Tăng cường liên hệ Toán học với thực tiễn trong dạy học Toán 7. Tăng cường liên hệ Toán học với thực tiễn trong dạy học Toán 7.Tăng cường liên hệ Toán học với thực tiễn trong dạy học Toán 7.Tăng cường liên hệ Toán học với thực tiễn trong dạy học Toán 7.Tăng cường liên hệ Toán học với thực tiễn trong dạy học Toán 7.Tăng cường liên hệ Toán học với thực tiễn trong dạy học Toán 7.Tăng cường liên hệ Toán học với thực tiễn trong dạy học Toán 7.
Trang 1TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM BÌNH PHƯỚC
ĐẶNG XUÂN QUỲNH
TĂNG CƯỜNG LIÊN HỆ TOÁN HỌC VỚI THỰC TIỄN
TRONG DẠY HỌC TOÁN 7
Trang 2
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 7
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 7
1 1 Định hướng đổi mới dạy học môn Toán ở trường phổ thông hiện nay 7
1.2 Nguyên tắc thống nhất giữa lí luận và thực tiễn trong dạy học Toán 10
1.3 Mục đích của việc tăng cường liên hệ với thực tiễn trong quá trình dạy học Toán ở trường Trung học phổ thông 14
1.4 Tìm hiểu thực trạng việc tổ chức liên hệ với thực tiễn trong dạy học môn Toán ở một số trường trung học cơ sở hiện nay; 27
Kết luận chương 1 34
Chương 2 DẠY HỌC TOÁN 7 Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO HƯỚNG TĂNG CƯỜNG LIÊN HỆ VỚI THỰC TIỄN 35
2.1 Khái quát về nội dung chương trình SGK Toán 7 hiện hành ở trường Trung học cơ sở 35
2.2 Xây dựng và sử dụng các tình huống thực tiễn nhằm gợi động cơ cho hoạt động trong dạy học kh ái niệm, định lí 40
2.3 Xây dựng hệ thống bài tập có câu hỏi gắn với thực tiễn cho từng chủ đề trong dạy học Toán 7 54
2.4 Sử dụng hợp lý các câu hỏi gắn với đời sống thực tiễn trong kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh trong dạy học Toán 65
Kết luận chương 2 74
Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 75
3.1 Mục đích thực nghiệm 75
3.2 Tổ chức thực nghiệm 75
3.3 Nội dung thực nghiệm 76
3.4 Phân tích kết quả thực nghiệm 78
3.5 Kết luận chung về thực nghiệm 81
KẾT LUẬN 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
PHỤ LỤC 87
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Trong giai đoạn đổi mới hiện nay, đòi hỏi ngành giáo dục phải đào tạocon người phát triển toàn diện, có tư duy sáng tạo, có năng lực thực hành giỏi, cókhả năng đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao trước yêu cầu đẩy mạnh công nghiệphoá, hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
và hội nhập quốc tế Để thực hiện được nhiệm vụ đó sự nghiệp giáo dục và đàotạo cần được đổi mới Cùng với những thay đổi về nội dung, cần có những đổimới căn bản về tư duy giáo dục và phương pháp dạy học, trong đó phương phápdạy học môn Toán là một yếu tố quan trọng Một trong những nhiệm vụ và giảipháp lớn về giáo dục được đề ra trong Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trungương khóa XI là: “Đổi mới chương trình nhằm phát triển năng lực và phẩm chấtngười học, hài hòa đức, trí, thể, mỹ; dạy người, dạy chữ và dạy nghề Đổi mớinội dung giáo dục theo hướng tinh giản, hiện đại, thiết thực, phù hợp với lứa tuổi,trình độ và ngành nghề; tăng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn”
1.2 ''Lí luận liên hệ với thực tiễn'' là một yêu cầu có tính nguyên tắc trongdạy học môn Toán được rút ra từ luận điểm triết học: ''Thực tiễn là nguồn gốccủa nhận thức, là tiêu chuẩn của chân lí'' Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: "Thốngnhất giữa lí luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác -Lênin Thực tiễn không có lí luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng Líluận mà không liên hệ với thực tiễn là lí luận suông" [4, tr 66] Trong lĩnh vựcGiáo dục và Đào tạo, Bác là người có quan điểm và hành động chiến lược vượttầm thời đại Về mục đích việc học Bác xác định rõ: học để làm việc Còn vềphương pháp học tập Người xác định: Học phải gắn liền với hành; học tập suốtđời; học ở mọi nơi, mọi lúc, mọi người Quan điểm này được Người nhấn mạnh:
"Học để hành: Học với hành phải đi đôi Học mà không hành thì vô ích Hành
mà không học thì không trôi chảy" Vấn đề này đã được cụ thể hoá và quy địnhtrong Luật giáo dục nước ta (năm 2005) Tại chương 1, điều 3, khoản 2: ''Hoạtđộng giáo dục phải được thực hiện theo nguyên lý học đi đôi với hành, giáo dục
Trang 5kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trườngkết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội'' Chương 2, mục 2, điều 27 và
28 xác định rằng: "Giáo dục trung học cơ sở nhằm giúp học sinh củng cố và pháttriển những kết quả của giáo dục tiểu học; có học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở
và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học trunghọc phổ thông, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động'' "Phươngpháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạocủa học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡngphương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kĩ năng vận dụngkiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú họctập cho học sinh"
1.3 Toán học có nguồn gốc thực tiễn và là "chìa khoá" trong hầu hết cáchoạt động của con người Nó có mặt ở khắp nơi Toán học là kết quả của sự trừutượng hoá các sự vật hiện tượng trong thực tiễn trên những bình diện khác nhau
và có vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu chung của giáo dục phổthông Mặc dù là ngành khoa học có tính trừu tượng cao nhưng Toán học có mốiliên hệ chặt chẽ với thực tiễn và có thể ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vựckhác nhau: là công cụ để học tập các môn học trong nhà trường, nghiên cứunhiều ngành khoa học và là công cụ để hoạt động trong sản xuất và đời sống thực
tế Trong thư gửi các bạn trẻ yêu toán, thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nhấn mạnh:
"Dù các bạn phục vụ ở ngành nào, trong công tác nào, thì các kiến thức vàphương pháp toán cũng cần cho các bạn" [6, tr 14] ''Toán học có vai trò quantrọng trong khoa học công nghệ cũng như trong đời sống'' [12, tr 50]
1.4 Mặc dù vậy, do nhiều lí do khác nhau mà SGK Toán phổ thông nóichung, sách Đại số 7 nói riêng, chưa thực sự quan tâm đúng mức, thường xuyêntới việc làm rõ mối liên hệ với thực tiễn ngoài Toán học, nhằm bồi dưỡng chohọc sinh ý thức và năng lực vận dụng những hiểu biết Toán học vào việc học tậpcác môn học khác, giải quyết nhiều tình huống đặt ra trong cuộc sống lao độngsản xuất Bên cạnh đó, thực trạng dạy học Toán ở trường phổ thông cho thấy
Trang 6rằng, đa số giáo viên chỉ quan tâm tới việc truyền thụ lí thuyết, thiếu thực hành
và liên hệ kiến thức với thực tiễn Học sinh ''đang học Toán chỉ giới hạn trongphạm vi bốn bức tường của lớp học, thành thử không để ý đến những tương quanToán học quen thuộc trong thế giới những sự vật hiện tượng xung quanh, khôngbiết ứng dụng những kiến thức Toán học đã thu nhận được vào thực tiễn NguyễnCảnh Toàn thì coi đây là kiểu ''Dạy và học toán tách rời cuộc sống đời thường''
1.5 Định hướng đổi mới phương pháp dạy học và nội dung sách giáo khoacủa Bộ giáo dục và Đào tạo đã xác định rõ: Cần dạy học theo cách sao cho họcsinh có thể nắm vững tri thức, kỉ năng và sẵn sàng vận dụng vào thực tiễn Tạo
cơ sở để học sinh học tiếp hoặc đi vào cuộc sống lao động Sách giáo khoa cầnchú ý nêu rõ ý nghĩa và ứng dụng của các kiến thức, chú ý mối quan hệ liên môn.Gần đây đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề này, trong đóphải kể đến:
- Nguyễn Ngọc Anh (2000), Ứng dụng phép tính vi phân (Phần đạo hàm)
để giải các bài tập cực trị có nội dung liên môn và thực tế trong dạy học toán 12 trung học phổ thông, Luận án Tiến sỹ Giáo dục học, Viện khoa học giáo dục, Hà
Nội
- Nguyễn Văn Bảo (2005), Góp phần rèn luyện cho học sinh năng lực vận dụng kiến thức Toán học để giải quyết một số bài toán có nội dung thực tiễn,
Luận văn Thạc sĩ Giáo dục học, trường Đại học Vinh
Đề tài này trên cơ sở kế thừa, phát triển và cụ thể hoá những kết quảnghiên cứu của các tác giả đi trước, nhằm quan tâm tìm kiếm các tình huống thựctiễn để gợi động cơ cho hoạt động dạy học kiến thức Toán 7 ở trường Trung học
cơ sở Vì những lí do trên đây, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu là: " Tăng cường liên hệ Toán học với thực tiễn trong dạy học Toán 7".
2 Mục đích nghiên cứu
Trang 7Mục đích nghiên cứu là tìm hiểu mối liên hệ của một số kiến thức Toán 7với thực tiễn và vận dụng vào dạy học, nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáodục Toán học cho học sinh Trung học cơ sở.
