Mục đích của luận án nhằm làm rõ GTDSVH và việc phát huy GTDSVH của VMQTG với phát triển du lịch ở Thủ đô Hà Nội hiện nay. Bàn luận về những vấn đề đặt ra để phát huy hơn nữa các giá trị của di sản VMQTG trong bối cảnh phát triển du lịch Hà Nội trước mắt và lâu dài.
Trang 1HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
ĐOÀN THỊ THANH THUÝ
GI¸ TRÞ DI S¶N V¡N HãA VíI PH¸T TRIÓN DU LÞCH
ë THñ §¤ Hµ NéI HIÖN NAY
(Qua nghiên cứu trường hợp Văn Miếu - Quốc Tử Giám)
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH: VĂN HÓA HỌC
Mã số: 62 31 06 40
HÀ NỘI - 2018
Trang 2Công trình được hoàn thành tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS NGUYỄN DUY BẮC
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:
Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện
họp tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Vào hồi giờ ngày tháng năm 2018
Có thể tìm hiểu luận án tại Thư viện Quốc gia
và Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thăng Long - Hà Nội, mảnh đất địa linh nhân kiệt, từ lâu đã được biết đến như một địa chỉ du lịch nổi tiếng trong và ngoài nước Trải qua một nghìn năm phát triển, Thủ đô Hà Nội vẫn giữ trong mình những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể vô cùng đặc sắc
Trong các điểm du lịch của Hà nội hiện nay, có thể nói Văn Miếu - Quốc Tử Giám (VMQTG) là một điểm du lịch hấp dẫn nên đã thu hút khách thăm quan đến đây ngày một đông Một vấn đề đặt ra là các giá trị
di sản văn hóa (GTDSVH) của VMQTG đã trở thành nguồn lực cho sự phát triển du lịch ở Hà Nội Đây là một biểu hiện của mối quan hệ giữa văn hóa và kinh tế trong quá trình phát triển bền vững hiện nay Làm thế nào để duy trì và khai thác các giá trị văn hóa của di sản này cho việc phát triển du lịch đang là một vấn đề đặt ra một cách nghiêm túc Do vậy, việc nghiên cứu các giá trị văn hóa của di tích này với việc phát triển du lịch ở thủ đô Hà Nội nói chung và VMQTG nói riêng là vấn đề
mà luận án quan tâm phân tích, đánh giá
2 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Để phù hợp với nội dung nghiên cứu, NCS chỉ tổng quan các tài liệu có liên quan trực tiếp, chia thành 3 mảng lớn:
- Các tài liệu nghiên cứu về GTDSVH với phát triển du lịch Trong
đó bao gồm:
+ Các tài liệu của tác giả nước ngoài
+ Các tài liệu của tác giả trong nước
- Các tài liệu nghiên cứu về GTDSVH với phát triển du lịch ở Thủ đô
Hà Nội
- Các tài liệu nghiên cứu về GTDSVH của VMQTG với phát triển du lịch
VMQTG thành nguồn lực phát triển kinh tế qua hoạt động du lịch Hà Nội
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 43.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài và cơ sở lý luận của luận án;
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Vai trò của GTDSVH VMQTG với phát triển du lịch ở Thủ đô Hà Nội hiện nay
5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở phương pháp luận
Thực hiện đề tài, luận án dựa trên cơ sở phương pháp luận của CNDV của học thuyết mác xít về MQH biện chứng giữa giữa kinh tế và văn hóa trong "đời sống hiện thực" Đồng thời vận dụng quan điểm của ĐCSVN về vai trò của văn hóa với phát triển KT - XH ở nước ta hiện nay
