1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SKKN phương pháp dạy văn bản nghị luận trung đại trong chương tr̀nh ngữ văn lớp 8

15 295 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 75,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ những lư do trên, tôi đă mạnh dạn nghiên cứu chuyên đề: “ Phương phápdạy văn bản Nghị luận trung đại trong chương trình ngữ văn 8” để gúp phần nâng cao hiệu quả giờ dạy văn

Trang 1

TÊN CHUYÊN ĐỀ:

PHƯƠNG PHÁP DẠY VĂN BẢN NGHỊ LUẬN TRUNG ĐẠI TRONG CHƯƠNG

TRÌNH NGỮ VĂN LỚP 8.

A ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Cơ sở lí luận.

Ngữ văn là môn học thuộc nhóm khoa học xã hội, có tầm quan trọng trong việc giáo dục quan điểm tư tưởng và bồi dưỡng tình cảm, cảm xúc cho học sinh Đồng thời là môn học thuộc nhóm công cụ, môn Văn còn thể hiện rõ mối quan hệ với các môn học khác Học tốt môn Văn sẽ tác động tích cực tới các môn học khác và ngược lại các môn học khác cũng góp phần học tốt môn Văn Điều đó đặt ra yêu cầu tăng cường tính thực hành giảm lý thuyết, gắn học với hành, gắn kiến thức với thực tiễn hết sức phong phú, sinh động của cuộc sống

Bản thân tôi đã trực tiếp dạy chương trình Ngữ văn thay sách khá nhiều năm và được trải nghiệm qua tất cả các khối lớp từ 6 đến 9, riêng với Ngữ văn 8 tôi đã có nhiều năm giảng dạy nhưng tôi nhận thấy mình và các đồng nghiệp vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế cả về phương pháp lẫn kiến thức nhất là phương pháp dạy các văn bản Nghị luận trung đại Bởi lẽ

ở văn bản Nghị luận trung đại 3 yếu tố Văn- Sử -Triết bất phân, về cơ bản văn nghị luận là sản phẩm của tư duy logic Nhưng vẻ đẹp của một áng văn nghị luận trung đại không chỉ thể hiện ở tư tưởng đúng đắn, sâu sắc mà còn thể hiện ở hình thức lập luận phong phú, lí lẽ đanh thép, giọng điệu thuyết phục và thái độ của tác giả trước vấn đề nghị luận

Trang 2

Xuất phát từ những lư do trên, tôi đă mạnh dạn nghiên cứu chuyên đề: “ Phương pháp

dạy văn bản Nghị luận trung đại trong chương trình ngữ văn 8” để gúp phần nâng cao hiệu quả giờ dạy văn bản Nghị luận trung đại và để học sinh yêu thích học Ngữ văn

2 Cơ sở thực tiễn.

Việc dạy và học văn nghị luận nói chung ở bậc THCS đã được tiến hành từ lâu Song tính phiến diện về đề tài, thể loại của văn nghị luận còn thể hiện khá rõ Phương pháp và hiệu quả giảng dạy văn nghị luận trong bậc học cũng còn nhiều điều cần trao đổi Dạy học văn nghị luận đã khó, dạy và học văn nghị luận trung đại lại càng khó khăn hơn

Cho đến nay việc dạy và học văn nghị luận trung đại vẫn còn là nỗi khốn khổ gây nhiều khó khăn, phiền toái cho người dạy lẫn người học Hiểu được những tác phẩm đó chẳng phải là chuyện dễ dàng gì; truyền thụ cái hay, cái đẹp của nó cho học sinh hiểu được lại càng khó khăn gấp bội phần

Văn nghị luận trung đại (hay chính luận Việt Nam thời trung đại), là những văn bản văn xuôi hoặc văn biền ngẫu trực tiếp viết về những vấn đề liên quan đến đời sống chính trị của quốc gia, dân tộc Ở văn chương thẩm mỹ, phần chủ yếu tạo nên tác phẩm là bức tranh đời sống, trong đó quan trọng nhất là hh́nh tượng nghệ thuật, do nhà văn sáng tạo bằng hư cấu Trong văn chính luận, phần chủ yếu là lư lẽ Các hh́nh ảnh và hh́nh tượng làm cho lư lẽ thêm

cụ thể sinh động, tác động đến cả lý trí và th́nh cảm người tiếp nhận Văn chính luận liên hệ trực tiếp với đời sống chính trị xă hội nên một trong những yếu tố quan trọng tạo thành giá trị của văn bản là tính chất của thể chế chính trị đương thời Văn chính luận ở cấp độ loại (đồng cấp với văn chương thẩm mỹ) ở nước ta có các thể chủ yếu: hịch, cáo, chiếu, biểu, tấu, sớ, khải,…; phần lớn viết bằng chữ Hán và chữ Nôm (trong chương tŕnh lớp 8 học bốn thể : chiếu ( Chiếu dời đô – Lí Công Uẩn); Hịch ( Hịch tướng sỹ - Trần Quốc Tuấn); Cáo

Trang 3

( Nước Đại việt ta – Trích “Bh́nh Ngô đại cáo”- Nguyễn Trăi); Tấu ( Bàn luận về phép học-Nguyễn Thiếp), chức năng của từng loại văn bản chính luận được quy định chặt chẽ

B.GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I Khái niệm chung về văn nghị luận:

Văn nghị luận là loại văn được viết ra nhằm xác lập cho người nghe, người đọc một tư tưởng, quan điểm nào đó Văn nghị luận phải có luận điểm rơ ràng, có lí lẽ, dẫn chứng thuyết phục Những tư tưởng, quan điểm trong bài văn nghị luận phải hướng tới giải quyết những vấn đề đặt ra trong cuộc sống, xă hội thh́ mới có ư nghĩa

II Phân biệt văn nghị luận trung đại với văn nghị luận hiện đại

+ Văn nghị luận trung đại:

- Thường được thể hiện bằng những thể văn cổ của phong kiến: Chiếu, hịch, cáo, tấu, với

những cách diến đạt và ngôn ngữ riêng của những vấn đề đó

- Có nhiều từ ngữ cổ: nhiều hh́nh ảnh giàu tính ước lệ, câu văn biền ngẫu sóng đôi nhịp nhàng dùng nhiều điển tích, điển cố

- Mang đậm dấu ấn tư tưởng trung đại.

+ Văn nghị luận hiện đại:

- Văn nghị luận hiện đại là một thể văn ( thể nghị luận) trong văn xuôi hiện đại, chứ không thành các thể văn một cách ṛi như văn nghị luận trung đại

- Thoát li khỏi những hh́nh ảnh ước lệ, khuôn mẫu trong câu chữ: tạo được cách hành văn giản dị, câu văn gần với lối nói hằng ngày

- Thoát khỏi những tư tưởng cổ điển, hướng tới những tư tưởng mới của thời đại

III.Phương pháp dạy văn bản Nghị luận trung đại

Trang 4

1.Thực trạng dạy- học văn bản nghị luận trung đại Việt Nam trong chương tŕnh Ngữ văn 8

a Thuận lợi:

- Chương tŕnh Ngữ văn 8 có bốn văn bản chính luận Việt Nam trung đại: Chiếu dời đô (Thiên đô chiếu) của Lí Công Uẩn, Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn, Nước Đại Việt ta (trích Bh́nh Ngô đại cáo) của Nguyễn Trăi, Bàn luận về phép học ( Luận học pháp) của

Nguyễn Thiếp Đây là những văn bản đặc sắc viết về những vấn đề trọng đại của quốc gia

- Giáo viên nhiệt th́nh, có ý thức trách nhiệm cao trong việc thực hiện nhiệm vụ dạy- học, luôn cố gắng học hỏi đồng nghiệp, th́m ṭi, sáng tạo để nâng cao chất lượng dạy học, biết sử dụng máy tính và soạn giảng bằng giáo án điện tử; nhà trường có trang bị màn hh́nh ở các pḥng học, có máy tính xách tay phục vụ công tác dạy và học…

- Học sinh năng động, đồng đều về lứa tuổi , về năng lực học tập, thích khám phá, thích khẳng định ḿnh,…

b Khó khăn:

- Văn nghị luận trung đại Việt Nam đặc sắc nhưng làm cho học sinh thích thú thh́ thật nan giải bởi đặc điểm thể loại và yêu cầu dạy- học đối với thể loại này Mặt khác, bốn văn bản được học lại ở bốn thể văn khác nhau (chiếu, hịch, cáo, tấu)

- Giáo viên không phải ai cũng giỏi chữ Hán nên tiếp nhận loại văn bản là khó đối với bản thân giáo viên, lại càng khó hơn khi chuyển tải kiến kiến thức, giúp học sinh cảm thụ tác phẩm

- Văn bản Nghị luận trung đại Việt Nam đối với học sinh lớp 8 là kiến thức vừa mới lại vừa khó, các em không dễ có tâm thế sẵn sàng tiếp nhận văn bản đă ra đời cách nay nhiều thế kỉ

