1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI

76 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 2,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ nhận thức về tầm quan trọng của việc giải quyết tranh chấp HĐTD ngân hàng, cùng với những lợi thế do đang trực tiếp công tác trong lĩnh vực xử lý nợ trong ngành ngân hàng, t

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là đề tài luận văn nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Đức Minh Các luận điểm, dẫn chứng, số liệu, ví dụ nêu trong luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực

Kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn chưa từng được ai công bố trong bất

kỳ đề tài, công trình nghiên cứu nào khác

Tác giả luận văn

Ngô Thị Trang

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG TẠI TÒA ÁN 8

1.1 Khái niệm, đặc điểm tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng 8

1.2 Những vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng 14

1.3 Khái quát pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại tòa án 23

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG CỦA TÒA ÁN TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI 35

2.1 Thực trạng pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng của tòa án 35

2.2 Thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng của tòa án tại thành phố Hà Nội 41

Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG TẠI TÒA ÁN 59

3.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án 59

3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng tại Tòa án 64

3.3 Xây dựng cơ sở vật chất, ứng dụng công nghệ thông tin vào hành chính tư pháp 67

KẾT LUẬN 68

TÀI LIỆU THAM KHẢO 70

Trang 4

LNH VN Luật ngân hàng Việt Nam

LTTTM Luật trọng tài thương mại

TTTM Trọng tài thương mại

UBND Ủy ban nhân dân

XNK Xuất nhập khẩu

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Số lượng các vụ án tranh chấp phát sinh từ HĐTD ngân hàng của

Tòa án tại Hà Nội năm 2016 42 Bảng 2.2 Số lượng các vụ án tranh chấp phát sinh từ HĐTD ngân hàng của Tòa

án tại Hà Nội năm 2017 42 Bảng 2.3 Số lượng các vụ án tranh chấp phát sinh từ HĐTD ngân hàng của Tòa

án tại Hà Nội năm 2018 42 Bảng 2.4 Số lượng thống kê giải quyết các vụ án tranh chấp HĐTD của Tòa án

tại Tp Hà Nội từ năm 2016-2018 43

Trang 6

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tranh chấp phát sinh từ HĐTD ngân hàng là hệ quả tất yếu của sự phát triển tín dụng ngân hàng của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường Do đó, việc giải quyết các tranh chấp phát sinh từ HĐTD ngân hàng là vấn đề cấp bách trong giai đoạn hiện nay

Với tình hình của nền kinh tế nước ta hiện nay, các tranh chấp phát sinh từ HĐTD ngân hàng đang là thách thức lớn đối với lĩnh vực tài chính nước nhà, bởi nếu các tranh chấp này không được giải quyết nhanh, kịp thời thì nợ xấu ngày càng gia tăng và tác động tiêu cực đến việc lưu thông dòng tiền trong nền kinh tế, ảnh hưởng trực tiếp đến tính an toàn, hiệu quả kinh doanh của chính các ngân hàng thương mại Thời gian qua, tranh chấp dân sự, kinh doanh thương mại trong đó có tranh chấp HĐTD không ngừng gia tăng, đó là chưa kể đến các tranh chấp được các bên thỏa thuận giải quyết bằng các phương thức khác như thương lượng, hòa giải hay trọng tài thương mại

Từ thực tiễn giải quyết tranh chấp liên quan đến HĐTD ngân hàng ở Việt Nam thời gian qua, nhiều câu hỏi được đặt ra cần có lời giải đáp thỏa đáng như: cần nhận thức như thế nào về bản chất của các tranh chấp và cơ chế giải quyết các tranh chấp HĐTD ngân hàng; làm thế nào để hạn chế các tranh chấp HĐTD ngân hàng, nếu đã phát sinh tranh chấp thì làm thế nào để giải quyết nhanh chóng, thuận tiện và

ít tốn kém về thời gian, tiền bạc cho các bên liên quan?

Thực tiễn ở Việt Nam trong những năm qua cho thấy rằng hệ thống quy định pháp luật về giải quyết tranh chấp nói chung và giải quyết tranh chấp về HĐTD ngân hàng nói riêng đã được Nhà nước ta quan tâm xây dựng và phát triển theo hướng ngày càng hoàn thiện Tuy nhiên, với số lượng tranh chấp HĐTD ngân hàng

có xu hướng tăng lên cả về số lượng và tính phức tạp thì tình trạng tồn đọng tranh chấp này ngày càng nhiều Các tranh chấp phát sinh từ HĐTD ngân hàng chậm được giải quyết đã cho thấy những hạn chế, bất cập của pháp luật về nội dung, pháp luật về hình thức

Trang 7

Đối với Việt Nam, do những đặc thù về điều kiện kinh tế - xã hội nên hình thức giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD ngân hàng thường được các bên thường xuyên lựa chọn là phương thức thương lượng và/hoặc phương thức giải quyết tranh chấp bằng khởi kiện tại tòa án Sở dĩ các bên lựa chọn giải quyết tranh chấp tại tòa án là bởi vì, đây là cơ quan đại diện cho quyền lực tư pháp của nhà nước; ngoài ra, ý thức chủ quan và thói quen trong kinh doanh thương mại của các chủ thể cũng là yếu tố quyết định việc họ chọn hình thức giải quyết tranh chấp này.

Việc giải quyết các tranh chấp HĐTD của Tòa án có ý nghĩa trong việc bảo

vệ quyền lợi hợp pháp của tổ chức, cá nhân, giữ gìn trật tự an toàn xã hội và đặc biệt góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội Tuy nhiên, các tranh chấp hợp đồng tín dụng hiện nay diễn ra ngày càng nhiều, càng ngày càng phức tạp

Tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội trong thời gian qua, các tranh chấp về HĐTD ngân hàng diễn ra với số lượng vụ việc nhiều, tính chất ngày càng phức tạp Thực tế này cần phải có một giải pháp căn cơ, lâu dài và triệt để nhằm hạn chế các tranh chấp HĐTD, thúc đẩy quá trình giải quyết tranh chấp kịp thời, giúp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên Làm được điều này sẽ có ý nghĩa to lớn cho hoạt động tín dụng ngân hàng càng phát triển đúng hướng, lành mạnh, an toàn, bảo

vệ lợi ích hợp pháp cho các chủ thể tham gia

Chính vì thế, hệ thống các quy định của pháp luật đã được Nhà nuớc quan tâm chỉnh sửa như Bộ luật Dân sự, Bộ luật tố tụng Dân sự, Luật Các tổ chức tín dụng, Luật Ngân hàng Nhà nước và các văn bản hướng dẫn thi hành và những văn bản trên tạo ra khung pháp lý quan trọng, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng, thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, góp phần thúc đẩy nguồn vốn cho các cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức sản xuất kinh doanh phát triển góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, bên cạnh những thuận

Trang 8

Xuất phát từ nhận thức về tầm quan trọng của việc giải quyết tranh chấp HĐTD ngân hàng, cùng với những lợi thế do đang trực tiếp công tác trong lĩnh vực

xử lý nợ trong ngành ngân hàng, tôi quyết định chọn đề tài: “Giải quyết tranh chấp

hợp đồng tín dụng ngân hàng từ thực tiễn xét xử của Tòa án tại thành phố Hà Nội” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình, thông qua đó giúp tôi học hỏi thêm nhiều

kinh nghiệm, nâng cao kiến thức pháp luật của mình về lĩnh vực HĐTD trên thực tế giúp ích cho công việc của mình đang làm Từ đó có những kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật chưa phù hợp với thực tiễn về giải quyết tranh chấp HĐTD thông qua Tòa án

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Trong lĩnh vực pháp luật về hợp đồng nói chung và giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD ngân hàng nói riêng, đã có nhiều công trình nghiên cứu với những khía cạnh khác nhau đóng góp không nhỏ tạo cơ sở lý luận giúp cho việc hoàn thiện quy định pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng, đặc biệt là tranh chấp HĐTD ngân hàng, chẳng hạn như:

- Luận văn thạc sỹ luật học của tác giả Trương Thị Hai (2018) với đề tài:

“Hòa giải tranh chấp hợp đồng tín dụng qua thực tiễn giải quyết tại Tòa án nhân

dân thành phố Đà Nẵng”.

- Luận văn thạc sỹ luật học của tác giá Vũ Thị Thúy (2015) với đề tài: “Vai trò của Tòa án trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

- Luận văn thạc sỹ của tác giải Đỗ Thị Thương (2016) với đề tài: “giải quyết tranh

chấp kinh doanh thương mại bằng phương thức Tòa án từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam”.

