Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, đi
Trang 1HỒ CHÍ MINH HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
NGUYỄN XUÂN AN VIỆT
THÔNG TIN VỀ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRÊN BÁO IN Ở VIỆT NAM
(Khảo sát trên báo Nhân dân, Tuổi trẻ, Thanh niên, Giáo dục và Thời đại
từ 2005 đến 2010)
LUẬN ÁN TIẾN SỸ BÁO CHÍ HỌC
HÀ NỘI - 2019
Trang 2HỒ CHÍ MINH HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
NGUYỄN XUÂN AN VIỆT
THÔNG TIN VỀ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRÊN BÁO IN Ở VIỆT NAM
(Khảo sát trên báo Nhân dân, Tuổi trẻ, Thanh niên, Giáo dục và Thời đại
từ 2005 đến 2010)
Ngành: Báo chí học
Mã số: 9 32 01 01
LUẬN ÁN TIẾN SỸ BÁO CHÍ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Tuấn Phong
TS Lưu Hồng Minh
HÀ NỘI - 2019
Trang 3Tôi xin cam đoan trên đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Nguyễn Tuấn Phong và Tiến sĩ Lưu Hồng Minh Các số liệu, kết luận và các kết quả nghiên cứu nêu trong luận án trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào
Luận án sử dụng, kế thừa và phát triển một số tư liệu, số liệu, kết quả nghiên cứu từ các sách, giáo trình, tài liệu… liên quan đến nội dung đề tài nghiên cứu và được chú giải đầy đủ
Nếu sai tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm
Tác giả luận án
Nguyễn Xuân An Việt
Trang 4Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các thầy cô giáo khoa Báo chí, khoa Phát thanh- truyền hình, Học viện Báo chí Tuyên truyền đã truyền tải tri thức, tạo điều kiện thuận lợi giúp tôi trong suốt quá trình học tập cũng như hoàn thành luận án Đồng thời, tôi xin cảm ơn các nhà quản lý, lãnh đạo, các phóng viên các cơ quan báo chí đã chuyển tải những thông tin quý báo giúp tôi có cơ
sở tin cậy để hoàn thành luận án
Tác giả xin đặc biệt cảm ơn TS Nguyễn Tuấn Phong và TS Lưu Hồng Minh - đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ trong suốt quá trình thực hiện luận
án này
Mặc dù tác giả đã có nhiều cố gắng, song luận án không tránh khỏi những khiếm khuyết Tác giả mong sẽ tiếp tục nhận được sự chỉ bảo, giúp đỡ của các thầy cô để luận án được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn
Hà Nội, ngày tháng 11 năm 2018
Tác giả luận án
Nguyễn Xuân An Việt
Trang 5ĐT : Đào tạo
GD : Giáo dục GDĐT : Giáo dục và đào tạo GDTĐ : Giáo dục và Thời đại KHKT : Khoa học kỹ thuật NCS : Nghiên cứu sinh
TTĐC : Truyền thông đại chúng
Trang 6Bảng 2.1:Số bài lựa chọn về giáo dục - đào tạo trên các báo 76
Bảng 2.2: Phân loại nội dung thông tinGDĐT trên báo in 77
Bảng 2.3 :Số lượng bài về giáo dục và đào tạo được đề cập trên các báo in: “Nhân Dân” (ND), Tuổi trẻ (TT),” Thanh niên” (TN), “Giáo dục và Thời đại” (GDTĐ) từ năm 2005 đến năm 2010 77
Bảng 2.4 Tương quan giữa tính chất bài viết với các chủ trương, chính sách về giáo dục 80
Bảng 2.5 Thông tin về hoạt động đổi mới giáo dục các bậc học trên các báo 93
Bảng 2.6:Tần suất thể loại được sử dụng trên các báo 102
Bảng 2.7 Ngôn ngữ bài viếtvới thông tin về GDĐT 105
Biểu đồ 2.1 Tỷ lệ ý kiến về mục đích tiếp cận thông tin trên báo in (%) 82
Biểu đồ 2.2 Tỷ lệ ý kiến về mức độ quan tâm đến các loại thông tin GDĐT trên báo in (%) 83
Biểu đồ 2.3 Tỷ lệ nhân vật được nhắc đến trong thông tin phản biện chính sách 84
Biểu đồ 2.4 Tỷ lệ % bài viết có giải thích mô hình giảng dạy 88
Biểu đồ 2.5 Người đưa ra các mô hình giảng dạy 88
Biểu đồ 2.6 Nguyên nhân của các câu chuyện tích cực 91
Biểu đồ 2.7 Bài viết có hoặc không đề cập đến hướng giải quyết 93
Biểu đồ 2.8 Tương quan giới tính và đánh giá nội dung thông tin trên báo in hiện nay (%) 98
Biểu đồ 2.9: Nhận xét chung về chất lượng nội dung TT GDĐT trên báo in 108
Biểu đồ 2.10 Đánh giá mức độ thiết thực của thông tin trên báo in(%) 114
Biểu đồ 2.11: Đề xuất kiến nghị đối với TT GDĐT trên báo in 116
Hình 3.1 Mô hình thông tin GDĐT trên báo in 141
Trang 7MỞ ĐẦU 1
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 18
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN THÔNG TIN VỀ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRÊN BÁO IN 33
1.1 Các khái niệm liên quan đến đề tài 33
1.2 Đặc điểm và vai trò của thông tin về giáo dục và đào tạo trên báo in 43
1.3 Cơ sở chính trị và pháp lý của thông tin giáo dục đào tạo trên báo in 60
1.4 Những yêu cầu đối với thông tin về giáo dục và đào tạo trên báo in 63
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THÔNG TIN VỀ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRÊN BÁO IN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 71
2.1 Tổng quan về các cơ quan báo in trong diện khảo sát 71
2.2 Khảo sát thông tin về giáo dục và đào tạo trên các báo 75
2.3 Đánh giá thông tin về giáo dục đào tạo trên các báo khảo sát 107
2.4 Nguyên nhân ảnh hưởng đến thông tin về giáo dục đào tạo trên báo in 118
CHƯƠNG 3 NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA, GIẢI PHÁP VÀ KHUYẾN NGHỊ THÔNG TIN VỀ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRÊN BÁO IN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 124
3.1 Những vấn đề đặt ra đối với thông tin về giáo dục và đào tạo trên báo in 124
3.2 Giải pháp thông tin về giáo dục và đào tạo trên báo in 129
3.3 Một số khuyến nghị khoa học 149
KẾT LUẬN 155
CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 160
TÀI LIỆU THAM KHẢO 161
PHỤ LỤC 168
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Giáo dục và đào tạo là một lĩnh vực hết sức quan trọng trong đời sống chính trị của mỗi nước, là biểu hiện trình độ, nền tảng phát triển của mỗi quốc gia Vì vậy, ngay từ khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã khẳng định “một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” Do đó, Đảng
và Nhà nước ta xác định Giáo dục và đào tạo là một nhiệm vụ quan trọng của cách mạng Việt Nam Bắt đầu từ của Đại hội lần thứ IV (1976) Đảng ta đã ra Quyết định số 14-NQTƯ về cải cách giáo dục với tư tưởng, trong đó có những nội dung cơ bản là: Xem giáo dục là bộ phận quan trọng của cuộc cách mạng tư tưởng; thực thi nhiệm vụ chăm sóc và giáo dục thế hệ trẻ từ nhỏ đến lúc trưởng thành; thực hiện tốt nguyên lý giáo dục học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội
Tư tưởng chỉ đạo trên được phát triển bổ sung, hoàn thiện phù hợp với yêu cầu thực tế qua các kỳ Đại hội VI, VII, VIII, IX, X của Đảng cộng sản Việt Nam Cụ thể Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII xác định, phát triển giáo dục
và đào tạo cùng với khoa học công nghệ được xác định là quốc sách hàng đầu,
do vậy, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X tiếp tục khẳng định giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, phát triển giáo dục và đào tạo là một động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản
để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững
Trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, nguồn lực con người Việt Nam càng trở nên có ý nghĩa quan trọng, quyết định sự thành công của công cuộc phát triển đất nước Giáo dục ngày càng có vai trò và nhiệm vụ quan trọng trong việc xây dựng một thế hệ người Việt Nam mới, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu, kết quả, góp phần quan trọng vào thắng lợi của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, giáo dục đã bộc lộ những yếu kém, bất cập, trong
đó có những vấn đề gây bức xúc xã hội kéo dài, chưa đáp ứng được yêu cầu của
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế Chính sách về GDĐT trong thời gian qua thiếu đồng bộ, còn chắp vá; nhiều cơ chế, giải pháp
Trang 9về giáo dục đã từng có hiệu quả, nay trở nên không còn phù hợp với giai đoạn phát triển mới của đất nước, cần được điều chỉnh, bổ sung
Nghị quyết Số: 29-NQ/TW ban hành ngày 4/11/2013 “Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế" được hội nghị trung ương 8 (khóa XI) thông qua Nghị quyết đã nêu được những thành tựu quan trọng của Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII và các chủ trương của Đảng, Nhà nước về định hướng chiến lược phát triển giáo dục-đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lĩnh vực giáo dục và đào tạo nước ta, góp phần to lớn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Cụ thể là: Đã xây dựng được hệ thống giáo dục và đào tạo tương đối hoàn chỉnh từ mầm non đến đại học Cả nước đã hoàn thành mục tiêu xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học vào năm 2000; phổ cập giáo dục trung học cơ sở vào năm 2010… Tuy nhiên, chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo còn thấp so với yêu cầu, nhất là giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp Quản lý giáo dục và đào tạo còn nhiều yếu kém Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục bất cập về chất lượng, số lượng và cơ cấu… Do đó, Nghị quyết đã đưa ra quan điểm chỉ đạo:
“Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước
và của toàn dân Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ sở giáo dục-đào tạo và việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân người học; đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học.”
Do vậy, giai đoạn trước năm 2010 là năm “trước thềm” đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục nước nhà, cho nên cần có những nghiên cứu, khảo sát toàn diện công tác thông tin, tuyên truyền trên báo chí làm cơ sở tham mưu cho các nhà quản lý xây dựng và hoạch định chính sách mới
Với ý nghĩa như vậy, lĩnh vực giáo dục và đào tạo cũng được báo giới trong và ngoài nước đặc biệt quan tâm thông tin, tuyên truyền Báo chí đã đóng
Trang 10một vai trò quan trọng đối với sự phát triển và đổi mới của giáo dục trong những năm qua Báo chí đã thể hiện tích cực trong việc tuyên truyền các chủ trương, đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước về giáo dục, các quyết sách, chỉ đạo của ngành giáo dục; thông tin các vấn đề liên quan đến giáo dục; đồng thời còn thể hiện là một diễn đàn quan trọng của giáo viên, các nhà khoa học, các nhà quản lý bàn về lĩnh vực giáo dục và đào tạo; là kênh thông tin của hàng triệu học sinh, sinh viên, giáo viên và các tầng lớp nhân dân trên cả nước; góp phần phát triển nền giáo dục nước nhà
Có thể nói, những năm qua báo chí đã tác động mạnh mẽ, tích cực đến lĩnh vực giáo dục và đào tạo, đến các quyết sách và thực hiện những đổi mới
tích cực của ngành giáo dục, với hàng loạt những vấn đề tiêu biểu như: Cuộc vận động “Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục”, đổi mới thi tốt nghiệp Trung học phổ thông và Tuyển sinh đại học, đổi mới phương pháp giảng dạy của giáo viên các cấp…
Vấn đề giáo dục đã luôn được báo chí quan tâm, bám sát và thông tin kịp thời, hầu hết các tờ báo lớn đều dành thời lượng đáng kể phản ánh về giáo dục trong mỗi số báo, trang báo, chuyên mục Trong đó, nội dung được phản ánh đa dạng, nhiều mảng khác nhau của giáo dục từ mầm non đến đại học và sau đại học, các vấn đề quản lý giáo dục… Vai trò và hiệu quả tác động của thông tin về giáo dục và đào tạo trên báo chí nói chung và báo in nói riêng những năm qua đã được khẳng định, một lĩnh vực có vị trí hết sức quan trọng được Đảng, Nhà nước ta xác định là quốc sách hàng đầu Vì vậy, đòi hỏi thông tin về giáo dục và đào tạo trên báo chí ngày càng phải được thực hiện một cách có hiệu quả, góp phần làm cho lĩnh vực giáo dục phát triển, đáp ứng yêu cầu đổi mới của đất nước
Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục là một công việc hết sức trọng đại Chính bởi vậy, TT về GDĐT là một trong những đề tài thu hút nhiều sự quan tâm của công chúng và cũng đã gây ra nhiều tranh cãi trong suốt những năm gần đây Do đó không ít các tờ báo đã khai thác, tìm hiểu, đăng tải thông tin khá kỹ lưỡng về nội dung này, cung cấp cho độc giả mọi thông tin về từng bước phát triển, thực hiện đổi mới giáo dục Các báo đã góp phần tuyên truyền, quán triệt sâu rộng các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, các định hướng và nhiệm vụ chủ yếu của ngành giáo dục; góp phần mở rộng tầm nhìn cho công
Trang 11chúng, cung cấp thông tin nhằm giúp công chúng nắm được tiến trình đổi mới giáo dục ở nước ta; thống nhất về nhận thức, tạo sự đồng thuận và huy động sự tham gia đánh giá, giám sát và phản biện của toàn xã hội đối với công cuộc phát triển giáo dục Nhưng bên cạnh đó, các báo vẫn còn những hạn chế nhất định trong thông tin về GDĐT như hình thức thông tin còn kém hấp dẫn, thông tin còn hời hợt, kém chất lượng
Chính vì vậy, tôi đã lựa chọn đề tài: “Thông tin về giáo dục và đào tạo
trên báo in ở Việt Nam” (khảo sát báo Nhân dân, Tuổi trẻ , Thanh niên, Giáo
dục và Thời đại từ năm 2005 đến 2010), đồng thời với thời điểm hoàn thành
luận án của tác giả vào năm 2017 nên tác giả đã mở rộng nghiên cứu thông tin
về giáo dục và đào tạo từ năm 2010 đến 2017 để nghiên cứu Có thể nói, đây là một yêu cầu bức xúc và cần thiết, nhằm phát huy được hiệu quả thông tin về lĩnh vực giáo dục và đào tạo trên báo chí, đặc biệt là công cuộc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo hiện nay đang được thực hiện
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống hóa những vấn đề cơ sở lý luận thông tin về giáo dục và đào tạo trên báo, khảo sát thực trạng, đánh giá ưu điểm hạn chế về nội dung và hình thức của thông tin về GDĐT trên báo in, từ đó đề xuất các giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng thông tin về GDĐT, và đề xuất mô hình thông tin về giáo dục và đào tạo để có thể ứng dụng trên báo in ở Việt Nam hiện nay
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, tác giả luận án thực hiện nhiệm vụ cụ thể như sau: -Xây dựng hệ thống lí luận và thực tế làm cơ sở triển khai đề tài Hệ thống hoá những vấn đề lý luận thông tin về GDĐT trên báo in ở Việt Nam Cụ thể: làm rõ các khái niệm liên quan; khẳng định vai trò và đặc điểm của thông tin về GDDT trên báo in; chỉ ra mô hình thông tin về giáo dục và đào tạo trên báo in; đưa ra những yêu cầu khi thông tin về giáo dục và đào tạo trên báo chí
- Khảo sát, đánh giá thực trạngTT về GDĐT trên báo in, về tần suất, nội dung, hình thức và phương thức thông tin
Trang 12- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin về GDĐT trên báo in Luận án chỉ ra những nhận định về chất lượng thông tin về giáo dục và đào tạo trên báo in ở Việt Nam hiện nay
-Nêu những vấn đề đặt ra và giải pháp, khuyến nghị, đồng thời đề xuất
mô hình thông tin về giáo dục và đào tạo để có thể ứng dụng trên báo in ở Việt Nam hiện nay
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu thông tin về giáo dục và đào tạo trên báo in
3.2 Phạm vi khảo sát
Luận án khảo sát thông tin về giáo dục và đào tạo trên các báo: Nhân Dân, Giáo dục và Thời đại, Tuổi trẻ và Thanh niên
Tác giả lựa chọn các báo trên khảo sát vì:
- Báo Nhân Dân: cơ quan Trung ương của ĐCS Việt Nam, tiếng nói của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam, đại diện cho tờ báo tuyên truyền, phản ánh và thông tin các chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước nói chung, trong đó có các chủ trương, chính sách, pháp luật về giáo dục
- Báo Giáo dục và Thời đại: là tiếng nói của ngành Giáo dục, thực hiện chức năng phục vụ công tác điều hành quản lý của Bộ Giáo dục và Đào tạo
- Thanh niên là tờ báo của Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, có chuyên trang giáo dục và có ảnh hưởng mạnh trong xã hội với số lượng phát hành báo hơn 300.000 bản/ngày, có thời điểm lên đến 400.000 bản/ngày
- Tuổi trẻ là tờ báo của Thành Đoàn TP Hồ Chí Minh Báo có chuyên trang giáo dục riêng và cũng là một trong những tờ báo có ảnh hưởng với xã hội, đặc biệt là công chúng phía Nam với số lượng phát hành 400.000 bản/ngày
Tổng hợp các tin bài phản ánh trên 4 tờ báo trên, ngành Giáo dục cơ bản
có thể tìm thấy câu trả lời cho các vấn đề về thông tin giáo dục và đào tạo đang cần có thêm ý kiến của dư luận xã hội Tất nhiên, trước những vấn đề đổi mới mạnh mẽ, vấn đề nhạy cảm của giáo dục, cơ quan quản lý giáo dục các cấp không chỉ dựa vào 4 tờ báo trên để nắm thông tin, mà còn phải lắng nghe ý kiến
từ công chúng, từ nhiều loại hình báo chí khác
Phạm vi nghiên cứu đề tài là thông tin về GDĐT trên loại hình báo in
Trang 13Thời gian khảo sát: từ tháng 01/ 2005 đến tháng 12/ 2010 (Thông tin mở
Luận án nghiên cứu dựa trên cơ sở các lý thuyết như:
-Lý thuyết truyền thông
Một số lý thuyết truyền thông: lý thuyết xâm nhập xã hội; lý thuyết xét đoán xã hội; lý thuyết học tập; lý thuyết truyền bá cái mới; lý thuyết thuyết phục; lý thuyết truyền thông điệp cho đối tượng; lý thuyết sử dụng; lý thuyết
sử dụng và hài lòng
Trong môi trường thông tin, lý thuyết “Sử dụng và hài lòng” coi việc có đáp ứng được nhu cầu của công chúng hay không là tiêu chuẩn cơ bản để đánh giá hiệu quả truyền thông, giác độ này có ý nghĩa vô cùng quan trọng
Thứ nhất, hành vi tiếp xúc với truyền thông của công chúng là hoạt động
lựa chọn những nội dung trên phương tiện truyền thông dựa trên nhu cầu của công chúng, sự lựa chọn này có “tính linh hoạt” nhất định, điều này có lợi cho việc điều chỉnh quan điểm “công chúng hoàn toàn bị động” thành công chúng là người hoàn toàn chủ động tiếp nhận thông tin trong môi trường truyền thông hiện đại
Thứ hai, lý thuyết này nhấn mạnh tính đa dạng trong cách thức sử dụng
phương tiện truyền thông của công chúng, đồng thời chỉ rõ vai trò chi phối của nhu cầu công chúng đối với hiệu quả truyền thông
Thứ ba, lý thuyết “Sử dụng và hài lòng” chỉ ra rằng, truyền thông đại
chúng có hiệu quả cơ bản đối với công chúng, đây cũng là một sự bổ trợ có ích cho “lý thuyết hiệu quả truyền thông hữu hạn” mà thập kỷ 1940 - 1960 nhấn mạnh quá nhiều về tính phi hiệu quả của truyền thông đại chúng Xét từ giác độ này, một số học giả coi nó là lý thuyết “hiệu quả thích hợp” Tuy nhiên, lý thuyết “Sử dụng và hài lòng” cũng có những bất cập của nó, bởi nó nhấn mạnh
Trang 14quá nhiều về nhân tố cá nhân và tâm lý, mang đậm màu sắc chủ nghĩa hành vi Mặt khác, lý thuyết này chỉ khảo sát đơn thuần hành vi tiếp xúc với phương tiện truyền thông của công chúng, do đó không thể chỉ ra một cách toàn diện mối quan hệ xã hội giữa công chúng và truyền thông Tuy nhiên, nhà phê bình người Anh D.Morley cho rằng, hoạt động sản xuất thông tin của cơ quan truyền thông là một quá trình mã hóa, quá trình này bị chi phối bởi lợi ích và hình thái ý thức của
cơ quan truyền thông Trong khi hành vi tiếp xúc với phương tiện truyền thông của công chúng lại là một quá trình giải mã ký hiệu, quá trình bị chi phối bởi bối cảnh
xã hội, văn hóa và hình thái ý thức của công chúng, giữa hai quá trình này chắc chắn tồn tại mối quan hệ phức tạp mâu thuẫn, xung đột hoặc thỏa hiệp
Trong môi trường thông tin, lý thuyết “sử dụng và hài lòng” đóng vai trò quan trọng, có thể giúp chúng ta hiểu sâu hơn về công chúng hiện đại, từ đó giúp các cơ quan báo chí thay đổi các phương thức tác nghiệp, cung cấp cho xã hội những sản phẩm báo chí truyền thông phù hợp với thời đại