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Tổng hợp các quan điểm của các nhà khoa học liên quan đến vấn đềtăng cường liên hệ Toán học với thực tiễn trong dạy Toán nói chung và dạy họcToán 7 nói riêng
3.2 Nghiên cứu kĩ nội dung SGK Toán 7 hiện hành và các tài liệutham khảo có liên quan để làm rõ những nội dung có mối liên hệ chặt chẽ vớithực tiễn
3.3 Tìm hiểu thực trạng và nguyên nhân của việc dạy và học môn Toán 7
ở trường Trung học cơ sở theo hướng nghiên cứu của đề tài
3.4 Xây dựng một số biện pháp sư phạm nhằm tăng cường liên hệ vớithực tiễn trong quá trình dạy học Toán 7, góp phần nâng cao hiệu quả dạyhọc
3.5 Tiến hành tổ chức thực nghiệm sư phạm để đánh giá tính khả thi củamột số biện pháp nhằm điều chỉnh và rút ra kết luận
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu: Tìm mối liên hệ các kiến thức Toán học vớithực tiễn
4.2 Đối tượng nghiên cứu: Quá trình dạy học các nội dung Toán 7
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu lí luận: Tìm hiểu, nghiên cứu các tài liệu toán học;phương pháp dạy học môn Toán và các tài liệu khác liên quan đến đề tài
5.2 Quan sát: Quan sát thực trạng dạy và học môn Toán nói chung vàToán 7 nói riêng ở trường Trung học cơ sở của một số địa phương
Trang 85.3 Thực nghiệm sư phạm: Tổ chức thực nghiệm sư phạm để xem xét tínhkhả thi và hiệu quả của các biện pháp nhằm tăng cường liên hệ với thực tiễntrong dạy học Toán 7 ở trường Trung học cơ sở
6 Giả thuyết khoa học
Trên cơ sở tôn trọng sách giáo khoa Toán 7 hiện hành, nếu giáo viên chú ýđến việc tăng cường liên hệ với thực tiễn trong quá trình dạy học thì sẽ góp phầnnâng cao chất lượng dạy và học Toán 7 ở nhà trường phổ thông
8 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phụ lục và tài liệu tham khảo, cấu trúc đề tài gồm các nội dungchính sau đây:
Mở đầu
Chương 1 Một số vấn đề cơ sở lí luận và thực tiễn
Chương 2 Dạy học Toán 7 ở trường Trung học cơ sở theo hướng tăngcường liên hệ với thực tiễn
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Kết luận
Trang 9NỘI DUNG Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1 1 Định hướng đổi mới dạy học môn Toán ở trường phổ thông hiện nay
Tác giả Trần Dư Sinh khi bàn về “Đổi mới dạy và học toán ở bậc học phổthông” đã cho rằng: So với những chương trình trước đây, lần này đã có mộtchương trình làm pháp lệnh, thống nhất từ lớp 1 đến lớp 12, có tính liên thônggiữa các môn học với quan điểm đổi mới khá rõ nét, với một bộ chuẩn kiến thức
kỹ năng cụ thể Sách giáo khoa (SGK) chỉ là tài liệu thể hiện chương trình, đượcbiên soạn theo hướng giúp giáo viên đổi mới phương pháp dạy, giúp học sinh tựhọc Tuy nhiên, theo đánh giá chung chương trình hiện hành vẫn đang còn nặng,gây quá tải cho người học, bộ sách chuẩn dùng cho tất cả các đối tượng học sinh
là không hợp lý Không phải đối tượng nào cũng có thể học được chương trìnhtoán hiện nay, ví dụ học sinh miền núi, vùng sâu vùng xa, học sinh có năng khiếu
về xã hội thì hạn chế về tư duy toán học, Điều đó khiến nhiều học sinh càngngày càng không theo kịp, nên sinh chán học, xảy ra hiện tượng ngồi nhầm lớp.Chương trình học vẫn đang còn mang nặng tính hàn lâm, thiếu thực tiễn Hiệnnay, xã hội cũng như Bộ GD&ĐT đã thấy được vấn đề, việc đổi mới chươngtrình để theo kịp xu thế chung của thế giới là cần thiết Theo dự thảo kế hoạchđổi mới chương trình sau năm 2015 thì chương trình sẽ tinh giảm mạnh, dự kiến
sẽ chỉ còn học một số môn bắt buộc, còn lại là tự chọn, tăng tính thực tiễn củachương trình Môn Toán ở trường phổ thông cũng phải đổi mới theo xu hướng
đó Tuy nhiên đổi mới dạy học Toán ở bậc phổ thông như thế nào? Theo thiển ý,đổi mới dạy và học toán phải trả lời thỏa đáng các câu hỏi sau: − Học Toán đểlàm gì? (Toán học vị Toán học hay Toán học vị thực tiễn cuộc sống?) − Dạy
Trang 10Toán cho ai? (Cần nắm vững đối tượng HS học Toán) − Dạy Toán như thế nào?(Phương pháp dạy Toán) − Kiểm tra đánh giá như thế nào? (Học để suy luận hayhọc để thi?) [http://ptth-hstar.thuathienhue.edu.vn/imgs/to_toan_ly_tin/c-fakepathdoi-moi-day-va-hoc-toan-o-pho-thong.pdf].
Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI
về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo có nêu “Phát triển giáo dục vàđào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Chuyển mạnhquá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện nănglực và phẩm chất người học Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáodục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội…”
Một số kiến nghị của Hội thảo về định hướng và giải pháp đổi mới dạy học
môn Toán (theo văn bản số 112/TB-BGDĐT ngày 08/01/2013 về việc thông báo kết quả Hội thảo khoa học quốc gia về dạy học Toán ở trường phổ thông Việt Nam):
- Củng cố, nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của dạy học Toán ở trường
phổ thông
+ Cần khắc phục quan niệm khá phổ biến hiện nay cho rằng: Toán học đãđược xây dựng hoàn chỉnh, khó có thể phát triển thêm; toán học rất xa rời vớithực tiễn, với đời sống xã hội Vấn đề đặt ra là làm thế nào bồi dưỡng cho họcsinh lòng say mê toán học từ những bài học ở nhà trường phổ thông chứ khôngphải chỉ dừng lại ở việc cung cấp kiến thức, kỹ năng toán cần thiết để học sinhtham dự kỳ thi tốt nghiệp THPT, tuyển sinh đại học, cao đẳng
+ Giáo dục phổ thông có nhiệm vụ hình thành và phát triển các năng lựcchung và năng lực chuyên biệt cho học sinh Tất cả các lĩnh vực/ môn học, cáchoạt động giáo dục có tác động qua lại với nhau, trong đó dạy học môn Toánđóng vai trò chủ yếu cho sự hình thành và phát triển năng lực, trí tuệ của mỗi cánhân học sinh, đặc biệt là năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề
Trang 11- Đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá nhằm nâng caochất lượng dạy học Toán tại các trường phổ thông theo yêu cầu phát triển nănglực học sinh.
+ Chú trọng yêu cầu sử dụng các phương pháp dạy học tích cực; đảm bảotạo điều kiện cho học sinh thực hành, vận dụng kiến thức, kỹ năng vào các tìnhhuống thực tiễn hay các tình huống có tính “phức hợp” (đòi hỏi sự vận dụng phốihợp kiến thức, kỹ năng từ các lĩnh vực khác nhau) Ứng dụng hiệu quả công nghệthông tin trong dạy học Toán; tăng cường sử dụng các phần mềm toán học hỗ trợgiáo viên chuẩn bị bài soạn, tự làm thiết bị dạy học, thiết kế và thực hiện các hoạtđộng dạy học
+ Mở rộng nghiên cứu quốc tế để vận dụng các phương pháp, công cụ, môhình đánh giá hiện đại đáp ứng được yêu cầu đánh giá năng lực người học Đồngthời, giáo viên phải có được các kỹ năng hướng dẫn, khích lệ học sinh thông quaviệc đánh giá thường xuyên trên lớp học và hướng dẫn học sinh tự đánh giá khidạy học Toán; thực hiện tốt đánh giá định kỳ cấp quốc gia và từng bước vậndụng đánh giá quốc tế, trước hết là đánh giá của PISA để đánh giá năng lực toáncủa học sinh; tăng cường sử dụng các phần mềm phân tích kết quả các bài kiểmtra để làm căn cứ từ đó điều chỉnh phương pháp dạy học
- Về định hướng đổi mới chương trình, sách giáo khoa Toán sau năm 2015+ Chương trình toán học phổ thông mới hướng tới phát triển năng lực củahọc sinh, bao gồm các năng lực chủ yếu là: Tư duy toán học, giải quyết vấn đề cónội dung toán học, mô hình hóa toán học, lập luận toán học, sử dụng các kí hiệutoán học, trình bày các nội dung toán học, giao tiếp có sử dụng toán học, sử dụngcác công cụ và phương tiện trong học toán
+ Căn cứ mục tiêu chung của chương trình giáo dục phổ thông để xác địnhmục tiêu chương trình môn Toán (về kiến thức, kĩ năng, tư duy, tình cảm và thái
độ của học sinh) ở từng cấp học và theo hai giai đoạn: giáo dục “cơ bản” (cấp
TH, THCS) và “sau cơ bản” (cấp THPT), trong đó môn Toán là môn học bắtbuộc đối với tất cả học sinh từ lớp 1 đến lớp 12 Riêng giai đoạn “sau cơ bản”,
Trang 12việc tổ chức phân hóa cần đạt mức độ cao Học sinh tùy theo định hướng nghềnghiệp sẽ có điều kiện chọn lựa nội dung học tập thích hợp; việc dạy học Toánkhông thể tính đồng loạt, trái lại, phải có các chuyên đề khác nhau theo hướngphục vụ trực tiếp cho nghề nghiệp tương lai của học sinh thông qua các nội dungdạy học tự chọn.