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp tiếp cận liên ngành trong nghiên cứu văn hóa học
Trang 56.2 Về thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận án có thể giúp cho các nhà quản lý văn hóa, quản lý kinh tế địa phương những gợi ý cần thiết khi hoạch định chính sách, đưa ra các chủ trương phát triển du lịch phù hợp, phát huy lợi thế GTDSVH VMQTG với phát triển du lịch
7 Nội dung của luận án
Ngoài phần mở đầu (6 trang), Kết luận (3 trang), Danh mục tài liệu tham khảo (15 trang), Phụ lục (34 trang), nội dung luận án kết cấu thành
4 chương, 12 tiết, cụ thể là: Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài và cơ sở lý luận (38 trang); Chương 2 Khái quát về Văn Miếu - Quốc Tử Giám và các giá trị của di sản Văn Miếu - Quốc Tử Giám (32 trang); Chương 3 Nhận diện khai thác giá trị của di sản văn hóa Văn Miếu - Quốc Tử Giám với phát triển du lịch Hà Nội hiện nay (48 trang); và Chương 4 Những vấn đề đặt ra từ việc phát huy giá trị di sản văn hóa Văn Miếu - Quốc Tử Giám với phát triển du lịch ở Thủ đô
Hà Nội hiện nay (29 trang)
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1.1 Những công trình nghiên cứu về giá trị gi dản văn hóa với phát triển du lịch
1.1.1.1 Các công trình của tác giả nước ngoài
Trong phần này NCS chỉ giới thiệu quan điểm của một số nhà nghiên cứu lớn được nhiều học giả quan tâm như: Antonio Paplo Rusco, Dallen J Timothy, Gyan P Nyaupan, Gaetano M Golinelli, Andrew Wheatcroft,
Arthur Pederson, Lucas Lixinski, Anna Leask, Huibin…
1.1.1.2 Các công trình của tác giả trong nước
Các tác giả đã đi sâu phân tích MQH mật thiết giữa du lịch và văn hóa, những ảnh hưởng của văn hóa đến du lịch, những tác động của hoạt
Trang 6động du lịch lên văn hóa, tác động đến các thành tố cơ bản của văn hóa theo cả hai hướng tích cực và tiêu cực Phát huy vai trò các DSVH, các tác giả cho rằng, giá trị đa dạng của DSVH là tiền đề để hình thành nên các sản phẩm du lịch độc đáo
Tại Việt Nam, việc khai thác các DSVH thế giới cũng được đặt ra: hệ thống hóa cơ sở lý luận về tài nguyên du lịch (DSVH), xác định đặc điểm của DSVH và đưa phương thức khai thác hợp lý các GTDSVH nhằm phát triển du lịch
1.1.2 Những công trình nghiên cứu về giá trị di sản văn hóa với phát triển du lịch ở Thủ đô Hà Nội
Tài liệu nghiên cứu về DSVH hay GTDSVH Thăng Long - Hà Nội rất phong phú và được viết bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau Theo báo cáo điều tra xã hội học của đề tài KX.09, đánh giá các lợi thế của Thủ đô là: tiềm lực kinh tế, vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, nguồn lực văn hóa Về nguồn lực văn hóa, hàng đầu là truyền thống văn hiến lâu đời, đội ngũ trí thức đông đảo, các di tích lịch sử - văn hóa, trình độ dân trí, giá trị kiến trúc cổ Trong suốt 1000 năm xây dựng, bảo vệ Kinh đô, các thế hệ người Thăng Long - Hà Nội đã sáng tạo các giá trị văn hóa vô cùng phong phú