Trang 5

- Thời gian trên lớp có giới hạn…

2.Biện pháp thực hiện

a.Cơ sở dạy- học văn Nghị luận trung đại Việt Nam

Để tiếp nhận tốt và th́m được cách dạy một văn bản cụ thể, giáo viên cần chọn phương pháp nghiên cứu thích hợp, nắm đặc điểm và yêu cầu dạy- học của văn chính luận trung đại

* Phương pháp nghiên cứu

Văn Nghị luận trung đại là một hệ thống giá tri tinh thần, có mối quan hệ trực tiếp và mật thiết với hệ thống chính trị xă hội trong các giai đoạn của lịch sử Việt Nam thời trung đại nên chọn phương pháp lịch sử- cụ thể để nghiên cứu là phù hợp

* Đặc điểm văn Nghị luận trung đại Việt Nam

Văn Nghị luận có vị trí quan trọng trong hệ thống văn học Việt Nam trung đại; sử dụng nhiều thể của văn chính luận Trung Quốc; gắn bó chặt chẽ với tính chất và vận mệnh của những lực lượng đại diện cho dân tộc trong từng thời ḱ; phần lớn được viết bằng chữ Hán; số lượng không nhiều nhưng có những văn bản đặc sắc

* Vấn đề dạy- học văn Nghị luận trung đại Việt Nam

Văn Nghị luận trung đại Việt Nam trong phạm trù văn chính luận với đặc điểm nổi bật là tác phẩm được cấu tạo chủ yếu bằng lý lẽ, sự lập luận, trực tiếp viết về những vấn đề của đời sống chính trị quốc gia, dân tộc… nên khi dạy-học những văn bản này cũng phải tuân theo những nguyên tắc chung của dạy- học văn chính luận Dựa vào đặc thù của văn chính luận Việt Nam trung đại, giáo viên phải nắm được tính chất nguyên hợp của văn chính luận, cần chú ý đến điểm riêng biệt trong cách xác định chân lư của người xưa- noi theo cổ nhân ( ví dụ: Thiên đô chiếu); tạo được tâm thế tiếp nhận phù hợp- cung cấp kiến thức cần thiết cả về văn học và phi văn học (ví dụ: thể loại, chữ viết…; hoàn cảnh lịch sử, xă hội, thế

Trang 6

giới quan…); phải biết đính chính một số chỗ dịch chưa thật chuẩn khi cần thiết, đính chính một vài địa danh cho học sinh biết với thực tế hiện nay( như quê hương của Nguyễn Thiếp)

b Chuẩn bị cho tiết dạy- học văn Nghị luận trung đại Việt Nam

- Giáo viện: Đọc kĩ văn bản, tài iệu tham khảo về lịch sử Việt Nam trung đại, tác giả, tác phẩm; th́m phim ảnh có liên quan để hỗ trợ tiết dạy, soạn giáo án ( lưu ý hệ thống kiến thức cần truyền đạt để xây dựng hệ thống câu hỏi hợp lí, chọn tṛ chơi- nếu có thể- để tạo hứng thú, tâm thế học tập- tiếp nhận văn bản, lập sơ đồ- bản đồ tư duy hệ thống hóa kiến thức cần đạt của bài học, chọn phương pháp dạy-học hợp lí…) Chẳng hạn như khi dạy bài Chiếu dời

đô, giáo viên phải th́m đọc văn bản phiên âm nguyên tác, cần xem lại lịch sử, xă hội thời Lư, tiểu sử, công trạng của Lư Công Uẩn…; đối với Hịch tướng sĩ, giáo viên phải nhận rơ vai tṛ của tác giả Trần Quốc Tuấn trong các cuộc kháng chiến chống quân Nguyên- Mông, chú ư phần dịch văn bản- nghĩa của từ “sĩ”- đối tượng được tác giả đề cập đến trong văn bản … Khi tổng kết bài học, giáo viên nên có sơ đồ tổng kết các luận điểm, luận cứ của văn bản để làm nổi bật lý lẽ, lập luận của văn chính luận…

- Học sinh: Đọc kĩ văn bản, đọc kĩ phần chú thích, tự trả lời câu hỏi hướng dẫn th́m hiểu văn bản, ghi ngắn gọn vào vở học ở nhà.Vh́ các văn bản thường có điển cố, điển tích, nhân vật lịch sử…nếu học sinh không đọc hoặc đọc qua loa thh́ các em không hiểu được nội dung văn bản…;

c Lên lớp

- Giáo viên giới thiệu bài cần ngắn gọn, súc tích

Trang 7

- Hướng dẫn học sinh đọc bài, giáo viên cần chú ý cách đọc văn bản vh́ các văn bản thường

có kiểu văn biền ngẫu, giọng điệu cũng cần phải chuẩn mực, phù hợp.Ví dụ như khi đọc chiếu, hịch - lời của vua …cc̣n văn bản Bàn luận về phép học- lời của thần dân,…

