Kinh nghiệm “giáo dục kỷ luật tích cực đối với học sinh dân tộc tại trường PTDTNT trung học cơ sở huyện krông ana” CHÚ THÍCH PHẦN VIẾT TẮT STT Các chữ viết tắt Nội dung 1 GDĐT Giáo dục và Đào tạo 2 GV Giáo viên 3 GVCN Giáo viên chủ nhiệm 4 HSDTTD Học sinh dân tộc thiểu số 5 GDKLTC Giáo dục kỷ luật tích cực 6 PTDTNT Phổ thông dân tộc nội trú 7 DTTS Dân tộc thiểu số 8 QĐ Quyết định 9 SGK Sách giáo khoa 10 THCS Trung học cơ sở Phần thứ nhất: MỞ ĐẦU I. Đặt vấn đề 1. Lý do lý luận Học sinh trung học cơ sở (THCS) người dân tộc thiểu số (DTTS) cũng có những đặc điểm tâm lí chung như những học sinh THCS người Kinh cùng trang lứa. Tuy nhiên bên cạnh những đặc điểm chung đó các em có những nét đặc trưng riêng, những đặc trưng mang tính của tộc người và những đặc trưng do điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa tạo nên. Trong phạm vi bài viết này, tôi dựa trên những đặc điểm tâm sinh lí của học sinh THCS người DTTS và đi sâu tìm hiểu, phân tích một số đặc điểm tâm lí tiêu biểu mà ở trường Phổ thông dân tộc nội trú trung học cơ sở (PTDNT THCS) Krông Ana. Là cán bộ quản lí, giáo viên công tác ở trường PTDTNT THCS cấp huyện, việc hiểu những đặc điểm tâm lí của học sinh THCS người DTTS là rất cần thiết bởi vì: Nắm được những đặc điểm tâm lí của học sinh THCS người DTTS giúp cho giáo viên chọn giáo dục kỷ luật tích cực (GDKLTC) là phương pháp giáo dục thích hợp với từng đối tượng học sinh dân tộc trong trường PTDTNT THCS, nhằm phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, nâng cao được chất lượng và hiệu quả giáo dục ở trường PTDTNT THCS. 2. Lý do thực tiễn: Đặc thù của các trường PTDTNT THCS Krông Ana gần 100% đối tượng học sinh là con em đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống trên địa bàn huyện như: Êđê, Gia rai, Tày, Nùng, Mường, Thái… Mỗi dân tộc có phong tục tập quán, ngôn ngữ khác nhau. Khi mới vào trường PTDTNT THCS các em còn nhỏ (Đa số dưới 13 tuổi) có không ít em chưa thành thạo tiếng phổ thông. Khả năng tiếp thu của các em còn chậm. Các em rất rụt rè trong giao tiếp. Trong trường, khi học sinh vi phạm các quy định, quy tắc của lớp, của trường, tùy mức độ vi phạm, các em sẽ bị kỷ luật theo mức độ và hình thức khác nhau. Trong thực tế có rất nhiều hình thức kỷ luật học sinh. Do ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo và cách giáo dục truyền thống “Yêu cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi”. “Miếng ngon nhớ lâu, đòn đau nhớ đời” nên nhiều giáo viên sử dụng các hình thức như mắng nhiếc, sỉ nhục, đánh, tát, phạt quỳ, bêu riếu… Biện pháp cuối cùng của hình thức là đuổi học sinh. Biện pháp này thể hiện sự bất lực của giáo viên đặc biệt là giáo viên các