đưa vào cái không khí lãng mạn của thời đại Lịch sử đối với các ông chỉ còn là một cái khung cho sự hư cấu Bên cạnh những nhân vật có thật, các ông đều sáng tạo thêm hàng loạt nhân vật hư cấu đồng thời, trung tâm của tiểu thuyết lịch sử của các ông thường là các mối tình lãng mạn Có thể nói, Khái Hưng và Lan Khai đã tích cực khai thác đề tài lịch sử theo hướng dã sử hóa Trong khi đó, các nhà văn như Đào Trinh Nhất, Trần Thanh Mại, Nguyễn Triệu Luật vẫn đi theo con đường của các nhà văn trước năm 1932 nghĩa là trung thành các chi tiết được ghi trong chính sử nên khó có thể phân biệt được tiểu thuyết lịch sử của các ông với các ký sự lịch sử Tất nhiên, cũng có thể kể đến một khuynh hướng khác là khai thác nét đẹp mang tính phong tục của lịch sử Điển hình cho khuynh hướng này là Nguyễn Tuân, Ngô Tất Tố, Chu Thiên Tiểu thuyết của các ông thường tái hiện lại đời sống, sinh hoạt của những lớp người

đã qua trong lịch sử, đặc biệt là tầng lớp Nho sĩ, trí thức Có thể nói, đây là một mảng đề tài

có sức hấp dẫn lớn đối với nghệ thuật Việt Nam hiện đại Trong hội họa, trong số những tác phẩm xuất hiện ở giai đoạn mở đầu của hội họa Việt Nam hiện đại, có rất nhiều tác phẩm tái hiện lại đời sống, sinh hoạt của lớp người này, điển hình là các họa phẩm Cụ đồ nho của Nam Sơn hay Buổi bình văn của Lê Văn Miến

Nếu như đề tài lịch sử ít nhiều thể hiện tính liên tục của trần thuật từ Trung đại đến Hiện đại

về phạm vi phản ánh thì đề tài sinh hoạt xã hội lại là một trong những mảng đề tài thể hiện sự chuyển biến rõ nét của sáng tác trần thuật Khuynh hướng lấy hiện thực xã hội đương thời làm đối tượng phản ánh của trần thuật đã xuất hiện ngay từ tiểu thuyết hiện đại đầu tiên của

Ngày đăng: 29/06/2020, 10:17

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w