Di sản văn hóa Thăng long - Hà Nội chứa đựng tiềm năng du lịch rất to lớn Một trong những biện pháp hữu hiệu để giữ gìn và phát huy GTDSVH
là cần đẩy mạnh phát triển du lịch
1.1.3 Các công trình nghiên cứu về giá trị di sản văn hóa của
Văn Miếu - Quốc Tử Giám với phát triển du lịch
* Các tài liệu về giá trị của di tích
* Các tài liệu về việc khai thác giá trị di sản VMQTG phục vụ phát
triển du lịch
1.1.4 Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu
Thứ nhất, về mặt lý luận, luận án cần tiếp tục làm sáng tỏ mối quan
hệ giữa DSVH với phát triển du lịch (bền vững)
Thứ hai, về mặt thực tiễn, luận án tập trung vào các vấn đề sau
- Phân tích những nhân tố chủ quan và khách quan tác động đến GTDSVH VMQTG với phát triển du lịch ở Thủ đô Hà Nội
- Chỉ ra những mặt tích cực, hạn chế của việc khai thác các GTDSVH VMQTG với phát triển du lịch ở Thủ đô Hà Nội hiện nay, tìm
ra nguyên nhân
Trang 7Thứ ba, luận án nghiên cứu những vấn đề đặt ra với việc phát huy
GTDSVH VMQTG với phát triển du lịch ở Thủ đô Hà Nội hiện nay
1.2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN
1.2.1 Quan niệm về giá trị, giá trị di sản văn hóa
1.2.1.1 Quan niệm về giá trị
Qua phần tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận
án, cho thấy khái niệm về "giá trị" chưa có sự thống nhất về cách hiểu trong giới khoa học trên thế giới và ở nước ta
Nghiên cứu sinh tiếp thu quan niệm của tác giả Trần Ngọc Thêm
(2016) trong tài liệu Hệ giá trị Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại và
con đường tới tương lai về giá trị như sau:
"Giá trị là tính chất của khách thể, được chủ thể đánh giá là tích cực xét trong so sánh với các khách thể cùng loại trong một bối cảnh không gian và thời gian cụ thể"
Ông đã chỉ ra bốn tiêu chí cho phép nhận diện giá trị:
(1) Là tính chất của khách thể (sự vật, hiện tượng, trạng thái, hoạt động…);
(2) Được chủ thể (con người) đánh giá là tích cực;
(3) Xét trong quan hệ so sánh với các khách thể khác cùng loại; (4) Được định vị trong một bối cảnh không gian - thời gian cụ thể
1.2.1.2 Quan niệm về giá trị di sản văn hóa
* Quan niệm "di sản", theo cách hiểu Hán Việt: Di sản là sản phẩm
do thời đại trước, thế hệ trước để lại cho thế hệ sau, thời đại sau; được thế
hệ sau, thời đại sau nhận biết và sử dụng trong đời sống của họ
Nói đến di sản, cần được thể hiện tính hai mặt: Mặt khách quan và mặt chủ quan
Theo mặt khách quan: Di sản là cái được thế hệ trước, thời đại trước sáng tạo và để lại cho thế hệ sau, thời đại sau; tồn tại khách quan đối với thế hệ sau, thời đại sau
Theo mặt chủ quan: Tuy di sản tồn tại khách quan song phải được thế hệ sau, thời đại sau nhận biết và sử dụng Nếu không, chưa được xem
là di sản hay không còn là di sản
Luật Di sản văn hóa được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ghi: "Di sản văn hóa gồm DSVH phi vật thể và DSVH vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác"
Trang 8Luật Di sản Văn hóa chia DSVH thành hai loại: DSVH phi vật thể và
DSVH vật thể