trường có học sinh DTTS, vô hình dung chúng ta đẩy ra ngoài xã hội những “sản phẩm GD kém chất lượng” và đó chính là mầm mống của các hiện tượng tiêu cực gây rối loạn trật tự xã hội tại các vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số. Hơn nữa hiện nay trong xã hội vấn nạn giáo viên dùng nhiều biên pháp kỷ luật học sinh không còn mang tính giáo dục như: Bắt học sinh đánh học sinh vi phạm, giáo viên cho học sinh uống nước của giẻ lau bảng. Thậm chí giáo viên đánh đập học sinh vẫn còn xảy ra không ít và nhiều lý do khác làm cho các em sợ thầy cô, ngại giao tiếp với thầy cô. Vì vậy tôi mạnh dạn đưa nội dung giáo dục kỷ luật tích cực đối với học sinh dân tộc thiểu số để toàn thể giáo viên trong trường nghiên cứu vận dụng vào việc giáo dục cho học sinh trường PTDTNT THCS huyện Krông Ana để giúp các em học tốt các môn học, có tinh thần yêu trường, mến bạn, quí thầy cô và giúp các em luôn luôn cảm thấy: “Mỗi ngày mình sống ở trường là một niềm vui, niềm hạnh phúc” để áp dụng vào việc giáo dục học sinh DTTS tại trường PTDTNT THCS Krông Ana để hạn chế tình trạng học sinh bỏ học, đảm bảo duy trì sỉ số. Ngoài ra còn giúp các em phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng sống cơ bản nhằm phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách học sinh, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Trang 1CHÚ THÍCH PHẦN VIẾT TẮT
Trang 2Là cán bộ quản lí, giáo viên công tác ở trường PTDTNT THCS cấp huyện,việc hiểu những đặc điểm tâm lí của học sinh THCS người DTTS là rất cần thiếtbởi vì:
Nắm được những đặc điểm tâm lí của học sinh THCS người DTTS giúpcho giáo viên chọn giáo dục kỷ luật tích cực (GDKLTC) là phương pháp giáodục thích hợp với từng đối tượng học sinh dân tộc trong trường PTDTNT THCS,nhằm phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, nâng caođược chất lượng và hiệu quả giáo dục ở trường PTDTNT THCS
2. Lý do thực tiễn:
Đặc thù của các trường PTDTNT THCS Krông Ana gần 100% đốitượng học sinh là con em đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống trên địa bànhuyện như: Êđê, Gia rai, Tày, Nùng, Mường, Thái… Mỗi dân tộc có phong tụctập quán, ngôn ngữ khác nhau Khi mới vào trường PTDTNT THCS các em cònnhỏ (Đa số dưới 13 tuổi) có không ít em chưa thành thạo tiếng phổ thông Khảnăng tiếp thu của các em còn chậm Các em rất rụt rè trong giao tiếp Trongtrường, khi học sinh vi phạm các quy định, quy tắc của lớp, của trường, tùy mức
Trang 3độ vi phạm, các em sẽ bị kỷ luật theo mức độ và hình thức khác nhau Trongthực tế có rất nhiều hình thức kỷ luật học sinh Do ảnh hưởng của tư tưởng Nhogiáo và cách giáo dục truyền thống “Yêu cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi”.
“Miếng ngon nhớ lâu, đòn đau nhớ đời” nên nhiều giáo viên sử dụng các hìnhthức như mắng nhiếc, sỉ nhục, đánh, tát, phạt quỳ, bêu riếu… Biện pháp cuốicùng của hình thức là đuổi học sinh Biện pháp này thể hiện sự bất lực của giáoviên đặc biệt là giáo viên các trường có học sinh DTTS, vô hình dung chúng tađẩy ra ngoài xã hội những “sản phẩm GD kém chất lượng” và đó chính là mầmmống của các hiện tượng tiêu cực gây rối loạn trật tự xã hội tại các vùng sâu,vùng xa, vùng dân tộc thiểu số Hơn nữa hiện nay trong xã hội vấn nạn giáo viêndùng nhiều biên pháp kỷ luật học sinh không còn mang tính giáo dục như: Bắthọc sinh đánh học sinh vi phạm, giáo viên cho học sinh uống nước của giẻ laubảng Thậm chí giáo viên đánh đập học sinh vẫn còn xảy ra không ít và nhiều lý
do khác làm cho các em sợ thầy cô, ngại giao tiếp với thầy cô Vì vậy tôi mạnhdạn đưa nội dung giáo dục kỷ luật tích cực đối với học sinh dân tộc thiểu số đểtoàn thể giáo viên trong trường nghiên cứu vận dụng vào việc giáo dục cho họcsinh trường PTDTNT THCS huyện Krông Ana để giúp các em học tốt các mônhọc, có tinh thần yêu trường, mến bạn, quí thầy cô và giúp các em luôn luôn cảm
thấy: “Mỗi ngày mình sống ở trường là một niềm vui, niềm hạnh phúc” để áp
dụng vào việc giáo dục học sinh DTTS tại trường PTDTNT THCS Krông Ana đểhạn chế tình trạng học sinh bỏ học, đảm bảo duy trì sỉ số Ngoài ra còn giúp các
em phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năngsống cơ bản nhằm phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hìnhthành nhân cách học sinh, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vàocuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
II Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu:
1. Mục đích:
Giáo dục kỷ luật tích cực góp phần giáo dục đạo đức lối sống cho học sinh bởi vì mục đích của giáo dục kỷ luật tích cực là:
Trang 4+ Dạy học sinh tự hiểu hành vi của mình, tự có các sáng kiến và có tráchnhiệm đối với sự lựa chọn của mình, biết tôn trọng mình và tôn trọng ngườikhác Nói cách khác giúp trẻ có một quá trình phát triển tư duy và có các hành vitích cực có thể ảnh hưởng lâu dài đến cả cuộc đời con người.
+ Gây dựng mối quan hệ tôn trọng giữa giáo viên và học sinh
+ Dạy cho học sinh những kỹ năng sống mà các em sẽ cần trong suốt cảcuộc đời
+ Làm tăng sự tự tin và khả năng xử lý các tình huống khó khăn trong họctập và cuộc sống của các em
+ Dạy cho học sinh biết cách cư xử nhã nhặn, không bạo lực, tôn trọng bản thân, biết thông cảm và tôn trọng quyền của người khác
Khi giáo viên áp dụng các biện pháp GDKLTC, học sinh không cảm thấy
bị xúc phạm dẫn đến chán nản, GDKLTC giúp cho việc tạo ra mối quan hệ thânthiết giữa giáo viên và học sinh, học sinh và học sinh, bố mẹ và con cái
2 Nhiệm vụ:
2.1 Đối với lãnh đạo nhà trường.
Để thực hiên tốt việc GDKLTC cho học sinh tôi đã tham mưu với lãnh đạo nhà trường thực hiện các nhiệm vụ sau:
+ Tổ chức tuyên truyền vận động giáo viên thực hiện tốt phương pháp GDKLTC
+ Cung cấp sách báo, tài liệu về GDKLTC cho giáo viên và phụ huynh.+ Tổ chức các lớp tập huấn và cử giáo viên tham gia các lớp tập huấn về GDKLTC
+ Xây dựng cơ chế khuyến khích việc thực hiện các biện pháp giáo dục kỷluật tích cực
+ Tổ chức tuyên truyền cho phụ huynh về GDKLTC thông qua các buổihọp phụ huynh, các buổi hội thảo, tọa đàm…
2.2 Đối với giáo viên:
Trang 5Khi GDKLTC cho học sinh giáo viên cần thực hiện các nhiệm vụ sau:+ Dạy học sinh tự hiểu hành vi của mình, tự có các sáng kiến và có tráchnhiệm đối với sự lựa chọn của mình, biết tôn trọng mình và tôn trọng ngườikhác Nói cách khác giúp trẻ có một quá trình phát triển tư duy và có các hành vitích cực có thể ảnh hưởng lâu dài đến cả cuộc đời con người.
+ Gây dựng mối quan hệ tôn trọng giữa giáo viên và học sinh
+ Dạy cho học sinh những kỷ năng sống mà các em sẽ cần trong suốt cảcuộc đời
+ Làm tăng sự tự tin và khả năng xử lý các tình huống khó khăn trong họctập và cuộc sống của các em
+ Dạy cho học sinh biết cách cư xử nhã nhặn, không bạo lực, tôn trọng bản thân, biết thông cảm và tôn trọng quyền của người khác
Khi giáo viên áp dụng các nội dung GDKLTC như đã nêu trên, học sinhkhông cảm thấy bị xúc phạm dẫn đến chán nản, GDKLTC giúp cho việc tạo ramối quan hệ thân thiết giữa giáo viên và học sinh, học sinh và học sinh, bố mẹ vàcon cái
+ Mời phụ huynh tham gia vào các hoạt động tập thể do nhà trường, lớp tổchức
Phần thứ hai: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I Cơ sở lý luận của vấn đề:
1 Kỷ luật là gì:
Chúng ta biết rằng kỷ luật là những quy tắc quy định, luật lệ mà conngười phải thực hiện, chấp hành, tuân theo để đạt được mục tiêu đề ra.Kỷ luật làchìa khóa vạn năng giúp con người trở nên hoàn tất và thành công trong cuộcsống
Trong thực tế “kỷ luật” thường được hiểu nhầm là “khống chế” và “trừng phạt” đặc biệt trừng phạt thân thể Tuy nhiên, đó không phải là nghĩa thựccủa từ “kỷ luật” đối với học sinh
2 Giáo dục kỷ luật tích cực là gì?
Trang 6Quan điểm của giáo dục kỷ luật tích cực là: Việc mắc lỗi của học sinhđược coi như lẽ tự nhiên của quá trình học tập và phát triển Nhiệm vụ quantrọng của chúng ta là làm thế nào để học sinh tự nhận thức được bản thân, tựkiểm soát được hành vi, thái độ, trên cơ sở các nội quy, quy chế đã được xâydựng Khi học sinh mắc lỗi, giáo viên là bạn, là anh, là chị, người mẹ, người chachỉ cho các em nhận ra lỗi của mình để tự điều chỉnh Việc tự nhận ra lỗi để điềuchỉnh bản thân là cơ sở cho sự phát triển hoàn thiện nhân cách Kỷ luật tích cựcmang tính xây dựng và là biện pháp hiệu quả, nhằm tìm ra giải pháp giải quyếtcác tình huống mang tính thách thức trong lớp học và trong nhà trường Giáo dục
kỷ luật tích cực hỗ trợ việc dạy học và giáo dục các em học sinh DTTS Giáo dục
kỷ luật tích cực còn xây dựng sự tự tin của học sinh và long ham thích học tậpcho các em
Trang 7Giáo dục kỷ luật tích cực tôn trọng trẻ và không mang tính bạo lực Đây làcách tiếp cận mang tính giáo dục, giúp trẻ thành đạt, cung cấp cho các em thôngtin các em cần để học và hỗ trợ sự phát triển của các em.
*Giáo dục kỷ luật tích cực không phải là:
Sự buông thả, để cho học sinh muốn làm gì thì làm.
Không có các quy tắc, giới hạn hay sự mong đợi.
Những phản ứng mang tính ngắn hạn hay những hình phạt thay thế cho việc tát, đánh hay sỉ nhục.
II Thực trạng
1. Thực trạng về tâm sinh lý của học sinh
Thực trạng về tâm sinh lý của học sinh THCS người DTTS được mô tảmột số nội dung dưới đây:
Độ nhạy cảm của thính giác của các em rất cao, mắt các em rất tinh Tai
và mắt của các em rất tinh nhạy là do từ nhỏ các em đã theo người lớn vào rừngsăn bắn, bẫy chim, tìm cây, tìm rau rừng… nên hình thành thói quen tri giác tậptrung, khả năng phân biệt sự vật và hiện tượng tốt Nghe tiếng chim hót các em
có thể nhận ra đó là chim gì, nhìn vết chân các em biết đó là loài thú gì, các em
có thể phát hiện những con vật nhỏ bé như con vắt, con kiến… Giác quan tinh,nhạy là điều kiện thuận lợi cho các em tri giác đối tượng trong học tập và biếtvâng lời thầy cô giáo
Sự định hướng tri giác theo nhiệm vụ (học tập) đặt ra chưa cao Các emthường bị thu hút vào những thuộc tính rực rỡ, màu sắc mới lạ ở bên ngoài đối
Trang 8tượng tri giác, do vậy các em khó phân biệt được đâu là thuộc tính bản chất, đâu
là thuộc tính không bản chất
Khả năng tư duy hình học, vật lí của các em còn yếu Các em có thể nhận
ra từng dấu hiệu, thuộc tính đơn lẻ của sự vật, hiện tượng Song quá trình tổnghợp khái quát để đi đến nhận xét chung lại hạn chế, khả năng kết hợp các giácquan yếu Các em có thể nhận diện nhanh chóng các hình vẽ do giáo viên vẽ trênbảng, song để các em tự vẽ lại thì rất khó khăn, nhất là phải sử dụng dụng cụ họctập như Compa, thước kẻ
Tính kế hoạch và sự kiên trì quan sát trong quá trình học tập hạn chế Các
em không thể tập trung được lâu Nếu giờ dạy thiếu đồ dùng dạy học trực quan,thiếu ngôn ngữ dân tộc để giải thích, giáo viên nói nhanh không nhấn mạnh nộidung quan trọng cần giáo dục, hoặc nói quá to… thì sự chán nản của các em đếnrất nhanh, khi đó các em không quan sát, không nói chuyện, không phá pháchnhư học sinh người Kinh, các em vẫn ngồi yên, song trong đầu không hoạt động.Một giáo viên tâm sự “Giáo viên chỉ nói to hơn bình thường một chút là học sinhnghĩ là chúng tôi mắng các em, vì vậy chúng tôi phải thận trọng hơn khi giáo dục
kỷ luật”
1.2 Đặc điểm nhận thức ngôn ngữ tiếng Việt
Ngôn ngữ là công cụ để giao tiếp, là phương tiện để thực hiện quá trìnhnhận thức của bất cứ dân tộc nào trẻ em sinh ra đã nói tiếng mẹ đẻ Các em giaotiếp bằng tiếng mẹ đẻ Khi đến trường các em học bằng tiếng Việt, các em đã gặpkhó khăn về ngôn ngữ trong học tập và giao tiếp
Qua thảo luận nhóm với học sinh, qua xem bài kiểm tra của các em, xem
vở ghi chép hàng ngày của các em và quan sát các em giao tiếp với nhau… Cóthể kết luận nhận thức về ngôn ngữ tiếng Việt của học sinh DTTS:
Vốn tiếng Việt của học sinh DTTS còn nghèo nàn;
Các em hiểu rất ít về ngôn ngữ tiếng Việt;
Trang 9Khó khăn trong sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt;
Khó khăn trong tư duy và nhận thức khoa học;
Theo nhận thức của tôi, tiếng Việt là ngôn ngữ thứ hai của học sinh dântộc nhưng không phải là ngoại ngữ Học sinh dân tộc tiếp nhận tiếng Việt là tiếpnhận với trách nhiệm, tình cảm, nghĩa vụ và quyền lợi Vấn đề quan trọng là giáoviên cần giúp học sinh khắc phục những chuyển di ngôn ngữ có hại và khai tháctốt các chuyển di ngôn ngữ có lợi, tôi nghĩ rằng chúng ta coi nhẹ khó khăn hayquá nhấn mạnh khó khăn của học sinh dân tộc khi học tiếng Việt đều là khôngđúng với khoa học dạy tiếng