Bên cạnh đó, còn rất nhiều bài viết của các tác giải đăng trên tạp chí chuyên ngành về luật học, tạp chí Dân chủ và pháp luật, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật có

Trang 9

4

liên quan đến chủ đề ngày như sau:

- Bài viết trên báo pháp luật ngày 03 tháng 03 năm 2016 về hòa giải trong việc giải quyết các vụ việc kinh doanh – thương mại: “Gỡ: khó cho các tranh chấp;

- Bài viết trên tạp chí Tòa án nhân dân ngày 21/3/2018 về “ Tiêu chí xác định hòa giải thành”, bài viết của Ngọc Trâm

Các công trình nghiên cứu này đã góp phần tạo cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp HĐTD Tuy nhiên, việc nghiên cứu về giải quyết tranh chấp HĐTD luôn có tính thời sự vẫn còn là cấp thiết, bởi lẽ vẫn cón nhiều bất cập của các quy định pháp luật hiện hành, chưa phù hợp với tình hình thực tiễn

Trên cơ sở tiếp thu những vấn đề lý luận của các đề tài đã nghiên cứu, luận văn chỉ ra những bất cập của việc thực hiện các quy định pháp luật trong thực tiễn giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hợp HĐTD đồng tín dụng tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội Trên cơ sở đó, đề xuất những giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD và nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp HĐTD ngân hàng ở nước ta hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là tìm ra những vướng mắc của pháp luật về

giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án nhân dân và thực tiễn áp dụng pháp luật tại tòa án nhân dân tại thành phố Hà Nội, trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp pháp nhằm hòan thiện quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng và nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng

Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục đích này, đề tài tập trung vào việc

giải quyết những nhiệm vụ sau:

- Phân tích và làm rõ những vấn đề lý luận về tranh chấp và giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án;

- Khảo sát và phân tích thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật khi giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng của Tòa án tại thành phố Hà Nội và chỉ ra những điểm bất cập, hạn chế, khó khăn, vướng mắc trong quá trình giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng

Trang 10

5

- Đưa ra một số giải pháp, kiến nghị cụ thể hoàn thiện pháp luật thông qua việc giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quy phạm pháp luật, các tài liệu liên

quan đến tranh chấp hợp đồng tín dụng và pháp luật giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng và thực tiễn việc giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng

Về thời gian: số liệu khảo sát thực tiễn từ năm 2016 đến năm 2018

5 Cơ sở lý luận và Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả chủ trương sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu có tính phổ quát trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn như:

- Phương pháp phân tích, tổng hợp, khái quát hóa: Phương pháp này được sử dụng trong tất cả các chương của luận văn để phân tích các khái niệm, phân tích quy định của pháp luật, các số liệu,

- Phương pháp đối chiếu, so sánh luật học: Được sử dụng trong luận văn để

so sánh một số quy định của pháp luật trong các văn bản khác nhau

- Phương pháp diễn dịch, quy nạp: Được sử dụng trong luận văn để diễn giải các số liệu, các nội dung trích dân liên quan và được sử dụng tất cả cá chương của luận văn

- Phương pháp phỏng đoán khoa học được sử dụng chủ yểu trong Chương 3

để đề xuất những giải pháp cho việc hoàn thiện pháp luật

Các phương pháp trên được sử dụng phối hợp để giải quyết những nội dung chủ yếu thuộc yêu cầu và phạm vi nghiên cứu của đề tài

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Đây là một công trình nghiên cứu riêng của cá nhân tác giả liên quan đến

Trang 11

6

những vấn đề lý luận cơ bản về giải quyết tranh chấp HĐTD ngân hàng và khảo sát thực tiễn giải quyết tranh chấp HĐTD ngân hàng tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội Trong khuôn khổ kết quả nghiên cứu, luận văn có những đóng góp mới cơ bản sau đây:

- Luận văn phân tích, luận giải rõ hơn một số vấn đề lý luận về tranh chấp và giải quyết tranh chấp hợp HĐTD ngân hàng, chẳng hạn như các khái niệm, đặc điểm, hình thức pháp lý, thời điểm có hiệu lực của việc giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD ngân hàng

- Từ những nhận định, đánh giá và phân tích đó, tác giả đưa ra một số điểm còn bất cập của các quy định pháp luật về giải quyết tranh chấp HĐTD ngân hàng,

Hy vọng, với kết quả nghiên cứu này sẽ đóng góp một phần công sức để hoàn thiện

hệ thống pháp luật và áp dụng pháp luật về giải quyết tranh chấp HĐTD ngân hàng hiện nay

- Khảo sát thực tiễn việc giải quyết tranh chấp HĐTD tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội và phân tích những hạn chế, bất cập của pháp luật về giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD ngân hàng trong nền kinh tế thị trường hiện nay ở nước ta hiện này; phân tích khó khăn, vướng mắc trong quá trình giải quyết tranh chấp HĐTD tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, đồng thời luận văn cũng phân tích các nguyên nhân tranh chấp HĐTD của các ngân hàng hiện nay và giải pháp, kiến nghị nâng cao hiệu quả công tác giải quyết các tranh chấp HĐTD tại Tòa án nói chung và Tòa án tại thành phố Hà Nội nói riêng

Qua đó, đề xuất giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật và áp dụng pháp luật

về HĐTD nói chung và việc giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD ngân hàng nói riêng trong thời gian tới

Luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo với những thẩm phán, cán

bộ Tòa án trong quá trình giải quyết các tranh chấp HĐTD ngân hàng

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được cấu trúc gồm 3 chương như sau:

Trang 13

8

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP

HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG TẠI TÒA ÁN

1.1 Khái niệm, đặc điểm tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng

1.1.1 Khái niệm tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tranh chấp phát sinh từ HĐTD là tình trạng pháp lý trong quan hệ HĐTD,

mà ở đó các bên thể hiện sự xung đột hay bất đồng ý chí với nhau về những quyền

và nghĩa vụ phát sinh từ HĐTD

Trên thực tế, không phải bất cứ hành vi vi phạm HĐTD ngân hàng nào cũng đều xảy ra tranh chấp Có trường hợp có hành vi vi phạm nhưng không có tranh chấp bởi vì giữa các bên chủ thể của HĐTD ngân hàng không thể hiện tranh chấp

đó bằng các hành vi phản kháng cụ thể Do đó, một HĐTD ngân hàng chỉ được coi

là có tranh chấp xảy ra khi sự xung đột, bất đồng ý chí giữa các bên được thể hiện ra bên ngoài bằng các hành động cụ thể và xác định được [33, tr.175]

Có thể hiểu vi phạm hợp đồng là hành vi pháp lý của các bên đã vi phạm các điều khoản được cam kết trong hợp đồng Còn tranh chấp hợp đồng là cách thức giải quyết hậu quả phát sinh từ sự vi phạm đó và được thể hiện ra bên ngoài

Như vậy, tranh chấp HĐTD ngân hàng là những xung đột phát sinh từ quyền

và nghĩa vụ trong HĐTD giữa bên cho vay (tổ chức tín dụng) và bên vay (khách hàng) Đó là những tranh chấp về vi phạm nghĩa vụ thanh tóan, việc cấp tín dụng, việc xử lý tài sản trong trường hợp bên vay không trả nợ cho bên cho vay, hay tranh chấp tính hiệu lực của hợp đồng thế chấp

1.1.2 Đặc điểm tranh chấp hợp đồng tín dụng

Xét về phương diện lý thuyết, ngoài những đặc điểm chung giống như mọi loại tranh chấp khác, tranh chấp HĐTD ngân hàng còn có một số đặc trưng sau đây:

Thứ nhất: Tranh chấp HĐTD phát sinh từ sự xung đột về lợi ích giữa các bên

tham gia tranh chấp Phạm vi phát sinh tranh chấp là các quyền, nghĩa vụ của các bên phát sinh từ HĐTD ngân hàng Các quyền, nghĩa vụ này được thể hiện thông qua các điều khoản cụ thể của HĐTD ngân hàng do các bên thỏa thuận mà có Suy

Trang 14

9

cho cùng, dù nội dung tranh chấp có thể rất khác nhau nhưng mọi tranh chấp phát sinh từ HĐTD ngân hàng giữa bên cho vay và bên vay cũng đều là tranh chấp liên quan đến quyền, nghĩa vụ pháp lý của các bên tham gia quan hệ hợp đồng

Thứ hai: về chủ thể, một bên chủ thể của tranh chấp phát sinh từ HĐTD ngân

hàng luôn là tổ chức tín dụng có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật hiện hành (với tư cách là bên cho vay vốn) Còn chủ thể bên kia có thể là tổ chức, cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác… thỏa mãn các điều kiện vay vốn do pháp luật quy định

Thứ ba: Vốn tiền tệ là đối tượng của tranh chấp cụ thể đó là những tranh

chấp về:

- Hành vi vi phạm các điều khỏan đã cam kết của một hoặc các bên trong hợp đồng Vi phạm của bên cho vay trong trường hợp sau khi ký kết hợp đồng tín dụng với khách hàng bên cho vay đã không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ giải ngân

- Việc vi phạm nghĩa vụ thanh tóan của bên vay, đa phần là dạng tranh chấp

về vi phạm nghĩa vụ trả nợ của khách hàng khi đáo hạn và phần lớn các tranh chấp hợp đồng tín dụng là nguyên đơn là tổ chức tín dụng

- Dạng tranh chấp nữa của HĐTD là tranh chấp về chủ thể xác lập, điều này thấy rõ trong ví dụ chủ thể ký kết trong hợp đồng thế chấp với tài sản bảo đảm là hộ gia đình, thiếu thành viên ký kết trong hợp đồng thế chấp hoặc trường hợp tài sản được chia thừa kế cho hai vợ chồng tuy nhiên văn phòng đăng ký sử dụng đất sai sót trong quá trình cấp sổ, chỉ cấp sổ đứng tên một người, đã có bản án cụ thể về trường hợp này Hay những tranh chấp có yếu tố nước ngoài, ví dụ tài sản chung của hai vợ chồng tuy nhiên chồng hoặc vợ đi định cư ở nước ngoài và giả mạo ủy quyền ký kết thế chấp tài sản