+ Tính phổ thông, cơ bản, hành dụng phải là những tiêu chí chủ yếu khixác định nội dung toán học phổ thông Đồng thời các nội dung, hoạt động toánhọc phải mang tính tích hợp, yêu cầu học sinh huy động các kiến thức, kĩ năng từnhiều môn học, lĩnh vực học tập và các yếu tố thực tiễn gắn với cuộc sống Trêntinh thần đó, các mạch nội dung toán trong chương trình hiện hành sẽ được sắpxếp và thiết kế lại gồm: Số học và Đại số, Hình học và Đo lường, Xác suất vàThống kê; riêng cấp Trung học phổ thông, cần xây dựng chương trình trong đó
có hệ thống các chủ đề tự chọn, phù hợp với định hướng nghề nghiệp của họcsinh khi học tiếp đại học, cao đẳng hoặc học nghề Vấn đề đặt ra tiếp theo là xácđịnh ma trận các năng lực toán học tương ứng với các nội dung phân môn ở từngcấp lớp như thế nào?
1.2 Nguyên tắc thống nhất giữa lí luận và thực tiễn trong dạy học Toán
1.2.1 Nguyên tắc thống nhất giữa lí luận và thực tiễn
Giữa lý luận và thực tiễn có mối quan hệ biện chứng với nhau, tác động qualại lẫn nhau Việc quán triệt mối quan hệ này có ý nghĩa quan trọng trong nhậnthức khoa học và hoạt động thực tiễn cách mạng Con người quan hệ với thế giớibắt đầu từ thực tiễn Lý luận là hệ thống sản phẩm tri thức được khái quát từ thựctiễn nhờ sự phát triển cao của nhận thức
Thực tiễn là cơ sở, mục đích và động lực chủ yếu của nhận thức, lý luận.Thực tiễn cung cấp tài liệu cho nhận thức, không có thực tiễn thì không có nhậnthức Mọi tri thức khoa học dù trực tiếp hay gián tiếp thì xét đến cùng đều bắtnguồn từ thực tiễn Nhận thức, lý luận sau khi ra đời phải quay về phục vụ thựctiễn, hướng dẫn và chỉ đạo thực tiễn Ngược lại, thực tiễn là công cụ xác nhận,kiểm nghiệm tri trức thu được là đúng hay sai, chân lý hay sai lầm và nghiêm
Trang 13khắc chứng minh chân lý, bác bỏ sai lầm "Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý".Cần coi trọng thực tiễn Việc nhận thức phải xuất phát từ thực tiễn, dựa trên cơ
sở thực tiễn, đi sâu đi sát thực tiễn, nghiên cứu lý luận phải liên hệ với thực tiễn,
"học đi đôi với hành" Tuy nhiên không có nghĩa là coi nhẹ, xa rời lý luận Chủtịch Hồ Chí Minh đã viết: "Thống nhất giữa lí luận và thực tiễn là một nguyêntắc căn bản của chủ nghĩa Mác - Lênin Thực tiễn không có lí luận hướng dẫn thìthành thực tiễn mù quáng Lí luận mà không liên hệ với thực tiễn là lí luậnsuông" [4, tr 66]
1.2.2 Một số quan điểm về vấn đề liên hệ với thực tiễn trong dạy học
Trong lĩnh vực Giáo dục và Đào tạo, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người có quanđiểm và hành động chiến lược vượt tầm thời đại Về mục đích việc học Bác xác
định rõ: Học để giúp dân cứu nước; học để làm việc Còn về phương pháp học tập (là một nội dung của mục đích học) Người xác định: Học phải gắn liền với hành; học tập suốt đời; học ở mọi nơi, mọi lúc, mọi người Quan điểm này được Người
nhấn mạnh: "Học để hành: Học với hành phải đi đôi Học mà không hành thì vôích Hành mà không học thì không trôi chảy" [19, tr 2-3-5] Đồng chí TrườngChinh cũng đã nêu: "Dạy tốt là khi giảng bài phải liên hệ với thực tiễn, làm chohọc sinh dễ hiểu, dễ nhớ và có thể áp dụng điều mình đã học vào công tác thựctiễn được"
Còn theo Nguyễn Cảnh Toàn, trong dạy học không nên đi theo con đườngsao chép lí luận ở đâu đó rồi nhồi cho người học, vì học như vậy là kiểu học sách
vở Nên theo con đường có một lí luận hướng dẫn ban đầu rồi bắt tay hoạt độngthực tiễn, dùng thực tiễn này mà củng cố lí luận, kế thừa có phê phán lí luậncủa người khác, rồi lại hoạt động thực tiễn, cứ thế theo mối quan hệ qua lại giữa
lí luận và thực tiễn mà đi lên
1.2.3 Nguyên lý giáo dục và định hướng tăng cường liên hệ với thực tiễn trong dạy học môn Toán
1.2.3.1 Nguyên lý giáo dục
Trang 14Luật Giáo dục nước ta (năm 2005) xác định: ''Hoạt động giáo dục phải đượcthực hiện theo nguyên lý học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sảnxuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục giađình và giáo dục xã hội''
1.2.3.2 Định hướng tăng cường liên hệ với thực tiễn trong dạy học môn Toán
Toán học là môn học có tính trừu tượng cao Tuy nhiên, Toán học có nguồngốc thực tiễn nên tính trừu tượng chỉ che lấp chứ không hề làm mất đi tính thựctiễn của nó Với vai trò là môn học công cụ nên các tri thức, kĩ năng và phươngpháp làm việc của môn Toán được sử dụng cho việc học tập các môn học kháctrong nhà trường, trong nhiều ngành khoa học khác nhau và trong đời sống thực
tế Chẳng hạn, trong Vật lí chúng ta gặp mối liên hệ giữa quảng đường đi được s
và thời gian t trong một chuyển động đều biểu thị bởi: s = vt, mối liên hệ giữahiệu điện thế U và cường độ dòng điện I khi điện trở R không đổi biểu thị bởi: U
= I.R; trong Hình học chúng ta gặp mối liên hệ giữa chu vi C và bán kính R củađường tròn biểu thị bởi: C = 2R; trong Hóa học chúng ta gặp mối liên hệ giữaphân tử gam M của một chất khí với tỉ khối d của chất khí đó đối với không khíbiểu thị bởi: M = 29d; mối quan hệ giữa giá tiền p với chiều dài n của tấm vảibiểu thị bởi: p = a.n;… Bằng cách trừu tượng hóa, gạt ra một bên các đại lượng
cụ thể và chỉ chú ý tới quan hệ của các đại lượng đó, chúng ta có hàm số y = a.x
Do vậy, có thể nói rằng, môn Toán có nhiều tiềm năng liên hệ với thực tiễntrong dạy học Theo [12, tr 71] thì liên hệ với thực tiễn trong quá trình dạy họcToán là một trong ba phương hướng thực hiện Nguyên lí giáo dục nói trên Cụthể là cần liên hệ với thực tiễn qua các mặt sau:
1) Nguồn gốc thực tiễn của Toán học: số tự nhiên ra đời do nhu cầu đếm,
hình học xuất hiện do nhu cầu đo đạc lại ruộng đất sau những trận lụt bên bờsông Nil (Ai cập), …
2) Sự phản ánh thực tiễn của Toán học: khái niệm véctơ phản ánh những
đại lượng đặc trưng không phải chỉ bởi số đo mà còn bởi hướng, chẳng hạn vậntốc, lực,… khái niệm đồng dạng phản ánh những hình đồng dạng nhưng khác
Trang 15nhau về độ lớn… trong Toán học có chứng minh thuận, chứng minh đảo thì trongcuộc sống ta thường khuyên nhau: "nghĩ đi rồi phải nghĩ lại", "có qua có lại",
"sống phải có trước có sau", …
3) Các ứng dụng thực tiễn của Toán học: Ứng dụng lượng giác để đo
khoảng cách không tới được, đạo hàm được ứng dụng để tính vận tốc tức thời,tích phân được ứng dụng để tính diện tích, thể tích… Muốn vậy, cần quan tâmtăng cường cho học sinh tiếp cận với những bài toán có nội dung thực tiễn trongkhi học lí thuyết cũng như làm bài tập
- Trong nội bộ môn Toán, cần cho học sinh làm toán có nội dung thực tiễnnhư giải bài toán bằng cách lập phương trình, bài toán cực trị, đo khoảng cáchkhông tới được…
- Cần cho học sinh vận dụng những tri thức và phương pháp Toán học vàonhững môn học trong nhà trường, chẳng hạn vận dụng véctơ để biểu thị lực, vậntốc, gia tốc, vận dụng đạo hàm để tính vận tốc tức thời trong Vật lí, vận dụng tổhợp xác suất khi nghiên cứu di truyền, vận dụng tri thức về hình học không giantrong vẽ kĩ thuật…
- Tổ chức những hoạt động thực hành toán học trong và ngoài nhà trường kể
cả những hoạt động có tính chất tập dượt nghiên cứu bao gồm khâu đặt bài toán,xây dựng mô hình, thu thập dữ liệu, xử lí mô hình để tìm lời giải, đối chiếu lờigiải với thực tế để kiểm tra và điều chỉnh [10, tr 53]
Tất cả những hoạt động trên cần dẫn tới hình thành phẩm chất luôn luônmuốn ứng dụng tri thức và phương pháp Toán để giải thích, phê phán và giảiquyết những sự việc xảy ra trong đời sống Chẳng hạn, khi nhìn thấy một số ghi
ở một cột bên lề đường, có thể học sinh chưa biết được số đó chỉ cái gì Chính ýthức và phong cách vận dụng Toán học sẽ thôi thúc họ xem xét sự biến thiên củacác số trên các cột để giải đáp điều đó Tác giả Trần Kiều cho rằng: "Học Toántrong nhà trường phổ thông không phải chỉ tiếp nhận hàng loạt các công thức,định lý, phương pháp thuần túy mang tính lí thuyết , cái đầu tiên và cái cuốicùng của quá trình học Toán phải đạt tới là hiểu được nguồn gốc thực tiễn của
Trang 16Toán học và nâng cao khả năng ứng dụng, hình thành thói quen vận dụng Toánhọc vào cuộc sống" [11, tr 3 - 4] "Loại trừ những ứng dụng khỏi Toán họcchẳng khác gì đi tìm một thực thể sống chỉ từ một hài cốt, không bắp thịt, khôngthần kinh, không mạch máu" [6, tr 31] Tuy nhiên, trước hết học sinh cần đượctrang bị cho một hệ thống vững chắc những tri thức, kĩ năng, phương pháp Toánhọc phổ thông một cách có hệ thống, cơ bản, hiện đại, sát thực tiễn Việt Namtheo tinh thần giáo dục kĩ thuật tổng hợp.