1.3 Đặc điểm về tư duy:
Tư duy là một quá trình tâm lí phản ánh những thuộc tính bản chất,những mối liên hệ bên trong có tính chất quy luật của sự vật hiện tượng tronghiện thực khách quan mà trước đó chưa biết Học sinh DTTS có các đặc điểm tưduy riêng biệt sau:
Các em chưa có thói quen lao động trí óc, phần lớn các em ngại suy nghĩ,ngại động não, khi gặp phải vấn đề khó khăn là các em bỏ qua, nên dẫn tới khảnăng tự học hạn chế Vì vậy khi gặp vấn đề này thì trong quá trình giáo dục kỷluật giáo viên cần lưu ý
Tư duy của học sinh DTTS còn thể hiện kém nhanh nhẹn, kém linh hoạt
và kém mềm dẻo Mặt khác do hạn chế về Tiếng Việt nên ngại tranh luận, ngạitrình bày các vấn đề khó nói, sợ bị các bạn cười
Học sinh DTTS tư duy trực quan hình ảnh tốt, tư duy trừu tượng logic yếu.Học sinh DTTS thường tồn tại kiểu tư duy kinh nghiệm; yếu về tư duy líluận, tư duy sáng tạo, tư duy khoa học
Những đặc điểm về tư duy chi phối toàn bộ quá trình nhận thức của các
em, tác động mạnh mẽ tới các thuộc tính tâm lí và trạng thái tâm lí, trong giáo
Trang 10dục giáo viên cần giúp các em tư duy lí luận, tư duy khoa học thông qua các hoạtđộng.
1.4 Đặc điểm về trí nhớ
Học sinh DTTS có một số đặc điểm về ghi nhớ sau:
Ghi nhớ máy móc chiếm ưu thế, các em ghi nhớ một cách rời rạc, thiếulogic với nhau Để khắc phục nhược điểm này GV phải kiên trì, mỗi vấn đề giáodục yêu cầu các em nhớ mình phải làm cái gì, dựa vào đâu để làm được, làm thếnào để không vi phạm kỷ luật
Khả năng tái hiện không tốt Biểu hiện là do các em trình bày lại vấn đề
đã các em đã đọc là rất khó khăn Vậy để giúp học sinh tái hiện nhanh chónggiáo viên cần hướng dẫn học sinh có thói quen truy bài, trao đổi bài thườngxuyên, phát biểu trước đám đông…
1.5 Đặc điểm về tình cảm:
Học sinh DTTS có những đặc điểm về tình cảm như sau:
Tình cảm của các em là chân thực, mộc mạc, yêu ghét rõ ràng, không cóhiện tượng quanh co, lèo lái hoặc khéo léo che đậy những tình cảm của mình.Tình cảm của các em rất thầm kín
Các em học sinh rất gắn bó với gia đình, làng bản, quê hương Hầu hếtcác em không muốn xa gia đình Khi phải đi học ở trường PTDTNT THCS các
em rất nhớ nhà, nhiều khi khóc cả tuần
Tình cảm bạn bè của các em học sinh DTTS rất độc đáo, thân nhau nhưanh em, bảo vệ nhau đến cùng Bạn nghỉ học cũng phải nghỉ học theo
Các em rất ưa tình cảm và giải quyết mọi vấn đề bằng tình cảm Một emgái dân tộc nói: “Khi giáo viên mắng, em thấy buồn và không muốn học nữa”
Sự phát triển cơ thể của thiếu niên diễn ra mạnh mẽ nhưng không cânđối Sự hoạt động tổng hợp của các tuyến nội tiết quan trọng nhất (tuyến yên,
Trang 11tuyến giáp trạng, tuyến thượng thận) tạo ra nhiều thay đổi trong cơ thể trẻ, trong
đó sự nhảy vọt về chiều cao và sự phát dục
Là cán bộ quản lí, giáo viên công tác ở trường PTDTNT THCS cấphuyện, việc hiểu những đặc điểm tâm lí của học sinh THCS người DTTS là rấtcần thiết
Nắm được những đặc điểm tâm lí của học sinh THCS người DTTS giúpcho giáo viên lựa chọn được những phương pháp giáo dục thích hợp với từng đốitượng học sinh dân tộc, phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của họcsinh, nâng cao được chất lượng và hiệu quả giáo dục ở trường PTDTNT THCSđặc biệt là giáo dục kỷ luật tích cực
2 Thực trạng về cách giáo dục kỷ luật của một số giáo viên.
Khi chưa nắm biện pháp giáo dục kỷ luật tích cực nếu có học sinh vi phạmcác quy định, quy tắc của lớp, của trường thì có một số giáo viên trong trườngthường dùng biện pháp trừng phạt thân thể bao gồm: trừng phạt về thể xác (đánh,véo, dùng vật để đánh, kéo tai, giật tóc, buộc học sinh phải ở trong một tư thếkhông thoải mái (quỳ, úp mặt vào tường…) và trừng phạt về tinh thần (la mắng,nhiếc móc, hạ nhục, làm cho xấu hổ, chửi rủa làm cho khó xử…)
Trừng phạt về thân thể hay trừng phạt tinh thần đều không phải là giáo dục
kỷ luật, trừng phạt làm đánh mất sự tự tin của học sinh, giảm ý thức kỷ luật vàkhiến cho học sinh không thích, thậm chí căm ghét trường học
Trừng phạt thân thể là việc làm đánh mất danh dự của học sinh, có thể để lạinhững vết sẹo trong tâm hồn của học sinh, khiến các em luôn có thái độ thù địch.Ảnh hưởng của trừng phạt đối với hành vi đạo đức lối sống của học sinhDTTS:
+ Việc giáo viên trừng phạt thân thể đối với học sinh vô tình đem tới cho trẻmột thông điêp sai lầm, rằng cứ dùng bạo lực là có thể giải quyết hết mọi việc
Trang 12Từ đó trẻ bắt chước cách làm của người lớn rồi dùng bạo lực để giải quyết cácbất đồng của mình với người khác.
+ Việc trừng phạt thân thể có xu hướng nuôi dưỡng thái độ thù địch, hunghăng, trái ngược với ý thức kỷ luật tự giác Đôi khi do quá dạn đòn, trẻ sẽ trở nênchai lì Bướng bỉnh, khó bảo, thậm chí chống đối
+ Việc trừng phạt thân thể phá hủy mối quan hệ quan tâm, gắn bó, tin tưởnggiữa giáo viên và học sinh Có trẻ vì thế mà oán hận thù ghét người lớn, làmphản lại quá trình phát triển về mặt đạo đức, ảnh hưởng đến mối quan hệ thầytrò, từ đó sẽ bị mất niềm tin
+ Trừng phạt thân thể làm giảm lòng tự trọng của trẻ, kích thích sự giận dữ,chống đối và đẩy các em tới chỗ muốn chạy trốn khỏi môi trường giáo dục, tệ hạihơn là nó gián tiếp dạy học sinh có thể giải quyết vấn đề bằng bạo lực
Chúng ta hãy đọc những tâm sự dưới đây của học sinh:
“Em rất sợ bị trừng phạt thân thể, em thật sự không tưởng tượng nổi mộtkiểu giáo dục như thế”
“Có một điều em rất ghét ấy là bị đánh Việc này làm em không muốn đihọc nữa”
“Việc đánh, mắng đã quá quen thuộc với chúng em, lúc đó em cảm thấychán đời, buồn và muốn tìm bạn bè để tâm sự”
“Mỗi ngày của em như sống trong địa ngục, những lúc đó em chỉ muốn bỏhọc Khi viết thư này thì các bạn em đã bỏ học rồi vì không chịu nổi sự mỉa mai
và đánh, mắng của thầy cô giáo”
Qua những tâm sự trên chúng ta thấy rằng GDKLTC là phương pháp giáodục tối ưu nhất hiện nay
Trước đây, đặc biệt năm học 2017 – 2018 do chưa áp dụng phương phápGDKLTC nên tình trạng học sinh tại trường bỏ học và chuyển trường tương đốinhiều cụ thể tính đến tháng 2 năm 2018 có 6 HS chuyển trường, 3 Hs bỏ học