- Tranh chấp về luật áp dụng và cơ quan giải quyết tranh chấp Trường hợp một trong hai bên là bên nước ngoài mà khi ký kết hợp đồng các bên đã không thoả thuận lựa chọn cơ quan giải quyết tranh chấp cũng như luật áp dụng

Thứ tư: Phần lớn tranh chấp liên quan đến HĐTD là tranh chấp của bên vay

không thực hiện nghĩa vụ thnh tóan gốc lãi cho bên cho vay Đây là một trong

Trang 15

10

những nghĩa vụ chính nhất, đóng vai trò nòng cốt trong quá trình thực hiện HĐTD của các bên và việc thực hiện này có tác động trực tiếp đến quyền lợi của TCTD

1.1.3 Phân loại tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng

Thực tiễn cho thấy tranh chấp phát sinh từ HĐTD ngân hàng là rất đa dạng

và phức tạp Tuy nhiên, thường tranh chấp phát sinh từ HĐTD có hai loại:

Thứ nhất, tranh chấp HĐTD là tranh chấp về hợp đồng dân sự khi bên vay

vốn là cá nhân, hộ gia đình hay tổ chức không có mục đích lợi nhuận và không có đăng ký kinh doanh

Thứ hai, tranh chấp HĐTD là tranh chấp kinh doanh thương mại khi bên vay

vốn là cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh và đều có mục đích lợi nhuận

Xét về phương diện lý thuyết, có thể phân loại tranh chấp phát sinh từ HĐTD theo các tiêu chí cơ bản sau đây:

1.1.3.1 Tranh chấp do các bên vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng tín dụng

- Hành vi vi phạm nghĩa vụ của bên cho vay (ngân hàng): HĐTD ngân hàng

là một dạng của hợp đồng ưng thuận có hình thức bắt buộc thể hiện bằng văn bản

Vì thế, sau khi HĐTD ngân hàng có hiệu lực, việc giải ngân vốn mà hai bên đã thỏa thuận là nghĩa vụ của các ngân hàng thương mại Tuy nhiên vì một lý do nào đó (lý

do khách quan hoặc lý do chủ quan) mà các ngân hàng thương mại đã không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ giải ngân đối với khách hàng Điều này làm ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp, làm chậm tiến độ xây dựng, phá vỡ

kế hoạch, mất cơ hội kinh doanh… của khách hàng vay vốn, dẫn tới những tổn thất

về kinh tế, về uy tín và thương hiệu của khách hàng Do đó, khách hàng có thể kiến nghị, đồi bồi thường cho những tổn thất đó, vì vậy mà tranh chấp phát sinh từ HĐTD ngân hàng đã xảy ra

Có thể thấy rõ qua ví dụ sau đây:

Ngày 17/5/2014, Eximbank chi nhánh Hai Bà Trưng đồng ý cấp hạn mức 2

tỷ theo hợp đồng tín dụng số 201400903 ký ngày 25/5/2014 và giải ngân từng lần theo từng khế ước nhận nợ cho Công ty TNHH Hoàng Đông Tài sản bảo đảm cho khoản vay này là 01 bất động sản là Quyền sử dụng đất tại phường Ngọc Thụy, quận Long Biên, Hà Nội, thẩm định giá có giá trị 2,5 tỷ đồng

Trang 16

11

Ngày 01/6/2014, Eximbank chi nhánh Hai Bà Trưng giải ngân đợt 1 với số tiền là 500 triệu đồng; ngày 15/6/2014 giải ngân đợt 2 với số tiền là 700 triệu đồng Ngày 30/6/2014, Công ty TNHH Hoàng Đông đề nghị giải ngân nốt số tiền còn lại theo HĐTD nhưng đến 20/7/2014, Eximbank chi nhánh Hai Bà Trưng vẫn không thực hiện giải ngân Lý do Eximbank chi nhánh Hai Bà Trưng đưa ra là: cán bộ định giá của chi nhánh đã định giá sai giá trị tài sản bảo đảm Sau khi Phòng thẩm định giá khu vực Miền Bắc định giá lại thì giá trị tài sản là 1,95 tỷ đồng, không đủ để bảo đảm cho khoản vay 2 tỷ theo HĐTD đã ký Phía công ty cho biết việc chậm giải ngân của ngân hàng đã làm ảnh hưởng tới tiến độ thanh toán tiền hàng của Hợp đồng mua bán đã ký với Công ty TMHH Quang Minh Vì vậy, Công ty TNHH Quang Minh đã không giao hàng cho Công ty TNHH Hoàng Đông, dẫn tới kế hoạch sản xuất và cung ứng thành phẩm cho đối tác cũng vì thế bị chậm lại Trước tình hình đó, Công ty TNHH Hoàng Đông đã làm văn bản gửi tới Eximbank chi nhánh Hai Bà Trưng đề nghị phía Ngân hàng giải ngân theo đúng HĐTD đã ký

Ngày 30/7/2014, đại diện của Công ty TNHH Hoàng Đông đã đến trụ sở Eximbank chi nhánh Hai Bà Trưng để giải quyết mẫu thuẫn này Qua quá trình đàm phán, thỏa thuận, hai bên đã đi đến thống nhất, Eximbank chi nhánh Hai Bà Trưng tiếp tục giải ngân khoản tiền còn lại của HĐTD vào ngày 05/8/2014 và phía công ty đồng ý đưa doanh thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh về tài khoản ngân hàng tại Eximbank chi nhánh Hai Bà Trưng

- Hành vi vi phạm nghĩa vụ trả gốc và lãi của bên vay: Phần lớn các tranh chấp phát sinh từ HĐTD ngân hàng xuất phát từ việc vi phạm nghĩa vụ trả gốc và lãi của khách hàng với nhiều nguyên nhân khác nhau như: tác động của nền kinh tế suy thoái khiến các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, do doanh nghiệp cố tình chiếm dụng vốn của ngân hàng, doanh nghiệp phá sản và có không ít doanh nghiệp lừa đảo vốn của các NHTM Trong những năm gần đây, loại tranh chấp phát sinh từ phía khách hàng vay vốn đang là dạng tranh chấp xảy ra nhiều nhất trong các loại tranh chấp phát sinh từ HĐTD ngân hàng, tranh chấp này đã và đang gây không ít khó khăn trong quá trình giải quyết tranh chấp để thu hồi vốn, giảm tỷ lệ nợ xấu xuống theo đúng tỷ lệ mà NHNN quy định tại các NHTM

Trang 17

12

1.1.3.2 Tranh chấp về chủ thể xác lập, thực hiện hợp đồng

Nếu dựa vào tiêu chí của quan hệ tranh chấp, có thể phân loại tranh chấp phát sinh từ HĐTD ngân hàng thành:

- Tranh chấp phát sinh giữa ngân hàng với khách hàng vay vốn;

- Tranh chấp phát sinh giữa ngân hàng với khách hàng vay vốn với bên thứ

ba (bên thế chấp, bên bảo lãnh, bên được ủy quyền quản lý tài sản bảo đảm);

- Tranh chấp phát sinh giữa ngân hàng (với tư cách là bên nhận bảo đảm) với bảo đảm trong giao dịch bảo đảm tiền vay ngân hàng…

1.1.3.3 Tranh chấp về đối tượng của hợp đồng tín dụng

Nếu dựa vào tiêu chí đối tượng của tranh chấp, có thể phân loại tranh chấp phát sinh từ Hợp đồng tín dụng ngân hàng bao gồm các loại chủ yếu như sau:

- Tranh chấp về quyền của các bên trong hợp đồng tín dụng ngân hàng hoặc hợp đồng bảo đảm tiền vay;

- Tranh chấp về nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng tín dụng ngân hàng hoặc hợp đồng bảo đảm tiền vay;

- Tranh chấp về số tiền vay và lãi suất cho vay;

- Tranh chấp về thời hạn vay vốn, thời hạn tính lãi quá hạn, thời hạn bảo đảm tiền vay;

- Tranh chấp về vấn đề hiệu lực của hợp đồng tín dụng và hợp đồng bảo đảm tiền vay;

- Tranh chấp về tiền phạt vi phạm hợp đồng và/hoặc tiền bồi thường thiệt hại phát sinh từ hợp đồng…

- Tranh chấp về định giá, xử lý tài sản bảo đảm

1.1.3.4 Tranh chấp về pháp luật giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng

Thường xảy ra tranh chấp trong trường hợp nếu như có yếu tố nước ngoài mà khi ký kết HĐTD các bên đã không thỏa thuận lựa chọn luật áp dụng cũng như cơ quan giải quyết tranh chấp là trọng tài thương mại hoặc tòa án

1.1.4 Nguyên nhân dẫn đến tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng

Trong nền kinh tế thị trường, do nhu cầu vốn để phát triển kinh tế là rất lớn nên tranh chấp phát sinh từ HĐTD ngân hàng cũng có xu hướng ngày càng tăng, đa

Trang 18

13

dạng về chủng loại và phức tạp về tính chất, mức độ của quan hệ tranh chấp Chính

vì thế, việc tìm hiểu những nguyên nhân dẫn đến tranh chấp là hết sức cần thiết để

từ đó đánh giá và đưa ra những giải pháp, chính sách phù hợp nhất nhằm hạn chế tranh chấp, từ đó giảm chi phí giao dịch cho các bên liên quan đến hợp đồng tín dụng ngân hàng

Thực tế cho thấy, có nhiều nguyên nhân dẫn đến tranh chấp phát sinh từ HĐTD ngân hàng Tuy nhiên, về lý thuyết có thể phân chia các nguyên nhân này thành ba nhóm cơ bản sau đây:

Thứ nhất, nguyên nhân từ phía bên vay (khách hàng):

- Tranh chấp liên quan đến thanh toán nợ gốc và lãi suất: nguyên nhân khách quan như do thiên tai, hỏa hoạn, do sự thay đổi của chính sách quản lý kinh tế, điều chỉnh quy hoạch ngành, sự tác động của cuộc khủng hoảng tài chính trong và ngoài nước, quan hệ cung cầu hàng hóa thay đổi làm cho hoạt động của bên vay không thực hiện như kế hoạch đề ra

Nguyên nhân chủ quan là do khách hàng cố tình vi phạm nghĩa vụ thanh toán

- Tranh chấp do sự không am hiểu pháp luật của khách hàng

Thứ hai là nguyên nhân từ phía bên cho vay:

- Nguyên nhân từ vấn đề giải ngân: Bên cho vay đã không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ giải ngân như các điều kiện trong hợp đồng đã ký làm hạn chế khả năng thực hiện kế hoạch kinh doanh như dự kiến, hiệu quả kinh doanh đạt được thấp gây ảnh hưởng đến việc trả lãi và gốc sau này của bên vay

- Năng lực, phẩm chất, đạo đức của cán bộ tín dụng: Thứ nhất do sự hạn chế

về năng lực nghiệp vụ của các bộ ngân hàng; Thứ hai, do các ngân hàng thường có thói quen tập trung nhiều công sức cho việc thẩm định trước khi cho vay mà không kiểm soát sử dụng vốn cho vay

Thứ ba, nguyên nhân do quy định của pháp luật.

Ngoài những nguyên nhân chính trên còn có nguyên nhân từ thực hiện các chủ trương, chính sách của Nhà nước về bình ổn kinh tế, nguyên nhân từ việc thay đổi, bổ sung , chấm dứt hợp đồng vay tiền tại tổ chức tín dụng không đúng quy định pháp luật

Trang 19

14

1.1.5 Thời điểm phát sinh tranh chấp và ý nghĩa của việc xác định thời điểm phát sinh tranh chấp từ hợp đồng tín dụng

1.1.5.1 Thời điểm phát sinh các tranh chấp phát sinh từ HĐTD ngân hàng

Một vấn đề dễ nhầm lẫn là việc xác định thời điểm phát sinh tranh chấp và thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên bị xâm phạm Trên thực tế, không phải cứ có hành vi vi phạm quyền và nghĩa vụ của HĐTD ngân hàng là có tranh chấp HĐTD ngân hàng Vậy xác định thời điểm phát sinh tranh chấp như thế nào? Tòa án nhân dân tối cao đã có hướng dẫn về cách xác định thời điểm quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm theo BLTTDS 2015 mà chưa hướng dẫn cụ thể về thời điểm phát sinh tranh chấp Chính vì thế, người áp dụng pháp luật sẽ rất lúng túng, khó khăn trong việc xác định thời điểm phát sinh tranh chấp HĐTD ngân hàng

Trong thực tiễn, việc xác định đúng đắn và chính xác thời điểm phát sinh tranh chấp có vai trò quan trọng việc lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp phù hợp với pháp luât, trên cơ sở đó góp phần bảo vệ lợi ích của Nhà nước, tổ chức

và cá nhân trong xã hội nói chung và bảo vệ lợi ích của NHTM với khách hàng vay vốn nói riêng

1.1.5.2 Ý nghĩa việc xác định thời điểm phát sinh tranh chấp HĐTD ngân hàng

Khi các tranh chấp phát sinh từ HĐTD ngân hàng xảy ra, để có hướng giải quyết hiệu quả, cơ quan giải quyết tranh chấp đúng chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền thì cần xác định rõ thời điểm phát sinh tranh chấp đó Việc xác định thời điểm phát sinh tranh chấp có ý nghĩa rất quan trọng, đó là xác định thời điểm tranh chấp để các bên căn cứ vào tình hình thực tế lúc tranh chấp xảy ra để đưa ra các phương hướng thỏa thuận hợp lý, cùng có lợi để giải quyết mâu thuẫn

1.2 Những vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng

1.2.1 Khái niệm giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng ngân hàng

Khi một tranh chấp phát sinh, đặc biệt là các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng, các vấn đề đặt ra sau đó như là chủ thể nào sẽ tham gia giải quyết tranh chấp, thẩm quyền và thủ tục giải quyết tranh chấp như thế nào, hiệu lực của phán quyết khi giải quyết tranh chấp ra sao?

Trên nguyên tắc, việc giải quyết tranh chấp kinh tế nói chung và tranh chấp

Trang 20

15

phát sinh từ HĐTD ngân hàng nói riêng cần phải đáp ứng được những yêu cầu cơ bản như: nhanh chóng, kịp thời; tiết kiệm và hiệu quả về kinh tế; không làm hạn chế, cản trở hoạt động kinh doanh; có thể tận dụng được những cơ hội kinh doanh; loại trừ những rủi ro từ tác động của thị trường; bảo đảm giữ được bí mật của hoạt động kinh doanh cũng như uy tín, thương hiệu của các bên chủ thể trong quan hệ tranh chấp Mỗi bên đều phải tự cân nhắc lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp đảm bảo lợi ích kinh tế, mối quan hệ các bên

Tranh chấp phát sinh từ HĐTD ngân hàng chỉ được giải quyết thỏa đáng khi các bên đã tìm ra phương án dung hòa được quyền lợi và nghĩa vụ của nhau

Việc giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD thường có các vấn đề sau: Một

là, chủ thể giải quyết tranh chấp; hai là, thẩm quyền giải quyết tranh chấp; ba là,

+ Việc giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD ngân hàng phải bảo đảm giữ được bí mật của hoạt động kinh doanh cũng như uy tín, thương hiệu của các bên chủ thể trong quan hệ tranh chấp

+ Việc giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD ngân hàng phải khôi phục

và duy trì các quan hệ hợp tác, tín nhiệm giữa các bên chủ thể

+ Việc giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD ngân hàng phải có chi phí hợp lý về thời gian, cơ hội và chi phí tiền bạc Mỗi bên đều phải cân nhắc những chi phí phải bỏ ra khi giải quyết tranh chấp, lợi ích kinh tế và sự ổn định quan hệ kinh doanh để từ đó lựa chọn phương thức và đưa ra yêu cầu giải quyết tranh chấp Tranh chấp phát sinh từ HĐTD ngân hàng chỉ được giải quyết thỏa đáng khi các bên đã tìm ra phương án dung hòa được quyền lợi và nghĩa vụ của nhau

Từ cách tiếp cận như vậy, có thể khái quát hóa thành khái niệm “giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD ngân hàng” như sau:

Trang 21

16

Giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD ngân hàng là hành vi pháp lý theo

đó các bên tranh chấp cùng nhau thương lượng để đạt được thỏa thuận về biện pháp khắc phục mâu thuẫn, xung đột, bất đồng trong quan hệ HĐTD; hoặc thông qua bên thứ ba để tiến hành các biện pháp nhằm giải quyết mẫu thuẫn, xung đột, bất đồng giữa các bên trong quan hệ HĐTD trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, các bên cùng có lợi

Ý nghĩa của việc giải quyết thỏa đáng các tranh chấp phát sinh từ HĐTD ngân hàng:

+ Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, duy trì và củng cố mối quan

hệ, duy trì uy tín và thương hiệu của các bên

+ Đảm bảo sự bình đẳng giữa các chủ thể trong quan hệ tranh chấp phát sinh

từ HĐTD ngân hàng trước pháp luật

+ Tạo dựng môi trường kinh doanh tiền tệ nói riêng và thị trường tài chính tiền tệ nói chung lành mạnh và đảm bảo quyền tự do kinh doanh

+ Đánh giá được việc áp dụng pháp luật trong thực tiễn, nhận định và đánh giá những bất cấp của pháp luật và áp dụng pháp luật để định hướng hoàn thiện hơn nữa các chính sách pháp luật hiện hành

1.2.2 Các phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng

Trên thế giới, tùy thuộc vào quan điểm, tư tưởng của các nhà lập pháp của từng quốc gia mà luật pháp mỗi nước có những quy định khác nhau về vấn đề giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD ngân hàng Mặc dù vậy, hầu hết các quốc gia đều thừa nhận các hình thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại nói chung

và giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD ngân hàng nói riêng bao gồm: thương lượng; hòa giải; trọng tài thương mại và toà án

Thực tế cho thấy, mỗi hình thức giải quyết tranh chấp nói trên đều có những lợi thế và đồng thời cũng thể hiện những điểm hạn chế nhất định Tùy thuộc vào tính chất của tranh chấp, mức độ phức tạp của tranh chấp, khả năng và điều kiện cụ thể của các bên mà các chủ thể tranh chấp có thể lựa chọn hình thức này hay hình thức khác, hoặc sử dụng phối hợp nhiều hình thức khác nhau nhằm giải quyết tranh chấp đạt hiệu quả cao nhất

Trang 22

17

1.2.2.1 Giải quyết tranh chấp theo hình thức thương lượng

Thương lượng (đàm phán) là những hoạt động cơ bản của con người Trong cuộc sống hằng ngày, thương lượng hiện diện ở mọi lúc mọi nơi Vậy thương lượng là gì?

Có thể hiểu thương lượng là phương thức giải quyết tranh chấp HĐTD, trong

đó các bên tranh chấp (Bên cho vay (ngân hàng), bên vay (khách hàng) và người có quyền và lợi ích liên quan (bên bảo lãnh )) cùng nhau bàn bạc, thỏa thuận đi đến thống nhất một phương án giải quyết bất đồng giữa họ mà không cần bất kỳ sự can thiệp của cơ quan nhà nước hay của bất kỳ người thứ ba nào

Quá trình thương lượng gồm: thương lượng trực tiếp, thương lượng gián tiếp

và kết hợp thương lượng trực tiếp với thương lượng gián tiếp

Ngoài những đặc trưng chung của các hình thức giải quyết tranh chấp thì việc giải quyết các tranh chấp phát sinh từ HĐTD bằng hình thức thương lượng cũng có một số đặc điểm riêng sau:

Thứ nhất, thương lượng là hình thức giải quyết tranh chấp không cần đến vai trò

của một chủ thể thứ ba mà thông qua việc các bên chủ thể của tranh chấp phát sinh từ HĐTD cùng nhau gặp gỡ, trình bày ý kiến, quan điểm của mình, bàn bạc để thỏa thuận, tháo gỡ những bất đồng mâu thuẫn phát sinh Do vậy, các bên chủ thể của tranh chấp này phải thể hiện mong muốn loại bỏ mâu thuẫn, khắc phục hậu quả, đảm bảo uy tín, thương hiệu trên tinh thần tự nguyện hợp tác, thiện chí và cùng có lợi

Thứ hai, hình thức giải quyết tranh chấp này luôn được các bên chủ thể tranh

chấp ưa chuộng và ưu tiên thực hiện khi tranh chấp phát sinh từ HĐTD xảy ra bởi

sự linh hoạt, đơn giản, nhanh chóng, hiệu quả, ít tốn kém, tăng hiểu biết lẫn nhau và không ràng buộc bởi các thủ tục pháp lý phức tạp, không làm phương hại đến quan

hệ hợp tác vốn có của các bên chủ thể của HĐTD Đồng thời, khi sử dụng hình thức giải quyết tranh chấp bằng thương lượng thì uy tín, bí mật kinh doanh, bí quyết kinh doanh của các bên được đảm bảo tối đa, giảm thiểu mức độ phương hại đến mối quan hệ giữa các bên, thậm chí mối quan hệ giữa các bên còn được tăng cường về

sự hiểu biết và hợp tác lẫn nhau khi cuộc thương lượng thành công

Thứ ba, kết quả của việc giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD bằng hình

thức thương lượng là những cam kết mới, thỏa thuận mới và giải pháp mới cụ thể

Trang 23

- Không ràng buộc bởi các thủ tục pháp lý phức tạp.

- Các bên chủ thể kiểm soát được các thông tin các bí mật kinh doanh, uy tín của các bên Các bên tranh chấp ai biết bảo vệ quyền lợi của mình, nắm rõ những xung đột và nguyên nhân phát sinh tranh chấp nên dễ dàng cảm thông nhau hơn để

đi đến thỏa thuận, các bên cùng có lợi

Hạn chế phương thức giải quyết tranh chấp bằng thương lượng:

- Thương lượng thành công hay không hoàn toàn phụ thuộc vào sự hiểu biết

và thái độ thiện chí, hợp tác của các bên tranh chấp, phụ thuộc vào các bên có thiện chí muốn tìm giải pháp đối với tranh chấp

- Người thiếu thiện chí sẽ lợi dụng thủ tục thương lượng để trì hoãn việc thực hiện nghĩa vụ của mình

- Việc thực hiện kết quả thương lượng cũng không được bảo đảm, không bị ràng buộc bởi bất kỳ cơ chế cưỡng chế nào Do đó, dù các bên có đạt được thỏa thuận để giải quyết vụ tranh chấp thì các bên phải tự nguyện thi hành thì thỏa thuận

Trang 24

19

cho nhau trái với nguyên tắc quản lý tài chính của nhà nước

1.2.2.2 Giải quyết tranh chấp theo hình thức hòa giải

Hòa giải được hiểu là phương pháp để giải quyết tranh chấp, là quá trình mà tại đó hòa giải viên thương mại tạo điều kiện giao tiếp và đàm phán giữa các bên để

hỗ trợ họ trong việc đạt được một thỏa thuận tự nguyện về tranh chấp của họ

Việc giải quyết tranh chấp bằng hòa giải được thực hiện theo quy định của Nghị định 22/2017/NĐ-CP ngày 24/02/2017 của chính phủ về hòa giải thương mại

Về phương diện lý thuyết, hình thức giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD bằng hòa giải có những đặc điểm cơ bản sau đây:

Thứ nhất, có sự tham gia của bên thứ ba độc lập được gọi là hòa giải viên,

đại điện cho tổ chức hoặc cá nhân có trình độ chuyên môn cao và có kinh nghiệm trong lĩnh vực ngân hàng và pháp luật liên quan đến tranh chấp Bên thứ ba có vị trí là trung gian hòa giải, phải độc lập với các bên tranh chấp, không xung đột lợi ích đối với các bên, không có lợi ích gắn liền với lợi ích của một trong các bên trong vụ việc đang tranh chấp Công việc của trung gian hòa giải trong giải quyết các tranh chấp phát sinh từ HĐTD ngân hàng là xem xét, phân tích, đánh giá và đưa ra những ý kiến, nhận định bình luận về chuyên môn, kỹ thuật, nghiệp vụ ngân hàng; đề xuất những giải pháp, phương hướng thích hợp để các bên tham khảo, lựa chọn và quyết định

Thứ hai, mặc dù có sự tham gia của bên thứ ba độc lập làm trung gian hòa

giải để giải quyết tranh chấp nhưng quyết định cuối cùng về việc giải quyết mâu thuẫn, bất đồng của các tranh chấp vẫn thuộc về các chủ thể tranh chấp mà không phụ thuộc vào ý chí chủ quan, quan điểm của trung gian hòa giải

Ngoài những đặc điểm nêu trên, việc giải quyết tranh chấp từ HĐTD bằng phương thức hòa giải có những ưu điểm và hạn chế chủ yếu sau đây:

Ưu điểm:

- Ưu điểm vượt trội của hòa giải là do có sự tham gia của bên trung gian là hòa giải viên là những người có kinh nghiệm, hiểu biết pháp luật, trình độ chuyên môn cao Hòa giải viên là trung gian góp phần làm cho các bên đưa ra thống nhất phương án giải quyết để loại trừ tranh chấp

- Là phương thức giải quyết tranh chấp dễ thực hiện, nhanh gọn, ít tốn kém

Trang 25

20

và duy trì được quan hệ hợp tác vẫn có giữa các bên

- Các bên có quyền tự định đoạt người trung gian tiến hành hòa giải

- Các bên chủ thể giữ được các bí mật kinh doanh, bí quyết kinh doanh và uy tín của các bên

Hạn chế của phương thức giải quyết tranh chấp HĐTD bằng hòa giải:

- Trong trường hợp các bên thiếu thiện chí lợi dụng hòa giải để trì hoãn nghĩa

vụ của mình và dẫn đến tranh chấp kéo dài

- Chính phải sử dụng đến bên trung gian nên uy tín, bí mật kinh doanh cũng

dễ bị ảnh hưởng hơn quá trình thương lượng Bên cạnh đó, chi phí cho quá trình giải quyết bằng hòa giải cũng tốn kém hơn do phải trả phí cho bên trung gian

1.2.2.3 Giải quyết tranh chấp theo hình thức trọng tài thương mại

Trọng tài thương mại là một phương pháp pháp lý để giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án, theo đó các bên tranh chấp thỏa thuận đưa tranh chấp của mình đến một trọng tài viên hay một hội đồng trọng tài để giải quyết theo quy định của Luật trọng tài thương mại và chấp nhận chịu sự ràng buộc về mặt pháp lý, tuân thủ phán quyết của trọng tài viên hay của hội đồng trọng tài

Trên thế giới có 2 hình thức trọng tài là Trọng tài vụ việc và trọng tài thường trực Trọng tài vụ việc là trọng tài được các bên tranh chấp thỏa thuận lập ra để giải quyết một tranh chấp cụ thể và sẽ giải thể khi tranh chấp đó được giải quyết xong Trọng tài thường trực là hình thức trọng tài luôn tồn tại để giải quyết các tranh chấp Trọng tài thường trực có bộ phận giúp việc, có danh sách trọng tài viên và có quy tắc tố tụng riêng

Riêng đối với phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thì áp dụng đối với trường hợp các bên thỏa thuận giải quyết tranh chấp bằng trọng tại đối với tranh chấp giữa các bên có hoạt động thương mại và tranh chấp khác giữa các bên

mà pháp luật quy định được giải quyết tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết tranh chấp bằng trọng tài theo quy định tại Điều 2 về thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài , Luật Trọng tài thương mại năm 2010

Hiện nay, giải quyết tranh chấp tại trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp không thể thiếu trong nền kinh tế thị trường và đang ngày càng

Trang 26

21

được các doanh nghiệp trên thế giới ưa chuộng Giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD bằng hình thức trọng tài có thể dung hòa được sự khác biệt, thậm chí là đối lập nhau của hệ thống phát luật và phán quyết của trọng tài có khả năng thi hành rộng hơn về mặt địa lý so với bản án của tòa án

Về lý thuyết, hình thức giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD ngân hàng bằng trọng tài có những ưu điểm cơ bản sau đây:

- Thủ tục trọng tài đơn giản, nhanh chóng

- Trọng tài xét xử bí mật bởi tiến trình giải quyết trọng tài có tính riêng biệt, hầu hết các quy định của pháp luật về trọng tài đều thừa nhận nguyên tắc Trọng tài xét xử kín nếu các bên không có thỏa thuận khác

- Hoạt động trọng tài xét xử liên tục do đó tiết kiệm thời gian, chi phí, tiền bạc cho doanh nghiệp

- Trọng tài phù hợp để giải quyết các tranh chấp có yếu tố nước ngoài

Bên cạnh những ưu điểm, phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại cũng có những khó khăn, trở ngại khó tránh khỏi đó là:

- Sự thành công của quá trình giải quyết tranh chấp bằng trọng tài chủ yếu phụ thuộc vào thái độ, thiện chí của các bên tranh chấp, mà doanh nghiệp ở nước ta hiện nay chưa thực sự quan tâm đến việc lường trước các tranh chấp phát sinh nên vẫn mơ hồ về các hình thức trọng tài

- Tính thi hành quyết định trọng tài không hiệu quả vì trọng tài không đại diện cho quyền lực tư pháp của nhà nước

- Trọng tài có thể gặp khó khăn trong quá trình giải quyết tranh chấp, đặc biệt

là những tranh chấp phức tạp, về những vấn đề như: xác minh thu thập chứng cứ, triệu tập nhân chứng

1.2.2.4 Giải quyết tranh chấp thông qua Tòa án

Thực tiễn cho thấy hình thức giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD thông qua khởi kiện tại tòa án thường được xem là hình thức cuối cùng mà các bên lựa chọn trong trường hợp thương lượng hoặc hòa giải không thành công Việc phải nhờ đến quyền lực nhà nước để giải quyết mâu thuẫn là khi các bên đã áp dụng các hình thức giải quyết tranh chấp khác nhưng không đạt được kết quả và các bên không

Trang 27

22

còn phương án lựa chọn nào khác

Toà án là phương thức giải quyết tranh chấp mang tính cưỡng chế cao, được thực hiện tại cơ quan xét xử nhân danh quyền lực nhà nước, tiến hành theo trình tự, thủ tục nghiêm ngặt, chặt chẽ và bản án hay quyết định của Toà án về vụ tranh chấp nếu không có sự tự nguyện tuân thủ sẽ được đảm bảo thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế nhà nước Chính điều này đã tạo nên ưu điểm hơn hẳn của phương thức này đối với các phương thức khá đó là tố tụng chặt chẽ và tính khả thi của hiệu lực phán quyết

Việc giải quyết tranh chấp bằng Tòa án không phụ thuộc thỏa thuận của các bên Luật quy định, Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc hoặc có trụ sở có thẩm quyền giải quyết, trừ trường hợp các bên có quyền tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn giải quyết tranh chấp theo quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 39 về thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ, BLTTDS năm 2015

Ưu điểm:

- Ưu điểm của hình thức giải quyết tranh chấp thông qua tòa án là: Do tòa án

là cơ quan xét xử của Nhà nước nên phán quyết của tòa án có tính cưỡng chế cao nhất Nếu các bên không chấp hành bản án, quyết định của tòa án thì sẽ bị cưỡng chế thi hành, quyền lợi của người thắng kiện sẽ được đảm bảo tuyệt đối nếu như bên thua kiện có tài sản để thi hành án

- Thông thường chi phí để giải quyết một tranh chấp hợp đồng của Tòa án sẽ thấp hơn so với trọng tài

- Trình tự tố tụng nghiêm ngặt, chặt chẽ theo quy định của pháp luật

- Nguyên tắc xét xử công khai có tính răn đe đối với cá nhân, tổ chức vi phạm pháp luật

- Các tòa án, đại diện cho chủ quyền quốc gia, có điều kiện tốt hơn các trọng tài viên trong việc tiến hành điều tra, có quyền cưỡng chế, triệu tập bên thứ ba đến tòa

- Giải quyết tranh chấp bằng tòa án có nhiều cấp xét xử cũng có cái hay là khả năng sửa sai nếu bản án của một cấp xét xử có sai sót Nguợc lại, một khu trọng tài đã ra phán quyết, cho dù có sai sót đi chăng nữa cũng chịu vì phán quyết đó có

Trang 28

23

giá trị chung thẩm và có hiệu lực thi hành ngay

- Các bên không phải trả thù lao cho thẩm phán, ngoài ra chi phí hành chính rất hợp lý

Bên cạnh những ưu điểm nêu tren, hình thức giải quyết tranh chấp thông qua tòa án còn có những hạn chế như:

- Hạn chế của phương thức này là thủ tục tại tòa án thường thiếu linh hoạt, trình tự tố tụng kéo dài, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động kinh doanh một cách bình thường của các bên chủ thể tranh chấp

- Bên cạnh đó, nguyên tắc xét xử công khai được xem là tiến bộ, mang tính răn đe nhưng lại là cản trở đối với doanh nhân và doanh nghiệp khi những bí mật kinh doanh bị tiết lộ Dù tranh chấp xuất phát từ bên cho vay hay từ bên vay thì việc

bị công khai sai phạm là điều mà các bên chủ thể hoàn toàn không mong muốn

- Phán quyết của Tòa án có thể bị kháng cáo dẫn đên vụ tranh chấp bị kéo dài Quá trình tố tụng có thể bị trì hoãn và kéo dài, có thể phải qua nhiều cấp xét xử, ảnh hưởng đến quá trình sản xuất, kinh doanh

- Đối với các tranh chấp HĐTD có yếu tố nước ngoài thì phán quyết của tòa

án thường khó đạt được sự công nhận quốc tế, vì luật các nước quy định khác nhau Phán quyết của tòa án được công nhận tại một nước khác thường thông qua hiệp định song phương hoặc theo nguyên tắc rất nghiêm ngặt

Mặc khác, mặc dù thẩm phán quốc gia có thể khách quan, họ vẫn phải buộc

sử dụng ngôn ngữ và áp dụng quy tắc tố tụng của quốc gia họ và thường cùng quốc tịch với một bên

1.3 Khái quát pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại tòa án

1.3.1 Khái niệm pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án

Đầu tiên ta hiểu HĐTD là sự thỏa thuận chung bằng văn bản giữa các tổ chức tín dụng (bên cho vay) với khách hàng là tổ chức, cá nhân (gọi là bên vay) nhằm xác lập các quyền và nghĩa vụ của các bên trong quá trình chuyển giao, sử dụng tiền vay thanh tóan nợ gốc và lãi vay

Giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD ngân hàng là hành vi pháp lý theo

đó các bên tranh chấp cùng nhau thương lượng để đạt được thỏa thuận về biện pháp

Trang 29

24

khắc phục mâu thuẫn, xung đột, bất đồng trong quan hệ HĐTD; hoặc thông qua bên thứ ba để tiến hành các biện pháp nhằm giải quyết mẫu thuẫn, xung đột, bất đồng giữa các bên trong quan hệ HĐTD trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, các bên cùng có lợi

Pháp luật về giải quyết tranh chấp HĐTD tại Tòa án là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình giải quyết tranh chấp HĐTD ngân hàng tại Tòa án nhân dân

Giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD được hiểu là các hình thức, các phương pháp nhằm giải quyết các bất đồng về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ hợp đồng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể có tranh chấp Việc giải quyết các tranh chấp phát sinh này mang ý nghĩa quan trọng Đảm bảo cho các phán quyết của Tòa án được thực thi một cách nghiêm chỉnh đúng pháp luật

1.3.2 Đặc điểm của pháp luật giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng

Thứ nhất, khi xảy ra tranh chấp các bên có quyền tự lựa chọn phương thức

giải quyết tranh chấp của mình bằng các con đường khác nhau, có thể được giải quyết bằng tòa án hoặc phương thức khác ngoài tòa án Pháp luật giải quyết tranh chấp HĐTD ngân hàng quy định đối với các phương thức giải quyết tranh chấp HĐTD ngân hàng nói trên về trình tự, thủ tục và các nội dung khác đảm bảo quá trình giải quyết tranh chấp HĐTD ngân hàng theo quy trình, đảm bảo tính pháp lý

Thứ hai, đối với các phương thức giải quyết tranh chấp HĐTD ngân hàng

như hòa giải, thương lượng chỉ cần các bên có thiện chí giải quyết, pháp luật chưa

có quy định về thủ tục giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng phương thức này nhưng trong các phương thức giải quyết khác mà pháp luật có quy định về trình tự thủ tục đều khuyến khích các bên tiến hành hòa giải hoặc thương lượng trước khi buộc phải tiến hành các thủ tục khác

Thứ ba, trong trường hợp lựa chọn tòa án là cơ quan giải quyết tranh chấp

HĐTD ngân hàng thì các bên phải tuân thủ triệt để nghiêm ngặt, chặt chẽ các quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp được quy định tại BLTTDS 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành bộ luật này

Mặc dù tranh chấp HĐTD ngân hàng có thể được giải quyết bằng nhiều

Trang 30

25

phương thức khác nhau như thương lượng, hòa giải, trọng tài thương mại hoặc bằng con đường tòa án nhưng tác giả chỉ tập trung đi sâu phân tích các vấn đề có liên quan đến nội dung giải quyết tranh chấp HĐTD ngân hàng thông qua thủ tục tố tụng tại tòa án như đã trình bày ở phần đối tượng và phạm vi nghiên cứu, trong luận văn

Tuy nhiên, để tìm hiểu nội dung phương thức giải quyết tranh chấp HĐTD ngân hàng bằng tòa án được đầy đủ và hoàn thiện thì vẫn cần tìm hiểu về các phương thức giải quyết khác, so sánh với phương thức giải quyết tranh chấp bằng tòa án để rút ra những ưu nhược điểm của phương thức này Từ đó, có phương hướng hoàn thiện cả trên lý thuyết và thực tiễn áp dụng đối với phương thức giải quyết tranh chấp HĐTD ngân hàng tại Tòa án nhân dân hiện nay

1.3.3 Nội dung của pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng

1.3.3.1 Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp phát sinh từ Hợp đồng tín dụng bằng con đường tòa án

Trong việc giải quyết tranh chấp HĐTD ngân hàng tại Tòa án đòi hỏi đương

sự tham gia và người tiến hành tố tụng phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản sau:

Thứ nhất, nguyên tắc tôn trọng quyết quyết định và tự định đoạt của các

đương sự (điều 5 BLTTDS 2015)

Thứ hai, nguyên tắc các đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng

minh (điều 6 BLTTDS 2015): Đây là nguyên tắc thể hiện quyền con người trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Thứ ba, nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự

1.3.3.2 Thẩm quyền của Tòa án trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng

Thẩm quyền của Tòa án khi giải quyết tranh chấp HĐTD theo quy định của BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sụng năm 2011, BLTTDS năm 2015, Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 hướng dẫn thi hành một số quy định trong

Trang 31

Thẩm quyền theo cấp tòa án gồm TAND Tối cao; TAND cấp cao; TAND cấp tỉnh, TAND cấp huyện) được quy định tại điều 35,36,37,38 BLTTDS 2015; thẩm quyền theo vụ việc; thẩm quyền theo lãnh thổ (điều 39 BLTTDS 2015) và thẩm quyền theo vụ việc được quy định tại Điều 30, 31 BLTTDS 2015.

Cụ thể, Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Tòa án nhân dân cấp huyện) có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp phát sinh từ HĐTD mà không có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, tức là tranh chấp phát sinh từ HĐTD ngân hàng không có yếu tố nước ngoài

- Tòa án cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết tranh chấp theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp phát sinh từ HĐTD mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần ủy thác tư pháp cho cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án nước ngoài, tức là tranh chấp phát sinh từ HĐTD ngân hàng có yếu tố nước ngoài Tòa dân sự giải quyết tranh chấp HĐTD là tranh chấp về hợp đồng dân sự và Tòa Kinh tế giải quyết tranh chấp HĐTD nếu tranh chấp này là tranh chấp kinh doanh, thương mại

Bên cạnh việc quy định thẩm quyền theo vụ việc BLTTDS còn quy định thẩm quyền theo lãnh thỗ, theo sự lựa chọn của nguyên đơn để phân chia giải quyết giữa Tòa án các cấp, giữa các Tòa chuyên trách với nhau được tương xứng được quy định tại điều 40 BLTTDS 2015

Tại Hà Nội, TAND thành phố có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những vụ việc quy định tại Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015

Thứ nhất, đó là những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh

doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật dân

Trang 32

27

sự 2015, trừ những tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện quy định tại khoản 1 và khoản 4 Điều 35 của Bộ luật này;

Thứ hai, đó là yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương

mại, lao động quy định tại các Điều 27, 29, 31 và 33 của Bộ luật tố tụng dân sự

2015, trừ những yêu cầu thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện quy định tại khoản 2 và khoản 4 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Thứ ba là tranh chấp, yêu cầu quy định tại khoản 3 Điều 35 của Bộ luật này.

Tòa Kinh tế TAND TP Hà Nội có thẩm quyền: Giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp, yêu cầu kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền của TAND cấp tỉnh; Giải quyết theo thủ tục phúc thẩm những vụ việc mà bản án, quyết định kinh doanh, thương mại chưa có hiệu lực pháp luật của TAND cấp huyện bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự

1.3.3.3 Thủ tục giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng tại Tòa án

- Giai đoạn khởi kiện và thụ lý vụ án

Khởi kiện vụ án tranh chấp HĐTD ngân hàng được hiểu là việc cá nhân, pháp nhân làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết các tranh chấp HĐTD để bảo vệ quyền lợi và lợi ích của mình đang bị tranh chấp hay vi phạm

Quyền khởi kiện vụ án: Theo quy định thì cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình

Thụ lý vụ án được hiểu là việc Tòa án có thẩm quyền chấp nhận đơn của người khởi kiện và nghi vào sổ thụ lý vụ án để giải quyết

- Giai đoạn hòa giải và chuẩn bị xét xử:

Hòa giải vụ án tranh chấp HĐTD là hoạt động tố tụng do tòa án tiến hành nhằm giúp đỡ các đương sự thỏa thuận với nhau về giải quyết vụ án tranh chấp HĐTD ngân hàng, hòa giải được tiến hành sau khi thụ lý vụ án

Cơ sở của hòa giải vụ án tranh chấp HĐTD là các đương sự có quyền tự định đoạt, tòa án có trách nhiệm tiến hành hòa giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án dân sự theo quy định Điều 10

Trang 33

nó chỉ là tài liệu văn bản xác nhận một sự kiện và nó là cơ sở để tòa án ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự Biên bản hòa giải phải có các nội dung theo quy định tại khoản 3 Điều 211 BLTTDS

- Giai đoạn xét xử sơ thẩm: Phiên tòa sơ thẩm được tiến hành dưới sự điều hành của một Hội đồng xét xử gồm 2 thẩm phán và một hội thẩm và sự có mặt của các đương sự, người làm chứng, người phiên dịch, người giám định và kiểm sát viên (nếu Viện kiểm sát có yêu cầu kiểm tra phiên tòa)

Thời hạn xét xử sơ thẩm là thời hạn mở phiên tòa 2 tháng, có thể thêm 1 tháng.Khi phiên tòa được bắt đâu, phiên tòa phải được tiến hành các thủ tục khai mạc phiên tòa là chủ tọa phiên tòa khai mạc phiên tòa và đọc quyết định đưa vụ án

ra xét xử, thư ký phiên tòa báo cáo Hội đồng xét xử về sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập, giấy báo của Tòa án và lý do vắng mặt, chủ tọa phiên tòa phổ biến quyền và nghĩa vụ của đương sự và người tham gia tố tụng khác, giới thiệu thành phần tham gia và hỏi những người có quyền yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch xem

họ có yêu cầu thay đổi ai không

Giai đoạn thứ ba, giai đoạn hỏi đương sự về việc thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu: Thủ tục hỏi đương sự về việc thay đổi, rút yêu cầu, bổ sung được bắt đầu bằng việc hỏi đương sự về các vấn đề như hỏi bị đơn có thay đổi, bổ sung, rút một phần hoặc tòan bộ yêu cầu phản tố không, nguyên đơn có thay đổi, bổ sung, rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện hay không, hỏi người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có thay đổi, bổ sung, rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu độc lập hay không

Trang 34

29

Tiếp theo là giai đoạn tranh tụng tại phiên tòa bao gồm đương sự, người bao

vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trình bày tại phiên tòa trình tự xét xử sơ thẩm cho phép các đượng sự và người đại diện, người bảo vệ cho họ được trình bầy

và bảo vệ quyền lợi để tòa nghiên cứu và cân nhắc

Theo quy định về trình tự xét xử sơ thẩm, sau khi nghe xong lời trình bày của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, theo sự điều hành của chủ tọa phiên tòa

Theo quy định về trình tự xét xử sơ thẩm, sau khi kết thúc việc hỏi, Hội đồng xét xử chuyển sang phần tranh luận, các đương sự đối đáp theo sự điều khiển của chủ tọa phiên tòa; Khi xét thấy cần thiết, Hội đồng xét xử có thể yêu cầu các đương

sự tranh luận bổ sung về những vấn đề cụ thể để làm căn cứ giải quyết vụ án

Giai đoạn cuối cùng của phiên tòa sơ thẩm là thủ tục nghị án và tuyên án Nghị án là phần cực kỳ quan trọng trong trình tự xét xử sơ thẩm, sau khi kết thúc phần tranh luận, Hội đồng xét xử vào phòng nghị án để nghị án Trong trường hợp việc nghị án đòi hỏi phải có thời gian do có nhiều tình tiết phức tạp thì Hội đồng xét

xử có thể thêm thời gian những không được quá 05 ngày làm việc, kể từ khi kết thúc tranh luận tại phiên tòa

Sau phần nghị án thì tuyên án là phần tiếp theo trong trình tự xét xử sơ thẩm: Hội đồng xét xử tuyên đọc bản án với sự có mặt của các đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức và cá nhân khởi kiện Trường hợp đương sự có mặt tại phiên tòa nhưng vắng mặt khi tuyên án hoặc vắng mặt trong trường hợp Hội đồng xét xử đã thực hiện việc thông báo mà người tham gia tố tụng vắng mặt và ngày, giờ và địa điểm tuyên án thì Hội đồng xét xử vẫn tuyên đọc bản án

- Giai đoạn xét xử phúc thẩm:

Bản án xét xử sơ thẩm vụ án nếu không có kháng nghị (của Viện kiểm sát), kháng cáo (của cá nhân và tổ chức có quyền và nghĩa vụ liên quan) thì sẽ có hiệu lực theo quy định của pháp luật Trường hợp bản án có kháng nghị, kháng cáo thì vụ

án phải đưa ra xét xử phúc thẩm Thông thường thời gian kháng cáo là 15 ngày, thời gian kháng nghị là 15 ngày đối với Viện kiểm sát cùng cấp hoặc 30 ngày đối với

Trang 35

Thứ nhất, giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm: Ngay sau khi nhận được hồ

sơ vụ án, kháng cáo, kháng nghị và tài liệu, chứng cứ kèm theo, Tòa án cấp phúc thẩm phải vào sổ thụ lý, thông báo bằng văn bản cho các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện và Viện kiểm sát cùng cấp về việc Tòa án đã thụ lý vụ án Trong vòng 2 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án, chánh án thành lập Hội đồng xét xử phúc thẩm và phân công một Thẩm phán làm chủ tọa phiên tòa

Thứ hai, phiên tòa xét xử phúc thẩm vụ án: Trường hợp tòa quyết định đưa

vụ án ra xét xử phúc thẩm thì phiên tòa phải được diễn ra theo đúng trình tự thủ tục của pháp luật, gồm thủ tục bắt đầu phiên tòa, thủ tục hỏi các đương sự Tại phiên tòa phúc thẩm, nếu các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án thì Hội đồng xét xử công nhận thỏa thuân đó và dựa trên đó đưa ra bản án phúc thẩm, sửa bản án sơ thẩm

Thứ ba, giai đoạn nghị án và tuyên án xét xử phúc thẩm: Sau phần tranh tụng, Tòa án và Viện kiểm sát ra quyết định và tuyên án Quyết định, bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định và ngày tuyên án

- Thủ tục giám đốc thẩm và thủ tục tái thẩm: là giai đoạn xem xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực:

Tại Phần thứ 5 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (BLTTDS) có quy định

về thủ tục xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật Theo đó có hai thủ tục

để xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật là thủ tục tái thẩm và thủ tục Giám đốc thẩm

Thứ nhất, đối với thủ tục Giám đốc thẩm: Thẩm quyền giám đốc thẩm bao giờ cũng thuộc về tòa án cấp trên trực tiếp của tòa án đã ra bản án, quyết định xét xử giám đốc thẩm, cụ thể:

Trang 36

31

- Ủy ban thẩm phán TAND cấp tỉnh giám đốc thẩm những vụ án, bản án đã

có hiệu lực của TAND cấp huyện huyện bị kháng nghị

- Tòa kinh tế – TANDTC giám đốc thẩm những vụ án mà bản án, quyết định

đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án thuộc TANDTC bị kháng nghị

- Ủy ban thẩm phán TANDTC giám đốc thẩm những vụ án mà bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của các tòa thuộc TANDTC bị kháng nghị

- Hội đồng thẩm phán TANDTC giám đốc thẩm những bản án, quyết định của ủy ban thẩm phán TANDTC bị kháng nghị

Theo quy định tại Điều 325 BLTTDS năm 2015 thì giám đốc thẩm là xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị giám đốc thẩm khi có một trong những căn cứ sau đây:

- Kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự;

- Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng làm cho đương sự không thực hiện được quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình, dẫn đến quyền, lợi ích hợp pháp của

họ không được bảo vệ theo đúng quy định của pháp luật

- Có sai lầm trong việc áp dụng pháp luật dẫn đến việc ra bản án, quyết định không đúng, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, xâm phạm đến lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba Thời hạn yêu cầu giám đốc thẩm: Trong thời hạn 01 năm, kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, nếu phát hiện có vi phạm pháp luật trong bản

án, quyết định đó thì đương sự có quyền đề nghị bằng văn bản với người có thẩm quyền kháng nghị để xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm (khoản 1 Điều

327 BLTTDS năm 2015)

Thứ hai, đối với thủ tục Tái thẩm: Theo quy định tại Điều 351 BLTTDS năm

2015 thì tái thẩm là xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì có tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định mà Tòa án, các đương sự không biết được khi Tòa án ra bản

án, quyết định đó ( quy định tại Điều 352 BLTTDS năm 2015)

Trang 37

32

Đương sự hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân nếu phát hiện tình tiết mới thì thông báo bằng văn bản cho người có thẩm quyền kháng nghị Trường hợp phát hiện tình tiết mới của vụ án, Viện kiểm sát, Tòa án phải thông báo bằng văn bản cho người có thẩm quyền kháng nghị Quy định thời gian kháng nghị là 01 năm, kể từ ngày người có thẩm quyền kháng nghị biết được căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm quy định tại Điều 352 của BLTTDS năm 2015

1.3.4 Vai trò của pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án nhân dân

Hiện nay, nước ta trong giải đoạn phát triển kinh tế nên các giao dịch hàng hóa, tiền tệ trong xã hội diễn ra hàng ngày rất đa dạng, phong phú, đặc biệt trong các tổ chức tín dụng – nơi cung cấp vốn chủ yếu cho nền kinh tế Để bảo đảm an toàn về mặt pháp lý, các bên trong giao dịch chọn hình thức giao dịch thông qua hợp đồng tín dụng để ghi nhận sự thỏa thuận giữa các bên, là cơ sở để pháp luật bảo

về quyền lợi của các bên khi có tranh chấp Trong thực tiễn ra nhận thấy HĐTD ngân hàng có nhiều vấn đề phức tạp và chứa đựng nhiều yếu tố rủi ro nên rất dễ dẫn đến tranh chấp giữa các bên trong hợp đồng Khi lợi ích giữa các bên không đạt được, không thể cùng nhau thỏa thuận thì thông thường bên bị ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp sẽ làm thủ tục khởi kiện ra Tòa án để được pháp luật bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình

Việc giải quyết các tranh chấp phát sinh từ HĐTD của Tòa án đóng vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, giữ gìn an toàn xã hội và đặc biệt là góp phần đưa đất nước phát triển đi lên như mục tiêu của Đảng và Nhà nước ta đề ra Tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm cũng là nơi Tòa án thực hiện việc giáo dục pháp luật Thông qua hoạt động xét xử của Tòa án, những người tham dự phiên tòa biết rõ hơn các quy định của pháp luật được Tòa án

áp dụng giải quyết vụ án từ đó nâng cao được ý thức pháp luật của họ Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường hiện nay các giao dịch dân sự, đặc biệt là các giao dịch thông qua HĐTD ngân hàng diễn ra càng ngày càng nhiều trên phạm vi rộng, gây khó khăn cho việc giải quyết tranh chấp này ở Tòa án Trước tình hình đó cần hòan thiện hơn hệ thống pháp luật liên quan đến việc giải quyết tranh chấp HĐTD và

Trang 38

33

nâng cao vai trò của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp HĐTD dưới cả góc độ

lý luận và thực tiễn để có nhận thức toàn diện về cơ chế giải quyết tranh chấp này tại Tòa án là rất cần thiết

Tiểu kết chương

1 Sự phát triển kinh tế ở các cường quốc tiên tiến trên thế giới đã chỉ ra rằng: sự ổn định và phát triển hệ thống ngân hàng là một trong những điều kiện cơ bản của sự phát triển đó Để bảo đảm thiết lập hệ thống ngân hàng an toàn và hiệu quả, phát huy tích cực đối với nền kinh tế và các mối quan hệ trong đời sống xã hội đòi hỏi nhà nước phải sử dụng đồng bộ nhiều biện pháp, trong đó có pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực ngân hàng Ngược lại, để bảo vệ quyền

và lợi ích của mình thì các ngân hàng cũng luôn phải tuân thủ các chính sách tiền tệ quốc gia trong từng thời kỳ phát triển của nhà nước, tuân thủ các quy định của pháp luật để giảm thiểu rủi ro trong các hoạt động ngân hàng nói chung và giảm thiếu các tranh chấp phát sinh từ HĐTD ngân hàng nói riêng

2 Cùng với sự phát triển và ổn định chính sách tiền tệ tại các NHTM thì các tranh chấp phát sinh từ HĐTD ngân hàng cũng đang gia tăng đột biến, đặc biệt là trong giai đoạn nền kinh tế nước nhà trên đà suy thoái Các tranh chấp phát sinh từ HĐTD ngân hàng nếu không được giải quyết triệt để, kịp thời sẽ dẫn tới nguy cơ mất vốn của các NHTM, nợ xấu trong hệ thống ngân hàng tăng cao, ảnh hưởng không nhỏ tới thị trường tài chính tiền tệ

Tùy thuộc vào tính chất của các tranh chấp, mức độ tranh chấp phát sinh từ HĐTD ngân hàng mà các bên chủ thể có thể lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp nào phù hợp nhất trên cơ sở pháp luật cho phép và cùng có lợi Các hình thức giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD ngân hàng hiện nay được pháp luật quy định và bảo vệ là: tự thương lượng, trung gian hòa giải, giải quyết tại trọng tài và giải quyết tại cơ quan tòa án

Trong chương 1, luận văn đã tập trung nghiên cứu và làm rõ một số vấn đề

cơ bản về tranh chấp HĐTD, nguyên nhân dẫn đến tranh chấp HĐTD, quan niệm về giải quyết tranh chấp HĐTD, các phương thức giải quyết tranh chấp HĐTD và pháp

Ngày đăng: 28/06/2020, 22:59

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w