1.3 Mục đích của việc tăng cường liên hệ với thực tiễn trong quá trình dạy học Toán ở trường Trung học phổ thông
1.3.1 Tăng cường liên hệ với thực tiễn góp phần hoàn thành mục tiêu, nhiệm vụ dạy học bộ môn Toán ở trường phổ thông trong giai đoạn hiện nay
Trước hết ta đề cập đến mục tiêu chung của của giáo dục nước ta đã đượcquy định trong Luật Giáo dục (năm 2005): "Mục tiêu của giáo dục phổ thông làgiúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kĩnăng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thànhnhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và tráchnhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống laođộng, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc" (Điều 27) Nói một cách tổng quát,mục tiêu của nhà trường phổ thông nước ta là hình thành những cơ sở ban đầu vàtrọng yếu của con người mới phát triển toàn diện phù hợp với yêu cầu và điềukiện, hoàn cảnh của đất nước Việt Nam
Hiện nay, thế giới đã bước vào kỉ nguyên kinh tế tri thức và toàn cầu hóacùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, đặc biệt là lĩnh vựccông nghệ kỉ thuật cao Còn nước ta, vào tháng 4 năm 2006, diễn ra Đại hộiĐảng toàn quốc lần thứ 10; ngày 07 tháng 11 năm 2006 Việt Nam trở thànhthành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và ngày 17tháng 11 năm 2006 khai mạc Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á - Thái BìnhDương (APEC) lần thứ 14 tại Hà Nội Việt Nam đang tự tin bước vào một kỉnguyên mới - kỉ nguyên hội nhập quốc tế và hợp tác cạnh tranh toàn cầu
Trang 17Để theo kịp với những chuyển biến to lớn trên về tình hình kinh tế và chínhtrị xã hội của nước ta cũng như trên thế giới trong giai đoạn này - một giai đoạn
mà cạnh tranh quốc tế là cạnh tranh về con người Nền giáo dục phải có sứ mệnhlàm sao đào tạo ra những thế hệ con người Việt Nam có đủ sức mạnh trí tuệ vànhân cách để đưa nước ta hội nhập thành công và cạnh tranh thắng lợi trong môitrường toàn cầu Giáo sư Hoàng Tụy đã từng có ý kiến cho rằng: "Xã hội côngnghệ ngày nay đòi hỏi một lực lượng lao động có trình độ suy luận, biết so sánhphân tích, ước lượng tính toán, hiểu và vận dụng được những mối quan hệ địnhlượng hoặc lôgic, xây dựng và kiểm nghiệm các giả thuyết và mô hình để rút ranhững kết luận có tính lôgic" [22, tr 5 - 6] Muốn vậy, nền giáo dục cũng phải cónhững thay đổi về mục tiêu, nhiệm vụ và phương pháp dạy học Trong Đại hộiđại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng, một trong những nhiệm vụ và giải pháplớn về giáo dục được đề ra là: "Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện Đổi mới
cơ cấu, tổ chức, nội dung, phương pháp dạy và học theo hướng "chuẩn hoá, hiệnđại hoá, xã hội hoá” Phát huy trí sáng tạo, khả năng vận dụng, thực hành củangười học Đề cao trách nhiệm của gia đình, nhà trường và xã hội" [20, tr 58].Trong trường phổ thông môn Toán có vai trò, vị trí và ý nghĩa hết sức quantrọng trong việc thực hiện mục tiêu chung của giáo dục phổ thông Đặc biệt tronggiai đoạn hiện nay nó càng có vai trò và ý nghĩa quan trọng hơn, là một thànhphần không thể thiếu của trình độ văn hóa phổ thông của con người mới
1.3.1.1 Tăng cường liên hệ với thực tiễn góp phần hoàn thiện một số tri
thức và kĩ năng toán học cần thiết cho học sinh
Trong quá trình liên hệ với thực tiễn, thông qua một yếu tố lịch sử, một ứngdụng Toán học nào đó hoặc một mệnh đề đánh giá (chẳng hạn, "Toán học là
"chìa khóa" của hầu hết các hoạt động của con người".) thì hai dạng tri thức là tri thức sự vật và tri thức giá trị được hình thành và hoàn thiện.
Còn thông qua các ứng dụng Toán học, học sinh sẽ được rèn luyện những kĩnăng trên các bình diện khác nhau sau:
- Kĩ năng vận dụng tri thức trong nội bộ môn Toán
Trang 18- Kĩ năng vận dụng tri thức Toán học vào các môn học khác nhau.
- Kĩ năng vận dụng Toán học vào đời sống
Qua việc rèn luyện các kĩ năng trên bình diện thứ nhất và thứ hai sẽ nângcao mức độ thông hiểu tri thức Toán học cho học sinh Vì rằng muốn vận dụngđược tri thức để làm toán thì cần phải thông hiểu nó Đồng thời, thể hiện vai tròcông cụ của Toán học đối với những khoa học khác; thể hiện mối quan hệ liênmôn giữa các môn học trong nhà trường Do vậy người giáo viên dạy Toán cần
có quan điểm tích hợp trong dạy học bộ môn Còn trên bình diện thứ ba, đây là
một mục tiêu quan trọng của môn Toán Cho học sinh thấy rõ mối liên hệ giữaToán học và đời sống Qua đây, giúp học sinh hình thành và phát triển kĩ năng
"toán học hóa tình huống thực tế"
Dựa vào sự phân tích các mục tiêu dạy học của Benjamin Bloom và cáccộng sự (Dẫn theo [12, tr 51 - 52]), quá trình liên hệ với thực tiễn trong dạy họcToán còn giúp học sinh phối hợp giữa chiếm lĩnh tri thức và rèn luyện kĩ năngthể hiện ở 6 chức năng trí tuệ từ thấp lên cao thể hiện qua sơ đồ sau:
Như vậy, việc tăng cường liên hệ với thực tiễn trong dạy học Toán đã giúphọc sinh hoàn thiện các tri thức như tri thức phương pháp, tri thức giá trị và rènluyện nhằm hoàn thiện một số kĩ năng như kĩ năng ứng dụng (cả trong và ngoàimôn Toán), kĩ năng phân tích, tổng hợp, đánh giá…
1.3.1.2 Tăng cường liên hệ với thực tiễn
giúp hình thành và phát triển thế giới quan duy
vật biện chứng cho học sinh
Biết Thông
hiểu
Vận dụng
Phân tích
Tổng hợp
Đánh giá
Phôc vô
X©y dùng nªn
C¸c lÝ thuyÕt To¸n häc
Thùc tiÔn
Trang 19Dạy học Toán theo hướng tăng cường liên hệ với thực tiễn sẽ góp phần làm
rõ mối quan hệ biện chứng giữa Toán học và thực tiễn: Toán học bắt nguồn từ thực tiễn và trở về phục vụ thực tiễn
Lịch sử đã cho thấy rằng, Toán học có nguồn gốc thực tiễn, chính sự pháttriển của thực tiễn đã có tác dụng lớn đối với toán học Thực tiễn là cơ sở để nảysinh, phát triển và hoàn thiện các lí thuyết Toán học
Ví dụ: Số tự nhiên ra đời do nhu cầu đếm các đồ vật Tập hợp số nguyên
được xây dựng để cho phép trừ luôn thực hiện được, hoặc các phương trình dạng
a + x = b luôn có nghiệm Trong quá trình đo đạc nhiều khi gặp phải những đạilượng không chứa đựng một số tự nhiên hoặc do nhu cầu chia những vật ra nhiềuphần bằng nhau mà số biểu diễn bởi phân số được phát sinh Hệ thống số hữu tỉđược hình thành do nhu cầu đo những đại lượng có thể xét theo hai chiều ngượcnhau Hệ thống số thực được xây dựng do nhu cầu đo những đoạn thẳng, sao chomỗi đoạn thẳng, kể cả những đoạn thẳng không đo được bằng số hữu tỉ, đều cómột số đo Trong lịch sử Toán học, để giải phương trình bậc 3 người ta đã phảigiải phương trình bậc 2 như một bước trung gian Khi xét phương trình: x3 - x =
0 rõ ràng là có 3 nghiệm 0, 1, -1 nhưng ta nhận thấy rằng phương trình bậc 2trung gian lại có biệt số âm Việc "Không có căn bậc 2 của số âm", "Phươngtrình bậc 2 vô nghiệm khi biệt số âm" đã làm xuất hiện mâu thuẫn Nhưng nếuthử chấp nhận những số mà bình phương bằng -1 (một cách hình thức) để biểu thịnghiệm của phương trình bậc hai trung gian thì cuối cùng cũng đi đến ba nghiệm củaphương trình bậc 3 nói trên Thực tế này gợi ra việc cần phải mở rộng tập số thực,đưa thêm vào cả những số mà bình phương bằng số âm, đi đến tập hợp số phức.Như vậy, học sinh sẽ hình thành được quan điểm duy vật về nguồn gốcToán học, thấy rõ Toán học không phải là một sản phẩm thuần tuý của trí tuệ màđược phát sinh và phát triển do như cầu thực tế cuộc sống Đồng thời cũng giúphọc sinh nghiệm ra rằng mâu thuẫn biện chứng là động lực của sự phát triển
Ngược lại, toán học lại xâm nhập vào thực tiễn thúc đẩy thực tiễn phát triển.Với vai trò là công cụ, Toán học sẽ giúp giải quyết các bài toán do thực tiễn đặt
Trang 20ra Mối quan hệ biện chứng giữa lí luận và thực tiễn cũng thể hiện qua công thứcnhận thức thiên tài của V I Lênin: "Từ trực quan sinh động đến tư duy trừutượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn, đó là con đường nhận thức chân lí,con đường nhận thức hiện thực khách quan".