- Trong quá tŕnh hướng dẫn học sinh th́m hiểu bài, giáo viên cần thận trọng về thời gian, chú

ý ngôn ngữ diễn đạt- tránh dùng từ khó hiểu, ghi bảng gọn nhưng rơ, có hệ thống…, tiêu đề của các phần thể hiện lập luận của văn bản… Chẳng hạn như ở bài Nước Đại Việt ta, phần th́m hiểu văn bản có thể ghi bảng với các mục như sau: mục 1: Nguyên lí nhân nghĩa; mục 2: Chân lí về sự tồn tại có chủ quyền của dân tộc ta; mục 3: Sức mạnh của nhân nghĩa và sức mạnh của độc lập dân tộc

- Học sinh phải tập trung theo dơi bài giảng, tích cực học tập…, khẩn trương thực hiện yêu cầu của giáo viên

d Luyện tập

Câu hỏi luyện tập xoáy vào mục tiêu cần đạt của bài học, tránh rườm rà không cần thiết Ví dụ: Tŕnh bày lại lập luận của văn bản đă học bằng sơ đồ hoặc giáo viên có thể cho học sinh chơi tṛ chơi: đoán ô chữ, ai nhanh hơn,…

e Kiểm tra

Câu hỏi hướng vào trọng tâm bài học, học sinh đảm bảo nhớ và hiểu bài chứ không phải thuộc ḷng mà không hiểu.Giáo viên có thể dùng câu hỏi kiểm tra bài cũ như sau:

-Em hăy cho biết các luận điểm trong văn bản Bàn luận về phép học của Nguyễn Thiếp? -Tŕnh bày ngắn gọn bằng lời văn của em về cách lập luận của tác giả trong văn bản Nước Đại Việt ta (trích Bh́nh Ngô đại cáo)?

3.Giáo án minh họa:

Trang 8

Chiếu dời đô

(Thiên đô chiếu) - Lý Công Uẩn.

A.Mục tiêu cần đạt:

1.Kiến thức:

- Khát vọng của nhân dân ta về một đất nước độc lập, thống nhất, hùng cường và khí phách của dân tộc Đại Việt đang trên đà lớn mạnh được phản ánh qua chiếu dời đô

- Nắm được những điểm cơ bản của thể chiếu: Thấy được sức thuyết phục lớn của chiếu dời

đô là sự kết hợp giữa lý lẽ và tình cảm Vấn đề mà bài chiếu đặt ra rất phù hợp với ý nguyện của toàn dân, với quy luật phát triển của lịch sử, xã hội

2.Kĩ năng:

- Rèn kĩ năng đọc , phân tích lí lẽ và dẫn chứng trong văn bản nghị luận trung đại: thể chiếu

B Chuẩn bị:

- Một số tranh, ảnh về đền thờ Lý Bát đế hoặc chùa Bút Tháp hoặc tượng đài Lý Công Uẩn

C Các hoạt động trên lớp.

1 Bài cũ: Đọc thuộc lòng bản dịch thơ bài Ngắm trăng và Đi đường Qua bài thơ em nhận

thấy tâm hồn của người tù cộng sản HCM như thế nào?

Hoạt động của GV và HS

Học sinh đọc thông tin ở sách giáo khoa

? Em hãy nêu những hiểu biết về tác giả?

Kết quả cần đạt

I Đọc- tìm hiểu chung văn bản

1 Tác giả: - Lý Công Uẩn (974-1028)

Tức Lý Thái Tổ quê ở từ Sơn - Bắc Ninh

Là người thông minh, nhân ái, có chí lớn Từng làm quan lớn dưới thời tiền Lê- sau

Trang 9

? Hoàn cảnh ra đời bài chiếu?? Tính chất của

chiếu là gì?

? Chiếu là gì? Tính chât của chiếu như thế

nào?

- Là tính mệnh lệnh, ngôn từ của chiếu là

ngôn từ đơn thoại

- Hình thức: Viết bằng văn vần, văn xuôi, văn

biền ngẫu

- GV đọc: GV yêu cầu học sinh

- 2 học sinh đọc lại- nhận xét

Đọc với giọng mạch lạc, rỏ ràng, chú ý những

câu hỏi, câu cảm, các danh từ riêng, từ cổ

?Văn bản được chia làm mấy đoạn? Nội dung

chính của từng đoạn?

đó được tôn lên làm vua niên hiệu Thuận Thiên

2 Tác phẩm

-Hoàn cảnh ra đời Chiếu dời đô: Năm

1010 Lý Thái Tổ viết bài chiếu bày tỏ ý định dời đô từ Hoa Lư ( Ninh Bình) ra

thành Đại La ( Hà Nội)

- Thể loại: Chiếu

+ Là thể văn do nhà vua dùng để ban bố mệnh lệnh (chủ trương đường lối) yêu cầu người dân phải thực hiện

3 Đọc- giải nghĩa từ khó.

4 Bố cục: 2 phần

- Xưa nhà Thương không thể không dời đô: Phân tích những tiền đề, cơ sở lịch sử và thực tiển của việc dời đô Còn lại:Những lý do để chọn thành đại

La là kinh đô mới

II Tìm hiểu chi tiết văn bản

Trang 10

? Mở đầu bài chiếu dời đô tác giả viện dẫn

điều gì?

? Nhà Thương và Nhà Chu dời đô nhằm mục

đích gì?

? Tác giả nêu dẫn chứng các lần dời đô có thật

trong lich sử Trung Quốc nhằm mục đích gì?

GV: Đó là kết quả bền vững và phân tích lâu

dài của vận nước khởi phát từ việc dời đô

? Kết quả những lần dời đô đó ra sao?

- Việc dời đô thuận theo mệnh trời (phù hợp

với quy luật khách quan)

- Theo ý dân (phù hợp với nguyện vọng nhân

dân)gương đáng học tập

? Từ chuyện xưa tác giả liên hệ phê phán hai

triều Đinh, Lê không chịu dời đô như thế nào?

? Kết quả ra sao?

? Bằng những hiểu biết lịch sử hãy giải thích

lý do 2 triều đình Lê vẫn phải dựa vào vùng

núi Hoa Lư để đóng đô?

GV: Hai triều đại này chưa đủ mạnh về thế

lực nên phải dựa vào vùng núi rừng hiểm trở

1 Việc dời đô là vô cùng cần thiết.

*Luận cứ 1: Viện dẫn sử sách Trung

Quốc.

- Nhà Thương 3 lần dời đô

- Nhà Chu 3 lần dời đô

- Mục đích: mưu toan nghiệp lớn, xây dựng vương triều phồn thịnh, kinh tế lâu dài cho các thế hệ sau

- Kết quả: Việc dời đô làm cho đất nước vững bền, phát triển thịnh vợng

*Luận cứ 2: Lí Công Uẩn phê phán hai triều Đinh Lê không chịu dời đô

- Hậu quả: Triều đại ngắn ngủi , nhân dân khổ sở, đất nước không phát triển được

Trang 11

để đóng đô.

?Theo tác giả dựa thế thành Đại La có những

thuận lợi gì để có thể chọn nơi đóng đô?

?Từ đó tác giả khẳng định việc dời đô của

mình như thế nào?

? Việc dời đô từ Hoa Lư ra thành Đại La còn

là nguyện vọng của ai nữa?

Nguyện vọng dời đô của LTT phù hợp với

nguyện vọng của nhân dân

? Chiếu dời đô giàu sức thuyết phục nhờ điều

gì?

?Vì sao nói Chiếu dời đô ra đời phản ánh ý

chí độc lập, tự cường và sự phát triển của Đại

Việt?

GV: Dời đô từ vùng núi Hoa Lư ra vùng đồng

bằng đất rộng chứng tỏ triều đình nhà Lý đủ

sức chấm dứt nạn phong kiến cát cứ, thế và

lực của dân tộc Đại Việt đủ sức sánh ngang

hàng phương Bắc Định đô ở Thăng Long là

2 Khẳng đinh Đại La là nơi tốt nhất

để định đô

- Về vị trí địa lý: Nằm ở nơi trung tâm đúng hướng, rộng mà bằng, cao mà thoáng, tránh nạn lụt lội, cây cối tốt tươi

- Về chính trị văn hoá: Là nơi hội tụ của

4 phương

- Việc dời đô là hợp lý, không có gì là sai trái là khác thường

=> Thành Đại La có đủ điều kiện trở thành kinh đô đất nước

- Kết thúc bài chiếu: Lời lẽ kết hợp hài hoà giữa lý và tình

* Trình tự lý lẽ hợp lý, cách lập luận chặt chẽ, soi sáng vấn đề bằng cách nêu sử sách làm tiền đề

- Đây kết cấu của văn nghị luận, trình tự lập luận chặt chẽ

Ngày đăng: 29/06/2020, 08:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w