Bản chất xã hội của truyền thông quá trình giao tiếp xã hội, quá trình liên kết xã hội và quá trình can thiệp xã hội Nói cách khác, đó là quá trình biện chứng Con người sau khi được truyền thông xã hội hóa có thể trở nên văn minh hơn và khi con người, xã hội càng phát triển thì nhu cầu, năng lực và khả năng đáp ứng của truyền thông càng cao [ 37; tr.120]
Quá trình truyền thông là sự truyền đi của các thông điệp (ý nghĩ, thông tin, tư tưởng, ý tưởng, ý kiến, kiến thức ) từ một người hay một nhóm người đến người khác hay một nhóm người khác bằng lời nói, hình ảnh, văn bản hoặc các tín hiệu khác Chính vì vậy, truyền thông liên quan đến việc làm thế nào để liên kết các yếu tố như người nhận, người gửi, cách mã hóa và cách giải mã, các kênh và các phương tiện truyền thông nhằm đảm bảo cho tính chính xác và hiệu quả của quá trình truyền thông
- Lý thuyết xã hội học truyền thông đại chúng
Dưới góc độ của xã hội học thì truyền thông đại chúng được coi như là
một quá trình xã hội Đó là quá trình truyền đạt thông tin một cách rộng rãi ra
công chúng trong xã hội thông qua các PTTTĐC như báo in, phát thanh, truyền hình, báo mạng điện tử
Trang 15Nhà xã hội học Max Weber đã chỉ rõ tác động của truyền thông đại chúng Theo ông, truyền thông đại chúng là một quá trình xã hội do nó có sự liên kết bởi nhiều yếu tố như: nguồn tin, thông điệp và người nhận và chúng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau [ 59 ]
Một số tác giả khác cho rằng truyền thông đại chúng là một quá trình xã hội, đó là quá trình truyền tải thông tin ra công chúng thông qua các phương tiện truyền thông, được liên kết chặt chẽ bởi các yếu tố: nguồn tin, thông điệp và người nhận Thiếu một trong ba yếu tố này, hiệu ứng xã hội sẽ không xảy ra khi các kênh truyền thông đại chúng truyền thông điệp mà không có người nhận[71]; [72]
Cũng theo các tác giả, truyền thông đại chúng là một quá trình xã hội đặc thù bao gồm ba thành tố sau đây: 1) Hoạt động truyền thông (săn tin, quay phim, chụp ảnh, viết bài, biên tập và cuối cùng là xuất bản, hoặc phát sóng), 2) Các nhà truyền thông (bao gồm các tổ chức truyền thông như báo chí, đài phát thanh, đài truyền hình và những người làm công tác truyền thông như nhà báo, phóng viên, biên tập viên, phát thanh viên ), 3) Và đại chúng (các tầng lớp công
chúng rộng rãi)
Chẳng hạn, khi chúng ta mở máy tính, máy tính bảng, điện thoại di động xem tin tức trên một tờ báo thì hành vi đó đã nằm trong quá trình truyền thông đại chúng Thế nhưng nếu chúng ta cũng mở những loại phương tiện trên nhưng lại để xem một tập ảnh chụp chung với gia đình hay bạn bè, thì hành động này lại không được coi là nằm trong quá trình truyền thông đại chúng, bởi một lẽ đơn giản là tập dữ liệu này được chụp và truyền phát trong khuôn khổ cá nhân
mà thôi
Nói cách khác, điểm then chốt trong việc xác định xem một hành vi có nằm trong quá trình truyền thông đại chúng hay không không phải là cái màn hình điện thoại di động hay máy tính, máy tính bảng mà là cần xem xét coi hành
vi ấy có nằm trong quá trình truyền tải thông tin ra rộng rãi công chúng thông qua các PTTTĐC hay không
Trong một số hướng nghiên cứu của xã hội học có hướng nghiên cứu về các nhà tuyên truyền với vai trò là một nhóm xã hội- nghề nghiệp trong cơ cấu
Trang 16xã hội Do đó, tác giả tìm hiểu các vấn đề nghiên cứu về báo chí được tiếp cận, xem xét như thế nào từ góc độ xã hội học, làm cơ sở cho việc đánh giá cụ thể về cách thức hoạt động của nhà truyền thông
- Lý thuyết báo chí học
Theo Siebert trong cuốn sách về Bốn lý thuyết về báo chí, báo chí mang
hình thức và màu sắc của các cấu trúc xã hội và chính trị trong đó nó hoạt động Báo chí và các phương tiện truyền thông khác, trong quan điểm của họ, sẽ phản
ánh “niềm tin căn bản và giả định rằng xã hội nắm giữ” Để nhìn nhận sự khác
biệt của hệ thống báo chí giữa các nước một cách toàn diện nhất, phải nhìn vào
hệ thống xã hội mà chúng đang hoạt động Để xem xét hệ thống xã hội trong mối quan hệ với báo chí, phải xem xét những niềm tin và quan niệm cơ bản của
xã hội đó: đặc tính của con người, xã hội, đất nước, mối quan hệ giữa con người
và đất nước đó, của tri thức và sự thật
Báo chí biểu hiện vai trò trong đời sống xã hội trên nhiều lĩnh vực như: Chính trị, kinh tế, văn hoá – xã hội
Chức năng của báo chí: Thông tin, tư tưởng, khai sáng, giải trí quản lý, giám sát và phản biện xã hội, kinh tế, dịch vụ
- Lý thuyết thiết lập chương trình nghị sự
Lý thuyết “thiết lập chương trình nghị sự” (Agenda setting) do hai chuyên
gia truyền thông Maxwell McCombs và D.Shaw (Mỹ) đưa ra Lý thuyết này mô
tả khả năng ảnh hưởng của giới truyền thông đối với công chúng thông qua các phương tiện truyền thông Trong xã hội, nếu một tin tức nào đó được nhắc tới thường xuyên, liên tục và nổi bật, công chúng sẽ nhớ tới và coi nó quan trọng hơn những thông tin khác Do vậy, chức năng “thiết lập chương trình nghị sự” là một giả thiết quan trọng trong các lý thuyết truyền thông Điểm nổi bật của lý thuyết này là truyền thông đại chúng có một chức năng sắp đặt “chương trình nghị sự” cho công chúng, các bản tin và hoạt động đưa tin của cơ quan báo chí truyền thông ảnh hưởng đến sự phán đoán của công chúng tới những “chuyện đại sự” của thế giới xung quanh và tầm quan trọng của chúng bằng cách làm cho các “chương trình” nét nổi bậtkhác nhau, từ đó có thể tác động và tạo ra sự dẫn đường trong tương lai.Lý thuyết cho rằng Truyền thông đại chúng (trong đó có
Trang 17báo chí) có chức năng sắp đặt “chương trình nghị sự” cho công chúng Lý thuyết còn chỉ ra rằng, việc đưa tin về thế giới bên ngoài của cơ quan truyền thông là lựa chọn có mục đích
Theo McCombs & Shaw‟s study (1972), cho rằng các cơ quan báo chí truyền thông (dựa vào giá trị quan và mục đích tôn chỉ, đồng thời căn cứ vào môi trường thực tế để) “lựa chọn” vấn đề hoặc nội dung mà họ coi là quan trọng
để cung cấp cho công chúng, chứ không phải cung cấp những thông tin mà công chúng cần McCombs (1994) gần đây cho rằng hiệu ứng của thuyết này rất mạnh khi công chúngkhông biết hay không có kinh nghiệm trực tiếp về vấn đề, khi họ phụ thuộc nhiều hơn vào các phương tiện truyền thông để hiểu tình hình
Lý thuyết “thiết lập chương trình nghị sự” không đánh giá hiệu quả truyền thông trong thời gian ngắn của một hãng truyền thông nào đó đối với một sự kiện cụ thể, mà đánh giá về hiệu quả xã hội lâu dài, tổng hợp ở tầm vĩ mô của cả ngành truyền thông được tạo ra sau khi đưa ra hàng loạt bản tin trong một quãng thời gian khá dài
Các cơ quan báo chí truyền thông dựa vào giá trị quan và mục đích tôn chỉ, đồng thời căn cứ vào môi trường thực tế để “lựa chọn” vấn đề hoặc nội dung mà họ coi là quan trọng nhất để sản xuất và cung cấp cho công chúng những thông tin “đúng sự thật”
Thiết lập chương trình nghị sự về TT GDĐT trên báo in gồm 2 khía
cạnh: Một là, báo in là chủ thể của các TT về GDĐT Hai là, báo in là trung
gian tổ chức thu thập và công bố TT về GDĐT Báo in luôn chủ trì về mặt truyền thông, “lựa chọn” vấn đề hoặc nội dung mà họ coi là quan trọng để cung cấp cho công chúng
4.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Là phương pháp tác giả sử dụng khảo
sát các văn bản, chỉ thị, nghị quyết và các công trình khoa học, sách, báo…nhằm mục đích tìm cơ sở cho việc xây dựng khung lý thuyết về TT về GDĐT trên báo in; đặc điểm, vai trò TT GDĐT trên báo in; mô hình TT GDĐT trên báo in và những yêu cầu về TT GDĐT trên báo in Đồng thời, tác giả tìm hiểu kết quả nghiên cứu của một số công trình khoa học có thể hữu ích cho việc đối chiếu và
Trang 18tham khảo trong khuôn khổ công trình nghiên cứu này, các công trình đó có thể làm cơ sở cho việc đánh giá các kết qua khảo sát, tìm ra các giải pháp khoa học cho vấn đề nghiên cứu
- Phương pháp điều tra xã hội học: Mục tiêu của phương pháp này là thu
nhận các nhận xét, đánh giá của các nhóm công chúng khi tiếp nhận thông tin GDĐT trên các báo trong diện khảo sát Tìm hiểu TT về GDĐT trên báo in đã đáp ứng nhóm công chúng ở mức độ nào Chúng tôi đề ra một bảng câu hỏi (anket) phát cho đối tượng tại Hà Nội, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh, tổng
số phiếu là 500 phiếu, bao gồm: Hà Nội 180 phiếu, Đà Nẵng 140 phiếu, thành phố Hồ Chí Minh 180 phiếu Số phiếu thu về sau điều tra là 483 phiếu
Các đối tượng cụ thể: Ở mỗi thành phố chúng tôi lựa chọn đối tượng để phát phiếu như sau: học sinh (chọn 1 trường THPT, 1 trường THCS, mỗi trường
1 lớp), sinh viên (chọn 3 trường đại học ở 3 thành phố thuộc 3 khối A, B, C, mỗi trường 1 lớp), giáo viên (chọn 1 số giáo viên Tiểu học, Phổ thông và đại học), cán bộ quản lý giáo dục (Hiệu trưởng đại học, phổ thông, sở Giáo dục và Đào tạo, Vụ trưởng Vụ chuyên môn của Bộ Giáo dục và Đào tạo), người dân (phụ huynh học sinh Tiểu học, Trung học cơ sở, Trung học phổ thông, đại học), theo
đó có các cứ liệu và cơ sở giúp tác giả thực hiện luận án
Với những phiếu điều tra bằng bảng hỏi (anket), chúng tôi sử dụng phần mềm xử lý số liệu định lượng SPSS 16.0
- Phương pháp phỏng vấn sâu (Phỏng vấn chuyên gia): với hình thức
phỏng vấn đặt câu hỏi với 20 đến 30 người trả lời là những đối tượng: lãnh đạo
cơ quan quản lý báo chí (Tổng biên tập một tờ báo, trưởng, phó ban giáo dục của báo): 04 mẫu; phóng viên theo dõi giáo dục (các phóng viên hiện đang theo dõi giáo dục được các báo giới thiệu đến Bộ Giáo dục và Đào tạo): 10 mẫu; Công chúng (Chọn trong số những người điều tra XHH, mỗi thành phố chọn 2-3 người bất kỳ, thường xuyên đọc thông tin về GDĐT hoặc liên quan đến lĩnh vực GDĐT như giáo viên, quản lý giáo dục, học sinh, sinh viên…): 08 mẫu Từ đó, tập hợp các cứ liệu thực tế phục vụ cho đề tài nghiên cứu
Với phương pháp phỏng vấn sâu, chúng tôi sử dụng phần mềm xử lý dữ liệu định tính Nvivo 8.0
Trang 19- Phương pháp quan sát: tiến hành khi thực hiện phỏng vấn sâu, điều tra
xã hội học và tiến hành các nghiên cứu Mục đích để xem xét hoạt động của các
cơ quan báo in, hoạt động tiếp nhận thông tin GDĐT của công chúng; các biểu hiện về nhận thức, thái độ, hành vi của công chúng và những người xây dựng các sản phẩm báo chí liên quan đến vấn đề nghiên cứu Kết quả quan sát sẽ là cơ
sở để thực hiện nghiên cứu đề tài
- Phương pháp phân tích nội dung văn bản
- Mô tả về phương pháp: Phân tích nội dung văn bản là phương pháp phân tích tài liệu bài viết (có thể dưới dạng in ấn hoặc nghe nhìn) nhằm lượng hoá nội dung một cách có hệ thống, có thể nhân rộng dựa trên các tiêu chuẩn đã được xác định Phân tích nội dung được đề cập ở đây (phân tích nội dung định lượng) khác với hai phương pháp phân tích nội dung thông tin khác đó là (1) Ký hiệu học – một phương pháp phân tích văn bản và các hiệu tượng khác nhấn mạnh việc tìm kiếm ý nghĩa sâu xa của các hiện tượng này; (2) Phân tích nội dung mang tính dân tộc học, phương pháp tiếp cận văn bản theo hướng nhận mạnh vai trò của người điều tra trong việc xây dựng ý nghĩa của bài viết và trong toàn bộ quá trình phân tích nó Phương pháp này được xem là phương pháp phân tích định tính trong đó yếu tố ngữ cảnh đóng vai trò quan trọng trong việc phân loại
số liệu và xây dựng các ý nghĩa
Bước tiếp theo của phần phân tích định lượng là phải quyết định xem cần xem xét những gì Tất nhiên, việc quyết định phải xem xét cái gì trong quá trình phân tích nội dung bị ảnh hưởng các câu hỏi nghiên cứu Các vấn đề chung thường được tính đến khi phân tích là: (1) Các nhân vật quan trọng (Ai viết, ai là tiêu điểm- đặc điểm nổi bật nhất về họ là gì, ai có những ý kiến khác Trong ngữ cảnh đưa tin của phương tiện truyền thông đại chúng, các nhận vật chủ yếu trong các tin bài và đặc điểm của họ là những yếu tố quan trọng để mã hoá; (2)
Từ ngữ- việc đếm tần số xuất hiện của một số từ đôi khi được thực hiện trong phân tích nội dung có thể mang lại một số ý nghĩa nào đó vì nó có thể chỉ ra xu hướng giật gân hoá một số sự kiện; (3) Chủ đề và ý nghĩa – đó là việc phân loại các hiện tượng và các hiện tượng được quan tâm Tuy nhiên, nhà nghiên cứu không chỉ phân loại dựa vào nội dung hiển nhiên mà còn cả những nội dung ẩn
ý Cần dò tìm dưới bề mặt để đặt câuhoir sâu hơn về những sự việc đang diễn ra;
Trang 20(4) Khuynh hướng cũng là vấn đề mà các nhà nghiên cứu quan tâm tìm kiếm khi phân tích nội dung Đó là sự thay đổi, mối quan tâm, niềm tin hay các nguyên tắc
Mã hoá là bước trung tâm và đặc biệt nhất của phân tích nội dung Có 2 yếu tố chính trong bước này là thiết một một bảng mã và thiết kế một sổ tay mã hoá Bảng mã là một biểu/ bảng mẫu trong đó có tất cả các số liệu kiên quan tới một vấn đề được mã hoá được điền vào Bảng này được đơn giản hoá để hỗ trợ các tranh luận về các nguyên tắc mã hoá trong phân tích nội dung và nguyên tắc xây dựng bảng mã nói riêng Mỗi cột trong bảng mã sẽ là một khía cạnh được
mã hoá Đầu đề của các cột sẽ là các khía cạnh được mã hoá, các cột sẽ được đánh số Mỗi mẫu sẽ dùng cho một bài được mã hoá Các mã số sau đó có thể được chuyển thành một tệp sữ liệu máy tính cho việc phân tích bằng phần mềm SPSS Để giúp điềm thông tin đúng và thống nhất vào bảng mã này, cần có sổ tay mã hoá Sổ tay mã hoá là các hướng dẫn chi tiết cho người thực hiện mã hoá
Trong luận án này, tất cả các bài viết về Giáo dục đào tạo được xem xét
kỹ lưỡng trên 4 tờ báo in Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Nhân Dân, Giáo dục và Thời đại trong thời gian từ năm 2005 đến năm 2010
- Mẫu nghiên cứu bao gồm các thông tin về các tờ báo được lựa chọn để phân tích, hình thức đăng tải, chuyên mục đăng tải, nguồn và thời gian đăng tải Các thông tin này giúp người nghiên cứu có một cái nhìn tổng thể về mẫu nghiên cứu
- Cách thức chọn mẫu: Tất cả các bài báo liên quan, đề cập đến GDĐT trong khoảng thời gian nghiên cứu đều được sưu tầm Với phương pháp lẫy mẫu ngẫu nhiên hệ thống từ 26875 tin, bài về GDĐT trong 5 năm, tác giả lựa chọn 720 tin, bài để phân tích (Mỗi báo chọn 180 tin, bài) Trong trường hợp những bài viết trùng nhau được đăng tải trên nhiều báo sẽ lựa chọn ngẫu nhiên một bài bất kỳ, không lấy tất cả các bài báo trùng nhau hoàn toàn trong mẫu nghiên cứu Trong trường hợp giống nhau nội dung hay tiêu đề nhưng có sự khác biệt về cách phân tích hoặc thể hiện trong bài báo thì đều được chọn trong mẫu nghiên cứu
Thông tin thu thập từ các bảng mã viết về Giáo dục và đào tạo trên 4 báo được mã hoá, nhập và xử lý bằng chương trình SPSS 16.0 Sau khi làm sạch số
Trang 21liệu sẽ tiến hành biến đổi các số liệu để phục vụ cho việc lượng hoá các nhóm vấn đề có liên quan đến GDĐT và đánh giá các bài viết về GDĐT
- Phương pháp phân tích diễn ngôn: Diễn ngôn là cách nói năng, phương
thức biểu đạt của con người, thế giới về các sự việc trong đời sống Do đó, nghiên cứu diễn ngôn là nghiên cứu ngôn ngữ Nhưng diễn ngôn không phải là hình thức mà là tư tưởng- tư tưởng trong dạng thức thực tiễn, trên kênh truyền thông đại chúng
Theo Sara Mills trong Discourse, có thể thấy ba cách định nghĩa khác
nhau về diễn ngôn trong các trước tác của Foucault Thứ nhất, diễn ngôn được coi là tất cả các nhận định nói chung, đó là tất cả các phát ngôn hoặc văn bản có nghĩa và có một hiệu lực nào đó trong thế giới thực Thứ hai, diễn ngôn là một nhóm các diễn ngôn cụ thể, được qui ước theo một cách thức nào đó và có một mạch lạc hoặc một hiệu lực nói chung, “được nhóm lại với nhau bởi một áp lực mang tính thiết chế nào đó, bởi sự tương tự giữa xuất xứ và bối cảnh hay bởi chúng cùng hành động theo một cách gần giống nhau” Ví dụ, diễn ngôn nữ giới
là một nhóm các diễn ngôn có chung một hiệu lực là nhằm phản kháng lại diễn ngôn về phụ nữ của đàn ông, diễn ngôn chủ nghĩa đế quốc là nhóm các diễn ngôn có chung một hiệu lực là áp đặt quyền lực thực dân lên những xứ sở thuộc địa… Thứ ba, diễn ngôn là một thực tiễn sản sinh ra vô số các nhận định và chi phối việc vận hành của chúng Diễn ngôn không chỉ được coi như “một cái gì tồn tại cố hữu, tự thân và có thể được phân tích một cách cô lập, là những qui tắc và cấu trúc nhằm tạo ra những phát ngôn và những văn bản cụ thể Đó là một
hệ thống của “những tư tưởng, quan điểm, khái niệm, cách thức tư duy và hành
xử, những cái được hình thành trong một bối cảnh xã hội cụ thể”, có một hiệu lực chung đối với cách suy nghĩ và nói năng của mỗi nhóm người cũng như mỗi
cá nhân
Thông qua phương pháp phân tích diễn ngôn, luận án làm sáng tỏ những vấn
đề của thời đại thông qua thông tin GDĐT, làm rõ hơn góc nhìn quyền lực truyền thông thông qua vấn đề được đề cập; làm sáng tỏ chủ thể thể hiện thông điệp về GDĐT, đó là những thông tin mà nhà hoạch định chính sách kỳ vọng, hay những thông tin phản biện từ vấn đề bất cập của thực tiễn triển khai chính sách
Trang 22- Ngoài ra luận án còn sử dụng một số phương pháp khác như: Phương pháp so sánh; Phương pháp tổng hợp
5 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
5.1 Câu hỏi nghiên cứu
Luận án đặt ra các câu hỏi nghiên cứu gồm:
- Thông tin về GDDT là gì và vai trò của thông tin về GDDT trên báo in?
- Mô hình thông tin về GDDT trên báo in như thế nào và có vai trò gì?
- Các yêu cầu cụ thể đối với việc thông tin về GDĐT là gì?
- Báo in cần phải làm gì và làm như thế nào đểthông tin về GDDT có hiệu quả?
5.2 Giả thuyết nghiên cứu
- Giả thuyết thứ nhất: Cùng với công cuộc đổi mới của đất nước, giáo dục
đào tạo luôn được Đảng, Nhà nước ta coi là quốc sách hàng đầu và đang có sự đổi mới quyết liệt trong nhiều năm qua Việc triển khai đổi mới một lĩnh vực liên quan đến mọi người, mọi gia đình và thực hiện không chỉ ngành giáo dục mà cả hệ thống, toàn xã hội Vì vậy, định hướng đúng đắn các chủ trương đổi mới về giáo dục, góp ý, phản biện những hạn chế trong quản lý, cách dạy, cách học…là hết sức quan trọng của các cơ quan báo chí, trong đó có báo in Do đó, nâng cao chất lượng thông tin về giáo dục và đào tạo trên báo in là hết sức cần thiết
- Giả thuyết thứ hai: Thông tin về giáo dục và đào tạo ở Việt Nam hiện
nay, còn có những hạn chế: đưa số lượng tin bài tiêu cực, giật gân nhiều; số lượng tin, bài phản ánh tích cực, gương tập thể, cá nhân tốt trong ngành ít Việc khảo sát, phân tích một cách khoa học thực trạng để chỉ ra được những mặt tích cực và hạn chế, cơ hội, thách thức cho báo in thực hiện tốt thông tin về giáo dục
và đào tạo
- Giả thuyết thứ ba: Thông tin về giáo dục và đào tạo của báo in góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục, tạo sự đồng thuận trong việc thực hiện hiệu quả các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về giáo dục, đặc biệt là thực hiện đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo trong giai đoạn hiện nay
- Giả thuyết thứ tư: Cách thông tin về giáo dục đào tạo hiện nay còn hạn chế về mặt tương tác, tư duy nhận thức của mỗi tờ báo chưa tương xứng với vị
Trang 23trí giáo dục và đào tạo được chỉ đạo qua các chủ trương, chính sách, Nghị quyết của Đảng, Nhà nước, kiến thức hiểu biết giáo dục của phóng viên được phân công theo dõi còn hạn chế, công tác truyền thông của ngành Giáo dục còn yếu
6 Đóng góp mới về khoa học của luận án
- Luận án hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về thông tin về giáo dục và đào tạo, báo chí nói chung, báo in nói riêng và vai trò của thông tin về giáo dục
và đào tạo trên báo in; những yêu cầu cần có đối với thông tin về giáo dục và đào tạo trên báo in…Khung lý thuyết cộng với cơ sở thực tiễn làm nền tảng cho việc nghiên cứu, đánh giá các vấn đề liên quan đến công tác thực hiện ở mảng
đề tài thông tin về giáo dục và đào tạo trên báo in
- Luận án chỉ ra được thực trạng thông tin về giáo dục và đào tạo trên báo
in hiện nay, về thế mạnh, điểm tích cực, hạn chế để từ đó có nhận định khái quát
về thực trạng thông tin lĩnh vực này Luận án khẳng định vai trò của thông tin về giáo dục và đào tạo trênbáo in
- Luận án nêu những vấn đề đặt ra của thông tin về giáo dục và đào tạo trên báo in trong bối cảnh sự phát triển của sự nghiệp giáo dục và đào tạo, đồng thời khuyến nghị những giải pháp nâng cao chất lượng thông tin về giáo dục và đào tạo trên báo in hiện nay
7 Ý nghĩa lý luận và giá trị thực tiễn củaluận án
7.1 Ý nghĩa lý luận
Hiện nay, việc tìm hiểu TT về GDĐT trên báo chí nói chung và báo in nói riêng chưa được quan tâm đúng mức vì nhiều lý do khác nhau Việc tìm hiểu thông điệp về GDĐT chưa được thực hiện nhiều và còn nhiều bất cập Luận án này xác định những ưu điểm và hạn chế cụ thể của TT về GDĐT trên báo in
Luận án là công trình nghiên cứu đầu tiên hệ thống một cách tổng quát, chuyên sâu, cập nhật về yêu cầu nâng cao chất lượng, vai trò của thông tin về giáo dục và đào tạo trên báo in ở Việt Nam hiện nay
Các cơ quan báo in trước đây thường sản xuất các tác phẩm theo cách truyền thống, thiếu sự sinh động, tương tác, nay cần lưu ý đến sự cạnh tranh đối với các loại hình báo chí mới Công chúng sẽ lựa chọn tiếp nhận dòng thông tin
gì và bằng các phương tiện nào
Trang 24Luận án là đề tài hết sức cần thiết để bổ sung cho các nguồn số liệu còn thiếu của các đề tài nghiên cứu trước đây; là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho công tác giảng dạy báo chí trong nhà trường; làm tài liệu tham khảo cho sinh viên báo chí; gợi mở hướng nghiên cứu để tiếp tục phát triển và nâng cao chất lượng báo chí nói chung và báo chí innói riêng
7.2 Giá trị thực tiễn
Luận án sẽ cung cấp cho các cơ quan báo chí nói chung và cơ quan báo in nói riêng ở nước ta có những cơ sở khoa học đáng tin cậy để đánh giá đúng về
TT GDĐT hiện nay, và là cơ sở để nâng cao chất lượng các tác phẩm báo chí, từ
đó tạo ra hướng đi mới cho cơ quan báo in phát triển mạnh mẽ
Luận án góp phần làm sáng tỏ mối quan hệ giữa các cơ quan báo chí với các tác phẩm báo chí của chính họ Để có được sự phát triển tốt phù hợp với báo chí hiện đại, các cơ quan báo in cần tìm hiểu và ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật mới cũng như cách viết tác phẩm báo chí mới Ứng dụng các thành tựu KHKT trong cơ quan báo chí có hiệu quả không chỉ là vấn đề của riêng báo chí nước ta mà còn là của báo chí quốc gia và báo chí thế giới
Tìm hiểu TT về GDĐT như phân tích để làm rõ thực trạng, chỉ ra đặc điểm, những ưu điểm và hạn chế thông tin về giáo dục và đào tạo, đồng thời đề xuất, khuyến nghị, giải pháp của luận án sẽ giúp cho các cơ quan báo chí có cơ
sở để sản xuất các sản phẩm báo chí hấp dẫn, thiết thực; cơ sở để nâng cao cáctác phẩm báo chí và nâng cao chất lượng đội ngũ người làm báo Từng bước góp phần giúp báo in phát triển mạnh mẽ trong bối cảnh hiện nay
8 Kết cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Tổng quan vấn đề nghiên cứu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận án gồm 3 chương 12 tiết, 15 bảng biểu
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn thông tin về giáo dục đào tạo trên báo in
Chương 2: Thực trạng thông tin về giáo dục đào tạo trên báo in ở Việt Nam
Chương 3: Những vấn đề đặt ra, giải pháp và khuyến nghị thông tin về giáo dục đào tạo trên báo in ở Việt Nam hiện nay
Trang 25TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
-Trên thế giới
+ Nhóm tài liệu nghiên cứu về báo chí và thông tin trên báo chí
Loic Hervouet (1999) Viết cho độc giả Tác giả nghiên cứu việc tìm hiểu
người đọc báo Khi độc giả cầm tờ báo, quá trình dẫn đến việc đọc trọn vẹn một bài báo thường diễn ra 3 giai đoạn: xem lướt, quyết định lựa chọn, chọn và ưu tiên các thông tin Để gây sự chú ý độc giả đối với một bài báo, tác giả đã nêu ra nhiều phương pháp khác nhau như: Chọn từ thích đáng phù hợp với độc giả Ông tìm hiểu thói quen của người đọc báo và đã chứng minh rằng mắt người không nhìn vào thứ tự từng chữ cái trong từ để rồi tạo thành từ Cặp mắt- bộ óc- cảm nhận một cách tổng quan khoảng 10 ký tự, sau đó chuyển sang nhóm ký tự tiếp theo Mỗi lần cảm nhận như vậy kéo dài khoảng 1/3 đến 1/4 giây Thời gian chuyển từ nhóm này sang nhóm khác dài 1/40 giây Từ năm 1673, nhà văn Pháp
Bossuet đã viết: “Người ta không đọc từng chữ cái một, mà hình ảnh chung của toàn bộ từ (gồm nhiều chữ cái) đập vào được não bộ cảm nhận” Khi một trong
số các chữ cái bị thay đổi vì một lý do nào đó, hình ảnh của toàn bộ từ đột ngột thay đổi làm cho não bộ không thể cảm nhận được ngay lập tức: người đọc cảm thấy bị vấp và buộc phải suy nghĩ xem chữ cái nào bị đặt sai chỗ, và dù cho người đọc có đoán ra được ngay thì nhịp đọc cũng bị giảm đáng kể
E.P Prôkhôrôp (2001), tác giả người Nga trong Cơ sở lý luận báo chí, đã
bao quát nhiều bình diện, phân tích khái niệm và vai trò của công chúng, hiệu quả của báo chí đối với công chúng và làm thế nào để có sự hiểu biết về công chúng
Doris A Graben chủ biên cuốn Media Power in Polictics (Sức mạnh của
truyền thông trong đời sống chính trị), Nxb đại học New York năm 2003 đã nghiên cứu tác động của truyền thông trong đời sống chính trị, phân tích tác động của báo chí tới chính trị trên phương diện lý thuyết và thực tiễn với các góc độ khác nhau Cuốn sách đã phân tích các đặc trưng và phương pháp tạo dựng tâm lý, những ảnh hưởng của chính trị bằng các PTTT Tác giả đã làm rõ vai trò của truyền thông với đời sống chính trị hiện đại thông qua các cuộc vận động tranh cử ở Mỹ Tác giả đã đánh giá cao ảnh hưởng mạnh mẽ của TTĐC với quan điểm chính trị của các tầng lớp dân cư (tr 15)
Trang 26Claudia Mast (2003) trong Truyền thông đại chúng - công tác biên tập
Đề cập đến hình thức và chức năng công tác biên tập, đưa ra một số kinh nghiệm về cách biên tập một số thể loại báo chí Cách quản lý công tác biên tập: như tổ chức lao động, tổ chức công tác biên tập và công tác lãnh đạo biên tập Tài liệu khẳng định, các sản phẩm báo chí cạnh tranh để lôi kéo sự chú ý của công chúng Những biện pháp như các hoạt động đặc biệt và chú ý thị hiếu của nhóm độc giả, khán thính giả đã trở thành một bộ phận quan trọng của kế hoạch
biên tập trong cuộc cạnh tranh giành thị phần Chẳng hạn biện pháp Tự giới thiệu và công tác công chúng: Mặc dù bản thân chất lượng của công tác báo chí
đã có sức thuyết phục, một sự tiếp xúc với công chúng thực hiện có bài bản mang tính chuyên nghiệp có thể nâng cao uy tín của báo đài và hiệu quả của công tác quảng cáo Tự giới thiệu nên ưu tiên cung cấp thông tin về mục tiêu của hoạt động báo chí, phương thức làm việc và những khả năng, nhưng cũng cần thông tin về các số liệu sử dụng phương tiện truyền thông của bạn đọc, khán thính giả Những thông tin về kế hoạch biên tập và các cộng tác viên của báo đài (giới thiệu các thiên phóng sự kèm theo chân dung của nhà báo), kết hợp với những yêu cầu về chất lượng báo chí, tạo điều kiện cho độc giả, khán, thính giả hằng ngày có căn cứ đánh giá báo chí và các chương trình phát thanh, truyền hình, xây dựng mối thiện cảm đối với nhà báo và với sản phẩm (phương tiện truyền thông)
Cuốn sách đề cao một hoạt động đặc biệt: tổ chức các cuộc tiếp xúc với độc giả, thính giả và khán giả, đánh giá các kết quả điều tra, nâng cao thêm tình cảm của công chúng đối với các PTTT, cần có kiến thức để dành lấy công chúng, chứ không phải chỉ biên tập tốt thì có công chúng [tr 183-190-198]
Jean-Luc Martin- Lagardette (2003) Hướng dẫn cách viết báo coi trọng
công chúng ở khía cạnh “người ta viết trước hết là để độc giả hiểu” Mỗi bài báo
là một sản phẩm phải lôi cuốn được một cách khôn khéo sự chú ý vào nội dung của nó Tuy nhiên một bài báo có nội dung tốt không thôi thì chưa đủ mà nó cần phải được người ta đọc, để lôi cuốn sự chú ý của người đọc thì phải sắp xếp bài báo theo những quy tắc của nghệ thuật và dàn cảnh bài báo theo hiệu quả tìm kiếm [tr,10] Cuốn sách đề cập đến nhóm công chúng độc giả đã bão hoà bởi các
Trang 27PTTTĐC và làm gì để lôi cuốn nhóm công chúng này đọc báo? Điều cần lưu ý
là hãy nghĩ tới bạn đọc của mình và làm cho họ đọc và hiểu một cách dễ dàng
Schuson M.(2003) - Sức mạnh tin tức và truyền thông, nhà xã hội học báo
chí Mỹ đã từng có một “phạm vi công chúng chính trị” gắn liền với các cuộc bầu cử và báo chí ở Mỹ đã chỉ ra tầm quan trọng của việc thăm dò ý kiến người dân đối với báo chí, thông qua điều tra dư luận
Truyền thông phải gắn kết công việc với một quan điểm chính trị nhất định và có thể thực hiện điều này bằng nhiều cách Chẳng hạn, hầu hết các thành viên của các nhóm áp lực quan tâm đến một vấn đề duy nhất thường có quan điểm chính trị phức tạp hơn nhiều so với quy mô của tổ chức mà họ tham gia Theo hầu hết các bài báo viết về quan điểm của công chúng, không có cách nào
để nhận biết được điều này Tầm quan trọng của việc thăm dò ý kiến công chúng trong chính trị thường xuyên được nhắc đến và điều này dẫn đến khuynh hướng cho rằng thái độ của công chúng là không thay đổi và được hình thành từ trước Nếu truyền thông muốn tìm kiếm và giúp độc giả/ khán giả có cái nhìn sâu sắc hơn về chính trị mà trên thực tế là đặc trưng của đại đa số công chúng
Khi nghiên cứu vai trò chức năng của báo chí đối với giáo dục đào tạo, nghiên cứu sinh cũng đã nghiên cứu về tính kết quả của báo chí trong thực hiện nghiệp vụ báo chí Trong cuốn “Nghiệp vụ báo chí – Lý luận và thực tiễn” xuất bản năm 2004 của tác giả V.V.Vôrôssilốp [99; tr162, tr163], đã chỉ ra nhiều khía cạnh khác nhau của báo chí truyền thông như: Kỹ thuật và công nghệ; hệ thống các loại hình báo chí; tính kết quả của báo chí; Phạm vi pháp lý của báo chí; đạo đức nhà báo; quan hệ tiếp thị trong báo chí; kinh tế trong ngành báo chí và quản
lý các phương tiện thông tin đại chúng Tác giả đã phân tích về tính kết quả của
báo chí trong thực hiện nghiệp vụ báo chí: Tính kết quả trong hoạt động của các phương tiện thông tin đại chúng như một biện pháp thể hiện ý đồ của nhà báo, mức độ đạt được các mục đích phù hợp với nhu cầu của xã hội, dược hình thành
từ những hiệu lực (dưới ảnh hưởng của các phương tiện thông tin đại chúng mà các thiết chế xã hội để ra các biện pháp cụ thể), bạn đọc, bạn xem truyền hình, bạn nghe đài, ở sự hình thành nên quan niệm của họ Tính kết quả gắn liền với một loạt các thành tố, nó phụ thuộc vào hoạt động của các chức năng của báo chí, vào việc tuân thủ chính xác các nguyên tắc, các chuẩn mực pháp lý và đạo
Trang 28đức, cuối cùng là vào trình độ nghiệp vụ của các cán bộ của các phương tiện thông tin đại chúng
Qua nghiên cứu từ những cuốn sách mang tính chất tổng kết thực tiễn lý luận hay nghiệp vụ báo chí, có thể thấy mỗi nước, mỗi xã hội có đặc điểm văn hóa, kinh tế, chính trị, hệ thống mô hình thông tin trên báo chí khác nhau, nhưng vai trò của báo chí đối với sự phát triển của mỗi quốc gia là hết sức quan trọng mà trong đó thông tin về giáo dục đào tạo luôn được các quốc gia quan tâm Với Việt Nam, việc nghiên cứu về lý thuyết truyền thông, về lý luận báo chí, về chức năng, vai trò của thông tin về giáo dục và đào tạo cũng cần phải có những nghiên cứu riêng phù hợp Những tài liệu, hướng đi của nước ngoài chỉ là những tài liệu tham khảo trong điều kiện phát triển lý thuyết và thực tiễn ở Việt Nam
+ Nhóm tài liệu nghiên cứu về giáo dục và đào tạo
Cuốn sách Kinh nghiệm của một số nước về phát triển giáo dục và đào tạo khoa học và công nghệ [73], các tác giả đã cho thấy: Nền giáo dục Mỹ đã góp phần đáng kể cung cấp cho xã hội Mỹ một đội ngũ đông đảo các nhà khoa học, giảng viên cũng như hàng triệu công nhân kỹ thuật lãnh nghề, góp phần quan trọng trong phát triển nền kinh tế Mỹ qua nhiều thời kỳ để trở thành cường quốc kinh tế, giáo dục, khoa học công nghệ trên thế giới [tr 227]
Nền giáo dục Mỹ là nền giáo dục không chỉ dựa vào tài năng thiên bẩm của con người mà là một nền giáo dục hướng đến tạo môi trường thuận lợi cho giáo dục đào tạo phát triển và môi trường nuôi dưỡng người giỏi, người tài [tr 295]
Bài học thành công của Singapore của tác giả Henri Ghesquiere – Cengage learrning bàn về hội nhập và chiến lược trở thành trung tâm hội nhập, Chính phủ Singapore tiến hành một số thay đổi trong giáo dục nhằm đáp ứng
trong quá trình toàn cầu hóa Thứ nhất, Bộ Giáo dục nhận thức được là chương trình sách giáo khoa hiện tại quá nặng với học sinh, sức ép thi cử khiến học sinh chỉ tập trung thời gian và sức lực để chuẩn bị, từ đó không có điều kiện đào sâu suy nghĩ và phát triển những kiến thức thu được trên lớp Thứ hai, chế độ thi cử cũng được cải cách với các câu hỏi mở và các câu hỏi mở được phép tham khảo nhằm khuyến khích tư duy chiều sâu và tránh việc học thuộc lòng, hoặc thay vì
đi thi học sinh có thể viếtbáo cáo về một đề tài nghiên cứu cá nhân nội dung có liên quan đến môn học Thứ ba, Bộ Giáo dục đã tiến hành một số cải cách liên
Trang 29quan đến bậc học giáo dục trung học, ví dụ như cung cấp các chương trình học khác nhau tạo điều kiện cho học sinh lựa chọn một chương trình phù hợp với khả năng và sở thích của mình [tr 361]
Các tác giả đã tiếp thu được những kiến thức giáo dục ở một nước phát triển, cho thấy vị trí giáo dục của một đất nước Từ đó, so sánh với Việt Nam và
đi vào nghiên cứu thông tin về giáo dục và đào tạo trên báo in ở Việt Nam đã tương xứng, cụ thể là phản ánh được bản chất, thực trạng giáo dục Việt Nam như thế nào
Trong phần này, tác giả đã tiếp thu việc đổi mới thi cử trên thế giới và so sánh ở Việt Nam, trong đó thông tin trên báo chí về vấn đề này được thực hiện trong suốt những năm qua Từ đó, tác giả khảo sát, phân tích nhìn nhận thông tin phản ánh một cách khách quan Đây chính là những tư liệu giúp tác giả có cơ sở khoa học khi đánh giá thông tin về giáo dục và đào tạo ở Việt Nam trong cả phần lý luận và thực tiễn, cụ thể ở thực trạng giáo dục mầm non, phổ thông và đại học
Tác giả Ozaki Mugen trong cuốn Cải cách giáo dục Nhật Bản đã bàn một trong những vấn đề khẩn thiết của Nhật Bản là vấn đề giáo dục [ 91; tr 306, 308,
313, 316] Khi suy ngẫm về phương thuốc cứu chữa cho tình trạng hiện tại thì điều quan trọng phải chú ý chính là quá trình lịch sử của nền giáo dục, ở Nhật Bản là từ thời Minh Trị trở đi Các câu hỏi cải cách giáo dục được đặt ra: sự đề xướng vấn đề của hội đồng thẩm định giáo dục lâm thời; sự thử nghiệm cải cách giáo dục; sự chuyển đổi sang xã hội học tập suốt đời; công ước về quyền trẻ em
Đây cũng chính là điểm lưu ý mà quá trình nghiên cứu tác giả cần nhìn nhận một cách thấu đáo về thông tin về giáo dục và đào tạo trên báo in luôn được nhìn nhận ở cả một quá trình lịch sử, hiện tại và tương lai Đây chính là yếu tố chú ý trong cách đánh giá của một tác phẩm báo chí hay của một tờ báo nhìn nhận về giáo dục và đào tạo
- Ở Việt Nam
Nhóm tài liệu liên quan đến báo chí và thông tin trên báo chí
+ Nghiên cứu chung về lý luận báo chí, truyền thông
Sách: “Cơ sở lý luận báo chí” của tác giả Tạ Ngọc Tấn (chủ biên) do Nxb Văn hóa – Thông tin xuất bản năm 1999, tác giả đã nêu ra các chức năng của
Trang 30báo chí: chức năng tư tưởng, định hướng dư luận xã hội; chức năng quản lý giám sát xã hội; chức năng khai sáng giải trí Trong đó nhấn mạnh báo chí là loại hình hoạt động đặc thù, ra đời do những nhu cầu khách quan của xã hội đãphát triển đến một trình độ nhất định của văn minh nhân loại, báo chí mang những tiềm năng có ý nghĩa to lớn đối với xã hội
Sách: “Báo chí và dư luận xã hội” của tác giả Nguyễn Văn Dững do Nxb
Lao động xuất bản năm 2012 [37; tr.11], đã lý giải 4 vấn đề: Bản chất dư luận xã hội; bản chất hoạt động báo chí; mối quan hệ tác động của dư luận báo chí và dư luận xã hội; nhà báo và dư luận xã hội Đây là vấn đề được phân tích dưới góc nhìn lý luận và thực tiễn báo chí hiện đại, báo chí và dư luận xã hội luôn có mối quan hệ chặt chẽ, biện chứng Theo tác giả, phán xét của dư luận xã hội là nội dung quan trọng mà hàng ngày báo chí truyền thông đăng tải và từ dư luận xã hội lại đến lượt nó nảy sinh ra sự kiện, ý kiến, phán xét…của dư luận xã hội
Qua nghiên cứu này, đây là cơ sở quan trọng làm cơ sở và tiền đề cho hình
thành chức năng khai sáng giải trí hay cụ thể là giáo dục của báo chí trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu
Sách “Cơ sở lý luận báo chí”, tác giả Nguyễn Văn Dững xuất bản năm
2012, cũng sử dụng thuật ngữ “Mô hình thông tin” và đưa các tiêu chí để phân loại mô hình thông tin như “từ tính chất và khả năng tác động” hay chính tính mục đích của thông tin, từ “tính khả dụng của thông tin báo chí đối với công chúng tiếp nhận” [tr.176,181]
Đây là những cơ sở để tác giả tiếp thu trong quá trình nghiên cứu đưa ra phần lý luận về thông tin nói chung, mô hình thông tin và thông tin về giáo dục
dư luận, một vấn đề hay hoặc dở đều cần có định hướng dư luận, bởi cùng một
sự kiện hoàn toàn có thể tạo ra những phản ứng khác nhau từ phía dư luận tùy thuộc vào góc độ, tính chất thông tin mà công chúng tiếp nhận [53, tr.65]
Trang 31Đây là những nghiên cứu để tác giả làm nền tảng đánh giá các tác phẩm báo chí và đề xuất giải pháp thông tin về giáo dục và đào tạo theo định hướng chung của Đảng, Nhà nước về báo chí và về giáo dục và đào tạo nói riêng
- Tác giả Đinh Văn Hường và Bùi Chí Trung trong sách chuyên khảo Một
số vấn đề về kinh tế báo in (2015) đã khẳng định bên cạnh rất nhiều kết quả đã đạt
được trên nhiều phương diện, sự phát triển của báo in trung ương và địa phương ở Việt Nam vẫn tồn tại một số bất cập, đặc biệt trong công tác quản lý Nhà nước về quy hoạch và phát triển hạ tầng- công nghệ kỹ thuật; về kinh doanh- phát triển thị trường, dịch vụ; về đào tạo phát triển nguồn nhân lực và tính chuyên nghiệp Đây
là những vấn đề lớn cần được nghiên cứu, phân tích để rút ra những bài học kinh nghiệm cho sự phát triển của báo in ở trung ương và địa phương nước ta trong thời gian tới
Đây là những cơ sở, nền tảng chung để tác giả đi vào nghiên cứu chung của đề tài, theo đó đưa ra được một số vấn đề lý luận về báo chí và thông tin báo chí, đặc biệt là mô hình thông tin về giáo dục và đào tạo nói riêng
+ Nghiên cứu về vấn đề kỹ năng, nghiệp vụ báo chí:
Phóng sự báo chí hiện đại – Nxb Thông tấn (2005) của Đức Dũng, có nội
dung chủ yếu đề cập đặc điểm, đặc trưng của phóng sự, các xu hướng phát triển chung của phóng sự hiện nay và những yêu cầu đặt ra trong quá trình sáng tạo tác phẩm phóng sự báo chí hiện đại Bên cạnh đó tác giả còn giới thiệu 30 bài phóng sự báo chí của nhiều tác giả được chọn lọc từ báo chí Việt Nam trong những năm gần đây, được phân thành các dạng phóng sự minh họa cho phần chuyên luận Tài liệu này cũng không bàn cụ thể đến hiệu quả của việc thông tin báo chí
Cuốn Sáng tạo tác phẩm báo chí và cuốn Viết báo như thế nào của tác giả
Đức Dũng cũng đã đề cập đến các vấn đề kỹ năng làm báo, các kỹ năng liên quan đến sáng tạo tác phẩm báo chí về nội dung và hình thức…Tuy nhiên, những tài liệu này cũng chỉ phân tích, đi sâu vào các phần chung của báo chí hoặc kỹ năng tác nghiệp chung chứ chưa phân tích, đề cập riêng về các kỹ năng, sáng tạo tác phẩm báo chí về lĩnh vực giáo dục và đào tạo
Cuốn Tổ chức nội dung và Thiết kế, trình bày báo in - Nxb Lý luận chính
trị (2006) của tác giả Hà Huy Phượng: đi sâu vào phân tích và phương pháp tổ
Trang 32chức nội dung trên và cách thức thiết kế, trình bày của báo in hiện đại Tài liệu
đã cho thấy các yếu tố, điều kiện cần thiết tăng hiệu quả tác động của báo chí về mặt nội dung và hình thức Tài liệu này cũng đi sâu đề cập ở kỹ năng về tổ chức, thiết kế, trình bày báo in nói chung, không bàn riêng về một lĩnh vực cụ thể, nhất là lĩnh vực giáo dục và đào tạo
Cuốn Các thể loại Báo chí Chính luận Nghệ thuật – Nxb ĐHQG Hà Nội
(2004) của tác giả Dương Xuân Sơn, đi vào phân tích thể loại báo chí chính luận nghệ thuật, không đề cập riêng đến thể loại báo chí chính luận nghệ thuật phản ánh lĩnh vực giáo dục và đào tạo, hay bàn đến hiệu quả tác động của báo chí đối với lĩnh vực giáo dục và đào tạo
+ Nghiên cứu về kinh nghiệm thực tiễn tác nghiệp báo chí:
Cuốn Báo chí những điểm nhìn từ thực tiễn (tập 1+2), Nxb Văn hoá-
Thông tin (2001-2002), là tập hợp những bài viết của các nhà báo, nhà nghiên cứu thể hiện đặc trưng từ lý luận đến thực tiễn về thể loại, về kỹ năng phát hiện
đề tài, chủ đề, công tác biên tập, xuất bản báo…
Cuốn Phóng sự - từ giảng đường đến trang viết - Nxb Thông Tấn (2007)
của tác giả Huỳnh Dũng Nhân, đã đề cập đến một số kỹ năng, kinh nghiệm, thủ pháp viết phóng sự Tư liệu của phóng sự thường không tự đến mà phải áp dụng tối đa các ngón nghề của người viết: quan sát, hỏi, nghe Nghe là nguồn tìm tài liệu phong phú nhất Hãy biến mình thành một người tò mò Hãy nhìn mọi thứ như lần đầu tin nhìn thấy Hãy hào hứng lắng nghe mọi người…
Nghề báo nghề nguy hiểm của tác giả Nguyễn Tiến Duẩn, đã đề cập một
nghề đặc thù là nghề báo Nghề báo từ khi xuất hiện tới nay đều vì mục đích mang lại cho người đọc những tin tức thời sự, cập nhật, những bài bình luận, phân tích giúp bạn đọc hiểu rõ hơn về bản chất, ý nghĩa của sự kiện - hiện tượng - vấn đề Nhiều nhà báo quốc tế đã thành danh với các bài viết sắc sảo đề cập tới những vấn
đề nóng hổi diễn ra trên thế giới, nhưng cũng không ít nhà báo khi muốn tìm kiếm thông tin đã phải đổ máu, phải hy sinh bằng chính sinh mạng mình…
Cuốn Tổ chức và hoạt động tòa soạn - Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
(2004) của tác giả Đinh Văn Hường đề cập đến phương pháp, cách thức tổ chức hoạt động của một tòa soạn báo Tác giả cũng không đi sâu vào đề cập, phân tích tổ chức, hoạt động tòa soạn thuộc một ngành, lĩnh vực, nhất là giáo dục và
Trang 33đào tạo Cuốn Các thể loại báo chí thông tấn - Nxb ĐHQG Hà Nội cũng của tác
giả Đinh Văn Hường, chỉ đi sâu vào phân tích thể loại báo chí thông tấn nói chung mà không đề cập riêng về thể loại phản ánh về giáo dục và đào tạo
Đây là những nghiên cứu chuyên sâu, tác giả đã tiếp thu để vận dụng trong quá trình phân tích tác phẩm về ưu điểm cũng như hạn chế và nguyên nhân của ưu điểm, hạn chế
Nhóm tài liệu nghiên cứu về giáo dục và đào tạo
“Giáo dục Việt Nam1945-2010” xuất bản năm 2010 tập 1, trong phân tích về giáo dục Việt Nam giai đoạn 1945-1956, các tác giả đã nêu rõ: Ngay sau khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa thành lập, ngày 3 tháng 9 năm 1945, trong phiên họp đầu tiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra đề nghị: “Nạn dốt là một trong những phương pháp độc ác mà bọn thực dân pháp dùng để cai trị chúng ta Hơn 95% đồng bào chúng ta mù chữ Nhưng chỉ cần 3 tháng là đủ để học đọc, học viết tiếng ta theo vần quốc ngữ Một dân tộc dốt làm một dân tộc yếu Vì vậy tôi đề nghị mở chiến dịch chống nạn mù chữ” Đề nghị của Bác được Hội đồng Chính phủ thông qua thành quyết định [tr23]
Cuốn sách này đã làm rõ thực trạng, quy mô trường lớp,… các chủ trương, quyết sách quan trọng của Đảng Nhà nước ta về giáo dục trong từng giai đoạn lịch sử từ năm 1945-2010
Qua nghiên cứu, tác giả đã tiếp thu, nhận thức một cách nghiêm túc về quan điểm của Đảng và Nhà nước về giáo dục và đào tạo, để từ đó nêu và đưa ra quan điểm trong phần lý do lựa chọn đề tài, theo đó làm cơ sở để nghiên cứu một số vấn
đề lý luận và khảo sát thực tế thông tin về giáo dục và đào tạo trên báo in
Sách: “Triết lý giáo dục thế giới và Việt nam” xuất bản năm 2011 của
tác giả Phạm Minh Hạc, trong phân tích bàn về triết lý giáo dục thời đổi mới, tác giả đã đưa ra 10 tư tưởng chỉ đạo, theo đó quán triệt đường lối đổi mới, vận
dụng vào giáo dục, cụ thể hóa thành các tư tưởng chỉ đạo: (1) Xác định rõ vai trò, vị trí của giáo dục trong công cuộc đổi mới (2) Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng (3) Kế hoạch phát triển giáo dục là bộ phận của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội Trước mắt duy trì, củng cố, ổn định trường lớp, dạy và học, nề nếp,
kỷ cương (4) Chất lượng và hiệu quả, trước mắt và lâu dài, kịp thời và đón đầu (5) Phát triển theo vùng, phổ cập và nâng cao, đại trà và mũi nhọn (6) Giáo dục toàn
Trang 34diện, trò ra trò, học ra học (7) Hệ thống giáo dục đa dạng, linh hoạt (8) thầy ra thầy, dạy ra dạy, trường ra trường, lớp ra lớp (Phạm Văn Đồng) (9) Tăng cường nghiên cứu khoa học, đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học – kỹ thuật và kinh nghiệm giáo dục tiên tiến (10) Đổi mới quản lý giáo dục [39; tr258],
Nghiên cứu trong cuốn: “Giáo dục Việt Nam đầu thế kỷ XXI” xuất bản
năm 2013 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, nêu rõ quy mô giáo dục và mạng lưới giáo dục phát triển nhanh, đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng tăng của nhân dân
và nâng cao được trình độ nghề nghiệp của người lao động Hệ thống giáo dục quốc dân tương đối hoàn chỉnh, thống nhất, đa dạng và phủ kín cả nước với 23,5 triệu người đi học [22, tr18, 19],
Báo cáo tóm tắt đề án đổi mới căn bản toàn diện của Bộ Giáo dục và Đào tạo (Tài liệu phục vụ cung cấp thông tin cho báo chí của Bộ Giáo dục và Đào tạo ngày 20/9/2013 tại trụ sở Bộ) Trong báo cáo này cũng chỉ ra những thành
tựu như: (1) Hệ thống trường lớp và quy mô giáo dục phát triển nhanh, thực hiện nền giáo dục toàn dân, đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng tăng của nhân dân và nâng cao được trình độ đào tạo, trình độ và kỹ năng nghề nghiệp của người lao động (2) Công bằng xã hội trong tiếp cận giáo dục có nhiều tiến bộ, nhất là đối với người dân tộc thiểu số, người nghèo, lao động nông thôn, đối tượng chính sách và người có hoàn cảnh khó khăn Bình đẳng giới trong giáo dục được bảo đảm (3) Chất lượng giáo dục và đào tạo được nâng lên, góp phần đáp ứng yêu cầu nhân lực phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Học sinh, sinh viên Việt Nam đạt kết quả cao trong các kỳ thi quốc tế và khu vực Nhân lực nước ta đã làm chủ được một số công nghệ hiện đại (4) Công tác quản lý giáo dục có bước chuyển biến tích cực (5) Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục tăng nhanh về số lượng, trình độ đào tạo được nâng lên, từng bước đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục.(6) Cơ sở vật chất - kỹ thuật của hệ thống giáo dục và đào tạo được tăng cường và từng bước hiện đại hóa.(7) Xã hội hóa giáo dục và hợp tác quốc tế được đẩy mạnh, đạt nhiều kết quả quan trọng
Từ những nghiên cứu căn bản này, qua đó tác giả đã tiếp thu và nhìn nhận phân tích làm rõ khái niệm về giáo dục, đào tạo, giáo dục và đào tạo để từ đó
Trang 35làm căn cứ xây dựng mẫu khảo sát “đúng” “trúng” vấn đề mà báo chí thực hiện thông tin về lĩnh vực này
“10 năm phát triển giáo dục và đào tạo Việt Nam qua các con số 2011” của Bộ Giáo dục và Đào tạo xuất bản năm 2012, cuốn sách đã nêu ra số
2001-liệu chung từng cấp học, từng tỉnh, thành phố và chi tiết năm học 2010-2011 Những số liệu này đã phản ánh sự phát triển về chất lượng và số lượng trường, lớp, học sinh, giáo viên từng cấp học trong 10 năm qua, từ năm học 2001-2002 đến năm học 2010-2011 của toàn quốc và từng tỉnh, thành phố Từ những con số biết nói về sự phát triển giáo dục và đào tạo Việt Nam 10 năm qua, các nhà quản
lý giáo dục có thể xây dựng và chỉ đạo kế hoạch phát triển giáo dục trong những năm tiếp theo phù hợp với xu thế phát triển của xã hội và thời đại [ 23, tr2],
Nghiên cứu chuyên sâu ở mảng lĩnh vực giáo dục đại học trong cuốn: “Đề
án đổi mới giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006-2020” của Bộ Giáo dục
và Đào tạo xuất bản năm 2005 các nhiệm vụ đổi mới giáo dục đại học [24, tr23 – 32]
Bên cạnh đó, Ở Việt Nam đã có khá nhiều tài liệu nghiên cứu về vấn đề
giáo dục đạo đức cho thanh thiếu niên Có thể kể đến: “Giáo dục hướng tới thế
kỷ 21” (Ủy Ban Khoa học, Công nghệ và môi trường của Quốc hội khóa X, Nxb Chính trị Quốc gia, 1998), “Giáo dục thế giới đi vào thế kỷ XXI” (GS, VS
Phạm Minh Hạc – PGS, TS Trần Kiều, PGS, TS Đặng Bá Lâm – PGS, TS
Nghiêm Đình Vỹ, Nxb Chính trị Quốc gia, 2002), “Xã hội hoá công tác giáo dục” (GS, TS Phạm Minh Hạc, Nxb Giáo dục, 1997), Giáo dục lối sống cho thanh niên đô thị hiện nay (Cao Văn Định, Tạp chí Sinh hoạt lý luận, số 2, 2000) Tìm hiểu định hướng giá trị của thanh niên Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường (TS Thái Duy Tuyên, đề tài KX.07.10, Hà Nội, 1994)
Từ những nghiên cứu trên đây, vận dụng vào lý luận và thực tiễn thông tin về giáo dục và đào tạo khảo sát một bức tranh toàn cảnh thông tin về giáo dục, một lĩnh vực có một vị trí hết sức quan trọng luôn được Đảng, Nhà nước ta quan tâm hàng đầu Qua những nghiên cứu thấy được rõ thực trạng và yêu cầu đổi mới giáo dục là cần thiết hơn bao giờ hết, đây cũng là yêu cầu đã thể hiện trong các văn bản nghị quyết, chính sách chỉ đạo của Đảng, Nhà nước ta và những chủ trương, quyết sách trong việc triển khai cụ thể của ngành Giáo dục
Trang 36Những nghiên cứu này là cơ sở để NCS nghiên cứu về thông tin giáo dục đào tạo trên báo chí tác động đến các hoạt động giáo dục, một yếu tố quan trọng góp phần thành công trong công cuộc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đang thực hiện
Các công trình nghiên cứu các vấn đề báo chí với giáo dục đào tạo
+ Đề tài khoa học
GS.TS Tạ Ngọc Tấn, trong đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ “Tác động của báo chí đối với việc xây dựng lối sống tích cực của thanh niên, sinh viên hiện nay” năm 2011 đã làm rõ những biểu hiện, chiều hướng vận động của lối sống
thanh niên sinh viên hiện nay, xác định được vai trò ảnh hưởng của các yếu tố khác nhau trong đời sống xã hội, đặc biệt là ảnh hưởng của báo chí đối với những diễn biến phức tạp trong lối sống của thanh niên sinh viên Xác định những cơ sở khoa học, thực tiễn và dựa vào đó để hình thành những giải pháp đồng bộ nhằm huy động, kiểm soát và sử dụng hiệu quả toàn bộ hệ thống báo chí vào việc giáo dục, hình thành lối sống tích cực cho thanh niên sinh viên hiện nay
+ Các bài viết, kỷ yếu hội thảo:
Hội thảo Khoa học Tâm lý - Giáo dục Việt Nam, Đại học Thái Nguyên
(2012), Kỷ yếu Hội thảo khoa học: "Giải pháp đột phá đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục Việt Nam"
Bài viết “Đổi mới tư duy làm báo chí giáo dục để phục vụ tốt hơn sự nghiệp phát triển giáo dục” của TS Nguyễn Gia Cầu đăng trên Tạp chí giáo dục
2010, số số 240 (tr.1-2, 5), đã nêu rõ vai trò của giáo dục và báo chí giáo dục trong nền kinh tế thị trường Tác giả làm rõ nững áp lực và khó khăn đối với việc làm báo chí giáo dục Tuy nhiên, hoạt động báo chí giáo dục vẫn phải tuân theo tôn chỉ mục đích, phải tác động tích cực đến quá trình đổi mới giáo dục Tác giả cũng chỉ ra, những năm qua, các bài viết, công trình nghiên cứu dăng tải trên báo chí giáo dục đã cố gắng làm sáng tỏ luận điểm giáo dục, dạy học phát huy tính tự giác của học sinh Tác giả cũng khẳng định trên cơ sở định hướng tuyên truyền đúng dắn, báo chí giáo dục mới góp phần quan trọng tạo sự thống nhất nhận thức, sự đồng thuận trong nhân dân để tháo gỡ những vấn đề mới và khó của giáo dục
Trang 372 Những kế thừa và điểm mới nghiên cứu của luận án so với các công trình đã công bố
Nghiên cứu về thông tin về giáo dục và đào tạo trên báo in ở Việt Nam hiện nay chính là giải quyết những vấn đề lý luận và thực tiễn; những vấn đề về quan niệm, khái niệm, thực trạng, bản chất của báo chí trong việc thực hiện chức năng thông tin về giáo dục và đào tạo; vai trò của báo chí đối với nền giáo dục nước nhà, công cuộc đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo Việt Nam hiện nay, những tiêu chí cần mang tính chất tương đối cho hoạt động thông tin
về giáo dục và đào tạo của báo in…Từ thực tế cho thấy, trong những năm qua nhiều chủ trương, chính sách về giáo dục khi ban hành đã nhận được rất nhiều
sự quan tâm của báo chí với nhiều ý kiến cả trái chiều và ủng hộ, điều này xảy
ra ngay khi còn dự thảo Cùng với đó, thực trạng giáo dục cũng được mổ xẻ rất nhiều trong vấn đề đảm bảo chất lượng giáo dục từ mầm non cho đến đại học và sau đại học từ hệ thống trường lớp, đội ngũ giáo viên, cách dạy cách học, chương trình môn học…đến công tác quản lý điều hành và những vấn đề vĩ mô chiến lược, chủ trương, chính sách Đây cũng là thể hiện truyền thống hiếu học của người Việt Nam và mong muốn chính đáng của người dân và toàn xã hội với một nền giáo dục tốt
Do vậy, báo chí nói chung và báo in nói riêng có một vai trò hết sức quan trọng trong việc thông tin về giáo dục và đào tạo, cũng là một đòi hỏi khách quan, cấp thiết để báo chí thực sự đóng góp là một cầu nối, là một diễn đàn, là một trường học kết nối nằm trong hệ thống chính trị góp phần thúc đẩy nền giáo dục nước nhà phát triển, hội nhập quốc tế Người dân cũng luôn mong chờ và cùng với báo chí vừa cổ vũ, động viên tạo sự đồng thuận trong mỗi chủ trương, chính sách về giáo dục vừa phản biện, giám sát các hoạt động giáo dục Theo đó, các cơ quan quản lý Nhà nước về giáo dục cũng là chủ thể tiếp nhận việc thông tin giám sát, phản biện và mong muốn được giám sát, phản biện để từ đó xây dựng và ban hành các chủ trương chính sách đúng đắn sát với thực tế, đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của đất nước, nhân dân, những chủ trương, chính sách đó phải thực
sự đi vào cuộc sống Đồng thời những phát hiện những hạn chế trong hoạt động giáo dục cũng giúp cho các cơ quan quản lý giáo dục kịp thời điều chỉnh để việc thực hiện ở các cơ sở giáo dục tốt hơn và hiệu quả cao nhất
Trang 38Cho đến thời điểm hiện nay, trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học chưa có công trình khoa học hoàn chỉnh nào nghiên cứu trực tiếp về thông tin về giáo dục và đào tạo trên báo in Về các luận án do các nghiên cứu sinh thực hiện cũng chưa có đề tài nào Tuy vậy, qua khảo sát đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến khía cạnh của đề tài, là cơ sở quan trọng cho việc nghiên cứu Những công trình nghiên cứu đó thể hiện qua các hình thức: sách, giáo trình, bài báo khoa học đề cập đến một số nội dung nghiên cứu của đề tài; những luận án, luận văn nghiên cứu về những kỹ năng, nghiệp vụ báo chí, dư luận xã hội, công chúng, phản biện xã hội… liên quan đến đề tài nghiên cứu Những kết quả nghiên cứu giúp cho NCS có cơ sở và kế thừa trong quá trình triển khai đề tài luận án
Trong luận án này, NCS sẽ nghiên cứu để làm rõ thực trạng thông tin về giáo dục đào tạo trên báo chí, ý nghĩa, hiệu quả tác động của báo chí với giáo dục và đào tạo Với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta về lĩnh vực giáo dục
và đào tạo, đã được xác định là quốc sách hàng đầu, báo chí đã luôn dành sự quan tâm và phản ánh nhiều chiều về giáo dục Với ý nghĩa như vậy, việc thông tin trên báo chí cũng cho thấy những mặt mạnh và những mặt còn hạn chế, như:
ở nhiều bài viết cần có thêm hoặc tìm hiểu sâu về kiến thức giáo dục (Mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông và đại học); cần bàn thêm nhìn ở góc độ tính giáo dục trong những ngôn ngữ sử dụng trong bài hoặc đặt đầu bài… Chính vì vậy, khi được nghiên cứu đề tài Thông tin về giáo dục và đào tạo trên báo in, sẽ giúp cho tác giả nghiên cứu một cách toàn diện về một lĩnh vực tuyên truyền hết sức quan trọng là giáo dục và đào tạo Đề tài sẽ chỉ ra được được hiệu quả tác động của báo chí đối với lĩnh vực giáo dục và đào tạo, đồng thời làm rõ những điểm tích cực và những hạn chế trong những nội dung và hình thức thông tin lĩnh vực này trên báo chí thời gian qua
Cụ thể, NCS tập trung làm rõ một số vấn đề: Chương 1: Các khái niệm liên quan đến đề tài; Đặc điểm và vai trò của thông tin về giáo dục và đào tạo trên báo in; Mô hình thông tin về giáo dục về giáo dục và đào tạo trên báo in; Những yêu cầu đối với việc thông tin về giáo dục và đào tạo về nội dung và hình thức thông tin Chương 2: Nội dung, hình thức, phương thức thông tin về giáo dục và đào tạo trên các báo in khảo sát; chất lượng thông tin về giáo dục và đào
Trang 39tạo trên báo in; Thông tin về giáo dục và đào tạo những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân Chương 3: Những vấn đề đặt ra đối với thông tin về giáo dục và đào tạo trên báo in và giải pháp, khuyến nghị thông tin về giáo dục và đào tạo trên báo in
Tiểu kết tổng quan tình hình nghiên cứu
Trong phần này NCS đã tìm hiểu một số công trình nghiên cứu về giáo dục và đào tạo, về lý luận báo chí, vai trò chức năng của báo chí với thông tin về giáo dục và đào tạo ở trong và ngoài nước Qua đó cho thấy rằng, vai trò thông tin về giáo dục và đào tạo trên báo chí nói chung, báo in nói riêng được đề cập
từ rất sớm thông qua nghiên cứu các lĩnh vực như triết học, chính trị học, luật học, báo chí học, giáo dục học, xã hội học… Các nghiên cứu này chủ yếu được nghiên cứu ở góc độ lý luận cơ bản, nghiên cứu cụ thể trong hoạt động của cơ quan báo chí, hay kỹ năng, nghiệp vụ Theo đó, giáo dục hay cụ thể hơn là thông tin về giáo dục đào tạo trên báo chí được đặt trong mối quan hệ với nhà nước pháp quyền, xã hội dân chủ, báo chí phát triển Thông tin về giáo dục đào tạo trên báo chí được coi là nguyên tắc cơ bản và tất yếu trong đời sống chính trị và hoạt động quản lý xã hội đối với các quốc gia
Các nghiên cứu cũng cho thấy đã chứng minh giáo dục đào tạo là một lĩnh vực quan trọng của mỗi quốc gia, thông tin về giáo dục đào tạo trên báo chí là một chức năng và có vị trí quan trọng của báo chí Tuy nhiên, cũng chưa có một nghiên cứu nào chỉ ra một cách đầy đủ, cụ thể về thông tin giáo dục đào tạo trên báo chí và ở Việt Nam, cũng như chưa chỉ ra được bản chất, nội dung, phương thức thông tin về giáo dục đào tạo trên báo chí nói chung và từng loại hình báo chí nói riêng Việc nghiên cứu cho thấy, nhiều vấn đề khái niệm và bản chất, nội dung và hình thức, phương thức, phương tiện, vai trò, hiệu quả tác động…của thông tin về giáo dục đào tạo trên báo in ở nước ta vẫn chưa được làm rõ Các
nội dung này sẽ được NCS làm sáng tỏ qua đề tài: Thông tin về giáo dục và đào tạo trên báo in Việt Nam (Khảo sát trên các báo Nhân Dân, Giáo dục và Thời đại, Tuổi trẻ và Thanh Niên)
Trang 40Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN THÔNG TIN VỀ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRÊN BÁO IN 1.1 Các khái niệm liên quan đến đề tài
1.1.1 Khái niệm Báo in
Theo Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên), báo chí là “Báo và tạp chí; xuất bản phẩm định kỳ ”; “Báo chí được hiểu như một thiết chế, một chỉnh thể từ ý đồ của quyền lực chính trị đến đối tượng tác động và các mối quan hệ trực tiếp, gián tiếp” [55, tr.3].Báo chí được hiểu là những sản phẩm truyền
thông đại chúng chuyển tải thông tin mang tính thời sự thông qua phương pháp phản ánh hiện thực khách quan, trực tiếp và tác động vào công chúng xã hội theo định kỳ Đặc điểm nổi bật của báo chí chính là tính công khai và sự lan tỏa nhanh chóng, rộng khắp
Theo Luật báo chí, báo in bao gồm: báo, tạp chí, bản tin thời sự, bản tin thông tấn Nghị định số 51/2002/NĐ-CP, ngày 26 tháng 4 năm 2002 quy định chi tiết thi hành Luật Báo chí, luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo
chí định nghĩa “Báo in: là tên gọi loại hình báo chí được thực hiện bằng phương tiện in (báo, tạp chí, bản tin thời sự, bản tin thông tấn)” Căn cứ vào Luật Báo
chí năm 2016,Báo in là loại hình báo chí sử dụng chữ viết, tranh, ảnh, thực hiện bằng phương tiện in để phát hành đến bạn đọc, gồm báo in, tạp chí in
“Báo in là những ấn phẩm định kỳ chuyển tải nội dung thông tin mang tính thời sự và được phát hành rộng rãi trong xã hội Trong trường hợp này, thuật ngữ báo in dùng để chỉ 2 bộ phận báo và tạp chí” [ 63; tr 81]
Khi nhìn nhận xã hội như một hệ thống trong tổng thể đang vận hành, báo chí cũng cần được tiếp cận từ quan điểm hệ thống; nhìn nhận báo chí như một tiểu hệ thống cấu thành hệ thống xã hội nói chung; trong đó, báo chí là một bộ phận cấu thành và chịu sự chi phối của hệ thống lớn cũng như sự tác động của các tiểu hệ thống (hoặc hệ thống con)
Trong luận án loại hình báo chí được đề cập là loại hình báo in, vì vậy chúng tôi sử dụng khái niệm báo in là sản phẩm của hoạt động báo chí để khảo sát thông tin về giáo dục và đào tạo trên báo in ở Việt Nam