Trong dạy học, theo Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn là không nên đi theo conđường sao chép lí luận ở đâu đó rồi nhồi cho người học, vì học như vậy là kiểuhọc sách vở Nên theo con đường có một lí luận hướng dẫn ban đầu rồi bắt tayhoạt động thực tiễn, dùng thực tiễn này mà củng có lí luận, kế thừa có phê phán
lí luận của người khác, rồi lại hoạt động thực tiễn, cứ thế theo mối quan hệ qualại giữa lí luận và thực tiễn mà đi lên
Ví dụ [2, tr 40]:
Khi dạy về "Số thực dương, số thực âm" để cho học sinh dễ dàng tiếp thu ta
có thể đề cập sự liên hệ: "Một người A nào đó suy cho cùng, hoặc là không cótiền (A không có đồng tiền nào cả) hoặc có tiền (A có một số tiền nào đó) hoặcđang nợ tiền Và như vậy ta có thể gán số 0 với trường hợp A không có tiền, sốdương với trường hợp A có tiền và số âm với trường hợp A đang nợ tiền Lúcnày thì học sinh sẽ dễ dàng tiếp nhận tính chất "Nếu a> 0, b > 0 thì a+ b > 0",
"Phủ định của mệnh đề "a > 0" là mệnh đề "a 0""
" ta có thể liên hệ như sau:
"Bạn A có số tiền lớn hơn bạn B và bạn B lại có số tiền lớn hơn bạn C" thìbằng thực tế, học sinh dễ dàng nói được một cách chắc chắn rằng bạn A có số tiềnlớn hơn bạn C
) 0 (
c bc ac
c bc ac b
Có thể minh họa để học sinh dễ hiểu, dễ nhớ như sau:
Gọi a, b lần lượt là số người của 2 nhóm A và B
a > b: số người nhóm A lớn hơn số người nhóm B
d
Trang 21Như vậy:
Nếu nhân số người mỗi nhóm với một số tiền nào đó thì số tiền nhóm A thuđược lớn hơn số tiền nhóm B
Nếu nhân số người mỗi nhóm với một số tiền nợ nào đó thì số tiền nhóm A
nợ sẽ nhiều hơn số tiền nhóm B nợ
Sau khi có sự liên hệ trên, ta cho học sinh Quy tắc:
Nếu nhân hai vế của một bất đẳng thức với cùng một số dương, ta được mộtbất đẳng thức cùng chiều và tương đương
Nếu nhân hai vế của một bất đẳng thức với cùng một số âm, ta được một bấtđẳng thức trái chiều và tương đương
Rõ ràng sự liên hệ trên sẽ giúp học sinh dễ hiểu, dễ nhớ và tránh được cáchdạy học "sao chép lí luận ở đâu đó rồi nhồi cho người học" như tác giảNguyễn Cảnh Toàn đã đề cập Đặc biệt rèn luyện cho học sinh thói quen liêntưởng, kiểm nghiệm tính đúng đắn của các kiến thức mỗi khi sử dụng Nhờ vậy,những phẩm chất, tính cách của người lao động mới như tính cẩn thận, chính xáccũng được hình thành và hoàn thiện
1.3.1.3 Tăng cường liên hệ với thực tiễn góp phần rèn luyện và phát triển
các năng lực trí tuệ
Môn Toán có tiềm năng rất lớn trong việc góp phần phát triển năng lực trítuệ chung cho học sinh như tư duy trừu tượng, tư duy lôgic, tư duy biện chứng, rènluyện các trí tuệ cơ bản như phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa…, cácphẩm chất tư duy như linh hoạt, độc lập, sáng tạo… Chính trong quá trình dạyhọc theo hướng tăng cường liên hệ với thực tiễn mà các năng lực trí tuệ này đượchình thành và phát triển
- Các hoạt động trí tuệ cơ bản: việc tăng cường liên hệ với thực tiễn trongdạy học môn Toán đòi hỏi học sinh phải thường xuyên thực hiện những hoạtđộng trí tuệ cơ bản như phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa,tương tự hóa, so sánh,… nên có tác dụng rất lớn trong việc rèn luyện cho họcsinh những hoạt động trí tuệ này Trong đó phân tích và tổng hợp là hai hoạt
Trang 22động trí tuệ cơ bản của quá trình tư duy, làm nền tảng cho các hoạt động trí tuệkhác; là hai hoạt động trái ngược nhau nhưng lại là hai mặt của một quá trìnhthống nhất.
- Hình thành những phẩm chất trí tuệ như tính linh hoạt, tính độc lập, tínhsáng tạo Việc rèn luyện cho học sinh những phẩm chất trí tuệ này có ý nghĩa tolớn đối với việc học tập, công tác và trong cuộc sống
Tính linh hoạt: thể hiện ở khả năng phát hiện, chuyển hướng nhanh quátrình tư duy nhằm ứng dụng kiến thức Toán học để giải quyết thành công mộtvấn đề
Tính độc lập: thể hiện ở khả năng tự mình phát hiện vấn đề, tự mình xácđịnh phương hướng và lựa chọn kiến thức để ứng dụng giải quyết một bài toánđặt ra trong thực tiễn, tự mình kiểm tra lại và đánh giá kết quả Tính độc lập có
liên hệ mật thiết với tính phê phán của tư duy
Tính sáng tạo: hai phẩm chất trí tuệ nói trên là những điều cần thiết,những đặc điểm về những mặt khác nhau của tư duy sáng tạo Tính sáng tạo của
tư duy được thể hiện rõ nét ở việc biết vận dụng linh hoạt các kiến thức Toán đãđược học ở trường để giải quyết các vấn đề đặt ra trong thực tiễn
- Phát triển khả năng suy đoán và tưởng tượng: việc liên hệ với thực tiễn sẽrèn luyện cho học sinh khả năng hình dung những đối tượng Toán học có trongcuộc sống và làm việc với chúng dựa trên những dữ liệu bằng lời Đồng thờitạo cho học sinh ý thức sử dụng những quy tắc suy đoán như xét tương tự, khái quáthóa, quy lạ về quen… trên nền tảng tri thức và kinh nghiệm nhất định
- Khả năng tư duy lôgic và sử dụng ngôn ngữ chính xác cũng được pháttriển trong hoạt động giải toán cực trị, hoặc trong vận dụng Toán học vào các
Trang 23thù của môn Toán so với các môn học khác để đóng góp vào việc thực hiệnmục tiêu này.
Trong quá trình dạy Toán giáo viên cần tranh thủ đưa ra những số liệu vềcông cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc vào những đề toán trong trường hợp cóthể Chẳng hạn những bài toán có nội dung thực tế giải bằng cách lập phươngtrình hoặc hệ phương trình
Cũng có thể khai thác một số sự kiện về lịch sử Toán học có liên quan tớitruyền thống dân tộc Chẳng hạn, trong dân gian có lưu truyền quy tắc tính gầnđúng số : "Quân bát, phát tam, tồn ngũ, quân nhị", tức là "chia (chu vi) làm 8phần, bỏ đi 3 phần, còn lại 5 phần, chia đôi" Theo quy tắc này, tỉ số của đường
kính và chu vi đường trong bằng 5
16, do đó 16 3,2
5
1.3.1.5 Tăng cường liên hệ với thực tiễn nhằm giúp học sinh nắm vững kiến
thức cơ bản Đồng thời phát hiện, phát triển và bồi dưỡng năng lực ứng dụng toán học của học sinh, góp phần tạo cơ sở để học sinh học tiếp hoặc đi vào cuộc sống lao động
Thế giới đã bước vào kỷ nguyên kinh tế tri thức và toàn cầu hóa Với sựphát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ Giáo dục, với chức năng chuẩn bịlực lượng lao động cho xã hội, chắc chắn phải có những sự chuyển biến to lớn,tương ứng với tình hình Hội đồng quốc tế về Giáo dục cho thế kỷ 21 đượcUNESCO thành lập 1993 do Jacques Delors lãnh đạo, nhằm hỗ trợ các nước trongviệc tìm tòi cách thức tốt nhất để kiến tạo lại nền giáo dục của mình vì sự phát
triển bền vững của con người Năm 1996, Hội đồng đã xuất bản ấn phẩm Học tập: một kho báu tiềm ẩn, trong đó có xác định "Học tập suốt đời" được dựa trên bốn
"trụ cột" là: Học để biết; Học để làm; Học để chung sống với nhau; Học để làmngười "Học để làm" được coi là "không chỉ liên quan đến việc nắm được những
kỹ năng mà còn đến việc ứng dụng kiến thức", "Học để làm nhằm làm cho ngườihọc nắm được không những một nghề nghiệp mà con có khả năng đối mặt đượcvới nhiều tình huống và biết làm việc đồng đội" (dẫn theo [21, tr 29 - 30])
Trang 24Ở trường phổ thông nước ta trong giai đoạn hiện nay, mục tiêu chủ yếu củaviệc giảng dạy Toán là hình thành và rèn luyện năng lực ứng dụng Theo NgôHữu Dũng: Ứng dụng Toán học vào thực tế là một trong những năng lực toán học
cơ bản, cần phải rèn luyện cho học sinh [7, tr 13 - 16] Đành rằng, đây không phải
là yêu cầu chỉ của riêng môn Toán, nhưng vì vai trò và vị trí quan trọng của nó
-là "chìa khóa" của sự phát triển đối với nhiều ngành khoa học, công nghệ, củacác ngành kinh tế quốc dân… Do đó, mục tiêu này được nhấn mạnh trong giảngdạy Toán Việc tăng cường liên hệ với thực tiễn sẽ phát hiện, phát triển và bồidưỡng năng lực ứng dụng toán học cho học sinh Vấn đề này cần được đặc biệtquan tâm ở cấp trung học phổ thông, bởi vì họ đang ở giai đoạn chuẩn bị thamgia trực tiếp vào quá trình lao động, sản xuất của xã hội, hoặc tham gia vào cácquá trình đào tạo có tính chuyên môn hóa cao hơn Rõ ràng đây là một trongnhững yếu tố góp phần thể hiện những quan điểm trên của UNESCO, góp phầnthực hiện "học để làm" trong dạy học Toán ở trường phổ thông nước ta hiện nay.Muốn vậy, không thể bằng cách nào tốt hơn là sự quan tâm thích đáng của giáoviên đến việc liên hệ với thực tiễn trong quá trình dạy học Trong đó, đặc biệtchú ý luyện tập các ứng dụng để giải quyết các bài toán trong thực tế với mức độ
- Đảm bảo cho học sinh nắm vững kiến thức toán học để có thể vận dụngđúng vào thực tiễn
- Chú trọng nêu các ứng dụng của toán học vào trong thực tiễn
- Chú trọng đến các kiến thức toán học có nhiều ứng dụng trong thực tiễn
- Chú trọng rèn luyện cho học sinh có những kĩ năng toán học vững chắc
Trang 25- Chú trọng công tác thực hành toán học trong nội khóa cũng như ngoại khóa.Thực hiện các chú ý nêu trên đồng thời cũng là thực hiện tăng cường rènluyện ý thức và kĩ năng vận dụng toán vào thực tiễn cho học sinh.
1.3.3 Tăng cường liên hệ với thực tiễn góp phần hoàn thiện hoạt động gợi động cơ và hoạt động củng cố
Trong quá trình dạy học bộ môn Toán, gợi động cơ là một trong những khâuquan trọng nhằm kích thích hứng thú học tập cho học sinh, làm cho việc học tậptrở nên tự giác, tích cực, chủ động Do vậy, để học sinh tiếp thu tốt cần phải tiếnhành các hoạt động gợi động cơ (gợi động cơ mở đầu, gợi động cơ trung gian, gợiđộng cơ kết thúc) Ở các lớp dưới, hình thức gợi động cơ mà các giáo viên thường
sử dụng như cho điểm, khen chê, thông báo kết quả học tập cho gia đình, Tuynhiên, càng lên lớp cao, cùng với sự trưởng thành của học sinh, với trình độnhận thức và giác ngộ chính trị ngày càng được nâng cao, thì những cách gợiđộng cơ xuất phát từ nội dung hướng vào những nhu cầu nhận thức, nhu cầu củađời sống, trách nhiệm đối với xã hội, ngày càng trở nên quan trọng Với gợiđộng cơ mở đầu và gợi động cơ kết thúc trong nhiều trường hợp có thể xuất phát
từ một tình huống thực tiễn nào đó (từ đời sống hoặc từ nội bộ Toán học) Thực tếcho thấy, gợi động cơ theo cách này kích thích được hứng thú học tập cho họcsinh Đối với hoạt động củng cố kiến thức cũng có thể dùng hình thức liên hệ vớithực tiễn mà cụ thể có thể cho học sinh ứng dụng kiến thức vừa học vào giảiquyết một bài toán nào đó
1.3.4 Tăng cường liên hệ với thực tiễn góp phần rèn luyện một số thành
tố trong cấu trúc năng lực toán học của học sinh
Theo V A Cruchetxki: ''Năng lực Toán học được hiểu là những đặc điểmtâm lí cá nhân (trước hết là những đặc điểm hoạt động trí tuệ) đáp ứng những yêucầu của hoạt động học tập Toán học, và trong những điều kiện vững chắc nhưnhau thì là nguyên nhân của sự thành công trong việc nắm vững một cách sángtạo toán học với tư cách là một môn học, đặc biệt nắm vững tương đối nhanh, dễ
Trang 26dàng, sâu sắc những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo trong lĩnh vực Toán học'' (dẫntheo [10])
Dựa theo quan điểm của Lý thuyết thông tin, V.A.Krutecxki cho rằng Cấu trúc năng lực toán học bao gồm những thành tố sau:
1) Về mặt thu nhận thông tin toán học
Đó là năng lực tri giác hình thức hoá tài liệu Toán học, năng lực nắm cấutrúc hình thức của bài toán
2) Về mặt chế biến thông tin toán học
- Năng lực tư duy lôgic trong lĩnh vực các quan hệ số lượng và không gian,
hệ thống ký hiệu số và dấu Năng lực tư duy bằng các ký hiệu toán học
- Năng lực khái quát hóa nhanh và rộng các đối tượng, quan hệ toán học và
các phép toán
- Năng lực rút gọn quá trình suy luận toán học và hệ thống các phép toántương ứng Năng lực tư duy bằng các cấu trúc rút gọn
- Tính linh hoạt của quá trình tư duy trong hoạt động toán học.
- Khuynh hướng vươn tới tính rõ ràng đơn giản, tiết kiệm, hợp lý của lời giải
- Năng lực nhanh chóng và dễ dàng sửa lại phương hướng của quá trình tư
duy, năng lực chuyển từ tiến trình tư duy thuận sang tiến trình tư duy đảo (trongsuy luận toán học)
3) Về mặt lưu trữ thông tin toán học
Trí nhớ toán học (trí nhớ khái quát về các: quan hệ toán học; đặc điểm vềloại; sơ đồ suy luận và chứng minh; phương pháp giải toán; nguyên tắc, đườnglối giải toán)
Như vậy, năng lực toán học có liên quan trực tiếp đến những đặc điểm tâm
lí cá nhân mà trước hết là những đặc điểm hoạt động trí tuệ Những điều kiện tâm
lí chung, cần thiết để đảm bảo thực hiện thắng lợi hoạt động, chẳng hạn như:khuynh hướng hứng thú; các tình trạng tâm lí; kiến thức kỹ năng, kỷ xảo tronglĩnh vực Toán học Việc rèn luyện cho học sinh ý thức liên hệ với thực tiễn màđặc biệt là ứng dụng kiến thức Toán học vào giải quyết các bài toán trong thực
Trang 27tế, sẽ có tác dụng tích cực, góp phần phát triển một số thành tố trong cấu trúcnăng lực toán học cho học sinh
Chẳng hạn, đối với năng lực nắm cấu trúc hình thức của bài toán, thì việcnắm được cấu trúc hình thức của bài toán thuần túy toán học không khó khănbằng việc nắm cấu trúc hình thức của bài toán thực tế tương ứng (kiến thức Toánhọc bản chất của hai bài toán là như nhau) - do bài toán thực tế liên quan nhiềuđến số liệu, dữ liệu, đối tượng khác nhau, tạo nên cái vỏ hình thức phong phú, đadạng hơn Do đó, việc rèn luyện cho học sinh ý thức liên hệ với thực tiễn trongquá trình dạy học sẽ góp phần phát triển năng lực toán học này Cũng xin nêumột ví dụ nữa, chẳng hạn, xét về năng lực khái quát nhanh chóng và rộng rãi cácđối tượng, quan hệ các phép toán của Toán học: khi học sinh làm việc vớiphương trình ẩn x đối tượng của x là số, học sinh có thể khái quát đối tượng của
x là vận tốc, quảng đường hay thời gian, Điều này có nghĩa là, giải những bàitoán thực tiễn sẽ tạo điều kiện cho học sinh khái quát dễ dàng hơn, góp phần pháttriển năng lực này
Trong cấu trúc năng lực toán học của V A Cruchetxki, các thành tố nănglực có quan hệ mật thiết và ảnh hưởng lẫn nhau, có tác dụng tương hỗ, đan xennhau; chính vì vậy trong việc phát triển năng lực toán học ở học sinh, việc rènluyện, phát triển năng lực này thường liên quan đến kỹ năng, năng lực khác;chẳng hạn, năng lực nắm được cấu trúc hình thức của bài toán là cơ sở góp phầnquan trọng cho năng lực tư duy lôgic trong lĩnh vực các quan hệ số lượng và cácquan hệ không gian (nếu không nắm được cấu trúc hình thức của bài toán thìnăng lực tư duy lôgic trong lĩnh vực các quan hệ số lượng và các quan hệ khônggian của học sinh bị hạn chế đi rất nhiều), Việc rèn luyện cho học sinh vậndụng kiến thức Toán học vào thực tiễn vừa nhằm hình thành, củng cố cho họcsinh những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, vừa phát triển năng lực tư duy của học sinh.Đặc biệt là rèn luyện những thao tác trí tuệ, góp phần phát triển năng lực toánhọc ở học sinh
Trang 281.4 Tìm hiểu thực trạng việc tổ chức liên hệ với thực tiễn trong dạy học môn Toán ở một số trường trung học cơ sở hiện nay;
1.4.1 Những nội dung chính của chương trình môn Toán ở bậc THCS
1.4.1.1 Số học và Đại số
Chia thành 4 mạch kiến thức chủ yếu: Các hệ thống số; Biểu thức đại số;Hàm số; Phương trình, bất phương trình, hệ phương trình
- Nội dung về các hệ thống số được trình bày liền mạch ở hai lớp 6 và 7
(SGK Toán 6 gồm 3 chương: Chương I Ôn tập và bổ túc về số tự nhiên, Chương
II Số nguyên, Chương III Phân số và ở SGK Toán 7 có Chương I Số hữu tỉ, Số thực) Trong việc xây dựng nhiều nội dung toán học, các tác giả đã cố gắng làm
rõ ý nghĩa thực tiễn của chúng, các khái niệm về số được dẫn dắt từ nhiều ví dụthực tế, các bài tập để củng cố vận dụng kiến thức ở hầu hết các nội dung luôn cócác bài mang nội dung thực tế
- Nội dung về biểu thức đại số được trình bày trong SGK cả ở lớp 7, lớp 8
và lớp 9 (SGK Toán 7 có Chương IV Biểu thức đại số; SGK Toán 8 gồm 2 chương: Chương I Phép nhân và phép chia đa thức và Chương II Phân thức đại số; SGK Toán 9 có Chương I Căn thức) Phần này có rất ít các bài tập có nội
dung thực tế chủ yếu minh họa sự tồn tại khái niệm (như khái niệm biểu thức đại
số, khái niệm căn bậc ba…), củng cố khái niệm, tính chất đã học đã học (nhưcủng cố khái niệm đa thức, phép cộng phân thức đại số… )
- Nội dung về hàm số được trình bày trong SGK lớp 7 và lớp 9 (SGK Toán
7 có Chương II Hàm số và đồ thị; SGK Toán 9 gồm 2 chương: Chương II Hàm
số bậc nhất và Chương IV Hàm số y = ax 2 - Phương trình bậc hai một ẩn) Phần
này nội dung thực tế được đưa vào không đều, tập trung chủ yếu ở các nội dunglớp 7
- Nội dung về phương trình, bất phương trình, hệ phương trình được trình
bày ở SGK Toán lớp 8 và lớp 9 (SGK Toán 8 gồm 2 chương: Chương III Phương trình bậc nhất một ẩn và Chương IV Bất phương trình bậc nhất một ẩn; SGK Toán 9 gồm 2 chương: Chương III- Hệ hai phương trình bậc nhất hai
Trang 29ẩn số và Chương IV Hàm số y = ax 2 - Phương trình bậc hai một ẩn Các bài toán
có nội dung thực tế đưa vào không đều, không liên tục chủ yếu tập trung ở dạnggiải toán bằng cách lập phương trình
1.4.1.2 Tính toán và xử lí số liệu thống kê
Chia thành 3 nội dung chính sau: Sử dụng công cụ tính toán; Tính gần đúng;Bảng, biểu thống kê
- Nội dung sử dụng công cụ tính toán hướng dẫn HS cách sử dụng công cụtính toán trong hình học (thước đo độ dài, thước chia góc, com pa…) và trong sốhọc và đại số (sử dụng máy tính bỏ túi) Tuy nhiên các hoạt động dạy học có sửdụng công cụ tính toán chưa được cụ thể hóa và giảm dần ở các lớp trên do trình
độ tư duy ngày càng được nâng cao
- Các nội dung có liên quan đến phép tính gần đúng đã được triển khai quacác lớp là :
Lớp 6: Thực hành đo độ dài đoạn thẳng; đo góc; ước lượng độ dài…
Lớp 7: Làm tròn số; số vô tỉ; tính toán bằng máy tính bỏ túi; xác định tọa
độ một điểm trên mặt phẳng tọa độ
Lớp 8: Giá trị một phân thức; diện tích một hình; ứng dụng thực tế của tamgiác đồng dạng
Lớp 9: Căn bậc hai và căn bậc ba; tỉ số lượng giác; sử dụng máy tính bỏ túi.Nội dung tính gần đúng ít được thể hiện tường minh trong chương trình
(trừ bài Làm tròn số ở lớp 7) và chưa thật sự được chú trọng.
- Nội dung về bảng, biểu thống kê được chuẩn bị từ Tiểu học và thể hiệntường minh ở chương III, SGK Toán 7- tập 2 Trước khi học nội dung này, HS
đã được học về Biểu đồ phần trăm ở lớp 6 (Chương III) Các bài toán đưa ratrong nội dung này rất đa dạng, hầu hết xuất phát từ thực tế
1.4.1.3 Hình học
Bao gồm nội dung chính là :
Trang 30- Những kiến thức mở đầu về hình học phẳng (lớp 6); Quan hệ vuông góc
và quan hệ song song (lớp 7); Quan hệ bằng nhau và đồng dạng (lớp 8); Quan hệgiữa các yếu tố của lượng giác, Đường tròn (lớp 9)
- Một số vật thể trong không gian : Hình lăng trụ đứng, Hình chóp đều,Hình trụ, Hình nón, Hình cầu (Chương trình lớp 8 và lớp 9)
Nhìn chung, các bài toán có nội dung thực tế được đưa vào SGK chưa nhiều,không đều, tập trung nhiều ở nội dung về tính diện tích, thể tích các hình
Qua những điều vừa trình bày cho thấy, trong chương trình SGK môn Toáncủa ta nội dung liên hệ với thực tế không thể hiện tường minh Số lượng bài tậpchưa nhiều đặc biệt là chưa liên tục và không đều Tuy nhiên chúng ta cũng biếtrằng do toán học phản ánh thực tế một cách toàn bộ và nhiều tầng, do đó khôngphải bất cứ nội dung nào, hoạt động nào cũng có thể đưa ra được những bài tậpxuất phát từ thực tế vậy nên GV cần tăng cường lựa chọn, đưa thêm vào các bàitập có nội dung sát với thực tiễn để HS có điều kiện áp dụng kiến thức Toán họcvào cuộc sống
1.4.2 Tình hình dạy học môn Toán theo hướng liên hệ với thực tiễn ở bậc THCS
1.4.2.1 Học sinh
Dựa vào Phiếu điều tra dành cho HS (xem phần phụ lục 1), chúng tôi đãtiến hành điều tra 240 HS ở lớp 7 trường THCS Tân Bình và trường THCS TânPhú vào tháng 8/2019 Kết quả thu được thể hiện qua bảng 1.1, 1.2 và biểu đồ1.1 dưới đây :
Bảng 1.1 Bảng thống kê về mức độ cần thiết của môn Toán trong cuộc sống
Trang 31của Toán học trong cuộc sống
Nhu cầu biết về ứng dụng thực tế
2.5
Rất khó Khó Không khó lắm Dễ
Dựa vào các thống kê, biểu đồ trên chúng ta thấy rằng đa số HS nhận thứcđược tầm quan trọng của môn Toán (15,4% cho rằng Toán học là cần thiết và cóđến 82,5% cho rằng nó rất cần thiết cho cuộc sống) cũng như rất muốn biết vềứng dụng của nó trong thực tế cuộc sống (97,5%) Tuy nhiên có đến một nửa số
HS được hỏi nghĩ rằng môn Toán là môn học khó (40,4%) hoặc rất khó (1251%)
1.4.2.2 Giáo viên
Thông qua trao đổi, tìm hiểu một số GV dạy toán (25 GV) thuộc các trườngTHCS Tân Bình, THCS Tân Phú, về việc hiểu biết và khai thác ứng dụng thực tếvào dạy học môn Toán (xem phần phụ lục 2) Kết quả thu được như sau:
- Tìm hiểu ứng dụng Toán học trong thực tế: hầu hết những GV trên có
quan tâm đến việc khai thác tình huống thực tế vào dạy học môn Toán và điều
Trang 32này được thể hiện ở hai cấp độ như sau:
+ Một số ít GV quan tâm và chủ động tìm hiểu để ứng dụng toán học vàothực tế
+ Số GV còn lại quan tâm nhưng không chủ động tìm hiểu mà chủ yếu sửdụng các bài tập trong SGK, sách bài tập
- Về khai thác tình huống thực tế vào dạy học môn Toán:
Qua trao đổi với những GV trên thì 100% các thầy cô đều cho rằng nếutăng cường khai thác các tình huống thực tế vào dạy học thì có thể làm cho HStích cực hơn trong việc học môn Toán Tuy nhiên việc tìm hiểu, khai thác cáctình huống thực tế vào dạy học hiện nay của GV còn hạn chế Chúng tôi chorằng hạn chế trên có thể do những nguyên nhân chính sau:
+ Do yêu cầu vận dụng Toán học vào thực tế không được đặt ra một cáchthường xuyên và cụ thể trong quá trình đánh giá (các nội dung yêu cầu khả năngvận dụng kiến thức toán học vào thực tế xuất hiện rất ít trong các kì thi)
+ Khối lượng kiến thức yêu cầu ở mỗi tiết học là khá nhiều và độ khó tăngdần theo cấp học khiến GV vất vả trong việc hoàn thành bài giảng trên lớp + Do áp lực thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục nên dẫn đến cách dạy
và cách học phổ biến hiện nay là “thi gì, học nấy”, “không thi, không học”
+ Do giáo viên còn gặp khó khăn trong việc thiết kế các tình huống thựctiễn tương ứng các nội dung dạy học
Trang 33Kết luận chương 1
Trong chương 1, đầu tiên đề tài trình bày định hướng dạy học môn Toán ởtrường phổ thông hiện nay Tiếp theo đề tài đã phân tích làm rõ các vấn đề líluận và thực tiễn liên quan đến đề tài; mục đích của việc nghiên cứu khai tháccác tình huống thực tế đối với việc giảng dạy môn Toán Phần cuối chương 1trình bày những tìm hiểu của chúng tôi về sự quan tâm của GV và HS đối vớiứng dụng thực tế của toán học cũng như tình hình khai thác những tình huốngthực tế vào dạy học bộ môn Toán ở bậc THCS Qua những điều đã được trìnhbày ở trên chúng tôi nhận thấy rằng, tăng cường liên hệ với thực tiễn trong dạyhọc Toán là hướng đổi mới phương pháp dạy học phù hợp với điều kiện hoàncảnh nước ta hiện nay Đồng thời cũng phù hợp với xu hướng giáo dục Toán họccủa nhiều nước tiên tiến trên thế giới Đây cũng là cơ sở để tiến hành thực hiệntiếp chương 2 của đề tài
Trang 34Chương 2 DẠY HỌC TOÁN 7 Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO
HƯỚNG TĂNG CƯỜNG LIÊN HỆ VỚI THỰC 2.1 Khái quát về nội dung chương trình SGK Toán 7 hiện hành ở trường Trung học cơ sở
- Nhận biết được số thập phân hữu hạn, số thập phân vô hạn tuần hoàn
- Biết ý nghĩa của việc làm tròn số
- Biết sự tồn tại của số thập phân vô hạn không tuần hoàn và tên gọi củachúng là số vô tỉ
- Nhận biết sự tương ứng 1 – 1 giữa tập hợp R các số thực và tập hợp cácđiểm trên trục số, thứ tự của các số thực trên trục số
- Biết khái niệm căn bậc hai của một số không âm Sử dụng đúng kí hiệucủa căn bậc hai
b Kỹ năng
- Biết biểu diễn một số hữu tỉ trên trục số, biểu diễn một số hữu tỉ bằngnhiều phân số bằng nhau
- Biết so sánh hai số hữu tỉ
- Thực hiện thành thạo các phép tính về số hữu tỉ
- Giải được các bài tập vận dụng quy tắc các phép tính trong Q
- Biết vận dụng các tính chất của tỉ lệ thức và của dãy tỉ số bằng nhau đểgiải các bài toán dạng tìm hai số biết tổng ( hoặc hiệu) và tỉ số của chúng
- Vận dụng thành thạo các quy tắc làm tròn số
- Biết cách viết một số hữu tỉ dưới dạng số thập phân hữu hạn hoặc số thậpphân vô hạn tuần hoàn
Trang 35- Biết sử dụng bảng số, máy tính bỏ túi để tìm giá trị gần đúng của căn bậchai của một số hữu tỉ không âm.