* Quan niệm về GTDSVH, Luật Di sản Văn hóa nhấn mạnh những cái được coi là DSVH phải có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học chứ không phải là toàn bộ những cái được con người tạo ra Như vậy, trong nội hàm khái niệm di sản thì giá trị giữ vai trò nòng cốt, nó phân biệt tất cả các hiện tượng văn hóa nói chung với các hiện tượng văn hóa được coi là di sản
1.2.2 Quan niệm về bảo tồn, phát huy và khai thác các giá trị di sản văn hóa
Bảo tồn, phát huy và khai thác các GTDSVH chính là hoạt động biến các giá trị của DSVH thành nguồn lực phát triển KT-XH Bảo tồn, khai thác và phát huy luôn gắn liền với nhau trong việc xây dựng và phát triển văn hóa Chỉ khi giá trị các di sản được phát huy, khai thác thì mới có căn
cứ làm điều kiện để bảo tồn Bảo tồn là cơ sở cho sáng tạo, phục vụ phát huy và ngược lại phát huy, khai thác giúp cho bảo tồn DSVH được hiệu quả hơn Hình thức quan trọng của phát huy, khai thác giá trị di sản thông qua du lịch
Tiểu kết
Chương 1, Tổng quan tình hình nghiên cứu các vấn đề liên quan đến
đề tài và trình bày các vấn đề lý luận cơ bản của luận án
Nội dung thứ nhất đã được đề cập trong chương 1 là tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài bao gồm: những công trình nghiên cứu về GTDSVH với phát triển du lịch nói chung của các học giả nước ngoài và trong nước; những công trình nghiên cứu về GTDSVH với phát triển du lịch ở Thủ đô Hà Nội và những công trình nghiên cứu về GTDSVH của VMQTG với phát triển du lịch
Nội dung thứ hai là trình bày cơ sở lý luận: khái niệm giá trị; GTDSVH; quan niệm về bảo tồn, phát huy và khai thác GTDSVH; Các
lý thuyết vận dụng trong luận án: quan điểm lý luận về văn hóa của Đảng cộng sản Việt Nam; lý thuyết phát triển bền vững và phát triển du lịch bền vững
Việc phát huy, khai thác các GTDSVH trong phát triển du lịch chưa được đặt ra một cách toàn diện, sâu sắc và cụ thể dưới góc nhìn văn hóa học Đây chính là khoảng trống trong nghiên cứu về GTDSVH VMQTG
mà đề tài luận án của NCS sẽ tiếp tục nghiên cứu
Trang 9Chương 2 KHÁI QUÁT VỀ VĂN MIẾU - QUỐC TỬ GIÁM VÀ CÁC GIÁ TRỊ
CỦA DI SẢN VĂN MIẾU- QUỐC TỬ GIÁM
2.1 KHÁI LƯỢC VỀ DI SẢN VĂN MIẾU - QUỐC TỬ GIÁM 2.1.1 Sự hình thành và tồn tại của Văn Miếu - Quốc Tử Giám
Di tích lịch sử văn hóa VMQTG hiện nằm trên địa bàn các phường Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Văn Chương của quận Đống Đa và phường Điện Biên của quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội Quần thể di tích trải
Trải qua nhiều thế kỷ và biến động xã hội đã làm thay đổi một số yếu
tố vật thể của VMQTG Rõ nét nhất, hai khu vực sân từ cổng vào và Khuê Văn Các được xây thêm vào đầu thế kỷ XIX
2.1.2 Không gian văn hóa của Văn Miếu - Quốc Tử Giám
Quần thể di tích lịch sử VMQTG gồm có hai khu: khu nội tự và khu ngoại tự
- Khu ngoại tự gồm Hồ Văn ở phía trước VMQTG và khu vườn Giám nằm ngoài dãy tường bao quanh ở bên phải của di tích Giữa Hồ Văn
có gò Kim Châu, trên gò dựng Phán Thủy đình là nơi diễn ra các buổi bình văn thơ của Nho sỹ kinh thành xưa
- Văn Miếu - Quốc Tử Giám chính là khu nội tự của di tích được ngăn cách bởi không gian ồn ào từ bên ngoài bằng tường gạch vồ xây xung quanh và chia thành 5 lớp không gian khác nhau, mỗi lớp được ngăn cách nhau bởi các tường gạch có các cửa thông nhau: một cửa chính giữa, hai cửa phụ ở hai bên, các kiến trúc chủ thể là: Cổng Văn Miếu, cổng Đại trung, Khuê Văn Các, cổng Đại Thành, khu Điện thờ, cổng Thái học và kết thúc là khu Thái Học
2.1.3 Sự tu tạo hiện nay tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám
Năm 1988, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội đã ra quyết định thành lập Trung tâm Hoạt động Văn hóa Khoa học VMQTG Trung tâm đã tiến hành khảo sát và lên kế hoạch tu bổ, tôn tạo đối với toàn bộ khu di tích lịch sử văn hóa này Bên cạnh việc trùng tu, tôn tạo các công trình kiến trúc cổ, Trung tâm còn đặc biệt quan tâm đến việc bảo vệ cảnh quan, môi trường di tích
Trang 10Năm 2017, Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội đã phê duyệt Dự án tòa phương đình và tôn tạo đảo Kim Châu Hồ Văn Công trình hoàn thành là địa điểm hoạt động văn hóa nghệ thuật và kết nối với khu nội tự thành một chỉnh thể của di tích
Nhờ tất cả những cố gắng cùng các dự án tu bổ, tôn tạo Vì vậy, diện mạo cổ kính của di tích cơ bản đã được khôi phục, đưa khu di tích này trở thành một không gian văn hóa du lịch, một trong những điểm thu hút khách tham quan trong nước và quốc tế hấp dẫn nhất ở Thủ đô Hà Nội
2.2 CÁC LOẠI HÌNH DI SẢN VĂN HÓA TẠI VĂN MIẾU - QUỐC TỬ GIÁM
2.2.1 Di sản văn hóa vật thể
- Hồ Văn
- Văn Miếu Môn
- Đại Trung môn
- Khuê Văn Các
- Giếng Thiên Quang
- Bia tiến sĩ
- Đại Thành môn, Ngọc Thành môn và Kim Thành môn
- Văn Miếu, Tả Vu và Hữu Vu
- Đền Khải Thánh - Quốc Tử Giám
2.2.2 Di sản văn hóa phi vật thể
2.2.2.1 Trung tâm giáo dục và đào tạo thời trung đại
Văn Miếu - Quốc Tử Giám, ngay từ đầu, nơi đây không chỉ đơn giản
là nơi thờ Khổng Tử, mà là nơi đào tạo những người sau này giữ trọng trách lãnh đạo đất nước
2.2.2.2 Khuyến khích học tập, tôn trọng hiền tài
Văn Miếu - Quốc Tử Giám là nơi thờ phụng bậc khai sáng của Nho học Trung Quốc và những tiên hiền, danh nhân của đất nước Điều đó cho thấy sự sáng suốt của các vị vua thời Lý và sự tiếp nối, kế thừa truyền thống văn hiến gắn với sự nghiệp mở mang bờ cõi của dân tộc Có thể nói
sự ra đời của VMQTG cùng với nhiều thiết chế Nho học khác là những bằng chứng về một nền văn hiến của dân tộc
Ngày nay, VMQTG là nơi Nhà nước tổ chức trao các học hàm, học
vị cho những trí thức tiêu biểu, khen tặng cho học sinh, sinh viên xuất sắc
và tổ chức hội thơ hàng năm vào Rằm tháng Giêng Đặc biệt, trước mỗi kỳ thi, các sỹ tử đến đây "xin lộc", "cầu may" Mỗi dịp xuân về, người dân
Trang 11khắp nơi háo hức đến dâng hương tại Văn Miếu với mong muốn học hành tấn tới, "công thành, danh toại"
Ngoài những ý nghĩa nêu trên, VMQTG còn là nơi bảo tồn, lưu giữ các hiện vật văn hóa quý báu của cha ông, bảo lưu các hoành phi, câu đối với nội dung phần lớn để tôn vinh đạo học, khuyến học, khuyến tài Bên cạnh đó, còn lưu giữ hệ thống các bia đá ghi tên các bậc khoa bảng của dân tộc
2.3 NHỮNG GIÁ TRỊ CỦA DI SẢN VĂN HÓA TẠI VĂN MIẾU - QUỐC TỬ GIÁM
2.3.1 Giá trị lịch sử
Văn Miếu - Quốc Tử Giám là di tích đặc biệt quan trọng của quốc gia, nơi gìn giữ và tôn vinh đạo học, nơi lưu giữ và thể hiện đặc sắc nhất những giá trị nổi bật của văn hiến Việt Nam Tại đây, nơi hội tụ và lan tỏa của bề dày lịch sử và chiều sâu văn hiến vượt qua thời gian với những giá trị nổi bật của chân - thiện - mỹ, của trí tuệ và tri thức của cả dân tộc văn hiến và anh hùng
Bia tiến sĩ bằng đá đặt tại VMQTG là một tài sản văn hóa vô giá của dân tộc Việt Nam, một biểu tượng tôn vinh đạo hiếu học, truyền thống đào tạo nhân tài bổ sung nguyên khí cho đất nước của nhân dân ta
2.3.2 Giá trị biểu tượng văn hiến
Văn Miếu - Quốc Tử Giám là DSVH mang một ý nghĩa biểu tượng đặc biệt của tri thức, trí tuệ, tâm hồn, truyền thống văn hóa tinh thần cao đẹp của dân tộc Việt Nam trải qua hàng ngàn năm phát triển vươn tới trình
độ văn hiến Khuê Văn Các, mang những nét riêng biệt dấu ấn của văn hóa, văn minh Việt Nam
Với ý nghĩa đó, Thủ đô Hà Nội chọn Khuê Văn Các làm biểu trưng
có ngụ ý lấy trí tuệ làm con đường đi tới tương lai, nói cách khác là Hà Nội hướng tới tương lai, xây dựng tương lai dựa trên nền tảng trí tuệ Thông qua Luật Thủ đô, ngày 21/11/2012, có 385/468 đại biểu đã đồng ý với việc chọn hình ảnh Khuê Văn Các tại VMQTG là biểu tượng của Thủ
đô Hà Nội
2.3.3 Giá trị văn hóa giáo dục
Văn Miếu - Quốc Tử Giám là nơi thờ Khổng Tử - Người được Nho gia coi là Tiên Thánh Khổng Tử là một nhà tư tưởng kiệt xuất, một nhà văn hóa, giáo dục uyên bác của Trung Quốc nói riêng, của nhân loại nói chung Những đóng góp của Khổng Tử vào nền văn hóa, giáo dục nhân
Trang 12loại vô cùng to lớn có tính nhân văn sâu sắc Đối với VMQTG không chỉ
là nơi giữ chức năng thờ phụng Khổng Tử mà đóng vai trò một trung tâm đào tạo Nho giáo cao cấp của cả nước, gắn bó chặt chẽ với chế độ học hành, thi cử, tuyển dụng và biểu dương lưu danh nhân tài của đất nước Văn Miếu còn thờ những học trò xuất sắc của Nho giáo như Chu Văn An (1292 – 1370) Ông là một nhà sư phạm kiệt xuất của dân tộc, một tri thức luôn quan tâm đến thời cuộc đất nước
Với 82 bia đã đề danh tiến sĩ là những di vật quý giá về lịch sử khoa
cử của Nho học đã hàm chứa nhiều giá trị về lịch sử, văn hóa, giáo dục, triết lý, giáo dục…
2.3.4 Giá trị văn hóa tâm linh
Văn Miếu - Quốc Tử giám được xây dựng theo mô hình miếu học, vừa là nơi thờ tự Thánh hiền vừa là trường học Từ khi thành lập, trải bao thế kỷ, qua các triều đại việc tế lễ Khổng Tử vẫn được tiến hành xuân thu hai kỳ vào các ngày Đinh tháng 2 và tháng 8
Văn Miếu - Quốc Tử Giám, một di tích gắn liền với việc thành lập kinh đô Thăng Long dưới triều Lý, tiêu biểu nhất cho Hà Nội, cho nước Việt Nam ngàn năm văn hiến, cũng được coi là một cõi văn hóa tâm linh
2.3.5 Giá trị cảnh quan kiến trúc, thẩm mỹ - nghệ thuật
Giá trị cảnh quan kiến trúc, thẩm mỹ - nghệ thuật của VMQTG được thể hiện rõ qua tổng thể di tích và từng yếu tố của nó Trước hết, về cơ bản còn bảo lưu được cấu trúc mặt bằng và toàn vẹn của loại hình thiết chế Văn Miếu, mang phong cách kiến trúc phương Đông truyền thống
2.3.6 Giá trị kinh tế và du lịch
Hằng năm VMQTG có số lượng khách tham quan đạt trung bình từ 1,4 triệu lượt người đến 1,6 triệu lượt du khách, doanh thu đạt trên 40 tỷ đồng Các dịch vụ phục vụ du lịch: các ngành nghề thủ công mỹ nghệ, khôi phục các làng nghề truyền thống; thông tin liên lạc; ngân hàng, giao thông vận tải; xây dựng…Du lịch VMQTG kéo theo sự phát triển của các ngành kinh tế khác, thúc đẩy phát triển kinh tế vùng, tăng khả năng đô thị hóa Những dịch vụ trực tiếp cho du lịch như khách sạn, lữ hành, sản xuất hàng lưu niệm, các dịch vụ ăn uống…phát triển mạnh mẽ
Tiểu kết
Trong chương 2, Luận án đã nghiên cứu khái quát về VMQTG và các GTDSVH VMQTG Nội dung nghiên cứu chủ yếu là: sự hình thành quá trình bảo tồn, tôn tạo di tích VMQTG, không gian văn hóa của
Trang 13VMQTG; sự tu bổ hiện nay của VMQTG; các loại hình DSVH tại VMQTG với các DSVH vật thể, đó là: Hồ Văn, Văn Miếu Môn; Đại Trung môn; Khuê Văn Các, Giếng Thiên Quang với kiến trúc độc đáo Bên cạnh đó, VMQTG còn là di tích phi vật thể, nơi lưu danh các bậc hiền tài qua các khoa thi (thể hiện ở 82 tấm bia tiến sỹ) biểu hiện cho truyền thống hiếu học của dân tộc.Trải qua những biến động của lịch sử và tự nhiên, VMQTG vẫn giữ được dáng cổ kính, là quần thể di tích chứa đựng nhiều giá trị nhân văn cao quý của Thủ đô Hà Nội nói riêng, cả nước nói chung Những GTDSVH VMQTG đó là: giá trị lịch sử; giá trị biểu tượng văn hiến; giá trị văn hóa giáo dục; giá trị văn hóa tâm linh; giá trị cảnh quan kiến trúc, thẩm mỹ nghệ thuật; giá trị du lịch và kinh tế
Chương 3 NHẬN DIỆN KHAI THÁC GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HOÁ
VĂN MIẾU - QUỐC TỬ GIẢM VỚI PHÁT TRIỂN DU LỊCH
HÀ NỘI HIỆN NAY
3.1 CÁC GIÁ TRỊ CỦA DI SẢN VĂN HÓA VĂN MIẾU - QUỐC TỬ GIÁM VÀ SỰ HÌNH THÀNH SẢN PHẨM DU LỊCH
3.1.1 Sản phẩm du lịch khám phá, thưởng ngoạn
Sản phẩm tham quan khám phá trải nghiệm VMQTG trước hết là cảnh quan, kiến trúc
Khu thứ nhất :Từ Văn Miếu Môn, theo con đường lát gạch thắng tắp, du
khách sẽ tới cổng thứ hai là Đại Trung môn gồm 3 gian dựng trên nền gạch cao, mái lợp ngói, kết cầu ba hàng chân cột, hai bên có 2 cửa nhỏ là Thành Đức môn và Đại Tài môn Bên trong có nhiều cây xanh, bóng mát khiến cho
du khách có cảm giác thư thái khi dạo giữa chốn trang nghiêm, tĩnh mịch
Khu vực thứ hai từ Đại Trung môn đến Khuê Văn Các, được dựng
năm 1805 Khuê Văn Các là một lầu vuông gồm 2 tầng, 8 mái Hai bên Khuê Văn Các là hai cửa Bí văn và Súc văn, những tên gọi có ý nghĩa ca ngợi vẻ đẹp và giá trị của văn chương Khuê Văn Các được xem là công trình kiến trúc độc đáo, biểu tượng của văn hóa và văn học Việt Nam
Khu vực thứ ba trong quần thể di tích VMQTG, đó là Giếng Thiên
Quang và hệ thống bia tiến sĩ Giếng Thiên Quang (Thiên Quang tỉnh) còn được gọi là Văn Trì (Ao Văn) có hình vuông quanh năm đầy nước Mặt nước phẳng lặng trở thành tấm gương soi bóng gác Khuê Văn