Với ý nghĩa đó, trên cơ sở mong muốn tìm hiểu các quy định về thẩm quyền xét xử vụ án hành chính, làm tiền đề cho hoạt động kiểm sát việc tuân thủ pháp luật của Kiểm sát viên, trong phần
Trang 1Đánh giá quy định pháp luật về thẩm quyền xét xử vụ án hành chính
theo cấp xét xử và địa giới lãnh thổ của Tòa án nhân dân
A ĐẶT VẤN ĐỀ
Tòa án là cơ quan tư pháp có thẩm quyền giải quyết các vụ án hành chính theo quy định của pháp luật Các vụ án hành chính ngày nay xảy ra với số lượng ngày càng nhiều đòi hỏi tòa án phải được xây dựng theo một hệ thống theo từng khu vực lãnh thổ Mặt khác, để đảm bảo việc giải quyết vụ án hành chính được chính xác, khắc phục những sai sót trong việc xét xử lại cần phải phân cấp Tòa án theo hệ thống từ cấp huyện cho đến cấp tối cao Và cùng với những vấn đề liên quan khác cho ta thấy việc xây dựng hệ thống tòa án là vô cùng quan trọng Trên cơ sở đó, cần phải xây dựng những chế định để xác định
rõ thẩm quyền của mỗi tòa án trong hệ thống tòa án để giải quyết các vụ án hành chính
Với ý nghĩa đó, trên cơ sở mong muốn tìm hiểu các quy định về thẩm quyền xét xử vụ án hành chính, làm tiền đề cho hoạt động kiểm sát việc tuân thủ pháp luật của Kiểm sát viên, trong phần trình bày sau đây, xin được làm rõ
cũng như đánh giá quy định pháp luật về thẩm quyền xét xử vụ án hành chính theo cấp xét xử và địa giới lãnh thổ của Tòa án nhân dân.
Bố cục bài viết:
Phần I: Nắm vững những khái niệm cơ bản thẩm quyền xét xử VAHC
cấp xét xử và địa giới lãnh thổ của Tòa án nhân dân cũng như ý nghĩa của việc xác định thẩm quyền
Phần II: Căn cứ vào pháp luật Tố tụng hành chính hiện hành để làm rõ
tính hợp lý trong các quy định về thẩm quyền xét xử VAHC cấp xét xử và địa giới lãnh thổ Đồng thời chỉ ra những thay đổi tiến bộ và những hạn chế còn vướng mắc
Trang 2Phần III: Quan điểm cá nhân về kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp
luật Tố tụng hành chính hiện hành trên cơ sở các hạn chế đã nhận định trong phấn II
B NỘI DUNG
I LÝ LUẬN CHUNG VỀ THẨM QUYỀN XÉT XỬ VỤ ÁN HÀNH CHÍNH THEO CẤP XÉT XỬ VÀ ĐỊA GIỚI LÃNH THỔ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN
1 Khái niệm thẩm quyền xét xử vụ án hành chính theo cấp xét xử và địa giới lãnh thổ của tòa án nhân dân
Để thực hiện chức năng, nhiệm vụ xét xử của mình, tòa án được nhà nước
trao cho những quyền hạn nhất định Thẩm quyền xét xử vụ án hành chính của Tòa án, theo đó, là khả năng của Tòa án theo quy định pháp luật Tố tụng
hành chính, thực hiện việc xem xét, đánh giá và ra phán quyết về yêu cầu khởi kiện đối với các quyết định hành chính, hành vi hành chính, nhằm bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, cơ quan nhà nước 1
Thẩm quyền xét xử VAHC bao gồm thẩm quyền theo loại việc, thẩm quyền theo cấp xét xử và thẩm quyền theo địa giới lãnh thổ Trong đó, do khi xác định cấp tòa án có thẩm quyền xét xử sẽ xác định cụ thể tòa án đó thuộc địa giới lãnh thổ nào nên hai loại thẩm quyền này được Luật Tố tụng hành chính quy định chung trong cùng một điều luật Dựa trên khái niệm chung về thẩm quyền xét xử
và quy định của Luật TTHC hiện hành, ta có thể hiểu:
Thẩm quyền xét xử vụ án hành chính theo cấp xét xử và địa giới lãnh thổ của tòa án nhân dân là giới hạn phạm vi xét xử vụ án hành chính của Tòa án nhân dân theo lãnh thổ căn cứ vào cấp xét xử của Tòa án 2
2 Ý nghĩa của việc quy định thẩm quyền xét xử vụ án hành chính theo cấp xét xử và địa giới lãnh thổ của tòa án nhân dân
Đối với tòa án, việc xác định thẩm quyền sẽ tránh đùn đẩy trách nhiệm giữa
các tòa án thông qua phân định rõ ràng thẩm quyền xét xử của tòa án các cấp trong
1 Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội, Giáo trình Luật tố tụng hành chính, Hà Nội, 2015, tr.43.
2 Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội, Giáo trình Luật tố tụng hành chính, Hà Nội, 2015, tr.57.
Trang 3từng địa giới hành chính, tạo điều kiện để tòa án giải quyết nhanh chóng, đúng đắn các vụ việc dân sự; tránh trường hợp vụ án bị hủy và xét xử lại
Đối với đương sự Giúp các bên xác định được Tòa án để yêu cầu giải
quyết vụ án hành chính, tạo thuận lợi cho đương sự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp trước tòa án
Sau cùng việc quy định rõ thẩm quyền sẽ là cơ sở để Viện kiểm sát xác định
sự tuân thủ pháp luật trong Tố tụng hành chính, qua đó thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình trong lĩnh vực tố tụng hành chính nói riêng
II ĐÁNH GIÁ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ THẨM QUYỀN XÉT XỬ VỤ
ÁN HÀNH CHÍNH THEO CẤP XÉT XỬ VÀ ĐỊA GIỚI LÃNH THỔ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN
1 Cơ sở pháp lý
Thẩm quyền xét xử vụ án hành chính theo cấp xét xử và địa giới lãnh thổ của tòa án nhân dân trước hết được quy định tại Điều 32 Luật tố tụng hành chính
2015
Bên cạnh đó Nghị quyết 02/2011/NQ-HĐTP ngày 29/7/2011 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số điều của Luật tố tụng hành chính mặc dù đã hết hiệu lực nhưng vẫn có giá trị tham khảo, để giải thích các vấn đề trong Luật TTHC 2015 chưa có văn bản luật hiện hành giải thích
Ngoài ra, Luật tổ chức tòa án nhân dân cũng là căn cứ pháp lý quan trọng để xác định những nguyên tắc chung trong việc áp dụng thẩm quyền cũng như quy định cụ thể thẩm quyền của 4 cấp tòa án trong hệ thống tòa án
2 Thẩm quyền theo cấp xét xử
2.1 Thẩm quyền của Tòa án cấp huyện
Điều 31 Luật TTHC quy định: “Tòa án cấp huyện giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những khiếu kiện sau đây:
“1 Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước từ cấp huyện trở xuống hoặc của người có thẩm quyền trong
cơ quan nhà nước đó, trừ quyết định hành chính, hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân cấp huyện, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện.
Trang 42 Khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc của người đứng đầu cơ quan,
tổ chức từ cấp huyện trở xuống…… đối với công chức thuộc thẩm quyền quản
lý của cơ quan, tổ chức đó.
3 Khiếu kiện danh sách cử tri của cơ quan lập danh sách cử tri trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Tòa án”
a Tính hợp lý
Với quy định này, điều đầu tiên chúng ta có thể khẳng định là tòa án cấp
huyện chỉ có thẩm quyền giải quyết các VAHC theo thủ tục sơ thẩm Điều này đảm bảo sự phù hợp với quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của tòa án cấp huyện tại
Điều 44 Luật tổ chức Tòa án nhân dân “1 Sơ thẩm vụ việc theo quy định của pháp luật”.
Nhìn tổng quát, 3 loại khiếu kiện mà Tòa án cấp huyện có thẩm quyền giải quyết đều có QĐHC, HVHC được ban hành bởi cơ quan hành chính hoặc người thuộc CQHC cấp huyện, tức là cùng cấp hành chính với tòa án Quy định này xuất phát từ sự tương thích về quyền lực, cơ quan tư pháp cùng cấp xem xét tính hợp pháp, hợp lý của QDHC, HVHC của cơ quan quản lý hành chính cùng cấp Đồng thời đối với việc giải quyết vụ án, điều này sẽ tạo điều kiện thuận lợi trong việc yêu cầu các cơ quan cung cấp hoặc cho hoạt động tự thu thập tài liệu, chứng cứ của tòa án; tiến hành làm việc, trao đổi cũng như dễ dàng trong nắm rõ tình hình của chủ thể bị ảnh hưởng bởi QĐHC, HVHC
Bên cạnh đó, ta nhận thấy quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử
lý vụ việc cạnh tranh không thuộc thẩm quyền của tòa án cấp huyện, do chủ thể ban hành quyết định giải quyết khiếu nại này là Hội đồng giải quyết khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh - Bộ Công Thương (Điều 100 Luật Cạnh tranh 2018), tức cơ quan nhà nước cấp trung ương do đó thẩm quyền giải quyết cũng được đưa lên TAND cấp tỉnh
b Điểm mới
Một là, Tòa án cấp huyện có thẩm quyền giải quyết các khiếu kiện QĐHC,
HVHC của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính cùng cấp tuy nhiên Luật TTHC 2015 đã loại trừ khiếu kiện QĐHC, HVHC của Ủy ban nhân dân cấp huyện, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện
Trang 5Hai là, Đối với khiếu kiện về danh sách cử tri, Luật TTHC 2015 lược bỏ
việc liệt kê hai loại danh sách là danh sách bầu cử đại biểu Quốc Hội và bầu cử Hội Đồng nhân dân Quy định này giúp đơn giản hóa quy định cũng pháp luật cũng như hiện nay theo Luật chuyên ngành cũng chỉ có hai loại danh sách cử tri là Luật bầu cử Đại biểu Quốc hội và bầu cử Đại biểu Hội đồng nhân dân thì không cần thiết phải liệt kê cụ thể thêm nữa
c Hạn chế
Thứ nhất, tên gọi của Điều 32 Luật TTHC dễ dẫn đến cách hiểu là chỉ quy
định về thẩm quyền của tòa án theo cấp trong khi đó Điều 32 còn quy định cả về thẩm quyền theo địa giới lãnh thổ
Thứ hai, thẩm quyền của tòa án theo cấp được xác định là đối với QĐHC,
HVHC của cơ quan hành chính cấp huyện trở xuống, tuy nhiên tại Khoản 1 Điều 3 Luật TTHC phân định rõ QĐHC, HVHC là của cơ quan hành chính hoặc cơ quan
tổ chức được giao thực hiện quản lý hành chính nhà nước do đó dễ gây nhầm lẫn hiểu là tòa án chỉ có thẩm quyền đối với QĐHC, HVHC của cơ quan hành chính
2.2 Thẩm quyền của Tòa án cấp tỉnh
Điều 32 Luật TTHC quy định: Tòa án cấp tỉnh giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những khiếu kiện sau đây:
“1 Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội, Kiểm toán nhà nước, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và quyết định hành chính, hành vi hành chính của người có thẩm quyền trong
cơ quan đó….
2 Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan thuộc một trong các cơ quan nhà nước quy định tại khoản 1 Điều này và quyết định hành chính, hành vi hành chính của người có thẩm quyền trong cơ quan đó
3 Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan nhà nước cấp tỉnh……
4 Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân cấp huyện, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện…
5 Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan đại diện của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài hoặc của người
có thẩm quyền trong cơ quan đó…
Trang 66 Khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc của người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp tỉnh, bộ, ngành trung ương mà người khởi kiện có nơi làm việc khi bị kỷ luật……
7 Khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh….
8 Trường hợp cần thiết, Tòa án cấp tỉnh có thể lấy lên giải quyết vụ án hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp huyện theo quy định tại Điều 31 của Luật này.”
a Tính hợp lý
Nếu như các khiếu kiện đối với QĐHC, HVHC của cơ quan, tổ chức ở cấp huyện trở xuống thuộc về tòa án cấp huyện thì tất yếu QĐHC, HVHC của cơ quan, tổ chức cấp huyện trở lên bao gồm cơ quan cấp tỉnh và trung ương (bộ, cơ quan ngang bộ, Văn phòng Quốc hội, Kiểm toán nhà nước, Tòa án nhân dân tối cao,…) sẽ thuộc về tòa án cấp tỉnh, ta không xét đến tòa án cấp cao hay tối cao vì hai tòa án này không có thẩm quyền giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm Bên cạnh đó, tòa án cấp tỉnh cũng là cơ quan xem xét các QĐHC, HVHC của cơ quan đại diện của nước Việt Nam ở nước ngoài hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan đó bởi các vụ án này thường có yếu tố nước ngoài, mang tính phức tạp
Ngoài các loại khiếu kiện được liệt kê, Luật TTHC còn quy định trong trường hợp cần thiết, Tòa án cấp tỉnh có thể lấy các vụ án hành chính thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp huyện để giải quyết Trong đó, Nghị quyết
02/2011/NQ-HĐTP quy định cụ thể các trường hợp được xem là cần thiết như sau: Một là,
Khiếu kiện QĐHC, HVHC của UBND cấp huyện, Chủ tịch UBND cấp huyện liên
quan đến nhiều đối tượng, phức tạp; Hai là, Thẩm phán của tòa án cấp huyện đó đều thuộc trường hợp phải từ chối tiền hành tố tụng hoặc bị thay đổi; Ba là, Vụ án
có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan đại diện ngoại giao của nước CHXHCN Việt Nam hoặc cơ quan có thẩm quyền ở nước ngoài
Ví dụ: UBND cấp huyện ra quyết thu hồi đất đối với hộ gia đình ông A.
Tuy nhiên quyết định này đã bị khởi kiện bởi ông A với lí do thu hồi đất là không thỏa đáng, đồng thời bị khởi kiện bởi B,C,D là hàng xóm của A do B,C,D cho
rằng một phần đất bị thu hồi là của họ
Trang 7Như vậy, đây là những trường hợp vụ án vốn dĩ thuộc thẩm quyền cấp huyện tuy nhiên trên thực tế có thể phát sinh nhiều yếu tố khiến vụ án mang tính phức tạp hơn thì việc quy định tòa án cấp tỉnh có thể linh động chọn để xét xử sẽ đảm bảo cho tính đúng đắn, hiệu quả trong hoạt động giải quyết vụ án hành chính Ngoài ra, theo quy định tại Điều 32 Luật tố tụng hành chính, tòa án cấp tỉnh
có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm các khiếu kiện hành chính, song theo quy định của Luật tổ chức TAND, TAND cấp tỉnh còn có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục phúc thẩm vụ việc mà bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp huyện chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật Đồng thời tại Điều 203 Luật TTHC có quy định: “ Xét xử phúc thẩm là việc Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án,…” Do đó có thể khẳng định tòa án nhân dân cấp tỉnh còn có thẩm quyền xét xử vụ án hành chính theo thủ tục phúc thẩm đối với các bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp huyện chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật
b Điểm mới
Các loại khiếu kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND cấp tỉnh được giữ nguyên, đồng thời bổ sung thêm khiếu kiện QĐHC, HVHC của UBND cấp huyện, Chủ tịch UBND cấp huyện Quy định này đã dẫn đến nhiều quan điểm
tranh luận trái chiều Cụ thể: Trong tiến trình cải cách tư pháp theo Nghị quyết số
49-NQ/TW ngày 02 tháng 06 năm 2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, đa số các quan điểm đều ủng hộ việc mở rộng thẩm quyền và tăng cường trách nhiệm cho UBND cấp huyện cũng như giảm tải trách nhiệm cho UBND cấp tỉnh Song quan điểm còn lại cho rằng, xét về thực tiễn và quy định hiện hành, ở cấp huyện vẫn chưa có tòa hành chính chuyên trách trong khi các quyết định của UBND cấp huyện, chủ tịch UBND cấp huyện hầu hết là các vấn đề phức tạp, đồng thời tòa án nhân dân cấp huyện vẫn mang tâm lý e ngại, cả nể hay
bị tác động bởi UBND cùng cấp Do đó quy định này được xem như giải pháp tình thế nhằm để đảm bảo hiệu quả hoạt động giải quyết vụ án hành chính của tòa án cấp huyện nói chung và đối với các loại khiếu kiện QĐHC, HVHC của UBND cấp huyện, Chủ tịch UBND cấp huyện nói riêng
Trang 82.3 Thẩm quyền của tòa án cấp cao và tòa án tối cao
Cũng tương tự như thẩm quyền xét xử phúc thẩm của tòa án cấp tỉnh, mặc
dù không được quy định cụ thể trong Chương II Thẩm quyền của tòa án trong Luật TTHC nhưng dựa trên quy định về thẩm quyền xét xử của tòa án nhân dân cấp cao, tòa án nhân dân tối cao tại Điều 28, 29 Luật tổ chức TAND, ta khẳng định:
Tòa án nhân dân tối cao có thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định của các Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo quy định của luật tố tụng hành chính
Tòa án nhân dân cấp cao có thẩm quyền phúc thẩm vụ án hành chính mà bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của luật tố tụng; Giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ bị kháng nghị theo quy định của luật tố tụng hành chính
3 Thẩm quyền theo địa giới lãnh thổ
a Tính hợp lý
Xác định thẩm quyền theo địa giới lãnh thổ là xác định tòa án cấp huyện thuộc huyện nào hay tòa án cấp tỉnh có trụ sở tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nào sẽ giải quyết vụ việc hành chính đó Căn cứ vào quy định tại Điều 31, Điều 32 Luật TTHC song song với quy định thẩm quyền theo cấp xét xử, thẩm quyền theo địa giới lãnh thổ của hai cấp tòa án được xác định như sau:
Tòa án cấp huyện: Tòa án nơi cơ quan đã ban hành hoặc cơ quan nơi người có
thẩm quyền đã ban hành QĐHC, HVHC bị khởi kiện
Quy định này nhằm giúp tòa án thuận lợi trong việc thu thập chứng cứ, yêu cầu cơ quan hữu quan cung cấp chứng cứ, nắm rõ tình hình địa phương để xem xét tính có căn cứ của QĐHC, HVHC
Trang 9Tòa án cấp tỉnh : Có 2 cách xác định thẩm quyền của tòa án theo lãnh thổ
tương ứng với 7 loại khiếu kiện QĐHC, HVHC như sau:
Tòa án nơi người khởi kiện cư trú/ làm việc hoặc có trụ sở:
Đối với khiếu kiện QĐHC, HVHC của cơ quan nhà nước cấp trung ương, người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước cấp trung ương ( Khoản 1, 2 Điều
32 Luật TTHC) Trường hợp đặc biệt: không xác định được nơi cư trú, nơi làm việc hoặc trụ sở trên lãnh thổ Việt Nam, tức là không xét đến có xác định được địa chỉ ở nước ngoài hay không thì thẩm quyền lại thuộc về Tòa án nơi cơ quan hành chính đã ban hành hoặc có người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính đó ban hành QĐHC, HVHC bị khiếu kiện
Đối với khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan đại diện của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan đó (Khoản 5 Điều 32 Luật TTHC): Tòa án nơi
người khởi kiện cư trú Trường hợp không có nơi cư trú tại Việt Nam thì ấn định luôn tòa án có thẩm quyền là tòa án nhân dân thành phố Hà Nội hoặc Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh
Đối với khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh ( Khoản 7 Điều 32 Luật TTHC).
Ví dụ: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính của Cục trưởng Cục
Cảnh sát giao thông đường bộ đối với hành vi vi phạm của anh A (cư trú tại huyện Kôngchro, tỉnh Gia Lai) tại Quận Hà Đông Thẩm quyền giải quyết đơn khởi kiện quyết định của Cục trưởng Cục cảnh sát giao thông đường bộ: TAND tỉnh Gia Lai
Đây là những trường hợp mà cơ quan ban hành QĐHC, HVHC bị khởi kiện
là cơ quan cấp trung ương hay có trụ sở ngoài lãnh thổ Việt Nam do đó không thể
ấn định thuộc thẩm quyền tại khu vực lãnh thổ cụ thể nào, lúc này ta xác định dựa theo nơi cư trú, làm việc nếu người khởi kiện là cá nhân và nơi đặt trụ sở nếu người khởi kiện là tổ chức
Tòa án nơi cơ quan đã ban hành hoặc cơ quan nơi người có thẩm quyền đã ban hành QĐHC, HVHC bị khởi kiện:
Trang 10Đối với Khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc của người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp tỉnh, bộ, ngành trung ương (Khoản 6 Luật TTHC): Tòa án nơi
người bị khởi kiện làm việc khi bị kỷ luật
Đối với khiếu kiện QĐHC, HVHC của cơ quan nhà nước cấp tỉnh; Đối với khiếu kiện QĐHC, HVHC của UBND cấp huyện, Chủ tịch UBND cấp huyện
(Khoản 3,4 Điều 32 Luật TTHC)
Ví dụ: Quyết định thu hồi đất của Chủ tịch UBND Thành phố Hòa
Bình đối với anh A (huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình) Thẩm quyền giải quyết đơn khởi kiện quyết định thu hồi đất: TAND tỉnh Hòa Bình
Vấn đề mấu chốt trong giải quyết vụ án hành chính là xem xét tính có căn
cứ, tính hợp pháp của QĐHC, HVHC bị khởi kiện do đó tương tự như thẩm quyền theo lãnh thổ của tòa án cấp huyện, hai trường hợp trên cũng được ấn định theo cơ quan đã ban hành QĐHC, HVHC để thuận lợi trong việc tìm hiểu nguyên nhân, lí
do dẫn đến đưa ra các QĐHC, HVHC đó
b Hạn chế
Thứ nhất, Thẩm quyền theo lãnh thổ của tòa án đối với khiếu kiện quyết
định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh chỉ xác định theo xác định theo tòa án nơi người khởi kiện cư trú, làm việc, có trụ sở mà không xét đến trường hợp không xác định được nơi cư trú, làm việc, có trụ sở mặc dù trường hợp này trên thực tế có thể xảy ra
Thứ hai, Thẩm quyền theo lãnh thổ của tòa án đối với Khiếu kiện quyết
định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan đại diện của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan đó chỉ được ấn định là tòa án nơi người khởi kiện cư trú, trong khi người khởi kiện có thể là pháp nhân, tổ chức
Thứ ba, Tại khoản 5 Điều 32 Luật TTHC có quy định trường hợp khi
người khởi kiện không có nơi cư trú tại Việt Nam thì tòa án có thẩm quyền là TAND thành phố Hồ Chí Minh hoặc TAND thành phố Hà Nội Tuy nhiên hiện nay vẫn chưa có văn bản nào quy định hướng dẫn trong trường hợp nào thì sẽ lựa chọn tòa án nào, dễ dẫn đến tình trạng chồng chéo, đùng đẩy trách nhiệm giữa hai