c Thái độ
- Yêu thích môn học
Chương 2: Hàm số và đồ thị
a Kiến thức
- Biết công thức của đại lượng tỉ lệ thuận: y ax a 0
- Biết được tính chất của đại lượng tỉ lệ thuận: a
x
y x
1
;
2
1 2
1
x
x y
y
- Biết công thức của đại lượng tỉ lệ nghịch: y a x a 0
- Biết được tính chất của đại lượng tỉ lệ nghịch: x1y1 x2y2 a;
2
1 1
2
x
x y
y
- Biết khái niệm hàm số và biết cách cho hàm số bằng bảng và công thức
- Biết khái niệm đồ thị của hàm số
- Biết dạng của đồ thị hàm số y ax a 0
- Biết dạng của đồ thị hàm số y a x
b Kỹ năng
- Giải các bài toán đơn giản về đại lượng tỉ lệ thuận.
- Giải các bài toán đơn giản về đại lượng tỉ lệ nghịch.
- Biết cách xác định một điểm trên mặt phẳng tọa độ khi biết tọa độ của nó
và biết xác định tọa độ của một điểm trên mặt phẳng tọa độ
Trang 36- Biết các khái niệm: số liệu thống kê, tần số.
- Biết bảng tần số, biểu đồ đoạn thẳng hoặc biểu đồ hình cột tương ứng
b Kỹ năng
- Hiểu và vận dụng được số trung bình cộng, mốt của bảng số liệu trongcác tình huống thực tế
- Biết cách thu thập các số liệu thống kê
- Biết cách trình bày các số liệu thống kê bằng bảng tần số,bằng biểu đồđoạn thẳng hoặc biểu đồ hình cột tương ứng
c Thái độ
- Học sinh yêu thích môn học
Chương 4: Biểu thức đại số
a Kiến thức
- Biết các khái niệm đơn thức, bậc của đơn thức một biến
- Biết các khái niệm đa thức nhiều biến, đa thức một biến, bậc của một đathức một biến
- Biết khái niệm nghiệm của đa thức một biến
b Kỹ năng
- Biết cách tính giá trị của biểu thức đại số.
- Biết cách xác định bậc của một đơn thức, biết nhân hai đơn thức
- Biết làm các phép toán cộng và trừ các đơn thức đồng dạng.
- Biết cách thu gọn đa thức, xác định bậc của đa thức.
- Biết sắp xếp các hạng tử của đa thức một biến theo lũy thừa tăng hoặc
Trang 37- Biết khái niệm hai góc đối đỉnh.
- Biết các khái niệm góc vuông, góc nhọn, góc tù
- Biết khái niệm hai đường thẳng vuông góc
- Biết tiên đề Ơclit
- Biết các tính chất của hai đường thẳng song song
- Biết thế nào là một định lí và chứng minh một định lí
- Biết dùng eke vẽ đường thẳng song song với một đường thẳng cho trước
đi qua một điểm cho trước nằm ngoài đường thẳng đó (hai cách)
c Thái độ
- Cẩn thận, chính xác, trung thực
Chương 2: Tam giác
a Kiến thức
- Biết định lí về tổng ba góc của một tam giác
- Biết định lí về góc ngoài của một tam giác
- Biết khái niệm hai tam giác bằng nhau
- Biết các trường hợp bằng nhau của tam giác
- Biết khái niệm tam giác cân, tam giác vuông, tam giác đều
- Biết các tính chất tam giác cân, tam giác đều
- Biết định lí Pytago thuận và đảo
- Biết các trường hợp bằng nhau của tam giác vuông
b Kỹ năng
- Vận dụng được các định lí trên vào việc tính số đo các góc của tam giác
- Biết cách xét sự bằng nhau của hai tam giác
Trang 38- Biết vận dụng các trường hợp bằng nhau của tam giác để chứng minhcác đoạn thẳng bằng nhau, các góc bằng nhau.
- Vận dụng được định lí Pytago vào tính toán
- Biết vận dụng các trường hợp bằng nhau của tam giác vuông để chứngminh các đoạn thẳng bằng nhau, các góc bằng nhau
- Biết quan hệ giữa góc và cạnh đối diện trong một tam giác
- Biết bất đẳng thức tam giác
- Biết các khái niệm đường vuông góc, đường xiên, hình chiếu của đườngxiên, khoảng cách từ một điểm đến một đường thẳng
- Biết quan hệ giữa đường vuông góc và đường xiên, giữa đường xiên vàhình chiếu của nó
- Biết các khái niệm đường trung tuyến, đường phân giác, đường trungtrực, đường cao của một tam giác
- Biết các tính chất của tia phân giác của một góc, đường trung trực củamột đoạn thẳng
b Kỹ năng
- Biết vận dụng các mối quan hệ trên để giải bài tập
- Vận dụng được các định lí về sự đồng quy của ba đường trung tuyến, bađường phân giác, ba đường trung trực, ba đường cao của một tam giác để giải bàitập
- Biết chứng minh sự đồng quy của ba đường phân giác, ba đường trungtrực
c Thái độ
Trang 39- Tích cực trong học tập, có ý thức trong nhóm.
- Cẩn thận, chính xác, trung thực
2.2 Xây dựng và sử dụng các tình huống thực tiễn nhằm gợi động cơ cho hoạt động trong dạy học khái niệm, định lí.
2.2.1 Dạy học khái niệm
Trong việc dạy học toán, cũng như ở việc dạy bất cứ một khoa học nào ởtrường phổ thông, điều quan trọng bậc nhất là hình thành một cách vững chắccho học sinh một hệ thống khái niệm Đó là cơ sở của toàn bộ kiến thức toán họccủa học sinh, là tiền đề quan trọng để xây dựng cho họ khả năng vận dụng cáckiến thức đã học Quá trình hình thành khái niệm có tác dụng lớn đến việc pháttriển trí tuệ, đồng thời cũng góp phần giáo dục thế giới quan cho học sinh quaviệc nhận thức đúng đắn quá trình phát sinh và phát triển của các khái niệm Toánhọc
Trong dạy học toán ở trường THCS, việc nắm vững khái niệm toán là mộtyêu cầu rất quan trọng Các khái niệm Toán chỉ được hình thành vững chắc nếuhọc sinh tích cực và tham gia chủ động vào quá trình hình thành chúng
Tùy thuộc vào từng dạng, từng bài mà giáo viên có thể sử dụng phươngpháp hợp lý Sau đây là một số ví dụ cụ thể về hình thành khái niệm cho học sinhtrong dạy chủ đề thống kê
Ví dụ 2.1: Dạy khái niệm thống kê
Hoạt động 1: Hình thành cho học sinh các khái niệm thu thập số liệu, bảng
số liệu thống kê ban đầu
GV: Câu 1: Hãy lập danh sách điểm thi môn Toán học kì 1 của các bạntrong lớp mình
Câu 2: Em hãy điều tra về “màu mà bạn ưa thích nhất” đối với các bạntrong lớp
Câu 3: Gieo đồng thời hai con xúc xắc một lần và quan sát tổng chấm xuấthiện ở cả hai con
HS: Câu trả lời mong đợi: