1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án tiến sĩ chính trị học vai trò của hệ thống chính trị cấp tỉnh trong thực hiện chính sách xã hội ở sơn la hiện nay

178 68 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 178
Dung lượng 1,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đó, hệ thống chính trị cấp tỉnh có vai trò quan trọng trong thực hiện chính sách xã hội, là cấp quán triệt, thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật củ

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHÍNH TRỊ HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS PhùngThị Huệ

HÀ NỘI - 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các tài liệu, số liệu trích dẫn trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được

ai công bố trong bất kỳ công trình nào

Tác giả luận án

Cao Thị Hạnh

Trang 4

MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1 Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 7

1.1 Các công trình nghiên cứu về vai trò của hệ thống chính trị trong thực hiện chính sách xã hội 7 1.2 Các công trình nghiên cứu về vai trò của hệ thống chính trị cấp tỉnh trong thực hiện chính sách xã hội 22 1.3 Đánh giá kết quả nghiên cứu và những vấn đề luận án tập trung giải quyết 26

Chương 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CẤP TỈNH TRONG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÃ HỘI 31

2.1 Một số vấn đề lý luận về hệ thống chính trị và hệ thống chính trị cấp tỉnh 31 2.2 Một số vấn đề lý luận về chính sách xã hội và thực hiện chính sách xã hội 41 2.3 Vai trò của hệ thống chính trị cấp tỉnh trong thực hiện chính sách xã hội 47

Chương 3: THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CẤP TỈNH Ở SƠN LA TRONG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÃ HỘI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA HIỆN NAY 68

3.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế, chính trị, xã hội tác động đến vai trò của hệ thống chính trị cấp tỉnh trong thực hiện chính sách xã hội ở Sơn La 68 3.2 Thực trạng vai trò của hệ thống chính trị cấp tỉnh trong thực hiện chính sách xã hội ở Sơn La 78

Chương 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CẤP TỈNH Ở SƠN

LA TRONG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÃ HỘI 118

Trang 5

4.1 Quan điểm nâng cao vai trò của hệ thống chính trị cấp tỉnh trong

thực hiện chính sách xã hội ở Sơn La 118

4.2 Giải pháp nâng cao vai trò của hệ thống chính trị cấp tỉnh trong thực hiện chính sách xã hội ở Sơn La 128

KẾT LUẬN 147

DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 149

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 150

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Đầu tư phát triển của ngân sách địa phương giai đoạn 2011 - 2015 71 Bảng 3.2 Kết quả thực hiện giải quyết việc làm giai đoạn 2011 - 2015 101 Bảng 3.3 Kết quả thực hiện giảm nghèo giai đoạn 2011 - 2015 102 Bảng 3.4 Kết quả thực hiện giáo dục - đào tạo giai đoạn 2011 - 2015 103 Bảng 3.5 Kết quả thực hiện chăm sóc sức khỏe nhân dân giai đoạn

2011-2015 105

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Chính sách xã hội là một bộ phận quan trọng trong hệ thống chính sách phát

triển kinh tế - xã hội Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ

nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng Cộng sản Việt Nam xác định:

“Chính sách xã hội đúng đắn, công bằng vì con người là động lực mạnh mẽ phát huy mọi năng lực sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [32, tr.79]; và chính sách xã hội góp phần “không ngừng nâng cao đời sống của mọi thành viên trong xã hội về ăn, ở, đi lại, học tập, nghỉ ngơi, chữa bệnh và nâng cao thể chất, gắn nghĩa vụ với quyền lợi, cống hiến với hưởng thụ, lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể và cộng đồng xã hội” [32, tr.79] Hiệu quả của việc giải quyết các vấn đề xã hội không những tạo nên sự ổn định, phát triển lành mạnh các mối quan hệ xã hội, mà nó còn tạo sự đồng thuận trong việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị của Đảng cầm quyền, góp phần sự phồn vinh của đất nước Nhận thức được ý nghĩa đó, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi chính sách xã hội như là những công cụ nhằm khai thác, động viên mọi tiềm năng của từng cá nhân cũng như của cả cộng đồng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Hệ thống chính trị Việt Nam là một chỉnh thể các tổ chức gồm Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội được liên kết với nhau trong một hệ thống; nhằm tác động vào các quá trình của đời sống xã hội bảo đảm mọi quyền lực thuộc về nhân dân Hệ thống chính trị Việt Nam được tổ chức thành bốn cấp: trung ương - tỉnh - huyện - xã Trong việc thực hiện chính sách xã hội, hệ thống chính trị mỗi cấp có vị trí, vai trò, chức năng và nhiệm vụ riêng theo quy định của pháp luật Trong đó, hệ thống chính trị cấp tỉnh có vai trò quan trọng trong thực hiện chính sách xã hội, là cấp quán triệt, thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước ở Trung ương thành các chương trình, đề án, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội phù hợp với điều kiện thực tiễn ở địa phương; trực tiếp chỉ đạo, xây dựng bộ máy quản

lý, tổ chức thực hiện, ban hành quy chế phối hợp, huy động mọi nguồn lực trong

Trang 8

thực hiện chính sách xã hội; tuyên truyền, phổ biến, động viên nhân dân tham gia thực hiện chính sách xã hội; kiểm tra, giám sát thực hiện chính sách xã hội; kịp thời kiến nghị, đề xuất với Đảng, Nhà nước có những điều chỉnh, bổ sung chính sách mang lại hiệu quả cao hơn

Sơn La là tỉnh miền núi, biên giới thuộc vùng Tây Bắc của Tổ quốc, có vị trí chiến lược quan trọng cả về chính trị, kinh tế - xã hội và an ninh, quốc phòng Sau hơn 30 năm thực hiện đường lối đổi mới, cùng với sự cố gắng của Đảng bộ tỉnh, chính quyền cấp tỉnh và nhân dân các dân tộc, từ một tỉnh miền núi đặc biệt khó khăn, Sơn La đang có những bước phát triển mạnh mẽ tạo điều kiện vật chất thuận lợi cho việc thực hiện chính sách xã hội trên địa bàn, góp phần vào sự phát triển của tỉnh trong thời kỳ mới Kết quả thực hiện chính sách xã hội của chính quyền cấp tỉnh được thể hiện trong thực tiễn: công tác xóa đói giảm nghèo được triển khai sâu rộng và có hiệu quả; giảm được áp lực thiếu việc làm, số người lao động có việc làm mới tăng nhanh qua các năm; đời sống các đối tượng chính sách, người có công với cách mạng được cải thiện và nâng lên đáng kể; công tác giáo dục - đào tạo tiếp tục được đổi mới, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; sự nghiệp y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân được chăm lo, đạt được những tiến bộ quan trọng; công tác chăm lo người khuyết tật, trẻ mồ côi luôn nhận được sự quan tâm của tỉnh;

sự giúp đỡ của các cấp, các ngành, các tổ chức, cá nhân, của cả cộng đồng

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, hoạt động của hệ thống chính trị cấp tỉnh trong thực hiện chính sách xã hội vẫn còn bộc lộ những hạn chế như: việc thể chế hóa các chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước, xây dựng kế hoạch, chương trình triển khai, đề án còn chưa kịp thời và chất lượng còn hạn chế; cơ chế phối hợp giữa các

sở, ban, ngành chưa nhịp nhàng đã ảnh hưởng đến việc triển khai và thực thi chính sách; những quy định, thủ tục đề ra trong quá trình tổ chức thực thi chính sách thường không ổn định; thủ tục hành chính còn rườm rà, phức tạp, gây khó khăn cho việc thực thi chính sách, như thủ tục thẩm định, phê duyệt các chương trình, dự án, thủ tục cấp phát, chi tiêu tài chính; công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách tới những đối tượng liên quan còn chưa kịp thời và đội ngũ cán bộ, công chức trong thực hiện chính sách xã hội chưa đáp ứng đòi hỏi về chất lượng; nguồn lực cho triển khai và thực hiện chính

Trang 9

sách xã hội còn hạn chế; công tác kiểm tra, giám sát thực hiện chính sách xã hội chưa theo kịp yêu cầu tình hình mới; việc xử lý khiếu nại, tố cáo các vi phạm pháp luật trong quá trình thực hiện còn chậm, nhiều trường hợp chưa bảo đảm sự công bằng, nghiêm minh đã ảnh hưởng xấu đến hiệu quả thực hiện chính sách xã hội Những hạn chế trên đã phản ánh sự bất cập của hệ thống chính trị cấp tỉnh trong thực hiện chính sách xã hội

ở Sơn La thời gian qua Đây là yêu cầu mới đặt ra đối với Tỉnh ủy, chính quyền cấp tỉnh, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội cấp tỉnh trong thực hiện chính sách xã hội ở Sơn La thời gian tới

Với những lý do đó, tác giả lựa chọn đề tài “Vai trò của hệ thống chính trị

cấp tỉnh trong thực hiện chính sách xã hội ở Sơn La hiện nay” làm luận án tiến sĩ

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, luận án xác định bốn nhiệm vụ chủ yếu sau:

Một là, tổng quan tình hình nghiên cứu các công trình liên quan đến luận án; Hai là, phân tích làm rõ một số vấn đề lý luận về vai trò của hệ thống chính

trị cấp tỉnh trong thực hiện chính sách xã hội;

Ba là, chỉ ra thực trạng vai trò của hệ thống chính trị cấp tỉnh ở Sơn La trong

thực hiện chính sách xã hội;

Bốn là, đề xuất một số quan điểm và giải pháp nâng cao vai trò của hệ thống

chính trị cấp tỉnh ở Sơn La trong thực hiện chính sách xã hội thời gian tới

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là “vai trò của hệ thống chính trị cấp tỉnh trong thực hiện chính sách xã hội ở Sơn La hiện nay”

Trang 10

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nội dung:

+ Nghiên cứu vai trò của Tỉnh ủy, chính quyền cấp tỉnh, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội cấp tỉnh trong thực hiện chính sách xã hội

+ Tìm hiểu kết quả quá tình thực hiện chính sách xã hội trên năm lĩnh vực như: (1) giải quyết việc làm, (2) xóa đói giảm nghèo, (3) giáo dục - đào tạo, (4) y tế, (5) ưu đãi người có công với cách mạng và trợ giúp xã hội

- Phạm vi không gian: trên địa bàn tỉnh Sơn La

- Phạm vi thời gian: tổng hợp, sử dụng số liệu nghiên cứu từ năm 2010 đến

nay, qua hai nhiệm kỳ của Đại hội Đảng bộ tỉnh Sơn La khóa XIII (2010 - 2015) và khóa XIV (2015 - 2020)

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

4.1 Cơ sở lý luận

Luận án dựa trên hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về vai trò của hệ thống chính trị trong thực hiện chính sách xã hội; ngoài ra, luận án còn kế thừa và phát triển những quan điểm lý luận của các nhà khoa học về những nội dung có liên quan

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, luận án còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: kết hợp lý luận và thực tiễn, phân tích, thống kê, so sánh, lịch sử, chứng minh, tổng hợp, hệ thống, quy nạp được sử dụng kết hợp để triển khai thực hiện luận án Trong đó, các phương pháp: phân tích, so sánh, lịch sử, hệ thống được xác định là những phương pháp nghiên cứu chủ yếu của luận án Cụ thể như sau:

Phương pháp phân tích là phương pháp chủ đạo, được sử dụng trong tất cả các nội dung nghiên cứu của luận án; trên cơ sở khai thác thông tin từ các tư liệu (nghị quyết của Đảng và Nhà nước, số liệu thống kê, báo cáo của các cơ quan ban ngành, Tỉnh ủy Sơn La…), xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn của luận án, qua đó xác định được nội dung nghiên cứu

Trang 11

Phương pháp nghiên cứu lịch sử và nghiên cứu so sánh được sử dụng làm sáng tỏ những yêu cầu nghiên cứu của luận án liên quan đến việc đối chiếu, đánh giá các quan điểm nhận thức và các tỉnh thành khác của Việt Nam về thực hiện chính sách xã hội; chỉ ra thực trạng vai trò của hệ thống chính trị cấp tỉnh trong thực hiện chính sách xã hội ở Sơn La

Phương pháp hệ thống được sử dụng nhằm phát hiện mối liên hệ giữa bối cảnh với các yêu cầu nâng cao vai trò của hệ thống chính trị cấp tỉnh ở Sơn La trong thực hiện chính sách xã hội; bảo đảm tính tổng thể và khoa học của các giải pháp nâng cao vai trò của hệ thống chính trị cấp tỉnh ở Sơn La trong thực hiện chính sách xã hội

5 Đóng góp mới của luận án

Với tư cách là một công trình nghiên cứu từ góc độ chính trị học về vai trò của hệ thống chính trị cấp tỉnh trong trong thực hiện chính sách xã hội ở Sơn La, luận án có ba điểm mới sau:

Một là, khái quát lý luận về vai trò của hệ thống chính trị cấp tỉnh trong thực

hiện chính sách xã hội

Hai là, chỉ ra thực trạng vai trò của hệ thống chính trị cấp tỉnh trong thực

hiện chính sách xã hội ở Sơn La

Ba là, đề xuất những giải pháp góp phần nâng cao vai trò của hệ thống chính

trị cấp tỉnh trong thực hiện chính sách xã hội ở Sơn La thời gian tới

6 Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận án

6.1 Ý nghĩa lý luận

Luận án góp phần làm sáng tỏ thêm những vấn đề lý luận về hệ thống chính trị, hệ thống chính trị cấp tỉnh; chính sách xã hội, thực hiện chính sách xã hội và vai trò hệ thống chính trị cấp tỉnh trong thực hiện chính sách xã hội

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Đánh giá một cách khách quan về những kết quả đạt được, xác định những vấn đề đặt ra, từ đó đề xuất một số quan điểm và giải pháp gợi mở cho các cơ quan quản lý có điều chỉnh phù hợp để thực hiện chính sách xã hội hiệu quả hơn, qua đó góp phần nâng cao vai trò của hệ thống chính trị cấp tỉnh trong thực hiện chính sách

xã hội ở Sơn La thời gian tới

Kết quả nghiên cứu của luận án ở mức độ nhất định có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy các vấn đề liên quan

Trang 12

7 Cấu trúc của luận án

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục công trình đã công bố của tác giả, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận án gồm có 4 chương (11 tiết)

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu;

Chương 2: Một số vấn đề lý luận về vai trò của hệ thống chính trị cấp tỉnh trong thực hiện chính sách xã hội;

Chương 3: Thực trạng vai trò của hệ thống chính trị cấp tỉnh ở Sơn La trong thực hiện chính sách xã hội và những vấn đề đặt ra hiện nay;

Chương 4: Quan điểm và giải pháp nâng cao vai trò của hệ thống chính trị cấp tỉnh ở Sơn La trong thực hiện chính sách xã hội

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1 Các công trình nghiên cứu về vai trò của hệ thống chính trị trong

thực hiện chính sách xã hội

1.1.1 Một số công trình nghiên cứu về hệ thống chính trị và hệ thống chính trị Việt Nam

Có thể nói các công trình nghiên cứu về hệ thống chính trị đã được nhiều nhà khoa học quan tâm Một số công trình nghiên cứu về hệ thống chính trị đã được các nhà khoa học tiến hành nghiên cứu trong nhiều năm; từ đó cho chúng ta một cái nhìn toàn diện, đa chiều về quá trình xây dựng hệ thống chính trị ở Việt Nam

Khi bàn về hệ thống chính trị, cuốn Tập bài giảng Chính trị học (Nhà xuất

bản Chính trị - Hành chính, Hà Nội, 2012) đã nêu định nghĩa về hệ thống chính trị; cấu trúc của hệ thống chính trị được chia thành: tiểu hệ thống thể chế, tiểu hệ thống quan hệ, tiểu hệ thống cơ chế vận hành, tiểu hệ thống các nguyên tắc hoạt động; các thể chế chính trị; các nguyên tắc và cơ chế vận hành của hệ thống chính trị và các quan hệ chính trị

Trong cuốn sách Chính trị học những vấn đề cơ bản (Nhà xuất bản Khoa học

xã hội, Hà Nội, 2014), tác giả Võ Khánh Vinh, Đỗ Minh Hợp (đồng chủ biên) đã trình bày những vấn đề lý luận về hệ thống chính trị: chính trị trong hệ thống xã hội,

cơ cấu và chức năng của hệ thống chính trị, phân loại các hệ thống chính trị

Cuốn sách Hệ thống chính trị của Anh, Pháp, Mỹ - mô hình tổ chức và hoạt

động (Nhà xuất bản Lý luận chính trị, Hà Nội, 2007), tác giả Nguyễn Văn Huyên

(chủ biên) đã làm rõ những vấn đề: hệ thống chính trị được hợp thành từ ba tiểu hệ thống chính là đảng phái chính trị, nhà nước và các nhóm áp lực (nhóm lợi ích của xã hội công dân) Nếu coi hệ thống chính trị như một vòng tròn bao quát những tập hợp con cấu thành nên bản thân nó thì điểm trung tâm của vòng tròn này là nhà nước Một điểm chung dễ nhận thấy giữa Anh, Pháp, Mỹ là cả ba nước đều cùng áp dụng học thuyết “tam quyền phân lập” trong việc tổ chức quyền lực nhà nước Tuy nhiên, trên thực tế, các nước này lại có sự vận dụng học thuyết đó theo những

Trang 14

phương thức khác nhau và ít nhiều chịu sự chi phối của điều kiện lịch sử cũng như đặc điểm phát triển kinh tế - xã hội ở mỗi nước Trong mỗi quốc gia đó, các đảng phái chính trị có vai trò chi phối hoạt động của nhà nước Các đảng phái chính trị thường thể hiện sức mạnh thông qua nhiều phương thức khác nhau và tích cực tham gia vào công việc của nhà nước thông qua sự lãnh đạo của đảng cầm quyền Không chỉ dừng ở việc trình bày ở dạng so sánh những đặc trưng của hệ thống chính trị ba nước Anh, Pháp, Mỹ, mà thông qua việc tìm hiểu và phân tích những điểm tương đồng và khác biệt trong hệ thống chính trị của mỗi nước, các tác giả cuốn sách còn hướng đến việc tìm ra những giá trị phổ quát và ý nghĩa của chúng đối với việc vận dụng vào đổi mới hệ thống chính trị Việt Nam

Trong cuốn sách chuyên khảo Mô hình tổ chức và hoạt động của hệ thống

chính trị một số nước trên thế giới (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008),

tác giả Tô Huy Rứa đã phân tích hệ thống chính trị cơ bản, có tính chất đại diện, điển hình trên thế giới; trong đó có mô hình hệ thống chính trị tại các nước bị ảnh hưởng bởi các tư tưởng dân chủ tự do như: Anh, Pháp, Mỹ, Nhật Bản và Malaysia;

mô hình hệ thống chính trị tại các nước chịu ảnh hưởng bởi của tư tưởng xã hội dân chủ ở Bắc Âu (Thụy Điển, Đan Mạch,…) và đại diện các nước chịu sự ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin (Nga, Trung Quốc) Đồng thời, tác giả đánh giá chung

về các mô hình hệ thống chính trị có tính chất đại diện điển hình cho các hệ tư tưởng chính trị, nêu rõ tính phổ biến, tính đặc thù của các mô hình ấy; trên cơ sở đó

đề xuất các khuyến nghị về việc tham khảo kinh nghiệm tổ chức và hoạt động của

hệ thống chính trị ở một số nước trên thế giới trong quá trình đổi mới hệ thống chính trị nước ta

Khi nêu quan điểm về hệ thống chính trị Việt Nam, cuốn Giáo trình Chính

trị học (Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 2006) chỉ ra hệ thống chính trị Việt Nam

với ba nhóm quyền lực có tính độc lập tương đối: quyền lực nhà nước với chủ thể là Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; quyền lực chính trị do Đảng Cộng sản Việt Nam là chủ thể; cuối cùng là các tổ chức xã hội, đoàn thể thành lập và hoạt động theo môi trường pháp lý hiện hành, tập hợp xung quanh cơ quan đại diện là Mặt trận Tổ quốc; đồng thời, nêu những định hướng bảo đảm sự tác động của các chủ thể chính trị đến thể chế Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Trang 15

Khi bàn về hệ thống chính trị Việt Nam, cuốn Tập bài giảng Chính trị học,

(Nhà xuất bản Chính trị - Hành chính, Hà Nội, 2012) làm rõ những đặc điểm, cấu trúc, khái quát thực trạng hoạt động của hệ thống chính trị nước ta và những định

hướng lớn có tính chất giải pháp về đổi mới hệ thống chính trị Việt Nam

Đổi mới hệ thống chính trị là một trong những nhiệm vụ quan trọng, có ý nghĩa chiến lược to lớn; nhằm tổng kết công tác nghiên cứu lý luận và thực tiễn quá trình đổi mới hệ thống chính trị của nước ta từ khi tiến hành công cuộc đổi mới đến

nay, có nhiều công trình nghiên cứu của các học giả như: Đổi mới và tăng cường hệ

thống chính trị ở nước ta trong giai đoạn mới (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà

Nội, 1999) do tác giả Nguyễn Đức Bình (Chủ biên); Hệ thống chính trị nước ta

trong thời kỳ đổi mới (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008) của tác giả

Nguyễn Duy Quý; Quan điểm và nguyên tắc đổi mới hệ thống chính trị ở Việt Nam

giai đoạn 2005 - 2020, (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 2008) của tác giả Trần

Đình Hoan; Quá trình đổi mới hệ thống chính trị ở Việt Nam (1986 - 2011) (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011) của tác giả Phạm Ngọc Trâm; Đổi mới,

hoàn thiện hệ thống chính trị ở nước ta (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội,

2014) của tác giả Lê Quốc Lý Các tác giả đã chỉ ra ở Việt Nam, hệ thống chính trị đã sớm được hình thành và hoàn thiện cùng với quá trình phát triển của đất nước, với tính cách là hệ thống chính trị cách mạng, các tổ chức trong hệ thống chính trị như: Đảng Cộng sản, Nhà nước xã hội chủ nghĩa, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội luôn được nâng cao chất lượng hoạt động hoạt động của hệ thống chính trị nước ta thời kỳ đổi mới Các tác giả đã tập trung phân tích, làm rõ tính tất yếu khách quan của việc đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay; đánh giá hiện trạng, những thành tựu và hạn chế của hệ thống chính trị nước ta hơn 30 năm qua; nêu ra các mục tiêu, quan điểm và nguyên tắc đổi mới hệ thống chính trị; đề xuất phương hướng và các giải pháp đổi mới hệ thống chính trị ở Việt Nam trong giai đoạn mới Theo đó, đổi mới hệ thống chính trị không nhằm mục tiêu tạo ra một

hệ thống chính trị mới hay thay đổi bản chất của hệ thống chính trị hiện nay, mà thực hiện đổi mới theo hướng hoàn thiện để khắc phục các bất cập, yếu kém, tạo nên sự phù hợp của hệ thống chính trị với các yêu cầu của kinh tế thị trường định

Trang 16

hướng xã hội chủ nghĩa Đổi mới hệ thống chính trị để củng cố và tăng cường mở rộng nền tảng xã hội của hệ thống chính trị, tăng cường sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, tạo ra sự đồng thuận xã hội để thực hiện hiệu quả các mục tiêu phát triển Đổi mới hệ thống chính trị luôn phải đảm bảo và nâng cao vị trí, vai trò cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, nâng cao sức chiến đấu của Đảng, trong đó, đổi mới, chỉnh đốn Đảng là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị,…

Báo cáo đề tài khoa học cấp Nhà nước Vấn đề xây dựng nền chính trị và

hệ thống chính trị nước ta trong thời kỳ quá độ (ý hiệu ý.00101)) (1995); Hệ thống chính trị Việt Nam - quá trình xây dựng và đánh giá thực trạng (ý hiệu KX.05.03) (1995); Hệ thống chính trị trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta (ý hiệu ý.005003) (1996); Hệ thống chính trị Việt Nam của tác giả

Nguyễn Hữu Khiển (1998); đây là những công trình nghiên cứu công phu, có giá trị khoa học cao của tập thể các tác giả về hệ thống chính trị Việt Nam Các công trình trên đã nghiên cứu về lịch sử hệ thống chính trị Việt Nam, đặc biệt là hệ thống chính trị cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng, từ đó chỉ ra những đặc trưng cơ bản của tiến trình đó; phân tích những vấn đề lý luận và phương pháp luận nghiên cứu

hệ thống chính trị trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; xác định mục tiêu, quan điểm và định hướng xây dựng hoàn thiện hệ thống chính trị Việt Nam; nghiên cứu và làm rõ thực trạng tổ chức và hoạt động của Đảng Cộng sản cầm quyền; thực trạng của bộ máy nhà nước; thực trạng tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân; đưa ra những thuyết minh dự kiến đổi mới mô hình hệ thống chính trị, xây dựng cơ sở khoa học cho việc đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính trị cách mạng, đáp ứng những đòi hỏi của thực tiễn cách mạng đặt ra

Bên cạnh đó, có một số lượng lớn công trình nghiên cứu về vai trò lãnh đạo

của Đảng như: 75 năm Đảng Cộng sản Việt Nam (1930 - 2005), (Nhà xuất bản Lý luận chính trị, Hà Nội, 2005); Vị trí cầm quyền và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng

sản Việt Nam trong điều kiện mới (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008)

do tác giả Đỗ Hoài Nam (chủ biên); Đảng Cộng sản cầm quyền - nội dung và

phương thức cầm quyền của Đảng (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011)

Trang 17

của tác giả Nguyễn Văn Huyên (chủ biên); Quan điểm của Đảng về đổi mới hệ

thống chính trị (Lý luận chính trị, 3/2014) của tác giả Nguyễn Văn Huyên; Về vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước trong hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay,

(Tạp chí Triết học, số 2, 2010) của tác giả Nguyễn Ngọc Hà; Tăng cường sự lãnh

đạo của Đảng về đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân (Lý luận chính trị, 5/2016) của tác giả Hoàng Chí Bảo Các

công trình trên đã trình bày những nét khái quát về hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay; những vấn đề lý luận chung về đảng cầm quyền và Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền Sự cầm quyền và vai trò lãnh đạo của Đảng là một nguyên tắc hoạt động cơ bản, là trụ cột của cơ chế vận hành của hệ thống chính trị, là điều kiện đảm bảo quyền lực chính trị thuộc về nhân dân Hệ thống thể chế đảng lãnh đạo và cầm quyền đã được Đảng ta quan tâm xây dựng ngay từ khi nắm chính quyền và từng bước được bổ sung để đáp ứng nhiệm vụ chính trị từng giai đoạn cách mạng

Từ khi công cuộc đổi mới được tiến hành đến nay, nội dung, phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng cũng có sự thay đổi Đảng và các tổ chức đảng ngày càng quy định đúng hơn và tôn trọng vai trò của các cơ quan nhà nước, xác định rõ hơn nội dung, phạm vi lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước, từ Trung ương xuống cơ sở

Nhóm các công trình bàn về Nhà nước phải kể đến như: Nhà nước cách mạng

Việt Nam (19)5 - 2010), (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010) của tác

giả Nguyễn Trọng Phúc; Nhà nước trong hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay

(Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010) do tác giả Lê Minh Quân (chủ

biên); Hình thức Nhà nước và vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ

nghĩa Việt Nam, (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012) của tác giả Mai

Thị Thanh; Bộ máy nhà nước và tổ chức bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ

nghĩa Việt Nam, (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2015) của tác giả

Nguyễn Minh Đoan; ây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ

nghĩa Việt Nam trong Văn kiện Đại hội II của Đảng (Nhà xuất bản Chính trị quốc

gia, Hà Nội, 2016) do tác giả Nguyễn Bá Dương, Nguyễn Văn Dũng (đồng chủ

biên); Vị trí, vai trò của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong hệ

thống chính trị xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Giáo dục lý luận, 11/2010) của tác giả

Trang 18

Nguyễn Thế Thuấn Các công trình trên đều khẳng định: trong hệ thống chính trị ở nước ta, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là trụ cột, là công cụ tổ chức thực hiện ý chí và quyền lực của nhân dân, thay mặt nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân quản lý toàn bộ hoạt động đời sống xã hội Đó là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Nhà nước Việt Nam có vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng trong hệ thống chính trị được quy định bởi chức năng và nhiệm vụ của nó trong hệ thống chính trị, trong đời sống xã hội Các công trình phân tích sâu sắc thực trạng

về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước trong mối quan hệ với Đảng và các tổ chức chính trị - xã hội; trên cơ sở đó nêu vấn đề đặt ra và những giải pháp xây dựng

và hoàn thiện Nhà nước ta theo hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân

Nhóm các công trình bàn về Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị xã hội

phải kể đến như: Phát huy vai trò của các tổ chức xã hội ở Việt Nam (Nhà xuất bản

Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012) do tác giả Thang Văn Phúc, Nguyễn Minh

Phương (đồng chủ biên); Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thiết chế chính trị có chức năng

phản biện xã hội (Lý luận chính trị, 9/2012) của tác giả Hồ Tấn Sáng; Vai trò của Mặt trận Tổ quốc trong thực hiện dân chủ ở cơ sở hiện nay (Giáo dục lý luận, số

10/2012) của tác giả Nguyễn Văn Phương; Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc

Việt Nam các cấp tham gia xây dựng dựng Đảng và Nhà nước hiện nay (Lịch sử

Đảng, 3/2017) của tác giả Lê Mậu Nhiệm Các công trình trên đều nhận định chung: trước yêu cầu đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, hệ thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp từ Trung ương đến cơ sở đã không ngừng củng cố, kiện toàn tổ chức, đổi mới cả nội dung và phương thức hoạt động Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp đã đóng góp quan trọng trong nâng cao năng lực lãnh đạo sức chiến đấu của Đảng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước Trong xây dựng Mặt trận Tổ quốc

và các đoàn thể nhân dân, đã đề cập phản biện xã hội - một trong những cách thức, công cụ để nhân dân tham gia vào quá trình xây dựng và thực hiện các quyết sách chính trị ở Việt Nam hiện nay

Trang 19

Như vậy, các công trình, đề tài nghiên cứu, bài viết đã làm rõ bản chất, đặc trưng, phương thức tổ chức, hoạt động; quá trình hình thành và phát triển; thực trạng hoạt động của hệ thống chính trị ở nước ta trong quá trình đổi mới; phân tích

về vai trò lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị

1.1.2 Một số công trình nghiên cứu về chính sách công và chính sách xã hội Thứ nhất, một số cnn tình n hinn cứu êề chính sách xã hội nớcc n àii

Khi nghiên cứu về quy trình trong hoạt động thiết kế và thực hiện chính sách

công, cuốn sách Chính sách công của Hoa ýỳ giai đoạn 1935 - 2001 (Nhà xuất bản

Thống kê, 2001), tác giả Lê Vinh Danh đã đề cập đến những vấn đề cơ bản như: chính sách công và chính quyền - tổ chức chính quyền hợp chủng quốc Hoa Kỳ; quy trình thiết kế chính sách công; chính sách công Hoa Kỳ giai đoạn 1935 - 2000; quy trình thiết kế chính sách trong thực tế Cuốn sách đã khái quát nội dung với 3 phần: Chính sách công và chính quyền, tiến trình lập và thực hiện chính sách, thiết

kế chính sách công trong thực tế Ngày nay, rất nhiều chính sách và cách thiết kế chính sách được xây dựng ở cấp chính quyền trung ương từ những năm thập niên

20, 30 Lề lối quản trị hay thiết kế chính sách công có thể xem là cố định nói trên gần như là nền tảng chính trong hệ thống hành chính Hoa Kỳ, bởi nó phản ánh việc phục vụ các quyền lợi cơ bản và không thay đổi của nước Mỹ mà chính quyền, đơn vị đại diện của đất nước có trách nhiệm phải làm Với những mục tiêu tương đồng

về lợi ích quốc gia, lề lối thiết kế và quản trị mang tính cơ bản này có thể là kinh nghiệm tốt cho các nước đang phát triển xem xét

Cuốn sách Về mô hình “chủ nghĩa xã hội ở thế kỷ I” của khu vực Mỹ La

tinh hiện nay (Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội, 2012), tác giả Nguyễn An

Ninh giới thiệu về sức hấp dẫn của chế độ xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ cải cách, đổi mới ở Cuba - thực hiện chính sách xã hội công bằng và bảo đảm an sinh cho nhân dân ngay cả khi đất nước còn gặp nhiều khó khăn Cuba là một xã hội lành mạnh, hầu như không có tệ nạn ma túy, nạn thất nghiệp ở mức độ thấp; gần như toàn bộ người già, cô đơn được đưa vào các nhà dưỡng lão; trẻ em tàn tật, khuyết tật

Trang 20

được đưa vào các trường đặc biệt Cuba quan tâm đặc biệt đến công tác giáo dục, đào tạo nhân lực và dịch vụ y tế, đảm bảo sức khỏe cho toàn dân

Cuốn sách Hệ thống an sinh xã hội của một số nước EU giai đoạn hậu khủng

hoảng tài chính - kinh tế toàn cầu của Đinh Công Tuấn, (Nhà xuất bản Chính trị

quốc gia, Hà Nội, 2013) tập trung làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn của hệ thống an sinh xã hội EU giai đoạn hậu khủng hoảng kinh tế toàn cầu đồng thời giới thiệu về một số mô hình an sinh sinh xã hội điển hình của EU: Hy Lạp, Tây Ban Nha, Đức, Anh, Thụy Điển Bên cạnh đó, tác giả còn dự báo triển vọng an sinh xã hội ở EU và bài học kinh nghiệm chính sách cho Việt Nam

Để tăng cường hiểu biết về văn hóa, xã hội, đặc biệt an sinh xã hội của các

nước trong cộng đồng ASEAN, cuốn sách Giải quyết an sinh xã hội của Thái Lan,

Malaixia, Philippin và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam (Nhà xuất bản Khoa học

xã hội, Hà Nội, 2015), tác giả Nguyễn Duy Dũng trình bày các nhân tố tác động đến

an sinh xã hội của Thái Lan, Malaysia, Philippin Thực trạng an sinh xã hội của Thái Lan, Malaysia, Philippin từ những năm 1990 đến nay Kinh nghiệm giải quyết

an sinh xã hội của Thái Lan, Malaysia, Philippin là bài học tham khảo hữu ích cho Việt Nam

Bên cạnh các công trình trên, còn một số bài viết như: Tăng trưởng kinh tế

gắn với thực hiện chính sách xã hội ở một số quốc gia - ýinh nghiệm đối với Việt Nam, của Phạm Đức Kiên (2010), Mô hình chủ nghĩa xã hội dân chủ Thụy Điển - kinh nghiệm tham chiếu đối với công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay, của Hoàng

Xuân Huy (2016) đã giới thiệu mô hình thực hiện chính sách xã hội của Nhật Bản, Thụy Điển với nhiều loại hình phúc lợi xã hội; tạo cho mọi người có môi trường thuận lợi để được tham gia đóng góp cho xã hội, cũng như được hưởng một phần thành quả do sự tăng trưởng đem lại

Như vậy, các công trình nghiên cứu trên đều khẳng định vai trò chính sách xã hội trong chiến lược phát triển của mỗi quốc gia, một trong những nhân tố quan trọng góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội, thúc đẩy sự phát triển bền vững của một quốc gia Tuy nhiên, do điều kiện lịch sử, văn hóa và trình độ phát triển kinh tế khác nhau, trong những giai đoạn lịch sử khác nhau nên chính sách xã hội

Trang 21

của mỗi quốc gia cũng có những nét khác biệt; các công trình nghiên cứu trên là gợi

ý tốt cho Việt Nam về cơ sở lý luận và thực tiễn trong thực hiện chính sách xã hội

Thứ hai, một số công trình nghiên cứu về chính sách công

Từ cách tiếp cận chính trị học, công trình Tìm hiểu về khoa học chính sách

công (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999) của Viện Khoa học chính trị -

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, đã đề cập đến những vấn đề cơ bản về khái niệm, cấu trúc và chu trình chính sách công - hoạch định, thực thi, đánh giá chính sách công Vị trí của chính sách công trong việc giành, giữ, thực thi quyền lực chính trị Chu trình chính sách với 4 giai đoạn chính: xác lập chương trình nghị sự (tìm kiếm sự nhất trí về mục tiêu), ra quyết định chính sách (tìm kiếm sự nhất trí về biện pháp đạt được mục tiêu), triển khai chính sách (thi hành các biện pháp đã được nhất trí), đánh giá chính sách (đánh giá việc thực hiện mục tiêu và đặt ra các vấn đề mới) Vai trò của nhà nước trong việc thực thi các chính sách xã hội nhằm đảm bảo công bằng xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và các chính sách chính của Việt Nam hiện nay

Công trình ýhoa học chính sách công (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà

Nội, 2008) nhận định: chính sách công là quyết định của các chủ thể quyền lực nhà nước, nhằm quy định mục đích, cách thức và chế định hành động của những đối tượng liên quan, để giải quyết những vấn đề nhất định mà xã hội đặt ra; đó là tổng thể các chuẩn mực, biện pháp mà nhà nước sử dụng để quản lý xã hội Công trình phân tích những vấn đề cơ bản của khoa học chính sách công như: chủ thể, quy trình và phân tích chính sách công; hoạch định chính sách công; tổ chức thực hiện chính sách công; đánh giá, hoàn thiện chính sách công

Từ cách tiếp cận khoa học quản lý, gồm các công trình tiêu biểu như: Chính

sách công những vấn đề cơ bản (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016)

của tác giả Nguyễn Hữu Hải; Hoạch định và thực thi chính sách công (Nhà xuất bản

Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016) do tác giả Lê Như Thanh, Lê Văn Hòa (đồng chủ

biên); Tổng quan về chính sách công (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội,

2017) của tác giả Đỗ Phú Hải Các công trình trên đã phân tích những vấn đề lý luận chung về chính sách công như: quá trình phát triển của khoa học chính sách;

Trang 22

đặc điểm, vai trò và phân loại chính sách công; cấu trúc nội dung và chu trình chính sách công; nguyên tắc, căn cứ, các bước và phương pháp, công cụ hoạch định chính sách công; quan niệm, ý nghĩa của tổ chức thực thi chính sách công; các bước tổ chức thực thi, yêu cầu, các hình thức, phương pháp tổ chức thực thi chính sách công

và phân cấp quản lý chính sách công; quá trình xây dựng chính sách công; công cụ chính sách công ở nước ta; chủ thể chính sách công; thể chế chính sách công ở nước ta; những vấn đề về thực hiện chính sách công ở nước ta; đánh giá chính sách công

ở Việt Nam) và một số phân tích chính sách chuyên ngành ở Việt Nam

Từ cách tiếp cận luật học, công trình Chính sách công l luận và thực tiễn

(Nhà xuất bản Tư pháp, 2017) do các tác giả Cao Quốc Hoàng, Nguyễn Đỗ Quyên (đồng chủ biên); tập thể tác giả cũng đưa ra một số khái niệm công cụ chính (25 công cụ) để nghiên cứu chính sách công như: chính sách là gì; chính sách công là gì; chính sách dân tộc, chính sách kinh tế,… và một số khái niệm về chính sách công ở các nước phát triển và tại các tổ chức kinh tế quốc tế Tập thể tác giả đề cập đến các đặc trưng chính sách công (05 đặc trưng); mục tiêu chính sách (04 mục tiêu); nhiệm vụ chính sách công; phân loại chính sách công; chu trình chính sách công; khái niệm về thực thi chính sách công, tập thể tác giả đưa ra các hình thức thực thi chính sách, pháp luật ở địa phương, cơ sở; các bước tiến hành thực thi chính sách, pháp luật ở địa phương, cơ sở; các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức thực thi chính sách, pháp luật ở địa phương, cơ sở; ý nghĩa của việc tổ chức thực thi chính sách công

Thứ ba, một số công trình nghiên cứu về chính sách ã hội ở iiệt Nam

Ở Việt Nam, xuất phát từ đòi hỏi thực tiễn của công cuộc đổi mới đất nước,

từ nhận thức đúng đắn về vai trò của chính sách xã hội là công cụ đặc biệt quan trọng để điều chỉnh, giải quyết các vấn đề xã hội, đảm bảo công bằng, bình đẳng, tiến bộ xã hội, thúc đẩy tăng trưởng, phát triển kinh tế bền vững; đã gây được sự chú ý, quan tâm sâu sắc của giới nghiên cứu khoa học xã hội Tiêu biểu có các công trình nghiên cứu sau:

Từ cách tiếp cận công tác xã hội, công trình của tác giả Nguyễn Tiệp (chủ biên),

Giáo trình chính sách xã hội (Nhà xuất bản Lao động - Xã hội, Hà Nội, 2011) đã giới

Trang 23

thiệu các vấn đề lý luận cơ bản về chính sách xã hội như: khái niệm, chức năng, yêu cầu, các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành hệ thống chính sách xã hội, quy trình chính sách xã hội: hoạch định chính sách xã hội, tổ chức thực hiện chính sách xã hội, phân tích chính sách xã hội; đồng thời tác giả giới thiệu một số chính sách xã hội cơ bản đang áp dụng ở Việt Nam hiện nay

Từ cách tiếp cận kinh tế học, công trình của nhóm tác giả Bruno Palier Louis -

Charles Viossat (chủ biên), Chính sách xã hội và quá trình toàn cầu hóa (Nhà xuất

bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003) đã giới thiệu một số bài tham luận của các chuyên gia hàng đầu thế giới nghiên cứu về quá trình phát triển của chính sách xã hội trước thách thức toàn cầu hóa; nội dung các bài tham luận tập trung trình bày quan điểm và chính sách của hệ thống bảo đảm xã hội; cơ sở lý luận xây dựng hệ thống bảo đảm xã hội; các mô hình chính sách xã hội của châu Âu và thế giới; cải cách hệ thống hưu trí và chính sách việc làm; cải cách thị trường lao động

Từ cách tiếp cận xã hội học, công trình của tác giả Bùi Đình Thanh, ã hội

học và chính sách xã hội (Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 2004) đã đưa ra

quan niệm về chính sách xã hội và phân tích 4 yếu tố hợp thành: (1) chủ thể đặt ra chính sách xã hội ở nước ta là Đảng Cộng sản, Nhà nước và các tổ chức hoạt động chính trị xã hội; (2) đối tượng chính sách xã hội là các tầng lớp nhân dân trong xã hội; (3) nội dung chính sách xã hội bao quát nhiều lĩnh vực hoạt động rộng lớn của xã hội: chính sách dân số, gia đình, bảo vệ sức khỏe, bảo hộ lao động, nghỉ ngơi, giải trí, khắc phục tệ nạn xã hội, bảo đảm an toàn xã hội…(4) mục tiêu chính sách xã hội la không ngừng nâng cao phúc lợi vật chất, phát triển văn hóa và dân chủ xã hội chủ nghĩa

Từ cách tiếp cận quản lý xã hội, công trình của tác giả Phan Huy Đường (chủ

biên), Chính sách xã hội các vấn đề và sự lựa chọn theo hướng phát triển bền vững

(Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2015), đã đưa ra phương thức lựa chọn vấn đề chính sách xã hội theo quan điểm phát triển bền vững Công trình đã làm rõ những vấn đề lý luận về chính sách xã hội như: khái niệm, phân loại, đặc điểm, mục tiêu, chức năng của chính sách xã hội

Cho đến nay, khoa học chính sách xã hội đã phát triển với tính cách là một

Trang 24

chuyên ngành của các khoa học chính sách, công trình của tác giả Lê Ngọc Hùng,

Chính sách xã hội (Nhà xuất bản Thế giới, Hà Nội, 2017) trên cơ sở nêu cách định

nghĩa khác nhau, đã nêu một định nghĩa có tính tổng quát như sau: chính sách xã hội

là lĩnh vực nghiên cứu khoa học, xây dựng và thực thi chính sách đảm bảo phúc lợi xã hội, bảo trợ xã hội, phát triển xã hội và phát triển con người Từ góc độ đối tượng nghiên cứu, khoa học chính sách xã hội có cấu trúc gồm: chuyên ngành về phúc lợi xã hội với các thiết chế phúc lợi như nhà nước phúc lợi, hệ thống phúc lợi, chế độ phúc lợi, chuyên ngành về bảo trợ xã hội, chuyên ngành về bảo hiểm xã hội, chuyên ngành về an sinh xã hội, chuyên ngành về phát triển con người, chuyên ngành về phát triển xã hội và các chuyên ngành khác Một số cách tiếp cận xã hội học trong khoa học chính sách xã hội: cách tiếp cận phân phối lại, cách tiếp cận lý thuyết phát triển, cách tiếp cận chức năng luận, bộ ba cách tiếp cận lý thuyết: đại diện, giải thích và chuẩn tắc

Tóm lại, chính sách xã hội trở thành một lĩnh vực khoa học liên ngành đã được phát triển mạnh mẽ trên thế giới và Việt Nam Khoa học chính sách xã hội dựa trên cơ sở khoa học chính sách và mối quan hệ của nó với con người và xã hội tuân theo các quy luật nhất định có thể nghiên cứu, nhận thức và vận dụng để thay đổi chính sách, xã hội Cho đến nay, khoa học chính sách xã hội đã phát triển được hệ thống khái niệm, phạm trù và lý thuyết phong phú, đa dạng có thể áp dụng trong nghiên cứu với tư cách là một khoa học hàn lâm và việc vận dụng các công cụ phân

tích để giải quyết một bài toán thực tế

1.1.3 Một số công trình nghiên cứu về vai trò của hệ thống chính trị trong thực hiện chính sách ã hội

Thứ nhất, một số công trình nghiên cứu về vai trò của hệ thống chính trị trong thực hiện chính sách xã hội của nước ngoài

Trước hết kể đến công trình nghiên cứu Market or Government: Choosing

between imperfect alternatives (Thị trường hay nhà nước: một lựa chọn giữa giải

pháp chưa hoàn chỉnh) của C.Wilf (1989) đã làm rõ một chức năng quan trọng của nhà nước hiện đại chính là giải quyết các vấn đề xã hội, khắc phục khuyết điểm của thị trường, nhất là cung ứng các dịch vụ công đảm bảo nhu cầu thiết yếu của người

Trang 25

dân và đảm bảo an sinh xã hội Nhà nước hiện đại ngày càng thấy rõ hơn vai trò của chính sách an sinh xã hội trong chiến lược phát triển quốc gia cũng như củng cố vai trò quản lý xã hội của mình, vì vậy họ ngày càng chú ý đổi mới cách tiếp cận giải quyết các vấn đề xã hội

Công trình nghiên cứu Public service reform in Singapore (Cải cách dịch vụ

công của Singapore) của Janet Tay (2001) đã đề cập vai trò quan trọng của hệ thống chính trị mà hạt nhân là Đảng hành động nhân dân - Đảng cầm quyền ở Singapore

từ khi quốc gia này được thành lập đến nay trong việc nâng cao phúc lợi cho người dân thông qua cung ứng dịch vụ công: nước sạch, môi trường, y tế, giáo dục…

Trong công trình nghiên cứu Investment in China’s future (Đầu tư cho tương

lai Trung Quốc) của Zhang X.Q (2005) nhấn mạnh sự chuyển hướng gần đây của hệ thống chính trị Trung Quốc khi tìm động lực tăng trưởng kinh tế từ việc giải quyết các vấn đề xã hội và chăm lo nhân tố con người Nghiên cứu cũng nhấn mạnh đầu

tư cho phát triển xã hội là đầu tư cho phát triển tương lai, tất nhiên phải gắn với tiềm lực và điều kiện tăng trưởng kinh tế trong mỗi bước đi của cải cách, mở cửa

Như vậy, các nghiên cứu nước ngoài cho thấy tư duy, hướng tiếp cận về giải quyết các vấn đề xã hội trong thế giới đương đại của hệ thống chính trị các quốc gia Một số nghiên cứu đã mở ra hướng tiếp cận mới về thực thi các chính sách đảm bảo an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, giải quyết mối quan hệ giữa đảng với nhà nước, giữa nhà nước với thị trường trong quản lý thực hiện chính sách xã hội

Thứ hai, một số công trình nghiên cứu về vai trò của hệ thống chính trị trong thực hiện chính sách xã hội ở Việt Nam

Từ góc độ tiếp cận của khoa học lịch sử Đảng, chủ nghĩa xã hội khoa học, chính sách công… đã có nhiều công trình nghiên cứu về vai trò của hệ thống chính trị trong thực hiện chính sách xã hội Các công trình nghiên cứu, bài biết đã làm sáng tỏ vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội trong thực hiện chính sách xã hội; cụ thể như sau:

Những nghiên cứu nhấn mạnh vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thực hiện chính sách xã hội thời kỳ đổi mới, phải kể đến nhóm công trình như:

Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo thực hiện chính sách xã hội trong 25 năm đổi

Trang 26

mới (1986 - 2011) (Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội, 2011) của tác giả Đinh

Xuân Lý; Đảng lãnh đạo thực hiện chính sách xã hội trong thời kỳ đổi mới (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011) của tác giả Nguyễn Thị Thanh; Đảng

Cộng sản Việt Nam lãnh đạo thực hiện chính sách xã hội ở Tây Nguyên từ năm

1996 đến năm 2006, (2012) của tác giả Phạm Văn Hồ; Đảng lãnh đạo kết hợp phát triển kinh tế với thực hiện chính sách xã hội từ năm 1991 đến nay (Nhà xuất bản

Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2017) của tác giả Phạm Đức Kiên; Quan điểm

của Đảng Cộng sản Việt Nam về con người với tư cách là đối tượng phục vụ của chính sách xã hội trong thời kỳ đổi mới (Tạp chí Giáo dục Lý luận, số 228, 2015)của tác giả Trần Văn Phòng Các nghiên cứu này đã đề cập những vấn đề chung nhất, liên quan trực tiếp đến trình bày cơ sở hình thành chủ trương, chính sách xã hội của Đảng thời kỳ đổi mới; đồng thời đánh giá hệ quan điểm, chính sách xã hội của Đảng và kết quả quá trình thực hiện chính sách xã hội trên một số lĩnh vực như: lao động và việc làm; xóa đói, giảm nghèo; bảo hiểm xã hội; ưu đãi người có công với cách mạng; bảo trợ xã hội; phòng chống tệ nạn xã hội từ năm 1986 đến nay; bước đầu tổng kết một số kinh nghiệm từ quá trình lãnh đạo của Đảng đối với lĩnh vực xã hội ở nước ta Nhằm khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng đối với việc thực hiện chính sách xã hội, đặc biệt là những đột phá trong chủ trương xã hội hóa một số lĩnh vực xã hội

Nhóm nghiên cứu đánh giá về vai trò của Nhà nước trong thực hiện chính

sách phải kể đến công trình Chính sách an sinh xã hội và vai trò của Nhà nước

trong việc thực hiện chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam (Nhà xuất bản Chính trị

quốc gia, Hà Nội, 2014), tác giả Nguyễn Văn Chiều trình bày có hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn về chính sách an sinh xã hội; đồng thời làm sáng tỏ tính tất yếu nhà nước trong thực hiện chính sách an sinh xã hội xuất phát từ năm lý do

cơ bản: (1) bản chất, chức năng xã hội của nhà nước; (2) khắc phục những hạn chế của nền kinh tế thị trường; (3) đặc điểm và tính chất của hàng hóa an sinh xã hội; (4) quyền cơ bản của con người; (5) yêu cầu của hội nhập quốc tế Với tư cách là chính sách công, vai trò của nhà nước trong thực hiện chính sách an sinh xã hội là: (1) hoạch định chính sách an sinh xã hội cho từng thời kỳ; (2) triển khai, kiểm tra,

Trang 27

giám sát việc thực thi chính sách an sinh xã hội trong thực tế; (3) bảo đảm nguồn

lực cho việc thực hiện chính sách Công trình Vai trò của Nhà nước trong việc xây

dựng và tổ chức thực hiện chính sách xã hội (Tạp chí Lao động và xã hội, số 363,

2009) của tác giả Bùi Ngọc Thanh đã làm sáng tỏ vai trò của Nhà nước trong việc xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách xã hội Để xử lý trọn vẹn các vấn đề xã hội cần thực hiện 09 công đoạn: (1) từ đường lối chiến lược chuyển thành luật pháp; (2) từ luật pháp chuyển thành các chính sách; (3) từ chính sách chuyển thành các kế hoạch; (4) từ kế hoạch chuyển thành chương trình; (5) từ chương trình chuyển thành dự án; (6) từ dự án chuyển thành các công việc; (7) từ công việc tiến hành chỉ đạo thực hiện; (8) sau khi thực hiện phải đánh giá tổng kết; (9) rút kinh nghiệm Trong

9 công đoạn trên, từ công đoạn thứ 2 - 9 thuộc chức năng của nhà nước

Nhóm nghiên cứu đánh giá về vai trò của mặt trận và các tổ chức xã hội đối

với việc giải quyết các vấn đề xã hội như: công trình Phát huy vai trò của các tổ

chức xã hội ở Việt Nam (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012), tác giả

Thang Văn Phúc cho rằng: xuất phát từ đặc điểm, tính chất của tổ chức mình, các tổ chức chính trị - xã hội thực hiện vai trò (1) tập hợp, đoàn kết, phối hợp và tuyên truyền, vận động các thành viên, hội viên làm tròn trách nhiệm, nghĩa vụ đối với đất nước; (2) tham gia xây dựng cơ chế, chính sách, pháp luật và giám sát, phản biện xã hội đối với cơ chế, chính sách, pháp luật về phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội; (3) bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của các thành viên, hội viên

và cộng đồng; (4) cung ứng các dịch vụ công phục vụ cộng đồng; (5) góp phần mở rộng hợp tác quốc tế, thực hiện đối ngoại nhân dân, phát triển tình hữu nghị, sự hợp

tác giữa các dân tộc Công trình Vai trò của Mặt trận trong quá trình chính sách

công (Lý luận chính trị, số 9/2013) của tác giả Nguyễn Trọng Bình khẳng định Mặt

trận có vai trò quan trọng trong quá trình chính sách công ở nước ta: thứ nhất, Mặt

trận tham gia vào quá trình xây dựng chính sách, góp phần thúc đẩy dân chủ hóa

quá trình hoạch định chính sách công; thứ hai, Mặt trận tham gia vào quá trình thực

hiện chính sách, góp phần khắc phục sự giới hạn về nguồn lực trong thực thi chính

sách của Nhà nước; thứ ba, Mặt trận tham gia đánh giá, góp phần khách quan hóa quá trình đánh giá chính sách công; thứ tư, Mặt trận kiến nghị để các cơ quan có

Trang 28

thẩm quyền điều chỉnh hoặc kết thúc chính sách công

Như vậy, các tác giả đã phân tích quá trình lãnh đạo, chỉ đạo và kết quả thực hiện chính sách xã hội của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội trên những địa bàn khác nhau của đất nước, trong những thời điểm khác nhau; đánh giá một cách khách quan những thành tựu, hạn chế; lý giải nguyên nhân, rút ra những kinh nghiệm chủ yếu để phát huy vai trò, trách nhiệm của các tổ chức trong hệ thống chính trị

1.2 Các công trình nghiên cứu về vai trò của hệ thống chính trị cấp tỉnh trong thực hiện chính sách xã hội

Từ góc độ tiếp cận của khoa học lịch sử, địa lý, văn hóa học, dân tộc học… gần đây đã có một số công trình nghiên cứu về tỉnh Sơn La, góp phần nhận diện và làm sáng tỏ những đặc điểm về tình hình chính trị, kinh tế - xã hội của tỉnh Sơn

Tiêu biểu như công trình: Nghiên cứu, biên soạn Địa chí tỉnh Sơn La (2017) do tác

giả Thào Xuân Sùng (chủ nhiệm); tập thể các tác giả đã nghiên cứu toàn diện điều kiện tự nhiên, môi trường; kinh tế - xã hội, lịch sử văn hóa, dân cư, dân tộc, hệ thống chính trị, an ninh quốc phòng trên địa bàn tỉnh Sơn La Bên cạnh đó, hướng

sự quan tâm vào việc tìm hiểu bản sắc văn hóa của các dân tộc Sơn La như công trình:Giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc Thái ở Sơn La trong quá trình hội nhập quốc tế (2017) do tác giả Thào Xuân Sùng (chủ nhiệm);

công trình đã tập trung nghiên cứucác giá trị văn hóa tiêu biểu, đặc điểm tộc người

và hình thành của dân tộc Thái ở Sơn La; những giải pháp chủ yếu về giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc Thái trong bối cảnh hội nhập quốc tế Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần phục vụ cho Đảng bộ tỉnh xây dựng và chỉ đạo thực hiện tốt chính sách văn hóa nói chung và chính sách văn hóa dân tộc Thái nói riêng Số công trình nghiên cứu khác bàn sâu về lịch sử và hiện trạng đời sống của các dân tộc Sơn La, cũng có các công trình tập trung nghiên cứu

tình hình kinh tế, xã hội của tỉnh Sơn La hiện nay như: Tỉnh Sơn La 110 năm (1895

- 2005) của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La (2005); Sơn

La thế và lực mới trong thế kỷ I của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La

(2008); Sơn La 115 năm vinh quang một chặng đường phấn đấu của Tỉnh ủy

Trang 29

(2010) Nhìn chung, nhóm công trình nghiên cứu này đều hướng vào mục tiêu tìm hiểu lịch sử hình thành, phát triển và những đặc thù điều kiện tự nhiên, kinh tế, chính trị, xã hội tỉnh Sơn La, trong đó điểm nhấn là vấn đề phát huy giá trị độc đáo của bản sắc văn hóa các dân tộc ở Sơn La Kết quả nghiên cứu không chỉ dừng ở việc mô tả hiện trạng, phát hiện những vấn đề lớn đang đặt ra đối với yêu cầu phát triển của tỉnh Sơn La, mà còn xác định được các phương hướng và nhiều giải pháp tháo gỡ những khó khăn, hạn chế, nhằm phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa, an ninh quốc phòng… của tỉnh Sơn La Có thể nói, nhóm công trình nghiên cứu này đã cung cấp những hiểu biết nền tảng về tỉnh Sơn La, phục vụ trực tiếp cho việc nghiên

cứu chủ đề vai trò của hệ thống chính trị cấp tỉnh trong thực hiện chính sách xã hội

ở Sơn La hiện nay

Các công trình nghiên cứu liên quan trực tiếp đến chủ đề vai trò của hệ thống chính trị cấp tỉnh trong thực hiện chính sách xã hội chiếm số lượng không đáng kể, bao gồm một số công trình về bàn về vai trò của hệ thống chính trị trong thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng nói chung, các bài viết riêng lẻ về từng chính sách xã hội như: xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, chính sách đối với người có công; chính sách dân tộc Kết quả nghiên cứu giúp hình dung thấy bức tranh tổng thể về tình hình tổ chức, hoạt động các tổ chức trong

hệ thống chính trị tỉnh Sơn La và kết quả thực hiện từng chính sách xã hội Tiêu biểu có các công trình sau:

Khi đánh giá về vai trò của Đảng bộ các tỉnh vùng Tây Bắc trong việc thực hiện chính sách phát triển miền núi và dân tộc trong 10 năm đầu cả nước cùng đi lên

chủ nghĩa xã hội, cuốn sách Đảng bộ và nhân dân các tỉnh Tây Bắc thực hiện chính

sách dân tộc của Đảng (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998), tác giả

Thào Xuân Sùng đã nêu những thành tựu: (1) Đảng đã lãnh đạo xây dựng và phát triển từng bước vững chắc hệ thống chính trị ở vùng đồng bào dân tộc Tây Bắc do chính đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số đảm nhiệm; (2) sự nghiệp phát triển kinh tế, đời sống vật chất và tinh thần đồng bào các dân tộc Tây Bắc không ngừng được nâng lên; (3) sự nghiệp giáo dục, y tế và văn hóa - xã hội được phát triển; (4) khối đại đoàn kết các dân tộc Tây Bắc ngày càng được củng cố; (5) tăng cường sức

Trang 30

mạnh quốc phòng, an ninh, giữ vững ổn định chính trị Bên cạnh đó, tác giả chỉ ra những hạn chế: (1) chưa nắm chắc đặc điểm tự nhiên và xã hội của Tây Bắc nên chủ trương chưa phù hợp; (2) việc xây dựng quan hệ sản xuất ở Tây Bắc còn có những sai lầm, nôn nóng; (3) sự quan tâm lãnh đạo xây dựng Tây Bắc chưa tương xứng với những tiềm năng thế mạnh của vùng; từ đó, tác giả nêu những giải pháp cho vấn

đề dân tộc ở Tây Bắc

Khi bàn về vai trò của hệ thống chính trị cơ sở trong quản lý xã hội vùng dân

tộc thiểu số, cuốn sách Quản l xã hội vùng dân tộc thiểu số ở Việt Nam trong phát

triển bền vững (Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 2014) tác giả Đặng Thị Hoa

đã phân tích một số đặc điểm của hệ thống chính trị cơ sở vùng dân tộc thiểu số trên một số phương diện: đặc điểm về bộ máy và nguồn nhân lực; chất lượng và cơ cấu nguồn nhân lực; về năng lực điều hành và tổ chức thực hiện; vai trò của các tổ chức đoàn thể; đồng thời đánh giá về vai trò và hiệu quả hoạt động, xác định những hạn chế của hệ thống chính trị cơ sở trong quản lý xã hội vùng dân tộc thiểu số; thông qua đó dự báo xu hướng về cơ cấu bộ máy và vận hành của hệ thống chính trị cơ sở

Đề tài nghiên cứu: Hệ thống chính trị các tỉnh miền Đông Nam Bộ đấu tranh

chống hoạt động lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch trên địa bàn hiện nay

của Đinh Văn Thành (2015) Trong đề tài này, tác giả làm sáng tỏ âm mưu, thủ đoạn và các hoạt động lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch chống phá sự nghiệp cách mạng trên địa bàn miền Đông Nam Bộ Đưa ra và phân tích quan niệm, nội dung, phương thức hệ thống chính trị các tỉnh miền Đông Nam Bộ đấu tranh chống hoạt động lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch trên địa bàn Trên cơ sở

đó, tác giả đề xuất yêu cầu và những giải pháp cơ bản để hệ thống chính trị các tỉnh miền Đông Nam Bộ đấu tranh làm thất bại hoạt động lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch trong giai đoạn tới

Đề tài nghiên cứu: Hệ thống chính trị ở cơ sở phục vụ phát triển bền vững ở

Tây Nguyên (2015), đã làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến xây

dựng hệ thống chính trị cơ sở phục vụ phát triển bền vững Tây Nguyên Đánh giá tiến trình phát triển và thực trạng tổ chức, hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở ở Tây Nguyên từ năm 1986 đến nay; chỉ ra hiệu quả hoạt động và mức độ đáp ứng hệ

Trang 31

thống chính trị cơ sở đối với nhu cầu phát triển bền vững Tây Nguyên; xác định những yêu cầu hiện thực của việc tiếp tục phát triển hệ thống chính trị cơ sở ở các tỉnh khu vực Tây Nguyên trên quan điểm phát triển bền vững Đề xuất phương hướng và giải pháp tiếp tục phát triển hệ thống chính trị cơ sở phục vụ phát triển bền vững giai đoạn 2011 - 2020, tầm nhìn 2030

Bên cạnh các công trình tiêu biểu nêu trên, còn một số bài báo đề cập đến những khía cạnh khác nhau liên quan đến vai trò của hệ thống chính trị cấp tỉnh

trong thực hiện chính sách xã hội như: Bài viết “Đảng bộ tỉnh Sơn La với công tác

di dân tái định cư” (2009) tác giả Thào Xuân Sùng khẳng định: Tỉnh ủy, Hội đồng

nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Sơn La đã tìm tòi cách làm, bước đi thích hợp, thể hiện rõ tính chủ động sáng tạo và phù hợp với thực tiễn của tỉnh Sơn La Từ năm 2004 đến nay, Tỉnh ủy đã tập trung giải quyết 09 vấn đề lớn của công tác di dân tái định cư thủy điện Sơn La Sau hơn 5 năm đã di chuyển trên 80% hộ dân phải di chuyển, chuyển huyện Quỳnh Nhai từ nơi ở cũ tại xã Mường Chiên về xã Mường Giàng tạo điều kiện khánh thành nhà máy sớm hơn

so Nghị quyết của Quốc hội Bài viết “Phát huy vai trò các tổ chức xã hội trong giải

quyết lao động việc làm, tăng thu nhập cho người nghèo ở vùng Tây Bắc Việt Nam”

(2014), tác giả Lê Văn Thái nhận định: vấn đề phát huy vai trò của các tổ chức xã hội trong giải quyết lao động việc làm và tăng thu nhập cho người nghèo ở vùng Tây Bắc trong thời gian qua đã được Đảng, Nhà nước, cấp ủy và chính quyền các địa phương quan tâm, song kết quả vẫn còn nhiều hạn chế Bài viết đề cập đến phát huy vai trò của các tổ chức xã hội: Hội Nông dân, Hội Liên hiệp phụ nữ, Đoàn Thanh niên Cộng sản, Hội Cựu chiến binh Đồng thời, bài viết đã đưa ra một số ý tưởng, giải pháp để phát huy vai trò của các tổ chức xã hội trong vấn đề tạo việc

làm và tăng thu nhập cho người nghèo ở vùng Tây Bắc hiện nay Bài viết “Nâng

cao chất lượng cuộc sống đồng bào vùng tái định cư” của tác giả Hoàng Văn Chất

(2016), đã khẳng định: công tác ổn định đời sống và sản xuất cho các hộ dân tái định cư tại nơi ở mới được đặc biệt quan tâm, tỉnh đã tập trung chỉ đạo các cấp ủy, chính quyền, tổ chức đoàn thể nơi tiếp nhận dân tái định cư, vận động nhân dân nơi

sở tại nhường đất, nhường nguồn nước và giúp đỡ các hộ tái định cư dựng lại nhà

Trang 32

để ổn định chỗ ở; đồng thời tiến hành đẩy nhanh tiến độ thu hồi đất, tổ chức giao

đất cho các hộ dân tái định cư phát triển sản xuất Bài viết “Vai trò của hội phụ nữ

trong xóa đói giảm nghèo ở Tây Bắc nước ta” (2016), tác giả Trần Thị Xuân Lan

phân tích vai trò của các cấp Hội Phụ nữ ở một số tỉnh Tây Bắc trong tham gia các hoạt động xóa đói giảm nghèo tại địa phương Các cấp Hội Phụ nữ tập trung tuyên truyền các chỉ thị, nghị quyết, chính sách của Đảng, Nhà nước về xóa đói giảm nghèo như: Nghị quyết 30a, chương trình 134, chương trình 135; Nghị quyết xóa đói giảm nghèo của các tỉnh; Đề án tạo nghề cho lao động nông thôn… Bên cạnh

đó, các cấp Hội Phụ nữ tích cực trong hoạt động hỗ trợ tiếp cận tín dụng cho các hội viên Hội Phụ nữ ở các tỉnh Tây Bắc đã phối hợp với các ban ngành chức năng như

Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các dự án triển khai các lớp tập huấn chuyển giao tiến bộ khoa học - kỹ thuật chăn nuôi, trồng trọt, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi cho án bộ, hội viên Bên cạnh đó các cấp Hội Phụ nữ tích cực trong các hoạt động nhân đạo, từ thiện Với tư cách đại diện cho quyền và lợi ích chính đáng của phụ nữ, các cấp Hội Phụ nữ Tây Bắc trực tiếp tham gia xây dựng, giám sát, phản biện về luật pháp, cơ chế, chính sách

Như vậy, các công trình nghiên cứu, bài biết trên cung cấp những thông tin ở những khía cạnh khác nhau về thực trạng và giải pháp nâng cao vai trò của hệ thống chính trị cấp tỉnh trong thực hiện các chính sách xã hội trên địa bàn vùng miền nhất định Các tác giả đã trình bày kết quả thực hiện chính sách xã hội trên địa bàn tỉnh trong giai đoạn hiện nay; đây là những gợi ý, xuất phát điểm quan trọng cho việc nghiên cứu của tác giả về những vấn đề được đề cập trong luận án

1.3 Đánh giá kết quả nghiên cứu và những vấn đề luận án tập trung giải quyết

1.3.1 Đánh giá kết quả nghiên cứu của các tài liệu liên quan

Căn cứ tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến chủ đề luận

án, có thể rút ra một số nhận xét sau:

Thứ nhất, số lượng các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án rất

lớn, phong phú và đa dạng, được tiếp cận từ nhiều hướng với các mức độ liên quan khác nhau

Trang 33

Đây là một thuận lợi đồng thời cũng là một thách thức lớn đối với việc triển khai nghiên cứu đề tài luận án Kết quả của các công trình nghiên cứu đã cung cấp một lượng kiến thức quan trọng về hệ thống chính trị, chính sách xã hội và vai trò của hệ thống chính trị trong thực hiện chính sách xã hội ở Việt Nam, là nguồn tư liệu vật chất cần thiết và có thể tiếp thu để tiếp tục triển khai nghiên cứu sâu về những nội dung cơ bản của đề tài luận án Tuy nhiên, các quan điểm nghiên cứu về

hệ thống chính trị, chính sách xã hội và vai trò của hệ thống chính trị trong thực hiện chính sách xã hội có nhiều sự khác biệt, thậm chí trái chiều nhau, cộng với các thông tin đa chiều, thiếu thống nhất và tính phức tạp của vấn đề lại là những trở lực không nhỏ cho công việc nghiên cứu đề tài

Thứ hai, nhiều vấn đề liên quan đến chủ đề luận án đã được làm sáng tỏ và

đề tài có thể tiếp thu, không cần phải trở lại để phân tích, lập luận làm sáng tỏ thêm

Một là, trên phương diện lý luận, một số nhận thức chung về hệ thống chính trị ở

nước ta hiện nay: khái niệm, đặc trưng, phương thức tổ chức, hoạt động; quá trình hình thành và phát triển; cơ chế vận hành của hệ thống chính trị nước ta trong quá trình đổi mới; quan điểm, phương hướng và giải pháp cụ thể để đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta; trong đó có những chủ trương, biện pháp tiếp tục đổi mới, nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị -

xã hội Hai là, các công trình nghiên cứu về chính sách công đã đề cập đến khái

niệm, đặc điểm, vai trò và phân loại chính sách công; cấu trúc nội dung và chu trình chính sách công; hoạch định chính sách công; tổ chức thực thi chính sách công; phân tích chính sách công; đánh giá chính sách công; tổ chức công tác phân tích chính sách công - quy trình phân tích chính sách công, nội dung và phương pháp

phân tích chính sách công, truyền đạt kết quả phân tích chính sách công Ba là,

những vấn đề cơ bản của chính sách xã hội: quan niệm, cách phân loại, đặc điểm, mục tiêu, nguyên tắc, chức năng của chính sách xã hội Các công trình nghiên cứu trên cung cấp cơ sở khoa học thực hiện chính sách xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi Được nghiên cứu từ góc độ tổng kết thực tế, các công trình và bài viết trên chỉ ra thành tựu, hạn chế, tìm hiểu nguyên nhân, rút ra bài học kinh nghiệm và

đề xuất những giải pháp thực hiện các chính sách xã hội vùng Tây Bắc hiện nay

Trang 34

Bốn là, trên phương diện thực tiễn, một số khía cạnh về vai trò của các tổ chức

trong hệ thống chính trị (Đảng Cộng sản, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội) trong thực hiện chính sách xã hội đã được làm rõ Các tác giả đã phân tích quá trình lãnh đạo, chỉ đạo và kết quả thực hiện chính sách xã hội của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội trên những địa bàn khác nhau của đất nước, trong những thời điểm khác nhau; đánh giá một cách khách quan những thành tựu, hạn chế; lý giải nguyên nhân, rút ra những kinh nghiệm chủ yếu để phát huy vai trò, trách nhiệm của các tổ chức trong hệ thống

chính trị Năm là, trên phương diện vai trò của tỉnh ủy, chính quyền cấp tỉnh, Mặt

trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội cấp tỉnh trong thực hiện chính sách xã hội đã có những nét phác họa cơ bản Tỉnh ủy, chính quyền cấp tỉnh, Mặt trận Tổ quốc tỉnh đã tìm tòi cách làm, bước đi thích hợp, thể hiện rõ tính chủ động sáng tạo

và phù hợp với thực tiễn của tỉnh Sơn La Bên cạnh đó, các tác giả cũng đề xuất những kiến nghị và giải pháp thiết thực để thực hiện có hiệu quả chính sách xã hội giai đoạn tới

Như vậy, kết quả nghiên cứu của các công trình, đề tài khoa học, bài viết được trình bày trên là những vấn đề lý luận quan trọng về hệ thống chính trị, chính sách xã hội và vai trò của hệ thống chính trị trong thực hiện chính sách xã hội trên phạm vi cả nước nói chung trong đó có tỉnh Sơn La nói riêng Đó là những công trình nghiên cứu công phu, nghiêm túc, có giá trị khoa học cao

Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện nay, ở nước ta đã có một số công trình

nghiên cứu về hệ thống chính trị, vai trò của hệ thống chính trị nói chung Nhưng việc nghiên cứu về vai trò của hệ thống chính trị trong thực hiện chính sách xã hội,

dù đã có, nhưng còn rất ít; những nghiên cứu này cũng chỉ được nhận diện trên phương diện thiết chế tổ chức hay những vùng miền khác nhau của đất nước Đặc biệt, vai trò của hệ thống chính trị cấp tỉnh trong thực hiện chính sách xã hội ở các địa bàn cụ thể thì gần như chưa có các nghiên cứu cụ thể Ở địa bàn tỉnh Sơn La, chủ đề này cũng chưa được đề cập Không chỉ vấn đề hệ thống chính trị mà ngay cả vấn đề thực hiện chính sách xã hội ở Sơn La hiện nay cũng chưa được nghiên cứu Cho đến nay, hoàn toàn chưa có công trình nào nghiên cứu, tiếp cận dưới góc độ

Trang 35

chính trị học về vai trò của hệ thống chính trị cấp tỉnh trong thực hiện chính sách xã hội ở Sơn La hiện nay Mặc dù vậy, những kết quả nghiên cứu của các công trình trên đã cung cấp những gợi ý về lý luận và thực tiễn để tác giả tiếp tục đi sâu nghiên cứu những vấn đề trong đề tài luận án

1.3.2 Những vấn đề luận án tập trung giải quyết

Đến nay việc nghiên cứu vai trò của hệ thống chính trị tỉnh Sơn La trong thực hiện chính sách xã hội chưa được giải quyết một cách triệt để cần tiếp tục

nghiên cứu thể hiện ở những điểm sau:

Một là, luận giải một số vấn đề lý luận về vai trò của hệ thống chính trị cấp

tỉnh trong thực hiện chính sách xã hội Đề tài, luận án sẽ tập trung phân tích: quan niệm, chức năng của hệ thống chính trị cấp tỉnh; quan niệm thực hiện chính sách xã hội; vai trò các chủ thể của hệ thống chính trị cấp tỉnh trong tuyên truyền, tổ chức triển khai, kiểm tra, giám sát thực hiện chính sách xã hội

Hai là, phân tích thực trạng vai trò của hệ thống chính trị cấp tỉnh trong thực

hiện chính sách xã hội ở Sơn La Vì vậy, luận án tập trung luận giải: những đặc điểm tự nhiên, kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội tác động đến vai trò của hệ thống chính trị cấp tỉnh thực hiện chính sách xã hội ở Sơn La; từ đó, luận án đi sâu phân tích thực trạng vai trò của tỉnh ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội cấp tỉnh trong thực hiện chính sách xã hội ở Sơn La và xác định những vấn đề đặt ra

Ba là, đề xuất một số quan điểm và giải pháp cơ bản nhằm nâng cao vai trò

của hệ thống chính trị cấp tỉnh trong thực hiện chính sách xã hội ở Sơn La thời gian tới

Đề tài luận án mà tác giả lựa chọn nghiên cứu là đề tài độc lập, không trùng lắp với các công trình nghiên cứu có liên quan; có nhiệm vụ tiếp tục nghiên cứu làm

rõ những vấn đề được đặt ra ở trên

Trang 36

Tiểu kết chương 1

Trong những năm qua, Đảng, Nhà nước đã có nhiều chủ trương, nghị quyết

về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thống chính trị; nhờ đó góp phần quan trọng vào những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo

vệ Tổ quốc nói chung và thực hiện chính sách xã hội nói riêng; chính vì vậy, đây là vấn đề nhận được sự quan tâm của các nhà khoa học

Trong chương 1, luận án đã tiến hành khảo cứu nhiều công trình nghiên cứu trong nước và ngoài nước có liên quan đến chủ đề vai trò của hệ thống chính trị cấp tỉnh trong thực hiện chính sách xã hội Kết quả tổng quan tình hình nghiên cứu cho thấy nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò lãnh đạo của các cấp ủy đảng, chỉ đạo của chính quyền các cấp, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội trong thực hiện chính sách xã hội trên những địa bàn khác nhau của đất nước, trong những thời điểm khác nhau, đã có nhiều công trình nghiên cứu, đề cập ở những góc độ, khía cạnh khác nhau Nhìn chung, đã có nhiều chất liệu tốt cho việc tiếp tục triển khai nghiên cứu đề tài luận án Tuy nhiên, phần lớn các công trình nghiên cứu đều tập trung giải quyết một trong hai vấn đề lớn: (1) đổi mới hệ thống chính trị Việt Nam; (2) thực tiễn phát huy vai trò của hệ thống chính trị trong thực hiện chính sách xã hội ở Việt Nam Rất ít các công trình luận bàn toàn diện về vai trò của hệ thống chính trị cấp tỉnh trong thực hiện chính sách xã hội Đặc biệt, chưa có công trình nào nghiên cứu trực diện về vai trò của hệ thống chính trị cấp tỉnh trong thực hiện chính sách xã hội ở Sơn La hiện nay

Vì vậy, còn nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến đề tài vai trò của

hệ thống chính trị cấp tỉnh trong thực hiện chính sách xã hội ở Sơn La hiện nay chưa được giải quyết triệt để Luận án, một mặt tìm kiếm những giá trị có thể kế thừa và phát triển trong các công trình đã công bố, mặt khác có nhiệm vụ triển khai nghiên cứu nhiều nội dung mới, hướng tới tạo lập cơ sở khoa học cho việc đề xuất các giải pháp nâng cao vai trò của hệ thống chính trị cấp tỉnh trong thực hiện chính sách xã hội ở Sơn La thời gian tới

Trang 37

Chương 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ

CẤP TỈNH TRONG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÃ HỘI

2.1 Một số vấn đề lý luận về hệ thống chính trị và hệ thống chính trị cấp tỉnh

2.1.1 Quan niệm hệ thống chính trị

Hiện nay, khái niệm “hệ thống chính trị” được sử dụng rộng rãi trong đời sống chính trị - xã hội hiện đại Trong các tài liệu, công trình nghiên cứu có thể gặp những định nghĩa khác nhau về hệ thống chính trị, cụ thể như:

- Trong cuốn Tập bài giảng Chính trị học (hệ cao cấp lý luận chính trị): “Hệ

thống chính trị là tổ hợp có tính chỉnh thể các thể chế chính trị (các cơ quan quyền lực nhà nước, các đảng chính trị, các tổ chức và các phong trào xã hội…) được xây dựng trên các quyền và các chuẩn mực xã hội, phân bố theo một kết cấu chức năng nhất định, vận hành theo những nguyên tắc, cơ chế và quan hệ cụ thể, nhằm thực thi quyền lực chính trị” [68, tr.262]

Như vậy, nói tới hệ thống chính trị là nói tới cả một hệ thống Hệ thống chính trị tác động như một chỉnh thể trong việc tổ chức mối quan hệ qua lại với những hệ thống khác: hệ thống kinh tế, văn hóa, sắc tộc tôn giáo Chủ thể chính trị thay đổi qua các thời kỳ lịch sử khác nhau Trong các nhân tố cấu thành hệ thống chính trị quan trọng nhất là chính quyền nhà nước vì cốt yếu của chính trị là vấn đề quyền lực nhà nước Nhà nước thể hiện bản chất chính trị của hệ thống chính trị và chế độ xã hội

- Trong cuốn Hệ thống chính trị nước ta trong thời kỳ đổi mới, tác giả

Nguyễn Duy Quý cho rằng: “Hệ thống chính trị của một quốc gia là một cấu trúc của xã hội bao gồm các tổ chức chính trị đặc trưng của xã hội (Nhà nước, các đảng phái chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, các đoàn thể - phong trào chính trị…) tồn tại và hoạt động trong khuôn khổ pháp luật chính thức hiện hành, cùng với tổng thể các mối quan hệ chính trị ràng buộc, gắn kết các tổ chức đó thành mộ chỉnh thể, thông qua đó giai cấp cầm quyền thực hiện quyền lực chính trị của mình trong xã hội” [127, tr.24]

Trang 38

Định nghĩa trên đã nêu được các thành tố cơ bản của hệ thống chính trị: hệ thống chính trị là hệ thống chỉ bao gồm các tổ chức chính trị, hoạt động vì mục đích chính trị; là hệ thống các mối quan hệ, trong đó cốt lõi là mối quan hệ đảng - nhà nước; là hệ thống các tổ chức chính trị ở các cấp độ: trung ương, địa phương, cơ sở

- Trong báo cáo đề tài khoa học Hệ thống chính trị Việt Nam nhận định: “Hệ

thống chính trị, hiểu một cách khái quát, đó là một cơ chế xã hội mà nhờ đó giai cấp thống trị thực hiện quyền lực của mình đối với toàn xã hội Hoạt động của hệ thống chính trị điều chỉnh mọi mối quan hệ giữa các giai cấp, giữa các tầng lớp xã hội và các nhóm xã hội, giữa các dân tộc và sắc tộc, tập thể và cá nhân đối với vấn đề quyền lực Nó đề ra và thực hiện các chính sách, quy định phương hướng, nội dung

và mục tiêu phát triển xã hội” [90, tr.47]

Với quan niệm này, mỗi xã hội phân chia thành bốn lĩnh vực cơ bản: lĩnh vực kinh tế, lĩnh vực chính trị, lĩnh vực xã hội và lĩnh vực văn hóa tinh thần Hệ thống chính trị chỉ bao gồm các tổ chức và các phong trào tham gia vào đời sống chính trị là một trong những mục tiêu cơ bản và chủ yếu của nó Còn những tổ chức khác, cho dù tồn tại hợp pháp cũng nằm ngoài hệ thống chính trị

- Trong báo cáo đề tài Hệ thống chính trị ở cơ sở phục vụ phát triển bền vững ở

Tây Nguyên nhận định: “Hệ thống chính trị là hệ thống các thiết chế thực hiện các hoạt

động mang tính chính trị trong xã hội gồm các đảng phái chính trị, các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội được thành lập hợp pháp, có mối liên hệ trực tiếp hay gián tiếp với quyền lực chính trị, có quan hệ ràng buộc, tác động lẫn nhau xoay quanh việc tổ chức và thực hiện quyền lực chính trị” [174, tr.18]

Định nghĩa trên cho thấy cách tiếp cận từ phương diện cấu trúc tổ chức hệ thống chính trị bao gồm: (1) đảng chính trị và đảng chính trị cầm quyền; (2) nhà nước; (3) các tổ chức chính trị - xã hội; đồng thời định nghĩa cũng chỉ ra bản chất của hệ thống chính trị được xem là hệ thống thực hiện quyền lực chính trị của giai cấp cầm quyền

- Trong bài “ýhái niệm và các mô hình hệ thống chính trị trên thế giới”, tác

giả Vũ Hoàng Công cho rằng: “Hệ thống chính trị là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng xã hội, bao gồm các tổ chức, các thiết chế nó quan hệ với nhau về mặt

Trang 39

mục đích, chức năng trong việc thực hiện hoặc tham gia thực hiện quyền lực chính trị, trong việc đưa ra và thực hiện các quyết định chính trị ở tầm quốc gia” [63, tr.8]

Định nghĩa này đã chỉ ra hệ thống chính trị là hệ thống các chủ thể (các tổ chức, các thiết chế) có quan hệ với nhau trong việc giành, giữ, thực thi quyền lực chính trị Đó là điều để phân biệt các tổ chức của hệ thống chính trị với các tổ chức,

thiết chế có mục đích hoặc chức năng kinh tế, xã hội rất đa dạng khác

Quan niệm đầy đủ, khoa học về hệ thống chính trị là vấn đề lớn, phức tạp và đã được các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đề cập đến C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin trong các tác phẩm của mình chưa dùng thuật ngữ này mà thường dùng thuật ngữ “cơ cấu chính trị” hay “hệ thống chuyên chính vô sản” Mặc

dù chưa sử dụng thuật ngữ “hệ thống chính trị” trong các tác phẩm của mình, song các ông đã luận giải một cách sâu sắc về các thành tố của hệ thống chính trị như: nguồn gốc, bản chất, vị trí, vai trò của Đảng Cộng sản, nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội

Trong khoa học chính trị, hệ thống chính trị là một chỉnh thể gồm: nhà nước thuộc giai cấp cầm quyền và các đảng phái, các tổ chức xã hội nằm trong khuôn khổ pháp luật hiện hành thực hiện những chức năng chính trị nhất định Trong xã hội hiện đại không có một lực lượng chính trị nào có thể nắm quyền lực nhà nước mà không thông qua sức mạnh sự ủng hộ của đảng chính trị của nó Hơn nữa, khi đã nắm quyền lực nhà nước trong tay, về căn bản đều thể hiện nghiêm túc đường lối, cương lĩnh của chính đảng cầm quyền

Từ các định nghĩa “hệ thống chính trị” dẫn ra trên, có thể thấy cách tiếp cận khái niệm hệ thống chính trị của các tác giả theo hướng mô tả hệ thống chính trị về mặt cơ cấu thể chế; các định nghĩa đều chỉ ra bản chất của hệ thống chính trị là cơ chế thực hiện quyền lực chính trị của giai cấp cầm quyền

Như vậy, nói đến hệ thống là nói đến ba yếu tố tập hợp cấu thành hệ thống: các bộ phận cấu thành, mối quan hệ giữa chúng, chức năng của hệ thống Trong xã hội, nói đến hệ thống chính trị là nói đến cơ cấu các tổ chức chính trị, có chức năng riêng biệt và hệ thống quan hệ giữa chúng, đảm bảo cho cơ cấu đó là cơ thể sống, làm cơ sở định hướng cho toàn bộ sự vận động phát triển của chính trị, kinh tế, văn

Trang 40

hóa - xã hội… theo một chế độ nhất định, phù hợp với quyền lợi cơ bản của giai cấp cầm quyền

Vận dụng các quan điểm nêu trên và kế thừa kết quả nghiên cứu của các nhà

khoa học, có thể khái quát: Hệ thống chính trị là một chỉnh thể bao gồm các tổ chức

như đảng chính trị, nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội với những quan hệ tác động qua lại giữa các nhân tố đó trong việc thực thi quyền lực chính trị, đồng thời đáp ứng nhu cầu ổn định và phát triển xã hội

Như vậy, hệ thống chính trị được xem xét với tính cách là bộ phận quan trọng nhất, cơ bản nhất của nền chính trị Hệ thống chính trị được xem như là một

hệ thống về mặt tổ chức và chức năng của các cơ quan, các tổ chức đảng, nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội với tư cách là chủ thể của các quyết định chính trị, nghĩa là các chủ thể có bộ máy, có tư cách pháp lý Các chủ thể trên có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau về mục đích, chức năng thực hiện hoặc tham gia thực hiện quyền lực chính trị, vào việc vạch ra các chính sách của nhà nước Đó là cơ sở để phân biệt các tổ chức của hệ thống chính trị với các tổ chức, thiết chế có mục đích hoặc chức năng kinh tế, xã hội

2.1.2 Quan niệm hệ thống chính trị Việt Nam

Tại Việt Nam, hệ thống chính trị là khái niệm xuất hiện trong thời kỳ đổi mới, được Đảng ta chính thức nêu ra từ Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 6 (khóa VI) tháng 3/1989, trong đó chỉ rõ đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của

hệ thống chính trị là nhằm tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, làm cho các tổ chức trong hệ thống chính trị hoạt động năng động và có hiệu quả hơn Còn từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1986) trở về trước, trong các văn kiện, Đảng ta vẫn dùng khái niệm hệ thống chuyên chính vô sản, hệ thống chính trị dân chủ nhân dân

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (1991) đã thông qua Cương lĩnh xây

dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Cương lĩnh đã khẳng định

toàn bộ tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị nước ta trong giai đoạn mới là nhằm xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân

Ngày đăng: 28/06/2020, 23:14

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm